Showing posts with label Song Lam. Show all posts
Showing posts with label Song Lam. Show all posts

Thursday, July 20, 2023

CÁI LON GUIGOZ 

Hình như ai đến đây cũng đều giấu đi thân phận và cảm xúc của mình, tôi cũng vậy. Buổi sáng từ 7 đến 8 giờđoàn xe bus đi gom mọi người cao tuổi ở rải rác quanh vùng chở đến đây và 1 giờ trưa chở về, vì từ 1 giờ trưa đến 6 giờ chiều còn một ca sinh hoạt khác.

Ở Mỹ này có nhiều chuyện ngộ : có nhà giữ trẻ và cũng có nhà gi người già, mỗi tuần từ Thứ Hai đến Thứ Sáu. Thứ Bảy và Chủ Nhật họ ở nhà một mình hoặc có phước có phần ở chung với cháu con !

I.
Tôi nghỉ hưu gần một năm nay, từ Pennsylvania về New Jersey để được gần con cháu. Mấy đứa nhỏ thấy tôi buồn nên xin cho tôi vào đây để gặp gỡ đồng hương cao niên cho vui. Nhưng sau vài tuần tôi muốn “cáo lão qui điền” vì ở đây… chán quá. Ngày nào cũng y chang như vậy: sáng vô điểm danh, ký tên, ngồi vô bàn của mình ăn sáng, rồi tập thể dục nửa tiếng, rồi chơi đá banh thùng, thảy vòng vịt, chơi bingo, nói chuyện dưới đất trên trời… Khoảng 10 giờ đến 10 giờ rưỡi được cho uống sữa, uống juice, ăn kem..rồi chờ ăn trưa, rồi xếp hàng ra xe bus về nhà.
Chắc tôi phải nói thêm về cách làm việc ở đây. Điều kiện được đưa vào trung tâm này phải trên 65 tuổi và có Medicaid và trong diện nghèo. Có nhà ở thì OK nhưng nếu có xe thì trị giá xe không quá năm ngàn đô la và trong nhà bank không có quá hai ngàn. Trung tâm này ở thành phố Cherry Hill, New Jersey với cái bảng hiệu “Prestige Adult Medical Daycare”. Như vậy ở đây có bác sĩ trông nom sức khỏe, dĩ nhiên là bệnh tật sơ sài thôi, và sẵn sàng giúp mọi người gọi 911 để vào bệnh viện miễn phí.

Đã gọi là “nơi giữ người già” nên người nào cũng hom hem, lụi đụi, không bệnh ít cũng bệnh nhiều. Ở nhà buồn quá không ai trông nom nên tìm vào đây để giải sầu. Tôi là một trường hợp đó, nhưng tôi không vui mấy vì người Việt Nam ít quá, chỉ chiếm khoảng 10%, số còn lại là Mễ Tây Cơ và người Mỹ gốc Phi Châu. Lúc nào họ cũng ồn ào nói cười, kêu gọi nhau hoặc nhảy cà tưng theo nhạc của họ.

Người đời thường nói khi trở về già người ta giống như con nít từ sinh hoạt cá nhân mỗi ngày hay sinh hoạt vui chơi. Họ cũng tranh nhau trong giờ chơi để thắng điểm để được trung tâm phát tiền… âm phủ. Đó là tiền giả để cuối tuần dùng tiền đó mua những vật dụng trong nhà như xà bông rửa tay, xà bông giặt, kem đánh răng, giấy vệ sinh… Cứ nhìn họ vui vẻ đi shopping tại chổ với vẻ vui mừng như trẻ được quà chúng ta thấy được “già y như trẻ” là vậy. Để rồi, lúc ra về họ phải è ạch mang mấy thứ lục cục đó lên xe. Tài xế phải phụ giúp mấy vị đó mang lên xe nào là wheelchair, gậy chống, khăn áo lùng chùng…

Trung tâm này nằm trong khu biệt lập, xa đường chính nên khá yên tĩnh. Phòng sinh hoạt chính khá rộng với mười mấy cái bàn tròn rộng phủ khăn và trên bàn lúc nào cũng có chậu hoa… ni-lông cũng khá sáng đẹp. Bên trái là văn phòng, sau văn phòng là phòng nghỉ ngơi của các cụ khi thấy mệt. Quí vị vào phòng này sẽ thấy lòng mình buồn tênh vì vài người già nằm trên ghế dài trùm chăn, hơi thở mệt nhọc. Tôi cũng là người cao tuổi nhưng còn linh hoạt hơn họ đôi chút, nghĩ rằng rồi mình cũng sẽ nằm thở dốc như họ một ngày không xa !

Bàn tròn của người Việt Nam lùi vào phía trong của gian phòng rộng, lác đác chừng năm bảy người, toàn là đàn ông. Nghe nói lúc trước có vài phụ nữ Việt Nam nhưng họ xin đổi xuống ca chiều có nhiều người cùng xóm cho vui. Bàn của chúng tôi có hai vị tuổi 82 còn lại cũng trên dưới 70. Mọi người đều xuề xòa, duy chỉ có một ông lúc nào mặt cũng hằm hằm, hình như không mấy có thiện cảm với tôi. Thằng cha này lúc nào cũng trầm tư biếng nói, ít cười và đặc biệt lúc nào cũng có cái mũ nồi trên đầu. Có lẽ hắn nhỏ tuổi hơn tôi và có tên là Hiền mà mặt mày chẳng hiền chút nào, giống như dân đứng bến hay ít ra cũng là dân chợ trời hay dấm dúi bán chui á phiện ! Không ai biết gì về gã, đó là lý do tôi không vui khi đến đây. Về phía đám đông Mexico và Mỹ Phi Châu kia thì lúc nào cũng như cái chợ chồm hổm, ăn uống nói chuyện ồn ào, nếu có chút nhạc thì loi choi nhảy múa như điên !

Kể ra họ còn có chút vui. Sao đám Việt Nam chúng tôi lại eo sèo đến thế ? Nhiều lúc tôi tự hỏi : “Tuổi già sống khắc khoải như thế này đề làm gì, đang chờ đợi điều gì, nếu không phải chờ… ngày về với đất ?”. Có khi cũng không cần đất cát gì, chỉ đốt thành tro bụi rồi rải ra biển lớn. Thế là xong.
Tôi định rút lui khỏi cái câu lạc bộ này nếu không có một sự việc xãy ra hôm tuần trước.

II.
Thật ra, tôi cũng là người già nhưng khác hơn mấy ông già Việt Nam này đôi chút. Tôi xin vào đây để làm thiện nguyện, giúp người già Việt Nam thông dịch vì đa số họ không rành Anh ngữ, chủ yếu là tôi muốn tìm bạn đồng hương. Thành phố này khá yên tĩnh, ban ngày vẫn nghe được tiếng chim hót trên cành cây cao và ban đêm chừng 4 giờ rưỡi sáng chúng đã líp chíp quấy rầy tôi rồi. Thức giấc vì tiếng chim tôi thấy tuổi già trôi qua thật nhanh và từng bước chân đi của mình cũng chậm dần.

Buổi sáng hôm đó, tôi mang theo lon nước chanh gừng vì cảm thấy cổ họng đau rát. Đặt cái lon guigoz lên bàn, tôi đã thấy thằng cha mũ nồi ngồi thu lu một góc rồi. Lão già này không ưa tôi nên ít khi chào hỏi nhau. Hôm đó Hiền lại chào tôi rôm rã và nói nhanh:

- Ủa, ông cũng ở K5 Vĩnh Phú sao ?

A, thì ra trên cái lon guigoz tôi có khắc chữ K5-VP. Tôi gật. Lão cười nụ, méo xệnh :
- Tui ở Nghệ Tỉnh, quê hương…

Lão định nói “quê hương bác Hồ” nhưng tôi ngăn lại. Tôi không muốn nghe hết câu. Bổng tôi thấy nét xúc động trên gương mặt tối hù của gã. Lần đầu tiên, gã kéo cái mũ nồi đặt lên bàn. Mớ tóc bù xù, lốm đốm muối tiêu của gã rớt xuống vùng trán với những “luống cày” sắc nét. Chỉ có đôi mắt mang nét quả quyết, và không… hiền chút nào !

Rồi câu chuyện bắt đầu. Chúng tôi nhận ra nhau, chúng tôi là những người lính già thua trận, tù tội, xương máu, hận thù đau đớn trải dài từ Bắc xuống miền Đông Nam Nam phần từ trước 1975. Hiền nói về mình, về gia đình tan nát của mình và… nói luôn nỗi oán hận cuộc đời mà Hiền vẫn còn đeo đẳng cho đến hôm nay.

Hiền lôi tôi ra ngoài nói là đi dạo, nhưng thật tình, hắn muốn trút bầu tâm sự ôm ấp từ lâu. Đi chán mỏi chân, hai thằng già ngồi trên ghế đá bên hông khu nhà với ly cà phê nguội ngắt. Hắn nói giọng từ tốn, chậm rãi, đôi mắt mơ màng như đang sống với quá khứ không mấy vui vẻ của đời mình.

- Khi rời quân trường, tôi gặp người này, theo lời giới thiệu của người chị họ và kết hôn sau đó vài tháng, đây là cuộc hôn nhân gán ghép vì tôi muốn thoát ra cái gia đình “u tối” của mình. Giữa tôi và cô ấy không có thứ tình nào hết, không là tình bạn học, không là tình yêu. Anh cũng hiểu rằng giữa năm 1973 chiến tranh Việt Nam leo thang với những trận đánh ác liệt. Chúng ta là những người lính, cái chết cận kề bên lưng…

Tôi chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng ngắt lời Hiền :
- Theo chú, cuộc hôn nhân này không toại nguyện?

Hiền gật, nói nhanh :
- Chính thế. Gia đình nàng giàu có, muốn con gái có một tấm chồng, trong khi tôi muốn có một chổ dung thân những ngày về phép. Gia đình cha mẹ tôi không là tổ ấm, đó là ổ của bài bạc, rượu chè, cuộc sống lem luốc… Tôi muốn trốn chạy, tôi đã sai lầm. Cuộc hôn nhân không tình yêu… cho nên đổ vỡ sau đó là chuyện tất nhiên.

Tôi ngồi thừ, lẳng lặng nghe Hiến nói tiếp :
- Sau đó, chúng ta vào tù sau tháng 4/75 như anh biết… và vợ tôi chưa hề đến thăm tôi một lần nào. Chúng tôi có một đứa con trai, và khi tôi ra tù, bà ấy thẳng thừng đề nghị ly dị vì không chịu nổpi sự nghèo túng, vất vả. Lúc đó, đôi dép lào đứt quai hay vỏ xe đạp xì lốp cũng không có tiền mua dép hay bơm xe, thì… làm sao giữ được hạnh phúc gia đình ? Tủi nhục lắm anh ơi… Ôm đứa con nhỏ, tôi phải làm đủ mọi thứ nghề đề nuôi con. Căn nhà trước đó đã thay người chủ mới. Nhờ sự cứu giúp của người bạn học cũ, cha con tôi mới sống sót được đến ngày nay !

Hiền thở dài, không nói thêm gì nữa. Tôi không biết nói gì để an ủi Hiền, chỉ vỗ vỗ vào lưng bạn và trở vào câu lạc bộ.

Từ đó chúng tôi trở thành đôi bạn rất thân. Hiền có vẻ vui tươi hơn trước. Mỗi lần đến thăm Hiền, tôi đều cảm thương cho hoàn cảnh bạn : Căn apartment nhỏ với cây đàn và chú chó Lucky thân yêu. Hiền thật sự cô độc với tuổi già hiu quạnh của mình. Có lần tôi bạo dạn hỏi Hiền :
- Qua đây hơn 20 năm, sao chú không tìm được người bạn đời khác ?

Hiền cười cay đắng :
- Anh thử nghĩ coi, lon lá không còn, tiền bạc không có, đàn bà nào yêu cho nổi ? Thật ra tôi sợ. Con chim bị đạn một lần thường sợ những cành cây cong… Thằng Hiếu bây giờ hơn 40, có vợ con ở NY city, tôi không muốn con mình bận bịu nên ở đây một mình. Trong những ngày lễ ở Mỹ này, thằng con tôi ghét nhất ngày lễ Mẹ, Mothers Day. Hiện nay bả còn ở Saigon, giàu có lắm nhưng thằng Hiếu không nhìn. Nó nói với mọi người rằng mẹ nó đã chết từ lúc nó hai tuổi. Bả đổ thừa cho hoàn cảnh bỏ chồng bỏ con. Cái đau khổ của tôi là bả lại lấy thằng cha Bí thư huyện ủy !

Nếu mượn bài hát “và con tim đã vui trở lại” của Đức Huy để nói về Hiền cũng không sai chút nào. Mỗi ngày gặp nhau, tôi đều nói với Hiền về niềm tin và tìm thấy lẽ sống cho những ngày còn lại. Hiền đàn rất hay. Tiếng đàn guitar điêu luyện ấy đã trở nên thân thuộc với tôi và mọi người khi có lễ lộc ở “day care” này. Hiền vui hơn mọi ngày, cho đến một hôm…

Tôi nói với Peter, Giám đốc trung tâm tôi vắng mặt hai ngày vì phải lo thu xếp việc nhà. Tôi phải đi phi trường JFK ở NY city để đón vợ tôi. Bà ấy về Việt Nam hơn tháng nay đón cô em định cư qua Mỹ. Đơn bảo lãnh từ 2004 đến nay cô ấy mới được đến vùng đất tự do này. Hiền nói với tôi giọng vui vẻ :
- Nếu không gì bất tiện, niên trưởng cho em theo cho vui?

Tôi nghiêm nghị :
- Đi với tôi thì OK, nhưng đề nghị với cậu là bỏ đi từ niên trưởng. Tủi nhục quá mà, đau khổ quá mà niên trưởng với niên chảng gì. Cứ gọi tôi là anh Phúc phải gọn không?

Trên đường đi Hiền nói với tôi về thành phố New York mà cách đây hơn 20 năm, cha con Hiền ngơ ngác đến đây do sự sponsor của người Tiểu đoàn trưởng cũ. Hiền cũng cho tôi biết gia đình người con trai đang sinh sống ở Brooklyn đường ra phi trường.

Tôi nói :
- Cậu có muốn tranh thủ thăm con cháu không?

Hiền xua tay nói nhanh:
- Thưa không anh, chúng nó đi làm cả. Tụi nó sẽ về thăm tôi ngày lễ Fathers Day sắp tới đây.

Đến nơi trời choạng tối. Hai anh em giúp người mới đến đem hành lý ra xe. 
Tôi vội vã giới thiệu với Hiền :
- Đây là Ngọc, bà xã tôi, và đây là cô em tên Nguyệt.

Bỗng nhiên Nguyệt la lớn :
- Trời ơi anh Hiền, phải anh là Hiền Tân Định không?

Hiền chết trân. Một giây sau hắn gật đầu lia lịa :
- Đúng, tôi là Hiền. Hiền Tân Định đây!

Những bàn tay không rời nhau. Tôi nói mau :
- Mời mọi người lên xe. Lên xe rồi nói chuyện sau. Trời tối rồi, về đến New Jersey chắc phải chín mười giờ đêm!

Bây giờ Ngọc mới lên tiếng :
- Vậy ra hai người quen nhau sao?

Nguyệt nói dòn dã :
- Chị Ngọc quên sao, hồi đó văn nghệ liên trường Petrus – Gia Long – Võ Trường Toản – Trưng Vương năm em học Đệ Tam, chị Đệ Nhất Gia Long đó, anh Hiền này ở Petrus Ký đoạt giải nhất đơn ca!

Đến phiên Ngọc la vui :
- Trời đất, đó là năm 1967, em nhớ giỏi quá. Ờ ha, 50 năm rồi mọi người ơi !
Hiền rôm rã :
- Cám ơn Nguyệt vẫn nhớ tôi. Bây giờ già hết rồi, dâu biển nhiều rồi…

Nói xong Hiền thở dài :
- Bây giờ tôi già lắm rồi, Nguyệt nhớ tôi thật là giỏi. Cám ơn Nguyệt. Hồi đó hình như Nguyệt cũng đoạt giải thưởng phải không?

- Dạ em giải nhì. Cho nên em nhớ anh là vì hồi đó em “cay cú” với thằng cha Petrus!

Mọi người cười vang.

III.
Cuối tuần, gia đình các con ào về nhà vợ chồng tôi để mừng mẹ và dì từ Việt Nam mới sang, nhân thể bày tiệc mừng sinh nhật 62 của dì Nguyệt. Nguyệt đã hơn 60 nhưng trông bề ngoài chỉ chừng hơn 50 vì nàng độc thân không phải lo lắng tất bật chuyện chồng con. Bà xã tôi nói rằng, Nguyệt là em kế của bà nhưng từ lúc thanh niên 20-30, nàng không hề nghe Nguyệt nói gì về bạn trai hay có quen biết và yêu đương một người đàn ông nào.

Nguyệt chỉ mải mê học vấn và làm việc. Nguyệt có bằng thạc sĩ kinh tế và giảng dạy ở các trường đại học ở Saigon. Bây giờ, nàng hưu trí từ tuổi 55.

Một điều lạ lùng nhất là Hiền đến nhà tôi hôm nay, khác hẳn mọi ngày. Một tay ôm cây guitar và một tay ôm bó hoa hồng lớn làm cả nhà tò mò đoán già đoán non. Dĩ nhiên, hoa hồng tặng sinh nhật Nguyệt, chứ không phải tặng Ngọc, bà xã nhà tôi.
Mấy đứa con gái tôi cười rúc rích, ra chiều đắc thắng.

Trong bữa ăn chúng tôi chỉ nói chuyện Việt Nam, hỏi thăm sức khỏe nhau. Vợ chồng tôi bận bịu chơi với cháu ngoại, hai đứa con gái lo việc dọn dẹp dưới bếp. Hai đứa rể bận không đến được, nên khách chỉ là Nguyệt và Hiền.

Hai người này thích ca hát văn nghệ từ hồi còn đi học nên thử giọng hát hò với nhau. Hiền đàn hát thật hay. Nguyệt ngồi nghe mơ màng. Tiếng đàn, tiếng hát dứt mọi người ùa ra phòng khách vỗ tay cổ vũ. Hiền cười vui rạng rỡ nhưng có chút ngượng ngùng.

Bây giờ tôi mới ngắm kỹ Hiền. Chàng già này bữa nay sao khác hẳn. Cái mũ nồi biến mất. Mái tóc bạc cũng thế. Hôm nay sao nó thay hình đổi dạng nhanh thế: râu tóc gọn ghẽ, nhẵn nhụi, quần áo thẳng nếp, giày tây bóng loáng y như chú rể ra mắt nhà vợ. Cái gì, điều gì đã thay đổi thằng cha mà tôi từng ghét quá ghét trước đây ?

Câu chuyện có lẽ dừng ở đây được rồi. Kết cục thế nào tùy độc giả. Nhưng, với con mắt của người lính già lăn lóc gió sương như tôi, tôi thấy Hiền như được hồi sinh. Người đàn ông đau khổ với tuổi già hiu quạnh như Hiền, ngày tối vào ra với con chó Lucky là bạn, với cây đàn guitar réo rắc những cung bậc bi thương, sầu não đó, đã vực dậy vì tình bạn, tình“huynh đệ chi binh” và có thể, hắn sẽ tìm được một tình yêu cuối đời ? Có thể lắm chứ. Cuộc đời ơi hãy mĩm cười với bạn tôi !

Ban đầu, Nguyệt định ở New Jersey với chúng tôi vài tuần, sau đó, sẽ đi Cali ở với đứa cháu. Nhưng, có lẽ nàng thay đổi ý định khi tôi “bày trò”nhờ Hiền chở Nguyệt đi làm giấy tờ và những yêu cầu của người mới đến Mỹ. Cầu mong hạnh phúc sưởi ấm hai tâm hồn đơn lẻ bấy lâu !

Cám ơn “Prestige Adult Medicare Center” đã kết nối tôi và Hiền, cám ơn cái lon guigoz của một thời lao tù khổ sai tăm tối… để chúng tôi tìm đến nhau trong tình người, tình chiến hữu. Cái lon guigoz này tôi sẽ làm quà cưới nếu hai “đứa già” này trong tương lai quyết định cùng nhau “đi trọn đường trần”.

Song Lam

Saturday, April 29, 2023

Như Bóng Mây


I.
Bây giờ các con, cháu đã về hết. Căn nhà rộng này dường như lại rộng hơn. Tụi nhỏ lao nhao nửa ngày ở đây, rồi lên xe về nhà để ngày mai còn đi làm, đi học, trả lại sự yên ắng cố hữu cho bà Sang. Bà trở vào nhà nhìn ly cà phê nguội ngắt pha từ sáng tới giờ trên bàn. Suy nghĩ vẫn vơ, con cháu về thăm, vui một chút đó thôi, chứ nỗi buồn của riêng bà làm sao cho vơi bớt được!?

Chỉ là vài tháng nay thôi, cuộc sống của bà đã đổi thay rõ rệt. Ngày trước, lúc nào cũng kề cận với chồng, giờ đây ông đã ra đi biền biệt. Nỗi buồn đau này biết có ai chia xẻ cho cùng!!?

Bà Sang thả người vào chiếc ghế bành rộng thênh, nhìn ra ngoài vườn, nắng chiều vàng còn đậu trên hàng cây bưởi, cây cam. Cây tắc năm nay ra nhiều trái hơn, bà cũng không buồn hái vô làm mứt như mọi năm, vì tâm trí bà còn vấn vương hình bóng người chồng, người thương đã năm mươi ba năm chung sống.

Trời ơi! Mới đó mà đã năm mươi ba năm, hơn nửa thế kỷ. Có thể gọi cuộc hôn nhân này là cuộc “hôn nhân thế kỷ” không, vì bà vừa tiễn đưa ông Đê trong ngày Giáng sinh năm ngoái.

…Ngày Chúa Giáng sinh, ngày lễ của thế giới, ngày sum hợp gia đình, một ngày của Cali hoa lệ.., nhưng với bà Sang lại là ngày chia ly thống khổ. Các con tề tựu đủ mặt cùng bà không phải tổ chức tiệc mừng, hoa, rượu…mà để quyết định rút ống thở của ông Đê -chồng bà- đang ở bệnh viện. Không có nỗi đau lòng, tuyệt vọng nào như hôm ấy. Bà Sang và các con nức nở, nghẹn ngào chào vĩnh biệt ông lần cuối trước khi nhờ Funeral Home lo hậu sự cho ông chu đáo…

Vạt nắng lụi dần. Trời sắp tối. Bà Sang ngồi một mình trong chiếc ghế bành này chắc là đã lâu lắm rồi. Trong bóng đêm chập choạng, bà tự nhiên lại nghĩ về đời mình. Cũng may hôm nay trời Cali hửng nắng, nên cái lạnh của những ngày mưa tầm tã mấy hôm trước cũng bớt đi phần nào. Thời tiết năm nay có phần lạ lẫm, vì Cali có bao giờ mưa dầm dề, lê thê như mấy tháng nay đâu!? Có lẽ đất trời cũng đồng cảm với nỗi buồn đau chưa dứt của bà, nên Cali nắng ấm xưa nay, lại là những ngày đêm ủ dột, xót xa.

Chiều đi lặng lẽ.
Thương nhớ muôn bề
Khi người yêu đã chết
Nhạc Thu chưa thấy về
Chiều đi lặng lẽ
Mộ chí hoa tàn
Ôi mầu hoa tang trắng
Liệm tình em nát tan.
(Chiều Tưởng Nhớ - Lan Đài)

Ngồi trong bóng mờ tối một mình, bà bỗng nhớ lại câu chuyện đời bà… hồi đó.

…Bà Sang người quê miền Tây sông nước Cần Thơ -gạo trắng nước trong, nơi nổi tiếng con gái xinh đẹp nhất miền. Và cũng là điều tất nhiên, bà đã là một cô gái thật trẻ trung, xinh đẹp. Lớn lên bà theo cha mẹ lên Sài Gòn, vì thân phụ của bà là công chức làm việc ở Quận Sáu – Sài Gòn. Năm mười bảy tuổi, song song với việc học ở trung học Gia Long, bà cũng đã đạt ưu hạng trong kỳ thi vào trường Quốc Gia Âm Nhạc. Mộng ước cuộc đời của bà sẽ trở thành diễn viên sân khấu.

Nhưng, cuộc đời bà đã qua một bước ngoặc nghiệt ngã vì sự ra đi tức tưởi của người cha yêu quí không lường trước của sự thù hận từ đối phương bên kia chiến tuyến đã cướp đi mạng sống ông chỉ vì ông là viên chức chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ông ra đi đúng vào những ngày đầu Xuân Mậu Thân 1968 ở tuổi bốn mươi ba tươi đẹp; bỏ lại người vợ trẻ, và tám đứa con thơ dại, đứa nhỏ nhất chỉ hơn hai tuổi. Và bà Sang phải bỏ học giữa chừng, vất vả đi làm phụ má nuôi em bữa đói, bữa no, ước mơ của bà đã không còn nữa, như cánh màn nhung sân khấu khép lại lạnh lùng sau buổi diễn. Lúc đó, bà không biết phải suy tính ra sao cho tương lai sắp tới, vì trước mắt là lo cơm áo cho đàn em nheo nhóc vừa mất cha, và người mẹ đau khổ vừa mất chồng khi tuổi tác hãy còn xuân sắc.

...Và ông Đê, một người lính trẻ Hải quân Mỹ, theo chân người chú họ, như cơn gió lành, đã đến với gia đình bà. Đúng ra tên của ông là Dave, người lính tình nguyện tham chiến ở Việt Nam, chỉ còn đôi tháng nữa là mãn hạn chiến đấu. Ông đã gặp bà Sang, như duyên phận định sẵn, bằng trái tim bồi hồi, rung động, bằng đôi mắt ngỡ ngàng pha lẫn yêu thương của ông trong buổi gặp đầu tiên. Ông đã bị đánh sập bởi vẻ đẹp “con gái Cần Thơ”, bởi đôi mắt thoáng buồn, gương mặt trái soan bầu bỉnh, bởi làn da con gái của miền “gạo trắng nước trong” tươi tắn của bà Sang… Một dấu hiệu khởi đầu cho một cuộc tình tuyệt đẹp!!

Chỉ một năm sau đó, 1969, bà Sang đã chấp nhận cuộc hôn nhân rất đổi tình cờ mà rất chân thật, ngọt ngào, trong tâm trạng hết sức ngỗn ngang, với ước mong thay đổi cuộc đời. Thôi, bà đã nghĩ rằng:

Một liều, ba bẩy cũng liều
Cầm bằng như trẻ chơi diều đứt dây”

Thế là bà Sang bịn rịn rời quê mẹ, tạm biệt quê hương Việt Nam lấy chồng đi Mỹ với hai đứa em nhỏ nhất, 1969…

Một lần khép nép từ biệt Mẹ Cha
Phận em là gái như giọt mưa sa
Một lần e lệ bước lên xe hoa
Khép trang nhật ký đôi giòng viễn mơ.
Thôi chăn gối lẻ gửi lại giường xưa
Long lanh ngấn lệ, đôi má xuân thì
Hương trinh rờn rợn tà áo vu quy.
(Bài Thơ Vu Quy – Thơ Tuệ Mai, Nhạc Duy Quang)

Bao năm xa cách thương nhớ, bà trở về đón mẹ, cùng các em còn lại đi định cư vào năm 1972 theo chương trình đoàn tụ gia đình của chính phủ Mỹ, do ông Dave ký tên bảo lãnh.

Đó là lần trở về Việt Nam duy nhất của bà.

Ông Dave –chồng bà- không chỉ là người thương, người chồng mà còn là người ơn, người của ân sâu nghĩa nặng của bà. Ông đã tạo dựng một cuộc đời thật đáng sống cho bà, và gia đình đông đúc của bà. Trăm việc lớn, ngàn việc nhỏ. “Bổn phận sự, trách nhiệm vụ” này hiếm mấy ai nhiệt tình làm được như ông.

Như ông Bụt trong truyện cổ tích ngày xửa ngày xưa, với tấm lòng bác ái đối với đồng loại, với gia đình bà, với tình yêu vô bờ bến đối với bà, ông Dave là hiện thân của ông Bụt ngày nay đã dang tay cứu giúp gia đình bà đang khẩn cấp cần sự cứu giúp. Mang trong người dòng máu Mỹ nhưng ông Dave có trái tim Việt, tình yêu thuần Việt, nên đã thấu hiểu, thông cảm, yêu thương bà,và giúp đỡ gia đình bà hết lòng.

Làm sao nói hết nỗi gian truân của người vợ, người mẹ nơi xứ lạ quê người, bà Sang suốt một đời tần tảo, hết lòng hết dạ vì chồng con, vì gia đình, các em, một đời học tập, làm việc không ngừng nghỉ để hòa nhập vào đời sống mới, để đền đáp lại lòng tốt của ông Dave, đồng thời giữ được nếp nhà để làm gương cho các em, các con, nơi đã chọn là quê hương thứ nhì.
….
Cho nên khi ông Dave không còn, thì làm sao không để lại thương tiếc trong lòng mọi người biết ơn, yêu thương ông, nhất là trong trái tim thương tổn của bà Sang. Ông bỏ lại sân trước, vườn sau, nơi nào cũng có bóng dáng của ông, có bàn tay của ông chăm sóc. Để cho vợ bớt nỗi nhớ nhà ông đã làm một vườn hoa hình chữ S thật đẹp ở sân trước, ai cũng trầm trồ khen ngợi ông khéo léo khi có dịp ghé qua chiêm ngưỡng. Những thành phố trên bản đồ hoa, ông đều trồng hoa Hồng, hoa Cúc. Nơi được xem là thành phố Sài Gòn –nơi ông đã gặp tình yêu của ông - đặc biệt ông trồng những bụi Trúc xinh xinh.

Sau này, từ khi chồng mất, bà Sang ít khi ra vườn sau nhà, vì hễ vừa thấy bóng bà lúi húi quét lá vàng rơi, con két thú cưng thật đẹp của ông Dave nhảy cà tưng trong lồng treo bên chái nhà “guest house” cất giọng khan đục : Heh Xang, heh Xang! Đúng như cái giọng ông Dave kêu, khi bà khi có điện thoại cuộc gọi đến.

Con két đẹp quá bà không nỡ đem cho ai, nhưng ngặt một nỗi tối ngày cứ nghe giọng “Heh Xang heh Xang” của nó, bà không chịu đựng được nỗi nhớ thương người đà khuất núi.

Bà Sang sống giản dị, ảnh hưởng sâu đậm đời sống Mỹ. Ông Dave qua đời, bà, và các con không tổ chức lễ tang, không có service ở Funeral home như bao người khác, không có khăn tang, không có hoa tang, không có khách viếng, nghĩa là “Nothing”, không có gì hết.

Có đôi bạn thân thắc mắc về sự cô liêu quá lớn mà bà Sang dành cho chồng trong ngày tử biệt, bà chậm rãi nói:

“Mấy bồ nghĩ xem, tôi đâu nỡ đem chuyện buồn đau của mình chia sẻ với mọi người. Còn nếu là niềm vui, tôi muốn mọi người cùng vui với tôi, còn nỗi buồn, tôi xin ôm giữ một mình”.

Bạn bè thân quen không ai dám nhắc với bà về chuyện ông Dave. Mỗi lần gọi phone thăm, bà Sang vẫn khóc nức nở làm cho chúng tôi cũng đau lòng xót dạ. Có lần bà kể:

“Từ biệt ông Dave ở bệnh viện, mẹ con tôi giao ổng cho funeral home. Vài tuần sau họ giao cho mình lại hủ tro cốt. Thế thôi! Đó là tâm nguyện của Dave. Ông không muốn phiền muộn cho mọi người, kể cả vợ con”.

Trầm ngâm một lúc bà kể tiếp:

“Dave là cựu quân nhân, do đó, chính phủ sẽ lo giúp tang lễ cho ổng, nhưng vì trước lúc mất, ổng dặn dò tôi đừng nhận đặc ân đó. Ổng chỉ muốn ra đi thanh thản không muốn vướng bận chuyện gì hết”…

Bây giờ bóng đêm đã thực sự tràn ngập căn nhà, bà Sang dần bước tới bên tủ rượu, nơi đang đặt hủ tro cốt của chồng, thắp lên hai ngọn nến song song. Trong ánh nến lung linh, nụ cười của ông tỏa sáng trong bức chân dung ngày thời còn trẻ. Cũng nụ cười ấy, dáng dấp cao lêu nghêu làm bà nhớ lần đầu tiên hai đứa gặp nhau 1968, và bà trở thành vợ ông khi bà vừa tròn tuổi đôi mươi. Bà lặng lẽ mỉm cười hạnh phúc trong… lệ nhòa…,vì nhớ thương ông, hay vì khói nến đang trêu mắt bà.

Tiếng chuông điện thoại reo vang, bên kia đầu giây thằng em út của bà hỏi vọng:

“Chị Hai khỏe hôn? Chị bớt buồn đi nha. Má nhắc chị đó. Má nhắc chị sao không qua thăm má kìa!?”

“Ờ!,mấy hôm nay trời mưa hoài. Với lại, có tụi nhỏ về chơi. Thôi để ngày mai chị qua”. Bà Sang đáp. Thằng Út hỏi thăm qua loa rồi cúp máy.

Bà Sang thở dài âu lo. Phải mà, không lo sao được. Mẹ của bà sắp đến tuổi trăm, sức khỏe như đèn trước gió, đang ở với thằng con út, cách nơi bà nửa giờ lái xe. Thằng út đi Mỹ lúc chỉ hơn ba tuổi, giờ đã năm mươi ngoài. Vì còn quá nhỏ, nên đâu biết mặt cha. Nó cứ nghĩ Dave, người hoạn dưỡng là người thế vai cha nên cứ gọi tới gọi lui “Daddy, daddy”. Mấy chị em bà ai nghe cũng động lòng khóc mướt.

Bà Sang trở lại ghế bành, nhìn ánh nến lung linh xa xa bên di ảnh chồng, bà xúc động nói lầm thầm như để nói với ông:

“Honey à! Cái ghế này thằng con lớn nó mua cho ông để thay cái đã sờn rách. Nhưng, từ Health Care Center, Honey trở lại bệnh viện rồi… đi luôn. Honey chưa ngồi cái ghế này lần nào.”

Lầm thầm đến đây, bà Sang thực sự xúc động dữ dội, hai tay vịn vào thành ghế nghẹn ngào... Tự trấn tỉnh một lúc, bà lại nghĩ đến một câu thơ Truyện Kiều sao lại giống tâm trạng của mình bây giờ quá đổi:

Nghĩ mình, mình lại thương mình xót xa”.

Bà Sang cũng lại nghĩ đến mẹ, không biết mẹ bà còn chống chọi được bao nhiêu ngày nữa khi sức lực ngày càng yếu dần; lúc mê lúc tỉnh. Bà Sang cũng đã chuẩn bị tinh thần cho “chuyến đi xa” của mẹ bà ấy rồi.

II.
Câu chuyện của bà Sang cứ lẩn quẩn trong tâm trí tôi, kể cả lúc ăn, lúc ngủ. Hình ảnh người phụ nữ Việt nam cả đời cực nhọc với gia đình, chưa nguôi ngoai nỗi buồn tang chế của chồng, lại sắp sửa chia tay với người mẹ yêu quí, góa bụa, âm thầm, sống chỉ vì con ở đất khách quê người. Nỗi đau buồn chồng chất trên vai khi tuổi đời không còn trẻ nữa, bà Sang đã qua tuổi bảy mươi, là tuổi “thất thập cổ lai hy” rồi, đáng lẽ phải hết mọi ưu phiền. Đằng này sao tâm tư bà vẫn còn trĩu nặng nhiều nỗi buồn thương!!?

Chúng tôi cứ băn khoăn mãi về cuộc đời của những người già ở Mỹ. Họ có được hạnh phúc không? Họ có thực sự “Quẳng gánh lo đi, và vui sống không” như tác giả Dale Carnegie viết từ lúc chúng ta còn trên ghế nhà trường tuổi mười lăm, mười bảy không, hay đang sống cuộc đời bất hạnh?

Người già ở Mỹ, cụ thể hơn là người Việt tị nạn ở Mỹ từ sau 1975, họ có đời sống tinh thần vật chất như thế nào? Chuyện này chưa có một thống kê nào hết. Nhưng qua cảm nhận của từng người, cuộc sống ấy cũng “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, không thể nói hết được cách sống nào hay hơn!

Khi các con đã trưởng thành, căn nhà sẽ rộng hơn, vì chúng đã có gia đình riêng không thể ở chung nhà với cha mẹ nữa. Người Mỹ gọi gia đình lúc đó là “empty nest” vì chim non đã rời xa tổ ấm mà chúng đã lớn khôn từ đó, chỉ còn lại cha già, mẹ yếu. Từ lâu, thế hệ trẻ đã không còn thích ở chung, ở với cha mẹ nữa. Có khi các cháu vừa xong trung học đã vào dorm ở đại học , hoặc chọn cách sống riêng với “boyfriend” hay “girlfriend”. Tuổi trẻ yêu chuộng tự do, không muốn bị quấy rầy dù đó là song thân của mình.

Các cháu ngày càng lớn khôn, ra trường đi theo công việc. Có khi các cháu không ở cùng bang với cha mẹ, sự viếng thăm ngày một thưa dần. Mỗi năm, con cái chỉ về chơi, thăm viếng cha mẹ một đôi lần vào dịp Lễ Tạ Ơn (Thanks Giving), hay Lễ Giáng Sinh (Noel) mà thôi. Ngày Tết truyền thống Việt được xem là ngày Tết sum vầy, vậy các cháu cũng đâu được ngày nghỉ. Những ngày holidays của Mỹ không bao gồm ngày Tết âm lịch, do vậy, cha mẹ già cũng ăn Tết “hiu hắt” cùng nhau.

Bây giờ, khi chúng ta sáu mươi lăm tuổi trở lên được gọi là “senior”, tức là người già rồi, được nghỉ hưu rồi, sẽ được nghỉ ngơi “thơ túi, rượu bầu” như người xưa hay được “khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên” (Kiều). Mà, mấy ai được là tri âm đến vậy?

Tuổi già được ấn định từ trên sáu mươi lăm, như vậy lằn mức tuổi từ bảy mươi đến tám mươi chúng ta phải có cuộc sống như thế nào mới gọi là vui sống?

Thời nay, nhà nào đa số cũng chỉ có hai người, thỉnh thoảng mới có con, cháu về thăm. Buổi sáng thức dậy thấy trời hửng nắng có chút vui, nếu gió lạnh căm, tuyết rơi dầm dề, đôi bạn già nhìn ra sân trước vườn sau… mới thấm thía cuộc đời hiu quạnh của chính mình đến dường nào.

Làm sao để tuổi già được an vui đây, thưa quí độc giả? Người viết xin không đề cập đến đời sống vật chất, về cơm áo gạo tiền vì ai cũng có được trợ cấp từ chương trình SSI, hay SSA, tức tiền già, hay tiền hưu bổng từ quỹ An sinh xã hội. Giàu, hay nghèo, hạnh phúc, hay bất hạnh tùy thuộc một phần vào suy nghĩ, quan niệm của từng gia đình, “biết đủ là đủ”, không so sánh, và không phiền trách ai, kể cả không đòi hỏi trách nhiệm từ con cái.

Mọi người chắc sẽ đồng ý với chúng tôi về điều này: Hạnh phúc trên hết của tuổi già là sức khỏe, không vướng vào những căn bệnh nan y. Tuổi già mà, như bóng xế đầu non, như cây khô thiếu nước, làm sao tránh khỏi “một thấp, ba cao”? Vì thế chúng ta phải thường xuyên tự lắng nghe cơ thể mình; phải thường xuyên lui tới bác sĩ gia đình, tập thể dục hằng ngày, và ăn uống điều độ.

Người viết cũng hiểu rằng điều quan trọng cho tuổi già là sự vui tươi, có thể nói là mỗi ngày tự tạo cho mình một niềm vui. Cả vợ, cả chồng không ai còn trẻ nữa. Tình yêu sôi nổi tuổi hai mươi, ba mươi đâu còn, hương đã phai, sắc đã nhạt rồi, chỉ còn lại tấm nghĩa ân. Lúc này, “phu phụ tương kính như tân”(Vợ chồng nể phục nhau như bạn) mới đúng nghĩa. Sự háo hức sôi nổi ngày trước đã héo tàn, tình đã vơi đi chỉ còn lại là cái nghĩa thủy chung, có trước có sau là như thế. Vợ chồng cũng là bạn, nhưng dài lâu, bên nhau chia sẻ ngọt bùi, cay đắng đủ mùi, nên người ta gọi là BẠN ĐỜI.

Đôi lúc, vợ chồng cũng có lúc cãi nhau vì chuyện con cái, vì đường kia lối nọ, vì không có cùng quan niệm, nhưng chắc chắn rồi cũng sẽ buông bỏ thôi, vì “lực bất đồng tâm” đã hết sức rồi, đã tận lực rồi, thời gian bên nhau đâu còn bao lâu nữa!?

Phải, thời gian không còn bao lâu nữa với chúng ta, người già trên dưới tám mươi này. Ai rồi cũng sẽ lên tàu, ra khơi. Vé đã mua xong rồi, chỉ chờ chuyến thôi… rồi “thuyền cũng ra cửa biển”. Vì thế, chúng ta nên dành vài phút hãy nghĩ về nhau đi. Ngày xưa, các lão gia cũng liệt oanh cung kiếm, bây giờ gối mỏi chân chồn, tóc điểm sương phai, bệnh tật rề rề nên tính tình thay đổi. Ngày xưa ngọt ngào đến thế, “gallant” đến thế, sao bây giờ bực dọc, than phiền nỗi nọ đường kia!? Danh lợi đã qua, chỉ còn lại tuổi già lãng đãng, sao cứ trách người phối ngẫu hơn nửa thế kỷ bên mình về cơm canh mặn lạt?

Chúng ta hãy quên bản thân mình một vài phút đi, để nghĩ về người đã phụng sự cả đời cho mình, cho các con. Người vợ, hay người chồng cũng thế. Họ còn ở bên mình bao lâu!? Chúng ta là chỗ dựa của nhau khi trái gió trở trời.

Con cá làm nên con mắm
Vợ chồng già thương lắm mình ơi”(Ca dao)

Vì ngoài hai chúng ta, ai đỡ nâng ta khi vấp ngã, ai chia xẻ với ta chuyện nắng sớm mưa chiều. Về các con, ta phải thông cảm cho chúng. Chúng ta nuôi con, còn bây giờ chúng phải nuôi con của chúng nó. Thương con, nhưng đừng quá trông chờ, rồi chúng ta buồn thương, tuyệt vọng. Nếu già thêm chút nữa, không tự lo liệu cho mình thì nhà nước có chính sách giúp đỡ bằng cách gửi người đến chăm sóc. Nếu cùng cực phải vào nhà dưỡng lão, chúng ta cũng an nhiên chấp nhận mà thôi.

Phải cố suy nghĩ như vậy. Buông hết, bỏ hết. Vợ chồng tuổi này phải hết sức cảm thông, chín bỏ làm mười, thương nhiều hơn là trách cứ. Vợ chồng là BẠN ĐỜI, khi đời về già là bóng tối, là hoàng hôn, phải nhẫn nhịn,chia xẻ, THẤU HIỂU, cảm thông.

Tôi đã dặn lòng mình như thế, nhưng có thực hiện được không, tôi nào biết được!?

Ở những tiểu bang nắng ấm như Texas, Cali có đông người Việt quay quần, người già có được những niềm vui gặp gỡ đồng hương, tha hồ vui vẻ với hội hè, lễ lạc. Riêng chúng tôi, và những đồng hương sống ở những nơi xa xôi, mùa Đông có khi kéo dài bốn, năm tháng, tuyết phủ ngập đường ngập lối, người Việt sống rải rác, nên ít có dịp gặp gỡ, hàn huyên. Đời sống người già ở đây, do vậy, tẻ nhạt hơn người già ở những nơi nắng ấm nhiều lắm.

Bây giờ là cuối tháng Ba. Mùa Xuân đến rồi đó, nhưng tiết trời vẫn lạnh. Đâu đó, chúng tôi thấy sắc Xuân tràn về bên những luống hoa Tulip vừa mới trở mình. Tôi mong chờ tháng Tư với hoa Anh Đào nở rực rỡ sắc hồng suốt con đường dài ở Cherry Hill, hay mùa hoa Anh Đào cố hữu soi bóng nước hồ Potomac-Virginia, thủ đô Washington D.C vào những ngày đẹp nắng. Tôi mong chờ trời đất vào Xuân cũng như ước mong mọi điều tươi đẹp đến với nước Mỹ, xứ sở cưu mang chúng ta gần năm mươi năm nay.

Mượn trang viết này, tôi xin gửi đến những người già như tôi đã sống lưu vong có một đời đáng sống với TÂM AN, và sức khỏe ngày càng khá hơn, từ niềm vui tự tạo, và mang niềm vui đó đến với mọi người.

III.
Sáng hôm nay trời nắng đẹp dù nhiệt độ vẫn còn dưới 30oF. Định bụng sẽ kết thúc bài viết này rồi sửa soạn buổi điểm tâm cho “lão gia”, nhưng tin nhắn đã báo cho tôi biết mẹ bà Sang đã “về trời” từ giữa khuya (giờ Cali). Tôi bỗng thấy nhói trong ngực như có ai đó đang đè nặng trái tim mình, dù sự vụ này ai cũng tiên đoán được ngày bà mẹ đi không xa.

Tôi vẫn luôn trấn an mình, vì “Tuổi già, hạt lệ như sương” (Nguyễn Khuyến), tránh xúc động mạnh, ảnh hưởng đến sức khỏe, nhưng sao tôi vẫn nghĩ về bà Sang, bạn tôi. Rồi đây, bà ấy có tự vượt khỏi chính mình với nỗi buồn này không? Tang chồng chưa nguôi ngoai, lại lo tang mẹ. Ôi! Những mất mát thật to lớn trong đời chị ấy phải đối mặt khi tuổi đã ngoài bảy lăm, chệnh choạng đi về phía hoàng hôn, xế bóng.

Và, luôn thể, tôi lại nghĩ đến chính mình. Tôi hay nửa đùa nửa thật nói với bè bạn, anh chị em trong nhà rằng: “Thôi! Sống cho qua ngày, chờ ngày qua đời”. Quý bạn đọc nghĩ rằng tôi bi quan chán đời chăng? Không, tôi vẫn yêu quá cuộc đời này, và luôn yêu quí con người. Đến tuổi này rồi, phong ba đã từng, bão táp đã có, chúng ta còn lại gì thời gian ít ỏi này?

Tôi đã biết “Khi chúng ta không có điều mình thích, thôi thì hãy thích điều mình có” để luôn luôn an nhiên sống với con cháu, bè bạn xa gần. Tôi đã chăm chút, đong đếm từng chút hạnh phúc muộn màng, mong manh trong tuổi già, bên cạnh “lão gia” nhiều bệnh tật của mình đang gần đến tuổi bát thập.

Tất cả rồi sẽ qua đi. Tình yêu, công danh, sự nghiệp, tiền bạc… ngay cả đến sinh mệnh của mỗi người rồi cũng như bóng mây trời, bay đi, bay đi nhanh chóng.

Trang viết trước mặt vẫn còn đó. Hình như tôi đang có tiếng thở dài, dù rất nhẹ.

Song Lam.
Cherry Hill, Những ngày đầu Xuân,
cuối tháng 3/2023.

Thursday, March 9, 2023

Mưa Cali

Tác giả Song Lam (trái) và nhà văn Nhã Ca tại Fountain Valley, CA

Rời Cali cả tuần nay rồi mà tâm trí tôi vẫn bềnh bồng với những sinh hoạt ngày Tết trôi qua vội vã – Gần bốn tuần lễ vui chơi ở Orange County, ngày nối tiếp ngày, đêm trôi qua đêm với những náo nức rộn rã như những ngày xưa tuổi nhỏ mỗi lần Tết đến. Tôi thật sự chưa tỉnh thức với chính mình. Cái gì làm tôi u mê đến vậy? Xin đừng hỏi tôi, tôi không trả lời được đâu.

Không dấu được nỗi buồn còn đọng lại sau chuyến đi, tôi bỗng giật mình thảng thốt với chính mình. Vui chơi với bè bạn tuổi không còn trẻ nữa tuổi bảy lăm mà cứ tưởng mười lăm nên trận mưa đêm rã rít hiếm có ở Cali làm tôi có chút ngỡ ngàng.

Tưởng là trốn được cái lạnh của New Jersey, nhưng ai có ngờ đâu, cái lạnh theo chân tôi đến cái nơi có tiếng nắng ấm này. Sự đột biến của thời tiết làm tâm lý tôi xáo trộn. Tuần lễ đầu tiên, mưa cứ tuôn ngày đêm, khi lê thê, khi chóng vánh mang theo cái lạnh ít có ở vùng Little Saigon. Mùa Đông Cali đâu thấm gì với mùa Đông miền North-East mà sao tôi thấy rét run người?

Những ngày áp Tết Âm lịch tôi thích lắm. Làm sao không vui cho được khi hàng quán đông nghịt người người sắm sửa ăn Tết, chơi Tết. Chợ Costco nắm bắt được tâm lý người Việt khi mang hàng trăm chậu hoa Cúc Đại Đóa vàng ở đâu đó về bán. Người Việt ở đâu mà đông quá vậy? Họ mua hoa Cúc xếp đầy ắp “shopping cart”. Chỉ là hoa Cúc mà thôi. Tôi mê mẩn “quơ” sáu chậu hoa, trịnh trọng đem đến ba gia đình thân thuộc. 

Còn hoa Lan nữa chi? Hoa Địa Lan bày bán trước chợ ABC, hoa Lan đủ mầu, đủ sắc, lớn nhỏ chật cả lối đi. Và còn trái cây nữa chứ? Ôi thôi lê, táo, bưởi bòng tràn ngập các chợ, tràn ra lề đường, tràn luôn khu chợ hoa Phước Lộc Thọ. Tiếng đàn tiếng hát rộn rã từ hồi nào vậy ta? Khu chợ đêm với mùi thịt nướng, bắp nướng kích thích vị giác mọi người. Bây giờ, ngồi đây trên trang viết này, tôi vẫn còn thòm thèm bắp nướng mỡ hành, chuối bọc nếp nướng chan nước dừa bột báng. Ôi sao thèm quá chừng!

Bốn tuần lễ vẫn còn chưa đủ với bè bạn, với người thân, với học trò cũ quanh vùng Little Saigon. Hình như có điều gì trói buộc tôi không ra khỏi Orange County vì sự hấp dẫn của ẩm thực, hay vì sự nồng ấm của tình người?

Những ngày trước Tết dù đi chợ mỗi ngày tôi vẫn thấy còn thiếu. Hoa, quả mua rồi, thức ăn đầy ắp trong tủ lạnh nhà chị tôi, nhưng khi ra chợ vẫn muốn mua thêm. Kiêng khem đủ thứ vì bệnh cao đường. Ở New Jersey, check blood test mỗi ngày, không ăn cơm, không ăn tinh bột nhiều, tôi cố gắng giữ đường huyết ổn định, và không cho phép mình tăng cân. Nhưng tôi quên hết khi đến Cali. Ôi! Ăn Tết cái đã. Bánh chưng mỡ màng, bánh giò mềm mại, chả lụa Phú Hương, chả cốm nhà hàng Vân, bánh mì thịt Sài Gòn, bánh mì BBQ Thanh Tâm, cháo lòng Tam Biên, cơm tấm Đào Viên “extra” chả hấp. Rồi còn phở Hollic nữa chi? Bánh cuốn Thanh Trì, bánh canh Trảng Bàng, Quê Anh-Quê Em. Trời đất! Tôi còn là tôi nữa không?

Rồi ngày Tết cũng ào ào đến không kịp chờ đợi. Cả nhà tôi cứ chiều tan sở là rủ các cháu ra chợ, ra Phước Lộc Thọ “hưởng thụ” cảnh Tết. Trời ơi, rộn ràng háo hức quá: Nào bánh mứt, nào hoa lá rực rỡ, nào tiếng đàn tiếng hát rộn ràng. Tiếng hát thanh xuân cũng có, tiếng hát “bô lão” tám chục cũng có luôn; không ai phê phán gì hết. Vui mà! Cứ vui đi! Còn có “đãng xê” minh họa nữa chứ! Cặp vợ chồng già đi “Slow mùi” xong, lại chộp giựt điệu Cha cha coi được quá!

“Ngày ba mươi Tết ta còn gì cho nhau”? Nhóm Việt Bút ơi ới gọi nhau họp mặt ăn Tết ở nhà cô nương chủ “Khách sạn ngàn sao” ở San Jose mới dọn về Santa Ana hai năm nay. Cũng nụ cười tỏa nắng, cũng nét đẹp của “cô em Bắc kỳ nho nhỏ” ngày nào, cũng vườn cây trái xum xuê dù mới bắt đầu tạo dựng. “Chị nghiêng qua phải tí, cười lên nha, em chụp đây”. Trời ơi, vui không khép được miệng cười. Mọi người cũng veston chỉnh chu, cũng áo lụa khăn quàng đúng nghĩa thanh cao tao nhã của Saigon, của Hà Nội năm mươi năm trước:

Bảy mươi ai bảo là già?
Tám mươi ta cứ mặn mà vui Xuân!

Mà đúng như thế. Bọn tôi, trẻ nhất cũng sáu mươi lăm già nhất cũng hơn tám mươi, mà riu ríu như trẻ con ngày Tết. Tôi đã nói rồi: bảy mươi lăm mà cứ tưởng như mười lăm. Vội vàng lắm, vì như cậu em trai út của tôi hay nói: “Không còn bao lâu nữa đâu, chị ơi!”

Phải, không còn bao lâu nữa. Xuân đến, Xuân tàn, thời gian sẽ không chờ đợi một ai, cuộc vui sẽ qua đi, chỉ còn nỗi buồn còn ở lại.

Tôi đã dặn lòng không còn phải nghĩ ngợi gì, phải buông bỏ như chiếc lá khô xuống dòng nước chảy xiết, quanh co. Đêm Giao thừa ở chùa Điệu Ngự, đứng trước tượng đài Quán Thế Âm, tôi đã cầu nguyện như thế. Cho tôi quên những tháng năm chìm nổi gian truân, cho tôi quên cuộc sống cam khổ nhục nhằn từ trong nước sau 1975 nghèo đói, cơ hàn. Tôi đã quên một đất nước tươi đẹp, hào hùng mà tôi đã sống, ăn học, và lớn lên ở đó hơn bốn mươi năm sao?

Đêm Giao thừa ở chùa Điệu Ngự ghi lại trong tôi nhiều xúc cảm. Ngoài việc lễ Phật cầu cho bá tánh an khang, tôi được xem văn nghệ trên sân khấu với các nghệ sĩ quen thuộc. Lâm Nhật Tiến với bài hát: “Anh Đến Thăm Em Đêm 30” thật hay, và đúng “thời vụ” người Việt tha hương ngồi lại với nhau, chìm đắm trong lời ca, tiếng nhạc, nhớ về một Saigon đằm thắm xa xưa.

Nói như nhạc sĩ Nam Lộc “Saigon ơi! Tôi xin hứa rằng tôi trở về”. Đối với tôi, lời hứa đó, hình như tôi đã thất hứa vì tuổi già lãng đãng, vì động lực không còn, và hơn hết là niềm đau tuyệt vọng.

Sáng Mồng Một, nhìn ra sân nắng lóe, tôi vui mừng vì trời đã dứt cơn mưa mấy ngày nay, cho đồng bào ăn Tết chứ. Nắng đẹp, nhưng vẫn se lạnh, giống mùa Thu ở Đông-Bắc, ra đường mọi người phải mặc thêm jacket. Cái lạnh Cali không làm tôi phải co ro, nhưng trong lòng mình vẫn phơn phớt nhớ cái lạnh khủng khiếp ở các tiểu bang Trung Mỹ như Colorado, Minesota, Michigan khi tuyết đổ ngày đêm trong những ngày đầu Xuân mới.

Ngày Mồng Một chạy show không kịp thở, vì nhiều cái hẹn với bạn bè, phải đến Los Angeles thăm gặp gia tiên, trưởng lão. Tối về, phải dự bữa dinner mừng sinh nhật đứa cháu. Sang Mồng Hai chúng nó phải trở lại chỗ làm, tôi có thì giờ nấu ăn vài món cho gia đình.

“Ngày Mồng Hai chúc cho lứa đôi mình”. Câu viết trên Face Book được anh bạn ở Santa Ana thêm “…ít cãi nhau”, làm tôi tức cười quá. Ông này chắc suy bụng ta ra bụng người đây. Sao ông nói đúng quá vậy?

Tiếp nối những ngày sau Tết là thăm gặp các bạn từ xa về, như ở San Jose, San Francisco, Arizonia. Rồi tay bắt mặt mừng, ríu rít ăn uống hàn huyên, chuyện vui nổ như bắp rang, không ai nói chuyện riêng của gia đình mình, nếu có gì không vui, giấu biệt. Thoáng một cái, vài giờ khắc qua đi, chúng tôi giơ tay chào nhau từ biệt, hay họa hoằn lắm siết chặt tình thân bằng cái ôm từ biệt, hẹn hò năm sau.

Năm sau, có, không, ai mà biết được? Tuổi già như bóng mây, gặp nhau lần nào biết lần nấy, “Nobody knows tomorrow” mà! Nếu cuộc vui làm chật nức lòng tôi trong chuyến “du Xuân” Cali lần này, thì cơn mưa đột biến rã rít vài đêm cũng làm tôi nghĩ ngợi. Ôi những đêm mưa ở Saigon lộp độp trên mái tôn ngày tôi còn thơ ấu, hay cơn mưa bất chợt lúc tan trường áo dài đồng phục ướt mem lật đật quay xe đạp tìm nơi trú ẩn. Đến đây, các bạn, có lẽ, sẽ thêu dệt mối tình trú mưa xảy ra nhan nhản trong các tiểu thuyết diễm tình ngày xưa phải không? Chuyện đó, có mà, ai cũng có, ít ra một lần.

Ngoài những lúc vui chơi với các bạn Việt Bút, tôi còn phải chạy show thăm gặp những người bệnh có họ hàng với gia đình chồng ở San Diego, thành phố Cypress cách Little Saigon nửa giờ lái xe. Tôi bắt gặp chính mình ở thành phố đẹp Cypress, nhưng lặng lẽ quá, không đông vui như ở Orange County. Người anh họ tuổi tám mươi sáu, ngày xưa là giáo sư trường con gái Trưng Vương Saigon, kế bên Sở Thú, gọi văn hoa là Thảo Cầm Viên. Ai cũng một thời. Thời khắc qua đi không bao giờ trở lại.

Chồng tám mươi sáu, vợ tám mươi ba đã có một “dĩ vãng vàng son” ở Saigon. Bây giờ họ cũng sống bình an ở Cali không phải lo gì cơm áo gạo tiền nữa, nhưng họ đang ở trong bệnh tật khó lòng chữa trị. Chồng bị bệnh Parkinson, và vợ bệnh Alzheimer. Người vợ không hề nhớ tên chồng, và khách đến thăm nhà không biết họ là ai. Nếu lỡ con gái vô ý không cài cửa ra vào, bà lẻn ra, đi mất không nhớ đường về nhà. Người chồng tay run bần bật, không tự ăn được, đi đứng xiêu vẹo. Cũng may, An sinh xã hội tiểu bang chu đáo lo cho người già, nên cả hai vợ chồng có người đến giúp mỗi ngày tám tiếng, kể cả thứ Bảy, Chủ Nhật. Thật cám ơn nước Mỹ với chương trình nhân đạo này thật nhiều, thật nhiều.

Ngày vui qua mau, chỉ có nỗi buồn còn ở lại”. Tôi nói thầm với lòng mình như thế mỗi ngày. Đâu có gì tuyệt đối trên cõi đời này? Đêm Ba Mươi Tết, án mạng lãng nhách xảy ra ở Montery Park (Los Angeles) cướp đi mười một mạng sống giữa trời Xuân đầm ấm. Hung thủ là một người Việt gốc Hoa mới não nề! Và hắn đã bảy mươi hai tuổi rồi sao lòng chẳng được bình an? Có lẽ vì cơn giận với người phụ nữ nào đó, hay ghen tuông bất chợt?

Rồi, các bạn có cùng tôi ghé mắt đến người vô gia cư rải rác nằm ngủ giữa trời Xuân giá lạnh, giữa những ngày đầu năm truyền thống của dân tộc mình? Họ là ai? Từ đâu tới? Họ là di dân Mexico, hay kẻ không nhà kia chính là người cùng chung dòng máu Việt với mình? Duy nhất một người Mỹ ngồi xin tiền trước cửa chợ Grocery Dalat làm tôi ngạc nhiên. Cộng đồng người Việt Cali ở Orange County hiếm thấy bóng dáng người Mỹ. Tôi có nghe nói rằng ở Phước Lộc Thọ, đôi khi có vài người Mỹ vào tham quan, cả chợ dòm ngó, reo hò!? Cái gì hiếm là quý, chắc chắn là như vậy.

Ngày Xuân, vui Xuân, dầm dề niềm vui, tràn trề nụ cười. Nhưng bên cạnh đó, nhóm bạn Việt Bút chúng tôi cũng lợn cợn một nỗi xót xa về sự ra đi của anh David, và nỗi u buồn của chị Ba Xưng – người bạn quí của chúng tôi. Nói sao cho vừa để an ủi chị, khi việc tử sinh ai cũng nằm lòng. Chị không nói gì với ai hết về mình, vì: 

-Song Lam à! Nếu là chuyện vui thì tui chia sẻ với bạn bè, còn nỗi buồn thì tui một mình giữ lấy mà thôi!

Thương quá Cali, thương quá bạn mình, nhưng Cali hôm nay với tôi, quá nhiều đổi thay dù tình cảm bạn bè hơn mười năm nay chưa hề thay đổi. Có thể, Cali thay đổi nhiều về kiến trúc hạ tầng, hàng quán mọc lên nhiều thêm, và dân số tăng vọt chóng mặt bởi chương trình di dân của chính phủ. Do vậy, Cali có chút bất an, ai cũng nơm nớp lo sợ khi ra đường, nhất là phải di chuyển ở những khu vực vắng người qua lại. Cali vẫn an bình dù có khách “không mời mà tới” thiếu vắng nụ cười. Họ là kẻ thắng cuộc, sao lại theo chân người thua cuộc như chúng ta mà đến đây? Tôi hơi băn khoăn vì chuyện này. Vẫn còn những tai ương về chiến tranh ở Ukraine, ở Turkey mới đây, hàng chục nghìn người chết chóc, đói lạnh trong những ngày Xuân mới. Tôi nghĩ mình rã rời thân xác khi không còn cơ hội để giúp ích gì cho họ, ngay cả những đồng bạc nhỏ nhoi. Chúng ta đã già, già thật rồi.

Ở trên đời này, ai ai cũng mưu cầu hạnh phúc. Hạnh phúc là gì? Là Có, hay Không?

Có nhà, có xe, có tiền, có quyền lực. Nhưng những thứ ấy không bằng cái Không. Không lo lắng, muộn phiền, không bệnh tật, không tai họa.

Quý bạn nghĩ sao? Chúng ta chọn Có, hay Không?

Trong chừng mực tự trấn an mình, tôi muốn chọn giải pháp thứ hai, vì giải pháp thứ nhất tôi không có được…

…Bên ngoài, cảnh trời buồn thiu, không nắng ấm rực rỡ như trời Cali. Chắc là trời sẽ mưa chiều nay.

Tháng Hai Dương lịch ở đây hãy còn lạnh giá dù không có tuyết. Mưa cũng không sao, không có tuyết đổ là hạnh phúc lắm rồi. Đời sống của tôi khi về hưu hai năm nay cũng an nhàn, hạnh phúc. Biết đủ là đủ. Tôi đã bằng lòng với những gì mình có.

Chiều nay, ắt hẳn trời sẽ mưa. Tôi sẽ nhớ nhiều về bạn bè, về người thân ở Cali trong gần bốn tuần lễ thâm nhập vừa qua, gặp gỡ, yêu mến, cười vui với các bô lão bà-bà, và các em trai như Lãng tử, Wờ-Wạng.

Cho tôi thêm một lần thương nhớ Cali, dù mười năm nay tôi vẫn lui tới nơi này. Đặc biệt năm nay, cho tôi yêu thương nhiều hơn với những ngày MƯA CALI.

Song Lam.
Mùa Đông, Cherry Hill,
Tháng 02/2023.

Monday, May 4, 2020

Tháng Tư, Và Nỗi Nhớ


Song Lam

Chúng ta đang ở những ngày đầu của tháng Tư. Thời điểm này, bỗng nhắc nhớ trong tôi miền ký ức khó phai của hai mươi tám năm về trước.

Ngày này, 07/4/1992, gia đình tôi đang ở New York City đúng mười ngày đầu tiên, đang ngơ ngác trước khung trời tự do rộng mở dù vẫn còn dầy đặc nỗi lo âu cho một tương lai chưa định trước. Thành phố New York là “thành phố lớn không bao giờ ngủ” (New York, the big city is not asleep), người ta hay nói vậy thật không sai chút nào. Nếu ngày xưa thi hào Nguyễn Du, cụ đã viết “..Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” thì ngày nay ý nghĩa đó cũng chưa nói lên hết sự đông đúc, náo nhiệt của con người ở nơi này với hệ thống xe bus, subway chằng chịt, hoạt động ầm ầm ngày đêm.

Những ngày mới đến đây, chúng tôi như mán về rừng, bở ngỡ vì sự to lớn của thành phố, vì không khí tự do trên từng centimet của khoảng đất trời bao la. Chúng tôi ở Brighton Beach với những con đường mang số Brighton một đến Brighton mười, và những con đường này đều đổ ra biển. Brighton Beach trãi dài với sidewalk rộng thênh thang, trên cao với hàng ngàn loài chim Hải Âu bay lượn. Chúng tôi vẫn còn nhớ khu Coney Island, khu vui chơi trẻ nít, và hàng quán dành cho khách du lịch thương hồ mà nơi đây hàng trăm năm trước là vùng hoạt động náo nhiệt của các băng nhóm mafia đến từ nước Ý xa xôi.

Từ Brooklyn đi Manhattan, chúng ta phải qua những cây cầu như Brooklyn Bridge, và Manhattan Bridge. New York City là bán đảo nên có rất nhiều cây cầu nên thơ, nổi tiếng nối liền đôi bờ dọc theo dòng Hudson thơ mộng. Từ Brooklyn sang Staten Island chúng ta phải qua cây cầu, mà có tên đọc muốn trẹo bản họng là Verrazzano Narrow Bridge. Cây cầu này rất nổi tiếng, chiều dài cũng có hạng, về đêm hàng ngàn ánh đèn lung linh soi bóng eo biển Brigton mờ ảo.

New York City ở vào cực Đông nước Mỹ với hơn năm mươi triệu du khách hàng năm đến thăm, Những công trình vĩ đại ở đây như Time Square (Quảng trường Thời Đại), Statue of Liberty (Tượng Nữ Thần Tự Do), Central Park – còn gọi la khu vườn Châu Âu, hay Iron Plaza. Hồi đó, dân Việt đều gọi nơi đây là “cái bàn ủi” ở đường Hai Mươi Ba. Ở thành phố này, du khách ít thấy những căn nhà trệt với sân trước, vườn sau, mà chỉ thấy những building chọc trời hàng trăm tầng sừng sững như “..Đưa tay với thử trời cao thấp..” (Hồ Xuân Hương). Thành phố dành cho thương mại, và tiền tệ quốc tế đúng nghĩa mà!

Điều đặc biệt ở đây bây giờ còn đọng lại trong tôi vẫn là tiếng subway chạy rầm rập trong đêm, và tiếng leng keng của chiếc xe kem qua lại trước nhà vào những chiều Hè tắt nắng. Nhịp thở của New York dồn dập không ngớt ngày đêm. Mọi người hối hả uống vội ly cà phê buổi sáng lật bật, tất tả chạy theo từng chuyến xe điện ngầm đêm. Mỗi ga, tàu chỉ dừng ít hơn một phút cho người rảo bước lên. Nếu không có chỗ ngồi, mọi người phải đứng chen chúc như cá mòi trong hộp để chờ ga tới. Các bạn cứ đảo mắt xem nha. Đủ mọi sắc dân, đủ mọi lứa tuổi, già trẻ bé lớn… trên những chuyến xe. Và người người cứ im lặng nhìn nhau. Họ có thể chợp mắt ngủ hờ, đọc báo, hay đọc tin nhắn trên phone, hay nghĩ ngợi về một điều gì đó vừa thoáng hiện trong đầu..

New York City có trên hai mươi tuyến đường xe điện ngầm như thế, xuôi ngược qua năm quận hạt của thành phố, Brooklyn, The Bronx, Queens, Manhattan, và Staten Island. Mỗi ngày có hàng triệu người đi lại không kể sáng tối, ngày đêm, mưa nắng...

New York City được xem là thành phố lớn của tiểu bang. Nếu từ New Jersey, hay Philadelphia (Pennsylvania) đi ngược về hướng Đông chọn highway 81, rồi qua 90, chúng ta sẽ gặp thành phố Syracuse, kế là thành phố Buffalo sẽ dẫn tới biên giới Mỹ-Canada nơi có thác nước Niagara hùng vĩ, tuyệt đẹp nổi tiếng khắp thế giới.

Mặc dù rời xa New York City đã lâu, nhưng thỉnh thoảng gia đình chúng tôi cũng trở về thăm anh em con cháu còn lưu trú ở đây từ hơn bốn mươi năm qua. Tôi dùng chữ “về” vì đây là “điểm đến” đầu tiên của chúng tôi ở đất nước này. Tôi thấy mình thực sự may mắn vì được sinh ra, lớn lên ở Saigon, thành phố hoa lệ bật nhất Việt nam thân yêu. Và khi rời Saigon lại được đến New York, thành phố thương mại hạng A của thế giới.

Tháng Mười năm ngoái chúng tôi đã về lại thành phố này, ghé thăm Ground Zero, một chứng tích lịch sử đau buốt của New York. Năm 2001, mà lúc 9:05 sáng ngày 11/9, Tòa tháp đôi – Twins Tower (mà dân Việt hay gọi Tòa nhà Hai chị em) đã bị khủng bố đánh, hoàn toàn đổ sập. Hiện nay, dấu tích của hai tòa tháp này là hai cái hồ vuông vức sâu hút, mỗi hồ với bốn cạnh tường hồ được thiết kế thành thác nước tuôn chảy, róc rách ngày đêm. Tên của 2,977 nạn nhân đã “đi xa” được khắc chạm đẹp đẽ trên nền thép của bề mặt thành hồ, tưởng niệm những người đã khuất. Và phải mất mười năm sau đó, 11/9/2011, chính quyền mới hoàn thành xong Đài tưởng niệm Quốc gia Oculus. Một ngọn tháp mới toanh đứng sừng sững mang tên One World Observatory, 104 tầng, ngay cạnh Westfield World Trade Center (còn gọi là Freedom Tower). Du khách sẽ được thang máy đưa lên tầng thứ 102 chỉ với 43 giây. Mọi người sẽ được nhìn toàn cảnh New York City tráng lệ, đẹp mắt xa tít đến tận chân trời.

Đài tưởng niệm Oculus mang dáng dấp của đôi cánh chim dang rộng, trắng toát nổi bật thanh tú trên nền trời xanh bao la với kết cấu kiến trúc sắc nét, uyển chuyển, mềm mại đến khó tin. 

New York City như là thành phố quê hương thứ hai của chúng tôi với bề dày lịch sử đau thương, nhưng kiêu hùng của nó. Sau cuộc khủng bố đẩm máu 2001, đi đâu chúng tôi cũng thấy khẩu hiệu “America Strong”. Cũng như thành phố Saigon của chúng ta, dù chỉ là ‘quê hương trong trí nhớ”, vẫn hiển hiện trong tâm trí tôi hình ảnh con người, và sự việc tuy lắm đau thương, nhưng vẫn lẫm liệt, oai hùng!

Bây giờ là tháng Tư. Hoa Anh Đào ở Washington D.C vẫn nở, vẫn lung linh ẩn hiện soi bóng bên dòng Potomac hiền hòa, một cảnh quan tuyệt mỹ hoàn hảo, dù thiếu vắng bước chân của hàng triệu khách lãng du.

Mọi người chưa kịp hết thổn thức với bốn mươi lăm năm mất miền Nam Việt nam, thì lại bầm dập với đại dịch 19. Dịch bệnh lan nhanh khắp thế giới. Tỷ xuất người bệnh, người chết tăng cao từng ngày. Cả thế giới đang đối diện với nguy cơ con người bị hủy diệt trong tâm trạng lo sợ, thấm thỏm ngày đêm. Dịch bệnh như kẻ trộm nguy hiểm luôn rình rập con người. Chỉ cần sơ hở, mất cảnh giác là chúng ùa ập vào nhà, luồn lách qua khe cửa, ngỏ ngách..để gây chết chóc, tai họa.

Vẫn là tháng Tư. Cả thế giới như đang nín thở vì dịch bệnh. Mọi chỗ, mọi nơi đều vắng lặng, im lìm. Tôi có cảm tưởng như không còn tiếng chim chào sáng. Chỉ nghe thỉnh thoảng xa xa, đâu đó tiếng chuông nhà thờ ngân nga báo giờ - cứ ba tiếng đồng hồ một lần – tử sáng sớm đến giữa khuya… À! “Chuông Gọi Hồn Ai?” (For Whom The Bell Tolls – Ernest Hemingway - Huỳnh Phan Anh chuyển ngữ). Tôi bỗng chợt nhớ đến tác phẩm này tôi đã đọc rất lâu, từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, và chưa bao giờ thấm thía hết ý nghĩa của nó như lúc này, ngay lúc này!!! Tôi cảm thấy sự sống, và cái chết rất gần ; sự tính toán, hơn thua giữa người, và người gần như vô nghĩa. Hãy sống chậm một chút. Hãy yêu thương nhau thêm, giúp đỡ nhau thêm khi còn có thể :

Đã biết chốn này là quán trọ.
Hơn thua, hờn oán để mà chi?
Thử ra ngồi xuống bên phần mộ.
Hỏi họ mang theo được những gì?”
(Trích Phật Pháp Việt Nam).

“Chuông gọi hồn ai”, ai biết được. Chỉ biết hàng ngày trên thế giới này đã, và đang có hàng ngàn người “ra đi” vội vã không kịp nói lời nào giã biệt người thân. Và cũng không được ai thăm, ai viếng. Sự cách ly xã hội (Social Distancing), -với tiêu chuẩn Mỹ 06 feet- vô tình làm cho toàn thể mọi người gặp nhau với ánh mắt ngờ vực, cảnh giác, đã dấy lên trong tôi nỗi buồn da diết, hụt hẩng!

Lại nói về New York City, thành phố lớn, hoa lệ nổi tiếng thế giới với dân số trên dưới mười một triệu người, là một trong những nơi tập trung, gặp gỡ của hàng trăm sắc dân. Dân New York hãnh diện mình là New- Yorker bây giờ hoảng loạn với cơn dịch bệnh đứng hàng đầu nước Mỹ, và cả toàn cầu, trở thành tuyến đầu đứng tiên phong về ca nhiễm, và số tử vong kỷ lục. Chẳng riêng về nước Mỹ, mà cả thế giới vẫn đang quan tâm, theo dõi tình hình diễn tiến từng giờ dịch bệnh New York với tâm trạng đồng cảm, xót thương.

Tôi muốn phát bệnh vì mỗi ngày dù chán nản cũng phải dán mắt vào TV nghe ngóng tin tức. Tôi nghĩ như thế này mãi, người ta cũng sẽ vướng bệnh tâm thần mất vì cách ly “Shelter in Place”. Ở nhà, ra vô, ăn, ngủ…giữa bốn bức tường vô tri. Tôi khó mà dững dưng trước đại nạn này. Tôi phải làm gì đây?.. Không, không làm được gì cả!!..khi out of work gần cả tháng, ở nhà ra vào mòn mỏi ...Chán!.. Sự sống, cái chết đi liền nhau, hầu như không có biên giới rõ rệt nữa, khi chính quyền New York phải trưng dụng 85 container lạnh dùng để chứa hàng hóa mà để chứa..người “không còn hơi thở” nữa..!!??

Nghe nói tàu bệnh viện SS Comfort đã cặp bến Brooklyn để kịp thời cứu chữa mọi người ở đây với các thiết bị y tế chuyên dụng, hiện đại. Bác sĩ, y tá, chuyên viên y tế đã về hưu của tiểu bang được trưng dụng, hay tự nguyện, cùng với đội ngũ y tế từ các tiểu bang khác được mời gọi đến cứu giúp New York trong giai đoạn tối khẩn cấp này. Tôi cũng có chút phấn chấn, vui sướng khi được biết tin này.

Tháng Tư…từng ngày đi qua. Mùa Xuân lại trở về miền Đông-Bắc với muôn ngàn sắc hoa rực rỡ, nhưng sao trong lòng chúng ta vẫn ảm đạm mùa Đông !!? Tôi nghĩ đến những cái chết vội vàng, âm thầm trong nursing home, bệnh viện, nhà riêng.. nào đó. ICU quá tải, nhà quàn hết chỗ, và toàn xã hội cũng đang đắm chìm trong suy sụp kinh tế tạm thời. Trong ba tuần lễ gần đây, đơn xin chính phủ Mỹ trợ cấp thất nghiệp cả nước chưa từng có trước đây lên tới con số trên dưới…mười sáu triệu. Thế giới, và nước Mỹ sẽ còn đương đầu với cơn dịch quái ác này bao lâu nữa..!! ??

Tôi đang nghĩ đến phận mình, những người thân, cũng như những người bạn vong niên của tôi trong hạn tuổi “thất thập cổ lai hy” trở về sau. Chúng tôi đang ở triền dốc xuống của cuộc đời. Điều này dễ cho sự lây nhiễm, và có tỉ lệ nguy cơ rất cao. Cái chuyện high risk không chừa một ai… Hên..xui…

Thêm một hồi chuông nhà thờ vọng lại. Ôi! Tiếng chuông ngân, buồn theo ánh nắng vàng đang tắt dần sau vườn nhà. Tôi lại nghe văng vẳng tiếng xe cứu thương ngoài xa lộ. Tôi sợ tiếng hú inh ỏi đó lắm, vì hay khiến tôi nghĩ đến chuyện sinh tử của một con người.

Cái im ắng lạ thường của đất trời mùa Covid19 này khiến lòng tôi quá đổi xót xa.Tôi thèm tiếng trẻ nít nô đùa, quang cảnh chúng chơi thả diều, đá banh..la hét inh ỏi thường ngày. Tôi thèm tiếng xe lao vun vút, chật cứng ngoài đường những giờ tan sở. Tôi thèm được trở lại làm việc với hàng trăm khách hàng thân thiết của tôi mỗi ngày. Cực nhọc lắm, mà cũng hạnh phúc lắm. Mấy ngày nay trời nắng ấm, tôi bỗng muốn đi dạo quanh công viên, hay ra bờ sông ngắm đàn vịt trời bơi lội tung tăng, vui đùa trong nước.

Qua cửa sổ phòng bếp, tôi giật mình thoáng thấy bóng trăng tròn vành vạnh giữa trời đêm. “Đêm nay rằm, đèn sẽ tắt vì trăng”. Trăng sáng lắm, nhưng trăng vẫn một mình, đơn côi như tôi, không có ai bầu bạn trong lúc này. Tôi nhốt trăng ngoài vườn, thay vì ngồi ngắm trăng hàng giờ, như cùng trò chuyện với nó đôi lần vào những ngày xa xưa.,lúc đó đã lâu lắm rồi

“…
Tìm đâu những ngày xinh như mộng.
Tìm đâu những ngày thơ.
Tìm đâu những chiều mơ.
Tìm đâu biết tìm đâu, đâu giờ…?”
(Hoàng Thi Thơ – Những Ngày Thơ Mộng).

Chúng tôi đang ở miền Nam New Jersey. Chỉ cần một giờ lái xe sẽ đến New Jersey City. Bên này bờ Hudson là New Jersey, bên kia bờ sông là địa phận New York City. Qua sông bằng phà, xe lửa Amtrak, hay subway. Đêm xuống, và nếu là đêm rằm như đêm nay, quý bạn sẽ thấy toàn cảnh New York City với hàng triệu ánh đèn đủ mầu, chỗ sang, chỗ tối, và trùng điệp building lớn, nhỏ cao ngất, hòa quyện nhau như một bức tranh vô biên, khổng lồ, sinh động. Mầu sắc, đường nét, cảnh vật chìm, nổi của thành phố lồng lộng in bóng xuống dòng Hudson trong xanh. Bức tranh sống động, lung linh, mờ ảo với vẻ đẹp không thể tượng nổi, không bút mực nào tả nổi…Tuyệt đẹp… Vậy mà giờ nó đang tuyệt vọng, chìm đắm trong đại dịch.. Cô-Vi khủng khiếp. Thật đáng buồn thương.

Chúng ta đang im hơi, lặng tiếng chờ mong phép lạ, cộng theo thành quả qua nổ lực của con người để thế giới này trở lại với đời sống bình thường. Và tôi cũng không quên. Tôi không quên nghĩ về anh em, con cháu, đồng bào tôi bên kia bờ đại dương cũng cùng chung số phận với chúng ta.

Tháng Tư, tháng mà thế giới đang trong cao trào dịch bệnh. Tháng Tư của tôi xao xuyến, buồn lo. Tháng Tư của người Việt với trầm tích lắng đọng đau thương trong mỗi con người ngày mất miền Nam Việt nam yêu thương. Và nơi này, đồng bào tôi lại chất chồng thêm thương đau, sợ hãi, lo âu, vì dịch bệnh.

Ôi! Tháng Tư hãy qua mau, và…hãy mang theo dịch bệnh qua mau, để các con em chúng ta được đến trường vui học, để mọi người được trở lại làm việc vui sống, để mọi người cùng có được, cùng vui hưởng được mùa Hè vui thú của đất trời. Và xã hội con người khắp thế giới sẽ được hồi sinh.

Với người Việt lưu vong ở khắp năm Châu, chúng ta cũng hãy cùng nhau góp lời cầu nguyện cho thế giới con người được duyên lành, cuộc sống con người được bình an. Một thế giới không dịch bệnh.

Và chúng ta -những người Việt chân chính- trong tâm khảm bất an, tháng Tư năm nay không chỉ có ngày Ba Mươi.

Song Lam.
Cherry Hill, NJ
Tháng 4/2020.

Blog Archive