Showing posts with label Nguyễn Văn Sâm. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Văn Sâm. Show all posts

Friday, August 26, 2022

Khói Thuốc Cả ! 


Truyện ngắn là bài viết ít sự thực, kế đó là hồi ký, trên cùng là bài viết về lịch sử.

Sự thực làm nguồn cho truyện ngắn, bị bóp méo ít nhiều trong hồi ký, được đào xới, phân tích, giải thích trong các bài về lịch sử....

NVS.

1. Lời thầm thì của cậu học trò trường con trai.

Kể từ 1946 vùng Chợ Đệm quê ngoại cưu mang gia đình chúng tôi không còn yên lành chút nào nữa. Mấy lò gạch bự xộn, những ruộng lúa minh mông, chục đám mía Tây ngon ngọt, con sông rộng bát ngát... của vùng nhà quê một thời hiền hòa nầy bị tôi bỏ lại. Chiến tranh khiến cha mẹ tôi kéo bầy con lếch thếch bốn đứa từ chỗ nầy qua chỗ khác một năm vài ba bận đi lần về Sàigòn lánh nạn. Chợ Đệm-Sàigòn, khoảng cách nay chỉ bằng một chuyến xe buýt ngoại thành sao mà ngày trước thấy muôn trùng vời vợi. Tôi xẹt vô trường nầy chừng năm ba tháng, ghé vô trường kia một vài tuần. Cái hay ho của thời đó là tới đâu cũng có trường cho con nít học không bị đòi hỏi chứng minh giấy tờ gì. Không có khai sanh hả? Cứ khai danh dự, khai sanh hay Giấy Thế Vì Khai Sanh đưa cho trường sau cũng được. Dễ vô dễ ra nên ba tôi cho mấy con nhập học trường nầy trường nọ tự nhiên, không thắc mắc. Tuổi trẻ dễ nhớ, vậy mà chưa kịp nhẵn mặt hết mấy đứa cùng lớp thì đã bị lôi tuột qua trường khác. Nhớ đầu tiên là cái trường chỉ ọp ẹp có ba lớp, nguyên là căn nhà rộng của vợ thầy Ba y tá chích dạo trong xóm theo toa Bác Sĩ được ngăn phòng.

Cô Ba mở ra để giúp cha mẹ học trò cầm chưn mấy đứa nhỏ khỏi lang thang lâu ngày do không thể đi học hơi xa. Trường nghèo, băng ghế cái nầy xọ cái kia đóng bằng đủ thứ cây của người thợ vụng về, nhám ồ và dăm nhỏ thường đâm vô tay học trò nhiều khi làm độc, thành mủ.

Năm đó lúc tôi học lớp Tư (lớp 2 ngày nay), không nhớ gì nhiều, chỉ nhớ là học được chừng non hai tháng thì thằng bán cà lem cục trước cửa trường vô học chung lớp. Nó ngồi cùng bàn với tôi, tên nó hơi lạ nên tới giờ vẫn còn nhớ: Trần Doãn Nhàn. Chúng bạn cùng lớp chưa ý thức về sự tôn trọng người khác nên cứ kêu Nhàn bằng cái biệt danh ‘thằng bán cà lem cục’, nói chuyện về nó thường ra dấu với nhau bắt chước cử chỉ hai tay nó lẹ làng đè cắt cục cà lem và rút cái tăm tre ghim vô trao cho người mua một cách điệu nghệ. Nhàn học giỏi vô cùng, bỏ xa các bạn vô trước. Tôi nhớ là mình từng làm anh hùng can thiệp để cứu bạn bớt bị chế ngạo hay ăn hiếp. Vốn là dân lội ruộng từ nhỏ, lớn con hơn mấy đứa dân thành thị, lại là tay lăn chai nên tôi bảo vệ nó hữu hiệu. Nó có vẻ cảm động lắm, tâm sự về gia đình với tôi nhiều điều. Tôi có rộng thời giờ thắc mắc ngó cái miệng bự xộn của nó với cặp môi vảnh tròn vì phải rao bán cà lem lâu ngày khi còn quá nhỏ.

Rồi ba tôi xách con tạt qua học trường mới. Đi mà tôi vẫn nhớ dai dẵng cái thằng có tên Trần Doãn Nhàn. Tiếc là dòng đời vô tình đẩy con người ta đi vào nhiều lối, từ đó đến giờ tôi vẫn mang trong trí cái tên đó nhưng chưa bao giờ gặp lại hay nghe tin về người bạn từng cùng ngồi chung một băng ghế lỏng chỏng ngày chiến tranh xa xưa.

Trường mới tên chánh thức là gì không còn nhớ, hình như là Trường Ngã Sáu Sàigòn, nhưng cha mẹ học trò đều kêu là trường Hãng Đinh. Tên nầy có là do trường dùng dãy nhà của cái hãng sản xuất đinh của ai đó bị Tây tịch thâu. Ở trường Hãng Đinh tôi quen với thằng Cửu. Sau nầy còn gặp nó ở Mỹ, nói chuyện xưa râm ran khiến cho nhiều lần người trong nhà chế ngạo ‘Tám’ quá, coi chừng tăng hormone nữ. Trường nầy có thằng Phơi và chị nó học cùng lớp. Hai chị em học giỏi tất cả các môn. Tôi mắc cở thầm khi thấy mình thua họ cả một trời một vực. Lúc nhỏ cũng có lúc chơi chung, tiếc là lớn lên gặp lại không còn thân thiết cũ. Chỉ chào nhau, nói chuyện ngày xưa năm ba phút rồi mạnh ai nấy đi, lòng cảm thấy có gì hụt hẫng vì những trao đổi nhạt phèo mà mình tưởng rằng sẽ rất sinh thú. Chắc thời gian làm mờ ký ức trong khi thực tế chiếm chỗ trong trí ta bằng những lo âu tính toán cho hiện tại và tương lai khiến con người lơ là với hình bóng cũ.

Năm sau thì qua trường Nguyễn Tri Phương, nay trường lớn lên sau hơn nửa thế kỷ, khang trang hơn và mang một cái tên mới lạ hoắc và đầy máu lửa. Lúc mới thành lập, trường còn cả khu đất trống phía sau, chúng tôi làm sân đá banh bằng lá chuối cột lại tuy đau chưn nhưng cũng hào hứng tận mây xanh. Điều đáng nhớ là toàn khu nầy nhà cửa thơ thớt, chiều tan trường nếu lơ mơ về trễ là bị bạn bè nhát ma, có lần tôi bị hù chụp, đã chạy vắt giò lên cổ, về tới nhà mặt xanh như tàu lá chuối. Lớp Ba của tôi có anh Thạnh là đặc biệt. Kêu bằng anh vì Thạnh lớn hơn tụi cùng lớp chúng tôi ít nhứt là 4 tuổi và là người rất chững chạc. Không biết cha mẹ anh làm giấy tờ sao đó mà anh học cùng với lũ nhỏ chúng tôi. Thạnh có tài đá cầu vảy cá mỗi mạng cả ngàn cái, chúng tôi đứa nào cũng mê mẩn theo coi anh đá lần lần tới nhà mỗi khi tan học. Thạnh dường như cưới vợ một hai năm sau đó khi chúng bạn còn đương học lớp Nhứt (Lớp 5 ngày nay). Tôi nhớ có lần sau nầy nghĩa là 2, 3 năm sau ngày thi Tiểu học, tôi tò mò ghé lại tiệm may của Thạnh lúc anh đã có con 2 tuổi. Tôi nhắc lại chuyện cũ, anh lơ lãng như nghe chuyện của ai đâu, anh trở thành kẻ ngoại cuộc, đã quên hết – quên cả cái tài đá cầu của mình ngày trước. Vì bận bịu mưu sinh con người bị biến đổi tới như vậy sao?

Rồi tôi qua trường Trương Minh Ký trên đường Galléini (nay là trường Nguyễn Thái Học trên đường Trần Hưng Đạo) lớp Nhì tôi học có thằng Thức Georges với tên Tây đáng nhớ, thằng Bửu Đăng ưa khoe rằng mình là chú vua Bảo Đại. Lớp Nhứt có hai thằng bạn nhỏ con, mặt mày như tiểu thơ các bạn thường chọc là con gái cha mẹ đặt lộn tên rồi cho đi học lộn trường. Trời xui đất khiến tôi gặp lại một đứa cùng chung lớp ở trường Petrus Ký. Sau nầy ở hải ngoại nó mạnh khỏe, lớn con, lừng danh là người biết nhiều về chuyện môi trường, đất đai dòng nước nhiễm độc.... Còn thằng tiểu thơ kia, tên cúng cơm là Lê Huyền Trang, con của ông chủ tiệm vàng Lê Văn Sự ở đường Quai de Belgique mà tụi nhóc chúng tôi thường hát chọc: Thằng Lê Huyền Trang, Là ông Tam Tạng, Cha nó bán vàng, mà nó lang thang. Nghe chọc, nó cung tay rượt tụi tui chạy có cờ. Rượt thì rượt, chọc thì vẫn chọc, lớp chúng tôi năm đó nổi tiếng là lộn xộn trong giờ ra chơi nhứt trường. Tôi gặp Trang lần cuối khi nó là Trung Úy nhảy dù, bị đạn thù xuyên bụng tại chiến trường đương trong thời gian nghỉ phép dưỡng thương.

Năm đó có cuộc di cư từ Bắc vô Nam theo hiệp định Genève. Đậu được vô Petrus Ký nhưng chưa tựu trường, tôi lợi dụng lúc nghỉ Hè rủ bạn lơn tơn vô thăm trường cũ, nơi tôi theo học gần hai năm, thời gian lâu nhứt trong đời làm học trò Tiểu học. Ngôi trường có cái sân rộng mà tụi chúng tôi hằng ngày xếp hàng trước lớp dự chào cờ và nghe ông Hiệu Trưởng Phác giảng dạy luân lý năm ba phút về những cách cư xử của học trò khi ra đường cũng như lúc ở nhà. Trường đặc biệt có ba tác giả cuốn sách Khoa Học Quan Sát lừng danh: Huỳnh Văn Đó, Nguyến Hữu Thông, Tăng Văn Chương mà học trò đứa nào được học với bất cứ thầy nào cũng lấy làm hãnh diện.

Sân trường bây giờ la liệt đó đây là những túp liều, những lu vại, bếp núc. Quần áo treo, giắt lủng lẳng khắp nơi cả trên lan can và trên các nhánh cây trứng cá. Một số bàn ghế đã bị khiêng ra làm chỗ ngủ hay đã bị chẻ ra làm củi chụm bếp. Tôi ngạc nhiên trong đau xót khi thấy sân trường mình hoang tàn một cách thảm hại. Lác đác có những bếp lò làm bằng ba cục gạch như là được cạy xới lên ở đâu đó. Trên lò thường có nồi niêu soong chảo đen đúa khói ám, nhiều lò lửa còn đương cháy, củi tàn ngã cả ra ngoài. Kế bên thường là bãi nước lầy của chỗ làm cá thịt và giặc gỵa...

Tôi tò mò nhìn những bà cụ dân quê đặc, tóc chải thành lọn dài, quấn bằng tấm vải thâm, cuốn vòng trên đầu. Điều khiến cho tôi và thằng bạn lối xóm đi chung tò mò là các bà đều có răng đen, mặc áo thâm với hai vạt dài, cái ruột tượng luôn luôn quấn ngang bụng, nói chuyện bằng giọng mà cố gắng lắm chúng tôi mới hiểu lõm bõm.

Có tiếng trẻ coi rượt đuổi ca hát. Thằng Thôn bạn cùng xóm, đi chung, thách tôi lập lại coi các bé hát gì. Lấy hết trí thông minh đương có, tôi lập lại khi kết nối với hình ảnh người Chà Và đương đội mâm bán bánh rế bánh cay cũng mới bước vô cửa trường: Ông Tây đen nằm trong cái bồ. Đánh cái rắm thành bánh ga tô... Ông Tây đen nằm trong cái bồ. Đánh cái rắm thành bánh ga tô...

Thằng trời đánh Thôn, đập lên vai tôi một cái đau điếng chỉ một bé gái chừng bốn năm tuổi coi mũm mĩm dễ thương nói theo kiểu dân chợ búa:

‘Thưởng cho mầy con nhỏ bốn năm tuổi đó, đem về nuôi một trăm tạ gạo nữa là vừa. Tao chịu con chị, nó chừng mười tuổi trổ mã tới nơi’.

Tôi mắc cở lãng mắt ra khỏi đám con gái hát hò, hướng về phía đám con trai đương hát bằng một điệu mà tôi chưa từng nghe:

Dưới trời kỳ quái sao cùng/ Chân đâu còn vết ở trong đá này/ Ví đem sắc tướng tin đây/ Như Lai chưa dễ thấy ngay được ngài.

Tụi nhỏ vừa hát vừa ịn chưn mình trên mấy dấu chưn có sẵn trên nền đất ẩm. Chúng kéo nhau rồng rắn đi một vòng rồi hát tiếp, rồi lại ịn chưn:

Bể oan lai láng trên đời/ Xưa nay ai vớt hết người trầm luân/ Mong cho ngọn nước chảy lần/ Lòng mê ta rửa dần dần tỉnh ra.

Trò chơi kéo dài. Tôi đứng vảnh tai nghe, chíp trong bụng mấy câu hát chưa từng nghe trong Nam. Thằng Thôn trố mắt ra ngó. Cái miệng nó tròn vo. Độ chừng mười lăm phút, thằng nầy đố tôi là nếu tôi thuộc hai bài đó thì nó bao tôi đi đổ xí ngầu ăn bò vò viên trên đường Hamelin bên hông trường... Hai bài hát vì vậy in vô trí tôi để sau nầy tôi được cái cơ duyên nói chuyện với Ngoạn Nguyệt dễ dàng và ôm em thiệt lâu trong tình thương mến...

2. Lời thì thầm của một học sinh trường con gái.

Bà Nội tôi là con một vị túc nho đã đỗ Tú Tài trong kỳ thi Hương ngày trước. Nội thấm nhuần nhiều điều thuộc về Nho giáo và thuộc nằm lòng lắm bài thơ Nôm mà Nội nói không sách quốc ngữ nào có. Lúc nhỏ nhà tôi ở khu buôn bán Phố hàng Buồm, cũng thuộc hàng khá giả. Trẻ con trong phố thường xuống vệ đường ca hát ngông nghênh chọc ông Tây đen bán bánh. Nghe mãi nên tôi nhập tâm lắm bài kỳ hoặc mà nếu Nội nghe cháu gái u ơ thế nào cũng mắng. Chẳng hạn như bài ông Tây đen nằm trong cái bồ... nhưng mà thôi không dám kể tiếp đâu.

Lúc tôi năm tuổi, theo gia đình vào Nam, mấy tháng đầu tạm cư trong một ngôi trường sau này tôi mới biết là trường Trương Minh Ký, cũng là tên một nhà văn miền Nam như trường tôi học những năm đầu tiên ở Miền Nam. Mẹ dặn không nên bước ra khỏi cổng, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng ren rén theo một người lớn nào đó ra ngoài ngắm nghía mấy chiếc tàu điện chạy qua mà trên đầu nẹt lửa thật đáng ngạc nhiên.

Không nhớ gì nhiều về thời gian ở đây ngoài việc mẹ bảo chăm sóc hai cây cà chua bỗng nhiên mọc dại, trổ trái xum xuê cạnh nơi gia đình tôi dùng làm sàn nước. Hằng ngày tôi ra ngắm hai cây cà của mình, sờ nắn để thấy từng trái lớn lên theo thời gian. Và rồi tới lúc mọi người phải dọn đi, trả trường lại cho học sinh. Tôi thắc mắc không biết phải làm sao với hai cây cà. Mẹ bảo cứ để vậy, có thể ai đấy sẽ hưởng những quả kia... Ngày rời khỏi sân trường tôi khóc hết nước mắt khi những tên con trai lém lỉnh đã nhổ phăng cả hai, vất lăn lóc và dẫm nát những quả tròn mịn, bóng nhẩy mới lớn bằng ngón chân mà tôi từng nâng niu.

Nhà mới chúng tôi ở khu Tân Định, trên đường Paul Blanchy, tôi học Tiểu học ở trường Huỳnh Tịnh Của, chị Ngoạn Thư học tiếp trường Trưng Vương.

Năm tôi học lớp Nhất thì chị Thư cho theo các chị đi bán báo Xuân ở mấy trường con giai. Các bà ý ngại nên cần người theo cho đỡ sợ.

Lần đấy, năm 1959, kể cả tôi là năm người, chúng tôi đi bán ở trường Chu Văn An. Chẳng nhớ trường tọa lạc nơi nào, các bà ấy bảo đi đâu thì mình đi đấy. Vào một lớp nọ, hình như là Đệ Nhất B6, chị Ngoạn Thư lí nhí xin phép giáo sư cho các em bán báo. Thầy Ngà, sau nầy tôi mới biết tên thầy, đặt viên phấn lên bàn, lui ngồi vào ghế, nhìn chúng tôi. Các chị quíu chân. Tôi rất tự nhiên, khuân cả hai chồng báo to kềnh vào. Có anh kia đứng lên xin phép thầy cho phụ với các cô. Được phép thầy và không đợi chúng tôi đồng ý, anh đem phát cho mỗi người một quyển nói là các bạn xem trong năm phút, thấy thích thì giả tiền, không thích thì giả báo lại. Lần đấy chúng tôi bán quá hơn mình mong đợi nhiều. Lớp ấy tiêu thụ bằng cả ba bốn lớp cộng lại.

Bán xong, khi thấy bọn nữ sinh chúng tôi phải khuân vác nặng xuống cầu thang có anh kia xin xung phong ra giúp. Khi đi gần tôi anh ấy nói, giọng Nam:

Nữ sinh Trưng Vương sao bé bằng cái kẹo thế này?

Các bà ý quay lại ngó tôi cười trêu. Tôi đáp tự nhiên:

Em chưa phải là nữ sinh Trưng Vương. Em là học sinh trường Tiểu học Huỳnh Tịnh Của, Tân Định.

Chị Ngoạn Thư đi cạnh anh nhanh nhẩu khi nãy. Sau này tôi mới biết anh tên Cần, Lê Mộng Cần. Anh chị quen nhau từ đấy. Những lần đầu tiên đến nhà chúng tôi, anh Cần thường đi với anh Sảnh, người đã nói tôi bé như cái kẹo. Thân thiết tôi xem hai anh như người thân trong gia đình. Tiếc là anh Cần năm sau phải đi du học Nhật Bản, bỏ chị Ngoạn Thư tôi lại nhà chúi đầu vào sách vở với nỗi buồn thâm quần hốc mắt sâu.

3. Khói thuốc cả.

Tôi ra trường được bổ nhậm về tỉnh ba năm sau mới được chuyển về Sàigòn. Trường lớn, nổi tiếng học sinh giỏi và ngoan. Dạy môn Triết dầu không thích vì phải soạn bài thật cẩn thận. Năm nọ, kỳ thi Tú Tài 2, khóa 1, lớp tôi chỉ có một cậu rớt phải thi lại khóa 2. Vài trò được phép du học cùng nhau tổ chức một tối liên hoan có ăn uống và khiêu vũ. Được mời, tôi từ chối nhiều lần nhưng các em khẫn khoản quá nói rằng Thầy phải tới cho các em vui, thầy trò mình biết bao giờ mới được gặp lại. Phải nhận rằng em ấy nói hay và tha thiết...

Tiệc thiệt tưng bừng, vui nhộn, sang trọng hơn tôi tưởng. Người tham dự toàn là học sinh nam nữ trang lứa nhưng sành điệu và chững chạc khác với hình ảnh của các em lúc còn đi học chỉ mới cách nay chưa đầy một tháng.

Lúc bắt đầu màn khiêu vũ, tôi bị bắt buộc phải nhảy một bản slow khai mạc. Các em dẫn đến cho tôi một cô thật đẹp, trong ánh sáng lờ mờ tôi có cảm tưởng là cô ta quen quen. Mùi nước hoa thơm ngát, giọng Bắc ngọt ngào, cô ôm tôi thân thiện và xưng em kêu tôi bằng thày. Cô nói mình học Trưng Vương, mới đỗ Tú Tài 1, ban C. Cô nói chuyện có duyên, từ chuyện nầy dẫn sang chuyện kia, rằng ngày xưa có người nói mình học Trưng Vương sao mà bé như cái kẹo. Tôi cười vui, bớt đi phần nào bỡ ngỡ khi khiêu vũ trước mắt bao nhiêu học trò.

Cô nói thày dạy trường Pétrus Ký mà thày có biết ở Sàgòn có một trường cũng tên có chữ Ký không. Tôi nói lúc nhỏ tôi học ở đó, còn lạ gì. Cô nói em có kỷ niệm ở đấy vì ngày mới di cư vào Nam gia đình tạm trú trong trường.

Tôi nhớ lại lúc mình đi thăm trường cũ bảy tám năm về trước. Tôi hát nho nhỏ: Ông Tây đen nằm trong cái bồ... rồi ngừng lại vì mắc cở. Ai đời làm giáo sư, đang khiêu vũ với một cô đẹp mà hát bậy. Tôi chuyển sang : Dưới trời kỳ quái sao cùng/ Chân đâu còn vết ở trong đá này.... Tôi bàng hoàng khi thấy cả hai chúng tôi cùng ngâm nga hết cả hai bài. Tới đây thì tôi tịt, cô bé còn hát thêm vài ba bài nữa rồi hỏi sao thầy biết mấy bài ấy. Tôi nói tình cờ thôi. Lúc xưa trước khi nhập trường Trung học, tôi đi thăm trường cũ, được nghe trẻ con hát. Cô ta nói có thể là trong số trẻ đấy có em.

Nhạc khiêu vũ chấm dứt bài, chuyển sang Tango. Cô ta vẫn ôm tôi sát hơn, nói nhỏ:

Ta tiếp tục bài này. Rồi ngước lên nhìn tôi: Anh không nhận ra em sao? Bé Ngoạn Nguyệt đây. Té ra cô ta đã nhận ra tôi ngay từ đầu nhưng không nói ra. Mới có chừng ấy năm mà cái kẹo ngày xưa đã thành thiếu nữ đương độ. Nhớ tới câu nói của thằng Thôn ngày trước, tôi bạo dạn:

Ngoạn Nguyệt dùng nước hoa gì mà hương thơm lạ? Soir de Paris?

Không, Rêve d’or.

Giá đừng dùng nước hoa thì hơn, vẫn.... sang trọng như thường. Tôi dùng từ sang trọng vì không dám dùng từ đang có trong trí.

Vòng tay đang ôm ngang hông tôi xiết mạnh. Tôi bạo dạng hơn vì hoàn cảnh và bóng tối:

Ngoạn Nguyệt cho anh hôn lên tóc nha.

Là tình anh em như anh Cần ngày trước hay khác?

Khác.

Anh có người yêu chưa?

Đã, nhưng sẽ tính lại sau này.

Thế thì không được.

Cho tới khi bản nhạc dứt chúng tôi về bàn, không nói gì thêm. Từ đấy Ngoạn Nguyệt sang ngồi với tôi luôn, chắc cô bé có ý muốn nói gì đấy. Cô nói sang đàng từ chuyện nầy sang chuyện kia như là đương bối rối...

...Em học ở Trưng Vương sáu năm rồi, Giáo sư em thương kính nhất là bà Hồng Điệp, giám thị thì thích bà Từ Nguyên... Trường cho em tinh thần học hỏi nghiêm túc, tình thương bè bạn, nghĩa thầy trò. Xin lỗi, đáng lý em gọi anh bằng thày nhưng vì chúng ta đã là anh em trước cho nên em mạn phép xưng hô như thế.

Sở dĩ em nói không là vì em học được rằng ở đời phải biết việc gì quan trọng việc gì không. Nói chung tất cả mọi chuyện rồi sẽ tan biến như khói thuốc. Biến thành không. Nhưng cùng lúc đó mọi chuyện cũng quan trọng, nó làm cho con người mình trở nên có giá trị hay tồi tệ....

Tôi lấy hết can đảm đặt tay mình lên trên bàn tay đẹp của Ngoạn Nguyệt như cho em một điểm mười.

Ngoạn Nguyệt đọc khẽ cho tôi bài thơ em nói là mới học thuộc khi xem Giai Phẩm Xuân của trường Trung Học Hoàng Diệu năm nay. Em nói:

Bài thơ buồn quá. Em coi mà như thấy vận vào đời thanh niên thiếu nữ ngày nay.

Trong tiếng nhạc nhẹ, lẫn với âm thanh ồn ào của buổi vui chơi đông người, tôi nuốt từng lời giọng đọc buồn của em. Như có tiếng nấc nghẹn ngào lạc lõng:

Khi ánh trăng xếp hàng nằm ngủ.
Tôi hỏi rằng mình đứng đợi ai đây,
Trời vào Thu, trời lớp lớp mưa bay,
Tôi 16 tôi vào đời con gái,
16 tuổi yêu không ngần ngại,
Người yêu tôi anh thiếu úy không quân.

Ngoạn Nguyệt cần ly rượu chát của tôi san nửa qua cái ly không trên bàn, đọc tiếp:

.......Tôi đứng nơi nầy trông ngóng trời Tây,
Để thầm nhủ người yêu tôi ở đó…

…Có người yêu thời chiến tranh thật khổ.
Lúc gần nhau ngắn ngủi làm sao,
Lúc giã từ cũng không kịp hôn nhau,’
tôi đã khóc sợ người yêu vào lịch sử,’

…Trời có buồn đâu sao trời ủ rủ,
Mây có buồn đâu sao mây rũ khăn tang,
Trời vào thu trời tiếc thương chàng,
Tôi 19 tôi vào đời quả phụ…

Tôi nói mà như nói với mình:

Thời chiến mọi người đều có hay sẽ có những đau buồn. Người đi đối diện với chết chóc, người ở nhà chìm ngập trong lo âu hay chờ đợi cái tang nát ruột xé gan.

Lơ đãng nhìn những hạt khói được rọi sáng thành những làn mạng nhện mỏng khi ánh đèn lướt qua, Ngoạn Nguyệt nói trong tiếng thở dài: Khói thuốc cả.

4. Thơ buồn không địa chỉ.

Hai năm sau một chiều gần lễ Noel, một bức thư màu xám được ai đó đem tới trường cho tôi, không địa chỉ người gởi nhưng nhìn cách trình bầy và chữ viết ngoài phong bì tôi run run linh cảm có tin gì đó không lành từ Ngoạn Nguyệt. Thơ rất đặc biệt khiến nửa thế kỷ qua như vẫn còn hiện hiện trước mắt:

Sàigòn, ngày buồn không nước mắt 1970

Anh S.

‘Tôi mười chín tôi vào đời quả phụ.’

Khói thuốc cả.

Em: NN.

Từ đó đến nay tôi không được tin tức gì của Ngoạn Nguyệt. Biết mình vô lý, nhưng mỗi lần nhớ về thời trai trẻ tôi đều thầm van vái người em gái Trưng Vương thông minh và dễ thương đó không có thân phận của khói thuốc dầu cuộc đời đã vốn dĩ phù du mà lại luôn tác quái lên mọi người. Chẳng chừa một ai. Van vái chỉ vì thương cảm và sự yếu lòng. Khói thuốc nào rồi chẳng biến tiêu? Câu than của em đã ảnh hưởng nhiều trên hành trạng của tôi cũng như đã hướng dẫn nhiều phản ứng trước cuộc đời. Em có biết không Ngoạn Nguyệt?

Nguyễn Văn Sâm

(Khởi thảo: Victorville, CA, 15 tháng 11,
Hoàn tất: Alfortville, ngoại ô Paris, 02 tháng 12, 2016. Những câu thơ buồn ở đây được lấy từ giai phẩm Xuân của trường TH Hoàng Diệu Sóc Trăng khoảng thập niên 70.)

Monday, May 13, 2019

Ngày Tháng Bồng Bềnh  
Nguyễn Văn Sâm 

1.
Những người muôn năm cũ, Hồn ở đâu bây giờ? Câu thơ xót xa cho hình ảnh quá khứ bị vùi chôn chợt hiện lên như phép lạ đánh bật dậy dĩ vãng lâu nay lấp kín dưới sâu thẳm của địa tầng ký ức khi người ca sĩ có vẻ mặt rất trẻ thơ vừa mới được hoan nghênh nồng nhiệt trên sân khấu một hai màn trước rụt rè hỏi tên tôi, rồi mừng rỡ xác nhận nàng từng ngồi trong giảng đường nghe thầy thao thao trên bục giảng.

Thầy giảng hay lắm. Cách nói xác định, trang phục lộng lẫy nổi bật vẻ sang trọng đối diện bộ quần áo bình thường, bày bán trong những tiệm bình dân nhan nhản khắp nước Mỹ trên mình tôi lúc đó, cộng với bộ mặt bơ thờ - chợt nhớ lại khi mình chắc lưỡi chải vội mái tóc trước khi đến đây - khiến tôi mỉm cười, vừa tội nghiệp vừa chua xót. Tội nghiệp cô học trò cũ, thật thà như đếm. Chua xót mình, tang thương, lạc lõng, vẫn còn mang bộ mặt ngái ngủ, dật dờ trong cuộc mộng du mười năm dưới lời trù ếm của những tên phù thủy thời đại.

Người ca sĩ vẫn đứng im trong vị thế cũ, ké né, khép nép, tay chân như thừa thãi, trrái hẵn với vẻ mặt tươi mát, tự tin lúc trình diễn. Thấy một chút gì đó hãnh diện về quá khứ. Ít ra điều mình nói đã có người nghe, thời gian làm tròn vai trò người thầy đã tạo được hảo tượng – hay nhờ nền giáo dục, luân lý Việt Nam? Tôi lại mỉm cười. Câu nói thiệt tình, nhưng chuyện xưa đã nhạt nhòa, mất hút theo những thay đổi. Chỉ còn chuyện có thật là là nảy giờ tôi đã ngồi im, Mắt dán chặt lên sân khấu, đắm chìm trong âm thanh ngọt ngào, tươi trẻ, phủ tràn không khí tình tứ của những điệu ngâm, chẻ, láy duyên dáng, ngọt lịm. Tiếng hát thuần túy quê hương, tiếng hát của tuổi trẻ yêu đời, của duyên hải nên thơ rót thành chuỗi âm thanh sóng vỗ rì rào trong đêm thanh lặng gió, trên bờ cát hun hút dài, hòa điệu tiếng thùy dương xào xạc gợi nhớ bãi dứa thân mật, bãi dâu sang trọng, bãi cát mộng mơ trong những đêm thức suốt sáng thưởng thức nhạc sóng bất ậtn, mơ làm một con tàu băng mình vào những cuộc hải hành… Lời ca đam mê, hóa thân vào hoàn cảnh, đã đùa giỡn, xô đuổi, lả lướt, mê hoặc lòng tôi sau thời gian dài chai đá, kéo hồn ra khỏi xác, lâng lâng với nỗi buồn nhè nhẹ, xao xuyến về cuộc tình tan vỡ xa xưa…

Ngó khán giả chung quanh, nhìn người trước mặt, cảm nhận về mình, bất giác mặc cảm xa cách len lỏi vào lòng. Cuộc đời đổi thay dìm mình và biết bao người khác xuống tận cùng xã hội, lột bỏ kiến thức thủ đắc lâu nay liệng vào xó xỉnh lãng quên, nâng bổng cô học trò trắng tay vào đời thập niên trước lên đỉnh cao danh vọng. Tôi lạnh nhạt ừ hữ đóng lại cánh cữa thâm tình vừa mở.

Những câu hỏi dồn dập về chuyện cũ, về đời sống bây giờ, bằng một sự nồng nhiệt khó ngờ - tuy dùn duỗi đứt khoảng bỡi hình ảnh mấy ngày hấp hối của chế độ và sự lơ đãng cố tình của tôi – theo diễn biến câu chuyện cột lại tình thầy trò cũng là tình thân của những người có một vài kỷ niệm chung về một trường hợp nào đó cảu đời sống riêng đáng nhớ.

Dựa lan can lầu ba của giảng đường II, tôi xót xa nhìn đám sinh viên dưới đất. Lố nhố, như trên nầy, đông nghẹt. Một không khí lạ lùng gì đó đang bao phủ, thiếu sự ồn ào cố hữu của lúc đổi giờ, đổi lớp. Thiếu tiếng kéo ghế ầm ầm, tiếng tập vỡ sột soạt mở ra vội vàng, tiếng ồn ào của những câu nói kết thúc cuộc trò chuỵên dang dở - như điệu nhạc quân hành trật nhịp. Im lặng chết chóc, đưa ma! Cái im lặng tang thương sau một tin buồn. Những ánh mắt lo âu trên gương mặt nam, những cái nhìn thảng thốt trên gương mặt nữ. Lo âu, thảng thốt nhưng ẩn tàng vẻ chấp nhận, chịu đựng. Làm sao khác hơn được? Cả nước đang bị tê liệt vì trò chơi trao đổi quyền binh, vì những cuộc mặc cả bẩn thỉu trong bóng tối do những người dự chơi nhiều tham vọng, không cần để ý đến vực thẳm để lại cho người khác sau bước đi. Các thanh niên thiếu nữ này không dự phần cuộc hơi nhưng lại chịu ảnh hưởng thật sâu đậm, thật phũ phàng. Bất lực đợi chờ chuyện sẽ đến – tuy đã thoáng thấy tối tăm trong viễn tượng, nhưng họ vẫn đến trường, vẫn cần mẫn, yên lặng chăm chỉ nuốt từng kiến thức, ghi từng ý nghĩ người thầy - nhiều khi chợt đến trong trí, bùng vỡ theo lời giảng, chưa được kiểm chứng.

Đó đây chỉ còn những cặp mắt mở to, nai tơ tội nghiệp. Tiếng cười vô tư dòn dã thường ngày bao quanh cái xe đậu đỏ bánh lọt ở đầu dãy lớp học tiền chế đã không còn. Thỉnh thoảng vài nụ hoa e dè nở góp khi một nhận xét hóm hỉnh được đưa ra để giải tỏa không khí. Cử chỉ giờ đây được suy tính đắn đo, bộc lộ thật giới hạn. Trạng thái người mới lớn đang phải đối đầu với khó khăn trước mặt. Tôi lắm khi ngừng nói, rít một hơi thuốc thật dài, trí lơ mơ theo làn khói tìm vui trong âm thanh sột soạt nhè nhẹ, của gió thoảng lay động tàu lá chuối trong đêm, của tiếng viết nguyên tử chạy nhanh trên giấy, đầu đầu, mơ hồ như tiếng suối xa xa, hay đưa mắt khám phá những cặp mắt đợi chờ trong từng cái ngước nhìn ngạc nhiên.

Bỗng nghe buồn lạ lùng! Biết đâu hôm nay ngày chót cùng nhau tụ hội ở đây, đọc bài thơ xưa, nói chuyện thời trước. Có vẻ gì đó vô bổ, thực tại đau nhức không thể khỏa lấp khi tiếng súng vẫn vọng về, sự lo âu tương lai không thể quên khi từng loạt hỏa tiễn thỉnh thoảng rớt quanh đây, bước chân người-anh-em-ruột-thịt-lạc-đường trở về sẽ là đổ vỡ tang tóc, sẽ là những đổi thay tột cùng. Cơn động đất giận dữ của ác thần, cái trở mình trật nhịp của lịch sử rồi sẽ không chừa ai. Tôi có thể rồi sẽ bị bắt, bị giết hay bị bắt buộc nói những điều hôm nay còn cho là sai trái. Điều nào cũng vậy thôi, ít nhất một thời khoảng của đời bị tước đoạt, con người thật bị bóc bỏ, cách này cách khác. Được thôi! Nhưng những người trẻ ngồi kia tội tình gì? Nụ mầm còn quá tươi non để chịu đựng cơn hồng thủy! Không lâu, rồi đây chỉ còn lại héo úa tàn tạ, những hình nộm ngác ngơ, lang thang, lếch thếch trong một xã hội mà mặc cảm phạm lỗi là yếu tính của mỗi cá nhân. Tấm màn đen kịt đầy những móc sắt đang giăng cao, dọa nạt sẵn sàng bủa sụp xuống. Sự tan tác, tản lạc như thú nhỏ chạy chết trong trận cháy rừng, hình ảnh đau xót thấy ngay không cần cầu viện đến khả năng tưởng tượng.

Âm thanh tôi xúc động nhão nhẹt, lê thê chữ này nối chữ kia, rè rè qua cái micro nghe càng não nề. Tay chân tôi nổi da gà, lông tay dưới lớp áo sơ mi bật dậy khi nghe chính giọng mình kết luận bài giảng. Lịch sử chỉ là sự lập lại sự kiện quá khứ. Đất nước Nam Hà xuống dốc vì Chúa Nguyễn và bầy tôi xa hoa, bất lực. Miền Nam giờ đây cũng đang có quá nhiều sai trái, sợ rằng sẽ dẫn đến ngả cụt đen tối.

Tôi đọc lại bài thơ vừa giảng, nghe xót xa trong từng câu từng chữ, bài học người xưa viết ra gần ba trăm năm nay nhưng biết bao nhiêu người không thuộc.

Giảng đường im phăng phắc, tiếng gió quạt máy vù vù, tiếng thở ra nghe rõ mồn một. Một thứ huyết dịch âu sầu đang chuyển vào hồn mọi người. Nửa dân tộc thoát khỏi lưới chụp hơn hai chục năm nay như sắp bước vào thảm trạng. Tiếng thì thầm đâu đó, giọng nữ thật ấm, thật buồn, như giọt nước mắt cố nén tới lúc phải rớt xuống:

‘Giống hệt như bây giờ. Tin thua trận dồn dập, quân rã ngũ tan tác…’

Cả lớp ngó dồn về phiá đó, nhiều tiếng xì xào. Tôi giả tảng như không, tiếp tục tóm lược những điều đã trình bày sau khi liếc thấy cô học trò quen thuộc với cặp mắt đỏ hoe.

Lớp được giải tán bằng lời an ủi xác quyết bi kịch không thể xảy ra sớm, bàn cờ chính trị thế giới sẽ nghiêng cán cân nếu có cảnh bất lợi tuyệt đối cho miền Nam.

Nghe như mình tự dối bằng ảo tưởng. Nhột nhạt về sự trơ trẽn mà chính mình cũng lấy làm lạ.

Ngồi nguyên trong vị thế cũ sau khi người sinh viên cuối cùng bước ra khỏi giảng đường, tôi nghĩ về đoàn người đứng dưới đường gần đó. Tòa Đại Sứ Mỹ. Thật đông. Thật nhiều. Thật ồn ào. Hi vọng bỏ lại được nguy hiểm và đổ vỡ sau lưng, phún xuất thạch của ngọn núi lửa phun máu đã chảy đến chậm nhưng chắc chắn, họ tụ tập ở đó, ngày nào cũng vậy, cả nửa tháng nay, áo quần mốt mới, sang trọng, giấy tờ sẵn sàng trên tay. Thỉnh thoảng vài người bên trong bước ra bộ điệu hớn hở pha lẫn đôi chút hảnh diện. Càng ngày đám đông càng mở rộng, mỗi lần đến trường, chạy ngang, tôi đều có một cảm giác kỳ quặc, nhào trộn giữa hai đối nghịch: ước muốn có điều kiện như họ và cảm phục những sinh viên cách đó mấy con đường ngồi trong lớp, im lặng, tâm trí thực hiện những cuộc hành trình vào thế giới văn chương.

Hai thái cực, hai khái niệm sống, hay hai hoàn cảnh?

Chiều xuống với con mắt đỏ chạy trốn ngoài sau dãy lầu trường Dược. Lác đác mấy tiếng máy xe về muộn nổ bình bịch, lạc lõng. Đâu đó vài câu nói của họ với nhau vô tình nghe mấy phút trước đập lùng bùng bên tai đau nhói: con X, con Y… đã theo chồng, theo gia đình đi Guam từ hôm qua. Thằng A, thằng B. .. đã nằm ở đảo Phú Quốc mấy ngày nay…
Cuộc đào thoát nào cũng đáng được biện minh. Thiên tai đáng trách chớ không phải kẻ tìm đường sống. Cảm thức đơn dộc đến tận cùng tri giác khi nhìn bàn ghế trống không lệch lạc, hun hút tới tận cuối giảng đường thênh thang, vây quanh bỡi mấy bức tường cao trắng nhạt…  
  
2.
Phòng khách rộng. Bộ sofa nhung bông đỏ xanh nổi bật lên tương phản với màu tường. Bức hình nữ chủ nhân phóng lớn treo phía trên lò sưởi, nụ cười hé nở nhẹ, tưới tắn phô bày hàm răng trên duyên dáng với hai cái răng nhỏ xinh xinh. Mấy người đàn ông đang ngồi phun khói thuốc trước tách cà phê. Trẻ con nằm ngồi quây quần chung quanh một loại game Mỹ. Đằng sau cái quày ngăn cách giữa living room và nhà bếp hai người bạn gái và đứa con gái lớn lăng xăng với nồi phở và những món ăn phụ.

Không khí thật ấm cúng, gia đình.

Dung hỏi bạn, sau một cái liếc nhìn về phía phòng khách:
‘Hải, mi có đem cuộn băng theo không, để lên cho hai thầy thấy tài của đệ tử. Hơn mười năm rồi, chuyên nghiệp chứ không phải học trò như ngày xưa.

Nụ cười che giấu bối rối:
‘Mầy nói… Nhưng mà chỉ có bản gốc chưa mix, ca sao thì nó vậy. Sợ mấy thầy chê thì  quê…’

‘Ai không biết vậy? đừng khớp. Mấy thầy bây giờ hiền hơn hồi đó nhiều.

‘Ờ! Sao hồi đó gặp hay nói chuyện với thầy, tao run quá. Bây giờ trạng thái đó không còn nữa.

‘Chắc lúc trước mi mặc cảm xin điểm chứ gì.’

Cô ca sĩ biết mình bị chọc, ngây thơ đính chính:
‘Tao chưa từng xin điểm, gạo bài thâu đêm tới xấu như ma lem như mầy biết đó. Không biết tại sao gặp cả thầy không dạy mình tao cũng run. Lính quýnh, láng quáng…’

Dung làm tội làm tình người bạn đến cùng:
‘Hay mi mặc cảm là mới bước vào năm thứ nhất Đại Học đã bày đặt bồ bịch, mèo mỡ sợ thầy biết được thì quê.’

Hai người bạn gái đấm nhau thùm thụp như dạo nào còn rất trẻ ở quê nhà, vô tư với những hoạt động sinh viên và các dự phóng thật thanh bình.

Tôi rời phòng khách, định gọi điện thoại thì gặp cảnh đó, hỏi để đem không khí về vẻ tự nhiên:
‘Mấy chị nói chuyện gì vui vậy? Cho nghe ké được không?’

Ca sĩ đỏ mặt như lần đầu tiên đứng trước micro. Người bạn kể lại những đối đáp nảy giờ.

Tôi cười:
‘Không phải bây giờ hiền hơn hồi đó. Ngày xưa chỉ nhờ uy. Ngày nay đâu còn uy nữa. Mà lại tang thương. Mấy chị xem, chúng tôi ngơ ngác, xác xơ. Mỗi tuần khám phá thấy dung nhan mình tàn tạ hơn.’

Một cô nào đó an ủi:
‘Thầy nói vậy, chứ hai thầy đâu đã già…’

Tôi cảm thấy câu nói sáo ngữ, lúng túng và bốn cặp mắt thông cảm lướt qua mặt mặt mình. Mặt đỏ lên vì biết  mình được thương hại. Tại sao tôi luôn luôn bị đẩy vào cảnh này? Thời gian đã chất đầy chán chê cho cuộc sống lứa đôi hay hoàn cảnh mới mở ra những cửa ngỏ có vẻ đáp ứng ước mơ ấp ủ nơi người đàn bà nhiều tham vọng nọ? Tội lỗi chất chồng từ muôn kiếp trước hay cuộc chạy đua với thời gian để viết lách, lãng quên nhiệm vụ làm chồng? Sự đổ vỡ đã có. Đã quất vào tâm tư tôi quá nhiều đường roi lóc thịt. Sự thương hại càng khiến cho tôi nhớ lại mình đang thiệt thòi. Tôi trốn chạy thực tế để quên sự thua thiệt đeo đẳng bao nhiêu năm nay và phủ nhận bất cứ một sự nhắc lại nào. Tôi cố lấy vẻ tự nhiên bằng cách tự động mở tủ lạnh tìm cho mình một thứ nước uống.

Cô ca sĩ vô tình hỏi tới:
‘Chỉ thấy thầy và mấy em, cô có qua được không thầy?’

‘Có!’

Một phút ngập ngừng và rụt rè:
‘Cô ở đâu mà lâu nay không nghe thầy nhắc tới.’

Ngăn chận không cho câu chuyện đi vào riêng tư, cấm kỵ, tôi trả lời nửa đùa:
‘Ở trên nước Mỹ nầy chứ ở đâu. Hai cô hỏi lạ.’

Tôi cười lớn rồi cố tình gợi ý cho họ đoán. Mấy bà, mấy cô hễ gặp là hỏi chuyện đó. Câu hỏi này năm tám năm nay tôi nghe không biết bao nhiêu lần rồi.

Tôi bưng lon coke lại bấm số điện thoại. Hai người bạn gái trao đổi cái nhìn ngụ ý đã hiểu.

Chuông reng. Một tràng tiếng Mỹ giọng bà-chã-bà-chẹt: Tiệm X, tôi có thể giúp được gì ông? Không cần, ông có đến cà phê văn nghệ với tụi này thì đến. Không được ông ơi, coi ca tôi, tôi còn phải bao luôn ca của bà xã. Bữa nay bà ấy mệt, chỉ có hai vợ chồng thay phiên canh cái tiệm 24 giờ một ngày mệt đứ đừ. Thằng cu nhỏ quá chưa nhờ gì được. Thì làm ít thôi, đừng ham làm giàu. Ở apartment, đi xe cũ như tụi nầy. Tiếng cười gượng gạo. Chỉ cố gắng tới đâu hay tới đó. Lo làm giàu mẹ gì… Hắn biện giải gì nữa tôi không cần nghe mà còn chọc thêm. Hơn nửa đời người rồi, quá chậm để trở thánh triệu phú. Học hành ngày xưa chẳng lẽ ông đành đoạn bỏ hết để hứng lượm bạc cắc năm này qua năm khác? Làm gì ích lợi hơn cho đời xem nào. Hắn chống chế yếu ớt. Đừng nói vậy chớ bạn, tôi làm nhiều việc lắm đó… nhưng mà lúc này phải rán để nữa cho con nó có cái nhà. Mình đã biết cái khổ lúc mới start rồi, muốn con sau nầy khá hơn, nhưng mà rồi ông đừng buồn nhe. Đâu phải viết lách lăng nhăng như mấy ông là có ích lợi cho đời đâu. Không cần thiết phải khơi dậy một cuộc thảo luận về quan niệm sống, tôi chuyển câu chuyện. Thôi chắc ông đang bận, cứ nghe mấy thằng Mỹ mua đồ và ông đếm tiền, thối tiền, nói chuyện mất hứng. Chừng nào rảnh mình đến chơi.
Sư anh, nói dóc vừa vừa chứ, muốn tạo cho mình lại nói là vì con. Con nó thèm vào cái nhà của anh? Tốt nghiệp, đi làm chỗ nào nó mua nhà chỗ đó vừa ý hơn căn nhà anh đổi mấy chục năm đời đứng tiệm.

Tôi nói một mình nhưng để phân trần với hai cô học trò cũ:
‘Vậy không! Mời họp mặt văn nghệ thì từ chối, tối ngày đứng đằng tiệm, nhưng hễ động dao động thớt chủ tịch, đại diện này nọ thì có mặt có mặt có tên. Phải phục là họ hay, nhanh chân, lẹ miệng.’

Tôi trở lại phòng khách. Câu chuyện vẫn dòn tan về tình hình văn nghệ hải ngoại, về thị trường băng nhạc, về những bài viết mới, về những người viết về ý thức trách nhiệm và vì ước muốn thủ đắc một điều gì đó trong cuộc sống.

Tốt hơn mình nên nghe. Nhân tâm tùy ý thích, tùy bản tính và khả năng từng người. sự tốt xấu không thể nói hết trong một buổi họp mặt ngắn. Tôi lơ đảng hút thuốc để hồn theo điệu nhạc êm đềm của những bản nhạc tình phát ra từ hai cái loa đặt ở hai góc phòg đối diện. Tiếng hát nức nở, thê lương, réo rắt phảng phất từng chút của những giọng ca nổi danh.

Tôi hỏi T., người luôn hãnh diện khi kể về những phi vụ nguy hiểm và những công tác khó khăn lúc chịu trách nhiệm phi đoàn ở miền Trung. T. lắc đầu. Tôi chịu. Người bạn văn nhăn trán như để phân biệt hơn âm thanh. K. đợi cho mọi người có một thời khoảng đủ để chú ý mới thong thả:

‘Ca sĩ X. đó xuất hiện từ lâu rồi nhưng không lên, cứ ở hạng B hoài.’

Tôi cười:
‘Như T. mới tài. Dạy vợ thế nào không biết mà ca càng ngày càng hay. Bây giờ Hải là một giọng ca ăn khách ở hải ngoại đó.’

T. được dịp kể công, giọng một chút gì đó hãnh diện:
‘Ca hay thì có, nhưng mình giữ hai đứa nhỏ mệt đứ đừ. Mỗi tuần mấy tối. Mới đây nàng lại làm một vòng Cali thâu băng cả tháng, hamburger làm chuẩn. Chán tới cổ họng.’

K. chọc:
‘Cái khổ không phải ở chỗ coi con một tháng. Khổ ở chỗ vắng nàng 30 đêm. Hèn chi lúc Hải đi Cali, cứ nghe ông than thiếu tiền. Ăn hamburger làm sao thiếu tiền được. Sợ trách nhiệm tối đâu dám cho mượn.’

Người bạn văn nhìn tôi, trao đổi ý. Có sự thân mật trong lời châm chọc. ‘Cười cho quên đời.’ Hai người chồng của hai cô học trò thường nhắc lại điều này.

Người bạn hội nhập vào không khí vui của gian phòng thật nhanh:
‘Còn có khả năng để mượn tiền, đời còn chút nào có ý nghĩa, ông nầy từ lâu không còn khả năng để mượn tiền nữa. Đời hiu hắt từ lâu.

Cả bọn cười vang vui vẻ. Chợt nhớ đến hoàn cảnh mình. Người đi hẳn có lý do, nhưng người ở lại đối diện với nhiều vấn đề. Câu đùa trên là một. Con cái là hai. Đứa con gái lớn, nhiều khi có những chuyện không nói được với cha, nằm khóc rấm rứt trong phòng. Đang tuổi lớn, nguyên tắc căn bản của con gái, phải tự khám phá, không có một người đàn bà để giảng dạy. Cô đơn và tủi phận thiệt thòi. Tại ai? Vì sao? Tôi đưa tay sờ vào túi áo trên. Cái thư đứa nhỏ viết cho bạn, bỏ không gửi, tình cờ thấy được, giữ như một tài liệu chứng minh sự thiếu sót bổn phận của mình với con, như một sự thúc thủ trước hoàn cảnh. Theo thời gian rồi hai đứa sẽ lớn lên, bắt chộp được đó đây vài điều khôn giúp cho đời sống, nhưng chắc chắn sẽ thiếu sự tế nhị cần thiết của thiếu nữ Việt, không đủ niềm tự tin và tính phớt tỉnh rất dễ sống của phụ nữ Mỹ. tội nghiệp của những nụ hoa đương nở thiếu bàn tay chăm sóc vun phân, tưới nước , tỉa cành. Từng chịu đựng và coi đời như không như tôi lắm khi còn xót xa lúc tự mình tìm viên thuốc khi bịnh hay về nhà nửa khuya sau buổi học muộn phải ăn quấy quá miếng cơm lạnh tanh, huống chi tuổi trẻ dễ dao động và nhiều mặc cảm?

Tôi hết hứng thú góp chuyện, ngã lưng vào ghế trường kỷ, đốt điếu thuốc, thả trí lông bông theo tiếng nhạc. Cuộc thảo luận bàn tán vẫn sôi nổi. Mấy đứa nhỏ vẫn cải nhau chí chóe bằng thứ tiếng Mỹ 100%. Không ai ngạc nhiên trước chuyện đó. Trừ tôi, với một nỗi niềm tiêng tiếc và một sự bi quan vô bờ về nền tảng gia đình và tương lai cộng đồng Việt.

Bưng hộp sữa ra tiếp tế thêm cho nhóm đàn ông. Dung nói với mấy đứa nhỏ:
‘Lại gambling, các con nên chơi gì khác hơn là trò chơi đó. Cãi nhau ồn quá!’

Mấy đứa được dịp nhao nhao:
‘This isn’t a gambling Mom! You see, this is something helps to study.’

Tiếng ai đó nhận xét:
‘Tụi nhỏ bây giờ như vậy không, nói tiếng Mỹ tối ngày! Mình nghe câu được câu không.’

Có trời mà cản nổi! Tụi nó đâu muốn bị rầy la, cũng không muốn cha mẹ bực mình, có đứa còn mắc cở khi phải nói với người lớn bằng tiếng Mỹ nữa, nhưng lỡ bị nhét vào vị trí 8 giờ mỗi ngày ở trường, độ 3, 4 giờ được kèm ở tư gia bằng mấy cái đài truyền hình, do một hệ thống giáo chức lẫy lừng, với một ngân khoản vô tận giảng bài cho mấy trăm triệu người thì tất nhiên không muốn chúng cũng khó lòng không quên tiếng Việt.

Tôi thấy mình nên góp ý:
‘Đó là tình trạng thoát qua. Như bọn mình qua đây trên dưới ba mươi, lưỡi  cứng, tế bào ngôn ngữ trong não đã định hình, khó sữa chửa nên phải nói ngọng nghịu – tôi tán rộng chuyện tế bào ngôn ngữ - cuối cùng thích yên lặng với người Mỹ cũng sở hơn là tía lia như gặp Việt Nam. Tụi nhỏ cũng vậy, nói, nghe tiếng Mỹ ở nhà, ở trường từ lúc còn bé thì nó sợ tiếng Việt là chuyện đương nhiên.’

Người bạn bi quan:
‘Điệu nầy ngại cộng đồng Việt Nam sau nầy bị hòa tan quá. Người mình mà thua những cộng đồng Á châu khác trong việc bảo tồn thì đáng buồn thiệt.’

Tiếng T. hăng hái:
‘Phải viết bài kêu gọi các bậc cha mẹ ngăn chận và sữa chửa chuyện con cái mất gốc. Vẽ cho họ thấy tương lai, gia đình ai lo cho con cái nấy thì chuyện có thể giải quyết được.

Vâng, ai cũng thấy điều đó, không ai muốn cho con cái mình trở thành Tây, thành Mỹ, nhưng còn công ăn chuyện làm? Thành ra những điều viết lách hôm nay có thể trở thành vô ích. Biết vậy, nhưng làm được gì khác hơn! Đứa con gái nhỏ của mình đó. Tôi cười trong đau khổ:

‘Anh em coi bức thư của con nhà văn nè. Mấy ông nghĩ sao? Cha làm thầy con bán sách? Nhiều nguyên nhân lắm, chuyện không dễ như mình tưởng đâu.

Tôi lúi húi đọc lớn cho mọi người nghe;
Dear Hà, Hà có mạnh khỏe không? Vân thì same as usual. Summer nầy Vân và family của Vân sẽ đi Vacation ở Illinois, chỗ nhà cousin của ba Vân để thăm họ hàng. Vân don’t like it, nhưng mà ba Vân đi đâu Vân phải đi theo đó. Gần bãi trường Vân fell sad vì… thằng Jack cute với thằng John baby face đó mà. Tụi nó nice với Vân lắm. Hổng có gì, you know, nhưng mà sometime, I’m proud of myself. Tuần trước Vân took some pictures trong lớp, this is one of them… Cho Vân xin lỗi cái gà bới hand writing của Vân…

Mấy ông thấy đó!
Đâu có thể qui lỗi tại một ai! Cha mẹ, con cái, hoàn cảnh, lòng tham lam, tình quê hương càng ngày càng héo hon, và cả “tụi nó” ở quê nhà nữa, đã đẩy chúng ta ở đây nên mới có vấn đề.

Mọi người xì xào bàn tán, mỗi người một ý. Bức thư buồn cười thiệt, nhưng không ai cười. Tôi mệt mỏi đứng dậy thay băng mới vào tape. Chữ viết tay “Những chuyện tình bé bỏng”, băng mẫu, chưa mix. À thì ra tác phẩm thai nghén mấy tháng nay. Tôi trở về ghế mơ màng trong không khí nhạc.

Từng tiếng bass, tiếng trống nâng âm thanh bài ca mới… giọng ca véo von tái tạo những cuộc tình đẹp ngày xưa. Người tình áo tím, tóc thề, má hồng như nụ hoa buổi sớm mơn mởn những lông tơ, thẹn thùng nắm tay nhau trên đường phố Chợ Lớn của tôi. Người tình áo trắng nữ sinh rạng rỡ khi người lính về phép của bạn, của anh. Những mối tình có thật hay ước vọng, đau đớn xót xa hay kết thúc viên mãn, nhưng chắc chắn tiếng hát đã tạo trong trí tôi một người tình để nhớ về, để quên muộn phiền tự mang hiện tại. Những ray rứt chập chờn về người vợ phiêu hốt, đứa con lớn thiếu bàn tay mẫu từ, đứa con nhỏ trên đường quên tiếng Việt, sự mất hút đã hé mở trong viễn tượng của cộng đồng, tiếng ồn ào nhức đầu trong xưởng máy, những nhố nhăng của người chung quanh, những tiếng kêu chới với trên biển, tiếng thở dài vọng lại từ quê nhà ngục tù. Tất cả tan biến theo tiếng hát thênh thang, kéo dài trogn trí não người nghe khi đã dứt.

Mười năm bềnh bồng với tảng đá ưu tư mang nặng trong hồn một phút nào đó như được trút bỏ.

Tôi uống cạn ly cà phê bỏ dở lạnh tanh nảy giờ. Chưa bao giờ thấy ngon lạ lùng như vậy.

‘Thời gian thiệt ngộ nghĩnh, mười năm trước mình đâu có ngờ ngày hôm nay, lạc lõng ở quê người, ngồi nghe tiếng hát học trò cũ để tạm quên thân phận phiêu bạt.’

Không ai chú ý đến câu triết lý vụn không phải chỗ của tôi. Tiếng hát vẫn tiếp tục ru mọi người vào thời gian tươi đẹp xa xưa. Âm thanh dao động không gian ấm cúng của căn phòng. Trên tường bức ảnh chủ nhân vẫn mỉm cười, nụ cười bức họa La Joconde.

Nguyễn Văn Sâm
(San Marcos, TX, 11-85, Xứ người năm thứ sáu.)

Blog Archive