Showing posts with label Dong Trinh. Show all posts
Showing posts with label Dong Trinh. Show all posts

Saturday, July 20, 2019

Cái Máy May Của Má Tôi!

Dong Trinh

Má nói:

-Anh Ba con bao nhiêu tuổi là cái bàn máy may này bấy nhiêu năm đó con!

Má vừa ngồi may áo dài cho tôi để chuẩn bị vô lớp đệ thất trường Nghĩa Phương, vừa nói chuyện. 

Đó là cái máy may của gia đình tôi. Đầu máy màu đen, có chữ Singer và lấm tấm vài cái bông nho nho xung quanh cùng màu như mạ vàng, được đặt trên một cái bàn, có hai hộc nhỏ hai bên để đựng thước dây, kéo, phấn vẻ màu xanh, hồng. Còn có hộp đựng kim, suốt chỉ và mấy ống chỉ đủ màu. Một hộp nút bằng nhựa nhưng má tôi kêu là nút ốc, dùng để kết vô áo sơ mi. Mấy vĩ nút bóp nhỏ li ti hiệu ba số 5 sáng ngời. 

Phía dưới, cái bàn đạp bằng sắt màu đen, xích lên trên một chút, phía bên mặt là cái bánh xe cùng màu với bàn đạp, có sợi dây trân nối với vòng tay quay trên đầu máy, cũng cùng một phía bánh xe. 

Sau khi may xong, mình kéo dây trân dưới bánh xe ra, dở đầu máy bật ngược ra sau, mở cái miếng cây trên mặt bàn ra, rồi lật đầu máy xuống thùng, đậy cái nắp bàn lại, gọn gàng, sạch sẽ.

Tôi để ý thấy cứ mỗi lần đổi qua đường may khác, thì tay má để lên cái vòng tròn nhỏ chỗ đầu máy, kéo nhẹ xuống, chưn má đạp lên bàn đạp thì cây kim bắt đầu chạy lên chạy xuống miếng vải, đường chỉ trắng đều đặn, thẳng hàng.

Má kể tiếp:

-Hồi nhỏ, cậu Ba con vốn là thợ may, đã dạy cho má biết may áo quần. Sau đó, má với dì Sáu con xuống Sài Gòn ở với ông bà Năm là cậu mợ của má để bà Năm dạy má với dì Sáu học nấu ăn, làm bánh, thêu thùa, đan móc... ông Năm thì dạy má mấy bài học luân lý xưa. Ông Năm khó lắm, phải nói năng lễ phép, đi đứng dàng hoàng mới được. 

Sau khi ba cưới má thì má về Thủ ở. Má có chị Hai con rồi tới anh Ba con. Sanh anh Ba con không bao lâu thì ba mua cho má cái máy này để may áo quần cho cả nhà đỡ tốn tiền đặt ở tiệm.

Con biết hôn, cái máy này nó đi ta bà dữ lắm đó...

Nghe má nói tới đây, tôi ngạc nhiên quá, mở lớn hai con mắt ra ngó má. Cái máy may tuy rằng có bốn chưn và bánh xe nhỏ để dễ đẩy nhưng mà nó đâu có biết đi, sao má nói nó đi ta bà dữ lắm? 

Như hiểu ý tôi, má cắt nghĩa:

-Mua cái máy này được mấy năm, thì một bữa nọ có gánh hát Hoài Dung-Hoài Mỹ về đây. Chú Phước là Đại Uý Cảnh sát tên Nguyễn Huỳnh Phước, chú là soạn giả Nguyễn Huỳnh của gánh mà cũng là chồng của cô đào Hoài Dung. Chú là bạn thân với ba con nên hễ gánh hát về đây là vợ chồng chú ghé nhà mình chơi. Lần đó, thấy má cũng đang ngồi may áo cho chị Hai con, chú nói áo quần của đào kép lôi thôi quá mà hỏng có máy để sửa. Ba con nghe vậy lập tức nói:

-Nếu chú cần thì đem về đoàn xài đi, chừng nào xong thì đem lại cho nhà tui.

Chú Phước nghe nói mừng quá, lật đật kêu xe ngựa chở tuốt xuống rạp Trần Trung ở đầu chợ dưới.

Tôi ngắt lời má:

-Ủa? Má đương may mà chú mượn rồi má làm sao?

Má tôi chậm rãi nói:

-Thì má may bằng tay, lâu hơn nhưng mà cũng được, còn gánh hát họ cần may áo cho đào kép hát để kiếm tiền thì thôi mình giúp được cũng nên giúp chứ con.

Rồi má tôi nói cái máy không chỉ ở rạp hát mấy ngày, mà nó ta bà khắp nơi cả năm mới quay về.

Ở nhà không bao lâu, tới gánh Minh Chí về. Trong gánh có cô đào Tô Huệ là vợ của chú Hai Trĩ , bạn thân của ba tôi. Nhà chú ở sát sân banh Cộng Hoà. Mỗi lần dẫn mấy tụi này đi coi đá banh, ba đều ghé nhà chú. Chú và cô Ba Tô Huệ có đứa con gái tên Thu Phong trạc tuổi tôi, sau này là vợ của nam nghệ sĩ tài danh Diệp Lang.

Nhắc lại chuyện gánh hát Minh Chí lúc bấy giờ. Lần nào cũng vậy, hể về Thủ là cô Ba (chúng tôi gọi cô Tô Huệ là cô Ba) đều ghé nhà thăm ba má tôi.

Rồi cũng áo quần đào kép, gánh nghèo không có tiền mua bàn máy may, một lần nữa, má tôi lại vui vẻ mà cũng bùi ngùi, tiễn em ca sĩ (Singer) đầu đen trong nhà tụi này lên xe ngựa, theo chưn mấy cô chú giang hồ đó đây khi lục tỉnh, lúc tuốt ngoài Trung đèo heo hút gió, cả năm trời phiêu lãng, cô nàng mới chịu quay đầu về.

Nàng Singer giờ đây không còn xinh đẹp như xưa sau bao tháng ngày dong ruổi nắng mưa, khi ăn quán, lúc ngủ đình, hồi thì ngồi chễm chệ trên chiếc Camion xập xình kèn trống cùng tiếng hát của Minh Chí mỗi lần xuống giọng xàng xê nghe mùi tận mạng, hồi thì bập bềnh trên chiếc tam bản để đi tới mấy vùng quê sông nước, cùng góp phần làm đẹp trong những chiếc áo hào nhoáng đủ màu sắc cho đào kép đem tiếng hát, lời ca, đem niềm vui cho dân chúng đó đây.

Má tôi làm bạn bên cô nàng không được bao lâu thì tới dượng Hoàng Mai là em rễ của dượng Sáu tôi cần mở tiệm may nhưng không tiền mua máy. Má tôi lại xiêu lòng, cho ông mượn vô thời hạn, cho đến khi nào ông có tiền mua máy khác thì mới trả lại.

Cũng may, ông mướn tiệm sát vách nhà tôi nên mỗi lần cần may vá gì thì tôi đem qua cho ông làm giúp. (lúc bấy giờ tôi cũng đã hơn mười tuổi).

Đâu được chừng hơn một năm, ông chưa đủ tiền mua máy khác thì xập tiệm vì ế khách quá. Ông là thợ xưa, không có khả năng chạy theo thời trang nên phải đóng cửa, dọn nhà đi chỗ khác sanh sống.

Lần này, em Singer đã bị trầy vi, tróc vảy khá nhiều. Màu đen tuyền bóng loáng đã sờn, dây trân bị đứt nối hai ba chỗ, mặt bàn trầy trụa tùm lum.

Má tôi hơi buồn khi thấy lại dung nhan tàn tạ đã bắt đầu tới với em nhưng cũng mừng vì đứa con yêu đã quay về bên cạnh. Má lại tiếp tục may cho chúng tôi từng cái áo, cái quần trong lúc rảnh rang.

Tôi, anh Thọ và Dũng bắt đầu vọc vô cái máy. Tôi đem đồ cũ ra cắt may làm áo cho con búp bế nhỏ có mái tóc quăn màu vàng óng, có hai mắt nhắm mở, cái miệng cười thấy mấy cái răng trắng tinh,môi son đỏ thắm, thiệt đẹp của anh Minh, bạn anh Sáu tôi tặng cho tôi.

Dũng với anh Thọ thì tập lên lai quần. Riêng mấy chị tôi thì khỏi nói, ai cũng may khéo như má tôi vậy đó. Lâu lâu, kẹt chỉ, rối nùi, gãy kim... tôi lại kêu má ơi um sùm. Tức thì má tới coi, tháo chưn vịt, tháo suốt chỉ ra, vô dầu, lau chùi... máy chạy êm ả như thường.

Rồi nạn đại hồng thủy kéo tới, tháng tư năm 1975 gia đình tôi bị lấy sạch từ nhà cửa đến tất cả tài sản trong nhà. Nàng Singer yêu dấu dĩ nhiên là cũng cùng chung số phận.

Bọn người vô danh tánh đeo băng đỏ trên cánh tay tự xưng là cách mạng 30, tóm thâu hết tất cả đồ đạc của toàn dân trong cư xá, đem chất đống trong ngôi biệt thự ngay đầu ngõ, họ ngồi xung quanh ăn nhậu, hét hò ăn mừng chiến thắng. Chúng tôi, những nạn nhân vô cớ, cứ đứng chầu chực ngoài cửa, đợi tên nào say thì năn nỉ để xin lại, được món nào mừng món nấy. Thật là phi lý vô cùng nhưng lúc đó, chúng tôi đang yếu thế, đành tức tối mà chịu lép. 

Tôi cùng Dũng cũng bắt chước dân trong xóm, nài nỉ riết, một thằng chắc xiêu lòng nên gật đầu chỉ ngay cái bàn máy may. Thiệt tình mà nói, so với các món khác thì lúc bấy giờ cái máy đã cũ, giá trị vật chất chẳng đáng là bao nhưng tôi đã nói, chúng chịu trả lại món nào tụi tôi cũng mừng. Lập tức, tôi và Dũng chạy vô, mỗi đứa một đầu, vừa khiêng vừa chạy từ cư xá Ngô Quyền về sân Patin, đối diện bên hông nhà thờ, nơi chúng tôi được ba má chồng của chị tôi cho tạm trú, trong khi chờ tìm được chỗ ở khác.

Cái nàng Singer này coi vậy mà sao nặng quá, chị em tôi khiêng chạy mà thở hì hục, mệt, mõi tay quá, nhiều lần muốn rớt xuống đất mà vẫn cứ rán giữ cho chặt, chạy cho lẹ vì sợ họ đổi ý, đòi lại. 

Đem bàn máy về, mừng thì mừng nhưng rồi cũng thành vô dụng. Lúc bấy giờ, chỗ ở không có, viễn ảnh đói nghèo đang hiện ra trước mắt, tiền đâu mà mua vải may mặc? Thôi thì cứ để một xó đó.

Từ từ, áo quần, chén kiểu ...còn sót lại sau khi bị cướp, cũng lần lượt theo nhau ra chợ trời để đổi lấy gạo mục, khoai khô đắp đỗi qua ngày. Vậy mà, hỏng hiểu vì sao không ai trong nhà nghĩ đến chuyện đưa Singer ra bán mình nuôi chủ, dù lúc đó, chúng tôi đã có những ngày bị đói meo, không một hột cơm dằn bụng. Chắc má tôi nghĩ dầu sao Singer cũng là kỷ vật duy nhất của ba tôi còn sót lại, nên má muốn giữ nó coi như để tưởng nhớ đến ba, đã cả đời tận tụy với vợ, với bầy con của ba.

Cái máy cứ nằm yên một góc trong nhà, cho đến năm 1984, trước khi rời khỏi quê hương, với số tiền bán nhà ít ỏi, má mua cho mỗi đứa hai bộ đồ, còn má thì chỉ vài xấp vải để may quần áo mặc đi đường.

Lúc đó, má tôi đã bị mù hết một mắt, đã bảy mươi ba tuổi, vậy mà má vẫn tự cắt may cho mình. Phải chăng má muốn lần cuối cùng được gần bên Singer, trước khi chia tay vĩnh viễn?

Tính đến ngày rời khỏi Việt Nam, cái máy may đã gắn bó với gia đình tôi bốn mươi bảy năm. Một thời gian khá dài, vậy mà nó vẫn còn tốt vì má tôi chăm sóc cẩn thận lắm. 

Trước ngày đi, má tôi bịn rịn cho lại người cháu của ba tôi để vừa coi như là vật kỷ niệm và cũng để chị có may đồ cho các con.

Chưn ướt chưn ráo tới Mỹ được một tháng thì tôi sanh Bình. Không đi làm, con nhỏ, tiền bạc eo hẹp. 

Tôi không đủ khả năng sắm áo quần ở tiệm cho các con, chỉ toàn đi garage sale mua lại đồ cũ cho tôi và cả mấy đứa nhỏ.

Một bữa cuối tuần nọ, Khánh, em trai kế chở chúng tôi đi chợ trời (Flea market) cho biết, nơi đây cũng buôn bán như bên mình, những cái sạp gỗ có mái che bằng nylon, hoặc để ngay phía sau xe truck. Thôi thì thượng vàng hạ cám, đủ thứ, áo quần, máy móc, bánh kẹo, trái cây, rau cải, chó mèo, chim chóc...tiếng rao hàng inh ỏi, người qua kẻ lại nhộn nhịp vui lắm. Tôi tò mò đi ngó từng gian hàng, có nhiều món rẽ rề, muốn mua mà anh Hai ($) không cho phép. Chợt mắt tôi sáng lên khi thấy có cái đầu máy may màu xanh nước biển lợt nằm bên cạnh mấy cái radio cassette cũ. Tôi đứng lại ngắm nghía, lòng nghe một chút cảm xúc khi ngó thấy chữ Singer trên máy....thấy để giá mười đồng, tôi làm gan trả năm đồng. Ông Mỹ đội nón rộng vành như mấy anh chàng cao bồi Texas dáng người dềnh dàng, làm tôi hơi run, nhưng giọng nói nhỏ nhẹ và nụ cười thân thiện của ông làm tôi bình tĩnh lại ngay. Ông nói: -You người Việt Nam phải không? Ok tôi bán you giá đó dù sáng nay đã có người hỏi mua tôi tám đồng, vì tôi là một cựu chiến binh Hoa Kỳ, đã từng phục vụ trên quê hương you ba năm.

Nghe ông nói, tôi mừng quá trời, hỏi thăm ông vài câu, rồi lật đật trả tiền như sợ ông đỗi ý. Khương, con trai tôi khệ nệ giúp tôi bưng máy ra xe. Về tới nhà, tôi nôn nao, lật tới lật lui coi cái bàn máy tuy là đồ cũ nhưng nước sơn vẫn còn đẹp và rất sạch, chứng tỏ chủ nhân nó đã giữ gìn nó kỹ lắm. Nhìn thấy chữ Singer, tôi chợt nhớ đến cái bàn máy may năm nào của má, nó đã cho ra đời không biết bao nhiêu áo quần trong gia đình chúng tôi, nó đã góp phần làm đẹp cho các nghệ sĩ một thời, nó đã một thời gian giúp dượng Hoàng Mai có công việc để mưu sinh.

Tôi chưa bao giờ sử dụng bàn máy may điện nên cứ lúng ta, lúng túng, xoay tới, xoay lui. Thời may, anh Thọ tôi đi công chuyện vừa về tới. Thấy tôi cứ nhăn mặt, nhíu mày, anh lại coi và gắn dây điện vô ổ, tay thử ấn nhẹ lên mô tưa. Tiếng rè rè nhỏ nhỏ vang lên, cây kim chạy đều đặn. Tôi mừng quá xá cỡ, đi kiếm cái áo cũ, để lên rồi đạp chưn lên cái bàn đạp nhỏ xíu ...Ội nhẹ nhàng làm sao! Đùờng chỉ ngay ngắn từ từ xuất hiện, thật đẹp. Có điều nó may lẹ quá, đến nổi tôi hết hồn hết vía, buông chưn ra thiệt lẹ. Anh Thọ tôi nói:

-Chưa quen nên đạp cái motor nhẹ thôi.

Tôi lại tập lần nữa, cho đến khi thiệt là thuần thục. Từ đó, thỉnh thoảng đi chợ, thấy vải rẽ, có khi chỉ năm mươi xu một yard, tôi lại mua về may áo quần cho má và mẹ con tôi.

Đang xài ngon trớn, cũng cả hơn hai năm, bỗng một ngày kia, nó trở chứng, anh Thọ tôi làm cách nào cũng không được. Thôi thì tiếc rẽ cũng đành đem bỏ ra thùng rác. 

Tôi đã bắt đầu ghiền may. Hết áo quần đến màn cửa, khăn trải bàn, mền, gối...Cái máy năm đồng theo tôi được hơn hai năm trời đã bỏ tôi thì tôi quyết lòng kiếm cái khác.

Lại đi chợ trời, garage sale lục lạo. Không có cái nào vừa ý mà giá cũng cao, anh Thọ tôi biểu mua đại máy mới, anh đứng tên mua giùm, mỗi tháng trả năm chục đồng.

Hôm đem về, tôi vui qua chừng khi nhìn cái máy may màu trắng như sửa với tên New Home đỏ sậm.

Máy này của Nhựt sản xuất giá khá cao, làm được nhiều việc lắm như là kết nút, làm khuy, thêu đủ các mủi...

Từ ngày có cái máy này, hầu như tôi không bao giờ mua sắm quần áo cho tôi và Bình nữa. Một cái áo đầm chỉ tốn hai ba đồng vải mà thôi.

Hồi nhỏ, má may áo quần cho cả nhà, giờ qua đây, mắt má đã mờ, tôi lại may cho má từng mạnh quần tấm áo, trong lòng dâng nên một niềm vui khó tả mỗi khi nhìn thấy má mặc những bộ đồ đó chính con gái má may.

Một hôm, tai nạn nghề nghiệp xãy ra, làm tôi một phen hết hồn, hết vía. Chẳng là trong lúc đang may, tôi hỏng biết sao lại thả hồn theo mây gió, máy đang chạy ngon trớn trên tấm vải màu trắng điểm mấy nhánh bông dã quỳ vàng nhỏ nhỏ, bỗng nhiên, một tiếng ‘cụp’ , ngón tay trỏ của tôi đau điếng. Giựt mình, ngó xuống... trời ơi là trời..,máu từng giọt nhỏ ra chảy trên vải như tô điểm cho mấy cánh bông vàng, cây kim gãy hai, cắm thẳng từ móng xuyên qua tới mặt sau ngón tay. 

Tôi điếng hồn, chụp cái điện thoại kêu cho Dũng, em trai tôi nhà ở kế bên. Dũng tới, tôi đưa ngón tay có cây kim xuyên qua, cho Dũng coi. Dũng lập tức nói:

-Hỏng được, hỏng được, phải đi nhà thương, lẹ lên tui chở đi.

Tôi tuy đang đau dữ dội nhưng vẫn cố bình tĩnh nói:

-Không sao, lấy cây kềm nhổ ra giùm đi!

Dũng cứ khăng khăng không chịu, tôi thì cứ kèo nài và cuối cùng thì thằng em chịu lấy kềm, run run léo cây kim ra. Tôi thì cứ hối:

-Nhổ cho mạnh ra đi..

Dũng kéo một cái thiệt lẹ, lôi cây kim gãy ra, máu cũng phun theo...

Vậy mà tôi vẫn không tởn, vẫn tiếp tục may vá, coi đó là một niềm vui trong đời của tôi.

Độ hai mươi lăm năm sau, bữa kia, cần may mấy cái áo gối, tôi vô phòng đẩy cái bàn nhỏ có cái máy may để ở trên. Ra gần tới phòng khách, chưn bàn bị vướng miếng thảm nhỏ ngay cửa, máy may rớt xuống đất một cái rầm, nằm bẹp dưới đất. Tôi hết hồn, bưng lên, đem để lên bàn cắm điện, đạp thử moteur...im ru bà rù, không nhúc nhích. Tôi rán riết cả tiếng đồng hồ, vẫn không động đậy! Thôi rồi, cái máy may của tôi!

Xách xuống tiệm sửa, hôm sau, người ta kêu cho tôi biết một bộ phận gì đó bị bể, muốn sửa thì vừa công vừa món đồ thay phải năm trăm đồng! ( Cái máy này tôi mua tới một ngàn ba trăm đô la hai mươi lăm năm trước).

Thôi, dù có thương tiếc mấy cũng đành bỏ, tôi rất sợ xuất ra một số tiền lớn, sửa xong thì lại có thể đẻ ra món khác hư nữa thì khổ.

Sau này, Bình mua cho tôi một cái bàn máy khác, cũng là Singer nhưng không mắc, chỉ hơn hai trăm. 

Bây giờ Bình đã có gia đình riêng tư, không còn mặc áo quần tôi may nữa. Tôi thì cũng không cần thiết may sắm thêm. Cái máy mới này tôi rất ít khi dùng tới, chỉ để đó may lại đường chỉ đã sút, sửa lại cái quần hơi dài...

Tôi lại nghe nhớ da nhớ diết cái máy may của má. Năm nay nếu còn tại thế, anh Ba tôi đã tám mươi hai và cái Singer ngày nào cũng tám mươi hai! Không biết giờ này bà cụ đầu đen ra sao, một cục sắt vụn, rỉ sét nằm bù lăn bù lóc đó đây hay cũng tan nát mục rữa theo thời gian? Dầu sao đi nửa, thì nàng Singer thuở nào của chúng tôi cũng đã góp phần không nhỏ để cống hiến cho gia đình chúng tôi, cho mấy gánh hát, cho một gia đình nghèo khó những niềm vui , những ích lợi trong cuộc sống. 

Fort Smith, 06-30-2019
Dong Trinh

Thursday, June 20, 2019

Người Vô Gia Cư




Năm 1987, tôi qua Mỹ được hai năm. Nhân đứa em trai lấy hè một tuần, chị em chúng tôi đưa má tôi đi San Diego, California để thăm gia đình đứa cháu đã ở đó từ năm 1978.

Khi đến phi trường Tulsa, Oklahoma, chúng tôi phải lên thang cuốn để tới cỗng ra máy bay.  Tôi đang ẩm Bình nên không dắt má tôi được, một chị bạn đi đưa chúng tôi đến đó dắt giùm. Chị sơ ý, không nhớ là những nấc thang cứ cuốn lên liên tục. Chị kêu má tôi bước lên mà không vịn, xui quá, má tôi té nhào, tôi đang ẩm Bình sau lưng vội chụp má tôi lại. Thế là mẹ con, bà cháu nhào lăn hết.  Sau khi chuyện xãy ra, má tôi bị trặc chưn, người ta phải đưa xe lăn tới để đẩy má tôi tới cỗng máy bay.

Do rủi ro xãy ra, khi đến nhà Bích Vân, tôi phải ở nhà để lo cho má, trong khi đó, mỗi ngày, mấy anh chị em tôi khi thì đi San Diego Zoo, khi thì Seaworld..

Một buổi chiều, Vợ chồng Bích Vân đề nghị chở hết chúng tôi, nghĩa là có tôi và má đi vòng vòng thành phố biển cho biết.  Thật tình mà nói, hồi đó tôi như Tư Ếch đi Sài Gòn, ra đường nhìn thấy đâu đâu cũng đẹp, lạ và sang trọng quá.  Lát sau, vòng về, ngang một toà nhà lầu thiệt lớn, tôi thấy nhiều người đứng ôm mền, gối, túi xách đứng sắp hàng dài sọc.  Bích Vân chỉ và nói với tôi:

-Đây là nhà cho mấy người homeless (vô gia cư).  Mỗi tối, họ đến sắp hàng chờ đúng bảy giờ sẽ được cho vô ngủ và sáng phải đi ra, đem theo hết đồ dùng cá nhân  luôn chứ không được để gì lại hết. 

Nghe Bích Vân nói, tôi hoang mang và suy nghĩ:

-Hoa Kỳ là nước văn minh, giàu có hàng đầu trên thế giới.  Họ đã cho biết bao nhiêu là người tỵ nạn đến, giúp đỡ tiền bạc trong buổi đầu, cấp nhà cho người già và những gia đình đông con, lợi tức thấp.  Vậy sao vẫn có cảnh chính công dân của họ phải sống lang thang, không cửa không nhà?

Tôi tự hỏi và không có câu trả lời, tuy nhiên, hình ảnh cả đoàn người ôm mền, gối sắp hàng dài sọc vẫn in đậm trong trí tôi mấy chục năm nay.

Sau một tuần lễ ở California, vì má tôi bị đau chưn, di chuyển khó khăn, tôi ở nhà thủ trại nên không biết gì khác hơn là được đi một vòng cho biết San Diego với người ta.

Trở lại nơi gia đình chúng tôi đang cư ngụ, đó là một thành phố nhỏ, hiền hoà.  Ra đường đầy dẫy nhà thờ.  Nhiều tiểu bang lân cận có casino, bán vé số...riêng tiểu bang Arkansas tôi vẫn không được vì giáo dân nơi đây không bỏ phiếu thuận trong mỗi lần bầu cử.  Mãi cho đến khoảng bảy tám năm nay mới bắt đầu được phép bán vé số.

Tôi nói dong dài như vậy để muốn nói rằng Fort Smith, một thành phố của Arkansas rất nhỏ, rất êm đềm, hầu như không có tội ác, không có người sống ngoài đường như ở các thành phố lớn.

Cách nay cũng cớ mười lăm năm, một hôm tôi đang lái xe đi học, trời mùa đông lạnh cống, bỗng tôi thấy bên lề đường gần cửa trường có một người đàn bà lối chừng năm mươi, tướng người cao lớn, mập mạp.  Bà ngồi dưới đất, bên cạnh lủ khủ giỏ xách, mền, gối...Đây là một chuyện lạ ở Fort Smith! Tự nhiên, tôi liên tưởng đến hàng người đứng sắp hàng trước toà nhà dành cho người vô gia cư bên San Diego năm xưa.  Phải chăng bà cũng là người không cửa không nhà, không thân bằng quyến thuộc nên dù mùa đông giá buốt, bà vẫn phải sống kiếp lang thang?

Mỗi ngày đi học, tôi vẫn thấy người đàn bà Mỹ đó ngồi co ro, nét mặt buồn bã, ngó mông lung ra đường như mong ngóng, đợi chờ một hình bóng thân yêu nào của bà sẽ thình lình xuất hiện.

Mùa đông lạnh lẽo, dài lê thê rồi cũng chậm chạp đi qua, cây cỏ đã bắt đầu đâm chồi, bông hoa đủ màu, đủ loại thi nhau đua nở. Người đàn bà bất hạnh vẫn không có chỗ nào khác hơn là cái lề đường cạnh trường học.  Tôi không biết ngày ngày, bà kiếm đâu ra thức ăn, nước uống để sinh tồn cho cuộc sống thầm lặng, khổ đau của bà. Và cứ như vậy, trong suốt một năm trời ròng rã, bà không thay đỗi vị trí. 

Thỉnh thoảng, tôi thấy bà trãi mền ra nằm ngủ ngon lành, mặc trời nóng bức, hoặc giá băng. Tôi có đem thắc mắc về bà ra hỏi cô giáo, cô nói đã nhiều lần cảnh sát và nhân viên xã hội có đưa bà tới shelter (nhà tạm ngụ cho người vô gia cư) nhưng rồi bà vẫn bỏ đi và trở lại ngồi ngay chỗ cũ. Cô cũng có cùng ý nghĩ như tôi, có thể bà bị lạc mất một người thân nơi đó nên giờ tâm trí bất bình thường, bà cứ ở đó chờ đợi chăng?

Độ một thời gian ngắn sau, tôi nghỉ học vì má tôi đau nặng, không có dịp đến trường nữa nên tôi không biết bà có còn ở đó không, bà còn khỏe mạnh không hay chuyện gì đã xây ra cho bà?

Mấy bữa nay, tôi tới apartment nơi con trai tôi ở, tại  Kansas City.  Mỗi sáng tôi thường thích dẫn hai con chó ra ngoài coi như đi tập thể dục luôn. Gần nhà có một chỗ cho chó đi vệ sinh. Trước khi tới dog park, tôi đi ngang qua thư viện của thành phố. Tôi ngạc nhiên khi thấy rất đông, phần nhiều là đàn ông, khá lớn tuổi. Họ đứng ngồi, tụm năm, tụm ba nói chuyện nhưng tuyệt đối không ồn ào. Thỉnh thoảng có vài người ngồi yên ở một góc, nhắm mắt ngủ. Bên cạnh mỗi người cũng ngổn ngang túi xách, ba lô...

Khi tôi dẫn chó ngang qua, vài người hỏi tôi rất lịch sự:

-Tôi có thể rờ nó một chút không?

Tôi mỉm cười đồng ý.

Tức thì ông ta ngồi xuống đất, đưa tay ra trước mặt con chó nói nhỏ nhẹ với nó, thân thiện để làm quen, rồi ông từ từ đặt tay lên đầu, lên mình vuốt ve coi thiệt là thương lắm. Xong ông đứng lên cảm ơn tôi và vẫy tay chào Dash ( tên con chó). Cứ một khoảng ngắn thì có một ông tới xin tôi làm quen, nựng nịu Dash, Bolt.  Nhìn những cử chỉ, nghe những lời họ nói chuyện với mấy con chó, làm tôi cảm động vô cùng.

Khi tới dog park, tôi ngồi trên băng đá chờ cho mấy đứa này tiêu tiểu, có một ông đến ngồi ghế kế bên. Ông tự giới thiệu tên và hỏi tên tôi. Sau đó ông hỏi về mấy con chó. Tôi nhận thấy, dù họ ăn mặc không được sạch sẽ nhưng rất gọn gàng, nói năng lịch sự lắm. Trong lòng tôi vẫn không biết nhóm người này là ai và họ tụ tập ở đó làm gì?

Tối nay, chuẩn bị viết bài, tôi bèn hỏi Khương, con trai tôi về những người đó thì Khương cho biết đó là những người homeless!

Nghĩ đến mình, đôi khi tôi hay buồn vì đã gần bảy mươi mà tôi vẫn ở chung nhà của chị tôi. Các con thì đã lớn, có riêng tư, thỉnh thoảng đến thăm vài ngày thì được chứ tôi không muốn xen vô đời sống của tụi nó, và cũng thật tình mà nói là tôi nhát gan lắm. Chỗ tôi ở không náo nhiệt, đầy dẫy xe cộ như các nơi khác nên tôi lái xe dễ dàng. Còn nơi đây đường rộng thênh thang, chợ búa xa lắc xa lơ, tôi lại có tánh lơ đảng, không nhớ đường xá,nên cũng không dám đi xe bus một mình. 

Với lại chị em tôi đều độc thân nên cũng tiện và nhứt là tôi đã coi Fort Smith là quê hương thứ hai, là Bình Dương yêu dấu của tôi rồi nên tôi không bao giờ muốn rời xa nơi đã cưu mang tôi suốt ba mươi bốn năm nay.

Chung đụng thì cũng có khi vui, lúc buồn. Đôi khi, tủi thân, tôi hay nghĩ sao mình vô phước quá, nhìn quanh, nhìn quất bạn bè ai ai cũng có riêng một chỗ nương thân, còn sao mình đến giờ vẫn không được một nơi chốn bình yên?

Tự nhiên, hình ảnh những người vô gia cư bên San Diego hiện ra trước mắt tôi, người đàn bà bất hạnh ngồi bên lề đường cạnh trường học và ngay đây, ngày ngày tôi đi ngang qua họ,mĩm cười chào hỏi, dừng chân đứng lại nói vài ba câu...Tôi nghĩ, họ mới là những người thật đáng thương. 

Ít ra, Cho dù đây không phải là xứ sở của tôi, tôi cũng có chỗ che nắng tránh mưa dù tôi không sở hữu nó,  tôi lại còn có con cháu dù không ở gần nhưng vẫn là một hạnh phúc lớn lao trong đời tôi. Phần chị tôi cũng rất thương mẹ con tôi. Còn những người thật sự vô gia cư này thì sao? Họ cũng là những con người bình thường như chúng ta.

Thật ra, vô gia cư đâu phải là một cái tội. Chỉ duy nhất một điều khác nhau giữa những người ngủ ngoài đường và những người ngủ trong nhà là trong khi chúng ta càng ngày cố gắng đem cuộc sống lên cao thì họ lại chịu chấp nhận cuộc sống tối tăm đó.  Khi chưa tiếp xúc với họ, chắc chắn chúng ta sẽ có chút gì e dè, ngần ngại nhưng thực tế, cả tuần nay, tôi có dịp nói chuyện với họ hằng ngày, tôi lại nhận ra họ cũng rất bình thường, nói năng lịch sự, tương trợ lẫn nhau trong nhóm người cùng khổ.  Một điều khác, chúng ta cũng thừa nhận rằng homeless không phải là một cái tội, không có ai bị bắt, bị truy tố vì vô gia cư.  Họ chỉ là những người không có nơi cư ngụ cố định vì nhiều lẽ.  Có những người bị thất nghiệp không đóng tiền nhà được, và thực tế cũng có những người nghiện ngập, lười biếng, để rồi họ bị đưa đến đường cùng.

Đó đó, trong thế giới của người vô gia cư cũng có nhiều thành phần khác nhau. Nhóm thì lương thiện, vì hoàn cảnh đã đẩy họ đi đến chỗ bế tắc và cũng có những nhóm có vấn đề về mặt tinh thần, họ thích sống đời lang bạt, rày đây mai đó.

Sáng nay, như thường lệ, tôi cùng Dash đến dog park, Jack, Mike và vài ba người khác đang ngồi gần đó chuyện trò. Thấy tôi, Jack quay qua chào hỏi, xin tôi cho ôm Dash và nói với nó vài câu. Tôi chợt tò mò, hỏi Jack:

-Nhà anh trước đây ở đâu?

Nét mặt có vẻ buồn, Jack nhìn về phía trước mặt, chậm rãi nói:

-Tôi có vợ con ở California.  Tôi có một gia đình hạnh phúc, có công việc bình thường như bao người khác. Cho đến ngày kia...

Jack đang nói bỗng ngừng lại, khom đầu xuống, vuốt ve Dash, một phút sau, như đã đè nén được cảm xúc, anh ta tiếp:

-Hôm đó, tôi lãnh lương ra, mấy người bạn rũ tôi đi quán bar. Khuya thật khuya, tôi về nhà đập cửa.  Jane -vợ tôi- thấy tôi đứng không vững, nói năng lè nhè, cô ta nổi giận là lối um sùm. Tôi không kềm chế được bèn đánh Jane một trận.  Kết quả là tôi vô tù. Sau khi trở về, Jane đề nghị ly dị, còn tôi thì thất nghiệp. Thế là trắng tay, vợ con đã bỏ tôi. Bắt đầu từ đó, tôi bỏ hẳn rượu, tìm việc làm nhưng không được, tôi chán nản, buông trôi hết và sống đời vô định cho đến giờ.  Đôi khi nhớ Jane và đứa con chắc giờ này đã là một thanh niên cao lớn, đẹp trai, tôi muốn được một lần thăm họ nhưng vài lần hỏi bạn bè ở đó, họ cho biết vợ con tôi đã dọn đi đâu mất sau ngày chúng tôi chia tay!...

Tôi định nói vài câu an ủi nhưng biết là không nên, đành lặng lẽ ngồi yên đó vài phút sau rồi đứng lên từ giả họ, những người bạn homeless nhưng vẫn còn có một tâm hồn rất đáng quý qua mấy ngày nghe và nói chuyện với họ.

Trong những ngày lễ, lẽ ra họ cũng như những người cha khác trên thế gian này, được quây quần bên vợ bên con, được nghe những lời chúc tụng ngập tràn thương yêu... vậy mà, vì sao nên nổi khiến họ phải trở thành những kẻ không nhà ngay trên phần đất họ đã được chào đời?

Kansas City, 06-11-2019
Dong Trinh

Friday, March 29, 2019

Bốn Cái Ngu






Ở đời có bốn cái ngu
Tôi đây ngu hết hai rồi, trời ơi!

Những năm mới qua Mỹ, chúng tôi thỉnh thoảng hay gởi tiền về cho thân nhân đang kẹt lại bên Việt Nam.

Lúc đó, bên Mỹ có rất nhiều dịch vụ chuyển tiền. Tôi ở thành phố nhỏ , mỗi lần cần gởi về cho người thân thì hay hỏi thăm mấy người quen biết ở California chỉ giùm, nơi nào có uy tín, chuyển nhanh và huê hồng rẻ.

Tình cờ, một hôm tôi nói chuyện với Kim, cô bạn thân sát nhà ở Bình Dương.  Kim cho biết có quen cô Xuân làm dịch vụ chuyển tiền về Việt Nam, rất đáng tin tưởng, chí cần gọi cho biết số tiền muốn gởi cho ai, ở đâu. Trong vòng một tuần sau mình sẽ nhận được hồi báo với đúng chữ viết của thân nhân bên nhà, khi đó mình mới gởi tiền trả lại cho chị Xuân. Thế là từ đó, tôi trở thành thân chủ của chị Xuân.

Đâu được một năm sau, tôi có một người quen ở cùng thành phố. Liên, tên cô bạn tôi và Phương, chồng của Liên mở một tiệm bán hàng kỷ niệm, sách báo. Liên nhờ tôi giới thiệu với chị Xuân bên California để Liên làm đại lý ở đây. Thương Liên con đông tôi không ngần ngại gọi chị Xuân nói chuyện. Thấy hơn một năm qua tôi rất đàng hoàng với chị về tiền bạc, chị chấp thuận ngay đề nghị của Liên.

Tiệm của vợ chồng Liên cũng khá đông khách hàng. Nay lại thêm chuyển tiền và bán thẻ điện thoại do chị Xuân cung  cấp, nên mức thu nhập có phần khấm khá hơn. Thấy vợ chồng Liên làm ăn trôi chảy, thuận lợi, tôi cũng mừng cho họ. Ít lâu sau, Liên đi làm hãng để mua bảo hiếm sức khỏe cho gia đình.

Rồi đột nhiên, một thời gian ngắn sau đó, Phương đóng cửa tiệm với lý do buôn bán ế ẩm. Tôi nghe nhưng cũng không để ý lắm vì tôi cũng rất bận rộn với gia đình.

Một hôm, tôi vừa đi chợ về thì có tiếng điện thoại reng. Từ bên kia đầu dây, giọng nói quen thuộc của chị Xuân:

- Alo, chị An hả?

- Dạ, chị khoẻ không? Lâu quá, không nói chuyện với chị vì người nhà tôi đã qua Mỹ hết, nên không còn phải gởi tiền về bên đó nữa!

- Dạ vậy xin chúc mừng chị nha!

Rồi chị ngập ngừng trong giây lát như có điều chị khó nói. Tôi hỏi thăm qua loa chị vài câu, định chào chị thì nghe tiếng chị khóc. Tôi ngạc nhiên quá, mình đã nói gì sơ sót để chị khóc?

Chị nghẹn ngào kể cho tôi nghe:

- Chị An biết không, tôi tin tưởng chị nên cho chú Phương hợp tác làm ăn. Mấy tháng đầu chú rất đàng hoàng, rồi sau đó chú bắt đầu thiếu tôi, một ngàn, hai ngàn và cho đến giờ, tổng cộng số tiền là mười sáu ngàn rồi. Tôi gọi thì chú cứ hẹn lần, hẹn mòn nói khách hàng thiếu nên chú mới thiếu lại tôi. Tôi nghe vậy cũng tin chú. Hổm rày, tôi kêu hoài mà không được, điện thoại đã bị cắt rồi, chị làm ơn nói với chú Phương thanh toán số tiền đó cho tôi đi, ông xã tôi cằn nhằn tôi quá trời, ổng nói hỏng quen biết gì mà dám cho người ta thiếu rồi biết đi đâu mà đòi đây?

Nghe qua, tôi điếng hồn  luôn! Thời đó, vàng y chỉ năm sáu trăm dollars một lượng, mười sáu ngàn không phải là số tiền nhỏ. Tôi không biết phải nói sao với chị, chỉ khuyên chị bình tĩnh, để tôi liên lạc với Liên, hỏi rõ sự tình và nói họ phải trả tiền lại cho chị. Chiều Liên đi làm về, tôi gọi hỏi, Liên trả lời tỉnh queo:

- Chuyện đó của ông Phương, con đâu có biết. Lâu nay con đi làm, không dính dáng gì tới tiệm nữa, cô hỏi ổng đi!

Trời đất quỷ thần ơi, ngó xuống mà nghe nè! Hồi cần thì cô vợ ngọt ngào nhờ tôi, giờ lại nói giọng ngang như cua. Tôi tức cành hông nhưng đành ngậm bồ hòn mà chịu chứ biết nói gì đây!

Hôm sau, tôi gọi cell phone của Phương để nói chuyện.

Không như Liên, Phương nhỏ nhẹ nói với tôi:

- Cô làm ơn nói với chị Xuân cho con khất một thời gian. Tại con làm ăn thua lổ nên mới ra nông nổi,  chứ con đâu muốn để cô mang tiếng!

Cục đường phèn này nhét vô họng mà tôi nghe đắng hơn ký ninh! Thôi rồi, tôi làm sao mà ăn nói với chị Xuân đây?

Một tuần sau, chị Xuân gọi lại, tôi nói những lời của Phương cho chị nghe, mong chị thông cảm cho mấy đứa. Chị buồn bã nói:

- Thôi thì tôi cũng đành chờ và cầu mong chú làm ăn khấm khá để trả lại cho tôi.

Trong thời gian này, Liên vẫn đi làm đều đặn còn Phương thì ít thấy bóng dáng . Tôi nghĩ có lẽ Phương đang đi làm đâu đó để có tiền trả nợ. Thật ra, tôi có nghe phong phanh, Phương dùng tiền của khách hàng trả để thầu football, bị thua lổ đến mất luôn tiệm .

Rồi chị Xuân lại gọi. Thiệt tình mà nói, mỗi lần chị gọi, tôi rầu lắm vì không biết phải nói sao!

Tiếng chị nhỏ nhẹ trong máy, tôi nghe mà muốn khóc theo chị:

- Chị An biết không? Chị cho tôi số điện thoại cầm tay của chú Phương nhưng tôi gọi hoài mà chú không thèm bắt. Chị làm ơn nói vợ chồng chú rán trả tiền cho tôi đi. Trả một lần không được thì trả nhiều lần. Chỉ cần có trả thì nợ sẽ hết, không trả thì còn hoài chị ơi! Hổm rày ông chồng tôi ổng chửi tôi quá chừng! Chị nói chú Phương, chỉ cần mỗi tháng trả tôi hai chục đồng cũng được, có bao nhiêu trả bấy nhiêu, làm ơn đi chị...

Trời đất! Tôi có nghe lộn không? Số nợ mười sáu ngàn đồng, mỗi tháng trả hai chục đồng? Vậy thì khi chị Xuân trăm tuổi cũng chưa hết nợ!

Tôi thật là tội nghiệp cho chị. Người ta thiếu tiền mình mà mình phải năn nỉ trả, từng đồng từng cắc!  Tôi hỏi chị lại cho chắc ăn:

- Chị nói chỉ cần trả hai chục một tháng thôi hả? Vậy chừng nào mới hết?

- Thì tôi nói vậy chứ hỏng lẻ mỗi tháng chú Phương đi gởi cho tôi hai chục sao? Nếu chú có nhiều thì trả nhiều, không có thì hai chục cũng gọi là trả mà!

Tôi chỉ biết thở dài, thương cho chị sao quá tin người, để rồi phải khổ. Mà không phải một mình Phương đâu, chị nói còn vài nơi khác nữa. Họ cũng thiếu chị chỗ năm ngàn, chỗ tám ngàn!

Cứ thỉnh thoảng chị gọi tôi và tôi cũng chỉ biết nói chị cho tụi nó thời gian.

Trong khi đó, Kim, cô bạn đã giới thiệu chị Xuân cho tôi quen,  tự nhiên bặt tin, không gọi cho tôi như trước giờ . Tôi gọi nhiều lần thì Kim mới bắt điện thoại, nói chuyện lợt lạt. Tôi cứ thắc mắc hoài, không hiểu mình đã làm gì để Kim giận. Đến nay, đã gần hai mươi năm, chúng tôi hầu như bặt tin nhau. Tôi chợt nghĩ đến số nợ của Phương. Tôi đem thắc mắc này hỏi Bích, một cô bạn chung với tôi và Kim. Bích cho biết đúng là Kim giận tôi vì cho rằng tôi đã lường gạt chị Xuân! Thật là oan ơi ông địa! Tôi biết làm sao giải bày cho Kim hiểu được tôi đây? Tôi xin thề với đất trời, một xu nhỏ tôi cũng không có lấy mà!

Phần chị Xuân, sau nhiều lần gọi vẫn không kết quả, chị cũng làm thinh luôn. Chẳng hiểu chị có còn mạnh khỏe hay không?

Đến giờ tôi vẫn nghe áy náy vì đã ngu si, giới thiệu vợ chồng Liên cho chị Xuân. Chị mất một số tiền lớn, tôi mất đi người bạn thân từ tấm bé!

Cái ngu thứ nhất đã làm tôi mất uy tín, mang tiếng xấu với bạn bè, vậy mà tôi vẫn chưa tởn! 

*
Cách nay khoảng mười lăm năm, một hôm, Quân, bạn của Liên đến nhà chơi và nói sẽ đi Việt Nam. Không biết ông ứng bà hành sao, tôi buột miệng nói:

- Quân có muốn cưới vợ ở Việt Nam không?

Quân hỏi ngay:

- Cô có quen ai bên đó hả?

- Ừ, con gái một người bạn. Không đẹp lắm nhưng nết na, hiền lành.

Quân nói ngay:

- Vậy cô cho con xin địa chỉ rồi cô viết thơ con đem về làm quen với cô đó nha!

Nghe Quân đồng ý, tôi mừng lắm.

Hoài là con gái của một người quen tôi ở Bình Dương. Nhà rất nghèo, cô bạn tôi đầu tắt mặt tối, tảo tần buôn bán mà vẫn không đủ tiền chạy gạo nuôi con.

Tôi hy vọng Quân về cưới Hoài, đem con bé qua đây để cháu đi làm phụ giúp mẹ nuôi em.

Một tháng sau, Quân trở qua, mang cho tôi coi hình đám cưới hai đứa. Cô dâu thật rạng rỡ trong chiếc áo cưới, chú rễ cười tươi vì được vợ hiền. Tôi nghe vui trong lòng vì đã làm bà mai ngang xương mà kết quả vô cùng mỹ mãn!

Rồi Quân bắt đầu làm thủ tục bảo lãnh Hoài sang Mỹ. Trong khi chờ đợi, cứ vài ba tháng Quân về Việt Nam thăm vợ, tình cảm ngày càng thắm thiết.

Ít lâu sau, Quân mở quán cà phê. Quân nhờ cô bạn học ngày xưa cũng đang ở cùng thành phố , đến phụ trông coi quán. Tôi nghe nói, trong lòng có ý lo ngại nhưng không nói ra.

Một buổi chiều cuối năm, trời bên ngoài lạnh giá, tuyết phủ trắng xoá trên mái nhà. Tôi nhận được thơ của Hoài, cho biết đã bốn, năm tháng rồi không có tin tức của Quân. Hoài gọi điện thoại qua thì nghe tiếng đàn bà trả lời!

Thôi rồi! Nỗi lo của tôi đã biến thành sự thật! Tôi đến tiệm cà phê tìm Quân. Hôm nay quán vắng, một mình Quân ngồi nơi quày tính tiền, hút thuốc bên ly cà phê đen. Tôi đưa thơ Hoài gởi tôi cho Quân coi. Đọc xong, tôi nhìn thấy hai hàng nước mắt Quân chảy dài trên má. Quân nói:

- Con thương Hoài lắm mà giờ con không biết phải nói sao cô ơi! Con lỡ có con với Lan rồi, Lan buộc con phải bỏ Hoài. Mong cô làm ơn nói lại với Hoài cho con xin lỗi, Hoài đừng chờ đợi con nữa!

Nói sao nghe dễ quá! Một đời con gái của Hoài đã trao hết cho Quân. Một đám cưới rình rang với Việt Kiều! Làm sao con nhỏ ngó mặt xóm giềng nữa đây!

Mười lăm năm trôi qua, con trai của Quân và Lan đã mười bốn tuổi, duyên tình của cha mẹ thằng bé cũng vỡ tan. Thỉnh thoảng gặp tôi, Lan hỏi thăm Hoài. Tôi chỉ biết lắc đầu.  Không hiểu Lan có hối hận vì mình đã cố tình làm người thứ ba, gây đổ vỡ cho Hoài và rồi chính mình cũng đón nhận hậu quả đau buồn này?

Hoài giờ đã ba mươi chín tuổi, cái tuổi lỡ thời. Hoài vẫn sống độc thân, đi làm phụ mẹ nuôi cha nằm một chỗ sau cơn tai biến.

Nhiều năm nay, tôi mang trong lòng một nỗi hối hận không nguôi! Tại sao tôi tài lanh  chi để một người bị mất tiền mất bạc, gia đình xào xáo. Tôi lo thân tôi còn không xong, bày đặt mối với mai chi để làm lỡ đi đời một đứa con gái nết na, hiền hậu! Tội này của tôi làm sao rửa sạch đây?

Ở đời có bốn cái ngu
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu!

Fort Smith, tháng Ba 2019

Dong Trinh

Saturday, December 15, 2018

Người Lắc Chuông Ngoài Cửa Chợ




Lac chuong
Hôm nay là ngày đầu của tháng cuối trong năm 2018! Thứ Bảy đẹp trời, nắng chói chang, ấm áp. Trên những cành cây trụi lá, đàn chim từ phương Bắc bay về trốn lạnh đang hót líu lo. Tôi hốt một nắm thức ăn còn sót lại trong bao, rãi đều ra sân, những đôi cánh đen tuyền bay sà xuống, đầy cả thảm cỏ đã úa vàng!


Đám trẻ hàng xóm chạy giỡn bên kia nhà đối diện, đàn chim hốt hoảng bay cao, vài con còn tiếc rẻ, rán mổ lấy mổ để cho lẹ rồi cũng chấp cánh nhập bầy theo bạn.

Tôi lặng lẽ bước vô nhà, vắng lặng, không tiếng cười, không giọng nói trẻ thơ như những năm xưa nữa! Các con giờ đã lớn, đã có riêng tư, cũng như đàn chim đủ lông đủ cánh, bay khỏi tổ ấm đầu đời để hoà nhập vô thế giới bao la, rộng lớn này!

Ngồi một mình cũng chán, tôi lái xe ra chợ mua một vài món cần thiết.

À! Noel sắp tới rồi! Trước cửa chợ, ông lắc chuông ( Bell Ringer ) mặc áo đỏ, choàng phủ trước ngực và sau lưng có in dấu hiệu của The Salvation Army, kèm theo dòng chữ ‘I AM A BELL RINGER’. Ông cầm cái chuông đồng nhỏ, đứng ngay lối ra vào. Khách đi chợ sẽ bỏ tiền vô cái thùng màu đỏ có nắp khoá kín, treo trên cái giá ba chân. Ông luôn tươi cười chào hỏi khách ra vô chợ, tay thì cứ lắc chuông liên tục không ngừng.  Có người đứng lại, lịch sự mỉm cười chào ông, xếp gọn tờ giấy bạc cho vô thùng, có người đi thẳng vô cửa, như không nghe thấy gì. Từ bãi đậu xe, tôi đã vội lấy tiền trong giỏ ra, đi về hướng ông lắc chuông. Số tiền nhỏ xíu, đủ cho cái cheese burger trong McDonald trưa nay, tôi sẽ nhường lại, mời một người khác dịp lễ này, chút quà mọn, ấm lòng kẻ khổ. Tôi có ý muốn xin chụp ông tấm hình, gật đầu đồng ý. Sau đó, tôi hỏi ông:

- Ông có thích với công việc này không?

- Tôi vui lắm. Mỗi ngày ra đây đứng vài tiếng đồng hồ, tiếng chuông thay lời nhạc giúp tinh thần tôi hăng hái, mắt tôi sáng ngời khi nghe tiếng rổn rảng nho nhỏ của mấy đồng coins khách bỏ vô thùng. Tôi mĩm cười thân thiện với người hảo tâm và cũng nói lời chúc đến những vị khách thờ ơ nhìn tôi. Tôi hiểu, không phải ai cũng dư dả để giúp đỡ người khác.

The Salvation Army là một tổ chức quốc tế được thành lập từ năm 1865 tại Luân Đôn để giúp đỡ về tinh thần lẫn vật chất cho những người kém may mắn trên toàn thế giới, không phân biệt chủng tộc hay tôn giáo. Bằng vào sự cố gắng tích cực của Eliza Shirley, cô bé di dân mới mười sáu tuổi người gốc Anh, tổ chức này đã được du nhập vào Mỹ từ năm 1860 với chi nhánh đầu tiên ở New York City. Và từ đó, hội thiện nguyện ngày càng phát triển trên toàn nước Mỹ.

Nhiều ông bà đã hưu trí, các em sinh viên, học sinh trung học sau giờ tan trường cũng tình nguyện ra đứng ở các chợ lắc chuông, cho dù mưa gió lạnh buốt, cho dù tuyết trắng ngập trời, họ cũng không quản ngại, mỗi người một vài giờ công sức để đem lại hạnh phúc nhỏ nhoi nhưng cũng vô cùng ấm áp cho kẻ khốn cùng. Năm con gái tôi học lớp mười hai, cháu cũng tình nguyện tham gia làm Bell Ringer. Khi về nhà, thấy mặt mày cháu tái xanh vì lạnh, tôi lo lắng hỏi, cháu lại cười tươi nói:

- Không sao mẹ ơi, mai con cũng sẽ tiếp tục ra đó với mấy bạn, người ta đi chợ, cho tiền nhiều lắm. Vậy là năm nay mấy người homeless cũng có được bữa ăn ngon.

Nhớ lại Noel đầu tiên ở đây, tôi bất ngờ, thật vô cùng bất ngờ nhận được thùng quà cũng do Salvation Army gởi đến. Trong thùng, một con gà tây to tướng, đã được nướng vàng ngậy, thơm phức. Rồi nước ngọt, bánh, kẹo, mứt, mấy lon đồ hộp đủ loại, rau, đậu, trái cây...Thùng quà Noel đầu tiên trên đất Mỹ đã làm tôi bồi hồi, cảm động vô ngần.

Giờ đây, hiểu ra cái thùng quà đó chính là tình nghĩa từ những trái tim nhân hậu đã góp công, góp sức cùng với thời gian quý báu, chịu đựng gió mưa, để đem lại cho tôi, cho những gia đình có lợi tức thấp những niềm vui vô tận.

Năm đó, Bình còn nhỏ lắm, chỉ mới chào đời hơn hai tháng, tôi và Khương vui mừng quá, đem tất cả qua nhà anh chị để  đóng góp vô bữa ăn tối sum họp gia đình. Trời  bên ngoài lạnh cóng xương, tuyết rơi trắng xoá nhưng chúng tôi thật vui. Nơi góc nhà, cây thông xanh biếc thoang thoảng tỏa hương thơm ngát đặt ở góc phòng, được  trang trí với nhiều bóng đèn nhỏ xíu, xanh, đỏ, tím, vàng. Dưới gốc ngổn ngang  những gói quà màu sắc sặc sỡ, vui mắt.

Sau vài năm sống ở đây, gia đình tôi từ mới khởi đầu chỉ võn vẹn mười chín người nay đã trên bảy chục. Mỗi năm, cứ sau ngày Thanksgiving là trên TV đã có tiếng nhạc tưng bừng của bài Jingle Bells, ngoài đường, nhà cửa trang hoàng lộng lẫy, đèn màu sáng choang trong đêm tối, chợ búa đầy bánh kẹo, áo quần đặc biệt đón mừng ngày lễ lớn cuối năm. Trẻ con thì nôn nao đếm từng ngày, trường học sẽ đóng cửa hai tuần, tha hồ ngủ trưa, không lo sáng phải ngồi lên co ro mang giày đội nón đến trường. Trong khi đó, người lớn thì điên đầu với những món quà cho con cháu.

Miên man nhớ lại những ngày qua, vô tới bên trong, từ lúc nào không hay. Trước mặt tôi, có một cây thông cao ngất, trên đó nhiều miếng giấy hình trái tim nho nhỏ, ghi tên và địa chỉ các trẻ con của những gia đình nghèo khó. Khách hàng đi chợ, nếu có khả năng về vật chất, sẽ đến đó, lấy xuống một miếng đem về và gởi quà đến cho cháu nhỏ mà mình chưa hề quen biết.

Ở Mỹ, Giáng sinh là một trong những ngày lễ quan trọng. Các chợ cạnh tranh sale hàng hóa với giá rẽ, kéo dài cho đến qua tết Tây. Đây là lúc mọi nhà, mọi người nô nức chuẩn bị các món quà cho con cháu, bạn bè, người thân. Nhà cửa được trang hoàng lộng lẫy với mong muốn được hưởng một mùa lễ an nhàn và hạnh phúc.

Tôi nhớ lại một chuyện vui khi Bình mới lên năm. Lúc đó cháu đang học mẫu giáo, đã hiểu biết chút xíu về ngày lễ trọng đại này. Buổi tối hai mươi bốn, ngay lò sưởi đã được trang trí với những chiếc vớ đỏ, ghi tên mọi người trong gia đình, cây thông chớp đèn xanh đỏ làm những sợi dây kim tuyến càng thêm óng ánh. Trước khi đi ngủ, Bình rót một ly sửa nhỏ, lấy vài cái Oreo Cookies để lên dĩa rồi nhẹ nhàng đặt lên bệ lò sưởi. Tôi ngạc nhiên, không hiểu con bé dở trò gì, hỏi:

- Sao con không ngồi ghế ăn cho đàng hoàng mà lại ngồi đó?

Con bé cười ngặt nghẽo:

- Ha ha...mẹ hỏng biết gì hết, khuya nay Santa sẽ xuống đây từ cái ống khói trong lò sưởi để mang quà cho mình. Ông phải đi xa lắm, từ North Pole tới đây, ghé nhiều nhà, nên mệt và đói bụng. Con chuẩn bị sẵn cho ổng đó mà mẹ!

Trời! Tui ngần tuổi này mới biết cái chuyện mời Santa ăn bánh uống sữa trong đêm Giáng Sinh đó nha!
 
-...Jingle bells, jingle bell
Jingle all the way
Oh,what fun it is to ride
In a one horse open sleigh... 

Tiếng nhạc rộn rã vang lên, tiếng chuông đồng nhỏ và ông lắc chuông nhịp nhàng, đều đặn...

Tôi, một di dân từ xứ mới chấm dứt chiến tranh nhưng rồi cũng phải sống đời tha hương. Ngay từ những ngày đầu đặt chân đến xứ sở đầy tình người này, tôi đã được giúp đỡ từ tinh thần đến vật chất. Các con tôi đã từ nơi đây vươn lên để có được tương lai tốt đẹp. Tôi cảm thấy như mình đang mắc nợ, món nợ ân tình mà kiếp này khó bề trả nổi.

Cầu xin thế giới hoà bình, không còn chiến tranh, thiên tai, hỏa hoạn, không còn những cuộc khủng bố điên cuồng để dân chúng có được cuộc sống an lành, hạnh phúc.

Riêng chúc các ông bà, các em Bell Ringers một Giáng Sinh ấm áp dù ngoài trời giá rét. Tiếng chuông trong mùa đông ở các cửa chợ của các ông bà, các em đã đem lại cho nhiều người bất hạnh ngọn lửa tình yêu bất tận.

-“Việc trao đi tấm lòng tốt đối với những người xung quanh giống như thứ ánh sáng lấp lánh hay âm thanh trong gió của tiếng chuông đồng kêu leng keng từ bàn tay già nua, nhăn nheo  của những trái tim nhân hậu. Nó sẽ khiến cho cuộc đời này tươi đẹp biết bao!” (trích trong Đại Kỷ Nguyên )
 
Oh, chuông ngân vang, chuông ngân vang
Ngân vang khắp mọi nơi....

(lời Việt /bản nhạc Jingle Bells )
 
Fort Smith, Dec 01, 2018

Dong Trinh

Sunday, December 2, 2018

Tình Già!





Đang nấu ăn, nghe có tiếng chuông, tôi vội bước qua phòng khách, nhìn ra. Bà hàng xóm bên cạnh đứng trước nhà. Mở cửa, tôi thật ngại quá vì chỉ mới tình cờ gặp bà hôm qua trong giây lát thôi, ngay cả bà tên gì, thứ mấy tôi cũng chưa biết luôn. Bà vừa dọn đến khu appartment này hai ngày nay.  Tôi gặp bà cùng một cô cũng cỡ tuổi tôi, đang ở ngoài hàng ba cạnh nhà lúc vừa bước ra để đưa con gái tôi đi bác sĩ khám định kỳ. Cô đó chào tôi và nói:

- Chị ở đây sao? Đây là mẹ tôi từ Việt Nam mới tới hôm qua. May quá, có chị là láng giềng, chứ mẹ tôi chỉ ở đây có một mình thôi.

Nghe giọng nói thì tôi được biết chị người Bắc, bà mẹ mỉm cười nhìn tôi thân thiện. Cả hai đều có nét đẹp sang trọng, ăn mặc lịch sự, thanh nhã. Sợ trễ hẹn, tôi chỉ kịp chào bà và người con, nói vội:

- Dạ chào bác, chào chị. Mừng bác mới tới Mỹ. Giờ cháu phải đi có việc , hôm khác cháu xin phép được qua thăm bác nha!

Nói xong, tôi lật đật ẩm đứa con gái nhỏ tới nhà đứa em để nhờ chở đi giùm.

Tôi chưa qua nhà bà như đã hứa thì sáng nay bà đã qua nhà tôi rồi. Mời bà ngồi, tôi lúng túng không biết mở đầu câu chuyện ra sao. Như hiểu ý tôi, bà nói:

- Bác mới tới đây, lạ nước lạ cái, lại ở có một mình. May cho bác lại có cháu là người Việt Nam ở sát bên, vậy là từ nay bác cháu mình coi nhau như người nhà cháu nhé!

Giọng Bắc của bà trong trẻo, êm ái lắm. Dáng người bà  phương phi, cao ráo, tóc bới gọn có cái trâm cài xuyên qua,  làm tăng nét quý phái trên gương mặt kiều diễm, được trang điểm rất khéo. Hai mắt bà sáng như biết cười, làm cho người đối diện có cảm tình ngay. Bà cho biết cô con gái hôm qua là con bà, chị tên Phương, qua Mỹ từ 1975, có chồng và bốn con. Chị Phương bảo lãnh bà qua nhưng thuê nhà cho bà ở riêng vì bà đã quen sống độc lập  ở quê nhà mấy chục năm nay rồi.

Tuy chưa từng quen nhau nhưng bà nói chuyện rất cởi mở. Bà hỏi tên tôi và tự giới thiệu tên là An, bà biểu tôi hãy gọi bà là bác cho thân mật.

Bác An qua nhà hỏi thăm tôi về những người cùng cư ngụ nơi này, về tình hình an ninh. Tôi thật không ngờ khi bác cho biết, hết năm này là đã tám mươi. Bác trẻ quá, làn da thẳng thót, tiếng nói sang sảng.  Bác nói chuyện rất duyên dáng, lại thỉnh thoảng xen vô  những câu chuyện tếu thật ý nhị thành ra tôi không còn cảm thấy bỡ ngỡ như lúc đầu mới gặp nữa. Chuyện vãn hồi lâu, bác đứng lên ra về, nói tôi thỉnh thoảng dắt cháu qua nhà bác chơi.

Từ đó, chúng tôi đã là đôi bạn, một  già mà vẫn thanh xuân, một trẻ, lại như cụ bà vì lúc nào cũng đầu tắt mặt tối với mấy đứa con, cơm nước, dọn dẹp nhà cửa… Bác An nói mỗi sáng thức dậy, bác phải trang điểm, bới tóc cho đẹp, thay áo quần tươm tất rồi mới ra ngoài nhà bếp lo bữa ăn sáng. Nếu có khách đến thình lình khi bác chưa chuẩn bị thì bác sẽ không bao giờ mở cửa, bác không muốn người ta thấy bác lôi thôi, dù đã là một bà cụ tám mươi!

Độ một tháng sau, như thường lệ, tôi đưa Bình con gái nhỏ xíu, lúc đó mới vừa hai tuổi, qua nhà bà chơi. Mở cửa ra là một ông cụ tóc bạc trắng như tơ, da dẻ hồng hào, dáng người khỏe mạnh. Tôi hết hồn, tưởng mình lầm nhà. Đang định xin lỗi rồi tháo lui, thình lình, tiếng bà vang lên trong bếp:

- Bình sang thăm bà đấy à! Vào đây, vào đây bà nói cho hai mẹ con tin này vui lắm!

Tôi dắt con gái nhỏ bước vô. Bà đang dọn bữa điểm tâm. Trên bàn hai tô cháo bốc hơi thơm ngào ngạt mùi hành, mùi tiêu, mùi thịt...

Bà nói:

- Sẵn bữa hai mẹ con cùng dùng cháo với hai bác luôn nhé. Ngồi đó đi, bác múc thêm ngay.

Tôi vội từ chối, nói đã ăn ở nhà rồi nhưng bà nhứt định bắt phải ăn. Cháo gà ngon lắm , hương vị đậm đà, bốn người chúng tôi vừa ăn vừa chuyện trò vui vẻ, tuy nhiên trong lòng tôi vẫn cứ thắc mắc về sự hiện diện bất ngờ của ông cụ. Tôi đi vắng mấy tuần nay, về nhà thì trong nhà bà đã có thêm người. Bác An cứ bí mật, chưa chịu nói gì hết! Bác huyên thuyên đủ chuyện, hỏi thăm tôi về chuyến đi California mới về ...nhưng tuyệt nhiên không nói cho tôi biết ông là ai!

Tô cháo nóng đã làm tan đi cái lạnh buốt xương bên ngoài. Ăn xong, bác kêu tôi bước qua phòng khách ngồi uống trà, Ông cụ thì cứ ôm con bé vào lòng trìu mến, như đã quen biết tự lúc nào.

Bác An chỉ ông rồi nói:

- Đây là ‘nhà’ bác, mới từ bên Pháp qua với bác tuần rồi. Cháu đi vắng mấy hôm nay nên chưa biết đấy.  Hồi còn ở Việt Nam, mỗi sáng chúng tôi đi tập thể dục tại vườn Tao Đàn và quen biết nhau. Bác thì đang chờ Phương (con gái bác) lãnh sang đây, còn bác trai thì đang chờ ngày định cư với các con bên Tây. Gặp nhau mỗi ngày,  chuyện trò tâm sự, hai bác dần quý nhau. Chúng tôi hẹn sau khi rời khỏi quê nhà sẽ cùng nhau chung sống, để cùng nhau chăm sóc, an ủi nhau những vui buồn cuối đời nơi xứ người. À, tin cho cháu vui, sau khi bác trai qua được ba hôm, hai bác đã được Phương đưa đến nhà thờ tin lành để xin mục sư chứng nhận hôn lễ của hai bác rồi đó cháu. Trong thời gian quen biết với ông nhà, bác có nói cho Phương biết ước muốn của bác, Phương vui lắm và hứa khi hai bác gặp nhau bên này, Phương sẽ lo cho hai bác.

Tôi thật xúc động và vui cùng hai ông bà. Tôi cũng vô cùng khâm phục chị Phương.  Sống ở Mỹ trên mười năm rồi, nên chị cũng có những tư tưởng rất phóng khoáng. Chị không hề cản trở việc mẹ chị bước thêm bước nữa, trái lại, còn lo chu đáo, hợp thức hoá chuyện hôn nhân, cùng mái ấm sẵn sàng khi bà đặt chân đến đây.

Từ đó, thỉnh thoảng qua nhà bà chơi, tôi luôn nhìn được cái hạnh phúc dù muộn màng của hai ông bà trên nét mặt, lời nói,  tiếng cười của nhau.

Đâu chừng ba tháng sau, như thường lệ, một buổi sáng, tôi dẫn Bình qua thăm ông bà. Ông vừa thấy cháu bé là tới ôm thật chặt, nét mặt buồn hiu. Ông nói:

- May quá, bác vừa định sang thăm mẹ con cháu để từ giã, lát nữa bác sẽ ra phi trường về lại bên Pháp rồi.

- Oh, hai bác đi chơi sao? Thích quá, cháu chúc hai bác chuyến đi thật vui nha.

Giọng bác An buồn buồn:

-Không phải đâu cháu à! Bác trai phải về Pháp luôn vì bên Mỹ từ chối không cho bác trai ở đây đã hết hạn visa, không thể gia hạn được, với lại nếu đi lâu quá thì bị mất tiền trợ cấp hằng tháng nên bác trai đành phải về lại bên đó.

Tôi nghe bác An nói, cũng cảm thấy buồn lây. Lối xóm nhau mấy tháng nay, gặp nhau mỗi ngày, tôi quý mến ông bà như cha mẹ. Nay ông bắt buộc phải rời khỏi nơi này tôi nghe có chút gì quyến luyến. Rồi còn bác An nữa? Mới sum họp không bao lâu, giờ phải chia tay!

Hai bác cứ lăng xăng, ông nhắc bà tối ngủ sớm, nhớ mặc áo ấm, uống thuốc tiểu đường mỗi ngày, bà dặn dò ông đừng ăn mặn quá, phải uống thuốc cao huyết áp đều đặn… hai ông bà cứ nhớ gì dặn nhau đó, tôi nghe mà ngưỡng mộ và cũng cảm thương cho mối tình già của ông bà.

Độ nửa tiếng sau thì chị Phương tới. Chị ôm hôn ông bà, một thói quen mỗi khi chị ghé qua. Xong chị lại nói lời gửi gắm bà cho tôi sau khi ông về Pháp, rồi chị xách va li ra xe. Tôi nhìn theo, lòng buồn vô hạn, mới quen đó giờ đã chia tay, tôi linh cảm như đây là lần gặp gỡ sau cùng.

Đã quen những ngày đầm ấm bên nhau, nay vắng ông, bà ra vào quạnh hiu, trên nét mặt không còn rạng rỡ, đôi mắt biết cười giờ  luôn nhìn về hướng trời tây, nơi đó, ông của bà chắc cũng đang ngày đêm thương nhớ, mỏi mòn mong tin bà.

Vài tháng sau, tôi dời nhà đi nơi khác, từ đó, tôi ít được gặp bà vì tôi chưa biết lái xe, chỉ thỉnh thoảng chị Phương rãnh mới chở bà đến thăm tôi thôi.

Một hôm, chị Phương  gọi cho tôi hay bác An đang trong bệnh viện. Chị nói, như thường lệ, sáng đi làm về chị ghé qua thăm bà. Mở cửa vô, chị hết hồn khi nhìn thấy bà nằm trên sàn nhà bất tỉnh. Hoảng hốt, chị vội gọi 911. Sau khi được đưa tới nhà thương, bác sĩ cho biết đường trong máu lên quá cao nên bà bị xỉu và kết quả siêu âm thấy một trái thận của bà đã hư, phải mổ gấp.

Tôi thật bàng hoàng trước tin trên nhưng cũng không làm sao đi thăm bà được. Nơi tôi ở là một thành phố nhỏ, do đó phần nhiều dân ở đây đều phải biết lái xe. Phương tiện công cộng duy nhất chỉ là taxi mà mỗi lần ngồi lên, xe vừa lăn bánh, nhìn đồng hồ tính tiền nhảy vùn vụt là tôi phát chóng mặt luôn. Thôi đành gởi lời thăm hỏi bà, chúc bà chóng bình phục vậy.

Chị Phương nói với tôi chị không thể nghỉ làm để ở đó chăm sóc bà mà bà thì lại không biết tiếng Anh, chị không biết phải làm sao.

Tôi nghe vậy liền bàn với chị:

- Hay là chị viết ra nhiều tờ giấy nhỏ. Trong đó, chị ghi một câu tiếng Việt, thí dụ

- Tôi cần đi tiểu,

- Tôi đói bụng

- Tôi khát nước...

Dưới mỗi câu chị viết tiếng Anh rồi dặn bác cần gì thì bấm chuông gọi y tá, xong lựa miếng giấy nào cần thì đưa cho người ta.

Chị Phương nghe tôi nói mừng quá, chị vội làm ngay. Cũng may, Bác An tuy lớn tuổi, dù đang đau nhưng bác vẫn rất sáng suốt. Suốt trong hai tuần nằm trong đó, tôi mỗi ngày đều gọi hỏi thăm, chị Phương thì cũng chỉ ghé hai buổi sáng chiều nhưng mọi việc vẫn thuận lợi. Bác nói có  bữa lính quýnh, cần đi tiểu bác lại đưa miếng giấy đói bụng. Cô y tá lập tức đem crackers tới, còn bác thì ôm bụng nói thầm:

- Quái lạ cái cô khỉ này! Mình cần đi tiểu mà cô lại mang bánh đến là sao?

Rồi bác xua tay từ chối. Cô y tá tưởng bác chê, đem món khác tới bác vẫn cứ lắc đầu. Cũng may, cô ta đưa tờ giấy ban nãy cho bà coi, biết mình đưa trật, bà cười ngất rồi lấy đúng tờ giấy mình cần cho cô… ha ha… lần này thì bà nghe nhẹ bụng rồi thì lại tiếp tục đưa trở lại miếng giấy cần ăn...cứ vậy mà những ngày ở đó, dầu một mình nhưng bà vẫn được y tá, bác sĩ quan tâm, chăm sóc chu đáo từng bữa ăn, giấc ngủ. Tôi cũng rất cảm phục cho cái nghị lực của bà. Đã tám mươi, biết con mình bận với công việc và gia đình, bà không hề đòi hỏi gì ở con cháu, chấp nhận cuộc sống đơn lẻ thật dễ dàng.

Sau khi xuất viện được khoảng hai tháng, ông bay qua Mỹ báo tin mừng cho bà là mọi thủ tục đưa bà qua đó đã hoàn tất. Bà sẽ được định cư với ông ở kinh đô ánh sáng, cùng hưởng hạnh phúc bên nhau đến cuối đời.

Nghe tin trên, tôi tuy buồn vì sẽ chia tay với bà vĩnh viễn nhưng mừng cho bà. Từ nay bà không còn những tháng ngày hiu quạnh vào trông ra ngóng, không mỏi mắt mong chờ nữa. Tôi chúc mừng và cầu xin ông bà luôn vui, khỏe mạnh nơi trời tây.

Sang Pháp được hai tuần là ông bà đã gởi thơ cho tôi. Nhìn con tem, tên người gởi, tôi mừng lắm, mừng như thuở nào được thơ bồ gởi về từ chiến trường vậy đó. Bây giờ thời đại văn minh, thường liên lạc nhau bằng điện thoại, do đó, cầm lá thư trên tay, tôi không vội xé, mà cứ ngắm nghía từng nét chữ xiêu vẹo, bìa bao thơ với những lằn xanh đỏ, con dấu -PAR AVION- làm tôi nhớ tới những ngày xa xưa khi còn ở Việt Nam quá.

Cẩn thận mở thơ ra, mấy tấm hình màu thật đẹp ông bà chụp chung ở phòng khách, ở công viên. Tôi đã tìm lại được đôi mắt biết cười của bà, tôi đã thấy lại nét phúc hậu của ông. Những dòng chữ tuy rằng không ngay ngắn, chỉ vỏn vẹn vài dòng thăm hỏi, vậy mà tôi nghe mừng vui lắm. Ông bà vẫn không quên mấy mẹ con tôi, vẫn luôn coi chúng tôi như con cháu dù quen biết chưa được bao lâu.

Thơ qua thơ lại được một năm thì sau đó, việc liên lạc nhau bằng điện thoại trên thế giới đã bắt đầu dễ dàng. Tôi thỉnh thoảng mua thẻ gọi thăm đế được nghe tiếng nói của ông bà. Bà vui lắm với cuộc sống hiện tại. Bà kể cho tôi nghe đủ chuyện bên đó. Những người con riêng của ông cũng ở gần nên mỗi cuối tuần đều đến thăm, đưa ông bà đi chợ, đi coi thắng cảnh, lúc Khải Hoàn Môn, khi tháp Eiffel hồi đi ra ngồi trên ghế đá ngắm sông Seine. Ngoài ra, sau dãy nhà nơi bà cư ngụ là một khu đất trống , mỗi thứ ba có phiên chợ của các nông gia từ trong quê ra. Họ họ đem nào trứng gà, rau cải, trái cây rồi tụ họp lại bán rất vui. Người mua kẻ bán tấp nập làm bà nhớ lại những ngày ấu thơ bên cha mẹ ở ngoài Bắc thuở nào.

Thỉnh thoảng ông bà lại còn gởi qua bưu điện cho tôi khi gói chocolate, lúc là mấy cái áo thun với hình ảnh in những nơi nổi tiếng của Pháp.

Cho tới một ngày, chị Phương  đến nhà, nét mặt buồn hiu, hai mắt thâm quầng. Chị cho hay bà mới mất cách nay hai tuần. Được tin , chị vội thu xếp để qua Pháp lo tang lễ cho bác An. Chị nói các con ông rất thương bà, khi bà ngã bệnh thình lình, mấy người đó đưa bà vô bệnh viện , thay nhau chăm sóc cho bà. Những ngày tang lễ, họ có mặt đông đủ như con ruột.

Sau khi chôn cất bà xong, ông có gọi cho tôi, giọng nói mệt mỏi, buồn rầu. Ông hỏi thăm tôi và mấy đứa nhỏ. Đột nhiên, ông gọi lớn lên:

-Này mình ơi, có cô Đông đây!

Tôi sững sờ khi nghe ông gọi bà! Chẳng lẻ ông không biết bà đã qua đời, hay con cháu giấu ông?

Qua tuần sau ông cũng lại gọi tôi, nhắc lại những ngày bên Mỹ. Ông nói nhớ Bình quá, thèm nghe được tiếng cười của con bé… rồi thì ông lại biểu tôi chờ để ông gọi bà dậy vì trưa rồi, bà chưa ăn uống gì hết… thôi rồi… ông đã lẫn rồi, ông không nhớ rằng bà đã mất… thương cho ông quá, tôi lặng lẽ gác điện thoại, mắt nhạt nhoà, hình ảnh ông bà, mấy tô cháo bốc hơi thơm ngào ngạt… rồi bóng bà từ từ bay theo làn khói mỏng!

Một chiều thu, ngồi bên cửa sổ nhìn lá vàng bay trong gió, sân cỏ đã úa màu. Chị Phương đến và cho tôi hay ông đã yên giấc ngàn thu bên bà, một giấc ngủ êm ái, nhẹ nhàng, nhanh chóng. Chị đã qua chịu tang dù không phải cha ruột nhưng ông đã dành cho bà cả trời thương yêu.

Tôi nghẹn ngào nói lời chia buồn cùng chị. Từ nay, tôi không còn nhận những lá thơ PAR AVION, không còn nghe giọng Bắc kỳ thân ái của hai ông bà nữa.

Hai bác ơi, giờ thì hai bác đã thật sự bên nhau rồi. Hai bác dù đến với nhau trễ tràng ở tuổi chiều bóng xế nhưng tình của hai bác sẽ vĩnh cửu đời đời kiếp kiếp hai bác nhé!
 
- Mình ơi! tôi gọi là nhà,
Nhà ơi! Tôi gọi mình là nhà tôi. (Thơ Bùi Giáng)
 
Fort Smith, Nov 15, 2018
Dong Trinh

Blog Archive