Showing posts with label Huyền Thoại Thịnh Hương. Show all posts
Showing posts with label Huyền Thoại Thịnh Hương. Show all posts

Saturday, February 27, 2021

Duy Liêm

Huyền Thoại-Thịnh Hương

Boy and girl. (hình minh họa – www.pixabay.com)

***
Duy Liêm là tên Việt Nam của thằng chaú nội Bà Hai. Bà phiên âm từ cái tên trong khai sanh của nó là William.

Sau khi siêu âm và được biết sẽ sanh một bé trai vợ chồng con bà vui lẳm. Không phải vì họ đang mong ước có có con trai để “nối dõi tông đường”, nhưng vì đã có cô con gái đầu lòng rồi nên chuyện có thêm đứa con trai là một điều đáng vui. Vài người bạn của bà khen “Vậy là tuị nó có đủ tẻ và nếp rồi nhé!”. Mới đầu, hai vợ chồng Phúc – con trai bà – dự tính chỉ sanh một đứa con thôi, vì bao nhiêu khó khăn vất vả mà hai vợ chồng trải qua sau khi sanh Quỳnh Anh, cô con gái đầu lòng . Quỳnh Anh từ lúc sanh ra đã khó ăn khó ở. Môĩ lần ăn là cô nàng ói thốc ói tháo. Một chén bột chắc chỉ con giữ laị trong bao tử chừng một phần ba. Ăn bột ói, uống sữa cũng ói! Khi cô nàng ăn, bà hay cha mẹ phải ngồi trước máy vi tính cho nó xem các phim hoạt hoạ như Pingu, Big Bird, Elmo…Cha mẹ và bà nội lo xanh mắt vì sợ cô nàng thiếu chất dinh dưỡng nên năn nỉ bác sĩ cho toa mua thuốc bổ, nhưng bà bác sĩ tỉnh bơ, nói không cần uống thuốc, chỉ cố cho nó ăn ít và ăn nhiều bữa là được. Nó ói thì chờ vài tiếng rồi cho nó ăn nữa. Quỳnh Anh được một tuổi thì phải tìm babysitter vì mẹ Quỳnh cần đi học trở lại cho xong bằng cấp. Được mẹ ôm ấp chăm lo suốt một năm nên cô nàng hoảng sợ khi thấy có một bà lạ hoắc ẵm bế mình. Cô nàng khóc liên tu bất tận cho đến lúc mẹ đến đón. Về đến nhà khoảng năm phút cô nàng nằm lăn ra ngủ. Có lẽ sự căng thẳng bên người lạ và nỗi nhớ nhung cha mẹ đã làm nó mệt nhoài. Bây giờ về nhà cô yên tâm ngủ bù. Hôm sau trở lại nhà cô babysitter thì con bé nắm chặt áo bố không chiụ buông, hai chân dẫy đạp như muốn đẩy cô ra xa. Phải mười lăm phút sau mới chịu ngưng đạp. Chắc tại mệt quá hết đạp nổi. Hoạt cảnh này kéo dài cả tuần lễ mới ngưng làm bố mẹ nó căng thẳng muốn đứt giây thần kinh. Mấy háng sau cô giữ trẻ …ốm nghén nên phaỉ bỏ việc, con dâu bà được bạn giới thiêụ một cô khác. May mắn thay cô mới rất yêu Quỳnh Anh và thường ẵm ru cho nó ngủ trưa vì cô nàng mang luôn bệnh khó ngủ. Khó ăn khó ngủ nên bố mẹ nó sợ có thêm con là điều dễ hiểu. Vậy mà lạ thay, chỉ vài tháng trước ngày đủ tuổi để đi nhà trẻ Quỳnh Anh hết ói và chịu ngủ riêng trong phòng của mình.

Sau sáu năm, những nhọc nhằn nuôi con từ từ phai nhạt, Phúc thuyết phục vợ sanh thêm một đứa con nữa, trai hay gái gì cũng đều “welcome”. Phúc viện lý do là qua kinh nghiệm chính bản thân mình, anh thấy làm con một nó … buồn lắm! Buồn vì “bị” cha mẹ lo lắng chăm lo cho mình một cách thái quá! Lúc nào cha mẹ cậu cũng nơm nớp lo âu, sợ những tai vạ không đâu vận vào đầu con mình. Phúc đi đâu cũng phải báo cáo cho cha mẹ biết đi nơi naò, bao lâu, chừng nào về. Sau vài giờ không nghe cậu lên tiếng báo trễ là cha mẹ sốt ruột, đi ra đi vào như lửa đốt trong lòng. Sau này khi cell phone trở thành món cần thiết cho mọi người mọi nhà thì tha hồ cho ông bà réo gọi, “Con ơi, con OK không? Chừng nào con về?”. Những dịp cuối tuần câụ đi parties thì ông bà thức đêm chong đèn chờ, chỉ khi nghe tiếng xe câụ ngừng ngoài driveway thì ông bà vội vã tắt đèn giả vờ đã ngủ từ lâu. Có lần cậu bực quá, tuyên bố là nếu ông bà “kềm kẹp” kỹ quá câụ sẽ dọn ra ở với bạn cho có chút tự do!

Phúc còn một lý do nữa để xin vợ thêm một đứa con, đó là mai đây khi cha yếu mẹ già thì còn có thêm người phụ lo cho cha mẹ, chứ “chỉ hai đứa mình thôi nhé” thì oải vô cùng! Từ tháng thứ tư của chu kỳ thai nghén, vợ chồng Phúc bắt đầu tìm tên cho con. Bà Hai không tham gia, vì bà hiểu rằng bên xứ này ông bà nội ngoại chớ nên can thiệp vào chuyện gia đình con cái kẻo gây ra nhiều phiền toái. Ông bà thì “được quyền” giúp đỡ chăm sóc, chứ những quyết định nên để “vợ chồng người ta” tự lo. Bà Hai góa bụa trước khi con trai cưới vợ, nên bà “mời” hai vợ chồng Phúc chung nhà với bà. Bà có công ăn việc làm tốt nên không muốn ở nhà giữ chaú, chỉ xin nhận coi cháu vào những cuối tuần hay khi cô babysitter bận chuyện nhà, không thể giữ trẻ trong mấy ngày.

Trở về chuyện tìm tên, Phúc chiều ý vợ, chọn tên William cho con. Theo con dâu bà, nhũng người có tên William thường có tài và nổi tiếng! Thí dụ như Bill Gates, hoàng tử William của Anh Quốc, tổng thống Hoa Kỳ William Clinton... Bà Hai thầm nghĩ nhưng không dám nói ra miệng, là bà có một ông xếp tên William mà khó chịu dàn trời, ít ai ưa.

Duy Liêm chào đời đúng ngày đúng tháng. Bà Hai không đưa con dâu đi sanh như lần trước vì bà phải ở nhà giữ Quỳnh Anh. Khi việc sinh nở xong xuôi, Phúc gọi điện thoại báo tin là tất cả đều suông sẻ, mẹ tròn con vuông, và thằng cháu nội cuả bà mai đây có thể vượt xa các ca sĩ hát nhạc Opera của Ý. Bà không hiểu thì Phúc giải thích rằng vừa ra khỏi bụng mẹ nó la chói lói, thiếu điều muốn bể kính cửa số nhà thương. Bác sĩ nói thằng bé này có hai lá phổi tốt! Phải công nhận nó mà hét lên thì điếc tai thiệt. 

Nhà bà ở trên đồi, thỉnh thoảng mấy con nai dẫn nhau đến ăn hoa trái. Hôm đó, bà nhớ, Duy Liêm chừng ba tuổi. Hai bà cháu ra vườn tỉa lá hái hoa thì có hai con nai lừ đừ đi tới định kiếm gì bỏ bụng. Bà Hai hầm hừ, vung tay xua đuổi, cầm cây hù doạ mà chúng chả sợ, cứ giương mắt nhìn bà một cách rất là ngây thơ vô tội. Nhưng lúc Duy Liêm cật lực hét lên thì hai con nai cong đuôi bỏ chay! Thế là đủ biết nó có uy rồi nhé! Bà Hai nói nó có “giang” làm …tướng, và câù mong nó làm tướng quân đội chứ đừng làm tướng gì khác. Duy Liêm cũng kén ăn nhưng không đến nỗi quá “kinh dị” như chị nó. Mỗi lần cho nó ăn phải ngồi cả giờ, thức ăn văng vaĩ tứ tung vì anh chàng cứ quay qua quay laị, không ngồi yên.

Saú tháng, con dâu bà hết hạn nghỉ phụ sản. Laị phải ra công tìm người gửi con! Lạ kỳ, không hiểu được, vì cô này vừa ôm nó vào lòng là nó khóc như bị nhéo bẹo rồi nhoài người ra đòi mẹ bế. Cô bảo, “chị cứ yên tâm, một lát nó sẽ quen”. Nhưng chỉ hai tiếng sau cô gọi Quỳnh báo là Duy Liêm khóc hoài không nghỉ, khan tiếng rồi. Quỳnh sợ quá vội vã đến đón con. Vừa thấy mẹ thì chàng ta hết khóc. Bà Hai tin rằng con nít có một ràng buộc thiêng liêng với người mẹ, mà người ta thường nói là quen hơi bén tiếng, nên khó lòng xa mẹ một cách đột ngột. Chúng không nói được nên dùng tiếng khóc để phản đối sự chia lià và bày tỏ lòng thương nhớ của mình. 

Bà Hai còn nhớ ngày bà mới sanh Phúc được một tháng thì mẹ chồng bà ra lệnh đem Phúc về cho bà và cô Năm nuôi phụ, nại cớ là bà Hai sanh con so, chưa có kinh nghiệm nuôi con, ngoài việc vợ chồng bà đêù đi làm, mướn người làm uổng tiền. Nghe thì rất chí lý, nhưng Bà Hai biết rõ, rất rõ, là mẹ chồng sợ bà đem Phúc vô nhà thờ làm lễ Rửa Tội theo Thiên Chúa Giáo, dù bà đã hứa sẽ để cho Phúc quyết định tôn giáo của mình khi nó đã trưởng thành. Hai tuần sau, mẹ chồng goị bà về đón Phúc vì nó khóc cả ngày lẫn đêm, khóc dai dẳng làm ai cũng mất ngủ, ẵm bế nó rã rời tay chân, hết muốn canh giữ! Khi Bà Hai vừa bước chân vô nhà và lên tiếng goị thì Phúc nín khóc và lúc được mẹ ẵm vào lòng nó cười toe toét, “dễ ghét” lắm. Mẹ chồng bà mắng yêu, “Tổ cha nó, nó mới ngửi hơi con mẹ nó là nó nín. Thôi, dià thì dià đi, ai mà ham! Tổ cha mầy!”. Mang được con về, bà mừng lắm. Thời của bà, con dâu kính sợ và nghe lời mẹ chồng, chứ không như thời nay, nhiều mẹ chồng phải e dè con dâu vì sợ mất cả con lẫn cháu.

Quỳnh cần đi làm nên ba ngày liên tiếp đem con tới nhà cô giữ trẻ và ngồi chơi với nó khoảng vài tiếng, hy vọng thằng bé sẽ quen dần với người lạ. Nhưng khi mẹ vừa đi khỏi là Duy Liêm lại khóc thảm thiết như hôm đầu. Hết ba ngày cô giữ trẻ vái nón chiụ thua, không dám giữ nó. Một người bạn giới thiêụ một bà lớn tuổi, hiện đang coi sóc hai đứa cháu ngoại . Và, kỳ lạ thiệt, vừa thấy bà Duy Liêm liền nhoẻn cười và sà ngay vào vòng tay mở sẵn của bà. Người ta nói nó hạp hơi bà. Cỏ lẽ người Mỹ sẽ noí nó và bà có “good chemistry”. Nhờ Duy Liêm có “good chemistry” với bà Mai mà mẹ Quỳnh được đi làm trở lại, mém chút nữa phải bỏ nghề vì con.

“Thời” của Duy Liêm thì Ipad đang đà thịnh hành, nên bà Mai cho nó coi hoạt hình khi cần nó ngồi yên trong khi bà lo cho mấy nhóc kia. Coi riết anh chàng ghiền, về nhà thấy Ipad của bà Hai là nó giơ tay đòi, bập bẹ “Coi. Coi”. Nó thích coi Elmo nhất, nhưng chưa nói soĩ nên nó gọi Elmo là “Mô Mồ”. Từ Mô Mồ, nó gọi Ipad là Mô Mồ luôn cho tiện bề ăn nói. Vì thế, khi nghe nó ra lệnh “mô mồ” là cả nhà biết nó muốn coi Ipad.

Trái với chị, Duy Liêm “đeo” bố nhiều hơn mẹ. Từ lúc Phúc đi làm về là anh ta dính liền với bố như bị nam châm. Bố lên lầu, con lẽo đẽo đi theo. Bố ngồi ăn, con ở sát nách. Bố đi ngủ con theo vào giường. Bố thức dậy, con dậy theo. Nhiều khi Phúc nổi giận, gằn giọng bảo nó để bố yên thì nó trề môi mếu máo “Bố không thương”. Nó sẽ ngồi khóc cho tới khi Phúc bế nó lên và xác nhận, “bố thương, bố thương” thì mới nín. 

Khoảng hai tuổi, nó bắt đầu trở chứng, hờn giận một cách vô lý và khóc lóc vật vã một hồi lâu. Người Mỹ goị là “throwing a tantrum”. Thí dụ, một hôm chuẩn bị ăn cơm, nó đòi moị người đơị cho nó lắp xong một món “lego” hồi mới được ăn. Mấy phút trôi qua, moị người quyết đinh không chờ nữa thì nó nằm lăn ra sàn nhà, chân đạp chòi lia lịa, khóc la inh oỉ, miệng bải hải than không ai nghe lời nó. Bố mẹ ra sức dỗ dành, kể cả doạ nạt mà y ta không nín, tiếp tục la hét. 

Hôm khác, nó muốn chị nó mặc áo mầu xanh để đi chơi nhưng Quỳnh Anh không chiụ chiều, nhất quyết mặc mầu hoa cà. Thế là y ta khóc, chẳng những khóc mà con la hét đinh tai nhức óc, không ai dỗ được. Mấy hôm sau vợ chồng Phúc đem nó đi bác sĩ xem có cần chữa trị chi không thì bác sĩ nói trẻ con tuổi này đang lớn, hormone thay đổi nên tánh nết bất thường. Cứ để nó khóc, mệt nó sễ nín, nhưng mình phải luôn ở gần và quan sát, đề phòng nó sặc hay có triệu chứng khác thường. Mỗi lần cháu khóc dai như vậy Bà Hai đứng ngồi không yên. Bà đi tới đi lui vì đau lòng xót chaú, thêm nỗi ngại ngùng, sợ hàng xóm nghe tiếng khóc lại nghĩ gia đình bà hành hạ con nít. Bà đóng cửa số trong nhà cho kín. Cửa nhà bà hai lớp kính nhưng tiếng khóc vẫn lọt ra ngoài tuy khá nhỏ.

Bà lên internet tìm hiểu bệnh trạng của Duy Liêm, thì thấy nó có vài triệu chứng OCD, Obsessive Compulsive Disorder, tạm dịch là Chứng Rối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế. Nếu ai đã từng coi phim “Monk” trên TV, thì sẽ thấy ông thám tử này rất sợ vi trùng và những gì dơ bẩn. Ông thuê một cô phụ tá riêng theo ông kè kè như bóng với hình. Cô phải lau sạch một vật thể trước khi ông sờ tay vào trong lúc điều tra kiểu tâm linh của mình. Sau khi ông đụng chạm vật gì cô phaỉ tức tốc đưa giấy lau tay cho ông. Ông có vài chục bộ đồ cùng mầu cùng kiểu; ông treo áo quần mũ nón theo đúng thứ tự. Nếu có sự xê dịch khác biệt là ông phải sửa lại ngay tức khắc dù ông đang rất vội. Bà Hai cho rằng Phúc cũng mang phải cái bệnh OCD này, nhưng nhẹ thôi! Anh chàng làm việc gì cũng tỉ mỉ quá đáng. Sửa vật dụng gì trong nhà cũng coi đi ngắm lại nhiều lần. Có gì không vừa ý là anh ta loay hoay chỉnh sửa cho đúng sách vở, không có chuyện đại khái cho xong. Khi phải đi đâu, moị người ra khỏi nhà, anh ta ra xe rồi lại trở vô, để yên trí là đèn điện, bếp ga và các voì nước đã tắt an toàn. Nhiều khi cô vợ phát giận vì cái tánh kỹ lưỡng đến lề mề của anh chồng.

Vì Duy Liêm và bố đều có vài biểu hiện OCD nên bà hay gọi hai bố con là OCD Senior và OCD Junior, dù bác sĩ không đồng ý với việc định bệnh nghiệp dư của bà. Khi bà hỏi tại sao Duy Liêm đeo bố như đôi sam, thì nó dõng dạc trả lời “OCD people stick together!”. 

Thấm thoát mà anh chàng sắp ba tuổi, tuổi đi học mẫu giáo. Vợ chồng Phúc quyết định ghi tên cho nó vào học một trường đạo gần nhà, trường mà Quỳnh Anh đã học trước đây. Khổ nỗi, anh chàng được chiều quá nên giờ này vẫn chưa chịu tự đi tiêu tiểu một mình. Bố Phúc bảo “Nếu con không đi potty một mình thì cô giáo sẽ tính thêm tiền học. Nếu con muốn “save” tiền cho bố mẹ thì con phải tự “take care” con, hiểu không?” Chắc nó hiểu, vì một tuần trước ngày nhập trường nó đã tự lo cho mình một cách chu đáo không ngờ. Bố mẹ nó khoái lắm tiết kiệm được một trăm đô mỗi tháng. Tuy nhiên nó nhất định không chiụ ngủ riêng trong phòng của mình. Bố Phúc cố tập cho con ngủ một mình bằng cách mang gối trải mềm nằm trên sàn kế giường nó, vậy mà nó lại lăn xuống sàn nằm với bố cho tới sáng. Sau một tuần như vậy, ông bố chiụ thua thằng con vì nằm sàn ê mình quá! Thế là ba ta lại một giường như bình thường.

Ngaỳ đầu Duy Liêm đi học thật là vất vả. Anh ta chỉ mới học được năm, mười từ tiếng Anh ở nhà, như Good morning, hi, hello, thank you…Mấy ngày đầu cô nói gì mặc cô, bạn hỏi gì mặc bạn, nó chỉ tha thẩn chơi với mấy thứ đồ chơi trong lớp. Cô Monica đã từng dậy vỡ lòng cho các con em gia đình nhập cư nên cô mang sẵn “google dictionary” để … giao tiếp với học trò “non-English” của mình. Chiều gặp bà Hai đến rước cháu về, cô khoe cô đem “tự điển nói” ra hỏi Duy Liêm muốn gì khi thấy nó “ngồi buồn một mình”. Anh chàng trả lời “con đói” vào phone giúp cô giải quyết vấn đề một cách mau chóng. Thời buổi tin học tiến bộ làm cho nhiều việc dễ dàng và thuận tiện biết bao! Vậy mà chỉ sau bốn tháng đi mẫu giáo Duy Liêm đã nói rành tiếng Anh và ít gặp trở ngại trong lớp. Về nhà không chịu nói tiếng Việt với cha mẹ nữa. Cha mẹ hỏi tiếng Việt nó trả lời tiếng Anh. Bà Hai và bố mẹ nó hơi … phiền, nhưng phải đồng ý rằng đây là lúc phải cho nó hòa đồng với cô giáo và bạn bè nó bằng Anh Ngữ để nó phát triển con đường học vấn. Còn nhiều cơ hội và thời gian để cho nó ôn lại tiếng Việt khi nó lớn lên, cũng không muộn.

Cô giáo cho Bà Hai biết Duy Liêm chơi rất thân với một cô bé da trắng tên Kelly. Trong lớp ngồi cạnh nhau và vì hai đứa nói chuyện hơi nhiều, bị cô can thiệp, bắt ngồi với bạn khác. Nhưng trong giờ chơi hai đứa lại tìm nhau đùa nghịch. Một hôm bà Hai có dịp đi ngang trường nhằm giờ ra chơi nên ghé thăm cho biệt sự tình. Qua hàng rào mắt cáo bà thẩy Kelly đang chở Duy Liêm trên chiếc xe đạp. Duy Liêm nét mặt hân hoan, hai tay ôm chặt eo ếch của cô bạn. Cô giáo nói hai đứa chỉ chơi với những trẻ khác khi một trong hai đứa nghỉ học. Một ngày kia, Duy Liêm đi học về, mặt buồn thiu, than với mẹ rằng Kelly bị bịnh phải nghỉ học vài ngày. Y ta yêu cầu bà nội hôm sau chở y tới nhà Kelly để thăm. Y còn muốn ra tiệm mua thú nhồi bông làm quà cho bạn vui và mau hết bịnh. Ôi trời, mới ba tuổi rưỡi mà đã biết thế nào là lãng mạn rồi.

Năm ngoái bà Hai quyết định nghỉ hưu vì đã bương chải kiếm tiền đúng nửa thế kỷ rồi dù bà vẫn còn dư sức khoẻ để làm công việc của mình. Hơn nữa, bước qua tuổi thất thập cổ lai hi, bà muốn buông bỏ dù các xếp trong sở yêu cầu bà ở lại làm part time. Bà đã ngán những chuyến đi công tác dài ngày ở một thành phố lạ, một quốc gia xa xôi không người quen. Bà cũng ngại lái xe trên đường cao tốc chằng chịt ngã rẽ. Bà nhất quyết treo kiếm, về làm tài xế đưa rước hai chaú đi học, giúp cha mẹ nó thoải mái, không phải bầm dập với nạn kẹt xe để về rước con cho kịp giờ tan học.

Nhưng đùng một cái, dịch cúm Vũ Hán bùng nổ khắp thế giới… Hãng xưởng, tiệm buôn, nhà hàng, nơi giải trí được lệnh đóng cửa. Dân chúng phải giãn cách, khẩu trang xuất hiện trên mặt mọi người mọi nơi. Quỳnh Anh vừa học xong lớp năm, tưởng đâu năm nay nghỉ hè sẽ được cùng cha mẹ đi Hawaii. Ai dè… Tới tháng tám , nhà trường vẫn còn lệnh đóng cửa, học sinh phải đến trường trên vi tính… Nhà trẻ của Duy Liêm vẫn được hoạt động, nhưng mỗi lớp chỉ được nhận mười hai em. Nhiều phụ huynh được làm tại nhà nên cho con nghỉ học, lớp chỉ còn lại con em của các bậc phụ huynh phải đi làm như y tá, bác sĩ, công chức, v.v…Phúc và Quỳnh được làm tại gia nên Duy Liêm cũng được nghỉ học. Bà Hai đã có chương trình đi du lịch với mấy người bạn, nhưng vì cả thế giới bị bế quan toả cảng, nội bất xuất ngoại bất nhập nên các bà phải gọi huỷ vé máy bay và khách san.

Có chuyện ngược đời, là trong khi nhiều người bị tạm thất nghiệp vì hãng xưởng “shut down” thì Phúc lại được một hãng lớn goị tới “dụ” sang làm cho họ! Những yêu cầu, đòi hỏi của Phúc được họ chấp nhận một cách mau chóng, dễ dàng. Không thể tử chối một số lương tăng đáng kể, Phúc gửi thông báo cho sở cũ xin nghỉ làm. Ông xếp goị lại điều đình, nhưng phải chịu thua vì không thể trả theo một số lương ngoài ngân sách của hãng. Sau hai tuần, hãng mới gửi computers, bàn ghế, máy in và máy fax để Phúc làm việc online. Bà Hai nhận xét là làm việc tại gia đỡ tốn thì giờ lái xe đi về, không hao xăng và hư mòn xe cộ, nhưng Phúc nói số tiền điện hàng tháng sẽ tăng lên, và phải làm nhiều giờ hơn vì bị con cái chi phối, quấy rầy.

Dù có bà nội ở nhà nhưng hai chị em thay phiên nhau xuống văn phòng của cha mẹ dưới garage léo nhéo suốt ngày. Nhiều khi hai chị em cà khịa nhau bà nội không can thiệp được chúng lại xuống thưa kiện. Cha mẹ lại phải ngưng việc để xử án. Khi cha hoặc mẹ đang họp trên Zoom mà con cái xuống léo nhéo ỳ xèo thì kỳ quá nên Phúc phải làm thêm khoá bên trong để chúng không vô quậy trong những lúc dầu sôi lửa bỏng! 

Ở nhà tù túng , Quỳnh Anh và Duy Liêm rất nhớ bạn bè. Vì vậy môĩ cuối tuần Phúc và Quỳnh phải chở con đến nhà bạn cho chúng đỡ nhớ. Thăm nhau mà đứa đi thăm bước xuống xe, đeo mặt nạ đứng chờ. Đứa được thăm cũng đeo mặt nạ bước ra trước cửa. Hai phe nói qua nói lại mấy phút rồi hôn gió goodbye. Chưa bao giờ có cảnh vừa khôi hài vừa đau lòng như thế. Duy Liêm được bố mẹ chở đi thăm Kelly một lần. Hai đứa dứng xa xa nhìn nhau, ngượng ngùng vẫy tay chào, chả biết tâm sự thế nào! Vài tuần sau cô nàng đến thăm trả lễ. vi` hai trẻ ké né không ra lời nên hai bên cha mẹ đành tạm ngưng xã giao, hẹn ngày tái ngộ khi giặc vũ hán lui quân.

Vì không có bạn nên Duy Liêm bắt bà nội tham gia giải trí. Lúc chơi trò trốn tìm, lúc dở trò ráp chữ. Chơi trò hiền lành chán, y ta bắt bà nội chơi đấu kiếm. Đẩu kiếm trong nhà nó cũng chán, lại rủ nội ra sân sau… múa cán chổi, rồi đá banh! Tội nghiệp lão bà trên bảy bó gần đất xa trời mà còn phải gồng mình giang chân múa tay quay cuồng cùng thằng chaú tranh giành thắng bại! Bà chạy không nhanh bắt banh không kịp nên bị cháu chê “ you too old to win”. Trời ạ! Ngó xuống mà coi!

Cho đến hôm nay, sau gần mười hai tháng giãn cách Thống Đốc bang California đang bị tiểu bang tìm cách “recall” vì những kế hoạch đối phó dịch bệnh và phương cách cai trị của ông. Tuy vậy những đợt chích ngừa covid đã và đang được thi hành chậm rãi và trật tự. Đợt đầu dành cho những chiến sĩ tiền tuyến như bác sĩ, y tá, các bô lão tuổi baỷ lăm trở lên đã tạm xong. Đợt dành cho các cụ từ sáu lăm tới bảy lăm đang bắt đầu. Có tin vui trong giờ tuyệt vọng! Bà Hai được văn phòng bác sĩ thông báo và cho địa điểm đi tiêm phòng, nhưng bà phải tự lên online để ghi tên và xin hẹn. Bà đã có hẹn và đang hồi hộp chờ. Bà hồi hộp vì bây giờ đang mùa đông, muà cảm cúm. Nếu bà bị nóng sốt thì người ta sẽ không chích ngừa cho bà theo hẹn, rồi bà phải làm hẹn trở lại! Bà nôn nóng trông chờ ngày moị người moị nơi được chích ngừa để hết bế quan toả cảng, để bà và bạn bè lại có cơ hội gặp nhau chia xẻ vui buồn “real time” và cùng nhau đi du lịch “giối già”. Bà không tin con cúm Vũ Hán sẽ ngủm củ tỏi hoàn toàn, nghe đâu người ta dự đoán nó sẽ như bệnh cúm hằng năm và rồi thiên hạ sẽ phải đưa tay ra chích thêm một loại chủng ngừa thường niên từ đây. Theo bà, thêm một muĩ chích chằng phiền hà chi! Còn hơn cứ bị cách ly và đóng cửa biên giới, phi trường… Rõ ràng là khoa học càng tiến bộ thì vi trùng bệnh tật nó cũng rộ lên theo tỉ lệ thuận.

Phúc cho bà hay vợ chồng anh đã goị nhà trường xin cho Duy Liêm đi học trở laị, lý do là trong hơn mười tháng qua, các cô giaó cũng như trẻ em vẫn đến trường không ai bị nhiễm covid. Để Duy Liêm ở nhà nó lười học và chỉ ham vô Youtube Kids xem Minecraft và hoạt họa muốn lé hai mắt. Duy Liêm nghe vậy thì buồn lắm vì ở nhà vui chơi thoả thích quen rồi. Nhưng khi nghe nói Kelly cũng đã trở lại trường y ta sáng con mắt. Buổi sáng đầu tiên trở lại lớp Duy Liêm lừng khừng không chịu buông tay bố để theo cô giáo vào lớp, nhưng khi Kelly chạy ra đón thì anh chàng vội ôm chào bố rồi mau mắn theo nàng. Ôi, phép mầu của tình yêu!

Tuesday, February 11, 2020

Chuyến Đi Kinh Hoàng


Cả nhà mừng rỡ khi người liên lạc tên Thụ trở lại sau hai tuần lễ với mật hiệu của anh Long. Qua Thụ, anh đã vượt biên bằng đường bộ từ Việt Nam qua Cambodia rồi từ Cambodia đi thuyền sang Thái Lan. Gia đình trao cho Thụ hai lượng vàng như đã giao hẹn. Sau bữa cơm trưa cùng gia đình, Thụ nói với bố tôi :

Tổ chức sẽ làm một chuyến nữa trong vòng một tháng. Nếu bác cần gửi thêm người, cháu sẽ trở lại trong hai tuần. Điều kiện vẫn như cũ.

Tôi quyết điṇh sẽ ra đi cùng Tuấn, đứa con duy nhất vừa tròn 12 tuổi. Vì anh Long đã thành công nên bảy người nữa hồ hởi tháp tùng chuyến đi. Giáo sư Vượng - vẫn còn đi dậy do trước đây được miễn quân dịch vì mắt kém. Tuy có chút xíu nợ máu nhưng "nhà nước cách mạng" khoan hồng, cho làm việc trở lại để “đoái công chụôc tội.” Bị đồng nghiệp bắc phương kỳ thị và bất mãn lối gíao dục nhồi sọ, anh thỉnh thoảng tìm đường chạy trốn. Ngoài ra, còn chị Hồng bạn tôi, và đứa con trai năm tuổi. Chồng Hồng đã vượt biên cùng ba đứa con cách đây hai năm. Sau chuyến đi của anh Long, Hồng rất tin tưởng nên chạy sang bà chị họ rủ thêm hai cháu gái. Sau cùng, Vạn - em bà con của thầy giáo Vượng - một sĩ quan cấp uý mới đi “cải tạo” về, cũng xin đi theo.

Đúng hẹn Thụ trở lại nhận khách, thu mỗi người năm chỉ vàng tiền nhà trọ và ăn uống. Tiền này sẽ không được hoàn trả nếu chuyến đi thất bại. Sau khi khách đã tới traị ty nạn, gia đình sẽ giao thêm mỗi người một lượng vàng. Một lượng nữa sẽ giao sau đó đúng một tuần. 

Bảy ngày sau, Thụ trở lại vào sáng sớm đón mẹ con tôi ra bến xe đi lục tỉnh. Những người khác ra bến từ sáng sớm, tự sắp hàng mua vé để tránh sự theo dõi của công an. Tới Hồng Ngự, cô Thanh - vợ Thụ - đón mọi người vào nhà người quen, chờ giờ khởi hành qua Cambodia bằng đường thủy. Hai vợ chồng dặn dò từng người vai trò phải đóng trong trường hợp bị công an biên phòng xét hỏi. Tôi cứ tưởng Thụ phải có giấy tờ đi đường cho mọi người như đã có cho anh Long trước đây. Thụ giải thích là anh ta không thể làm giấy tờ cho gần chục người trong vòng mấy ngày, và với vẻ tự tin, anh ta nóí đường giây này anh cộng tác đã lâu nên quen hầu hết các trạm kiểm soát, chẳng có gì ̣đáng lo. Anh dặn mọi người chỉ là đề phòng trường hợp có nhân viên mới hay thay ca bất ngờ, một chuỵên hiếm khi xảy ra. 

Khoảng một giờ chiều mọi người xuống thuyền sang Phnom Penh [Nam Vang]. Giòng sông phẳng lặng, thuyền nhẹ nhàng lướt qua những xóm làng nghèo nàn hai ven bờ. Khách trên thuyền phần đông là bạn hàng buôn bán. 

Khoảng bảy giờ chiều chúng tôi đến Phnom Penh. Vợ chồng Thụ đem chúng tôi vào nghỉ ngơi và ăn uống trong một quán nhỏ, chắc là người quen hoặc nằm trong tổ chức của họ. Thỉnh thoảng tôi nghe vài người nói tiếng Việt, đoán có lẽ họ là dân Việt sống bên này từ lâu .

Lúc này, tôi thấy lòng bâng khuâng, bàng bạc nỗi lo âu, không biết chuyến đi này rồi sẽ ra sao? Đã nhiều lần mẹ con tôi lặn lội vượt biên từ sau ngày chồng tôi vượt thoát, nhưng luôn bị lừa gạt, bị đem giấu trong ruộng lúa hay đầm lầy ven sông ven biển. Đêm tới rồi sáng, mọi người biết là bị bể hay bị lừa, vội tìm đường lén lút về nhà. Thường thì dân địa phương rất tốt bụng, cho chúng tôi vào nhà thay đổi aó quần rồi chờ khi công an hết đi ruồng mới cho từng người ra đón xe vì nếu ào ra đón xe một lúc thì thế nào cũng bị lộ. 

Thanh ̣đưa mỗi người phụ nữ một bộ xà rông để cải trang như phụ nữ Cambodia. Thụ dẫn mấy người đàn ông thanh niên, còn người vợ dẫn phụ nữ. Tất cả lên hai xe tải chở hàng và khách di Kompong Cham, một thị xã ven biển. Tôi muốn con đi chung xe nhưng Thụ bảo Tuấn đi theo đàn ông thì dễ thuyết phục công an hơn. Họ sẽ khai là cả bọn đi Kompong Cham làm lò than.

Tạm yên tâm, tôi lên xe. Mấy chục con người đứng chen chúc, tay vịn vào hai thanh ngang trên mui. Mùi mồ hôi, mùi áo quần xông lên nồng nặc, khó thở. Thỉnh thoảng có trạm kiểm soát bắt mọi người xuống xe cho họ xét hàng lậu. Mỗi lần xe bị khám xét tim tôi đập như trống chầu, cố tránh chạm mắt với công an. Nó hỏi tiếng Cambodia mà không biết trả lời thì chỉ có nước về đồn. 

Sau hơn hai tiếng chúng tôi tới Kompong Cham nhưng phải vào sâu hai cây số nữa mới đến chỗ trọ. Moị người lại “tăng bo” lần nữa bằng xe Lambretta ba bánh. Lòng vòng hai mươi phút trên những con ̣đường ̣đất gập ghềnh đầy ổ gà, nhóm phụ nữ cũng đến nhà trọ an toàn. Vợ Thụ dặn mọi người nói năng nhẹ nhàng, tránh ra ngoài gây sự chú ý của hàng xóm, phần đông là dân Cambodia đến từ những thành phố khác. Họ về đây làm rừng, làm lò than, đánh cá. Nhóm đàn ông con trai sẽ ở nhà kế bên. Nếu muốn gặp nhau thì nên qua lại vào buổi tối. 

Chừng một tiếng sau, Thụ vào báo tin mọi người đã đến nhà trọ an toàn. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Bây giờ có lẽ là những giây phút tôi cảm thấy thoải mái nhất. Tôi khiếp đảm nghĩ mình sẽ sống ra sao nếu lạc con, nguồn an ủi duy nhất của tôi.

Mọi người hồi hộp chờ ngày xuống thuyền ra ̣đi. Theo Thụ, moị việc sẽ được xếp đặt xong xuôi trong năm bảy ngày nữa. Nhưng năm bảy ngày qua đi, mười ngày lại đến. Ai cũng nóng lòng. Thụ giải thích chức quyền trại tạm cư bên Thái chưa giải quyết xong số người đã được chấp thuận cho đi định cư nên mình phải chờ, lúc sang mới đủ chỗ cho mình.

Hai tuần lễ nặng nề trôi qua, moị người bắt đầu lo. Sống khép mình trong hai căn nhà nhỏ không TV, không radio, không một phương tiện giải trí nào đã làm mọi người chán nản. Thầy giáo Vượng coi như đã bị mất việc, dù người nhà đã xin giấy bác sĩ chứng nhận anh bị đau nặng trong thời gian đi làm rẫy. Hai cô ch́áu của chị Hồng muốn trở về. Bị cầm chân trong nhà nhiều ngày, họ thấy nhớ gia đình, nhớ bạn bè, nhớ những món quà vặt mà ở đây không có. 

Cuối cùng, ngaỳ 19 tháng chạp, Thụ bảo mọi người chuẩn bị, vì anh được lệnh đưa khách ra tầu đêm nay. Nghe nói mọi người mừng rỡ. Cũng may căn nhà của vợ chồng Thụ ở cuối thôn, sát bìa rừng dẫn ra biển nên chỉ đi chừng mươi phút là ra khỏi khu dân cư. Ở đây cả tháng trời mà chúng tôi không biết gì về khu vực chung quanh vì ngaỳ đêm chỉ quanh quẩn trong căn nhà chật chội. Theo lời Thụ, đây là khu vực dành cho việc vượt biên sang Thái Lan nên người dân đồng lòng không nuôi chó, tránh việc chó sủa khi “chuyển quân". Có lần tôi hỏi Thanh:

- Bộ dân làng này thuộc một tổ chức hay sao?

- Dạ không. Ở đây có bốn hoặc năm đường giây khác nhau, nhưng đôi khi mấy ông chủ cũng làm việc chung vì số khách không đủ để làm riêng một chuyến. Do vậy không có chuyện cạnh tranh và chủ nào cũng phải lo lót cho chính quyền địa phương.

Hồng thắc mắc:

- Đã mua chuộc rồi sao mình vẫn phải lén lút, không được đi tới đi lui tự do?

Thanh cười:

- Làm sao có đủ tiền mua chuộc hết mấy làng mấy xã bên cạnh và bộ đội?   

Đêm đó trời sáng trăng. Bầu trời trong vắt không một gợn mây nên con đường mòn sáng mờ mờ, không làm trở ngại cho đoàn người đang lầm lũi di chuyển hàng một. Hành khách chỉ tám người nhưng có thêm một thiếu niên khoảng mười bốn, mười lăm đi theo làm thông ngôn vì y biết nói tiếng Việt bập bẹ. Sau chừng mười lăm phút thì văng vẳng đâu đó nổi lên tiếng chó sói hú nghe rợn người. Thằng bé thông ngôn nói nhỏ: 

- Chó sói ở xa, không mấy khi lại khu này. Hơn nữa chúng không dám tấn công đám đông đâu mà sợ.

Khoảng hơn nửa giờ thì đến bãi biển. Không gian bao la, khí trời mát mẻ, trăng sáng tỏ khiến mọi người tạm quên trong chốc lát những hiểm nguy trước mặt. Chờ một lát thì thấy một con thuyền chừng mười thước từ ngoài khơi tiến vào. Vạn hỏi thằng thông ngôn:

- Đi tầu này sao mậy? Nhỏ quá.

- Xí, tầu này mà đi gì. Xài nó đem mấy người ra tầu lớn chớ!

- Tầu lớn đậu chỗ nào? 

- Tầu lớn đậu tuốt ngoài khơi. Chừng nào gom đủ cá nhỏ thì nhổ neo.

- Mầy có đi chuyến này không?

- Chừng nào chuyến chót mấy ổng mới cho tui ̣đi. 

- Anh Thụ đâu mậy?

- Ổng còn lo điều khiển. Đâu cần ổng dẫn đường. Việc này là việc của tui mà.

- Ổng cũng đi chuyến chót với mầy hả?

- Chắc vâỵ.

Ghe nhỏ ghé sát bãi nên chúng tôi chỉ cần xăn quần lên mà lội ra ghe. Tài công nổ máy, thằng nhỏ đẩy cho ghe có đà rồi nhảy vô vào làm ghe chòng chành nghiêng ngả. Biển lặng như gương, những con sóng nhỏ lăn tăn lóng lánh như bạc. Tôi cảm thấy phấn khởi, tràn trề hy vọng. Vạn hỏi thằng bé: 

- Đi bao lâu mới tới cá lớn?

- Tui nghe nói chừng gần một giờ. 

Đúng như lời thằng nhỏ, mọi người thấy một hòn đảo khả lớn nằm trải mình vững chãi dưới ańh trăng. Tất cả im lặng như tờ. Ghe tắt máy đến đậu cạnh một mỏm đá bằng phẳng. Thằng nhỏ lên tiếng: 

- Moị người lên đảo. Tới chỗ rồi.

Vượng ngần ngại:

- Sao không thấy cá lớn? 

Nó gắt nhỏ:

- Cá lớn chưa tới làm sao ông thấy được! Phải chờ đủ hết nó mới tới. 

Thấy nó cọc cằn vô lễ ai cũng bất mãn nhưng thời thế không cho phép tỏ thái độ. Vạn hỏi thêm:

- Có nhóm nào tới chưa?

- Nhóm này tới trước. Phải đổ khách từ từ chớ!

Sau khi mọi người đã lên hết trên ghềnh đá, ghe bắt đầu nổ máy và hai tên người Miên rời đảo không một lời dặn dò. Lúc đó ai cũng bối rối, nhưng không hoảng hốt vì anh Long đã vượt thoát qua đường giây này. Từ lúc ghe nhỏ ra đi đã một tiếng đồng hồ mà chưa thấy thêm ghe nào khác, mọi người bắt đầu lo. Hay là có trục trặc trong bến, cá nhỏ không ra được? Hay cá lớn bỏ rơi họ? 

Ánh trăng bỗng mờ đi và mây đen vần vũ kéo đến mang theo những cơn gió khá mạnh. Hơi lạnh báo một cơn mưa sắp bắt đầu. Rồi chỉ trong mấy phút nước trút xuống ào ạt. Cơn mưa đến mau rồi tạnh mau như lúc đến. Moị người thấm lạnh và cơn đói bắt đầu hành hạ bao tử. Hồi chiều vì có lệnh đi gấp nên không kịp ăn cơm. 

Moị người thức trắng đêm chờ tầu, chờ sáng. Dù đang ở trong tình trạng nguy khốn, nhưng lúc mắt trời ló dạng tôi không khỏi ngẩn ngơ trước vẻ đẹp lộng lẫy của bình minh trên biển khi mầu sắc thay đổi theo vầng thái dương. Từ ửng hồng đến mầu cam rồi sang mầu vàng óng ánh. Nước biển từ mầu xanh thẫm chuyển sang mầu ngọc bích. Tôi say sưa chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên tạm quên trong giây lát nỗi âu lo. Ai cũng lộ vẻ mệt mỏi. Hai cô gái nhìn tôi và Hồng bằng những ánh mắt thảm não.

- Hai cô ơi, tuị cháu sợ quá. Chắc họ bỏ mình rồi. Bây giờ làm sao trở về?

Hồng ứa nước mắt:

- Cô cũng không biết gì hơn các chaú. Đành chờ xem sao.

Vạn lên tiếng:

- Để tôi lên mấy mỏm đá xem chừng. Suốt đêm tôi thức canh gác nhưng không nghe động tĩnh gì.

Tôi theo anh chui ra khỏi hốc đá. Bãi biển vắng tanh, ngổn ngang những chai lọ, thùng nylon và những thứ linh tinh mà các đợt sóng gom về. Tuyệt đối không có dấu tích của sinh hoạt con người. Bãi biển có nhiểu mỏm đá gập ghềnh. Sau những mỏm đá là rừng rậm xanh rì. Bỗng từ xa, xuất hiện một con thuyền máy, loại thuyền chở chúng tôi đêm qua. Khi chiếc thuyền đến gần, hai người trên thuyền là hai kẻ lạ. Lúc thuyền cặp sát mỏm đá, một trong hai người hỏi chúng tôi bằng thứ tiếng Việt ngọng nghịu:

- Mấy người ̣̣đi Thái Lan hả?

Vạn gật đầu trong khi một số người của chúng tôi lóp ngóp leo lên từ các hốc đá, tưởng chủ tầu mang đồ ăn ra tiếp tế. Tên đó hỏi tiếp:

- Có cần mua thức ăn thì gửi tiền tụi tôi vô bờ mua dùm cho.

Vượng lên tiếng: 

- Mấy anh là ai?

- Tuị tôi chaỵ lòng vòng bán dầu và nước cho tầu qua Thái Lan.

Anh đưa mặt nhìn trên ghe. Không có gì chứng nhận cho lời hắn nói. Anh nói nhỏ đủ cho Vạn và tôi nghe:

Tôi nghĩ bọn này là đồng bọn của mấy tên hôm qua. Có thể là đàn em tên Thụ . Chắc là không tin được bọn nó đâu.

Vạn ngần ngừ:.

- Có thể lắm. Tối nghĩ đây là mánh khoé làm tiền của tuị nó. Hai thằng kia nghĩ mình có mang theo tiền bạc nên cho hai thằng này ra moi thêm. Không chừng sẽ báo cho cảnh sát biên phòng bắt mình.

Tôi góp ý:

- Báo thì chưa chắc nó báo vì mình sẽ khai ra thằng Thụ và đồng bọn trong làng. Tôi nghĩ bọn nó làm tiền. Băy giờ mình giữ tiền trong người cũng chẳng ích gì. Hay là mình đánh bài, một ăn hai thua, nhờ nó mua chút đồ ăn?

Vượng quay qua bảo hai tên lái ghe:

- Tuị tôi còn chút tiền Campuchia và it́ tiền Bhat, nhờ hai chú mua dùm thùng mì gói, nưởc và bánh mì. Được không?

- Được. Nhưng tới chiều mới đem lại à.

Vượng bảo chúng chờ, rồi mọi người chui xuống hốc đá lục tìm những đồng tiền ít ỏi còn sót lại. Lúc nhận tiền từ tay Vượng, tên nói tiếng Việt thì thầm với tên lái ghe, rồi quay qua bảo Vượng: 

- Mua ít vầy làm sao đủ tiền xăng ra vô? Mấy người đi Thái Lan mà sao kẹo quá vậy ?

Noí xong, chúng rồ máy đi luôn. Mọi người biết chúng sẽ không trở lại, nhưng có thể sẽ cho toán khác đến. Vạn vốn ở trong quân đôị, nên anh bàn với mọi người:

Mình phải thay đổi chỗ ẩn trú, sợ bọn này biết mình tay không không chống cự nổi với vũ khí chúng có thể sẽ mang theo. Phải tìm cách bảo vệ tính mạng mình, nhất là sự an toàn cho mấy em gái kia.

Nghe anh nói mọi người dắt dìu nhau đi xuống mạn dưới cách đó vài cây số và vạch cây đi sâu vô rừng. Chúng tôi biết đã bị gạt, nhưng không hiểu vì sao. Thụ đã có một chuyến làm ăn trót lọt, đáng lẽ y cần giữ uy tín để làm những chuyến khác. Lo sợ, tức giận, nhưng ai cũng phải tạm quên để tính chuyện sống còn. Sau khi yên ổn chỗ ẩn trú, moị người lại thấy cơn đói trở về, dữ dội hơn đêm qua. Nhất là đứa nhỏ con Hồng, nó cứ khóc tỉ tê, dai dẳng.

Đến chiều trời lại đổ mưa. Không lều bạt, mọi người lại chaỵ ra hốc ̣đá tránh những hạt mưa gắt gao, những cơn gió ào ạt. Vượng và Vạn đem mấy ca nhựa lượm được trên bãi ra hứng nước mưa. Gần hai ngày nhịn đói và khát, mọi người bắt đầu kiệt sức. Khi cơn mưa tạnh, ai nấy uà ra múc nước mưa đọng trên các lỗ nhỏ trên ghềnh đá đổ vô lon, sợ ngày mai nắng nước sẽ bốc hơi. Sau mấy ngụm nước mưa moị người lấy laị được chút sinh khí, nhưng cái đói laị hành hạ bao tử dữ dội hơn. Hai ngày qua không thuyền ghe nào lai vãng, ai cũng bị ám ảnh cái chết vì đói trên biển vắng. Tôi cay đắng cho định mệnh của mình và chợt thương cha mẹ và các em da diết. Tôi ra đi, dù biết là sẽ bị khổ cực muôn vàn nhưng không trông đơị cái chết quạnh hiu thê thảm như thế này. Giấc mơ gửi tiền và quà cáp vể nuôi gia đình đang tan biến vào biển khơi mù mịt. Buổi chiều tôi và con ra bãi biển, dõi mắt trông chờ một con tầu. Thấy một con gà chết dạt vào bờ, tôi mừng quýnh. Vi trùng hay bệnh tật lúc này không làm tôi lo lắng nữa. Tôi bảo con: 

- Mình lượm con gà này vô trong kia nướng lên để moị người cùng ăn.

- Ghê quá mẹ ơi! Gà chết trôi…

- Nó chết trên biển, thì coi như mình ướp muối!

Con tôi lưỡng lự rồi cầm con gà đưa lên mũi ngửi:

- Không thấy hôi. Mà mẹ có đem theo thuốc trị tiêu chảy phải không?

- Ờ, có.

Mọi người thấy chúng tôi trở về với con gà thì tỉnh hẳn người. Sau khi kê một bếp nướng bắng mấy hòn đá, tôi bảo:

- Mấy anh vơ củi rồi châm bếp hộ, tôi và Hồng đi vặt lông. 

Lúc đó mấy người đàn ông mới ngẩn ngơ:

- Trời, đi vội quên cả chiếc Zippo ở nhà thằng Thụ!

Tôi trấn an:

- Tôi có. Đi vượt biên riết nên quen. Không hút thuốc nhưng lúc nào cũng thủ hộp quẹt và đèn pin.

Sau một tiếng đồng hồ mỗi người chia nhau ăn vài miếng cho đỡ cồn cào bao tử. Đêm đó chúng tôi gom cây và củi khô trên bãi đốt lửa vừa để sưởi ấm vừa làm dấu hiệu kêu cứu. Đàn ông chia nhau thức giấc canh chừng thú dữ, cây gậy để sẵn bên cạnh. Thỉnh thoảng tôi nghe tiếng gầm vẳng lại từ những hòn đảo kế bên, nghe như tiếng cọp. Tôi rùng mình kinh hãi. Rồi trong giấc ngủ chập chờn tôi mơ thấy mình đang uống ly trà đá và ăn một dĩa cơm gà quay. Giật mình tỉnh giấc tôi ngao ngán với hoàn cảnh thực tại. Khát nước làm cho cơ thể tôi mỏi mệt và tôi hay bị hoa mắt, chóng mặt. 

Sáng hôm sau mọi người thức giấc trong nỗi lo âu trước một ngày nữa đói và khát. Chúng tôi dẫn nhau ra mỏm đá xa nhất rồi ̣đưa mắt nhìn quanh, hy vọng mong manh có con tầu nào đó đi ngang. Trong khi đó, các cô gái và vài cậu trai xuống các kè đá gỡ mấy con hà đem vào nướng ăn lót dạ. Tôi đau lòng khi thấy con tôi cố gắng nuốt trôi những con hà mà nó đã gỡ từ những hốc đá bằng mấy chiếc muỗng gẫ̃y lượm được đâu đó. Nó cho tôi xem hai bàn tay rướm máu vì bị đá và hà làm trầy sướt. Bỗng tôi nghe nhiều tiếng reo hò “ Tầu đến, có tầu đến". Vượng quay về phía mấy cô gái, noí nhanh:

- Mấy em gái đi vào rừng trốn ngay bây giờ. Biết đâu chẳng là tầu hải tặc?

Còn lại trên ghềnh đá chỉ có đàn ông. Khi con tầu lại gần, họ cởi áo làm cờ vẫy goị. Chiếc tầu có vẻ là tầu buôn, trên boong có ba bốn người đàn ông mặc quần áo dân sự. Họ chỉ trỏ và nhìn nhau như tham khảo ý kiến. Sau mấy phút ngắm nhìn họ vào bên trong và con tầu từ từ ra khơi, không nhỏ một chút tình thương dù chỉ với vài can nước hay mấy goí mì rẻ tiền. Chiếc tầu đã khuất mà moị người vẫn đứng ngẩn ngơ vì thất vọng. Tôi khóc không nước mắt. Hình ảnh cha già mẹ yếu lại chập chờn ẩn hiện. Rồi tôi hối hận đã đem con vào chỗ chết.

Suốt mấy ngày liên tiếp không có thêm một chiếc tầu nào ̣đi ngang. Thấy moị người đã quá kiệt sức tôi rủ Vạn và Vượng đi sâu vào rừng tìm thức ăn. Đi ngang một buị cây tôi thấy một đám lá giống loại lá mà em gái tôi hay mua về làm sương sáo bèn bảo hai người đàn ông cắt hết đem về chỗ trú ẩn. Sau khi vò nát số lá trong một can nhựa, tôi múc nước biển đổ vào rồi tiếp tục vò tiếp. Sau đó đổ qua một can khác lọc cho hết bã lợn cợn rồi ng̀ồi chờ. Hai tiếng sau, nước bắt đầu đông đặc. Moị người mừng rỡ vì ít nhất cũng có chút gì bỏ bụng. 

Một ngày nữa trôi qua. Bây giờ đoàn ngườ̀i không ngủ trong rừng hay trong hốc đá nữa. Chúng tôi nằm quây quần quanh đống lứa đốt suốt ngày đêm cho khỏi lạnh và đỡ sợ thú rừng. Đàn ông thanh niên thay phiên nhau canh gác . Mọi người tự hiểu có lẽ họ không còn sống được bao lâu nữa. Trong thâm tâm, tôi không muốn chấp nhận ý nghĩ chúng tôi sẽ chết, sẽ bõ xác trên hòn đào hoang vu này. Tôi bỗng trở nên ngoan đạo, đọc kinh cầu nguyện hằng đêm xin cho đoàn người qua khỏi cơn hoạn nạn để về nhà, về với cuộc sống tuy gian khổ nhưng có người thân, có gia đình. Đang khóc thầm tôi chợt thấy hai đốm sáng từ từ tiến lại chỗ chúng tôi. Thân thể tôi tê dại trong nỗi sợ hãi. Tôi cố nhẹ nhàng lết lại gần Vạn và thì thầm cho anh biết có con vật lạ đang tiến về phía chúng tôi. Vạn tỉnh ngủ trong giây lát rồi với tay cầm khúc cây anh vẫn để bên mình. Nó đứng một chỗ, hai con mắt ngời sáng trong ánh lửa bập bùng. Khi Vạn từ từ ngồi dậy nó bước lùi vài bước rồi quay mình chạy biến vào đêm tối. Tôi thở phào, mừng rỡ trong nhịp tim đập loạn xạ. Vạn bảo:

Nhìn nó giống một con chó lớn. Chắc không phải chó sói.

Tôi góp ý:

- Nếu là chó thì…phải có người trên đảo này? Hay mai ta đi chỗ khác xem sao?

Sáng sớm hôm sau chúng tôi nhổ trại lên đường. Phần đông đã mệt mỏi rũ rượi , nhưng nghe nói có chó ai cũng lên tinh thần và thêm sinh khí. Phải đi trên những mỏm đá gập ghềnh, tôi đề nghị lượm giây thừng trên bãi biển, kết lại thành một sợi giây dài rồi nắm chặt giây, nối đuôi nhau mà đi cho khỏi ngã. Cứ một tiếng tôi lại rủ mọi người ngâm mình dưới nước một lát cho cơ thể đỡ khô vì mất nước.

Khỏang giữa trưa chúng tôi không đến một khúc quanh và ai nấy sững sờ khi thấy nhiều cây dừa nằm dọc ven biển. Sau vài phút im lặng vì quá mừng ai nấy cùng reo lên, “ Có nước uống. Có nước uống!” rồi mau mắn chạy ào đến, ngửa mặt nhìn lên những trái dừa đang đong trưa trên cao, lúng túng không biết làm cách nào hái được những trái dừa quí báu kia. Con tôi muốn trèo lên nhưng Vạn không đồng ý, vì lúc này ai cũng đuối sức, chắc không có đủ hơi để bẻ những trái dừa vốn rất cứng và dai. Sau khi bàn tán chúng tôi đồng ý đi lượm thêm giây, kết thành một sợi thừng cho thật chắc, quăng lên ngọn dừa rồi cùng nhau đu kéo cho dừa rụng. Phải cả tiếng đồng hồ chúng tôi mới hái được một trái. Tuy mệt mỏi nhưng ai cũng cố gắng hết sức để kéo dài sự sống, hy vọng một phép lạ đem chúng tôi ra khỏi tình thế nguy nan hiện tại. Trong khi mọi người tiếp tục đu giây hái dừa thì con tôi đi vào rừng. Lát sau nó trở lại với một con dao rựa đã rỉ sét. Chúng tôi chia nhau uống dè sẻn những muỗng nước dừa ngọt lịm và say sưa ăn cùi dừa tuy cứng mà ngon như chưa bao giờ được ăn món gì ngon như vậy. Cái đói khiến món ăn khiêm tốn nhất thành món cao lương mỹ vị.

Chúng tôi xách theo vài chai nước dừa, tiếp tục cuộc hành trình và dự định sẽ trở lại chỗ này nếu hy vọng chỉ là ảo vọng! Chí ít chúng tôi cũng đã có một nguồn lương thực quí báu để kéo dài sự sống, chờ phép mầu. Khoảng năm giờ chiều, chúng tôi đến một khúc quanh. Qua khỏi khúc quanh chúng tôi lại một lần nữa bật lên những tiếng reo mừng phấn khởi. Trước mặt chúng tôi là một miếu thờ bằng gỗ mái lá! Trên sàn miếu là một bàn thờ nhỏ và mấy lọ nhang đã tàn. Vượng lên tiếng đầu tiên:

- Thế nào cũng có người ở đâu đây, mình phải ráng đi mau trước khi trời sụp tối.

Chúng tôi bước mau vì đã thấy chút ánh sáng lấp ló cuối đường hầm. Khoảng một tiếng đồng hồ sau chúng tôi sững sờ thấy mình đứng trước hai nhà sàn khá rộng. Trước nhà là một khoảng sân lớn hình như để phơi cá tôm vì tôi thấy có nhiều giàn giá và mâm sấy. Người đàn bà đứng trên hàng ba gọị vào bên trong khi thấy đoàn người ốm đói đứng như trời trồng trước sân. Hai ba người đàn ông chạy ra, xì xào thứ tiếng chúng tôi đoán là Cambodia. Một ông đứng tuổi bước xuống, lại gần chúng tôi và hỏi bằng tiếng Việt khá sõi:

- Mấy người là dân “con chuột” [vượt biên] Việt Nam phải không?

Tôi vội xác nhận:

- Dạ đúng. Chúng tôi bị đói cả tuần nay, xin ông giúp đỡ.

- Vậy là mấy người bị gạt rồi đó. Thái Lan không nhận thuyền nhân cả tháng nay!

Tôi chợt hiểu. Thụ biết tin này nhưng không cho chúng tôi hay. Y nhẫn tâm “đem con bỏ chợ”, đẩy chúng tôi vào chỗ chết. Tôi năn nỉ:

- Xin ông mở lòng thương, giúp chúng tôi trở về Việt Nam.

Ông nhìn chúng tôi bằng ánh mắt thương hại rồi quay lại nói mấy câu với người đàn bà. Bà gật đầu rồi đi vào trong. Lát sau bà bưng ra một ấm trà và mấy chiếc ly nhựa. Ông già dặn dò: 

- Tui nói bà nấu cháo cá cho moị người ăn, nhưng tôi dặn trước, mỗi người chỉ được ăn một chén thôi. Nhịn ăn cả tuần lễ nay bao tử teo lại, không làm việc. Nếu cho ăn nhiều quá nó bể ra là mình chết.

Trong khi chờ đợi cháo chín, Vạn kể cho ông ta nghe hành trình tìm tự do trong nỗi chết của chúng tôi hơn một tháng qua. Nghe chúng tôi nói phải ăn con hà để chống chỏi với cái đói ông lắc đầu thương cảm. Ông cho chúng tôi biết ông đã từng sinh sống bên Việt Nam một thời gian, có biệt danh Ông Hai, vì vậy ông noí tiếng Việt khá rành. Ông cũng biết nhiều người Việt Nam đã sang được Thái Lan qua đường giây ở Kompong Cham. Có vài nhóm tổ chức mời ông tham gia, nhưng vì lý do nào đó ông không nhận lời. Hiện nay vợ chồng ông và mấy người bà con hành nghề đánh bắt hải sản, thỉnh thoảng về đất liền bán sản phẩm và thăm gia đình. Đôi khi công an biên phòng Cambodia ghé địa điểm này, vừa để ăn uống nhậu nhẹt, vừa “ nhòm ngó” xem ông và gia đình có làm ăn phi pháp gì không. 

Vạn hỏi ông nghĩ sao về tình trạng của chúng tôi, thì ông bảo chúng tôi không có cách nào hơn là trở về Việt Nam. Sang Thái Lan lúc này là một ảo vọng. Tôi xin ông giúp cho mọi người phương tiện trở về. Ông nhìn tôi buồn bã, chép miệng:

- Có mỗi cách duy nhất, là goị công an biên phòng chở mấy người vô Kompong Cham. Tôi không thể chở mấy ông mấy bà vô được, vì họ sẽ cho là tôi tổ chức nhưng thất bại. Tôi và mọi người ở đây tất nhiên sẽ ngồi tù mút chỉ.

Sau khi cho chúng ăn cháo và nghỉ ngơi một lúc, ông Hai cho biết ông ra đồn biên phòng báo công an. Ông rất ân hận nhưng không có cách nào khác để cứu chúng tôi khỏi vòng tù tội. Ông an ủi, “ Vào tù ít lâu còn có ngày về, chứ chết là hết”. Tôi lấy ra chiếc nhẩn vàng y một chỉ, đưa tận tay ông, nói chúng tôi xin chi trả tiền xăng dầu phụ ông. Ông cảm động và cám ơn.

Khoảng nửa đêm, tôi nghe tiếng thuyền máy ngừng ngoài bãi và sau đó là những tiếng xì xào trước sân. Tôi vẫn chưa ngủ, lòng ngổn ngang nhiều nỗi âu lo. Tuy mừng là sẽ được sống, được có ngày đoàn tụ với gia đình nhưng tôi không khỏi băn khoăn, lo sợ những chuyện không may khác có thể đến với chúng tôi khi lọt vào tay biên phòng Cambodia. Mấy phút sau, ông già vô đốt đèn đánh thức moị người dậy. Thấy hai người lính Cambodia còn trẻ, súng trong tay đứng chờ với vẻ tò mò, chúng tôi líu ríu thu gom túi xách rồi theo họ ra thuyền. Từ nhà ông Hai đến đồn biên phòng mất hơn nửa tiếng. Trăng đêm nay vẫn sáng, nhưng trong lòng chúng tôi trĩu nặng ưu phiền nên không còn thấy đẹp và thơ mộng như cách nay hơn một tuần. 

Đồn biên phòng là một hòn đảo nhỏ giữa khơi, gồm ba dãy nhà vách tôn tường xi măng. Lúc chúng tôi đến, người ta dẫn vào căn chính giữa. Trong nhà tôi thấy đã có nhiều người bị giam giữ, người nói tiếng Việt người nói tiếng Miên. Hỏi thăm thì họ cho biết họ đã bị bắt trước đây một tuần trong lúc còn lênh đênh trên biển tìm cách vào Thái Lan. Theo họ, ngày mốt mới có tầu lớn ra dẫn độ vô đất liền. Sau khi chúng tôi ngồi nghỉ chừng một tiếng đồng hồ, người mặc sắc phục công an Việt Nam đi vào lên tiếng:

- Nhóm người mới đến chuẩn bị vô làm việc, theo tôi vô văn phòng liền bây giờ. [Hôm sau tôi được biết anh ta là công an Việt Nam, hợp tác với công an Biên Phòng Cambodia để “xử lý” những người Việt Nam đi chui qua ngả này]

Văn phòng nằm ngay đầu nhà, được ngăn cách với phòng tạm giam bằng bức vách gổ. Phòng chia làm hai phần. Phần ngoài cho tù nhân ngồi chờ, phòng trong là chỗ “làm việc”. Tên công an Việt đứng trông chừng bọn tôi khoảng mười phút thì có hai công an Cambodia đi vào, mặt mũi đỏ lừ, hơi rượu hơi bia nồng nặc. Tên công an Việt bảo chúng tôi : 

- Mấy người phải khai thật lý lịch. Khai sai là bị tù mút mùa.

Người đầu tiên bị gọi vô làm việc là cô cháu gái lớn của chị Hồng. Tôi nhắm mắt, không dám nghĩ đến những chuyện kinh khủng có thể sắp xảy ra cho cô. Lòng tôi quặn thắt. Tôi đưa mặt nhìn chị Hồng để chia xẻ nỗi lo. Mười phút trôi qua nặng nề, tôi nóng lòng như lửa đốt, chỉ sợ nghe tiếng thét của cô bé. Nhưng mười phút sau cô trở ra, gương mặt bẽn lẽn, laị ngồi gần Hồng. Hồng thì thầm:

- Nó khám xét thế nào…cháu có …sao không?

- Nó rờ rẫm khắp người, rờ cả chỗ kín, chắc xem mình có giấu vàng bạc gì không. Nó kiếm được chiếc nhẩn cháu giấu trong xú chiêng. Chỉ vậy thôi.

Tôi thở phào, lòng nhẹ nhõm. Bọn tôi ai cũng phải cởi bỏ áo quần, chỉ được mặc đồ lót trong lúc bị xét hỏi. Chúng đâu có bắt khai lý lịch, vì chuyện này sẽ do công an trong đất liền đảm nhận. Tôi bị mất hai chiếc nhẫn vàng y hai chỉ vì khâu trong gấu áo, nhưng chiếc lắc vàng không bị khám phá vì tôi may vào lưng quần. Con tôi cũng không mất sợi giây chuyền năm chỉ vì tôi may rất khéo vào đáy quần của nó. Tuy nhiên chiếc đồng hồ Seiko không thoát.

Sáng hôm sau, tôi ngồi ngoài sân nhìn cảnh tượng chung quanh mà lòng ngổn ngang trăm mối trước một tương lai mù mịt thì thấy tên công an Việt Nam đi ngang. Chợt lóe lên một ý tưởng táo bạo, tôi lên tiếng:

- Chú công an, chú cho tôi hỏi thăm…

Y ngừng lại chờ đợi. Lấy hết can đảm, tôi nói:

- Chú có cách nào giúp chúng tôi khỏi bị tù lúc vô đất liền không?

- Chị dỡn hoài. Đi vượt biên bị bắt lại mà không bị tù mới là lạ. Nhóm chị mấy người? Dô hồi đêm phải không?

- Dạ đúng. Tụi tôi có tám người. Nhưng nếu chú có cách nào giúp, tôi hứa xin đền ơn.

Không hiểu sao tôi thường gặp may một cách kỳ lạ, không giải thích được. Hễ đau là gặp thầy gặp thuốc. Đi vượt biên mấy lần bị bắt lại, gặp công an tử tế, đã không ăn mãi lộ còn giúp đỡ nọ kia. Thỉnh thoảng coi bói bài, người ta nói tôi có “vong độ”. Tôi chẳng biết vong là ai, không tin, nhưng phải công nhận tôi hay gặp hên. Tin vào số mình nên tôi thử lại một lần nữa với tên công an này. Và có lẽ lần này y đang đói khách, chưa có tài ngoài bỏ túi nên y ngần ngừ:

- Mấy người ở đâu mà qua đây? Ai dẫn đường?

- Dạ, tui tôi dân Saì Gòn. Đi theo đường giây của một ông tên Ba.

- Có cả trăm ông tên Ba chị ơi. Hổm rày trại bên đó đóng cửa rồi sao mấy người còn dám đi? Bị gạt rồi.

- Tuị tôi không biết nên giờ mới kẹt. Chú làm phước cứu tuị tôi, tụi tôi xin đền ơn. 

Sau một hồi chuyện trò trả giá, cuối cùng y chịu móc nối cho tụi tôi trốn tù lúc vào tới đất liền. Theo y, y phải chia chác với đồng bọn trong tổ làm việc mỗi khi có mối lớn, nên tám người chúng tôi phải trả cho bọn họ hai lượng vàng. Tôi đồng ý, nhưng nói phải tới chợ Kompong Cham bọn tôi mới có thể tìm người mượn vàng đưa cho y, chứ hiện giờ bọn tôi truị lũi, không còn một chỉ trong mình. Y cười, nói thẳng:

- Chị đừng hòng gạt tuị tôi. Mấy người như cá trong rọ, tụi tôi bắt lại khó khăn gì.

- Dạ, tôi biết điều đó. Xin hết lòng cám ơn chú. Không dám giấu chú, tôi còn giữ được một chiếc nhẫn một chỉ sau buổi lục soát đêm qua, xin tặng riêng cho chú. Chiều nay tôi xin trao cho chú làm tin.

Rồi y cho tôi biết cách trốn. Khi tầu vào đến bến, bọn tôi phải chờ lúc sau cùng mới lên cầu tầu. Trong lúc nhốn nháo vì có vài trăm người bị áp tải, bọn tôi chia ra làm hai nhóm nhỏ đi về phía tay phải, nơi có chiếc cổng nhỏ dành cho nhân viên cảng sang nhà bếp và nhà tạm trú. Khi đó y sẽ liên lạc đồng bọn, dàn xếp cho hai chiếc xe lambretta ba bánh đến đón chúng tôi cách đó mấy trăm thước rồi chở chúng tôi ra chợ. Chúng tôi phải thanh toán vàng cộng thêm tiền xe chuyên chở cho tài xế ngay ngoài chợ. Nếu không có vàng thì họ sẽ kêu công an bắt tụi tôi lại. 

Tôi tìm Hồng, thầy Vượng và Vạn để thông báo việc móc nối và giá cả phải chi. Gom lại, chúng tôi sẽ có đủ số vàng đã hứa. Còn chuyện vay mượn ngoài chợ là tôi nói dối, sợ y biết mình còn giấu được vàng trong mình thì nguy. Sau nhiều chuyến vượt biên thất bại, chúng tôi đã học được cách dương đông kích tây như vậy để phòng thân.

Hôm sau, tầu lớn đến đảo đón dân vượt biên về đất liền. Đó là một tầu dân sự chở hợp đồng. Mọi việc diễn tiến đúng như dự định giữa tôi và tên công an. Qua mấy tiếng đồng hồ căng thẳng, hồi hộp, cuối cùng chúng tôi cũng ra đến chợ Kompong Cham và thanh toán sòng phẳng với tài xế lambretta. Tôi nhanh chóng bao một chuyến xe chở mọi người về chợ Nam Vang sau khi đã kiếm được chỗ thay đổi y phục cho bớt bẩn thỉu và hôi hám.

Tại chợ Nam Vang tôi lại hối hả tìm cách trở về Saì Gòn. Lúc này chúng tôi không còn của cải gì ngoài một số tiền lẻ để ăn uống qua loa. May sao, tôi móc nối được hai bà buôn hàng lậu. Họ đồng ý dẫn chúng tôi về Saìgon, và khi về đến Sàigon chúng tôi phải trả cho họ mỗi đầu người ba chỉ vàng. Đang trong thế kẹt chúng tôi đồng ý không dám kỳ kèo một lời, nếu không muốn nói là mừng như chết đi sống lại. Hôm sau chúng tôi khởi hành. Sau nhiều chặng kiểm soát gắt gao và những chuyến xe chuyến tầu ngoắt ngoéo để tránh biên phòng, chúng tôi đã về đến Sài Gòn chiều 28 tết khi thành phố đang chuẩn bị đón Xuân và chợ hoa đang sắp sửa khai trương dù không còn rộn rã như những năm chưa có cộng sản và nón cối dép râu.

Bước chân vào nhà, bố mẹ tôi ôm chặt con và cháu trong những cánh tay già nua khẳng khiu và cả gia đình oà khóc trong buồn vui lẫn lộn. 

Cứ mỗi lần Tết đến tôi lại nhớ những ngày đói khát trên đảo và buổi chiều cuối năm trở về nhà trong nước mắt mừng vui. Vì đã qua gần mười năm thiếu thốn, kham khổ dưới chế độ cộng sản, rồi thêm hơn một tuần đói khát trên hoang đảo, phải ăn hà và gà chết trôi, nên sau khi sang Mỹ định cư, chúng tôi không bao giờ bỏ mứa hay vứt đồ ăn vào thùng rác. Nhiều khi lỡ nấu quá nhiều đồ ăn chúng tôi luôn bảo nhau ăn thêm vào hôm sau, hay chế biến lại đồ ăn thừa cho đỡ ngán. Tôi vẫn nhớ như in cái thèm day dứt một ly nước lạnh và một dĩa cơm gà lúc nằm thoi thóp trên ghềnh đá năm xưa.

Huyền Thoại Thịnh Hương

Wednesday, October 30, 2019

Chuyện Hai Căn Nhà Bỏ Hoang

Huyền Thoại Thịnh Hương

Bà Phụng về ở khu này hơn một năm rồi mà hai căn nhà đó vẫn để hoang. Một căn nằm trên con lộ chính, lưng chừng đồi. Căn kia cách nhà bà khoảng năm trăm mét, nhưng nằm trên một con đường khác. Thỉnh thoảng đi bộ bà hay ngừng lại nhìn, thắc mắc không biết lý do gì mà người ta để nhà rách rưới thê thảm trong khi thị trường địa ốc cứ leo thang vùn vụt. Cửa chính của căn nhà đã bị xây bít lại, và những bậc tam cấp từ sân vào nhà cũng được phá bỏ. Điều đáng tiếc nữa là căn nhà có một địa thế rất tốt, vì từ ban công sau nhà người ta có thể nhìn bao quát nửa vùng vịnh. Nhiều lần bà mong có người hàng xóm nào đó ở ngoài sân để hỏi thăm, nhưng tháng này qua tháng khác bà vẫn chưa có dịp. Bà không thể gõ cửa nhà người ta để hỏi chuyện riêng tư của người khác. Rồi bà mong căn nhà được rao bán để nó không là một cái gai nhọn trong mắt láng giềng. Thật vậy, vì giữa một khu xóm an bình, sạch sẽ mà có một căn nhà để hoang như thế quả là không đẹp mắt chút nào.

Căn nhà lưng đồi nhìn tươm tất hơn, nhưng cửa nhà xe bị gãy đổ , được bít lại bằng những tấm ván ép. Một buổi sáng bà đi bộ, thấy ông già ở căn nhà kế bên đang tỉa cây. Thấy bà, ông giơ tay vẫy và chào “Good morning”. Bà mỉm cười, chào đáp lễ rồi tiếp tục cuốc bộ. Bỗng bà chợt nhớ đến thắc mắc lâu nay của mình nên ngừng bước, hỏi ông: 

- Xin lỗi, tôi có thể hỏi ông vài điều không ạ?

- Xin bà cứ hỏi. Hy vọng tôi có câu trả lời cho bà. 

- Dạ, tôi thấy căn nhà kế bên không ai ở đã lâu mà không thấy có bảng rao bán. Nhà bỏ không, uổng quá!

Ông hỏi lại bà:

- Vậy chắc bà mới đến đây?

Bà nói bà dọn đến đây đã hơn một năm, thì ông gật gù:

- À, vậy nên bà không biết chuyện gì đã xảy ra trong căn nhà này. Năm ngoái ngân hàng đã cho lên “list” bán nó rồi, nhưng saú tháng qua rồi saú tháng khác lại đến, không ai dám mua căn nhà đó. Bây giờ nghe đâu họ đã cho đấu giá. Tôi mong cho có người mua, chứ ở kế bên căn nhà hoang, tôi cũng không thích thú gì. Nhìn nó là lại nhớ đến chuyện không may của chủ cũ.

Bà Phụng đoán chừng chuyện không may đó có thể là một bi kịch, nên bà nhân cơ hội hỏi cho rõ ngọn ngành:

- Ông có thể kể sơ qua cho tôi biết được không? Nhiều lần đi ngang, tôi cũng thắc mắc và tiếc cho một căn nhà khá đẹp mà không ai ở.

Ông bảo:

- Nếu bà không vội, mời bà vào trong này, chúng ta sẽ ngồi ngoài hiên nói chuyện. Sẵn dịp xin làm quen với bà. Tôi tên Eugene, ở đây đã bốn chục năm. Vợ tôi mất cách nay năm năm vì biến chứng bệnh tiểu đường.

- Xin chia buồn về bà nhà. Tôi tên Phụng. Tôi ở chung với con gái và chồng con nó. Nhà phía trên kia, đi bộ chừng mười phút là tới.

Ông già thật tình:

- Tôi không thích ở chung với con chaú bà ạ. Môĩ tuần đến thăm nhau là tốt rồi. Khi nào không còn đủ sức khỏe thì tôi sẽ bán nhà, vào ở trong viện dưỡng lão, khỏi phiền chúng nó.

Bà Phụng hiểu là người Mỹ có đời sống rất riêng tư và tự lập. Bà theo ông vào ngồi trong bộ ghế gỗ trước hiên nhà. Ông xin phép vô lấy nước mời bà. Sau khi yên vị, Eugene thố lộ:

- Tôi đã từng sang chiến đấu bên Việt Nam một nhiệm kỳ, và tôi cũng có mấy người bạn Á Châu trong những năm gần đây. Tôi hiểu phong tục của Á Châu nặng tình gia đình, và con cái thường không muốn để cha mẹ mình vào viện lúc tuổi về chiều. 

Bà phụng gật đầu xác nhận:

- Vâng, ông nhận xét rất đúng. Nhưng bây giờ cũng có nhiều người già trong cộng đồng chúng tôi vào viện dưỡng lão vì con cái ai cũng phải đầu tắt mặt tối đi làm để trả tiền nhà. Tuy có buồn, nhưng lại được chăm sóc đúng mức. Chỉ cần con cái lưu tâm, thăm viếng thường xuyên là mãn nguyện lắm rồi, ông ạ!

Ông già gật đầu:

- Vâng, bà nói đúng. Về già chúng ta chỉ cần món ăn tinh thần, bà nhỉ.

Rồi ông đổi giọng:

-Bây giờ, tôi sẽ kể chuyện gia đình kế bên cho bà nghe nhé!

“Họ mua căn nhà này cách đây khoảng mười năm, lúc vợ chồng chủ cũ về hưu, dọn nhà đi tiểu bang khác. Vợ chồng chủ mới là người Thái, có hai con nhỏ, một bé gái bốn tuổi và bé trai hai tuổi. Người chồng tên Jimmy, cô vợ tên Nancy. Cả hai vợ chồng đều đi làm, nên mỗi sáng chồng chở con gái đến trường mẫu giáo, cô vợ ẵm thằng em và túi đồ ăn đến nhà bà giữ trẻ rồi buổi chiều đón cả hai đứa con về vì chồng cô làm tài xế chở hàng cho một hãng bán đồ nội thất ở Santa Clara, thường hay bị kẹt xe trên hai xa lộ l-880 va 237. Theo tôi biết, cô vợ làm thư ký cho một văn phòng địa ốc lớn ở thành phố kế bên. Họ có vẻ rất hạnh phúc. Mỗi lần đi nghỉ đều sang cho tôi biết để ngó chừng nhà cửa cho họ. Cuộc sống êm lặng đó kéo dài nhiều năm…

Cho đến một đêm cách đây ba năm, tôi đang chuẩn bị đi ngủ thì thấy mấy xe cảnh sát tới nhà họ, nhá đèn sáng trưng. Tôi nghĩ nhà bên đó có tai nạn hay đau ốm gì , nhưng không thấy xe cứu thương và chữa lửa như thường lệ. Tôi bước ra nói chuyện với một trong mấy ông cảnh sát, và quá ngạc nhiên khi ổng cho biết đây là một ca bạo hành gia đình, domestic violence, người chồng đã đánh vợ. Bà vợ té, đập đầu vào cạnh bàn, máu chảy lênh láng. Vậy mà thằng chồng bỏ đi, không thèm ngó ngàng gì đến vợ con. Nancy đành phải đưa hai đứa con ra xe, tự lái đến nhà thương.

Sau khi cấp cứu, bác sĩ hỏi Nancy nguyên do nào bà bị thương. Nancy - giống như phần đông phụ nữ Châu Á - muốn giấu chuyện nhà, không muốn vạch áo cho người xem lưng, nên nói dối, bảo bị vấp té. Tuy nhiên, Danielle - đứa con gái – lúc đó đã hơn mười tuổi, nhất định khai sự thật. Nó sanh đẻ bên Mỹ, được nhà trường giáo dục kỹ lưỡng về quyền lợi, về lẽ phải và sự trung thực nên nó không muốn nói dối. Sau vài tiếng chờ Nancy ổn đinh và chắc chắn là cô không bị biến chứng nguy hiểm nào khác, bệnh viện kêu cảnh sát để báo cáo sự việc, vì luật pháp đòi hỏi họ phải cho chính quyền biết những hành động bạo hành trong gia đình, dù nạn nhân từ chối không thưa gửi .

Ba xe cảnh sát hộ tống mấy mẹ con về, vừa để bảo vệ an toàn cho họ, vừa để bắt ông chồng về đồn. Nhưng Jimmy đã cao chaỵ xa bay. Không bắt được người chồng, hôm sau cảnh sát gửi lệnh, đòi anh ta phải đến đồn để trả lời về hành động hung hãn của mình dù vợ anh ta không kiện thưa, muốn bãi nại. 

Jimmy không đến đồn theo giấy mời, nên bị lệnh truy nã. Cảnh sát cho anh ta vào hệ thống truy tầm, hễ gặp anh ta lúc nào là tóm cổ lúc đó. Một ngày kia, Jimmy vượt đèn đỏ nhằm lúc có cảnh sát thường phục đi sau. Thế là anh ta bị bắt vô tù, hai hôm sau gia đình phải “bail” ra chờ ngày xét xử. Ông tòa thấy anh ta chưa hề có tiền án, nên cho án treo - probation – trong hai năm, và phải đi làm công ích bốn chục giờ.

Nancy cho tôi biết gần đây chồng cô bắt đầu ghiền bài bạc. Viện cớ trên đường về bị kẹt xe trầm trọng, nên anh ta vào mấy sòng bài chơi, chờ sau tám giờ mới lái xe về. Bà biết mà, trong thung lũng hoa vàng này có ít nhất ba sòng bài. Nào là Garden City, Bay 101 rồi mấy năm gần đây laị thêm M8trix. Lúc đầu Jimmy chỉ vô sòng bài chờ cho hết kẹt xe, nhưng vi trùng đỏ đen tấn công anh một cách rất từ tốn, rất êm đềm. Cho tới lúc anh ta nhận ra mình thiếu vắng một cái gì rất thân thương, không gặp là nhớ không chịu nổi. Anh ta bị ghiền đỏ đen lúc nào không hay. Từ một người chồng tốt, một người cha gương mẫu Jimmy đã biến thành một kẻ vô trách nhiệm. Lương bao nhiêu anh ta đem đến tặng hết cho mấy sòng bài. Càng thua anh ta càng nóng gỡ, và càng gỡ anh càng thua. Chuyện cứ thế lập đi lập lại hai ba năm. Nancy nhiều lần chạy sang khóc với vợ chồng tôi, và than thở là chồng đã bán hết nữ trang của cô để đánh bạc. Cô nói cô sẽ phải khai phá sản và bán nhà trả nợ cho những người đã cho chồng cô vay tiền. 

Một buổi chiều, Danielle hớt hải chạy sang gõ cửa nhà tôi và lắp bắp báo tin dữ, là cô vừa đi học về thì thấy cha mẹ cô đang cãi nhau dữ dội về tiền bạc. Cô vô phòng trốn phong ba thì nghe hai tiếng nổ đinh tai. Sợ hãi, cô hé cửa nhìn thì thấy mẹ nằm sấp trên sàn nhà, máu chảy lênh láng. Cha cô vội vàng ra khỏi nhà, trong tay vẫn còn cầm khẩu súng nhỏ. 

Tôi gọi cảnh sát. Nancy đã chết ngay trong nhà, trước mặt đứa con gái mười bốn tuổi. Cảnh sát liên lạc với thân nhân của họ để chăm sóc hai đứa trẻ bỗng trở thành mồ côi. Ba hôm sau, Jimmy tự nạp mình tại đồn cảnh sát . Anh ta bị tòa tuyên án hai mươi năm tù vì tội ngộ sát, “second degree manslaughter”.

Căn nhà được nhà bank rao bán hai lần, nhưng có lẽ ảnh hưởng cái chết thê thảm của người vợ nên không ai trả giá. Cha mẹ Nancy mới đây đến nhà làm lễ cầu siêu nhân ngày giỗ của cô. Tôi nghe nói nhà bank đã bán đấu giá căn nhà này, và một cặp vợ chồng người Mỹ đã mua với một giá rất hời.”

Kể xong, Eugene lắc đầu, thở dài “Người ta không bao giờ chịu tin là mình có thể bị bài bạc sai khiến. Đến lúc tỉnh ngộ thì đã quá muộn”.

Bà Phụng ngao ngán:

- Ông ơi, người Việt chúng tôi có câu “Bài bạc là bác thằng bần, cửa nhà bán hết tra chân vào cùm.” Thật chẳng sai chút nào. Hy vọng ông mau có hàng xóm mới để quang cảnh bớt hiu hắt.

- Tôi cũng mong như vậy.

Bà Phụng vẫn còn một thắc mắc nữa nên hỏi tới:

- Còn căn nhà trên đường “A”, gần nhà tôi. Ông có biết vì sao nó cũng bị bỏ hoang?

- Ồ, bà ở gần đó hả? Ôi chà chà, cái nhà đó lại còn ghê hơn. Tôi nghĩ nó bị “ma ám” nên cả hai chục năm rồi có ai ở được đâu! 

Bà Phụng trợn mắt:

- Trời, ma ám? Ông không dọa tôi đấy chứ?

- Bà ơi, đời nào tôi dám doạ bà, một phụ nữ duyên dáng tôi mới được hân hạnh làm quen! Tôi ít tin vào chuyện ma quái, nhưng từ khi những chuyện không hay xảy ra ở căn nhà đó tôi bắt đầu tin có những điều huyền bí mà khoa học không thể giải thích . Để tôi kể bà nghe…

“ Hai vợ chồng nhà đó đến đây hai mươi mấy năm về trước. Tôi không quen họ nên chỉ nghe tin từ cảnh sát và những người bạn mà thôi. Đại để thằng chồng là một tay áp phe địa ốc, làm ra nhiều tiền nên cho vợ ở nhà chăm sóc con cái. Nhưng nó lại là một tay “gia trưởng” hạng nặng, một thứ “control freak”. Tháng nào y cũng rà soát hoá đơn điện thoại xem cô gọi cho những ai, nói dài bao lâu. Rồi y hạch hỏi tại sao cô nói chuyện lâu thế, rồi ra lệnh là cô chỉ được gọi năm ba phút mà thôi. Y còn không cho vợ giao thiệp với những người bạn của cô mà y không ưa! Khi hệ thống security camera vừa phổ thông một chút là y gắn máy hình khắp nhà để xem những lúc y vắng nhà vợ làm gì, có mời ai tới chơi hay không. Khi con đến tuổi đi học vợ muốn đi làm part time nó cũng không cho. Sau bảy tám năm bị chèn ép vợ nó xin ly dị. Nó bảo nếu cô ta ly dị nó thì cô nên chuẩn bị mồ mả cho cô và cha mẹ cô trước là vừa!

Một đêm hai vợ chồng cãi nhau kịch liệt, cô bắn chồng chết với khẩu súng anh ta thường đem ra múa may dọa nạt cô. Bắn chồng xong, cô gọi cảnh sát báo tin chính cô đã ra tay giết chồng vì quá uất ức. Gọi cảnh sát xong, cô tự vận cũng bằng chính khẩu súng đó. 

Mấy năm sau, căn nhà đó có chủ mới. Chủ mới sửa nhà cho khang trang trước khi dọn vào. Nhưng hễ họ bắt đầu sửa chữa là có một tai nạn xảy ra! Đầu tiên là chuyện ống nước. Nước cứ bị nghẹt không có lý do. Khi họ sửa trần nhà thì trần nhà sập vô tội vạ. Sửa nhà bếp thì điện cứ bị cúp liên tu bất tận. Sửa sàn nhà thì thợ bị tai nạn. Sửa phòng tắm thì tường bị mối ăn. Cuối cùng chủ mới phải bán lại nhà, lỗ khẩm. Người chủ sau cũng bị trục trặc như chủ trước. Kết quả, nhà bank lấy lại nhà, để trống hai chục năm không bán được vì tiếng đồn nhà có ma”.

Nghe xong chuyện, bà Phụng hơi sợ, vì nhà bà ở gần đó. Eugene trấn an bà:

- Bà không nên ngại, vì hai con ma đó chẳng làm phiền lối xóm bao giờ. Không ai thấy chúng xuất hiện lần nào, mà cũng không có dấu hiệu ma quái gì chung quanh. Chắc chúng chỉ muốn giữ ngôi nhà để còn được tự do đánh nhau mỗi ngày hay sao đó! Bà hãy tin tôi, cứ an tâm đi dạo, sẽ không bao giờ gặp ma đâu!

Từ hôm đó bà Phụng có người cùng đi bộ mỗi buổi sáng sau khi đã làm tròn nhiệm vụ đưa hai cháu ngoại đến trường. Eugène là khách mời mỗi khi gia đình bà có tiệc tùng đình đám. Ngôi nhà kế Eugene đã có chủ mới, người Mỹ, và điều đáng mừng là họ ở đó đã ba bốn tháng mà không có chuyện gì bất thường xảy ra. Eugene giải thích là cô Nancy hiền lành, nhẫn nhịn nên cô đã an lòng đi đầu thai. Còn căn nhà kia vẫn để trống, vẫn hoang tàn làm nhức mắt xóm giềng vì hai “con ma” đó chết không yên, còn sôi sục căm thù, chưa chịu tha thứ. Bà Phụng thì “tuyên bố” nếu nhà bank đồng ý bà sẽ mời linh mục hay sư cụ đến dâng lễ hoặc cúng vái cho hai con ma được siêu thoát, trả lại vẻ đẹp cho khu xóm.

Huyền Thọai Thịnh Hương

Friday, October 4, 2019

Những Cái Giá Phải Trả

Huyền Thoại Thịnh Hương

***
Hiện nay đang có tranh cãi kịch liệt trong quốc hội liên quan đến ngân sách dành cho việc xây bức tường biên giới giữa Hoa Kỳ và Mể Tây Cơ của Tổng Thống Trump nhằm ngăn chận nạn nhập cư bất hợp pháp.

Chuyện chưa ngã ngũ thì Bộ Nội An được lệnh của tổng thống, đi lùng bắt và trục xuất những dân nhập cư lậu về nguyên quán. Trong khi chờ đợi, họ bị giam giữ, tách rời con cái của họ - những đứa trẻ được sinh ra trong nước Mỹ và nghiễm nhiên trở thành công dân Mỹ ngay từ lúc lọt lòng. Các kênh truyền hình liên tục chiếu những cảnh trẻ em khóc lóc đòi cha mẹ, nhìn rất thảm não.

Những người cha mẹ này đã vào đất Mỹ bằng nhiều cách. Họ đã bơi qua con sông dữ dằn Grand Rio để mong tìm một cuộc sống tốt đẹp [khiến tôi nhớ chuyện những người Việt Nam vượt sông Bến Hải tìm ánh sáng tự do trong miền Nam sau 1954]. Họ đã phải liều mình đi bộ qua sa mạc khô khốc, nóng ban ngày lạnh ban đêm, hay nép mình ẩn trốn trong những thùng xe tải ngụy trang để vượt biên giới. Nhiều người trong số họ đã bỏ mình vì đói khát, vì ngộp thở và bị thú dữ tấn công.

Có nhiều phe phái ủng hộ quyết định này của tổng thống, vì họ sợ quyền lợi của người dân Mỹ sẽ bị cắt giảm và tài nguyên chính phủ bị khô cạn trong một tương lai không xa nếu cứ phải cưu mang những người khách không mời mà đến vô hạn định. Họ lý giải là người Mễ không bị chính quyền Mễ áp bức, họ không bị khủng bố chính trị, mà họ sang Mỹ chỉ để “tị nạn kinh tế”. 

Nhưng cũng có nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền lên tiếng chỉ trích thậm tệ cái chính sách mà họ cho là vô nhân đạo. Nhiều cuộc biểu tình đã được các nhóm này tổ chức để đả phá việc cưỡng bức hồi hương mà các cơ quan công lực không dám có biện pháp mạnh [Ngược laị, người Việt Nam trong nước bị công an đánh đập và bỏ tù vì họ dám biểu tình chống lại Tầu cộng! Chuyện lạ thế gian!]

Tình hình chao đảo này khiến tôi nhớ đến những thảm cảnh mà người Việt Nam đã trải qua khi cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam tháng 4/1975. Vì không chịu đựng nổi lối cai trị dã man và mị dân của cộng sản Bắc Việt nên dân chúng rầm rộ bỏ nước ra đi trên những con thuyền gỗ nhỏ bé, mong manh, dù họ biết trước có thể chết ngoài khơi hay phải đương đầu với nạn hải tặc hung bạo. 

Để chấm dứt những cái chết thê thảm trên Biển Đông, chính phủ Hoa Kỳ đã cho phát động phong trào ODP – Orderly Departure Program – cho dân Việt được di cư chính thức vào Mỹ nếu có thân nhân bảo lãnh, sau đó là Chương Trình Humanity Operations, Quốc Hội Hoa Kỳ đem các cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà từng bị cộng sản bỏ tù sang định cư.

Trong đại gia đình của tôi có nhiều tai họa vượt biên dẫn đến những cái chết rùng rợn. Đã hơn ba chục năm sống ở Mỹ mà tôi vẫn chưa thể quên. Nhiều đêm giật mình bừng tỉnh, thấy mình đang khóc và run rẩy vì trong cơn ác mộng tôi thấy người ta đang bị hải tặc cướp bóc, chém giết.

Đầu tiên là chuyện gia đình anh Tâm, anh họ tôi. Anh cưới chị Trúc, con gái một thương gia giầu có ở Đà Nẵng. Do bản tính cần cù và có óc thương mại nên anh Tâm được sự ủng hộ của gia đình vợ, rồi trở nên người thành công nhất trong số những người con bên chồng tôi. 

Sau tháng tư 1975, gia đình anh và cha mẹ vợ bị kiểm kê tài sản rổi không được buôn bán nữa. Qua ba năm bán dần của chìm để sinh sống qua ngày, gia đình anh quyết định tìm đường vượt biên vì không thể chịu đựng thêm sự hà khắc và kỳ thị của chế độ mới. Họ móc nối với ba gia đình chài lưới để đóng một ghe đánh cá. Hợp đồng của họ là sau khi những người vượt biên đã được tầu quốc tế vớt thì những người đánh cá được mang ghe trở về làm kế sinh nhai. 

Một đêm không trăng họ khởi hành lúc gần nửa đêm. Tầu gồm 6 thủy thủ và 23 người vươt biên, tòan người trong gia đình. Mọi chuyện diễn biến êm xuôi cho đến khi gần tới hải phận quốc tế thì chuyện kinh khủng diễn ra! Sáu tên thủy thủ lực lưỡng đã bội tín! Chúng biết những người ra đi mang theo nhiều tiền và vàng nên chúng động lòng tham.

Chúng dấu dao búa và những thanh sắt vào chỗ kín trong tầu, và khi đến gần hải phận quốc tế là bắt đầu ra tay chém giết những con người đã từng cưu mang, giúp đỡ mình trong những tháng vừa qua. 

Mặc kệ những tiếng kêu la, những lời van xin thảm thiết, họ thản nhiên đập chết những người đàn ông trước khi hạ sát những người đàn bà, trẻ em rồi quăng họ xuống biển. Anh họ tôi bị một nhát búa vào đầu và hai nhát chém trên mặt. Tưởng anh đã chết, họ vất anh xuống biển lúc anh còn thoi thóp thở. Do một phép lạ, anh trôi nổi trên xác chết của một người thân. Khi tỉnh dây thấy mình nằm trong tầu của Pháp. Anh nằm bệnh viện tâm thần hơn ba năm. Sau khi xuất viện anh xin vào chùa, sống đời tu hành từ đó.

Chuyện thứ hai là chuyện gia đình chú tôi, chú Sinh. Trước ngày việt cộng xâm chiếm miền Nam chú có hai tiệm cầm đồ và một tiệm kim hoàn ở Ngã Ba Ông Tạ. Chú cũng bị đánh tư sản và phải hiến vài dãy phố cho Ủy Ban Quân Quản làm trụ sở. Không chịu nổi cảnh o ép của cộng sản, chú tôi móc nối với những người làm nghề đánh cá dưới vùng bốn để đóng tầu, tổ chức vượt biên. 

Tháng 8 năm 1978, gia đình chú gồm 30 người con cháu và anh em ruột thịt vượt thoát và sang tới traị tỵ nạn Thái Lan an toàn. Thừa thắng xông lên, chú tôi chuẩn bị chuyến tiếp theo để vợ chồng chú và số con cháu còn lại ra đi. Tôi năn nỉ chú cho vợ chồng và con tôi đi theo. Chú nhận lời, nhưng không hiểu vì lý do gì mà ngày đi chú không báo cho tôi biết. Nhưng buồn thay, chú thím tôi và cả đoàn người đã chết trên biển Đông! 

Sau nhiều năm tìm kiếm, thăm hỏi các tổ chức cứu trợ, con cháu chú đành chấp nhận sự thật là chú thím tôi và thân nhân đã chết, đành ngưng việc tìm kiếm.

Tôi còn nhớ, khoảng năm 1970, chú dẫn tôi đến một ông thầy coi tử. Ông này nói huỵch toẹt ra rằng lúc về già chú tôi sẽ bị chết lạnh, chết đói! Chú tôi ra về, rất giận giữ, nói ông thầy này bá láp. Gia tài của chú xài ba đời không hết thì làm sao có chuyện chết đói, chết lạnh! 

Riêng tôi... Tôi cũng đã từng cạy cựa đi vượt biên nhiều lần, dù một bà thầy bói đã báo trước là tôi không có số xuất ngoại bằng đường biển! Tôi phải xuất ngoại có "tiền hô hậu ủng". Ý bà nói đi chánh thức, không phải đi chui! Chuyện tôi và bà thầy bói này bắt đầu như sau. 

Tám tháng sau ngày VC vô Nam chồng tôi đã đi tù được nửa năm, dù họ nói sĩ quan cấp úy chuẩn bị thực phẩm cho mười ngày! Sau này bị dân chúng ca thán, chúng bảo "chuẩn bị lương thực mười ngày", chứ chúng không nói đi bằng đó ngày. Hiểu ra thì đã quá muộn. Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo là vậy! Sau ba tháng vẫn chưa thấy chồng về, tôi và bà bạn rủ nhau ra chợ trời Huỳnh Thúc Kháng tìm cách buôn bán nuôi chồng, nuôi con.

Một hôm tôi nghe bạn hàng bàn tán về một bà thầy bói trên đường Lê Thánh Tôn, gần rạp hát Lê Lợi. Người ta nói bà coi rất hay, rất chính xác. Nhưng bà chỉ coi cho hai khách buổi sáng và môt khách buổi chiều. Muốn được bà coi bài phải có sự “tiến dẫn” của người tín cẩn của bà và giá cả của bà thì...tuốt trên mây! Trong khi những thầy bói bình thường chỉ tính khoảng năm hay sáu trăm một quẻ thì bà thâu đúng sáu ngàn. Có chồng Tây nên bà cũng đang chờ đi Pháp. Do vậy bà càng cẩn thận để tránh phiền toái với công an khu vực. Dạo đó chính quyền cộng sản cho bói bài là tệ nạn mê tín dị đoan phải quyết liệt bài trừ. [Nhưng bây giờ thì khác rồi. Các ông bà thầy bói, thầy tử vi hay các nhà ngoại cảm rất được dân chúng và cán bộ nhà nước trọng vọng]. Nghe số tiền quẻ quá lớn, tôi và bạn nghĩ bà phải giỏi thì thiên hạ mới chịu chi tiền cỡ đó. Tuy tiếc tiền, một số tiền khá lớn với chúng tôi dạo đó, nhưng vì nóng lòng muốn biết số phận của chồng và tương lai của mình, tôi và chị bạn đành nhắm mắt làm liều, nhờ người móc nối với bà. Cả tháng trời chúng tôi mới được hẹn. 

Trong căn phòng nhỏ, đồ đạc khiêm tốn, có môt chiếc bàn sáu ghế nơi bà thầy bói hành nghề. Bà ngồi hút thuốc. Trước mặt bà là một tẩu đựng tàn đầy lên tới miệng, chứng tỏ bà hút thuốc liên tu như ống khói tầu. Sau khi tôi chào và ngồi trước mặt bà, bà nói:

- Tôi chỉ nói một lần, không lập lại lần thứ hai vì khi nói xong tôi không nhớ gì nữa. 

Bà lấy ra một bộ bài Tarrot Ai Cập, một loại bài rất lạ và đẹp tôi chưa bao giờ thấy. Bà bảo tôi chia bộ bài làm hai và lật úp xuống bàn. Không hỏi tuổi tác của tôi, bà cầm bàì lên nhìn sơ qua rồi nói:

- Tôi sẽ hỏi cô hai câu. Nếu câu trả lời ăn khớp thì tôi và cô có duyên với nhau và tôi tiếp tục mở bài. Nếu không thì cô cảm phiền ra về.

Tôi chỉ biết gật đầu và “dạ” nho nhỏ. Bà bắt đầu:

- Cô đang trông tin một người đàn ông bị giam giữ?

- Dạ đúng

Câu hỏi thứ hai, cô có hai người đàn bà trẻ biệt tăm?

- Dạ

- Vậy thì tôi sẽ tiếp tục coi cho cô. Đầu tiên, người đàn ông đó sẽ không trở về trước 5 năm. Nhưng khi trở về y laị bỏ cô mà đi tiếp. Lúc cô gặp lại thì y đã có trong tay một người đàn bà khác. Người này là nợ y phải trả!

Tôi lúng túng nhìn bà thì bà nhún vai... rất Tây:

- Nợ cuả cô tới đó là hết! Hai người đàn bà cô đang mong tin thì một người là em ruột, một người là bạn thân.

Tôi gật đầu xác nhận. Bà thản nhiên nói tiếp:

- Ba năm sau cô sẽ nhận tin người em trước tết ba ngày. Mười ngày sau Tết sẽ có người đàn ông đem tin người bạn của cô.

Tôi chưa kịp hỏi thêm thì bà “phán” như đi guốc trong bụng tôi:

- Cô đừng nghe lời ai rủ rê xuất ngoại bất hợp pháp kẻo tiền mất tật mang.

Bà thầy bói bảo tôi:

- Số cô là số ra đi “tiền hô hậu ủng”! Cô là người “lù khù có ông cù độ”, hậu vận có nhà cao cửa rộng, có việc làm chốn quan trường.

Vẫn không chờ tôi đặt câu hỏi, bà nói một hơi:

- Cô không có giang buôn bán thì đừng màng chuyện mở tiệm này nọ. Nếu muốn buôn bán thì phải đi làm công, không được làm chủ. Cô chỉ có một đời chồng chính thức, một giòng con mà thôi. Muốn lấy chồng khác cũng không được vì số trời cho như vậy! Lấy chồng nữa là ngồi trên đống tiền mà khóc!

Tôi nghe bà nói mà bối rối không biết nên tin hay không. Lúc đó tôi đang mang bệnh [sau naỳ mới biết bị định bịnh lầm do y tá dán lộn tên trên ống xét nghiệm], tôi hỏi bà tôi có số chết yểu hay không? Bà trả lời:

Mệnh cô không yểu, liệu chừng sống tới ngoài 70! Còn chết năm nào, ai dám tiết lộ thiên cơ!

Sau vài câu hỏi liên quan đến gia đình, bà ngáp dài rồi bảo bà phaỉ nghỉ vì đã hết giờ “thánh” cho.

Nghe bà thầy bói nói chồng tôi sẽ không trở về trước 5 năm tôi hoang mang lắm. Mới có mấy tháng mà tôi đã mong anh quay quắt, tưởng đâu đã hai ba năm. Ngay lúc đó tôi chưa có ý đinh vượt biên vì phong trào “đi chui” lúc đó chưa rầm rộ lắm. Thỉnh thoảng một vàì chiếc tầu ra đi, mang theo những người quá phẩn chí, bị chính quyền cộng sản làm khó dễ và bóc lột quá mức chịu đựng. 

Đúng như lời bà thầy bói tiên đoán, tết năm 1978, sau hôm ông táo về trời tôi nhận được thư em gái qua một Việt Kiều bên Pháp về thăm gia đình. Sau Tết một tuần tôi laị được tin cô bạn thân do người em trai của cô còn kẹt lại đem đến. Thời gian này phong trào vượt biên đã bắt đầu lan rộng, số người tìm đường chạy trốn gông cùm cộng sản càng ngày càng tăng. Laị thêm việc vượt biên bán chính thức do Hoa Kiều tổ chức với sự che chở của chính cán bộ nhà nước. Tôi cũng nghe phong phanh tin Chính Phủ Mỹ đang điều đình để “chuộc” tù sĩ quan “cải tạo” tập trung và nhân viên Việt Nam cũ của Hoa Kỳ.

Sau mấy lần đi thăm chồng, anh rưng rưng nước mắt khuyên tôi tìm đường đem con ra đi vì anh không tin có ngày trở về. Bệnh tật, đói ăn và lối đối xử dã man vô nhân của cộng sản đã làm anh tuyệt vọng. Tôi thì thầm cho anh biết có tin Chính Phủ Hoa Kỳ sẽ tìm cách đưa sĩ quan bị tù sang Mỹ, thì anh bảo chuyện đó quá viễn tưởng, anh chỉ muốn tôi thay anh lo cho đứa con duy nhất đi tìm tương lai. 

Lời tiên tri của bà thầy bói về việc xuất ngoại không làm tôi nản chí. Có lẽ bà nói trúng chuyện tin tức em tôi và người bạn chỉ là ngẫu nhiên? Tôi và chị bạn bắt đầu đi kiếm dường giây vượt biên. Năm bảy lần ra đi, toàn đi hụt. Bị bỏ rơi dọc đường, bị lùa ra ruộng nằm chờ một con tầu ma, một chuyến đi đóng kịch. Cũng có vài chuyến đi có tổ chức đàng hoàng nhưng bị bể, bị “căn me” cướp tầu, cướp baĩ. 

Một lần đi với một tổ chức ngoài Chu Hải, tỉnh Bà Rịa, chúng tôi bị bắt lúc gần sáng tại nhà ém. Sau khi gom được mười người trong hai nhà kế nhau, một tên công an canh giũ chúng tôi trong sân với một khầu AK. Quá sợ hãi, tôi lén đưa sợi dây chuyền hai chỉ cho y rồi năn nỉ:

Chú làm ơn làm phước cho tôi và thằng con đi trốn. Tôi xin biếu chú chút quà.

Y trả lời với giọng đặc sệt miền Nam:

Chị giữ lại đem về làm vốn buôn bán. Xung quanh đây hiện có hàng trăm công an và du kích xã, chị có đủ vàng để cho họ mỗi lần bị bắt lại hay không? Khó thoát lắm chị ơi.

Người công an trẻ miền Nam vẫn còn lương tâm và tình người. Linh hồn anh ta chưa bị nhuộm đỏ. Tôi chắc anh ta là con cháu của cán bộ tập kết hạng nặng nên mới được tuyển vô làm công an. 

Đêm hôm đó, nhóm tôi, trên sáu chục người trong đoàn vượt biên bị giải về đồn công an trước khi di chuyển tới trại giam Giếng Nước Vũng Tầu. Trong lúc thẩm vấn, tên công an nói giọng Bắc hỏi tôi:

- Nhà chị ở đâu?

- Dạ….tôi ở phường Tân Tiến tỉnh Đồng Nai.

- Trưởng đồn Tân Tiến là ai vậy?

- Dạ…dạ… là anh Ba Vàng.

Tên công an lớn tiếng mắng tôi:

Xạo, xạo vừa vừa thôi nghe bà! Đồn trưởng cuả bà mà bà không biết! Cho bà hay, đồn trưởng Tân Tiến là bạn tôi mà tên của ảnh đâu phải vàng bạc như bà nói! Tôi cho bà ngồi tù thêm mấy tháng nữa cho bỏ tật xạo.

Mẹ con tôi ngồi tù hai tuần rồi được thả vì lúc đó người ta đi vượt biên nhiều đến nỗi không đủ nhà tù để giam giữ. Đàn bà con nít thường được về sớm nếu không phải bà con hay tay chân của chủ tầu hoặc ban tổ chức.

Mấy tháng sau, tôi và bà bạn lại tiếp tục kiếm đường giây vượt biên. Lần này chúng tôi chuyển hướng, về miền Tây, nhưng rồi chuyến đi cũng bị thất bại, không thấy Mỹ Quốc mà chỉ thấy Mỹ Tho.

Sau 5 năm 8 tháng bị tù tập trung, chồng tôi được tha. Vì quá nóng lòng, anh cứ đôn đáo tìm mối vượt biên, không tin vào tin chính phủ Mỹ sẽ “chuộc” các sĩ quan VNCH và đem họ sang Mỹ. Tôi không muốn anh đi ngay lúc đó, vì anh còn đang bị quản chế, mỗi thứ hai phải ra đồn công an trình diện, trong thời gian một năm. Nếu không chấp hành quản chế “tốt” thì sẽ kéo dài lâu hơn, cũng có thể bi đi “học tập” trở lại. 

Khi anh chồng tôi kiếm được mối ngoài Chu Hải thì vợ chồng tôi và cậu con lại khăn gói ra đi. Nhà ém nằm tại ấp Long Hương. Buổi chiều đến nhà ém tự nhiên tôi có cảm giác bất an. Thổ lộ với chồng thì anh bảo tôi lo quá hoá nhảm, vì ông anh chồng quả quyết là tổ chức này đã mua hết bến bãi, từ tỉnh xuống xã thì không cách nào bị “bể” được. 

Tôi vẫn áy naý trong lòng, rủ chồng bỏ về, chờ chuyến khác. Anh không chịu về, mà còn nói nếu tôi không muốn đi thì cứ về, anh sẽ đi một mình. Biết không lay chuyển được quyết tâm của chồng, tôi đành chiều ý, ở lại. 

Tôi đưa mắt quan sát chung quanh khu nhà, theo thói quen mỗi lần đi vượt biên. Nhà ém là căn nhà sau, gần bếp, chỉ có hai phòng ngăn chia bằng vài tấm liếp. Không giường, chỉ có mấy tấm chiếu trải trên nền đất cho khách ngồi nghỉ chờ ngày ra ghe. Phía sau nhà là một sân đất làm nơi giặt giũ, sửa soạn nấu nướng của chủ nhà. Bên tay phải là một chuồng heo trống trơn, chỉ còn lại mấy khung củi và vài tấm vải bố che nắng mưa. Đằng sau là một hàng rào bằng những cây mía và chuối. Hàng rào có cánh cổng bằng cây dẫn ra ruộng lúa mênh mông. Bà chủ nhà dặn là đêm sau moị người sẽ đi bộ ra bãi bằng con đường hẹp bắt đầu từ chiếc cổng xiêu vẹo này. 

Tôi vẫn mang cảm giác bất an nên lưỡng lự, chỉ muốn đưa con ra về dù biết chồng tôi sẽ ở lại. Bất giác tôi nhớ lại những lời bà thầy bói rồi rùng mình.

Khoảng gần nửa đêm chủ nhà thì thào đánh thức “gà” dậy, bảo phải chạy ra trốn ngoài ruộng, nhưng phải đi thật xa, không được quanh quẩn gần nhà kẻo mang vạ cho bà. Tôi tức quá, vậy mà bảo đã mua bến bãi đầy đủ. Tôi nghe tiếng gọi nhau ơi ớí từ các căn nhà kế bên, tiếng quát tháo, doạ nạt ầm ỹ. Biết là đã bị bể, tôi vôị bế con chaỵ ra trốn sau chuồng heo thay vì chaỵ ra ruộng lúa như bà chủ nhà căn dặn. Tôi biết có ra đó rồi cũng bị bắt, không sớm thì muộn. Chẳng thà ở đây, phó mặc cho may ruỉ. Trốn một chỗ sợ bị bắt cả nhà, tôi khuyên chồng nên chạy ra ruộng, chạy thật xa, nhưng không ra bãi mà nên chạy ngược về hướng làng bên cạnh. Anh đứng dậy, ra đi. Ít phút sau một tên công an và ba bốn tên du kích ra đứng ngoài sân. Tên công an ra lệnh:

Hai thằng ra ngoài ruộng coi có đứa nào trốn ngoài đó không. Thằng Yên, mày ra soát chuồng heo. 

Tên du kích lấy đèn pin roị chuồng heo. Tôi và thằng con nằm bên ngoài, ráng ép mình sát xuống đất. Như có người bịt mắt, tên du kích không thấy mẹ con tôi đang nằm ngay chiếc lu bể nên bỏ đi. 

Hai thằng từ ruộng quay lại, nói gà chạy đâu mất tiêu, không thấy con nào ngoài đó. Chúng rủ nhau sang nhà bên cạnh. Mới đi mấy bước, bốn thằng bỗng đứng lại. Một thằng lên tiếng:

Có tiếng sột soạt ngoài buị mía, để tôi lại coi.

Tôi điếng người. Có thể chồng tôi trốn trong đó. Một lát, y lên tiếng:

Ra mau không tao bắn bể óc. Ra mau, đưa hai tay lên đầu. 

Đúng là chồng tôi. Anh không chạy ra ruộng như tôi căn dặn, mà lại trốn vào buị mía cho kiến cắn. Bị cắn đau quá, anh nhúc nhích làm lá mía kêu xào xạc. Than ôi! Vì bắt được chồng tôi, thằng công an ra lệnh cho tên du kích trở lại khám chuồng heo lần nữa, cả trong lẫn ngoài. Thế là mẹ con tôi cùng chịu chung số phận tù đầy với ba của nó.

Sau sáu tháng bị giam cầm, anh được tha nhờ khai gian lý lịch. Không dám trở về để bị vô tù trở lại, chồng tôi đến nhà người anh ở trọ, thử thêm thời vận vài lần nữa. Cuối cùng, anh ra đi một mình vì chúng tôi hết vàng, chỉ còn đủ cho mình anh. 

*
Vài năm sau, tôi và con tôi cũng được đặt chân lên đất Mỹ nhờ đơn bảo lãnh của xếp cũ và bảo trợ tài chánh của cô em. Đúng là có kẻ đưa người đón theo lời tiên đoán của bà thầy bói.

Tôi càng thán phục bà hơn, vi khi sang Mỹ, tôi đi làm cho một công ty thời trang được tám năm trước khi trúng tuyển, vào làm trong một cơ quan chính phủ. Và cũng đúng như bà báo trước, vợ chồng tôi chia tay, tôi ở vậy nuôi con cho tới ngày nó ra trường và cưới vợ. 

Nhiều khi tôi tự hỏi không biết giờ này bà ở đâu? Bà đang phì phèo hút thuốc bên trời Tây, hay đang rong chơi tiên cảnh? Phải chi hồi đó tôi nghe lời bà, thì đâu có mất vài chục lượng vàng oan uổng. 

Nhưng dù có phải mất nhiêu đó mà mang được con đến đây, một quốc gia giàu mạnh, một quốc gia cho chúng tôi nhiều cơ hội để sống và làm người, thì chỉ là một cái giá nhỏ. Quá nhỏ so với những ân huệ quí giá mà nhiều khi ta quên lãng hay coi thường. 

Nhiều người quen của tôi thỉnh thoảng than vãn về những khoản thuế phải đóng, những loại bảo hiểm phải mua rồi so sánh hơn thua với nước này nước kia. Tôi hỏi họ, “Nếu nước Mỹ không là nơi lý tưởng để sống, thì tại sao có nhiều người từ các quốc gia văn minh khác cũng ráo riết tìm cơ hội để có được tấm thẻ xanh vào Mỹ, hy vọng một ngày nào đó trở thành công dân Mỹ?” 

Vài người laị tán tụng những cái hào nhoáng [bề ngoài] tại Việt Nam ngày nay. Tôi hỏi họ có muốn trở về làm công dân Việt Nam trong chế độ cộng sản hay không, thì ai cũng lắc đầu! Về làm gì khi chính những “cựu thù” của “Đế Quốc Mỹ” cũng đã và đang “tích cực tranh thủ” tìm cách vào Mỹ qua diện kết hôn hoặc đầu tư?

Huyền Thoại Thịnh Hương

Blog Archive