Showing posts with label NGUYỄN THIẾU NHẪN. Show all posts
Showing posts with label NGUYỄN THIẾU NHẪN. Show all posts

Tuesday, January 7, 2025

CÀNH MAI NHỊ ĐỘ

“Em và các con thương mến,

Được thư này em tìm mọi cách ra thăm nuôi anh. Khi đi nhớ mang cho anh các thứ cần thiết sau đây:

-Bánh tét: 30 đòn,
-Bánh ếch phơi khô: 100 cái,v
-Bánh tổ: 10 bánh,
-Thịt chà bông: 3 ký,
-Gạo sấy; 20 bịch,
-Thuốc lào 3 số 8: 10 bánh,
-Kẹo chuối: 3 gô,
-Đường thẻ: 5 ký,
-Muối mè: 2 gô,
-Sả khô trộn muối, ớt, bột ngọt: 1 bịch lớn,
-Tôm khô: 5 ký,
-Thịt gà ram mặn: 2 con,
-Cà phê: 1 ký,
-Lạp xưởng: 5 ký,
-Sữa hộp: 20 hộp,
-Thuốc lá; 1 cây (mười gói),
-Sữa bột: 5 ký.

Anh luôn cố gắng học tập, lao động tốt để sớm được Đảng và Nhà Nước khoan hồng xét tha để về sum họp với em và các con.” 

Các tù binh xôn xao. Người chắt lưỡi, kẻ hít hà, khi nghe bức thư với những liệt kê dài thoòng và nặng ký vừa được đọc.

Người ngồi bên phải tôi nói:
“Cầu cả trăm ký.”

Người ngồi bên trái tôi lắc đầu, nói nhỏ:
“Vợ tôi chắc chắn chẳng làm cách nào có đủ sức mà mua ngần ấy thứ. Nội chạy gạo nuôi mấy đứa nhỏ đã đủ sặc máu.”

Tôi nhìn người vừa nói với cái nhìn đồng cảm. Tên cán bộ công an phụ trách công tác giáo dục của phân trại nheo nheo mắt đọc tiếp bốn bức thư tương tự nhưng “nhẹ ký” hơn bức thư vừa đọc.Y ngúc ngúc cái đầu làm cái nón cối màu vàng lệch qua một bên, y đưa tay sửa lại chiếc nón cối, nói:

“Các anh nào có những bức thư tôi vừa đọc hãy viết lại thư khác. Xin gì mà xin dữ thế. Các chị phải bán cả nhà để đi thăm các anh ấy à. Đảng và Nhà Nước ta có bỏ đói các anh đâu. Đã bảo các anh nhiều lần là “thăm viếng” chứ không phải “thăm nuôi”. Việc nuôi các anh đã có Đảng và Nhà Nước lo.” 

Các tù binh im lặng nhìn nhau. Tất cả đều há miệng đáp “rõ” khi tên cán bộ giáo dục hỏi:

“Các anh có rõ không?” Sau đó, đám tù binh đứng lên, sắp hàng để ra hiện trường lao động.

*
Lật bật rồi cũng có những người vợ ở miền Nam đường xa lặn lội mang quà cáp ra miền Bắc thăm chồng. Hiểu rõ hoàn cảnh của gia đình mình nên tôi rất ít hy vọng vợ tôi sẽ ra thăm tôi. Thế nên tôi rất đỗi ngạc nhiên, mừng rỡ khi được gọi tên. Quà cáp vợ tôi mang theo không được như những yêu cầu của những bức thư bị bắt phải viết lại nhưng cũng đã quá đủ với tôi, người tù cải tạo đã mười năm.Vì là một cá nhân tiên tiến trong đội nên tôi được ở lại qua đêm ở nhà tiếp tân với vợ tôi.

Chúng tôi đã hàn huyên tâm sự. Vợ tôi kể về chuyện học hành của các đứa con bây giờ đã lớn. Khi được tôi hỏi làm cách nào vợ tôi có đủ tiền nuôi con từ bấy đến nay, và có thể mua quà cáp để từ miền Nam ra miền Bắc thăm tôi, thì vợ tôi cho biết là cũng bắt chước các chị em khác buôn bán làm ăn. Hình như có điều gì đó nàng không muốn nói với tôi. Lúc tôi tỏ ý muốn ân ái với nàng thì nàng từ chối với lý do vì sợ phải chửa đẻ. Tôi nuốt nỗi ham muốn khi thấy lý do của vợ tôi nêu ra là chính xác.

“Bây giờ mà em bầu bì chửa đẻ là có nước chết.” Khi mang những quà cáp vào trại với dồn nén sinh lý không được thỏa mãn, tôi rất đỗi ngạc nhiên vì những thứ đắt giá, cần thiết mà vợ tôi đã mang ra cho tôi trong chuyến thăm nuôi. Tôi không hình dung được công việc làm ăn buôn bán của nàng ra sao. Hồi tôi chưa bị tù tội, vợ tôi chỉ là người đàn bà nội trợ đảm đang. Gia đình chúng tôi sống nhờ vào đồng lương sĩ quan cấp tá của tôi chỉ vừa đủ chi tiêu rất dè sẻn.

Tôi im lặng nghe những người bạn đồng tù kể lể chuyện thăm nuôi. Anh Ân, ở chung đội nhà bếp với tôi, cười tủm tỉm, nói:

“Bà vợ của tôi bả hay thiệt. Anh biết bây giờ bả cũng biết mánh mung này nọ. Buông cái này, bắt cái kia. Hết đi buôn gạo tới buôn thuốc tây, hết đi thịt heo tới đi bột ngọt.”

Anh nhỏ giọng nói với tôi:
“Anh biết, hồi tôi đi tù, bả ôm đứa con mới sanh mấy tháng.. Tôi đi mà rầu thúi ruột. Nhỏ con gái giờ đã mười tuổi rồi. Tôi tá hoả lúc bả đưa cái “bao cao su ngừa thai” cho tôi lúc tôi ngỏ ý muốn ăn nằm với bả. Anh biết, bả mà biết xử dụng ba cái vụ này với mình thì ở nhà đâu có gì cấm bả đưa cho người khác xử dụng. Chắc bả cũng biết tôi nghĩ gì nên bả nói: Anh đừng có nghi tầm bậy, tầm bạ. Ba cái này bây giờ được mấy ổng phổ biến khắp nơi. Tháng nào hội phụ nữ ở trên Phường cũng thông báo chị em phụ nữ tới lãnh. Thu xếp để đi thăm nuôi anh, đọc trong thư anh viết anh là cá nhân tiên tiến trong đội, vợ chồng được phép thăm nuôi 48 tiếng nên em mới nghĩ tới mang theo mấy cái này.”

Lúc tuột quần ra, vợ tôi bả còn rắn mắc:
“Anh đừng có ghen tuông kỳ cục. Còn y nguyên đây nè. Anh khám coi nó có mòn miếng nào hôn?”

Anh ta lắc đầu:
“Anh biết, tôi chịu thua bà vợ luôn. Bả bắt tôi xài hết sáu bao cao su bả mang theo trong hai đêm, mệt muốn bứt gân luôn.”

Tôi ngạc nhiên nhìn người bạn hiền lành, ít nói và chợt nhận ra khi một người được hạnh phúc, người đó muốn chia xẻ với người khác.

*
Một hôm ở nhà bếp tôi gặp Long, lao động tự giác của đội 6, chuyên phụ trách hái trà của phân trại, cũng vừa được vợ thăm nuôi. Các tù nhân tự giác thuộc các đội buổi trưa đều được vào trại để lấy phần ăn. Trong số các tù nhân tự giác, Long là người rất dễ thương. Thỉnh thoảng anh ta vẫn dúi cho tôi gói trà “móc câu” nước trà xanh, uống vào đăng đắng lúc đầu nhưng hậu vị rất ngọt. Ở trại cải tạo, sáng sớm hút điếu thuốc lào ba số 8, chiêu một ngụm nước trà móc câu là một hạnh phúc tuyệt vời. Lâu lâu anh ta lại dúi cho tôi một gói, nói theo bọn tù hình sự là mới “thửa” được.

Gặp tôi hôm đó, anh ta có vẻ buồn. Tôi hỏi: “Sao được vợ ra thăm nuôi mà không được vui?” Tôi thấy mặt anh ta sịu xuống, giọng nói chán nản: “Bể hết rồi, ông anh. Tan nát hết rồi, ông anh!” Tôi lấy phần cơm sắn của mình và thức ăn được thăm nuôi ra mời Long cùng ăn chung với tôi ở căn phòng thay quần áo của đội nhà bếp. Tôi im lặng nghe Long kể chuyện.

“Anh biết, cả nửa năm rồi, má tôi có viết thư báo cho tôi biết là vợ tôi nó đã giao con cho má tôi đi lấy... cán bộ rồi. Tôi cố không tin. Nhưng mà thơ của má tôi viết sờ sờ ra đó. Được phép viết thơ cho gia đình ra thăm nuôi tôi cũng cứ viết đại. Người tôi chờ đợi ra thăm là má tôi. Ai mà dè lại là con vợ tôi.” Ngưng lại để nuốt mẩu sắn nhão nhẹt, Long nói tiếp:

“Anh biết nó ra thăm nuôi tôi với thằng cán bộ chồng mới của nó y như thơ của má tôi đã viết. Anh biết thiệt hết sức ngỡ ngàng. Tôi lại được thăm nuôi bốn mươi tám tiếng. Anh biết, lúc con vợ tôi nó giới thiệu với thằng cán bộ nón cối, tôi chết điếng trong lòng. Không biết phải nói gì. Con vợ tôi nó nói nó ra đây thăm tôi lần cuối cùng, xin tôi cho phép nó đi lấy chồng khác, vì không biết phải chờ tôi tới bao giờ. Mà nó thì còn trẻ.”

Tôi nhận đồ thăm nuôi. Tôi nói với nó tôi sẽ vào trại. Tôi sẽ ký giấy ưng thuận cho nó, từ giờ nó tự do muốn lấy ai thì lấy. Vợ tôi nó yêu cầu thằng cán bộ ra ngoài để nó nói chuyện với tôi. Nó yêu cầu được ăn nằm với tôi lần cuối cùng trước khi đi lấy chồng. Tôi vừa giận mà lại vừa thương con vợ tôi. Sao nó lại đi bày cái chuyện oái oăm. Nó ôm tôi khóc lóc thảm thiết. Tôi thì nghĩ bụng: nó đã muốn vậy thì cho vậy. Với lại đã lâu mình cũng thèm khát. Trong hai đêm tôi trút tất cả những hờn giận, thương yêu vào thân thể con vợ tôi, trong khi bên phòng bên kia thằng cán bộ cứ lăn qua, trở lại vì không ngủ được. Bốn mươi tám tiếng rồi cũng hết. Vợ tôi và thằng cán bộ ra về.”

Long chợt bật khóc:
“Anh biết, lúc đó tôi giận con vợ tôi ghê lắm: tại sao nó lại đặt tôi và thằng cán bộ vào hoàn cảnh trái ngang. Tôi làm tình với nó để trả thù nó. Để chọc tức thằng cán bộ. Giờ nó về rồi tôi mới nghĩ lại mà thấy tội cho nó. Không biết rồi nó với thằng cán bộ sẽ sống với nhau như thế nào. Thiếu gì đàn bà, con gái mà sao thằng cán bộ nó không lấy mà lại nhè lấy vợ tôi? Bộ hết người rồi sao? Sao con vợ tôi nó lại bày ra cái cảnh oái oăm?? Mà sao tôi lại đi chấp nhận cuộc chơi một cách kỳ cục?”

Long gạt nước mắt, nói tiếp với giọng nói ráo hoảnh:
“Tôi không biết con vợ tôi nó có được hạnh phúc không? Thằng cán bộ nó sẽ đối xử với vợ tôi như thế nào khi nó đã hai đêm nằm trằn trọc ở phòng kế bên mà nó biết chắc chắn chúng tôi đang làm chuyện vợ chồng ở phòng bên này.”

*
Câu chuyện của hai người bạn tù được vợ thăm nuôi càng làm tôi âu lo về vợ tôi và cuộc sống gia đình. Đêm đêm tôi trằn trọc nhìn những con chuột đói đuổi nhau trên mái nứa. Tôi lo sợ những bất trắc, đã và đang, xảy đến cho gia đình tôi. Có phải vợ tôi, cũng như bao nhiêu người đàn bà miền Nam khác, là những cành đào trôi ngược trong cuộc đời giông bão hiện tại? Những âu lo không có nhiều thời gian trong trại cải tạo. Cái đối diện thường trực của những người tù là cái đói. Là đợi chờ vô vọng một ngày về. Cuối cùng rồi tôi cũng được trở lại với đời sau khi đã trải qua những tầng địa ngục. Tôi có cái may mắn là khi trở về chẳng phải đứng trước ngôi nhà đổi chủ. Tôi cũng chẳng phải ngỡ ngàng khi bước vào nhà thấy có nón cối bộ đội úp sẵn trên bàn, dép râu Bình Trị Thiên nằm dưới sàn nhà, kế bên, con chó già không nhìn ra chủ cũ.

Khi tôi trở về nhà cửa vẫn như xưa. Các con tôi đã lớn. Thằng con rất đẹp trai và có vẻ thông minh. Hai đứa con gái đang ở vào lứa tuổi: Ngày mai trong đám xuân xanh ấy/Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi! Tôi cám ơn Trời, Phật đã giúp đỡ gia đình tôi. Tôi thầm hãnh diện là gia đình mình vẫn còn nguyên vẹn trong khi biết bao gia đình khác đã tan nát vì hậu quả của chiến tranh.

Tiệc đoàn viên rất là ấm cúng. Vợ tôi có già đi vì năm tháng nhưng tôi thấy nàng vẫn đẹp như xưa. Nàng, đối với tôi, quả là một chính phụ của thời đại mới. Nàng đã thay tôi: dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân. Gia đình chúng tôi, đối với mọi người, là một gia đình hoàn toàn hạnh phúc trong cái xã hội đã nhuốm độc dược cộng sản.

*
Như những người tù cải tạo khác, tôi được Hoa Kỳ nhận cho định cư trong Chiến Dịch Nhân Đạo. Ngày từ giã quê hương, tôi muốn hôn lên mặt đất thầm hẹn một ngày về khi đất nước không còn bị cai trị bởi một chủ nghĩa bạo tàn. Cửa thiên đường đang rộng mở. Tôi đã thầm tính toán với số tiền truy lĩnh, với ngôi nhà được chính phủ Mỹ cấp phát, với số tiền 2.000 đô-la được Đức Giáo Hoàng cho ngay khi tới phi trường Bangkok. Với ngần ấy thứ, tôi vẽ cho gia đình tôi một tương lai tươi sáng. Tôi hân hoan bước lên phi cơ nơi phi trường Tân Sơn Nhất ngày càng bệ rạc vì những chủ nhân ông mới.

Những chú công an, nhưng nhân viên quan thuế rất là dễ dãi với những Lưu, Nguyễn của thời đại mới. Nhìn đâu cũng bắt gặp những nụ cười. Vợ tôi biếu chú công an gói 555, chú nhân viên quan thuế hộp xì gà, cô tiếp viên một thỏi son ngoại quốc. Chuyến bay xa dần quê hương mà tôi đã buồn đau, sung sướng trong gần sáu mươi năm trời, đáp xuống Thái Lan đất Phật nhưng lại là nơi xuất phát những tên hải tặc gieo đau thương kinh hoàng cho người Việt Nam vượt biển trong mười mấy năm qua. Hai ngàn đô-la của Đức Giáo Hoàng theo lời đồn đãi là một vỡ mộng ban đầu. Rồi những chuyến bay kế tiếp đưa những Lưu,

Nguyễn bất đắc dĩ đến thiên đường hạ giới Hoa Kỳ. Căn nhà thuê mướn cho cả gia đình là vỡ mộng thứ hai. Và số tiền truy lĩnh cũng chỉ là những tin đồn.
Có điều mấy đứa con tôi đã lớn. Chúng nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh của Xứ Cơ Hội.

Chúng tôi không may đến Mỹ vào lúc nền kinh tế nước này đang trên đà xuống dốc. Tiền trợ cấp buổi ban đầu đã giảm. Dù sao tôi vẫn còn có cái an ủi là được Tự Do và không còn lúc nào cũng lo sợ sẽ bị đưa trở lại nhà tù như lúc còn ở Việt Nam.

Tôi rất đỗi đau lòng khi nghe tin một người bạn tù, quen biết hồi cải tạo, vì sự tan vỡ của gia đình, đã treo cổ tự tử. Tôi không bao giờ chọn giải pháp tiêu cực và bi thảm đó. Tôi đã không chết ở những địa danh muỗi mòng đỉa vắt, mịt mù sương lam chướng khí, chẳng lẽ tôi lại chết ở xứ đất tiền, đất bạc này? Tôi quyết làm lại một cuộc đời khác. Tôi không muốn sống mãi với những nỗi buồn đau. Tôi muốn các con tôi có một tương lai. Và nhất là tôi muốn vợ tôi được hạnh phúc trong quãng đời còn lại; bởi, nàng đã phải hy sinh quá nhiều. Bởi, nàng là một người vừa được phục sinh. Nàng là một cành mai nhị độ.

Tôi muốn kể lại đây một lần chuyện đau buồn của đời tôi mà cuộc chiến tranh dai dẳng giữa hai miền Nam, Bắc đã gây ra... Như đã biết, tôi là một tù binh đã trải qua những tầng địa ngục từ Nam chí Bắc. Khi còn sống sót trở về, gia đình vẫn còn nguyên vẹn chớ không phải chia lìa, tan nát như những gia đình khác thì tôi có gì mà phải đau buồn. Sự thực thì không phải như vậy. Hạnh phúc nào chẳng ẩn giấu những nỗi khổ đau. Đôi khi hạnh phúc của người này lại là bất hạnh của kẻ khác. Và hạnh phúc không phải là sự vừa ý. Và người ta chỉ thực sự hạnh phúc khi biết tha thứ.Xin đừng thắc mắc với những “triết lý ba xu” của tôi.

Xin hãy vui lòng nghe tôi kể tiếp câu chuyện.

*
Đêm sum họp đầu tiên, sau bữa cơm gia đình, những ly champagne làm tôi ngầy ngật. Tôi thấy vợ tôi vô cùng lộng lẫy như đêm tân hôn mấy chục năm về trước. Các con tôi đã rút vào phòng. Tôi ôm hôn vợ tôi và ngỏ ý muốn ân ái với nàng. Nhưng nàng lắc đầu từ chối với lý do là nàng đang tới kỳ kinh nguyệt. Nàng lui vào phòng khép cửa lại. Tôi nằm trên bộ sa-lông với cơn thèm muốn dục tình tràn ứ cơ thể. Có lẽ vì mệt mỏi, vì rượu sau bao nhiêu năm mới được uống lại, tôi thiếp đi chẳng biết bao lâu. Khi thức giấc, tôi thấy đèn trong phòng vợ tôi vẫn còn sáng. Cơn thèm muốn lại nổi lên. Tôi gõ cửa. Câu trả lời chỉ là những tia sáng hắt ra từ những khe hở. Tôi nghe hình như có tiếng khóc. Tôi xoay nắm cửa mới biết là cửa phòng đã khóa.

Tôi bực dọc trở lại chỗ nằm với lòng ấm ức. Tôi cố dỗ giấc ngủ mà chẳng tài nào ngủ được. Trong cơn mê tỉnh chập chờn, tôi bỗng nghe có tiếng ngã xuống của một chiếc ghế ở trong phòng của vợ tôi. Tôi gõ mạnh cửa nhưng chẳng có tiếng trả lời của vợ tôi. Tôi tông mạnh cửa phòng để kịp nhìn thấy vợ tôi nằm sóng soài trên nền gạch, trên tay còn nắm chặt những tờ giấy. Ngọn đèn vẫn tỏa sáng. Mấy chai lọ nằm chỏng trơ bên cạnh nàng. Tôi hoảng hốt la toáng lên. Các con tôi thức dậy.

Tôi biết vợ tôi đã dùng thuốc ngủ để quyên sinh. Tôi vội vàng đưa nàng đến bệnh viện. Tôi van xin bác sĩ, hãy cứu dùm vợ tôi. Tôi đau xót nhìn nàng nằm im như một xác chết. Vị bác sĩ mới là đáng ghét làm sao. Ông ta nói như một cái máy: “Ông hãy an tâm, chúng tôi sẽ cố gắng. Nhưng mà bà nhà đã dùng quá nhiều thuốc ngủ nên tình trạng rất trầm trọng.” Tôi như kẻ mất hồn. Tôi van vái Trời, Phật nếu có kẻ phải chết xin để tôi chết thế cho nàng - người chinh phụ của thời đại mới đã thay chồng nuôi dạy con cái nên người.

*
Vợ tôi nằm im lìm như một xác chết trong ba ngày đêm. Tôi đọc đi, đọc lại nhiều lần bức thư còn hoen những giọt nước mắt của vợ tôi:

“Anh yêu và các con thương mến, Khi anh đọc bức thư này cũng là lúc em lìa bỏ cõi đời. Xin anh hãy tha thứ cho em về những việc làm nhơ nhớp chỉ vì em muốn có tiền để nuôi sống các con và thăm nuôi anh. Ngay sau khi anh đi cải tạo một tháng theo lệnh của Ủy Ban Quân Quản, em cảm thấy bơ vơ và lo sợ vô cùng. Từ khi vợ chồng mình chung sống với nhau cả gia đình mình chỉ sống nhờ vào đồng lương của anh. Rồi các con cái ra đời. Anh vất vả ngược xuôi lo cho mẹ con em. Nhờ chắt chiu dành dụm mà gia đình mình
không đến nỗi túng thiếu. 

Khi những người thắng trận tràn vào thành phố, không có anh em không biết xoay sở cách nào. Em đã cố gắng bắt chước các chị em khác đi buôn bán để kiếm sống qua ngày. Nhưng anh biết em đâu có nói dối được với khách hàng. Lại không biết cách bắt mối với tài xế, lơ xe để dấu hàng khi qua các trạm thuế vụ. Do đó, sau vài chuyến đi buôn em đã cụt vốn, đành phải bán lần hồi những gì mà vợ chồng mình đã mua sắm để mà sống qua ngày. Chiếc xe Honda anh vẫn dùng để làm phương tiện tới sở làm mỗi ngày được bán để mua sắm trong lần thăm nuôi anh ở trại Suối Máu, là vật đáng giá sau cùng. Khi nhận được thư anh gửi từ miền Bắc là lúc gia đình chẳng còn gì để bán. Lúc đó cũng là lúc thằng con vừa được trở về nhà với chứng bệnh sốt rét sau hai năm đi thanh niên xung phong. Vừa đọc thư anh liệt kê những món cần thiết, vừa nhìn những đứa con ốm yếu xanh xao, cùng âu lo với mẹ mà lòng em quặn thắt.

Có lúc em định bán cái nhà để đi thăm nuôi anh nhưng sợ bán đi rồi thì mấy mẹ con sẽ ở đâu. Thế nên em đã làm một chuyện vô cùng dại dột là đã “ngủ với kẻ thù” để có tiền chữa bệnh cho con và đi thăm nuôi anh. Ngày ngày em trang điểm thật đẹp, em hẹn bán thân xác cho những kẻ thù có chức, có quyền (và dĩ nhiên là phải có tiền). Em đã qua tay hết người này đến người khác, sau ba năm cầm đồ bán đạc. Những năm sau đó, cái em mang đi bán là cái trinh tiết, danh giá của một người đàn bà đã có chồng. Em không muốn các con không được đi học. Em muốn khi lớn lên chúng được đầy đủ kiến thức như ngày xưa chúng ta đã bàn tính với nhau. Em không muốn anh phải âu lo, thiếu thốn ở những trại giết người của những kẻ thắng trận.

Em đã làm-đàn-bà-để-sống với ước muốn duy nhất là được gặp lại mặt anh để giao lại các con cho anh. Nhơ nhuốc này chẳng làm sao mà rửa sạch chỉ trừ cái chết. Em từ chối ăn nằm với anh vì em nghĩ rằng em không còn xứng đáng với anh.

Các con không biết được những việc làm nhơ nhuốc của mẹ nó. Em đã qua mặt được mọi người lối xóm. Ai cũng khen em là người đàn bà đảm đang vì em đã khéo léo che đậy những việc làm nhơ nhớp của mình. Em không muốn lừa dối anh. Em xin lấy cái chết để tạ tội cùng anh - người chồng mà em suốt đời yêu thương và kính trọng. Anh hãy đốt lá thư này sau khi đọc xong. Em không muốn tâm hồn các con bị vẩn đục vì có một người mẹ không xứng đáng. Xin anh hãy chiều em một lần cuối cùng - như từ bấy lâu nay anh vẫn chiều em.

Vĩnh biệt anh.
Người vợ tội lỗi của anh.”

Tôi hoa mắt lên. Tôi đọc đi, đọc lại bức thư nhiều lần. Thì ra những điều lo sợ của tôi lúc còn ở trong trại cải tạo là sự thật. Những dòng chữ như nhảy múa trước mặt tôi.

Tôi đã chạy như bay đến bệnh viện khi được thằng con trai báo tin là vợ tôi đã được cứu sống. Tôi lao vào căn phòng có vợ tôi đang nằm im lìm, thoi thóp. Tôi kịp giữ nàng lại lúc nàng cố gắng lấy sức tàn để đập đầu vào tường tự sát một lần nữa. Tôi ôm nàng và khóc như chưa bao giờ được khóc. Tôi van xin nàng hãy vì tôi, vì các con mà sống.

Tôi quỳ xuống lạy nàng ba lạy và nói với nàng: “Đã chẳng phải em đã chết ba ngày, ba đêm rồi đó sao. Em bây giờ đã là một người khác.” Tôi nói miên man những ý nghĩ rất thực của mình:

“Em không có lỗi gì với anh cả. Tất cả chỉ là cái hoàn cảnh trái ngang mà chúng ta phải gánh chịu. Bằng cái chết em đã sống lại trong anh, em lại càng cao quý hơn trong anh; bởi, em đã sống thực với em.”

Chúng tôi ôm nhau. Và khóc.

Mùa Xuân năm đầu tiên ở xứ lạ, tôi viết tặng “cành mai nhị độ” của tôi hai câu lục bát:

Sau lần vấp ngã đứng lên
Cảm ơn nhau: vẫn đi bên cuộc đời.
Môi buồn lại nở nụ cười
Mắt hoen ố lệ lại ngời tin yêu.”

với tin tưởng rằng mùa Đông buốt giá rồi sẽ qua đi, để từ đó, bắt đầu một mùa Xuân nắng ấm.

Nguyễn Thiếu Nhẩn, San José

 

Sunday, April 30, 2023

NGUYỄN NGỌC TRỤ: ANH HÙNG TỬ KHÍ HÙNG BẤT TỬ!

Đó là một buổi chiều ảm đạm vào khoảng tháng Sáu năm 1977 ở trại giam Suối Máu thuộc thành phố Biên Hòa. Vậy mà đã mười năm.

Mười năm xuôi ngược bên trời
Xót thân tơ liễu, xót đời bể dâu.
Mười năm hoa lá ưu sầu
Vàng tan, ngọc nát nhìn nhau ngậm ngùi
Mười năm vật đổi, sao dời
Em sầu thiếu phụ ngậm ngùi lòng ta.
Mười năm cánh vạc bay qua
Mười năm biết mấy xót xa đoạn trường
Mười năm lệ xối xả tuôn
Có bao thiếu phụ thành hòn vọng phu?
Mười năm một mảnh trăng lu
Trăng soi đâu tỏ nỗi sầu nhân gian.
Mười năm mắt lệ ngỡ ngàng
Lòng đâu muốn khóc lệ tràn quanh mi.
Mười năm ai hát biệt ly
Để cho núi cắt, biển chia lối về.
(Thơ NTN)

Tôi biết dù mười năm hay nhiều hơn nữa, tôi cũng chẳng bao giờ quên được nụ cười của Nguyễn Ngọc Trụ – người tù dũng cảm ngay trong ngục tù cộng sản đã nói lên những sự thực và mỉm cười bước vào cõi hư vô.

Vào khoảng tuần lễ cuối tháng Ba năm 1977, Trung đoàn 775 tổ chức đợt học tập chính trị cho toàn thể trại viên Suối Máu. Giảng viên là tên Trung tá Chính ủy với khuôn mặt xương xương, cặp mắt láo liên, đôi môi xám xịt che kín hàm răng ám khói thuốc lào. 

Năm ngày đầu tuần với những lên lớp, xuống lớp, thảo luận, thu hoạch làm cho những tù binh mệt mỏi, đầu óc trống rỗng. Những luận điệu một chiều cũ rích: “Ta nhất định thắng, địch nhất định thua. Lao động là vinh quang. Bàn tay ta làm nên tất cả. Với sức người sỏi đá cũng thành cơm” lúc bổng, lúc trầm mà chính người nói cũng không hiểu mình định nói cái gì. Nhưng mà có cần gì, bởi lẽ tên Trung tá Chính ủy cũng chỉ là một con ốc trong cái guồng máy Cộng sản sắt máu.

Ngày cuối tuần là ngày giải đáp thắc mắc về bài học vùng kinh tế mới.
Dưới cái nóng hầm hập phả ra từ mái tôn, các tù binh mệt mỏi ngồi im như những pho tượng, mặc tình tên chính ủy múa may hò hét, khoa tay khoa chân. Với điệu bộ lấc cấc, gương mặt đầy vẻ tự mãn, tên chính ủy nhìn xuống đám đông qua chiếc kính đeo trễ gọng trên sóng mũi, rồi cất giọng the thé:

-Thế này nhé: Trong thời gian gần hai mươi tháng qua các anh đã được Đảng và Nhà nước khoan hồng tạo điều kiện cho các anh học tập, lao động cải tạo, các anh cũng đã được gia đình thăm viếng, mỗi ngày các anh được xem “ti-di”, sách báo. Nói tóm lại các anh đã được tiếp xúc và đã biết được phần nào về Chủ nghĩa Xã hội tốt đẹp. Là ngụy quân, các anh đã lớn lên và sống trong chế độ Tư bản xấu xa thối nát của miền Nam. Nay qua các bài học, các anh đã được sáng mắt, sáng lòng. Nếu anh nào còn có điều gì thắc mắc nêu lên tôi sẽ giải đáp.

Toàn thể hội trường im phăng phắc. Tên chính ủy thụp xuống chiếc bục. Mọi người nghe rõ tiếng sòng sọc của chiếc nõ cầy. Khói thuốc bay lên mù mịt. Tên chính ủy đứng lên cho lệnh giải lao. Một sợi khói thuốc lào còn sót bay qua kẽ răng lúc y nói.

Qua giờ thứ hai, khi lớp học tập hợp xong, bỗng từ phía cuối hội trường có tiếng xầm xì. Tên chính ủy đứng trên bục giảng, gương mặt rạng rỡ như cô gái giang hồ đêm khuya ế khách bỗng chợp được một khách làng chơi say rượu thèm tình, y ngúc ngúc cái đầu với vẻ tự đắc:

- Anh nào có gì thắc mắc thì cứ tự do phát biểu. Thế mới dân chủ bàn bạc. Tôi cho phép các anh nêu thắc mắc về mọi vấn đề ngoài bài học.

Y đưa tay chỉ thẳng vào một người tù đang đưa tay che mũi:
- Anh gì đấy, có gì thắc mắc cứ đưa thẳng tay lên xin phát biểu, có gì mà phải rụt rè thế. Nào, thắc mắc gì thì cho biết?

Người tù vừa được nói tới lúng túng đứng dậy, gương mặt anh ta nhăn nhó rất là khó coi:
- Thưa cán bộ tôi không có gì thắc mắc. Nhưng...

Tên chính ủy khuyến khích:
- Cứ mạnh dạn phát biểu, chả ai bắt tội anh đâu.

Người tù đưa tay gãi gãi đầu, khịt khịt mũi, nói:
- Thưa cán bộ thiệt tình là tôi không có điều gì thắc mắc. Nhưng tôi có điều muốn trình bày nếu cán bộ cho phép.

Tên chính ủy cười hể hả:
- Cứ nói đi, có gì mà phải phép tắc.

Người tù lại gãi gãi đầu:
- Thưa cán bộ, tôi nghĩ là cán bộ hiểu lầm tôi đưa tay xin phát biểu ý kiến. Sự thực là tôi đưa tay che mũi vì không biết có anh nào chột bụng hay sao đã đánh rắm thối quá, chịu không nổi.

Cả hội trường cười một cái rần. Tên chính ủy tẽn tò nhưng y cũng không nín được cười.

Y lầm bầm: “Thật chẳng ra làm sao cả.” Đợi hội trường yên lặng, anh ta lại hát bài hát cũ:

- Thế nào? các anh chẳng có gì thắc mắc cả sao? Sĩ quan cả, có ăn học cả, chắc chắn các anh phải biết phân biệt tốt xấu giữa hai chế độ. Đảng ta là đảng chủ trương dân chủ bàn bạc. Các anh cứ nêu những ý kiến, thắc mắc. Giải đáp được tôi sẽ giải đáp. Không giải đáp được tôi sẽ trình lên trên. Cần thiết tôi sẽ gặp đồng chí Lê Duẫn xin ý kiến để giải đáp cho các anh. Với danh dự của một người cộng sản, tôi xin hứa sẽ không có sự trù ếm, trả thù.
Mặc y lải nhải, cả hội trường vẫn im phăng phắc. Tên chính ủy vừa định ngồi thụp xuống bục gỗ kéo điếu thuốc lào, bỗng từ cuối hội trường một người đứng dậy và một giọng nói cất lên:

-Tôi xin có ý kiến.

Mọi người đều quay lại nhìn người vừa lên tiếng. Tên chính ủy thở phào như người vừa trút xong gánh nặng:
-Thế chứ. Thế nào, mời anh lên đây phát biểu.

Người tù chậm rải tiến lên bục hội trường với vẻ mặt tự tin. Anh ta nhìn tên chính ủy, nhìn khắp hội trường, rồi quay sang nhìn tên chính ủy:
-Tôi xin tự giới thiệu tôi là Nguyễn Ngọc Trụ, Tiến sĩ Công pháp Quốc tế, cấp bậc: Trung úy, chức vụ: giảng viên trường Võ bị Quốc Gia Đà Lạt, một vợ, hai con, thân sinh tôi là một Trung tá trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa hiện đang bị tù cải tạo tại miền Bắc.

Anh ta ngừng nói. Cả hội trường im phăng phắc. Tên chính ủy nhìn anh ta gật gù:
-Anh có ý kiến gì cứ nêu lên. Với danh dự của một người cộng sản tôi xin hứa là sẽ không bắt tội anh đâu, dù là tôi không trả lời được những ý kiến, thắc mắc của anh.

Nói xong, y quay về đám đông:
-Thế mới dân chủ chứ, phải không nào?

Cả hội trường vẫn im phăng phắc trong cái im lặng đầy bất trắc.
Nguyễn Ngọc Trụ hắng giọng, lên tiếng. Giọng nói của anh rõ ràng, mạch lạc:
- Như cán bộ đã trình bày, cá nhân tôi đã sống và lớn lên trong sự cưu mang của chế độ Tư bản miền Nam. Tôi cũng đồng ý với cán bộ là xã hội miền Nam đầy dẫy những xấu xa, bất công, thối nát, những kẻ lãnh đạo bất tài tham quyền cố vị...

Nguyễn Ngọc Trụ ngừng nói. Cả hội trường vẫn im phăng phắc. Tên chính ủy gật gù với ý nghĩ trong đầu: “Có thế chứ!”

Giọng nói của người tù trên bục lại vang lên:
- Cũng như cán bộ đã trình bày, qua gần hai mươi tháng, tôi đã tiếp xúc với Xã hội Chủ nghĩa miền Bắc. Tôi đã được gia đình thăm nuôi nên biết được phần nào đời sống thực tế bên ngoài. Tôi cũng đã được đọc sách báo, được xem vô tuyền truyền hình. Thậm chí, tôi còn được sống gần gũi với những con người của Chủ nghĩa Xã hội miền Bắc là các cán bộ...

Cả hội trường vẫn im phăng phắc. Những người ngồi kế bên như nghe rõ tiếng nín thở của người bên cạnh. Tên chính ủy bắt đầu đi qua, đi lại. Giọng nói rõ ràng, mạch lạc của người tù trên bục giảng vang lên như một mũi dao nhọn xoáy vào một vết thương đang sưng tấy:

- Qua tiếp xúc giữa hai chế độ, tôi thấy chế độ Xã hội chủ nghĩa miền Bắc cũng không tốt đẹp gì hơn chế độ Tư bản miền Nam...

Tên chính ủy há hốc mồm. Cả hội trường im phăng phắc, sững sờ.

Giọng nói người tù trên bục giảng lại vang lên:
-Tôi không tin tưởng là đất nước sẽ tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội với những cái gọi là cách mạng giáo dục đi dôi với cách mạng khoa học kỹ thuật.

Anh ta nhìn thẳng vào mặt tên chính ủy:
-Tôi xin tạm mượn một hình ảnh để thí dụ: Con ngựa và chiếc xe. Người đánh xe đã tước đoạt mất tự do của con ngựa. Ông ta đã đóng móng vào chân ngựa, đã bịt mắt ngựa, tra hàm thiếc vào miệng ngựa, buộc ngựa vào xe và dùng roi quất vào mông ngựa để ra lệnh kéo cái xe. Chúng tôi và những người dân bây giờ cũng giống như những con ngựa. Đó là ý kiến của tôi về hai chế độ. Xin hết.

Tên chính ủy xanh mặt. Y thọc mạnh hai bàn tay đang run lên vì tức giận vào hai túi quần màu cứt ngựa. Y nghiến răng lẩm bẩm một điều gì đó không phát ra thành tiếng.

Cả hội trường có tiếng xì xào, rì rầm.
Nguyễn Ngọc Trụ bình tĩnh trở về chỗ ngồi. Một người nào đó nói nhỏ với anh ta:
- Anh nói làm chi những điều như vậy.

Nguyễn Ngọc Trụ mỉm cười trả lời:
- Tôi phải nói những Sự Thật dù biết là sẽ nguy hiểm đến tính mạng của mình.

Tên chính ủy ra lệnh giải tán lớp học mặc dù còn phải hai giờ nữa mới hết giờ. Y hấp tấp quảy cái sắc-cốt lên vai, đi như chạy ra khỏi hội trường với cái dáng đi hai hàng của y.
*
Ngay sáng hôm sau, Nguyễn Ngọc Trụ được hai tên vệ binh có võ trang vào gọi anh lên trình diện Bộ Chỉ huy Trung Đoàn. Và ngay buổi chiều hôm đó anh bị biệt giam vào conex.

Ba tháng sau. Vào một buổi chiều, một vài người tù đang thơ thẩn ở sân cát cạnh hàng rào kẽm gai bỗng kêu lên:
-Thằng Trụ ra kìa.

Tin tức lan nhanh. Mọi cắp mắt đều đổ xô về chiếc conex. Nguyễn Ngọc Trụ đôi mắt trũng sâu trên đôi má hóp, tóc phủ ót, phủ mang tai, râu ria tua tủa. Hai ống chân ốm tong teo chỉ còn da bọc xương, đứng không nổi phải vịn tay vào thành conex.

Tên chính ủy quảy cái sắc-cốt, bên hông lủng lẳng khẩu K.54, đứng hỏi Nguyễn Ngọc Trụ những điều gì đó rất lâu. Kế bên là hai tên vộ binh cầm súng trong tư thế nhả đạn.

Có lúc Trụ ngã xuống rồi lại cố gắng vịn thành conex đứng lên. Mọi người đều thấy sau mỗi lần tên chính ủy hỏi một điều gì đó Trụ lại lắc đầu. Những câu trả lời chỉ là những cái lắc đầu.

Tên chính ủy có vẻ hằn học, quay lại ra lệnh gì đó với hai tên vệ binh và bỏ đi với cái dáng đi hai hàng của y. Trụ nhích từng bước, từng bước rồi khuất hẳn vào conex. Một tên vệ binh đóng sầm cửa conex, khoá lại rồi cũng bỏ đi.

*
Sáng hôm sau kẻng báo động, còi tập hợp vang lên. Ban chỉ huy trại ra lệnh tập hợp tất cả tù nhân ở hội trường. Người chủ tọa không phải là tên Trung tá Chính ủy mà là tên Thiếu tá Chính trị viên Tiểu đoàn. Y nhe răng cười một cách rất vô duyên rồi đi thẳng vào vấn đề:
- Các anh biết đó, hôm nay trại mời các anh lên về chuyện của anh Nguyễn Ngọc Trụ.

Thực hết biết anh này. Trung tá Chính ủy đã nhiều lần thuyết phục, yêu cầu anh ta nhận những điều phát biểu trong buổi học là sai. Vậy mà anh ta vẫn khăng khăng không nhận. Anh ta nhất định giữ vững ý kiến và không chịu ra trước mặt anh em nhận là mình sai lầm. Cái chết là anh ta đã nói những điều đó trước mặt anh em để tuyên truyền. Phải chi anh ta chỉ trình bày những ý kiến đó với chúng tôi thì cũng còn được đi.

Tất cả mọi tù nhân ở hội trường đều sững sờ trước sự gian trá, lật lọng của tên Thiếu tá Chính trị viên nhưng không một ai dám lên tiếng. Và mọi người đều đau nhói khi nghe tên chính trị viên tiểu đoàn tuyên bố:

- Vì anh Nguyễn Ngọc Trụ tiếp tục ngoan cố, chống đối lại Đảng và Nhà Nước nên Bộ Tự Lệnh Quân Khu quyết định xử tử hình anh ấy. Lệnh sẽ được thi hành chiều nay.

*
Đó là một buổi chiều tháng Sáu ảm đạm. Nguyễn Ngọc Trụ bị bịt mắt, miệng bị nhét chanh trái, hai tay trói ké ra sau, hai tên vệ binh kéo thốc anh ra pháp trường.

Anh ngã quỵ xuống khi được tháo băng bịt mắt, cởi dây trói và lấy quả chanh ra khỏi miệng. Viên sĩ quan Việt Cộng phụ trách việc hành quyết hỏi anh có điều gì yêu cầu không, anh chỉ nói:

- Tôi đã nói lên những Sự Thực và không còn có điều gì yêu cầu.

Anh quay lại mỉm cười với các tù nhân bên trong hàng rào kẽm gai:
- Vĩnh biệt anh em!

Và bình tĩnh chờ dợi.
Mười hai tên vệ binh nhắm mắt bắn xối xả những tràng đạn AK vào người Nguyễn Ngọc Trụ – người tù dũng cảm – người đã dám nói lên Sự Thực ngay trong ngục tù cộng sản và mỉm cười bước vào cõi hư vô.

NGUYỄN THIẾU NHẪN

Tuesday, April 4, 2023

TỪ "NGÀN GIỌT LỆ RƠI" ĐẾN "BIỂN MÁU NGẬP TRÀN"

Dẫn nhập:
Nhà văn Đặng Mỹ Dung, tác giả quyển sách Ngàn Giọt Lệ Rơi vừa mới qua đời để lại sự thương tiếc cho nhiều người.

Tô Thùy Yên, nhà thơ lớn của miền Nam, tác giả hai câu thơ:

Đây chén rượu hồng, xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc bể dâu này”

cách đây mấy năm cũng đã qua đời tại Houston. CSVN đã giam cầm nhà thơ 13 năm vì “tội làm sĩ quan Quân lực VNCH và làm thơ.” Hai câu thơ đầy tính nhân bản và hoà giải trên được trích trong bài thơ dài “Ta về” của người lính làm thơ Tô Thùy Yên.

Bài viết sau đây sẽ trình bày những tội ác mà bọn bạo nhân cầm quyền đã cố tình chôn sống sự thật lịch sử.

1. TỪ “NGÀN GIỌT LỆ RƠI”
Trong bài “Cuộc chiến cách tân Việt Nam khỏi chủ nghĩa Cộng Sản”, nhà nghiên cứu Lê Quế Lâm cho rằng cuộc chiến tại Việt Nam là một cuộc chiến cách tân để đưa đến việc giải thể chế độ Cộng sản Việt Nam. Và tác giả cũng đã giới thiệu nhà văn Yung Krall, tức Đặng Mỹ Dung (từ nay viết tắt là ĐMD) với tác phẩm A Thousand Tears Falling tức Ngàn Giọt Lệ Rơi (NGLR).

Theo ông Lê Quế Lâm thì, bà ĐMD đã chống Cộng có ý thức ngay từ buổi thiếu thời, khi bà sống với cha là ông Đặng Quang Minh, một đảng viên CS nhiệt thành trong các bưng biền kháng chiến. Và tác giả Lê Quế Lâm đã trích dẫn một số ý thức của bà ĐMD trong tác phẩm NGLR, như sau:

Tôi nhớ hoài ngôi nhà ở gần ngã tư Ong Vèo. Ngôi nhà ngói đỏ, trước hiên có bốn cây cột gỗ mun to tướng. Nhà này không phải là nhà riêng, mà là cơ quan hoạt động chánh trị của ba tôi. Má tôi biết Việt Minh lấy nhà của những điền chủ giàu có để làm trụ sở, các cơ quan và nhà ở cho gia đình cán bộ. Má tôi không thích chủ trương cướp nhà kiểu này, mà phải âm thầm sống trong hoàn cảnh trái với lương tâm mình. Rồi má tôi xin tiền của ông bà ngoại để lén trả tiền mướn nhà và đất cho chủ điền. Và mỗi lần di chuyển đến địa phương khác, VM vẫn mượn nhà, mượn đất như vậy. Má tôi phải trả tiền để không bị lương tâm cắn rứt. Đó là một phim tài liệu trắng đen chiếu đi chiếu lại trong tâm khảm tôi mà má tôi là người kể chuyện”. 

Lúc đó MD 5 tuổi. Sau đó, gia đình MD theo cha tới 

Kim Qui. Là một rừng tràm sát bên bờ rừng U Minh, có con kinh chảy ra biển, gần Đá Bạc. Thế là có sự hiện hiện của nhiều khuôn mặt “đưa đám” trong nhà... Đó là các cán bộ từ phương xa đến, có người nói giọng Nam, có người nói giọng Huế, giọng Trung; và có cả người nói giọng Bắc... Đối với ba tôi thì người miền nào đến đây cũng là đồng chí của ông”.

NGLR nhắc đến địa điểm Kim Qui Đá Bạc, khiến người đọc “rùng mình rởn tóc” về tội ác của CS. Nơi đây Việt Minh đã giết hại rất nhiều người yêu nước, điển hình là ông Hồ Văn Ngà, thủ lãnh Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng.

Giữa tháng 8/1945, được tin Nhựt đầu hàng, ông Hồ Văn Ngà đứng ra kêu gọi các đảng phái chính trị và tôn giáo hãy đoàn kết lại, thành lập “Mặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất” “đấu tranh chống thực dân Pháp sắp trở lại Nam Kỳ, để bảo vệ nền độc lập tự do”. Khi Việt Minh rút lui khỏi Sàigòn trong đêm 23/9/1945, ông cùng Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân, Kha Vạng Cân thành lập Ủy ban Phong tỏa Đô thành Sàigòn-Chợlớn để chống Pháp.

Nửa đêm hôm đó, VM tới bắt ông dẫn đi biệt tích. Về sau người ta được biết năm 1946, ông Hồ Văn Ngà bị đập chết bằng củi đòn, thi hài bị thả trôi sông ở vùng Kim Qui Đá Bạc (Nguyễn Long Thành Nam, Phật Giáo Hòa Hảo trong lòng lịch sử dân tộc, Nxb Đuốc Từ Bi, California, 1991, Tr.366).

Trong sách Hơn Nửa Đời Hư, ông Vương Hồng Sển đã kể lại khi bị VM quy tội Việt gian, ông Hồ Văn Ngà đã trả lời như sau: “Các anh muốn giết tôi thì giết mà đừng gán cho tôi tội Việt gian” (Nxb Văn Nghệ, California, 1995, tr.162).

Tác giả ghi lại ký ức ngày Tết đầu năm 1955 tại nhà ông bà ngoại, năm ĐMD 9 tuổi, trước khi thân sinh cô và các cậu lên đường tập kết ra Bắc. 

Bữa cơm cuối cùng trong gia đình bị gián đoạn bởi một chuyện bất thường xảy ra. Trong khi chúng tôi đang ăn, một người có trách nhiệm giữ an ninh cho ba và mấy cậu bước vô, xin nói chuyện với cậu Chín Thùy... 

Một lát sau ba tôi trở lại bàn ăn, nói cho gia đình biết là có một người đàn ông muốn băng qua lộ để về Cái Thanh, một làng nhỏ bên kia quốc lộ số 4. Ông ta nói rằng má của ông đau nặng, ông muốn về thăm má. Không một ai trong nhóm giữ an ninh biết ông là ai, nên họ quyết định giữ người này lại. 

Ông ngoại ngồi nhâm nhi cốc rượu, chờ ba tôi dứt lời mới lên tiếng: “Thà bắt lầm hơn thả lầm, phải không con?” Ông cho rằng ba tôi không có quyền quyết định khi chuyện có liên quan đến gia đình người khác. Ông nói “Nếu má thằng Khôi đau nặng, cậu muốn thằng Khôi về thăm má nó, con tính làm sao?” 

Sau bữa ăn, cậu Chín dẫn người đàn ông vô nhà. Ông ta là một nông dân. Chân ông còn dính xình khô, quần xắn lên khỏi đầu gối và ướt nhẹp. Ông khép nép ngồi bên mép chiếc ghế đẩu, mặt đầy lo sợ. Ông cúi đầu chào gia đình tôi, nhưng không dám nhìn thẳng mặt ai. Người đàn ông lập đi lập lại lý do cần phải băng qua lộ đêm đó “Má tui đau nặng, tui phải gặp bả trước khi bả nhắm mắt ông à”. 

Tôi thấy bác nông dân ôm mặt khóc. Tim tôi đau nhói khi tôi nghe tiếng nức nở của bác. Tôi nhìn người đàn ông trạc tuổi ba tôi, ngồi trước mặt ba tôi và các cậu Tư, cậu Chín. Những người đàn ông này đều có mẹ già, ai cũng biết thương yêu, và ai cũng được yêu thương. Rồi tôi tự hỏi cái gì đã tạo nên sự khác biệt giữa người đàn ông này và những người đàn ông trong gia đình tôi? 

Người nông dân nầy đã vô tình đem tôi ra khỏi cái nôi của “cách mạng”. Lần đầu tiên trong tuổi thơ, tôi dám nghĩ thầm rằng hành động đêm đó của ba tôi vừa tàn nhẫn, vừa sai bét. Tôi nói thẳng với ông là ba không công bằng với người nông dân nên tôi ngủ không được.

Hai mươi năm sau (1975) tác giả đến thăm cha ở Tokyo, là kẻ vừa chiến thắng.... “Khi bước vào phòng ông, tôi thấy ông đang ngồi cạnh một xấp giấy, trông giống thẻ căn cước, nhưng lớn hơn. Tôi tò mò cầm một thẻ lên coi thì biết đó là giấy gọi nhập ngũ của Mỹ.. Giấy này được gởi đi vào tháng 7/1969 cho một thanh niên 19 tuổi. Lúc đầu tôi nghĩ đây là thẻ động viên của một người lính Mỹ tử trận. Một niềm thương cảm tràn ngập trong lòng.

Chết cho tổ quốc là một vinh dự. Nhưng tình thương bị dập tắt ngay khi ba tôi cho biết những thẻ động viên đang để trên bàn là những thẻ của những tên phản chiến. Khi nhận được lệnh nhập ngũ thì chúng bỏ trốn, rồi gởi những thẻ này đến Tòa Đại sứ của MTGPMN. Tôi giận tím người khi biết chúng là những tên phản quốc. Như đổ dầu vào lửa, ba tôi vui vẻ nói; “Điều đó chứng tỏ rằng Mỹ đã sai lầm khi tham chiến ở VN”.

Tôi chưa cần phân tích xem Mỹ sai lầm ở chỗ nào, nhưng đã nhận ra một sự thật làm tan nát tim tôi. Đó là sự ngăn cách giữa hai cha con tôi quá lớn; chúng tôi gặp nhau chỉ để xa nhau thêm mà thôi. Lẽ thường ở đời, ai không muốn ngả theo phe thắng, để mưu cầu danh lợi cho riêng mình. Nhưng tôi thì không, tôi không bao giờ phản lại Quốc Gia, phản lại lý tưởng mà gia đình tôi đã đi theo. Vì lý tưởng đó mà em trai tôi đã chết khi mới chập chững bước vào binh nghiệp. Tôi nghiêm giọng nói với ba tôi: 

“Hạng người phản chiến nầy chỉ là những tên phản quốc, hèn nhát, nên mới gởi những thẻ nầy cho kẻ thù”. 

Ba tôi lắc đầu: “Mỹ nhẩy vào VN là một sai lầm to lớn. Những người Mỹ trẻ này đã sáng suốt nhận ra như vậy”. 

Tôi cãi: “Họ ngay thẳng, thật thà, làm sao hiểu nổi cái lưu manh của cộng sản. Vậy khi Liên Xô và Tàu Cộng viện trợ khí giới cho các du kích của MTGP giết đồng bào, thì có chính nghĩa không? Cuộc chiến này sai bét vì người Việt lại giết người Việt”.

Ông dịu dàng nói: “Ba không muốn tranh luận với con gái cưng của ba. Vì ba không bao giờ muốn thay đổi cách suy nghĩ của con. Nếu con hài lòng với niềm tin của con, tức là con đang có hạnh phúc. Đối với ba, gia đình rất đáng quý”.

Tôi trả lời “Nhưng đảng của ba còn đáng quý hơn tụi con”. Ba tôi chậm rãi: “Đất nước trên hết đối với ba. Con can đảm, con đã tự lập, con lo cho con được. Con OK”.

Tôi lấn tới: “Tất cả người dân miền Nam cũng đã OK. Vợ của ba, con cái của ba đều là hình ảnh của người dân miền Nam sống đơn sơ và hạnh phúc.

Chúng con không có gì khác biệt với mọi người. Những nhu cầu, những mơ ước của chúng con đều là nhu cầu và mơ ước của hàng triệu dân miền Nam. Và mọi người đã OK, cho đến ngày Hà Nội đem quân xâm chiếm miền Nam”. Ba tôi gật đầu: “Ba biết rõ những nhu cầu của người miền Nam. Ba hứa sẽ cố gắng hết sức mình để đáp ứng những nhu cầu đó”. Tôi chưa kịp nói gì thêm, ông đã đề nghị: “Mình nói chuyện khác đi con”.

ĐMD từng tâm sự “Tôi yêu ba tôi vì tôi yêu người đã xả thân cho đất nước. Tôi có làm phiền lòng ông, chỉ vì tôi dám nói lên là ông đã bước quá sâu vào cạm bẫy của một lũ người phản quốc”.

Để kéo ông ra khỏi cạm bẫy CS ở tuổi cuối đời, trong các cuộc gặp gỡ sau đó ở Paris (1976) và London (1977), ĐMD gợi ý ông về hưu, đoàn tụ với gia đình với lý lẽ: “Ba đã cống hiến gần hết cuộc đời cho dân tộc. Nay đất nước đã hòa bình, ba 68 tuổi rồi, chúng con muốn ba về sống với má và chúng con. Ba chọn một nước trung lập nào ba thích, dành quảng đời ngắn ngủi còn lại để má và chúng con được cận kề bên ba. Đó là lẽ công bằng.”

Ông dứt khoát: “Ba là người VN, sanh ra ở VN và sẽ chết ở VN.”

Trong khi đó, đại diện MTGPMN tại Paris là Phan Thanh Nam và các đồng chí của ông ta ra sức “động viên” ĐMD thuyết phục bà mẹ trở về nước. Y tuyên dương hành động trở về của bà là một chiến thắng lớn của VN, là cái tát vào mặt TT Gerald Ford và Chính phủ Mỹ đã cho CIA bắt cóc bà đem về Mỹ. ĐMD không có ý định “tát vào mặt” chính quyền Hà Nội khi thuyết phục người cha rời bỏ VN. Hành động này chỉ muốn nói lên sự thức tỉnh của một người CS sau khi đạt được mục tiêu cuối cùng. Nhưng ông phản đối ý kiến của con, cho đó là thái độ vô cùng ích kỷ. Ông phải trở về nước, hoàn thành nhiệm vụ giúp Miền Nam tái thiết, để phát triển vững mạnh trong một thời gian năm bảy năm, trước khi thống nhất với Miền Bắc.

Trong khi ông lạc quan ở Paris, thì số cán bộ MTGPMN sau chiến thắng 30/4/1975 đã thấy rõ thân phận của mình, như câu nói của người xưa “Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh” (Thỏ chết thì chó săn bị làm thịt).

Kỹ sư Trương Như Tảng, Ủy viên Trung ương MTGPMN và là Bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa MN đã bày tỏ sự bất mãn khi CS chiến thắng MN, “một quyền lực sắt thép bao trùm khắp nước VN. Lúc thắng trận cũng là lúc CS bắt đầu loại bỏ MTGPMN. Trong buổi tiệc đơn sơ được tổ chức vào năm 1977 để chính thức giải thể MTGPMN, Đảng CS và chính quyền Hà Nội không thèm cử đại diện đến dự”.

Ý định thuyết phục thân phụ lìa bỏ CS bất thành, ĐMD dấn thân vào nghiệp vụ điệp viên chống CS. Nhờ Phan Thanh Nam đón tiếp một cách nồng hậu ở Paris, cô có dịp đặt chân vào trụ sở MTGPMN và văn phòng bà Nguyễn Thị Bình trong thời gian diễn ra cuộc đàm phán Paris. ĐMD đã tiếp xúc với Đại sứ Hà Nội Võ Văn Sung và phát hiện một số cán bộ CS nằm vùng ở Paris. Những ghi nhận về nhân sự và hoạt động của CSVN tại Paris đều được ĐMD báo cáo cho CIA. Cô giữ mối liên lạc với những người CS bạn của ba cô ở Paris, ông có uy tín lớn đối với họ. Những người CS tin tưởng ĐMD với tình thương cha sâu đậm, cô sẽ giúp họ thu thập những tin tức kỹ thuật và tình báo từ chồng cô.

Lần hồi qua sự giao tiếp, cô được Đại sứ Võ Văn Sung giới thiệu với Chủ tịch hội Việt Kiều yêu nước ở Mỹ và Đinh Bá Thi, đại sứ CSVN ở Liên Hiệp Quốc. Qua Phan Thanh Nam cô gặp Trương Đình Hùng và một số cơ sở CS hoạt động ở Hoa Thạnh Đốn. Hùng nhờ cô chuyển một số tài liệu mật do Ronald Humphrey (một viên chức cao cấp của bộ Ngoại giao HK được phép đọc tài liệu mật) lấy trộm từ Bộ Ngoại Giao. ĐMD trao những tài liệu mật này cho CIA để tráo thành tài liệu giả chuyển đến Tòa Đại sứ Hà Nội ở Paris. Humphrey có vợ là cháu của một nữ cán bộ CS, ông liều lĩnh hành động để CS sớm cấp giấy xuất cảnh cho vợ.

Bọn phản chiến và các hội Việt kiều yêu nước đã tiếp tay giúp CS chiến thắng ở MN. Sau đó chúng ra sức tuyên truyền, phá hoại và tranh thủ đồng bào tị nạn vừa mới đặt chân đến Pháp và Mỹ.

Việc ĐMD phát hiện các ổ CS nằm vùng, các tổ chức Việt Kiều yêu nước và ra toà làm nhân chứng để phá vỡ mạng lưới gián điệp của Hà Nội ở Mỹ là một đóng góp lớn giúp củng cố và phát triển Cộng đồng Người Việt Tự do ở HK trong bước đầu hình thành khi làn sóng thuyền nhân ồ ạt đến Mỹ hồi cuối thập niên 1970.

Trong lời nói đầu quyển A Thousand Tears Falling, ông Griffin Boyette Bell, cựu Bộ trưởng Tư pháp HK, đề cao “Yung Krall (tức Đặng Mỹ Dung) đúng là một công dân Mỹ vĩ đại. Tình yêu nước Mỹ đã dẫn dắt cô trở thành nhân chứng then chốt trong vụ án gián điệp mang tên Con Rồng Kỳ Diệu. Tôi nhiệt liệt tán thưởng sự nghiệp của cô đối với nước ta (HK), và tôi vui mừng thấy câu chuyện của người phụ nữ xuất sắc nầy cuối cùng đã được để cho mọi người cùng đọc và biết đến...”

Riêng cá nhân tôi, ĐMD còn là một người VN yêu nước trong sáng, chống CS có ý thức. Chị đã góp phần giúp HK tiến hành cuộc chiến “cách tân VN khỏi chủ nghĩa CS”. Một nước VN dân chủ tự do, không CS, là nguyện vọng tha thiết của mọi người VN yêu nước. Quyển NGLR là cuộc đấu lý có tính ý thức hệ, bày tỏ thái độ chính trị giữa người con Quốc Gia và người cha yêu nước theo chủ nghĩa CS.

2. ĐẾN BIỂN MÁU NGẬP TRÀN:
Bài viết này xin không kể đến những tội ác tày trời mà Đảng CSVN đã gây ra trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc mà chỉ kể những tội ác mà CSVN đã gây ra cho đồng bào miền Nam sau tháng 4 năm 1975. Sau khi chiếm trọn miền Nam, CSVN đã phạm nhiều tội ác chống nhân loại đối với đồng bào miền Nam một cách quy mô và có kế hoạch:

– Tội đưa đi lưu đày (deportation) 1.5 triệu đồng bào miền Nam tại những nơi rừng thiêng nước độc mà chúng đặt cho cái ngụy danh là “vùng kinh tế mới”. Khí hậu khắc nghiệt tại những nơi lam sơn chướng khí này đã gây ra những cái chết cho nhiều chục ngàn người.

– Tội xử tử một cách phi pháp (ex-radical, or summary, execution) 100.000 quân dân cán chính VNCH trong thời gian 10 năm kể từ sau tháng 4 – 1975, gây đau thương suốt đời cho hàng trăm ngàn thân nhân ruột thịt của họ.

Tội giết 160.000 người bằng cách đuổi theo pháo kích và bắn trực xạ trong nhiều ngày vào đoàn người chạy giặc suốt theo chiều dài của Tỉnh lộ 7B từ Pleiku xuống duyên hải trong tháng 3 năm 1975, để lại đau thương suốt đời cho hàng trăm ngàn thân nhân của họ.

– Tội giam cầm phi pháp (imprisonment without formal charge or trial) 1.000.000 quân dân cán chính VNCH trong những cái gọi là “trại cải tạo” với thời gian bị giam cầm từ 3 tới 10 năm, và có nhiều người đã bị giam tới 17 năm. Tội ác này đã gây đau khổ tinh thần cho hàng triệu thân nhân ruột thịt của họ.

– Tội ác thủ tiêu mất tích (enforced disappearance of person) 165.000 quân dân cán chính VNCH bị chết vì đòn thù trong các trại tù cải tạo. Hiện nay VC còn đang chôn giấu 165.000 bộ hài cốt của những người này trong rừng núi với chủ tâm trả thù, gây thống khổ tinh thần suốt 43 năm nay cho hàng trăm ngàn cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái của họ.

– Chế độ độc tài khủng bố của VC đã là nguyên nhân xô đẩy 3.000.000 đồng bào miền Nam lao ra biển trên những con thuyền mỏng manh để đi tìm tự do, gây ra những cái chết thảm cho 700.000 đồng bào trên biển cả, để lại đau thương suốt đời cho hàng triệu cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái của họ.

– Chúng tổ chức vượt biên để thu vàng và cướp nhà của dân: khi thuyền vượt biên tới hải phận quốctế, chúng cho công an dùng thuyền cao tốc đuổi theo bắn chìm thuyền và giết chết những người đã nộp tiền cho chúng. Đây là một tội ác man rợ của VC đối với đồng bào miền Nam.

Một số tội ác kể trên đã đủ chứng minh rằng hầu hết các gia đình tại miền Nam đều là nạn nhân của tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại của CSVN.

***
Xin thưa phần trên của bài viết, tôi đã mượn phần trình bày của hai tác giả Lê Quế Lâm và Đỗ Ngọc Uyển để trình bày về những nhức buốt của một cuộc chiến đã im tiếng súng trong 48 năm qua; nhưng vẫn còn âm thầm tiếp tục tàn phá và vắt kiệt sinh lực của dân tộc Việt Nam và đất nước đang có nguy cơ lệ thuộc ngoại bang.

Phần đầu, tôi mượn phần trình bày của tác giả Lê Quế Lâm về bi kịch mà bà Đặng Mỹ Dung và gia đình bà phải gánh chịu trong cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản.

Với bi kịch của đời mình, bà Đặng Mỹ Dung đã viết thành tự truyện Ngàn Giọt Lệ Rơi.

Phần thứ hai, tôi trích một đoạn ngắn từ bài viết “Con Đường Hoà Giải Dân Tộc” của tác giả Đỗ Ngọc Uyển với ước vọng là sẽ có những người cầm bút sẽ tổng kết coi có bao nhiêu xương máu đã đổ xuống trong cuộc chiến mà ông Hồ Chí Minh đã theo đuổi và quyết tâm áp đặt chủ nghĩa cộng sản cho đất nước Việt Nam.

Chỉ trong một gia đình của bà Đặng Mỹ Dung đã ngàn giọt lệ rơi.

Trong cuộc chiến “xẻ dọc Trường Sơn” với đoàn quân “Sinh Bắc, tử Nam” của ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN, dân tộc Việt Nam đã đổ xuống bao nhiêu máu xương trong cuộc bể dâu này?!

Có bao giờ các vị lãnh đạo của Đảng CSVN hiện nay nghĩ đến chuyện:

“Đây chén rượu hồng, xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc bể dâu này!”
(thơ Tô Thuỳ Yên)

Hay là quý vị “vẫn quyết tâm tát cạn, bắt lấy” 3 triệu người Việt tỵ nạn hải ngoại là những người đã vì sự cai trị hà khắc của quý vị mà phải liều chết vượt biển để tìm tự do trên những chiếc thuyền mà mạng sống mỏng manh – như những con muỗi mắc trong nghiên son?!

NGUYỄN THIẾU NHẪN

Saturday, March 11, 2023

HÃY TẨY CHAY HÀNG HÓA, THỰC PHẨM ĐỘC HẠI CỦA TRUNG CỘNG!

Dẫn nhập: Hiểm họa Trung Cộng là có thực! Giáo sư Peter Navarro đã báo động qua quyển sách “Death By China” và đã được nhiều dịch giả chuyển sang Việt ngữ.

Mấy tháng trước, bà Diane Sawyer đã có một buổi tường trình đặc biệt về vấn đề này trên đài truyền hình ABC. Trong chương trình, họ đã gỡ bỏ tất cả những sản phẩm không phải của Mỹ ra khỏi nhà bếp của một gia đình trung lưu tiêu biểu và kết quả là không còn thấy bất cứ thứ gì ngoài chậu rửa chén.

Điều thú vị là bà Diane Sawyer nói rằng nếu mọi người Mỹ chi tiêu thêm 64$US hơn mức bình thường để mua hàng Mỹ trong năm, thì điều này sẽ tạo được 200.000 công ăn việc làm mới.

Như mọi người điều biết người Tàu họ ý thức rõ và cố tình xuất cảng những sản phẩm thấp kém và ngay cả độc hại, những đồ chơi và hàng hoá nguy hiểm để bán trong các chợ trên nước Mỹ. Thậm chí người Tàu trên đất Mỹ cũng không dám mua hàng có xuất xứ từ nước của họ.

Bài viết sau đây có mục đích phổ biến những thực phẩm, hàng hoá độc hại được sản xuất từ Trung Cộng đang lan tràn tại Việt Nam và cả thế giới để mọi người cùng tránh hiểm họa “chết bởi Trung Cộng”.

*
Trước đây nhiều năm, người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại bàng hoàng khi nghe tin thịt chà bông sản xuất từ Trung Cộng (TC) làm bằng cạc-tông và hóa chất. Gần đây, một email luân lưu báo động một loại bún khô sản xuất từ Việt Nam cũng làm bằng ny-lông! Và mới đây, Cơ quan An toàn Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã từ chối, không cho nhập cảng 27 lô hàng mà phần lớn đã chế biến, sản xuất từ VN vì lý do thiếu an toàn cho sức khoẻ. Những loại thực phẩm này không chỉ nhập cảng vào Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) mà còn được nhập cảng vào tất cả những quốc gia nơi có người Việt sinh sống như những nước tại Âu Châu, Nhật, Úc, v.v...

Thực ra những trò ma của bọn gian thương VN chỉ là “những trò ăn mót” của bọn đại gian thương Trung Cộng.

Sau đây là những bằng chứng bọn gian thương TC “đầu độc” ngay cả dân chúng của chúng nó:

- Kinh hoàng bánh bao “bẩn” ở siêu thị TC:

Chương trình “Tiêu dùng” của CCTV đưa tin, mỗi ngày có hơn 30.000 chiếc bánh bao độc hại này được đưa vào kệ bày bán tại các siêu thị lớn như Thượng Hải Liên Hoa, Hoa Liên, Địch Á Thiên Thiên...

Kết quả điều tra phát hiện, trên bao bì các dòng sản phẩm bánh bao này, ngày sản xuất được in thành ngày nhập hàng vào siêu thị, những chiếc bánh bao đã quá hạn sử dụng thì được hô “biến” thành bánh bao mới.

Một nhân viên siêu thị cho hay, những loạt bánh bao tẩy trắng này đều do một công ty sản xuất và cung ứng, hiện bán khá chạy tại các siêu thị lớn. Phóng viên CCTV đã xâm nhập vào xưởng sản xuất của công ty này và phát hiện một loạt dập ngày sản xuất 22-3 được tuồn trở ngược lại xưởng để “tái chế” thành bánh bao mới và xuất lại cho siêu thị. 

Theo ghi nhận của phóng viên, những chiếc bánh bao cũ được đổ vào máy đánh tan thành bột. Sau đó một công nhân đổ thêm hai túi bột trắng cho vào máy đánh đều trước khi đổ khuôn. Chưa đầy 10 phút sau, loạt bánh bao “tái chế” nóng hổi được xuất lò. Công ty này đã dùng đường hóa học thay đường kính, đồng thời trộn thêm chất bảo quản, chống thối và chất tẩy trắng không rõ nguồn gốc.

- Rùng mình thịt lợn “bẩn”:

Sau bánh bao “bẩn”, khiến người TQ phẫn nộ, thì nay, đất nước đông dân nhất hành tinh này lại một phen rùng mình, kinh hãi khi hàng tấn thịt “bẩn” “rùng rùng” chuyển động trên các ô-tô tải.

Nếu không được phát hiện thì hàng tấn lô thịt lợn “bẩn” này đã nằm trên bàn ăn của người tiêu dùng. Người dân TC không khỏi bàng hoàng khi biết tin tập đoàn Song Hội (Tỉnh Hà Nam TC), một thương hiệu lớn trong lãnh vực công nghệ thực phẩm của nước này, đã và đang cung cấp ra thị trường rất nhiều thịt lợn “bẩn” do nuôi bằng chất kích thích tăng nạc có tên Ractopamine và Clenbruterol. Người tiêu thụ loại thịt này có thể bị ngộ độc, chân tay run rẩy, đứng không vững, chóng mặt nhức đầu, mất sức, tim đập nhanh.

- Rau quả Trung Cộng nhiễm độc nặng:

Trong 2 năm 2010 và 2011, TC liên tục phát hiện lượng thuốc trừ sâu quá cao trong rau, quả của TC, những chất độc hại này sẽ gây ra các bệnh nguy hiểm đến tính mạng người tiêu dùng.

Mới đây, các chuyên gia y tế khám phá ra các loại rau trồng trên chính đất TC bị nhiễm iốt phóng xạ ảnh hưởng từ vụ nổ nhà máy điện hạt nhân Fukusima ở Nhật Bản.

Khi bài viết này được đăng tải trên một trang mạng, một nick ký tên Mỹ Lan đã có góp ý như sau:

“Ở Việt Nam, nguy cơ nhiễm độc thực phẩm của TQ là rất cao nhưng ít người biết đến. Với 2 hoá chất Ractopamine và Clenbruterol được trộn chung trong thực phẩm cho heo ăn làm cho con heo có rất ít thịt mỡ. Khi xẻ thịt con heo thì nạc chiếm tối đa. Thịt heo nhiều nạc này giống như thịt heo rừng. Các quán thịt rừng bày bán thứ thịt heo nuôi bằng hai hóa chất trên được chủ quán nói dối là thịt heo rừng. 

Ở TQ cũng có một loại hóa chất được ướp vào thịt heo để biến nó thành một miếng thịt bò. Khi miếng thịt bò giả được chiên thì nó lại thành “ngưu bái” (níupái/steak) trong các quán ăn sang trọng. 

Ở VN, bánh phở, hủ tiếu cũng được tẩy trắng bằng chất sodium hyposulphite và hàn the (borax). Buồng chuối thì người chủ vườn bơm dung dịch nước và phân urê (urea) để cho các trái chuối to và dài. Rau muống được trồng trong vũng nước lớn đổ thêm chút dầu nhớt. Giò chả thì nhà sản xuất cũng trộn hàn the vào thịt để giò chả được dai. Rượu đế làm bằng men TC hay được pha bằng công thức: cồn uống được 20% + cồn để đốt 80% (ethyl alcohol 20%+methyl alchol 80%). Dân nhậu thường bị chết sau chầu nhậu vì ngộ rượu độc. Hai nước CS anh em này vì lợi nhuận trong thương trường đã nhẫn tâm giết hại đồng bào mình.

Những người nước ngoài gốc Việt mượn cớ trốn (mùa) đông về VN ăn chơi 6 tháng chưa biết mạng sống của họ bị thu ngắn từng ngày.

“Chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ” (Vị kiến quan tài, vị lưu lệ) là vậy!”

*
Trong bài viết “Người Trung Quốc Tẩy Chay Hàng Trung Quốc” , tác giả Vũ Thị Phương Anh có đề cập đến chuyện người Việt Nam “ăn phải đũa... Trung Cộng” (TC) như sau:

“ Cái gì? Nói chơi hay nói thiệt vậy bồ tèo? Câu nói trên đây là của một người bạn khi thấy tôi đang viết entry này, và hỏi tôi viết cái gì đấy. Thiệt chớ chơi gì! Tôi lúc nào cũng nói có sách, mach có chứng mờ. Mà sách Tây cẩn thận, chứ không phải sách... Tàu đâu nhé.

Thế sách, báo Tây nói gì? Đây này: "Làm thế nào để ăn uống an toàn tại Trung Quốc (TQ)?” đăng trên CNN, ít lâu rồi, từ ngày 18-5-2011 lận. Nhưng mà người TQ tẩy chay hàng TQ ở chỗ nào chứ? Có ngay: 

“With so many food safety scandals in China, everyone seems to have a philosophy on how best to eat. Avoid seafood. Never eat meat from the local market. Don't eat Chinese branded dairy products including cakes.

Thế đấy! Không ăn thực phẩm của TQ thì chắc phải ăn thực phẩm nhập. Hèn chi mà gần đây thấy lái TQ đổ xô mua hàng nông phẩm của VN. Cho nó an toàn, chắc thế. Nhưng lỡ người nghèo ở TQ không có tiền để mua hàng nhập, hoặc không có đủ hàng nhập để mua thì làm gì?

Lời khuyên đây:

“Probably the best and most consistent piece of advice I have gotten is to diversify your diet. “Rotate your poisons,” a food safety expert advise me. It’s enough to make you paranoid about eating anything at all.”

“Rotate your poisons,” dịch ra tiếng Việt là “Hãy xoay vòng chất độc,” tức là liên tục thay đổi món ăn có chất độc để bị nhiểm đôc mỗi thứ một chút thôi, không bị nhiễm một thứ quá cao, đến mức tử vong, ví dụ thế. Quả là khôn ngoan. Mà không biết chừng thay đổi chất độc còn giúp ta loại trừ bớt chất độc trong người ấy chứ, theo phương châm của TC là “dĩ độc trị độc” mà!”

Người TQ không sử dụng thực phẩm TQ, mà đi nhập cảng nông sản nước khác, ví dụ như VN, về để ăn cho an toàn. Cho bảo đảm nòi giống Đại Hán luôn được hùng mạnh!!! Vậy chứ thực phẩm TQ với những chất độc hại như thế kia thì bán cho ai ăn? Thì... bán cho thế giới dùng. Cho Mỹ, cho Âu châu (cho chúng nó chết)! Và cho các nước nghèo trên thế giới, như châu Phi, như Pakistan, Bangladesh... And, of course, bán cho VN! Nhiều năm nay rồi.

Nhiều năm nay chúng ta đã ăn táo TQ, sử dụng phẩm màu của TQ để nấu nướng thức ăn, trứng gà (giả) của TQ, mực khô (giả) của TQ, sữa bột (nhiễm melamine?) của TQ, ăn xong thì xỉa răng bằng tăm TQ v.v... và v.v...

Và quan trọng hơn, có ai nhớ ra không nhỉ, chúng ta đã “ĂN PHẢI ĐŨA TRUNG QUỐC”!

Chứ gì nữa, không chỉ ăn thực phẩm TQ, chúng ta còn sử dụng nào tăm, nào chén bát, tô, nồi, ly, tách, mâm, ấm, muỗng và tất nhiên là... đũa!

Thế có ai còn nhớ thành ngữ “ĂN PHẢI ĐŨA” trong tiếng Việt là gì không? ĂN PHẢI ĐŨA TQ, THẾ, HÈN GÌ MÀ GIỐNG TQ QUÁ ĐI THÔI! Thế còn câu “núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác” của ông cha ta đâu rồi, chúng ta quên rồi sao?

Sợ quá!”

*
Bài viết ngắn, nhưng phải nói đọc xong... cảm khái cách gì - nói theo cách nói của nhà văn Hoàng Hải Thủy!

Nhưng mà thành ngữ “ăn phải đũa” là cái gì vậy? Già cả rồi, nhớ trước quên sau, sợ bị “lão hoá” như nữ sĩ Dương Thu Hương nên bèn mở tự điển Lê Văn Đức do Lê Ngọc Trụ hiệu đính thì thấy có nghĩa như vầy:

Ăn phải đũa có nghĩa là “nhiễm thói xấu, bắt chước nhằm việc hư thân mất nết mà không hay biết”.

Ba chữ này cũng còn có nghĩa là “Ăn quen, bị đụng đầu mới vỡ lẽ”. Thì ra cái bà Phương Anh này... thâm thật! Ai dám bảo đàn bà... tè không qua ngọn cỏ?

Nghe nói ông Tổng bí Nguyễn Phú Trọng rất sính tiếng Pháp. Tình cờ mà đọc được cái bài viết này, gặp được bà Phương Anh, thế nào ông ta cũng trách: "Thế nà “toi” đã “neo nên” đầu “toa” xe “nửa” mà tè nên đầu “moi”! (Xin cắt nghĩa ra tiếng Việt là: "Thế là bà đã leo lên đầu toa xe lửa mà đái lên đầu tui!”)

*
Như mọi người đều biết qua báo chí là bọn lái buôn Tàu phù đã đi lùng sục khắp VN để mua thủy sản, gà vịt, trứng gà, trứng vịt, khoai mì sắt lát phơi khô, thuê đất sản xuất khoai lang v.v... để đem thực phẩm, lương thực “thật” và “không có chất độc” về... Tàu!

Cùng lúc giết chết ngành Xuất khẩu Hải sản của VN, làm tăng giá sinh hoạt khiến đời sống của người dân Việt Nam điêu đứng.

Trong khi đó, trước đây nhiều năm TC đã nhập qua VN bằng đường biên giới Trung-Việt với những “đoàn quân cửu vạn” với những hàng hóa, thực phẩm có độc như trứng gà, trứng vịt (giả), mực khô (giả), thịt chà bông( giả) (làm bằng giấy cạc- tông) hồ tiêu (giả), mì chính, phẩm màu (có hoá chất độc hại), gạo (giả)... để nấu ăn, sữa (nhiễm melamine), trái cây bơm hóa chất để giữ được lâu v.v...

Đây là đòn “nhất tiễn hạ song điêu” của “láng giềng khốn nạn” TC dành cho đàn em VC: Các mặt hàng độc và giả, bán với giá rẻ để giết chết ngành Thương nghiệp của VN và đầu độc nhân dân VN.

Qua bài viết của giáo sư Vũ Cao Đàm, mọi người đã thấy rõ cái thủ đoạn khốn nạn, bần tiện của “anh láng giềng” TC.

Qua bài viết của bà Vũ Thị Phương Anh, y cứ vào bài báo trên CNN, chúng ta lại thấy thêm thủ đoạn thâm độc, cực kỳ thâm độc cũng của “anh láng giềng” phương Bắc: đầu độc nhân dân của đàn em phương Nam!

Và, mới đây qua phát hiện mới về “Kinh hoàng bánh bao bẩn”, “Rùng mình thịt lơn “bẩn” và “Rau quả Trung Cộng nhiễm độc nặng” qua bài viết của tác giả Phạm Thanh Daniel và góp ý của nick Mỹ Lan cho thấy “sự tàn ác, dã man” của bọn thương buôn TC: Vì lợi nhuận, chúng nó đầu độc cả người dân của chúng nó! Và bằng mọi cách, chúng nó “tuồn” những loại thực phẩm độc hại này qua VN để giết chết lần mòn dân chúng VN.

*
“... Và quan trọng hơn, có ai nhớ ra không nhỉ, chúng ta đã “ăn phải đũa” Trung Quốc! Chớ gì nữa, không chỉ ăn thực phẩm TQ, chúng ta còn sử dụng nào tăm, nào chén bát, tô, nồi, ly, tách, mâm, ấm, muỗng và tất nhiên là... đũa!” Và hiện nay thì, lại thêm “bánh bao bẩn, thịt lợn bẩn và rau quả nhiễm độc...”

Dân VN thì bị “láng giềng khốn nạn” Tàu phù hại như thế! Trong khi đó thì nhà cầm quyền CSVN thì được hưởng sơn hào, hải vị từ đàn anh phương Bắc. Nào là “hà nàm hầu” hầm thuốc Bắc, sâm thử, não hầu, chân vịt Bắc Kinh, trãm mã trà và hàng trăm món cao lương, mỹ vị khác.

Tuy nhiên, cuối cùng thì cũng như nhân dân VN, nhà cầm quyền CSVN cũng “ăn phải đũa” Trung Cộng!

Không biết trong “đũa TC” mà nhà cầm quyền CSVN “ăn phải” có độc chất gì không mà sao ông nào ông nấy cũng phải ĐI BẰNG ĐẦU GỐI?!

Bọn lãnh đạo đất nước nó đã khốn nạn như thế, hèn nhát như thế. Để tự cứu mình và cứu đất nước Việt Nam đang lâm nguy về mọi mặt việc trước mắt là toàn dân VN hãy tẩy chay thực phẩm độc hại của TC!

NGUYỄN THIẾU NHẪN
(Cập nhật ngày 8 tháng 3 năm 2023)

Blog Archive