Showing posts with label Danh Nha^n. Show all posts
Showing posts with label Danh Nha^n. Show all posts

Friday, August 14, 2026

CHẾT RỒI MỚI ĐƯỢC THỪA NHẬN

Năm 1996, Michael DeBakey (1908 - 2008), bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng thế giới, người Mỹ, đã bay đến Moskva để giúp các đồng nghiệp Nga thực hiện ca mổ tim cho TT Boris Yeltsin. Việc đầu tiên ông làm trên đất Nga, không phải là đòi tiền công, không phải là hỏi về bệnh viện nơi sẽ diễn ra ca mổ, mà là yêu cầu "tôi có thể đến cúi mình trước Demikhov không?". Các nhà báo im lặng, ngơ ngác nhìn nhau: một trong những phẫu thuật gia vĩ đại nhất hành tinh lại muốn phủ phục dưới chân một thiên tài mà ở đất nước của người đó không ai nhớ tên.

Họ tên đầy đủ của ông là Vladimir Demikhov, người đã nghĩ ra phẫu thuật bắc cầu cho động mạch và là cha đẻ của ngành ghép tạng từ cách đây hơn 40 năm. Một ông già bị lãng quên, sống những ngày cuối đời trong căn hộ một phòng với các món đồ gỗ cũ kỹ.

Là con của một nông dân ở vùng sông Đông bị giết trong cuộc nội chiến sau CMT10, Demikhov khi còn là sinh viên vào năm 1937 đã tự tay thiết kế quả tim nhân tạo đầu tiên trên thế giới để cấy ghép nó cho con chó. Người ta nói rằng để mua nẹp bạc y tế cho quả tim, ông phải bán đi bộ vest duy nhất của mình.

Tiếp sau, ông thực hiện các ca ghép tạng chưa ai từng làm: ghép tim và phổi, ghép gan. Và con chó được ông thực hiện các ca phẫu thuật sống được 29 ngày. Nó được ông chăm sóc trong nhà mình.

Giới khoa học thế giới biết về kỳ tích này. Và ngay cả bác sĩ phẫu thuật giỏi nhất là Christian Barnard (1922 - 2001), sinh ra ở đảo Síp, là công dân Nam Phi, người thực hiện ca ghép tim đầu tiên vào năm 1967, - cũng đã 2 lần đến gặp Demikhov - để xin ý kiến trước ca phẫu thuật trọng đại. Cho đến cuối đời, Barnard đã gọi Demikhov là người thầy của mình và là "cha đẻ của ngành ghép tạng".

Demikhov được bầu là tiến sĩ danh dự và hội viên của các hội khoa học Leipzig (LB Đức), Upssala (Thụy Điển), Hannover (Canada), Viện Mayo Clinic ở Mỹ. Các nhà y học hàng đầu thế giới kính cẩn ngả mũ trước ông.

Còn ở tổ quốc, người ta gọi ông là "lang băm" và là "người làm khoa học giả hiệu". Giám đốc Viện khoa học nơi ông làm việc cũng hùa theo tuyên bố về "gã lang băm Demikhov".

Chủ tịch Viện hàn lâm y học Liên Xô thì nói với vẻ bao dung "một nhà thử nghiệm thú vị". Ý tưởng cấy ghép tim cho con người của Demikhov được coi là vô đạo đức và phạm thượng. Người ta chỉ trích ông vì không có bằng cấp y khoa, - ông là nhà sinh học, không phải là bác sĩ. Nực cười nhất là lần duy nhất ông được phép xuất ngoại dự hội nghị khoa học ở Munchen (LB Đức), nơi ông đọc báo cáo khoa học được coi là tạo ra "quả bom nổ", gây choáng váng cho giới khoa học. Nhưng về nước, ông bị coi là "đã tiết lộ bí mật quốc gia". Từ "lang băm" và "giả khoa học" đến "bí mật quốc gia" , - đúng là điều không ai hiểu được?

Người ta hạ nhục ông cả tiểu tiết: cậu học trò Christian Barnard như đã nói ở trên gửi tặng ông gói quà nhỏ là vài đôi vớ co giãn được, loại chưa từng có ở Liên Xô. Để nhận được nó, người ta bắt cha đẻ của ngành ghép tạng phải xin giấy phép đặc biệt của Bộ Y tế và Cơ quan an ninh KGB.

Demikhov, người làm thay đổi bộ mặt y học thế giới phải làm việc trong "phòng thí nghiệm" rộng 15 mét vuông ở dưới hầm ẩm ướt, thiếu ánh sáng và nước chảy tong tỏng theo ván gỗ. Thiết bị để thực hiện ca phẫu thuật tim nhân tạo chỉ là đồ tự chế, thường xuyên hỏng hóc. Thay cho máy nén khí lạnh là máy hút bụi cũ. Bên cạnh là lò hơi đốt củi mà các cộng sự của ông không thể chịu nổi mùi khói quá nửa tiếng. Trong phòng làm việc ẩm mốc này, ông đã viết các bài báo cho các tạp chí y khoa hàng đầu thế giới.

Cuốn sách chủ yếu của ông, cuốn khảo cứu về ghép tạng được dịch ở New York, Berlin, Madrid, trở thành sách gối đầu giường với các nhà phẫu thuật toàn thế giới.

Và trước ca phẫu thuật tim cho TT Yeltsin, nhà phẫu thuật Michael DeBakey cuối cùng cũng đã được quỳ dưới chân Vladimir Demikhov. Khi đó, ông đã là ông già lọm khọm, bệnh tật, bị mất trí nhớ sau vài lần tai biến và không dám ra khỏi nhà vì sợ bị lạc trên phố.

Ông qua đời sau đó 2 năm. Người ta đã dựng bia ghi công ông. Một sự công nhận muộn màng.

Tuan Anh Đao

Tuesday, August 11, 2026

NHỜ CÂU NÓI LÚC SAY RƯỢU CỦA ÔNG BỐ LÀM NGHỀ NUÔI HEO: CẬU CON TRAI TRỞ THÀNH TỶ PHÚ TOP ĐẦU CHÂU Á

Masayoshi Son – nhà sáng lập SoftBank, là một trong những tỷ phú công nghệ có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Ông đứng sau hàng loạt thương vụ “để đời” như Alibaba, Uber, Yahoo… với triết lý đầu tư táo bạo: thắng lớn hoặc thua đau. Nhưng ít ai biết, gốc rễ tư duy kinh doanh của ông lại bắt đầu từ một người cha… nuôi heo trong khu ổ chuột.

Tuổi thơ của Son gắn liền với nghèo khó và kỳ thị. Gia đình ông là người gốc Hàn sống tại Nhật, phải vật lộn mưu sinh bằng đủ nghề. Cha ông – Mitsunori Son – từng bán rượu dạo, nuôi heo, mở tiệm game rồi đến quán cà phê. Mỗi lần thất bại, ông lại bắt đầu lại từ con số 0, không một lời than vãn.

Chính tinh thần đó đã dạy Son bài học đầu tiên: dù ở đáy xã hội, cũng không được phép đầu hàng.

Không chỉ kiên cường, cha ông còn là người cực kỳ nhạy bén. Khi bị tin đồn thất thiệt về rượu, ông sẵn sàng uống ngay trước mặt khách để chứng minh. Khi nuôi heo, ông bỏ qua trung gian để bán trực tiếp, tối ưu lợi nhuận. Khi kinh doanh gặp khó, ông mở thêm dịch vụ câu cá ngay trong khu giải trí để giữ chân khách.

Từ những điều nhỏ bé đó, Son học được bài học thứ hai: biết chớp cơ hội và không bao giờ đặt tất cả vào một canh bạc duy nhất.

Một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất là khi cha ông mở quán cà phê. Nghe theo gợi ý của cậu con trai nhỏ, ông quyết định… phát cà phê miễn phí để thu hút khách. Chiến lược tưởng chừng “liều lĩnh” ấy lại mang về thành công vang dội.

Đó là bài học thứ ba: cho đi đúng cách chính là một khoản đầu tư dài hạn.

Nhưng có lẽ, điều ảnh hưởng lớn nhất đến Masayoshi Son lại đến từ một câu nói rất đời thường. Trong một lần say rượu, cha ông đã tâm sự:

“Cha đi làm chỉ để kiếm tiền nuôi gia đình, nhưng đó không phải điều cha thực sự muốn. Con đừng sống như cha, con phải có một khát vọng lớn hơn.”

Câu nói ấy đã theo Son suốt cuộc đời.

Từ một cậu bé lớn lên trong khu ổ chuột, ông đã xây dựng SoftBank thành một đế chế công nghệ toàn cầu, sẵn sàng đặt cược hàng tỷ USD vào tương lai. Có lúc ông mất hơn 70 tỷ USD, nhưng cũng có những khoản đầu tư mang lại lợi nhuận lịch sử.

Masayoshi Son không chỉ là một nhà đầu tư liều lĩnh, mà là người dám nghĩ lớn, dám tin và dám làm đến cùng.

Câu chuyện của ông cho thấy:
Xuất phát điểm không quyết định bạn đi xa đến đâu. Điều quan trọng là bạn học được gì từ những người đi trước – và bạn có đủ khát vọng để vượt xa họ hay không.

Thursday, August 6, 2026

Ông không được đào tạo để trở thành kiến trúc sư, nhưng đã dựng nên mái vòm gạch lớn nhất thế giới

Khi Filippo Brunelleschi chào đời năm 1377, Nhà thờ Chính tòa Florence (Santa Maria del Fiore) đã được xây dựng gần 80 năm. Công trình đồ sộ ấy vẫn còn một khoảng trống hình bát giác rộng hơn 45 mét, và suốt nhiều thập nien không ai tìm ra cách che phủ nó.

Theo kỹ thuật đương thời, muốn dựng một mái vòm khổng lồ phải xây một hệ giàn giáo gỗ chống đỡ từ mặt đất lên đỉnh. Với Florence, lượng gỗ cần dùng lớn đến mức gần như không thể kiếm đủ ở Tuscany, chi phí cũng vượt quá khả năng của thành phố.

Brunelleschi vốn không phải kiến trúc sư. Ông học nghề thợ kim hoàn và nhà điêu khắc, nổi tiếng với khả năng chế tác kim loại và tính toán chính xác. Năm 1401, ông tham gia cuộc thi thiết kế cửa đồng cho Nhà rửa tội San Giovanni nhưng thất bại trước Lorenzo Ghiberti. Chính thất bại ấy đã khiến ông chuyển hướng sang nghiên cứu kỹ thuật xây dựng và kiến trúc.

Sau nhiều năm khảo sát các công trình La Mã, đặc biệt là Pantheon, Brunelleschi đưa ra một phương án khiến nhiều người cho là bất khả thi: xây mái vòm mà không cần hệ chống đỡ bằng gỗ từ bên dưới.

Ngày 7 tháng 8 năm 1420, công trình chính thức khởi công.
Thay vì một mái vòm đặc, Brunelleschi thiết kế hai lớp vòm. Lớp trong dày hơn chịu phần lớn tải trọng, lớp ngoài nhẹ hơn có nhiệm vụ bảo vệ và tạo nên hình dáng biểu tượng của Florence. Giữa hai lớp là khoảng không với hệ thống cầu thang và lối đi phục vụ thi công cũng như bảo trì.

Một trong những sáng tạo nổi tiếng nhất là kỹ thuật xếp gạch xương cá (herringbone). Những viên gạch được đặt xen kẽ theo chiều dọc và ngang, tạo thành các "mỏ neo" khóa chặt toàn bộ khối xây. Nhờ đó, gạch không bị trượt xuống khi vữa còn chưa đông cứng, cho phép mái vòm tự ổn định trong suốt quá trình thi công.

Brunelleschi còn bố trí bốn vòng xích bằng đá sa thạch, kết hợp với các vòng xích bằng gỗ và sắt chạy quanh mái vòm như những chiếc đai khổng lồ. Chúng hoạt động tương tự vòng thép của một chiếc thùng gỗ, chống lại lực đẩy ngang vốn có xu hướng làm mái vòm tách ra.

Khó khăn không dừng ở thiết kế. Hàng triệu viên gạch, đá và vữa phải được đưa lên độ cao gần 100 mét. Brunelleschi tự chế tạo máy tời, ròng rọc và hệ truyền động bằng bánh răng hoàn toàn mới. Cỗ máy nổi tiếng nhất sử dụng sức kéo của bò nhưng có cơ cấu đảo chiều truyền động, cho phép nâng hoặc hạ vật nặng mà đàn bò vẫn đi theo một hướng, không cần quay đầu. Leonardo da Vinci sau này đã vẽ lại và nghiên cứu những cỗ máy này như một kiệt tác cơ khí thời Phục Hưng.

Trong khoảng 16 năm, trung bình khoảng 60 thợ lành nghề làm việc mỗi ngày để đưa hàng triệu viên gạch và khoảng 29.000 tấn vật liệu lên đỉnh nhà thờ. Phần kết cấu chính hoàn thành năm 1436, được Giáo hoàng Eugenius IV làm lễ cung hiến.

Brunelleschi qua đời năm 1446, trước khi chiếc đèn lồng trên đỉnh mái vòm hoàn thành. Công trình ấy vẫn là mái vòm xây bằng gạch và đá lớn nhất thế giới, với đường kính khoảng 45,5 mét, được dựng nên khi chưa có thép cốt, bê tông cốt thép, cần cẩu hiện đại hay máy tính hỗ trợ tính toán.

Gần sáu thế kỷ đã trôi qua, mái vòm của Brunelleschi vẫn thống trị đường chân trời Florence và được xem là một trong những thành tựu kỹ thuật vĩ đại nhất trong lịch sử kiến trúc nhân loại.





Monday, August 3, 2026

Salvatore Ferragamo

Năm 9 tuổi, Salvatore Ferragamo đã tự làm một đôi giày trắng cho em gái vì gia đình không đủ tiền mua đôi giày cô bé cần trong lễ Rước lễ lần đầu. Từ khoảnh khắc ấy, cậu bé sinh năm 1898 tại Bonito, gần Naples, đã tìm thấy con đường sẽ thay đổi lịch sử ngành giày dép thế giới.

Năm 16 tuổi, Ferragamo sang Mỹ, làm việc trong các xưởng giày ở Boston rồi chuyển đến California. Ban ngày ông chế tác giày bằng đôi tay của mình, ban đêm học giải phẫu bàn chân tại Đại học Southern California để hiểu vì sao nhiều đôi giày đẹp lại gây đau đớn. Kiến thức ấy trở thành nền tảng cho triết lý nổi tiếng của ông: "Không có bàn chân nào xấu, chỉ có những đôi giày không phù hợp."

Năm 1923, Ferragamo mở Hollywood Boot Shop đối diện Nhà hát Grauman's Egyptian. Mary Pickford, Gloria Swanson, Joan Crawford, Rudolph Valentino cùng hàng loạt minh tinh Hollywood trở thành khách hàng thân thiết, mang về cho ông biệt danh "The Shoemaker to the Stars".

Khủng hoảng Phố Wall năm 1929 khiến lượng đơn đặt hàng lao dốc. Tháng 8/1933, Ferragamo tuyên bố phá sản tại Florence. Thay vì từ bỏ, ông gây dựng lại sự nghiệp từ đầu. Đến năm 1938, ông mua Palazzo Spini Feroni, tòa dinh thự thế kỷ XIII bên bờ sông Arno, nơi vẫn là trụ sở của Ferragamo cho đến ngày nay.

Ferragamo cũng tạo nên nhiều bước tiến kỹ thuật mang tính cách mạng như đế xuồng bằng nút bần (cork wedge) ra đời năm 1937 do thiếu thép trong thời chiến, gót F (F-heel), gót vô hình (Invisible Sandal) bằng sợi nylon đoạt giải Neiman Marcus Award năm 1947, cùng hàng trăm bằng sáng chế về cấu trúc đế, gót và kỹ thuật phân bổ trọng lượng bàn chân. Ông chứng minh rằng sự thanh lịch và cảm giác thoải mái hoàn toàn có thể song hành.

Đến thập niên 1950, xưởng của Ferragamo tại Florence có gần 700 nghệ nhân, sản xuất khoảng 350 đôi giày thủ công mỗi ngày cho khách hàng trên khắp thế giới.

Salvatore Ferragamo qua đời đột ngột ngày 7/8/1960, hưởng dương 62 tuổi. Vợ ông, Wanda Miletti Ferragamo, người chưa từng điều hành doanh nghiệp, tiếp quản công ty và đưa Ferragamo trở thành một trong những thương hiệu xa xỉ gia đình thành công nhất nước Ý. Ngày nay, Ferragamo mở rộng sang thời trang, túi xách, nước hoa và phụ kiện nhưng vẫn duy trì truyền thống thủ công tại Florence.

Di sản lớn nhất Salvatore Ferragamo để lại không nằm ở những đôi giày dành cho các ngôi sao Hollywood, mà ở niềm tin rằng vẻ đẹp phải được xây dựng trên sự thoải mái, sự thấu hiểu cơ thể con người và tay nghề của những nghệ nhân bậc thầy.




Monday, July 27, 2026

TÔN TRUNG SƠN GẶP TỐNG KHÁNH LINH VÀ THỐT LÊN CÂU NÓI BẤT HỦ: “ĐƯỢC NÊN DUYÊN VỚI NÀNG, CH*T CŨNG KHÔNG CÓ GÌ TIẾC NUỐI”

Năm 1894, khi 28 tuổi, Tôn Trung Sơn đến thăm gia đình họ Tống. Trong ngôi nhà ấy có Tống Khánh Linh, cô bé 1 tuổi đang bập bẹ tập nói. Không ai, kể cả chính Tôn Trung Sơn, có thể ngờ rằng đứa trẻ ấy, sau đúng 21 năm, sẽ trở thành người vợ gắn bó với ông đến những giây phút cuối đời.

Năm 1907, Tống Khánh Linh, khi ấy mới 14 tuổi, cùng em gái Tống Mỹ Linh sang Hoa Kỳ du học. Một năm sau, bà theo học ngành Văn học tại Trường Nữ sinh Wesleyan danh tiếng. Trong những năm tháng ấy, có một buổi diễn thuyết đã thay đổi cả cuộc đời bà. Diễn giả giới thiệu về tình hình Trung Quốc và chiếu bức chân dung của nhà cách mạng Tôn Trung Sơn. Gương mặt cương nghị, ánh mắt kiên định của người đàn ông đang dốc trọn đời mình cho vận mệnh dân tộc đã để lại trong trái tim cô thiếu nữ một dấu ấn không thể phai mờ. Nhiều năm sau, trong thư gửi người bạn thân Ali, Tống Khánh Linh từng viết: “Khi ấy, tôi chưa từng nghĩ giữa chúng tôi sẽ có mối quan hệ nào khác ngoài sự ngưỡng mộ. Nhưng số phận đã có sự sắp đặt của riêng mình.”

Năm 1912, nhà Thanh sụp đổ, Trung Hoa Dân Quốc ra đời. Tin tức ấy khiến Tống Khánh Linh vô cùng xúc động. Bà viết bài luận mang tên “Sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX” bằng tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ. Từng câu chữ đều thấm đẫm lòng yêu nước và niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng cách mạng. Đối với bà, Tôn Trung Sơn chính là người đã đưa Trung Quốc ra khỏi bóng tối của chế độ phong kiến để tiến tới một kỷ nguyên mới.

Ngày 29 tháng 8 năm 1913, sau khi tốt nghiệp tại Hoa Kỳ, Tống Khánh Linh đến Yokohama, Nhật Bản. Hôm sau, cha bà là Tống Gia Thụ cùng chị gái Tống Ái Linh đưa bà đến gặp Tôn Trung Sơn, người mà bà đã ngưỡng mộ suốt nhiều năm. Đây là lần đầu tiên bà thật sự gặp ông khi đã trưởng thành. Giây phút ấy khiến trái tim cô gái trẻ đập rộn ràng. Nhưng bà không hề biết rằng phía sau vẻ bình tĩnh của Tôn Trung Sơn là một tâm hồn đầy thương tổn. Những thành quả cách mạng mà ông cùng đồng chí đổ biết bao m^u và nước mắt gây dựng đã bị Viên Thế Khải cướp đoạt. Bao năm nỗ lực tưởng chừng tan thành mây khói, đất nước lại chìm trong bất ổn.

Đúng vào những ngày u ám nhất ấy, sự xuất hiện của Tống Khánh Linh giống như một làn gió dịu dàng. Điều khiến Tôn Trung Sơn cảm động không chỉ là sự kính trọng của bà, mà còn bởi bà thật sự hiểu lý tưởng, hiểu nỗi cô đơn và cả những đau khổ mà ông đang phải gánh chịu. Những ngày sau đó, Tống Khánh Linh thường cùng chị gái Tống Ái Linh, lúc ấy đang làm thư ký cho Tôn Trung Sơn, đến giúp ông xử lý công việc. Khi Tống Ái Linh bận chuẩn bị kết hôn với Khổng Tường Hy, Khánh Linh dần thay chị đảm nhận nhiều nhiệm vụ hơn: Dịch thư tiếng Anh, xử lý bản thảo, tham gia soạn thảo các bài viết và hỗ trợ nhiều công việc quan trọng khác.

Tháng 9 năm 1914, sau khi Tống Ái Linh trở về Thượng Hải để kết hôn, Tống Khánh Linh chính thức trở thành thư ký của Tôn Trung Sơn. Ngày ngày làm việc bên nhau, khoảng cách giữa hai người dần biến mất. Tống Khánh Linh càng khâm phục tầm nhìn, ý chí và sự tận tụy của người lãnh tụ cách mạng. Còn Tôn Trung Sơn nhận ra ở cô gái kém 27 tuổi một tâm hồn đồng điệu hiếm có. Họ cùng chia sẻ những lý tưởng về dân tộc, về tự do và tương lai của Trung Quốc. Những cuộc trò chuyện vốn chỉ diễn ra vài phút thường kéo dài đến tận khuya. Hai tâm hồn dường như gặp nhau quá muộn, nhưng lại hiểu nhau sâu sắc đến lạ kỳ. Một người là tiểu thư danh giá luôn ngưỡng mộ người anh hùng trong trái tim mình. Một người là nhà cách mạng đã trải qua quá nhiều thất bại, tổn thương và đang cần một bến đỗ bình yên. Khoảng cách 27 tuổi dường như không còn ý nghĩa trước sự đồng cảm và tình yêu đang lớn dần từng ngày.

Trong những lá thư gửi em gái Tống Mỹ Linh đang học tại Hoa Kỳ, Tống Khánh Linh nhiều lần kể về niềm hạnh phúc khi được làm việc cùng Tôn Trung Sơn. Bà viết rằng những con phố về đêm sáng rực ánh đèn kéo dài hàng dặm. Hai người nhiều lần cùng nhau đi dạo bên hồ sen, ngắm bóng trăng phản chiếu trên mặt nước. Trong khung cảnh ấy, thời gian như ngừng lại, chỉ còn những ký ức đẹp và niềm hy vọng về tương lai.

Khi mùa xuân đến, hoa anh đào nở rực khắp nơi. Họ cùng cưỡi ngựa giữa biển hoa, rồi đi bộ hàng giờ trên con đường phủ kín cánh đào. Những cành hoa rủ xuống che kín bầu trời, còn hàng liễu xanh làm nền cho sắc hồng dịu dàng của hoa anh đào. Không chỉ Tống Khánh Linh rung động, Tôn Trung Sơn cũng yêu bà bằng tất cả chân thành. Ông từng tâm sự với người bạn thân rằng: “Nếu có thể kết hôn với Tống Khánh Linh, dù ngày hôm sau có ch*t, tôi cũng không còn gì phải hối tiếc.”

Theo lời kể của Liêu Trọng Khải, một trong những cộng sự thân cận và trung thành nhất của Tôn Trung Sơn, màn cầu hôn của Tôn Trung Sơn diễn ra trong một chuyến leo núi cùng bạn bè. Hôm ấy có nhiều người đi cùng, trong đó có Tống Khánh Linh. Khi bà lên đến đỉnh núi trước, Tôn Trung Sơn bước theo sau rồi khẽ ra hiệu để Liêu Trọng Khải và mọi người dừng lại giữa sườn núi. Một lúc lâu sau, hai người cùng xuống núi với gương mặt rạng rỡ. Chính trên đỉnh núi hôm ấy, Tôn Trung Sơn đã ngỏ lời cầu hôn.

Trước khi kết hôn với Tống Khánh Linh vào năm 1915, cuộc đời Tôn Trung Sơn từng gắn bó với hai người phụ nữ. Năm 1885, khi mới 18 tuổi, ông kết hôn với Lư Mộ Trinh, người vợ thuở hàn vi do gia đình sắp đặt. Dù hôn nhân thiếu vắng tình yêu, bà vẫn sinh cho ông ba người con. Đến năm 1903, trong thời gian lưu vong tại Nhật Bản, Tôn Trung Sơn kết hôn với Kaoru Otsuki. Hai người có một con gái, nhưng vì hoàn cảnh ly tán, đứa trẻ được gia đình bên ngoại nuôi dưỡng, còn cuộc hôn nhân cũng nhanh chóng tan vỡ.

Khi Tôn Trung Sơn ngỏ lời cầu hôn, Tống Khánh Linh không nhận lời ngay. Bà nói muốn xin phép cha mẹ trước. Tháng 6 năm 1915, bà trở về Thượng Hải để thưa chuyện với gia đình. Tin tức ấy khiến cha bà, Tống Gia Thụ, vô cùng tức giận. Mẹ bà vừa khóc vừa khuyên nhủ: “Tôn Trung Sơn đã có vợ. Con trai ông ấy còn lớn tuổi hơn con. Hai người quá chênh lệch.”

Lo sợ Tống Khánh Linh tiếp tục gặp Tôn Trung Sơn, cha mẹ giữ bà trong nhà, không cho ra ngoài. Một đêm tháng Mười, với sự giúp đỡ của bảo mẫu, Tống Khánh Linh lặng lẽ trèo qua cửa sổ, trốn khỏi nhà rồi bí mật sang Nhật Bản gặp người mình yêu. Trong khi đó, Tôn Trung Sơn cũng phải đối diện với một quyết định đầy day dứt: Ly hôn người vợ đầu là Lư Mộ Trinh. Dù cuộc hôn nhân này không dựa trên cơ sở tình yêu nhưng Tôn Trung Sơn vẫn luôn biết ơn người vợ đã sinh cho ông 3 đứa con.

Lư Mộ Trinh chấp nhận ly hôn. Bà bình thản nói rằng mình ít học, không biết tiếng Anh, lại bó chân theo tập tục cũ nên không thể giúp chồng trong sự nghiệp như Tống Khánh Linh. Bà lặng lẽ điểm chỉ vào giấy ly hôn và âm thầm rút lui, nhường chỗ cho người phụ nữ có thể đồng hành với Tôn Trung Sơn trên con đường cách mạng.

Ngày 25 tháng 10 năm 1915, tại nhà luật sư Nhật Bản Wada, Tôn Trung Sơn và Tống Khánh Linh chính thức kết hôn. Khi ấy ông 49 tuổi, còn bà mới 22.

Khi biết con gái đã trốn sang Nhật và mọi chuyện không thể thay đổi, cha mẹ Tống Khánh Linh đành chấp nhận thực tế. Họ gửi cho con gái bộ đồ nội thất và chiếc chăn cưới thêu hình “bách tử” làm của hồi môn. Dẫu từng phản đối quyết liệt, tình yêu thương của cha mẹ dành cho con gái cuối cùng vẫn không hề mất đi.

Sau hôn lễ, cuộc sống của hai người chưa bao giờ bình yên. Công việc bận rộn khiến Tôn Trung Sơn ngày càng kiệt sức. Sức khỏe của ông suy giảm từng ngày. Đầu năm 1925, khi đến miền Bắc để tiến hành các cuộc hòa đàm, bệnh tình của ông trở nên trầm trọng. Tôn Trung Sơn được chẩn đoán u/thư túi mật. Tống Khánh Linh gần như không rời khỏi giường bệnh một phút nào, tận tụy chăm sóc chồng bằng tất cả tình yêu và sự hy sinh. Trong những giờ phút cuối đời, dù hơi thở đã rất khó khăn, Tôn Trung Sơn vẫn không ngừng căn dặn mọi người phải đối xử tử tế với vợ mình.

Ông lập hai bản di chúc. Bản thứ nhất là di chúc riêng. Ông viết rằng toàn bộ sách vở, quần áo, nhà cửa và những tài sản còn lại đều để lại cho Tống Khánh Linh. Những người con khác đều đã trưởng thành và có thể tự lập. Ông mong mọi người yêu thương nhau và tiếp tục thực hiện chí nguyện của mình. Ngày 12 tháng 3 năm 1925, Tôn Trung Sơn trút hơi thở cuối cùng tại Bắc Kinh, hưởng thọ 58 tuổi. Bản di chúc thứ hai dành cho sự nghiệp cách mạng. Trong đó ông khẳng định suốt 40 năm, mục tiêu lớn nhất là giành tự do và bình đẳng cho nhân dân Trung Quốc. Cuối bản di chúc là câu nói đã trở thành bất hủ: “Cách mạng vẫn chưa thành công. Đồng chí vẫn phải tiếp tục nỗ lực.”

10 năm hôn nhân của Tôn Trung Sơn và Tống Khánh Linh không dài, nhưng họ đã cùng nhau trải qua những thời khắc dữ dội nhất của lịch sử. Sau khi chồng qua đời, điều còn lại với Tống Khánh Linh không chỉ là nỗi nhớ khôn nguôi, mà còn là trách nhiệm tiếp tục lý tưởng mà ông để lại. Trong nhiều năm sau, bà vẫn kiên định dấn thân cho sự nghiệp cách mạng, cùng nhân dân Trung Quốc vượt qua biết bao gian nan bằng niềm tin, sự kiên cường và tinh thần hy sinh không mệt mỏi. Tống Khánh Linh trở thành một trong những nữ chính khách có ảnh hưởng nhất Trung Quốc thế kỷ XX. Bà từng giữ cương vị Phó Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Trung ương, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và đảm nhiệm nhiều trọng trách trong Quốc hội, Hội Chữ thập đỏ cùng các tổ chức bảo vệ phụ nữ, trẻ em. Năm 1981, trước khi qua đời, bà được phong danh hiệu Chủ tịch Danh dự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Ngày 12 tháng 3 năm 1975, đúng nửa thế kỷ sau ngày Tôn Trung Sơn qua đời, Tống Khánh Linh viết thư cho Liêu Mộng Tinh, một trong những người từng dự lễ cưới năm xưa. Bà nghẹn ngào viết: “Người tôi yêu đã từ biệt cõi đời. Nỗi đau tôi phải chịu sâu hơn tất cả. Chừng nào tôi còn sống, cảm giác trống vắng và buồn thương ấy sẽ không bao giờ biến mất.” Khi ấy bà đã ngoài 80 tuổi. Đi qua gần cả một thế kỷ đầy biến động, điều còn ở lại trong trái tim người phụ nữ ấy vẫn là ký ức về người chồng mà bà yêu bằng cả cuộc đời. Cuối thư, bà viết một câu khiến bao người xúc động: “Trong trái tim tôi sẽ mãi mãi tồn tại những ký ức ngọt ngào và chan chứa yêu thương.”

Tống Khánh Linh và người chồng mà bà yêu thương không có con chung. Những năm cuối đời, bà dành gần như toàn bộ tình yêu của mình cho trẻ em, phụ nữ và các hoạt động nhân đạo. Bà nhận nuôi hai cô con gái là Tùy Vĩnh Thanh và Tùy Vĩnh Khiết, những người được bà yêu thương như con ruột. Chính sự hiện diện của họ đã mang đến hơi ấm cho tuổi già cô quạnh của người phụ nữ đã dành cả thanh xuân cho tình yêu và cho lý tưởng. Ngày 29 tháng 5 năm 1981, Tống Khánh Linh qua đời tại Bắc Kinh sau thời gian chống chọi với bệnh bạch cầu, hưởng thọ 88 tuổi.

Cuộc đời Tống Khánh Linh có thể không trọn vẹn theo nghĩa thông thường. Bà không có con chung với người mình yêu, chỉ được ở bên ông vỏn vẹn 10 năm. Nhưng trong trái tim bà, Tôn Trung Sơn chưa bao giờ rời xa. Tình yêu ấy không bị thời gian xóa nhòa, không bị cái ch*tchia cắt mà hóa thành niềm tin, lời hứa và ký ức theo bà đi hết cuộc đời. 

Đó là một trong những chuyện tình đặc biệt nhất của lịch sử Trung Quốc hiện đại, nơi tình yêu được xây dựng không chỉ bằng cảm xúc, mà còn bằng sự đồng điệu về lý tưởng, sự hy sinh và lòng thủy chung đến hơi thở cuối cùng.

Thu Hằng (Dịch từ báo NN)

Khi Tống Khánh Linh (ảnh) qua đời năm 1981, em gái bà là Tống Mỹ Linh, lúc đó đang sống tại Hoa Kỳ, đã không trở về dự tang lễ.

Sau nhiều thập nienỷ đứng ở hai chiến tuyến chính trị đối lập, khoảng cách giữa hai chị em chưa bao giờ được hàn gắn. Sự vắng mặt ấy trở thành một trong những nỗi tiếc nuối lớn nhất của gia tộc họ Tống.

Hai chị em từng lớn lên dưới một mái nhà, từng chia sẻ tuổi thơ và những ước mơ, nhưng cuối cùng lại bị lịch sử và thời cuộc chia cắt. Đó là một kết thúc lặng lẽ, khiến nhiều người không khỏi xót xa.

Từng là hai chị em vô cùng gắn bó, nhưng những biến động chính trị của Trung Quốc đã đẩy Tống Khánh Linh và Tống Mỹ Linh đứng ở hai chiến tuyến khác nhau.

Tống Khánh Linh ủng hộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn Tống Mỹ Linh luôn sát cánh cùng chồng là Tưởng Giới Thạch và Quốc dân Đảng. Khác biệt về lý tưởng khiến khoảng cách giữa họ ngày càng lớn, nhiều năm hầu như không còn gặp mặt.








Saturday, July 18, 2026

Thống tướng Douglas MacArthur có công lao thế nào với nước Nhật?

Nếu hỏi:
"Douglas MacArthur có công lao gì với Nhật Bản?"

thì có thể nói ngắn gọn:
Ông là người đặt nền móng cho nước Nhật hiện đại sau Thế chiến II.

Rất nhiều người Nhật ngày nay, dù có đánh giá khác nhau về ông, vẫn công nhận rằng ông đã góp phần quan trọng giúp Nhật chuyển đổi từ một đế quốc quân phiệt thành một quốc gia dân chủ và phát triển.

1. Không giải thể Hoàng gia Nhật

Sau khi Nhật đầu hàng năm 1945, nhiều người trong phe Đồng minh muốn đưa Emperor Hirohito ra xét xử như tội phạm chiến tranh.

MacArthur phản đối.
Ông cho rằng:
Nếu bắt Thiên hoàng, xã hội Nhật có thể hỗn loạn.
Giữ Thiên hoàng làm biểu tượng sẽ giúp người dân chấp nhận cải cách.

Đây được xem là một quyết định có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định của Nhật sau chiến tranh.

2. Soạn Hiến pháp mới

Dưới sự chỉ đạo của MacArthur, Nhật ban hành Hiến pháp năm 1947.

Những điểm nổi bật:
* Thiên hoàng không còn nắm quyền cai trị mà chỉ là biểu tượng quốc gia.
* Người dân có quyền bầu cử.
* Phụ nữ lần đầu được quyền bầu cử và tham gia chính trị.
* Bảo đảm nhiều quyền tự do dân sự.

Đây vẫn là nền tảng của hệ thống chính trị Nhật Bản hiện nay.

3. Phi quân sự hóa Nhật Bản

Hiến pháp mới có Điều 9 nổi tiếng:
Nhật từ bỏ chiến tranh như một quyền của quốc gia.

Nhờ đó, Nhật giảm mạnh chi tiêu quân sự và tập trung vào phát triển kinh tế.

4. Cải cách ruộng đất

Trước chiến tranh:
Nhiều nông dân phải thuê đất của địa chủ.

MacArthur thúc đẩy cải cách:
Nhà nước mua đất của địa chủ.
Bán lại cho nông dân với giá ưu đãi.

Điều này giúp giảm bất bình đẳng ở nông thôn và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế.

5. Cải cách giáo dục

Ông thúc đẩy:
* Giáo dục phổ cập.
* Giảm tư tưởng quân phiệt trong trường học.
* Khuyến khích tư duy khoa học và dân chủ.

6. Chống độc quyền kinh tế

Trước chiến tranh, kinh tế Nhật bị chi phối bởi các tập đoàn gia tộc lớn (zaibatsu).

Chính quyền chiếm đóng đã giải thể hoặc cải tổ nhiều tập đoàn này để tăng cạnh tranh, dù một số sau đó phát triển thành các tập đoàn mới (keiretsu).

Thành quả:
Trong khoảng 20–30 năm sau chiến tranh, Nhật Bản bước vào giai đoạn được gọi là "phép màu kinh tế Nhật Bản":

Trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong nhiều năm.
Hình thành các thương hiệu nổi tiếng như Toyota Motor Corporation, Sony Group Corporation, Honda Motor Co., Ltd. và Panasonic Holdings Corporation.

MacArthur không phải là người trực tiếp tạo nên "phép màu" này, nhưng ông đã góp phần xây dựng môi trường thể chế và xã hội để sự phát triển đó có thể diễn ra.

Có phải người Nhật ai cũng biết ơn MacArthur?
Không hẳn.

Có hai góc nhìn:
Ủng hộ: Ông giúp Nhật dân chủ hóa, ổn định và tạo nền tảng cho sự phát triển sau chiến tranh.
Phê phán: Ông vẫn là vị tướng chỉ huy lực lượng chiếm đóng, và một số quyết định của chính quyền chiếm đóng còn gây tranh cãi.

Nhìn chung, trong lịch sử hiện đại, Douglas MacArthur được xem là một trong những nhân vật nước ngoài có ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình tái thiết Nhật Bản sau năm 1945.





Tuesday, July 14, 2026

TỶ PHÚ WARREN BUFFETT & CUỘC HÔN NHÂN VỚI NGƯỜI VỢ THỨ 2 SAU 29 NĂM SỐNG CHUNG KHÔNG DANH KHÔNG PHẬN

Sinh năm 1930 tại Omaha, tieu bang Nebraska (Mỹ), huyền thoại Warren Buffett được xem là một trong những nhà đầu tư thành công nhất mọi thời đại.

Ở tuổi 96, ông đang sống khoẻ mạnh và nắm giữ khối tài sản lên đến 145,6 tỷ USD (2026).

Ông đã biến Berkshire Hathaway từ một công ty dệt may đang suy thoái thành tập đoàn đầu tư hàng đầu thế giới với danh mục sở hữu trải rộng trên nhiều lĩnh vực.

Là con trai của một nghị sĩ Hoa Kỳ, ông mua cổ phiếu lần đầu năm 11 tuổi và nộp thuế lần đầu năm 13 tuổi. Ở tuổi 26, ông thành lập công ty đầu tiên của mình và kiếm được hàng triệu USD đầu tiên. Nhận lời gợi ý từ người cha môi giới chứng khoán, ông cũng bắt đầu đầu tư vào công ty dệt may Berkshire Hathaway và nắm quyền kiểm soát công ty vào năm 1965.

Những khoản đầu tư vào Coca-Cola, American Express, Apple hay Geico của Warren Buffett đã trở thành những thương vụ kinh điển trong lịch sử tài chính.

Tuy nhiên, điều khiến ông trở nên khác biệt không chỉ là sự giàu có mà chính là hai người phụ nữ đã đi qua cuộc đời ông.

Có người từng hỏi Warren Buffett rằng đâu là khoản đầu tư thành công nhất của ông. Người đàn ông được mệnh danh là "Nhà hiền triết xứ Omaha" đã trả lời:

"Quyết định quan trọng nhất cuộc đời tôi chính là lựa chọn đúng người để kết hôn."

NGƯỜI PHỤ NỮ KHIẾN WARREN BUFFETT KÍNH TRỌNG SUỐT ĐỜI

Đó chính là người vợ đầu tiên: Susan Thompson. Warren Buffett từng nói: "Cuộc đời tôi có hai bước ngoặt lớn. Một là ngày tôi được sinh ra. Hai là ngày tôi gặp Susie."

Mùa hè năm 1950, Susan và Warren gặp nhau lần đầu khi ông mới ngoài hai mươi. Khi đó, bà là bạn cùng phòng của em gái ông, Roberta, tại Đại học Northwestern.

Khi đó, Susan là một nữ sinh nổi bật, còn Warren thì mới bắt đầu sự nghiệp, chưa có gì đáng nhắc đến. Ông chỉ là một chàng trai gầy gò, mê chứng khoán hơn mọi thứ trên đời. Ông ít nói, nhút nhát đến mức mỗi khi phải trò chuyện với phụ nữ, ông thường đỏ mặt.

Susan Thompson hoàn toàn trái ngược. Cô thông minh, xinh đẹp, hoạt bát và rất yêu âm nhạc. Susan thậm chí còn cho rằng chàng trai ấy quá khô khan. Thứ duy nhất Warren có lúc đó là sự chân thành.

Ông tìm cách làm quen với cha của Susan – một giáo sư đại học rất thích chơi đàn mandolin. Warren bắt đầu đến nhà ông thường xuyên để cùng chơi nhạc. Ban đầu, mục đích chỉ là được ở gần Susan thêm một chút.

Sự kiên trì ấy cuối cùng cũng khiến trái tim cô gái trẻ rung động.
Năm 1952, họ kết hôn. Đó là thời điểm Warren vẫn chưa có sự nghiệp đáng kể. Không ai có thể tưởng tượng người đàn ông trẻ tuổi ấy sau này sẽ trở thành một trong những người giàu nhất thế giới.

Họ lần lượt sinh được 3 người con là Susie, Howard và Peter.
Những năm đầu hôn nhân không hề dễ dàng. Warren gần như sống cùng những con số. Ông đọc báo cáo tài chính từ sáng đến khuya. Thường xuyên quên giờ giấc, quên cả những việc nhỏ trong gia đình.

Susan lại là người giữ cho tổ ấm luôn đầy tiếng cười. Bà chăm sóc ba người con, lo toan mọi việc trong gia đình. Đồng thời luôn động viên chồng theo đuổi đam mê đầu tư.

Không có Susan, Warren rất khó tập trung toàn bộ tâm trí để xây dựng Berkshire Hathaway. Bà không chỉ là vợ mà còn là người bạn, người cố vấn và chỗ dựa tinh thần.

Bản thân Susan là người phụ nữ thông minh, tài giỏi. Bà nghiên cứu sâu hơn vào lĩnh vực làm ăn kinh doanh và dần dần trở thành cánh tay phải đắc lực cho chồng. Sự nhiệt tình, giỏi giang của Susan ảnh hưởng sâu sắc đến tỷ phú đến mức ông nhiều lần dành lời khen có cánh cho vợ.

Trong nhiều cuộc phỏng vấn, Buffett từng thừa nhận Susan đóng vai trò rất lớn trong hành trình trưởng thành của ông. Nếu Buffett nổi tiếng với trí tuệ và khả năng đầu tư xuất sắc, Susan lại là người giúp ông phát triển các kỹ năng xã hội, mở rộng các mối quan hệ và kết nối nhiều hơn với thế giới bên ngoài.

Những người thân cận cho biết, bà Susan có tính cách cởi mở, giàu lòng nhân ái và có ảnh hưởng tích cực đến cách Buffett nhìn nhận cuộc sống. Bà không chỉ là người vợ mà còn là người bạn đồng hành, người cố vấn và chỗ dựa tinh thần trong những giai đoạn quan trọng nhất của sự nghiệp của ông.

Cuộc sống của hai vợ chồng cực kỳ hạnh phúc. Sự nghiệp của Warren cũng dần thăng hoa. Khi đã trở thành tỷ phú, ông nhận xét về người vợ như sau: "Chọn bạn đời là vụ đầu tư thành công nhất của tôi. Susan chính là một trong những người thầy vĩ đại nhất của tôi". Ông còn gọi cuộc hôn nhân với Susan là "khoản đầu tư thành công nhất đời mình".

Tưởng chừng ông sẽ sống hạnh phúc đến hết đời với người vợ tài giỏi của mình. Thế nhưng ngay cả những cuộc hôn nhân đẹp cũng có thể xuất hiện những góc khuất.

Khi sự nghiệp của Warren ngày càng thành công, ông lại càng chìm sâu vào công việc. Ông từng thừa nhận sau này: "95% lỗi là ở tôi." Ông nói mình không đủ quan tâm đến cảm xúc của vợ, trong khi Susan luôn cố gắng thích nghi với con người ông.

Vì là người đam mê ca hát, thỉnh thoảng Susan vẫn đi biểu diễn như một ca sĩ hát chính trong các hộp đêm, quán rượu. Và trong năm 1977, bà đã có một đêm trình diễn tuyệt vời tại nhà hát lớn của Omaha.

Sau đó, được khuyến khích bởi nhạc sĩ Neil Sedaka, Susan đã quyết định theo đuổi sự nghiệp ca hát và chuyển đến sống tại San Francisco vào năm 1978 mà không có chồng.

Vì tôn trọng quyết định theo đuổi sự nghiệp âm nhạc của vợ, Warren đã đành lòng chấp nhận, và trái tim ông như đã thực sự tan vỡ sau khi Susan rời đi.

Thế nhưng, một số ý kiến khác cho rằng, lý do Susan ra đi năm ấy không hẳn chỉ vì sự nghiệp ca hát, mà là vì Buffett đã quá chú tâm vào công việc và không bao giờ thực sự dành nhiều thời gian cho gia đình. Bạn bè của Susan Buffett cho rằng, bà ngày càng cảm thấy ngột ngạt trước sự chú ý quá lớn của cộng đồng dành cho người chồng giàu có của mình.

Khi đó còn có tin đồn về việc Warren có quan hệ tình cảm với Katharine Graham, chủ của tờ báo The Washington Post và là một góa phụ lớn hơn ông tới 13 tuổi.

Họ sống ly thân. Nhưng điều kỳ lạ là họ không ly hôn. Họ vẫn gọi điện cho nhau gần như mỗi ngày. Họ vẫn là bạn thân, vẫn quan tâm tới nhau.

Trong trái tim Warren, Susan vẫn là người phụ nữ quan trọng nhất.

NGƯỜI TÌNH KHÔNG DANH PHẬN SỐNG CHUNG SUỐT 29 NĂM TRƯỚC ĐÁM CƯỚI

Cũng trong giai đoạn ấy, một người phụ nữ khác bước vào cuộc đời Warren. Tên bà là Astrid Menks.

Vào năm 1978, Susan đã gọi điện nhờ người bạn thân của mình, có tên là Astrid Menks tới "chăm sóc" cho Warren Buffett trong thời gian không có bà ở cạnh. Bà ấy nói: "Astrid, bạn có thể chăm sóc cho Warren được không? Hãy nấu cho anh ấy một ít súp, mang qua đó và để mắt tới anh ấy được chứ?"

Astrid là một phụ nữ gốc Latvia, làm việc tại một nhà hàng ở Omaha. Bà hiền lành, ít nói, không thích sự chú ý của truyền thông. Bản thân Warren cũng đã từng gặp Astrid Menks trong những năm đầu 1970 - khi Astrid còn đang làm hầu bàn tại một hộp đêm cao cấp ở Omaha, và cũng là nơi mà vợ ông - Susan Buffett làm ca sĩ.

Và cuối cùng, Astrid đã về sống cùng nhà với Warren Buffett. Susan biết chuyện. Điều khiến cả thế giới ngạc nhiên là. Bà không hề nổi giận. Không có một cuộc ly hôn ồn ào.

Ngược lại, Susan đã thừa nhận, bà là người mong Astrid ở bên chăm sóc Warren và đã đã sắp xếp êm xuôi để Astrid về sống cùng nhà với ông.

Vì Susan hiểu chồng mình hơn bất kỳ ai. Bà biết Warren là một thiên tài trong kinh doanh, nhưng lại vụng về trong cuộc sống thường ngày. Ông cần có một người ở bên để chăm sóc từng bữa ăn, từng chiếc áo, từng thói quen nhỏ nhặt. Astrid làm điều đó bằng tất cả sự chân thành.

Trong cuốn sách viết về vị tỷ phú huyền thoại của tác giả Roger Lowenstein có đoạn nói về Astrid như sau: "Từ ngày chuyển đến ở, Astrid biết rằng Buffett sẽ không bao giờ muốn tái hôn, và rằng ông ấy vẫn cứ dính chặt với người vợ của mình. Astrid đã xây một tổ ấm cho ông, để rồi nhìn thấy ông quần áo phẳng phiu tươm tất, rời khỏi thị trấn để chạy đến với Susan."

Astrid cũng đã phải chịu nhiều điều tiếng không hay bởi chuyện tình tay ba không chính thống với tỷ phú Warren Buffett. Là một nhà đầu tư huyền thoại của thế giới, ông không phải là người mà phụ nữ có thể dễ dàng chung sống.

"Tất cả đối với ông ấy chỉ có kinh doanh và kinh doanh. Ông ấy sống, thở và thậm chí là ngủ cũng nghĩ tới kinh doanh, chỉ ngoại trừ lúc chơi bài bridge vào buổi tối".

Không như người phụ nữ đầu tiên đến bên đời Warren là đóng một vai trò quan trọng trong công ty Berkshire Hathaway và thường xuyên đi làm từ thiện, Astrid chỉ quanh quẩn ở nhà và thường lang thang ở những cửa hàng đồ cổ của Nebraska để tìm kiếm những món đồ yêu thích.

Astrid Menks không bao giờ quan tâm tới tiền bạc của Warren, đến độ Susan Alice Buffett - con gái của Warren và Susan Buffett còn phải công nhận rằng: "Bà ấy (Astrid) luôn yêu và chăm sóc cho ông. Kể cả nếu Warren không còn một xu dính túi thì bà vẫn muốn được ở bên cạnh ông."

Theo thời gian, Susan và Astrid không trở thành đối thủ. Họ trở thành bạn. Trong nhiều năm, Astrid và Buffett sống cùng nhau và vẫn là những người bạn thân thiết của Susan. Thậm chí đến thiệp Giáng sinh của Warren Buffett gửi cho bạn bè cũng kí tên cả 3 là Warren, Susie và Astrid.

Truyền thông Mỹ từng mô tả mối quan hệ giữa Susan, Astrid và Buffett là khá khác thường nhưng hòa hợp. Dù hoàn cảnh đặc biệt, cả ba vẫn duy trì sự tôn trọng và tình cảm dành cho nhau trong nhiều năm.

Thậm chí họ còn thường xuất hiện cùng nhau như một bộ ba thực thụ, khi giữa hai người phụ nữ - một là vợ, một là người tình của Warren nhưng không hề có dấu hiệu của sự ghen tuông mà chỉ thấy họ vẫn luôn tươi cười và nắm tay nhau thật chặt. Thật khó để tìm thấy một mối quan hệ “tay ba” nào đặc biệt như thế trong cuộc đời này.

Thế rồi, chuyện buồn bỗng chốc ập đến vào tháng 10/2003, khi Susan được chẩn đoán bị mắc bệnh ung thư vòm họng và cần phải trải qua nhiều ca phẫu thuật, xạ trị và thậm chí là phải tái tạo lại cả khuôn mặt.

Biết tin, Warren đã bay tới San Francisco từ Omaha để được ở bên bà. Dù bận rộn với công việc nhưng không cuối tuần nào là vị tỷ phú này không ở cạnh chăm sóc cho vợ trong suốt quãng thời gian dài điều trị của bà.

Mùa hè năm 2004, Susan qua đời vì bị xuất huyết não. Khi đó bà đang ở tuổi 72, được vinh danh là người phụ nữ giàu có thứ 17 trên thế giới và xếp thứ 153 trong những người giàu có nhất hành tinh.

Được biết, Susan đã để lại khoảng 50 triệu USD cho tổ chức từ thiện trẻ em của bà, trong khi mỗi người con của bà được nhận 10 triệu USD, mỗi người cháu được nhận 100.000 USD. Susan cũng để lại một khoản tiền cho một số bạn bè, đồng nghiệp của mình, còn tất cả các cổ phiếu của bà ở Berkshire Hathaway, với trị giá gần 3 tỷ USD vào thời điểm đó phần lớn cũng được dành cho các hoạt động thiện nguyện sau này.

Trước sự ra đi của Susan, vì quá đau buồn mà trong đám tang năm đó của bà, Warren đã không đến dự. "Mất đi bà ấy - thực sự là điều quá kinh khủng. Đó là điều duy nhất thực sự rất ám ảnh", tỷ phú Buffett chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí The Time. "Tôi vẫn không thể nào đối mặt được với điều đó", ông nói và bật khóc, rồi lặng đi trong vài phút.

Susan qua đời vì bệnh ung thư năm 2004. Hai năm sau, ở tuổi 76, Buffett đã kết hôn với bà Astrid vào năm 2006 trong một buổi lễ nhỏ tại nhà Omaha của con gái Susie. Không xa hoa. Không phô trương. Giống hệt con người ông. Bà Astrid đã trở thành người bạn đời chính thức sau gần ba mươi năm đồng hành lặng lẽ.

Theo Daily Mail, chính bà Susan cũng có mong muốn Astrid Menks sẽ chăm sóc cho vị tỷ phú sau khi bà rời đi.

Astrid Menks - giờ đây đã là vợ hai của Warren - là người phụ nữ đã, đang và sẽ luôn đồng hành với ông trong suốt quãng đường còn lại của cuộc đời.

Trong phim tài liệu "Trở thành Warren Buffett" của đai truyền hình HBO năm 2017, nhà đầu tư huyền thoại đã chia sẻ, quyết định quan trọng nhất cuộc đời của ông là chọn đối tượng để kết hôn.

"Người bạn kết hôn có ảnh hưởng rất nhiều đến hướng đi cuộc đời của bạn, khả năng bạn có thể đạt được mục tiêu hay không. Tôi nhấn mạnh rằng, đó là người đặc biệt quan trọng".

Trong cuộc họp thường niên của Berkshire Hathaway năm 2009, tỷ phú cũng từng chia sẻ: "Việc chọn đúng người để kết hôn đặc biệt quan trọng. Nó sẽ tạo ra rất nhiều khác biệt cho cuộc sống của bạn. Nó sẽ thay đổi nguyện vọng của bạn về mọi thứ".

Nhìn lại cuộc đời Warren Buffett, nhiều người chỉ thấy những thương vụ đầu tư hàng chục tỷ đô la. Nhưng chính ông lại cho rằng khoản đầu tư quan trọng nhất không nằm trên thị trường chứng khoán.

Đó là lựa chọn người sẽ đi cùng mình suốt cuộc đời. Tiền bạc có thể kiếm lại. Doanh nghiệp có thể xây dựng lại. Nhưng một người bạn đời biết tin tưởng, biết bao dung và biết nâng đỡ mình trong những năm tháng khó khăn mới là tài sản quý giá nhất.

Có lẽ vì vậy mà ở tuổi ngoài chín mươi, khi được hỏi bí quyết của thành công, Warren Buffett vẫn không nói về cổ phiếu.

Ông nhắc đến hai người phụ nữ quan trọng và ảnh hưởng lớn nhất tới cuộc đời ông: Susie đã giúp tôi trưởng thành, còn Astrid giúp tôi vững vàng”.

Có lẽ bởi vì thế nên ông là người đàn ông khá đặc biệt. Dù sở hữu khối tài sản trăm tỷ USD, Buffett vẫn sống trong căn nhà mua từ năm 1958 tại Omaha và duy trì phong cách sống tương đối giản dị. Bên cạnh đó, Warren Buffett còn có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực từ thiện.

Warren Buffett hoàn toàn có thể trở thành người giàu nhất thế giới, nếu như ông không chi vô số tài sản của mình vào làm từ thiện. Nhưng việc đem lại hạnh phúc ấm no cho càng nhiều người càng tốt không chỉ là mong muốn của riêng ông, mà còn là ước nguyện của người vợ đầu tiên, là người mà ông yêu thương nhất.

Ông cam kết dành phần lớn tài sản của mình cho các hoạt động nhân đạo và cùng tỷ phú Bill Gates khởi xướng sáng kiến The Giving Pledge, kêu gọi các tỷ phú trên thế giới quyên góp ít nhất một nửa tài sản của họ cho xã hội.

Trang Nguyen

Monday, July 13, 2026

Vua Bảo Đại có công to lớn như thế nào với đất nước VN?

Nghe đồn bộ phim Hoàng Hậu cuối cùng có Tăng Thanh Hà đóng nội dung bôi bác về vua Bảo Đại không ra gì, nào là ăn chơi trác táng, vô dụng, bất tài, gái gú ...

Đây là những xuyên tạc lịch sử. Hãy tra ngay Google, hay trang Wikipedia sẽ ra hàng loạt thông tin về ông.

Vua Bảo Đại là vị vua cuối cùng của Triều Nguyễn (đời thứ 13) trong lịch sử cận đại VN.

Câu nói nổi tiếng "Trẫm thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ" được vua Bảo Đại tuyên bố trong bản Chiếu thoái vị ngày 25/8/1945, khẳng định việc trao quyền và chấm dứt triều Nguyễn. Câu nói này chứng tỏ Vị vua vĩ đại ở chỗ, ông sẵn sàng hi sinh Ngai Vàng, quyền lực dòng họ và cá nhân, để đổi lấy sự bình yên, độc lập cho con dân Việt.

Ông Vua Bảo Đại có cống hiến gì cho nước Việt Nam?

(Trích cuốn sách: Tấm Lòng với Tiền Nhân)
- Ông là người có những cải cách mới cho triều đình nhà Nguyễn.
- Ông bãi bỏ các vị thượng thư già cả lạc hậu thay bằng những người trí thức mới.
- Ông phế bỏ chế độ thái giám vô nhơn tánh, bỏ thủ tục quỳ lạy vua.
- Ông giải tán tam cung, lục viện để hàng ngàn phụ nữ tự do.
- Ông mở rộng ngoại giao với các quốc gia trên thế giới như Campuchia, Trung Hoa Dân Quốc, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi, Lào, Anh Quốc, Pháp quốc, Ý Đại Lợi, Thái .v.v.
- Năm 1945, ông lợi dụng Pháp bị đảo chánh, yêu cầu người Pháp trả lại độc lập cho VN sau gần 100 năm cai trị.
- Ông và Trần Trọng Kim tiếp tế cứu đói trong trận đói năm Ất Dậu.
- Năm 1948, ông yêu cầu Pháp trả lại sáu tỉnh Nam kỳ cho VN bị bảo hộ từ ngày cụ Phan qua xin chuộc bất thành mà tự vẫn.
- Từ đó, ông thành lập quốc gia Việt Nam với các cải cách dân chủ, lập quân đội, lập nội các, thủ tướng, giáo dục, và viết Hiến Pháp đầu tiên cho quốc gia VN độc lập.
- Ông thành lập trường võ bị Đà Lạt năm 1948.
- Năm 1949, ông điều hành quốc gia VN và tham gia liên hiệp quốc và được chấp thuận là một quốc gia hợp pháp trong khi VNDCCH bị bác đơn.
- Ông đại diện quốc gia VN độc lập gia nhập Liên Hiệp Quốc Tế Viễn Thông năm 1952 bao gồm vô tuyến, viễn thông và chọn đầu số điện thoại ở Nam kỳ là (+84).
- Ông thành lập Ngân hàng quốc gia VN vào tháng 1.1955 tại bến Chương Dương. (Sau chánh quyền VNCH tiếp quản vẫn để nguyên tên NGÂN HÀNG QUỐC GIA VN).
- Ông dựa vào uy tín của mình kêu gọi quốc tế viện trợ đưa hơn một triệu dân Bắc kỳ vô Nam năm 1954.

Và hơn hết trong gần 20 năm trị vì ông chưa hề làm đổ máu một người con dân Việt Nam nào.

Năm 1954, ông không tham dự hiệp định chia đôi đất nước vì ông không muốn nhìn thấy quốc tế chia cắt đất nước của ông và cũng không muốn nhận lấy "một nửa mảnh sơn hà rách tả tơi" khi Pháp trao trả đất nước lại cho Quốc Chủ.

Vua Bảo Đại đặt dân tộc VN cao hơn ngai vàng của mình. Ông thà làm dân nước Tự Do hơn làm vua nước nô lệ "

FB Allison pham

Blog Archive