Showing posts with label Khôi An. Show all posts
Showing posts with label Khôi An. Show all posts

Monday, February 16, 2026

Tình Nghĩa Nghĩa Tình

Lần đầu tiên tôi có ý định viết chuyện này là năm 1989. Năm đó, cả nước Mỹ xôn xao tranh cãi về việc một người đàn ông đã đốt lá cờ Mỹ ngay trên thềm tòa nhà Quốc Hội.

Ngày đó tôi vừa mới tốt nghiệp đại học, chưa để ý nhiều đến những sinh hoạt chính trị xã hội ở chung quanh, nhưng trong lòng tôi đột nhiên dâng lên một cảm xúc gần như là tiếc cho người đàn ông đã làm hành động đó. Nếu ông ta từng nhìn lá cờ qua đôi mắt của tôi và của hơn một trăm người bạn đồng thuyền vào buổi sáng mùa hè năm ấy, không biết ông ta có hành động khác đi chăng?

Đêm trung tuần tháng 7 năm 1983 bắt đầu khá êm ả. Con thuyền nhỏ đầy kín người đã ra hải phận quốc tế được gần 24 tiếng.

... Lắng nghe những lời thì thào trao đổi một lúc tôi mới hiểu ra rằng tàu chúng tôi đang bị tàu cướp Thái Lan đuổi bắt...

... Chúng tôi chạy vòng vèo ngay trước mũi tử thần trong suốt một đêm, và bình minh tới dù không ai mong đợi. Những tia sáng đã vét đi màn đêm đang che chở chúng tôi. Bác tài công buông những câu chửi thề uất hận khi khoảng cách giữa bọn cướp và chúng tôi thu ngắn trong khoảng khắc... Rồi tôi lại nghe bác lại chửi, nhưng lần nầy đượm vẻ ngạc nhiên pha chút vui mừng:

- ĐM, hình như tụi nó bỏ chạy hả bây?

... Bổng bác tài công và những người trong phòng máy trên cao vụt la lớn:

- Có tàu! Có tàu lớn ở đằng xa kia!

- Tàu gì vậy? Vái trời cho không phải tàu của Liên Xô

... Chúng tôi như được hồi sinh, ai cũng nhỏm lên nhìn nhưng vì lúc đó chiếc tàu kia chỉ là một đóm nhỏ ở xa nên tôi chưa thấy gì cả... chúng tôi vội nhắm cái chấm tít đằng xa mà chạy tới. Và chiếc tàu kia cũng đang chạy về phía chúng tôi vì nó càng ngày càng lớn dần.

Và, suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên giây phút đó, giây phút người đàn ông ngồi trên cao la lạc giọng:

- Thấy cờ rồi! Thấy cờ Mỹ rồi!

Nước mắt ông ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ lấm lem máy dầu. Mọi người đứng bật lên làm thuyền chao mạnh. Chúng tôi đã thật sự được sống

Chiếc tàu vớt chúng tôi là một hàng không mẫu hạm của Mỹ. Nó to như một tòa nhà mười mấy tầng, những người lính đầu tiên phải leo thang dây xuống để đem con nít và những người yếu sức lên trước...

... Ngày đó tôi vừa học xong trung học. Sau 8 năm đói khổ sau bức màn sắt của Cộng sản, thế hệ chúng tôi hầu như quên mất có một thế giới bên ngoài. Trong những ngày trên tàu Mỹ tôi đã gặp lại những hành động lịch sự, những cử chỉ nhân ái gần như đã biến mất trong xã hội nơi tôi vừa ra đi.

… Tôi vẫn nhớ lễ chào cờ mỗi sáng, đám người tị nạn đứng sát bên thủy thủ đoàn cùng lắng nghe quốc ca Hoa Kỳ vang vọng. Tôi vẫn mường tượng được cảm giác bàng hoàng khi nhìn lá cờ Hoa Kỳ bay lồng lộng trên bầu trời xanh biếc của Thái Bình Dương mà tự nhủ không biết mình sẽ ra sao nếu chiếc tàu này đến trễ chỉ một vài tiếng trong buổi bình minh hôm trước...

... Như thế đó, tôi đã may mắn gặp được cái đẹp đẽ nhất của đất nước Mỹ trước khi đặt chân tới đất nước này. Tôi đến Mỹ với vài đô la và mấy bộ quần áo tồi tàn nhưng gia tài của tôi là lòng cảm mến sâu xa với một miền đất giàu tình người, cùng với hoài bão sẽ cố gắng sống cho xứng đáng với sự hy sinh của gia đình, với sự may mắn mà Thượng Đế đã nhờ những “sứ giả” trên tàu Mỹ đem đến cho chúng tôi... Có lẽ tình cảm của tôi với nước Mỹ đã thành hình từ lúc nhìn con tàu mang lá cờ Mỹ lớn dần từ phía chân trời trên Thái Bình Dương, từ khoảng khắc mấy người lính Mỹ ôm chặt em bé nhớp nhúa ói mửa vào lòng để đem lên tàu, từ khi anh thủy thủ ân cần dùng con dao nhỏ cắt bớt chiếc dép cao su cho vừa chân tôi, từ hình ảnh người sĩ quan trong bộ đồng phục trắng toát đang xắn quần, gò lưng kéo dây ghìm cho thuyền nhỏ đứng yên để chúng tôi bước lên bờ biển Thái Lan, từ hình ảnh những người Mỹ đứng một hàng dài lưu luyến dõi theo đám thuyền nhân chúng tôi đang lục tục di vào trại mà cố ngoái lại nhìn qua làn nước mắt.

Tôi tin rằng không phải vị thuyền trưởng nghĩ rằng người Mỹ có trách nhiệm với chúng tôi. Nước Mỹ có quyền không cho phép chiếc hàng không mẫu hạm đi chệch hải đồ để cứu người, giống như bao con tàu khác đã làm ngơ với những chuyến vượt biên kém may mắn.

Hơn nữa, những gì không thật sẽ không tồn tại lâu bền, cho nên tình cảm ban đầu của tôi với nước Mỹ sẽ mất đi nếu tôi không càng ngày càng thấy nước Hoa Kỳ là một đất nước bao dung – hay mong rằng – nước Mỹ là hoàn hảo; nhưng với tôi nước Mỹ là một dòng sông mênh mông, đôi khi cũng đem theo rác dơ, đôi khi cũng dậy sóng nguy hiểm, nhưng dòng sông đó đã rộng lòng đem nước và phù sa đến cho những giống cây đến từ khắp nơi có cơ hội đơm trái ngọt...

Người sống lâu ngày trong bình an, sung sướng thường quên rằng mình may mắn. Người đàn ông đốt lá cờ Mỹ trên thềm nhà Quốc Hội chắc chỉ nhớ đến những rác rưởi trong dòng sông, chắn ông ta không hiểu rằng chỉ ở Hoa Kỷ ông ta mới dám chà đạp quốc kỳ ngay trước tòa nhà lập pháp mà không sợ rằng mình sẽ “ra đi không có ngày về”. Ông ta chắc chắn không biết rằng lá cờ đó đã khiến hải tặc Thái Lan buông chúng tôi, đã quyết định giữa cuộc sống bình an ở Hoa Kỳ và cái chết của hơn một trăm ngưởi trên chiếc thuyền vượt biên vào một ngày hè năm 1983...

... Tôi yêu mến đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã cưu mang tôi, cho cây tôi lớn lên thành một cây quýt ngọt, và đất nước này không phiền hà khi tôi đem chia xẻ trái ngọt đó nơi tôi sinh ra. Tinh thần của nước Mỹ luôn khuyến khích mọi người góp sức làm thế giới tốt đẹp hơn và tôi sẽ làm như thế. Tôi sẽ cố gắng để bằng cách này hay cách khác, trao lại những may mắn và cơ hội mà tôi đã được trao. Hy vọng là tôi sẽ góp phần để một ngày nào đó người dân Việt Nam không còn phải tìm cách ra đi cho dù phải trả giá bằng tính mệnh hay nhân phẩm...

Khôi An













Monday, June 16, 2025

Con Sáo Sang Sông Trên Đất Mỹ

Từ bao năm nay tôi có một cái lệ cho riêng mình: sáng đi làm nghe đài radio Mỹ, chiều về nghe đài Việt Nam. Làm hoài thành thói quen, rồi lâu ngày trở thành chuyện tự nhiên, cho tới gần đây tôi mới tự thắc mắc tìm hiểu lý do. Và tôi nghiệm ra rằng mỗi ngày từ khi lùi xe ra khỏi garage là tôi đã chuẩn bị tư thế ứng phó với việc làm. Những câu hỏi đến từ cấp trên và cấp dưới, từ văn phòng cùng dãy tới phía bên kia địa cầu; những buổi họp với người gặp hàng ngày và qua internet với người chưa bao giờ biết mặt; những khúc mắc giải quyết được trong năm phút hay những vấn đề có thể làm công việc khựng lại cả tháng …. chuyện gì cũng có thể xảy ra trong ngày.

Sáng sớm khi nghe những tin tức nóng hổi và gắn liền với đời sống chung quanh từ đài radio Mỹ, đối với tôi, giống như người thợ vô dầu mỗi sáng trước khi đề máy. Còn buổi chiều khi công việc đã xong, tôi chọn tiếng Việt để đồng hành với tôi trở về nơi bình an đang chờ đón. Có những ngày đầu óc mệt mỏi, không cần chú ý lắng tai, tiếng Việt thân thương nghe sơ vẫn hiểu, câu nhạc quen thuộc dù bật lên nửa chừng cũng vẫn đầy âm điệu thân mến, du dương…

Một hôm sửa đường, kẹt xe quá sức. Ngồi trên xe nhích nhích, cứ mười phút radio lại báo “quãng xa lộ 237 West dẫn vào Santa Clara vẫn còn kẹt cứng như bãi đậu”, tôi hết muốn nghe. Vói tay nhấn nút chuyển qua đài Việt Nam, bỗng cái gì đó chụp lấy sự chú ý của tôi. Một giọng nói. Không phải là giọng của xướng ngôn viên chuyên nghiệp mà là một giọng nói địa phương miền Trung.

Nghe tiếp tôi mới biết đó là trích đoạn phỏng vấn một giáo dân tại Cồn Dầu, một giáo xứ nhỏ bé ven sông Hàn, Đà Nẵng. Thêm một chuyện công an và chính quyền địa phương thừa lệnh những thế lực bí mật trên cao ngang nhiên đánh dân tới chết để bật gốc họ khỏi khu đất có vị trí đẹp. Người ta muốn biến những mảnh đất đẹp đó thành khu “sinh thái”, thành đô thị thượng lưu, nơi một căn biệt thự trị giá hơn tài sản của hàng chục thế hệ người dân đã đổ mồ hôi nước mắt khai phá và xây dựng chính khu đất đó. Chuyện Việt Nam bao giờ cũng làm tôi đau lòng, suy nghĩ, nhưng lần đó giọng nói mới là điều đưa tư tưởng của tôi đi xa. Giọng Đà Nẵng tình cờ gặp giữa SanJose sao thân thương quá! Cách phát âm đặc biệt, lâu lắm mới được nghe một cách chân chất, không chút sửa sang, gợi lên cái gì nao lòng bàng bạc mà chính tôi cũng không gọi tên được.

Giống như cảm giác chợt nghe một bài dân ca ở thành phố Berkeley, hơn hai mươi năm trước.

Đêm, gió lớn và trời rất lạnh. Mười một giờ thư viện đóng cửa, tôi lầm lũi ra xe đi về. Đi ngang một quán cà phê nhỏ, bụi bặm, tôi chợt khựng chân. Rõ ràng là bài Lý Chim Quyên của Việt Nam thổi bằng sáo! Tôi đứng lặng. Gió thổi rung các cành cây, cả con phố dài chỉ còn bóng tôi quẩy cái ba lô to hơn nửa người, đổ dài dưới ánh đèn đường vàng vọt. Nhưng tôi vẫn thấy ấm cúng và vui. Tôi lẩm nhẩm hát theo “Chim quyên quầy, quen trái quây… Nhãn lồng … Nhãn lồng ….” Và sực nhớ hôm đó là 29 Tết.

Hồi còn nhỏ ở Sài gòn, thời chiến tranh, Bố Mẹ tôi là nhà giáo nên đủ cơm ăn áo mặc là vui rồi, chẳng dư dả cho con “học đàn, học địch”. Vì theo quan niệm xưa nên Bố Mẹ tôi chỉ muốn chúng tôi học, học, học, chứ không cổ súy chuyện “văn nghệ, văn gừng”. Thỉnh thoảng Bố tôi mới cho nghe nhạc từ vài cái đĩa nhựa qúy. Những bài hòa tấu như Nocturne in C sharp Minor của Chopin, MoonLight Sonata của Bethoveen, Air on G string của Bach đã mê hoặc tôi. Trong trí óc còn non của tôi thời bấy giờ, chỉ có nhạc bán cổ điển Tây phương là hay, là mẫu mực của âm nhạc. Còn mấy bài dân ca “Ví dầu cầu ván đóng đinh…” , mấy bài Lý thỉnh thoảng nghe trên TiVi thì cũng dễ thương nhưng thường quá! Con nít Việt Nam thời đó, có lẽ ít nhiều đều mang tâm trạng “nỗi buồn nhược tiểu”(*). Nói về cô gái đẹp thì phải “đẹp như lai”, nói về lịch sự thì phải “sang như Tây”, còn nét tiểu thư lãng mạn thì phải giống Hàn Ni mong manh bên phím dương cầm trong phim Mùa Thu Lá Bay của Hồng Kông thì mới đủ “quý phái”.

Rồi tôi qua Mỹ, may mắn học được bao nhiêu điều, và càng học tôi càng thấy nước Mỹ là cường quốc thế giới cũng vì họ biết gom cái hay cái đẹp. Từ thời lập quốc, nước Mỹ đã là nơi gặp gỡ của kinh nghiệm và kiến thức đến từ khắp mọi nơi. Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ hiểu rõ hơn ai hết rằng khi những nét văn hóa cộng lại với nhau thì kết quả là một xã hội sinh động, mạnh mẽ, và nhạy bén với mọi thay đổi. Gắn liền với mỗi dân tộc là một gia sản văn hóa độc đáo, vì thế những gì thuần chất là rất quý. Những điều đó, sống ở Mỹ, tôi cảm thấy và hiểu rõ nhưng vẫn chưa in sâu vào óc tôi…

Cho đến một hôm…

Tôi tham dự buổi trình diễn hôm đó vì cháu David con cô em đánh đàn piano rất giỏi. Hôm đó cháu đại diện cho trường trong một buổi trình diễn tài năng học sinh. Ở Mỹ, con nít quả thật là sướng, hầu như gia đình trung lưu nào cũng cố gắng cho con học ít nhất một nhạc cụ. Chương trình chỉ gồm học sinh trung học trong một học khu mà rất các cháu chơi xuất sắc từ những bài cổ điển tới những tấu khúc nổi tiếng đương thời. Cháu David trổ tài chạy ngón bằng bài Nostaliga vũ bão của Yanni, nhìn tay cháu bay trên phím đàn mà tôi ngẩn ngơ thán phục. Nhưng thú thật, toàn là piano với vài bài violin, tới khoảng tiết mục thứ mười lăm là đầu óc tôi bắt đầu rón rén “đi hoang”. Và, ngay lúc đó, người điều khiển chương trình giới thiệu hai chị em họ Nguyễn song tấu bài Hòn Vọng Phu bằng đàn tranh và đàn bầu.

Cây đàn mười sáu giây đi với cây đàn một giây. Hầu như mọi người đều ngồi thẳng lên, lắng nghe vì tò mò về hai cây đàn lạ. Bây giờ kể lại thì … mắc cỡ nhưng hôm đó ngồi nghe mà tôi muốn khóc. Muốn khóc vì bài nhạc Việt Nam nghe không thua gì những bài nổi tiếng nãy giờ, vì cách trình diễn say mê và trang trọng của hai cháu làm tôi thấy quá tự hào. Tới lúc đó tôi mới nhận thấy rằng trên thế giới không có một nhạc cụ nào có thể chơi những câu “Nơi man khê còn tung gió bụi mịt mùng, Nơi tiêu tương còn thương tiếc ai ngàn trùng, Người đi ngoài vạn lý xa xăm, Người trông chồng còn đứng …muôn năm” ngọt ngào, tình tự hơn tiếng đàn bầu. Tiếng nhạc như bóp vào tim. Khi hai cháu chấm dứt, cả hội trường vỗ tay rào rào. Không phải chỉ mình tôi với nỗi niềm người Việt, mà mọi người đều thấy màn trình diễn này độc đáo nhất.

Tôi để ý nghe dân ca và các nhạc cụ thuần Việt hơn, từ đó. Và tôi thấy rằng mỗi loại nhạc đều có chỗ đứng riêng giống như cội nguồn của chúng là những phần khác nhau trên thế giới. Ngẫm nghĩ cho cùng, cây đàn bầu làm bằng một khúc cây với một sợi dây duy nhất mà vang lên những thanh âm uyển chuyển gần nhất với tiếng người mới quả thật là tuyệt diệu.

Mỗi năm hội người Việt trong hãng Intel đều tổ chức tiệc tất niên. Không chỉ họp mặt ăn uống mà còn trình diễn văn nghệ giúp vui. Toàn “cây nhà lá vườn” nhưng chương trình có đầy đủ ca, vũ, nhạc, kịch và năm nào cũng có ít nhất là một bài múa thuần túy Việt Nam.

Năm đó, để chương trình thêm gần với văn hóa Việt, chúng tôi có một màn dân ca ba miền. Tôi “điếc không sợ súng”, xung phong làm ca sĩ. Chuyện phân chia bài hát cũng đơn giản, nhẹ nhàng. Chị M người xứ Quảng nhưng làm dâu gia đình Bắc Ninh hơn ba mươi năm, rất rành các bài hát quê chồng nên dĩ nhiên chị đảm nhận bài quan họ miền Bắc. Chị P thích một bài có âm hưởng Nghệ An nên hát phần miền Trung, và tôi lãnh vai cô gái miền Nam. Dù hàng ngày nói giọng Bắc nhưng tôi thấy không có chi đáng lo. Ít gì tôi cũng sinh ra ở Tân Định, uống nước từ nguồn sông Đồng Nai mà lớn, nghe cải lương từ bé, và biết nói giọng Sài Gòn. Hát dân ca miền Nam chỉ là chuyện nhỏ, tôi nghĩ vậy.

Vì công việc hãng bận rộn nên chúng tôi đồng ý phần ai nấy tập, cuối cùng mới ráp lại với nhau. Tôi về nhà, lên Internet chọn bài có nhạc sẵn để tập theo. Nghe Bạch Yến hát Lý Ngựa Ô, thích lắm, nhưng hì hục tập rồi tôi mới thấy khó. Âm điệu ngựa ô đi lóc cóc, dồn dập, hát phải thật vững nhịp và trình diễn bài hát vui nhộn này cần phải dạn sân khấu, diễn tả thật linh động, duyên dáng. Lần đầu làm ca sĩ mà phải vừa hát vừa diễn, chắc chắn tôi không đủ sức làm Bạch Yến. Kiếm bài mùi có lẽ chắc ăn hơn…

Nghĩ vậy nhưng bao nhiêu chuyện bận rộn dồn dập, tôi chẳng có nhiều giờ tìm. Tới khi chỉ còn gần hai tuần tôi mới chọn được bài Lý Cái Mơn. Tất tả chạy lên thương xá Grand Century mua một đĩa Karaoke, tôi hối hả tập. Cũng may, bài này không khó. Sau mấy lần tập luyện, ra vô đúng nhịp và hát không sai một note nào, tôi nghĩ sắp xong rồi. Giờ nghỉ trưa tôi hay vào phòng họp, đóng kín cửa, bật nhạc lên vừa ăn vừa nghe Phượng Mai ca thánh thót. Tôi muốn nghe cho nhập tâm, lúc lên sân khấu lỡ có run quá thì còn hát theo… phản xạ.

Một ngày kia, tôi nhờ một người bạn rành về dân ca nghe tôi hát thử. Anh ta lắng nghe rồi góp ý “Hát bài này muốn hay cần láy cho thiệt mùi và phát âm giọng miền Nam thiệt ngọt… Người miền Nam dễ tính, xuề xòa ngay trong cả giọng nói. Họ phát âm lơi lơi, không cần uốn miệng nhiều. Chữ â, chữ ô đớt đớt, nhè nhẹ chứ không rõ ràng như Khôi An nói…” Mấy ngày sau đó, giờ ăn trưa tôi đi dạo trong một bãi đậu xe rộng, ít người qua lại. Nắng đầu Xuân hưng hửng dịu dàng, tôi vừa đi vừa tập hát cho đúng giọng Bến Tre. Trên cành cây, những chú chim ríu rít rồi bay vút lên, lòng tôi cũng bay cao theo câu hát Đôi bờ dẫn nghe chim nhạn tìm nhaaao…

Áp dụng đúng tiêu chuẩn làm việc ở Intel, trước ngày trình diễn chúng tôi phải cho chương trình chạy thử. Màn dân ca ba miền dợt trước năm sáu khán giả, trong đó có một anh từng sinh hoạt văn nghệ lâu năm. Anh nói với tôi “Khôi An hát được rồi nhưng cần diễn tả thêm. Chỗ như tóc em bay theo lòng thủy chung câu hẹn ngày xưa... em phải hát mềm mại chứ đừng căng thẳng vậy. Em làm được mà! Ráng chút nữa thôi!” Tới đây thì bắt tôi đầu lo. Hát dân ca miền Nam lần đầu mà bảo không được căng thẳng, coi bộ anh này nghĩ sau mấy lần vừa ăn trưa vừa tập hát tôi đã hóa thân thành “kỹ sư-ca sĩ”.

Còn hai hôm nữa là tới ngày trình diễn. Áo bà ba đã mượn xong, ngày hôm đó chị H đem cho tôi cái nón lá, thế là đủ bộ. Chiều hôm đó, tôi muốn ráng tập thêm một lần. Đã hơn sáu giờ, phòng lab chỉ còn vài người, nhưng tự nhiên đứng hát thì cũng kỳ. Nhưng nếu bây giờ tôi làm không được với hai người bạn thì làm sao cuối tuần tôi làm được trước hai trăm người? Thế là tôi cắp nón vào phòng lab, mời hai người bạn nghe tôi hát Lý dân ca. Trước hai khán giả mặc lab coat, giữa đám máy móc, tôi mặc quần jean, cầm nón lá, bắt đầu “Đàn cò bay, về nơi thương nhớ…” Tôi tưởng tượng mình là cô thôn nữ hát dưới hàng dừa xanh, trên con đò xuôi trên dòng Cái Mơn. Tôi gởi lòng qua đuôi mắt khi nhắn nhủ thiết tha có sang sông thì chim sáo hát câu hẹn hò làm cô bạn phá lên cười “Coi đưa đẩy ác liệt chưa kìa! Tới lắm!”

Buổi tiệc thành công, ai cũng khen các màn trình diễn. Và tôi tin rằng nếu chúng tôi có quá run mà vấp váp chút đỉnh cũng chẳng ai chấp nhất. Điều quan trọng hơn cả, ai cũng thấy, là các “nghệ sĩ” không chuyên nghiệp đã trình diễn hết sức, hết lòng.

Tôi thật sự không nhớ mình có hát thật đúng giọng miền Nam hay không, không nhớ mình có mỉm cười, liếc mắt khi hát câu hẹn hò hay không, nhưng tôi thấy vui. Vi tôi đã hát dân ca cho mọi người nghe, đã dùng hết khả năng của tôi để nhắn nhủ với bạn Intel rằng dân ca Việt Nam là gia sản quý báu, là một phần làm âm nhạc Việt Nam đáng nhớ trong muôn ngàn thanh âm trên thế giới.

Mới đây tôi nghe cháu David kể lại rằng cô chị đánh đàn bầu trong buổi trình diễn năm ấy được nhận vào Stanford. Tôi tin rằng khả năng xử dụng cây đàn độc đáo của cô bé có ảnh hưởng phần nào tới thành quả rực rỡ mà cô đạt được. Bởi vì tất cả các chuyên viên cố vấn cho học sinh (counselors) và các cha mẹ đã trải qua con đường đưa con vào đại học đều đồng ý rằng ở những trường nổi tiếng, cách lựa chọn giữa hàng chục ngàn học sinh xuất sắc là tìm những học sinh có năng khiếu hay thành tích xã hội đặc biệt. Đối với tôi và mọi người được xem hai cô bé biểu diễn, điều cô sinh ra trên đất Mỹ mà xử dụng nhuần nhuyễn một nhạc cụ thuần túy từ quê cha, mà trân trọng nhạc của quê mẹ, đó là một điều hết sức đẹp đẽ và đặc biệt.

Hơn hai mươi năm làm công dân Hoa Kỳ, tôi không còn xem đất nước này là nơi tạm dung hay nơi tôi phải ở vì không có lựa chọn khác. Tôi cảm thấy tôi là một phần của đất nước này, và tôi chia sẻ niềm tự hào, niềm tin Hoa Kỳ - đã từng được chứng minh và lập lại nhiều lần: hoàn thành những sứ mạng khó khăn gần như không tưởng là đặc trưng của đất nước Mỹ, là truyền thống của người dân Mỹ. Tại sao người Mỹ làm được như vậy? Bởi vì họ gom sức mạnh từ các nơi, bởi vì họ hiểu, quý trọng, và phát huy từng cái đặc biệt, từng cái hay của mỗi sắc dân. Ngay từ còn nhỏ, nhà trường đã dạy học sinh tôn trọng sự khác biệt và học hỏi từ người khác bằng những buổi thảo luận, những ngày Diveristy Day.

Người Việt lưu vong như “những phấn hoa tản khắp phương trời” (**). Ở Mỹ, phấn hoa đã rơi xuống mảnh đất vô cùng màu mỡ. Nở thành một nhánh hoa đẹp đẽ, độc đáo hay một bông hoa giông giống các bông hoa khác trong vườn, là tuỳ theo mỗi người. Riêng tôi, tôi mong đó vẫn là những nhánh hoa đầy sắc thái Việt Nam.

Khôi An

(*) Nỗi Buồn Nhược Tiểu: tên bản dịch một tác phẩm của Pearl Buck, nữ văn sĩ Hoa Kỳ được giải Nobel Văn chương năm 1938

(**) Những Phấn Hoa Tản Khắp Phương Trời: tựa bài viết năm 2000 về giải thưởng VVNM của cố nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh (1921 – 2012)

Sunday, August 4, 2024

Tình Nghĩa, Nghĩa Tình


Lần đầu tiên tôi có ý định viết chuyện này là năm 1989. Năm đó, cả nước Mỹ xôn xao tranh cãi về việc một người đàn ông đã đốt lá cờ Mỹ ngay trên thềm toà nhà Quốc Hội trong buổi họp thường niên cuả đảng Cộng Hòa. Lúc đó tôi đã nghe nhiều bàn tán về sự kiện này từ phía chống đối cũng như phe ủng hộ. Ngày đó tôi vưà mới tốt nghiệp đại học, chưa để ý nhiều đến những sinh hoạt chính trị xã hội ở chung quanh, nhưng trong lòng tôi đột nhiên dâng lên một cảm xúc gần như là tiếc cho người đàn ông đã làm hành động đó. Nếu ông ta từng nhìn lá cờ Mỹ qua đôi mắt của tôi và của hơn một trăm người bạn đồng thuyền vaò buổi sáng muà hè năm ấy, không biết ông ta có hành động khác đi chăng". . .

Đêm trung tuần tháng 7 năm 1983 bắt đầu khá êm ả. Con thuyền nhỏ đầy kín người đã ra hải phận quốc tế được gần 24 tiếng. Tôi đã hơi quen với mùi hôi tanh lợm giọng trong thuyền nên cảm thấy hơi tỉnh táo, ngồi bó gối nhìn cô em gái nằm bên cạnh đang mê man vì say sóng. Ngước mắt nhìn lên bầu trời đang chuyển dần từ màu xám sang màu đen thẫm, tôi thầm cầu nguyện cho được bình an.

Cám ơn trời, biển khá êm, con tàu không vật vã mà chỉ chồm lên hụp xuống theo từng đợt sóng. Tiếng khóc cuả con nít, tiếng càu nhàu than thở, tiếng chửi thề cũng lắng dần khi mọi người chìm vào giấc ngủ mệt mỏi...

Hình như tôi có thiếp đi một lúc vì khi tôi giật mình chòang dậy thì sự hoảng sợ đã chụp xuống chung quanh. Bác tài công đang hối hả kêu mấy người lái phụ và các thanh niên khác dùng bạt bịt kín khoang thuyền nơi mọi người đang nằm chen chúc. Chiếc đèn măng xông duy nhất trong phòng máy bị thổi tắt phụt sau khi bác tài công ra lệnh:

- Tắt đèn! Tắt hết đèn đi!!!

Lắng nghe những lời thì thào trao đổi một lúc tôi mới hiểu ra rằng tàu chúng tôi đang bị tàu cuớp Thái Lan đuổi bắt. Chúng tôi phải tắt hết đèn chạy xuyên vào biển đen trong khi tàu Thái ra sức rượt theo. Cả tàu đuợc lệnh tuyệt đối im lặng, những đứa bé vưà lên tiếng khóc phải bị bịt miệng ngay. Không biết lúc đó tôi còn trẻ quá, dại dột quá, có nhiều tin tưởng quá, hay vì cảm xúc cuả tôi đã tê dại đi, nên tôi không thấy sợ hãi lắm. Tôi gần như không cảm được sự hãi hùng của hơn một trăm sinh mạng đang loi ngoi trong khoang thuyền bịt kín. Tôi chỉ thấy khó thở vô cùng; tôi chỉ thấy nhẹ gánh cho em tôi đang mê man, chắc nó không phải cảm thấy sự ngộp thở tưởng chừng như không kham nổi mà tôi đang chịu; tôi chỉ biết tự nhủ ráng lên, ráng lên; và tôi không ngừng cầu xin Thượng Đế, Chúa, Phật, và tất cả những đấng thiêng liêng cứu vớt chúng tôi...
Chúng tôi chạy vòng vèo ngay truớc mũi tử thần trong suốt một đêm, và bình minh tới dù không ai mong đợị. Những tia sáng đã quét đi màn đêm đang che chở chúng tôi. Bác tài công buông những câu chửi thề uất hận khi khoảng cách giữa bọn cướp và chúng tôi thu ngắn trong khoảnh khắc... Rồi tôi lại nghe bác lại chửi, nhưng lần này đượm vẻ ngạc nhiên pha chút vui mừng:

- ĐM, hình như tụi nó bỏ đi hả bây"

Tấm bạt bịt khoang được hé ra cho chúng tôi khỏi chết ngộp, và qua cái khe hở nhỏ đó, một con cá nhỏ xíu bằng ngón tay cái đã phóng vào thuyền, rơi xuống ngay cạnh tôi. Tôi ngước mắt cố nhìn nhưng vì đang ngồi bẹp trong khoang thuyền nên tôi chẳng thấy được gì ngoài một mảng trời đang sáng dần.

Bỗng bác tài công và những người trong phòng máy trên cao vụt la lớn:

- Có tàu! Có tàu lớn ở đàng xa kià!

- Tàu gì vậy" Vái trời cho không phải tàu Liên Xô!

Chúng tôi như đuợc hồi sinh, ai cũng nhỏm lên nhìn nhưng vì lúc đó chiếc tàu kia chỉ là một đốm nhỏ ở xa nên tôi chưa thấy gì cả. Vài phút sau, có tiếng máy rồi một chiếc máy bay trực thăng nhỏ bay qua. Người trong thuyền la hét như điên cuồng, nhiều người đàn ông cởi áo phất lia lịa nhưng máy bay chỉ lượn vài vòng rồi... mất hút. Dù sao chúng tôi cũng có một tia hy vọng ở chân trời, chúng tôi vội nhắm cái chấm ở tít đằng xa mà chạy tới. Và chiếc tàu kia hình như cũng đang chạy về phía chúng tôi vì nó càng ngày càng lớn dần.

Và, suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên giây phút đó, giây phút người đàn ông ngồi trên cao la lạc giọng:

- Thấy rồi! Thấy cờ Mỹ rồi!!!

Nước mắt ông ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ lấm lem dầu máy. Mọi người đứng bật lên làm thuyền chao mạnh. Chúng tôi đã thật sự được sống!
Chiếc tàu vớt chúng tôi là một hàng không mẫu hạm của Mỹ. Nó to như một toà nhà mười mấy tầng, những người lính đầu tiên phải leo thang dây xuống để đem con nít và những người yếu sức lên trước. Em tôi đã tỉnh dậy như một phép lạ và chúng tôi bám vào thang dây, dò từng bước leo lên boong tàu. Vưà lên tới nơi, mỗi người được trao một ly sữa và một trái táo trước khi tụ tập trong một góc boong. Và ngạc nhiên thay, trên tàu đã có cả trăm người Việt Nam chạy ra mừng chúng tôi. Thì ra chiếc tàu Mỹ này vừa mới vớt một thuyền vượt biên khác ngày hôm trước. Sau khi mọi người đã lên tàu lớn, những người lính Mỹ tưới xăng lên chiếc thuyền mà chúng tôi vưà rời khỏi rồi châm lưả đốt. Đứng trên boong tàu nhìn vói theo chiếc thuyền nhỏ xíu đang bốc cháy và trôi dần ra xa, biết rằng mình vô cùng may mắn, nhưng lòng tôi vẫn thoáng chút ngậm ngùi...
Tổng cộng thuyền nhân được cứu từ hai chiếc ghe vượt biên lên tới gần hai trăm năm mươi người. Hồi đó, tiếng Anh cuả tôi kém và tính tình nhút nhát nên không dám hỏi han những người lính ở trên tàu. Tôi chỉ nghe nói lại là chiếc hàng không mẫu hạm này đang trên đuờng đi công tác ở Phi Luật Tân. Họ đã nhìn thấy tàu chúng tôi từ rất xa và quyết định đi chếch qua để cứu chúng tôi. Chiếc trực thăng bay qua trước khi tàu đến cũng là do vị thuyền trưởng đã gởi tới để xem xét tình trạng của chúng tôi.

Không hiểu vì sao mà trên tàu có sẵn một số quần áo cũ. Chúng tôi được phép lựa những thứ tạm mặc được để thay đổi hàng ngàỵ. Khổ nỗi đống quần áo đã qua sự lựa chọn cuả những người lên trước nên chỉ còn toàn những thứ khó mặc. Tôi nhặt đại hai cái áo to bằng bốn lần khổ người tôi, và một bộ áo liền quần màu xanh bó sát. Chẳng hề gì, tôi vẫn vô cùng sung sướng vì ước mơ gần như hoang đường nay đã thành sự thật: tôi đã trốn thoát khỏi Việt Nam và đang ở trên tàu Mỹ.

Ngày đó tôi vưà học xong trung học. Sau 8 năm đói khổ sau bức màn sắt cuả Cộng Sản, thế hệ chúng tôi hầu như quên mất có một thế giới bên ngoài. Trong những ngày trên tàu Mỹ tôi đã gặp lại những hành động lịch sự, những cử chỉ nhân ái gần như đã biến mất trong xã hội nơi tôi vừa ra đi. Những ân nhân của chúng tôi ân cần đến từng chi tiết nhỏ, một trong những việc đầu tiên họ làm là phát phong bì, giấy bút cho chúng tôi viết thư báo tin cho người thân. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ chiếc phong bì màu xanh nhạt có hình chiếc hàng không mẫu hạm và tên tàu ở góc, tôi vẫn còn nhớ ánh mắt thương cảm của những người trên tàu nhìn chúng tôi nhếch nhác, bơ phờ dò từng bước lên tàu.
Suốt thời gian trên tàu tôi vô cùng ái ngại cho những ngưòi lính và những sĩ quan đã tốn không biết bao nhiêu công sức để lo cho hơn hai trăm người chúng tôi. Vì hàng không mẫu hạm là đơn vị quân sự nên chúng tôi không được phép ra khỏi phần cuối boong tàu. Mỗi người được phát một tấm chăn dạ màu xám, loại chăn nhà binh Mỹ mà tôi đã thấy trước năm 1975. Chăn rất tốt và khí hậu Thái Bình Dương vào muà hè khá ấm nhưng chúng tôi phải nằm ngay trên boong và gió thổi lồng lộng khi tàu chạy nhanh nên ban đêm vẫn lạnh. Tôi ngủ được rất ít nhưng chính vì thế tôi càng có cơ hội chứng kiến sự tận tâm cuả những người trên tàu. Sáng sớm tôi vưà thức dậy đã thấy người ta đang lăng xăng dọn thức ăn sáng cho chúng tôi. Mất mấy tiếng mới phục vụ hết đám người đông đúc nên chỉ vài tiếng sau là họ lại lục tục lo bữa ăn trưa, rồi ăn tối. Thức ăn quá lạ miệng nên tôi không thấy ngon, ngay cả trái chuối cũng khác ở Việt Nam, nhưng tôi nhớ nhất là ly cà phê đầu tiên trên tàu. Đã từng nếm những ly cà phê đen sánh quậy với sữa đặc ở Việt Nam, tôi ngạc nhiên lắm khi ngậm ngụm cà phê Mỹ pha sẵn. Thật tình, cà phê sao chua lè và trong veo, y như là nước giảo của cà phê Việt Nam!

Vấn đề vệ sinh cho hơn hai trăm người chen chúc trong khoảng không gian nhỏ mới thật là kinh khủng. Thuỷ thủ đòan phải dùng nylon đen che thành mấy phòng tắm quay mặt ra biển, nhà vệ sinh cũng là nylon đen quây quanh mấy thùng sắt to. Mỗi sáng nhân viên trên tàu cùng chúng tôi dọn dẹp, và tôi không thấy người nào tỏ thái độ khó chịu cho dù trong khi làm những việc cực nhọc nhất.
Mấy ngày ngắn ngủi trên tàu mãi mãi là một trong những kỷ niệm khó quên nhất trong đời tôi. Trên chiếc hàng không mẫu hạm hùng vĩ đó, tôi đã được xem cảnh tàu chở xăng xáp vào tiếp nhiên liệu cho tàu lớn ngay trên biển, đã được chứng kiến những sinh hoạt hàng ngày quy củ răm rắp như một trong guồng máy nhưng được thực hiện bởi hải đoàn đầy ắp tình người. Tôi nhớ nhân viên trên tàu ngoài nhiệm vụ riêng họ còn phải chăm sóc đủ thứ cho chúng tôi, và phải lo rất nhiều giấy tờ cho thủ tục gởi chúng tôi vào trại tị nạn Thái Lan. Bận rộn vậy nhưng không khí trên tàu luôn ấm cúng và thân tình. Tôi vẫn nhớ lễ chào cờ mỗi sáng, đám người tị nạn đứng sát bên thuỷ thủ đoàn cùng lắng nghe quốc ca Hoa Kỳ vang vọng. Tôi vẫn mường tượng được cảm giác bàng Hòang khi nhìn lá cờ Hoa Kỳ bay lồng lộng trên bầu trời xanh biếc cuả Thái Bình Dương mà tự nhủ không biết mình sẽ ra sao nếu chiếc tàu này đến trễ chỉ một vài tiếng trong buổi bình minh hôm trước...
Mỗi buổi chiều khi công việc đã xong, người trên tàu túa ra trò chuyện với chúng tôi. Từ vị sĩ quan trong đồng phục trắng toát tới anh thuỷ thủ trong đồng phục xanh, ai cũng ân cần vui vẻ. Họ đùa giỡn với con nít, trò chuyện với mọi nguời, cố lắng nghe những câu tiếng Anh vụng về cuả chúng tôi để tìm hiểu xem chúng tôi có cần thêm gì hay không. Để chúng tôi giải khuây, họ còn căng màn chiếu phim. Tôi nhớ mãi cuốn phim đó là phim Điệp viên 007 James Bond với tựa đề "For Your Eyes Only". Giữa trời đêm lồng lộng ngàn ánh sao, trên con thuyền băng băng xuyên vào biển đen, những hình ảnh rực rỡ chớp tắt trên màn ảnh vĩ đại làm tôi mơ màng tưởng như mình đang trôi trong đêm hoa đăng thần thoại của một giấc mơ kỳ diệu.
. . .
Như thế đó, tôi đã may mắn gặp được cái đẹp đẽ nhất cuả nước Mỹ trước khi đặt chân tới đất nước này. Tôi đến Mỹ với vài đô la và mấy bộ quần áo tồi tàn nhưng gia tài cuả tôi là lòng cảm mến sâu xa với một miền đất giàu tình người, cùng với Hòai bão sẽ cố gắng sống cho xứng đáng với sự hy sinh cuả gia đình, với sự may mắn mà Thượng Đế đã nhờ những "sứ giả" trên tàu Mỹ đem đến cho chúng tôi.

Những bối rối vì ngôn ngữ, những trở ngại khi hội nhập đôi khi có làm tôi buồn nản, nhưng tôi thấy quay quắt nhất là những khi nhớ về Việt Nam. Những chuyện nhỏ nhặt như khi đi chợ Việt Nam, nhìn người ta xăm soi tìm cho được những trái tuyệt hảo nhất trong đám nhãn mọng tươi nhập cảng từ Á châu cũng làm tôi bùi ngùi. Tôi nghĩ đến những trái hơi có tì vết mà không ai thèm mua kia cũng có thể là hàng xuất khẩu từ Việt Nam, là tinh hoa chắt ra từ quê hương nghèo nàn của tôi, là loại hàng "xuất khẩu" mà người đi làm bình thường như cha mẹ tôi không bao giờ mua nổi.
Tuy thế, vấn đề lớn nhất tôi gặp phải trên đất Mỹ là một chuyện tôi chưa hề nghĩ tới: đó là tình cảm của tôi với nước Mỹ đã làm tôi hoang mang. Ngay từ nhỏ, những câu tục ngữ như "Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo" đã thấm sâu vào lòng tôi. Cho dù tôi biết chắc rằng tôi không liều mạng vượt biển vì miếng cơm manh áo, tôi ra đi không phải vì tôi chê mẹ Việt Nam nghèo khó, nhưng trong trí óc cuả một thiếu nữ đang trưỏng thành một mình trên miền đất mới, tôi cảm thấy gần như... có lỗi khi thấy mình càng ngày càng quen với đời sống mới và thật sự yêu mến quê hương thứ hai này. Có lẽ cảm giác đó giống như đưá con nuôi cuả một gia đình giàu có, một ngày kia trở về quê cũ và cảm thấy băn khoăn khi bắt gặp mình ngập ngừng, xa lạ trước cha mẹ ruột nghèo nàn xấu xí.

Không hiểu may mắn hay không may cho tôi là khi chiến tranh Việt Nam đang diễn ra thì tôi còn nhỏ. Vì thế, trong lòng tôi không có cảm giác hụt hẫng và đau đớn của nhiều người lớn khi bị "đồng minh Mỹ bỏ rơi". Khi tôi nghe vài ngưòi nói rằng nước Mỹ cưu mang chúng ta không phải vì họ tốt mà vì họ có trách nhiệm với người Việt, tôi hiểu tại sao họ nghĩ thế nhưng tôi không cảm được. Tôi kính trọng suy tư riêng cuả mỗi người, nhưng riêng tôi, tôi thấy cái tinh tuý cuả hiệp chủng quốc vượt khỏi những nhiệm kỳ tổng thống hay đảng phái. Tinh tuý đó đến từ những người dân Mỹ. Có lẽ tình cảm cuả tôi với nước Mỹ đã thành hình từ lúc nhìn con tàu mang lá cờ Mỹ lớn dần từ phía chân trời trên Thái Bình Dưong, từ khoảnh khắc thấy người lính Mỹ ôm chặt em bé nhớp nhúa ói mửa vào lòng để đem lên tàu, từ khi anh thủy thủ ân cần dùng con dao nhỏ cắt bớt chiếc dép cao su cho vừa chân tôi, từ hình ảnh người sĩ quan trong bộ đồng phục trắng toát đang xắn quần, gò lưng kéo dây ghìm cho thuyền nhỏ đứng yên để chúng tôi bước lên bờ biển Thái Lan, từ hình ảnh những người Mỹ đứng một hàng dài lưu luyến dõi theo đám thuyền nhân chúng tôi đang lục tục đi vào trại mà còn cố ngoái lại nhìn qua làn nước mắt.

Tôi tin rằng không phải vị thuyền trưởng nghĩ rằng người Mỹ có trách nhiệm với chúng tôi, hay vì sự may mắn khi con cá nhỏ nhảy vào tàu mà chúng tôi được vớt. Nước Mỹ có quyền không cho phép chiếc hàng không mẫu hạm đi chệch hải đồ để cứu người, giống như bao con tàu khác đã làm ngơ với những chuyến vượt biên kém may mắn. Hơn nữa, những gì không thật sẽ không tồn tại lâu bền, cho nên tình cảm ban đầu cuả tôi với nước Mỹ sẽ mất đi nếu tôi không càng ngày càng thấy Hoa Kỳ là một đất nước bao dung. Tôi không ngây thơ nghĩ rằng - hay mong rằng - nước Mỹ là Hòan hảo; nhưng với tôi nuớc Mỹ là một dòng sông mênh mông, đôi khi cũng đem theo rác dơ, đôi khi cũng dậy sóng nguy hiểm, nhưng dòng sông đó đã rộng lòng đem nước và phù sa đến cho những giống cây đến từ khắp nơi có cơ hội đơm trái ngọt.
Người sống lâu ngày trong bình an, sung sướng thường quên rằng mình may mắn. Người đàn ông đốt lá cờ Mỹ trên thềm nhà Quốc Hội chắc chỉ nhớ đến những rác rưởi trong dòng sông, chắc ông ta không hiểu rằng chỉ ở Hoa Kỳ ông ta mới dám chà đạp quốc kỳ ngay trước toà nhà lập pháp mà không sợ rằng mình sẽ "ra đi không có ngày về". Ông ta chắc chắn không biết rằng lá cờ đó đã khiến hải tặc Thái Lan buông chúng tôi, đã quyết định giữa cuộc sống bình an ở Hoa Kỳ và cái chết - hay một cuộc sống nô lệ trên xứ Thái đau khổ hơn cả cái chết - cuả hơn một trăm người trên chiếc thuyền vượt biên vào một ngày hè năm 1983.
. . .

Thời gian trôi qua. Tôi đã lớn lên và đã hiểu ra rằng tôi không hề phải chọn lựa giữa quê hương thứ nhất Việt Nam và quê hưong thứ hai Hoa Kỳ. Tôi yêu mến đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã cưu mang tôi, cho cây tôi lớn lên thành một cây quýt ngọt, và đất nước này không hề phiền hà khi tôi đem chia xẻ trái ngọt đó với nơi tôi sinh ra. Tôi đâu phải là cá hồi mà phải chọn lựa giưã sông và biển" Tinh thần cuả nước Mỹ luôn khuyến khích mọi người góp sức làm thế giới tốt đẹp hơn và tôi sẽ làm như thế. Tôi sẽ cố gắng để bằng cách này hay cách khác, trao lại những may mắn và cơ hội mà tôi đã được trao. Hy vọng là tôi sẽ góp phần để một ngày nào đó người dân Việt Nam không còn phải tìm cách ra đi cho dù phải trả giá bằng tính mạng hay nhân phẩm.
Tôi yêu Việt Nam đã sinh thành ra tôi và tôi yêu Hoa Kỳ đã dưỡng dục tôi. Đôi khi tôi tẩn mẩn phân tích tình cảm cuả mình: với Việt Nam là tình, với Hoa Kỳ là nghiã... Rồi tôi lại loay hoay tự hỏi có phải như vậy không, hay là ngược lại" Cuối cùng tôi bật cười, nghĩ mình thật là lẩn thẩn, bởi vì tình cảm đâu cần gì phân loại và đặt tên.

Khôi An



Tuesday, May 7, 2024

Buồn Vui Tuổi Hạc


Tác giả: Khôi An

***
Lời mở đầu: Quan niệm rằng người lớn tuổi ở Hoa Kỳ sẽ rất buồn là một quan niệm khá phổ biến. Hội nhập vào một xã hội mới là chuyện không dễ dàng và cần thời gian, nhất là đối với những bậc cao niên. Tuy nhiên, như hầu hết mọi chuyện khác, đời sống của quý cụ, quý ông bà ở Hoa Kỳ có buồn, có vui, có thất vọng và có thành tựu. Trong bài này, người viết chỉ xin ghi lại vài nét từ những cuộc đời thật của vài vị cao niên đang sống tại Hoa Kỳ. Vì chuyện buồn cuả ngươì lớn tuổi trên đất Mỹ đã đuợc nói đến rất nhiều, người viết bài này xin nghiêng một chút đến những chuyện đáng vui. Kính tặng quí vị cao niên đang sống và sắp sống ở Hoa Kỳ. Mong rằng bài này sẽ đem lại chút tin yêu và hy vọng, hoặc ít nhất cũng đem đến quý vị chút giải trí nhẹ nhàng...

***
Bà Lan chờ cho chiếc xe cuả con gái lùi ra và cánh cưả garage xập hẳn xuống rồi mới quay vào. Sáng nào bà cũng dậy sớm nên đến khi con gái và con rể chào ông bà đi làm thì bà đã ăn điểm tâm xong. Xếp lại mấy cái gối trên ghế salon cho ngay ngắn rồi bà bước đến ngồi ở chiếc bàn ăn trong bếp, nơi ông Vinh đang vưà nhấm nháp cà phê vưà xem báo...

Tiếng chân chạy xuống cầu thang làm bà mỉm cười. Con bé Hạnh và thằng bé Khoa thật đúng giờ, ngày nào cũng khoảng 8 giờ sáng là chúng tỉnh giấc chạy xuống. Chỉ vài phút sau hai đứa đã ngồi tại bàn với hai tô cốm và hai ly sữa. Ngồi chưa yên, con bé đã hỏi:
- Ông ơi, sao ngày nào ông cũng đọc báo vậy"

Ông Vinh trả lời
- Ông đọc báo cho biết tin tức, con ạ.

- Tại sao ông thích biết tin tức hả ông"

Thế là hai ông cháu lại bắt đầu "đàm luận" như thường ngày. Đúng là con gái thường khôn sớm, con bé mới bốn tuổi mà lanh lẹ và nói chuyện đâu ra đó cho nên nhiều khi các dì gọi nó là "bà cụ non". Chẳng biết vì hai đứa may mắn được thông minh hay vì ông Vinh hay chuyện trò với chúng từ lúc mới vài tháng tuổi mà cả hai đều biết đối đáp như người lớn, làm nhiều lúc cả nhà phải phì cười.

Ngày ông bà tới Mỹ bé Hạnh còn trong bụng mẹ. Hồi đó, nghe tin được sang đoàn tụ với con, ông bà rất vui. Tuy nhiên, cũng có lúc ông bà lo lắng khi nghe ngươì ta nói rằng người già sang đó bất đồng ngôn ngữ, không hợp khí hậu, con cái đi làm cả ngày nên rất buồn và cô đơn. Cũng may ông bà ở tại California khí hậu ấm áp, trong lành, sống với con rể và con gái cũng hoà thuận, êm đềm. 

Tuy vậy buổi đầu hội nhập vào đời sống mới cũng không phải dễ dàng, nhất là đối với bà Lan. Đời sống bên đây sao mà nhiều máy móc, nội chỉ trong phòng bếp nhỏ đã có tới năm, sáu loại máy khác nhau; nào là lò nướng bánh mì, microwave, nồi cơm điện, máy mở đồ hộp, máy pha cà phê... Dù các con đã ghi cách xử dụng các loại máy xuống giấy cho bà, nhưng bà vẫn thấy chúng xa lạ, nhất là cái máy pha cà phê. Ở bên nhà, sáng nào cũng pha cho ông, bà ghiền cái mùi cà phê thơm phức bốc lên trong lúc từng giọt đen sóng sánh nhỏ chầm chậm từ phin xuống ly. Cà phê Mỹ loại khuấy uống liền màu lợt lạt mà vị còn nhạt nhẽo, chua chua, còn loại pha bằng máy cũng chỉ khá hơn chút xíu. Cơm nấu bằng nồi điện thì trắng tinh, thơm dẻo nhưng ... hoàn chỉnh đến độ ... kém duyên, làm bà nhớ tới cơm nấu bằng nồi gang nóng đượm ở quê nhà, có một lớp cháy mỏng thơm thơm dưới đáy. Đó là chưa kể cơm nấu trong niêu đất, lớp cháy dòn tan ăn với nước cá kho thì bên này thật là không kiếm được. Con cá, lá rau ở bên Mỹ xanh tươi, sởn sơ nhưng có lẽ vì to quá nên hương vị loãng đi, nhất là trái chuối bên này lớn nhưng nhiều bột làm bà bâng khuâng nhớ trái chuối tiêu trứng quốc ngọt thơm duyên dáng ở quê nhà. 

Cũng may, con cái sợ ông bà buồn nên đã đem về nhiều sách chuyện, đĩa nhạc, chương trình ca nhạc tiếng Việt, và xin giống một cây ớt hiểm và mấy loại rau thơm để ông bà lúi húi trồng trong mảnh vườn nhỏ cho khoẻ tay khỏe chân. Ông bà cũng đi dạo quanh xóm, rồi khám phá ra rằng gần đó cũng có mấy vị cao niên người Việt. Thế là mọi người có dịp chào hỏi, hàn huyên với nhau nên thấy vui và đỡ quạnh hiu.

Khi đã quen, bà Lan nghiệm thấy rằng đời sống bên Mỹ cũng có nhiều điểm hay. Bà nói với ông:
- Ông à, hồi mới qua tôi thấy nhà bên Mỹ lúc nào cũng đóng cưả im lìm, lạnh lẽo quá. Nhưng giờ quen với mấy ông bà trong xóm, mỗi ngày hẹn nhau đi bộ, thỉnh thoảng có bát chè, cái bánh đem sang cho nhau, tôi thấy vưà vưà vậy mà vui. Ở bên Việt Nam, nhiều chỗ hàng xóm ở gần nhau quá, có khi chuyện "trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã hay". Bà con thân nhau quá rồi có khi tự cho mình quyền nhảy xổm vào phê phán, can thiệp đời tư cuả nhau, có khi sinh cãi nhau mất cả tình, ông nhỉ"

Có lần mấy ông bà trong xóm gặp nhau ở công viên cũng bàn tán về đề tài này. Ông Hai nhà ở đầu phố mở đầu:
- Hồi mới sang mình nhớ Việt Nam nên thấy cái gì khác bên đó mình cũng không ưa.

Nhưng nghĩ lại, đời sống ở đây không đến nỗi nào... Chỉ một chuyện là người già như mình được medicare, bệnh gì cũng được chữa miễn phí là tôi thấy sướng quá rồi! Mấy ông bà thấy bà cụ Ba không" Bả bị yếu chân, nhà nước trả tiền cho người lại nuôi rồi mỗi tuần còn có người lại tập cho đi nữa. Bên Việtnam không có tiền là chịu chết! Tôi nghe nói so với châu Âu thì săn sóc y tế bên Mỹ không bằng nhưng mà "trông lên thì chẳng bằng ai, trông xuống thì chẳng thấy ai bằng mình", thật là đúng quá!

Bà Tư Cần Thơ gục gặc tán thành:
- Ưà, ở đâu tui hỏng dám nói chớ ở Cali này, đám già tụi mình hỏng biết tiếng Anh cũng hỏng sao. Dịch vụ gì cũng có nhân viên nói tiếng Việt, sô sồ qước kơ (social worker) cuả mình cũng người Việt. Nói thiệt nha, tui chỉ cần biết có một câu "Việt nam mi bờ li" (Vietnamese, please) hà. Kêu lên chỗ sở xã hội nói vậy là người ta kiếm người Việt nói chuyện với mình. Bà chị tui ở dưới Nam Cali nghen, bả hỏng biết chút tiếng Anh tiếng U nào hết, mà đi đâu cũng tới, bị ở đó nhiều người Việt mà! Rảnh bả còn trồng rau thơm rồi kêu con dâu đem ra chợ bán ...

Bà Hồng hứ nghe cái "cóc":
- Cũng tại bà chị bà có phước có dâu ngọt , chớ nhiều người có dâu chua lè nghen bà. Bà Mai ở ngã tư nè, dâu bả đi làm suốt ngày mà hà tiện, trong nhà hỏng dám bật sưởi, muà đông lạnh thấy tiá luôn à bà...

Bà Thư nhẹ nhàng tiếp lời:
- Tui có nghe chị Mai than rứa đó, nhưng chuyện đó giải quyết xong rồi tề. Tui kêu con trai tui bày cho con chỉ làm đơn xin chính phủ cho tiền làm lớp in xu lấy sần (insulation) mới quanh nhà hết, rồi còn chỉ thêm mấy mẹo để nhà bớt lạnh. Con dâu chỉ thấy nhờ bà má mà nhà đỡ tốn tiền, giờ hết dám tắt máy sưởi rồi. Cũng may, chỉ có nói ra thì tui mới biết đuờng mà bày cho chỉ ...

Ông Thái trầm ngâm một chút rồi nói:
- Cha mẹ già gặp con cái lơ là, hắc ám thì ở đâu chẳng có. Ở Việt Nam mà gặp hoàn cảnh đó còn khổ hơn. Mình ở đây có tiền già, lỡ gặp con bất hiếu nó còn ít dám nói mình ăn bám. Tại mình không quen xài chứ bên đây họ có nhiều dịch vụ giúp người già lắm đó, mà người ta coi vậy chứ không lạnh lùng đâu. Mình có chuyện lo lắng mình cứ nói ra, nói với bác sĩ của mình, với cha ở nhà thờ, kẹt quá thì đi bộ ra chợ, ra công viên ở gần nhà nói với người dưng, thế nào cũng có người sẵn lòng giúp mình. Tui cũng chỉ biết có mấy câu tiếng Anh dằn túi à, hai câu quan trọng nhất phải nhớ là "Ai nít heo pờ" (I need help) với "Ai em Việt nam mi" (I am Vietnamese). Còn cái số 911, khi có chuyện nguy hiểm kêu số đó là bảo đảm có cảnh sát lại cứu mình.

Bà Thanh vả lả:- Ưà, đúng đó, người ta coi vậy mà sẵn lòng giúp mình lắm đó. Mình mà có sức đi học thì vui lắm, có khi thầy cô cũng là người Việt. Khu nào người Việt nhiều, vô trường kiếm người Việt có xe ở gần nhà mình, chia chút tiền xăng nhờ họ đón mình đi học. Hỏng có thì nguời Tàu, người Mễ cũng thiếu gì ngươì hiền. Tui cũng đi học cho vui, vô chữ nào thì vô, hỏng vô thì cũng gặp người ta, mỗi người chỉ cho một chuyện. Nói nào ngay, qua đây cũng có chuyện mình phải đổi lại chớ, tỉ dụ như bên Việt nam nhà cưả trống lổng, mình mặc sức chiên cá, kho mắm...Bên đây xứ lạnh, cưả đóng con muỗi chui hỏng lọt mà nấu kiểu đó chịu sao thấu. Mèn ơi, có lần tui đi bộ vià, mở cưả nhà nghe mùi cá tự ên tui kho mà tui còn chóng mặt! Ăn thua là con cái cha mẹ thông cảm với nhau, có chuyện biết lưạ lời, lựa lúc mà nói. Tui cũng có gặp mấy người bạn có con cái khó tánh, tui biểu họ ráng một thời gian cho quen cách sống, nếu mà hiểu nhau hỏng nổi thì nhờ người quen hay quớc kờ (worker) bên sở xã hôị giúp...Chớ ở đâu mà hỏng có người có phước, người vô phước... 

Hồi còn bên Việt nam, nghe nói Mỹ là điạ ngục của người già, tui cũng run chớ. Qua đây rồi, thấy nếu Mỹ có là điạ ngục thì cũng là từng thứ nhứt, chớ mấy nước nghèo như Việt nam, người già hỏng tiền rớt nước mắt kiếm hỏng ra hột cơm ăn mới là từng điạ ngục thứ chín à ...

Dứt lời, bà Thanh cười như đắc ý với lời so sánh có duyên của mình. Bà Tám Oanh nguýt bạn bằng đôi mắt vẫn còn sắc ngọt rồi mắng yêu:
- Mụ Thanh này lanh quá xá lanh, hạp với bên đây nên tươi như hoa hà... Nói qua nói lại chớ tui thấy dù có buồn chút xíu nhưng có nhà nuớc lo sức khoẻ với lại có giúp đuợc cho con cháu chút chút là tui khoái hà. Cha mẹ đi làm nguyên ngày, con cái vià tới nhà là ôm máy tính, hỏi sao tuị nó hỏng lầm lì" Có ông bà ở nhà đi ra đi vô, đưá nào ngoan thì nghe mình nhắc nó càng lo học, đưá nào cứng đầu hỏng nghe thì cũng hỏng dám làm quá... Mà con cháu mình nó cần mình dạy tiếng Việt nha. Mèn ơi, mấy ông bà thấy hoa hậu Việt nam bên đây càng ngày càng giỏi hôn" Lóng rày nhiều cô nói tiếng Việt rôm rốp, thấy thương hết sức. Mà mười cô thì hết chín cô biểu nhờ có ngoại, nội nên mới biết tiếng Việt à nhen...

Bà Lan kết thúc câu chuyện:
- Đúng đó, mình già thì già chớ không có vô dụng đâu. Ăn thua là mình phải giao thiệp, phải dám hỏi, đừng có giữ trong lòng. Hồi mới 75, ít người Việt, không có dịch vụ thì ngươì già hơi cực. Bây giờ sách vở tài liệu gì cũng có tiếng Việt, điện thoại cũng rẻ, ở tiểu bang xa cũng goị nguời quen hỏi thăm được. Hồi xưa tội lắm, bà bạn tui bị bỏ bê mà không dám nói với ai, tại nghe hăm là nói ra con bị mất việc làm, bị ở tù. Giờ biết chắc là trừ khi mình bị đánh đập, hành hạ thôi, chứ bình thường ai mà bỏ tù người ta vì chuyện xích mích nhỏ trong gia đình. Mỹ họ đâu bắt con cái nuôi cha mẹ, bởi vậy ai lớn tuổi mà cần xin trợ cấp là có hết.

Sau một thời gian ở Mỹ, bà Lan nhận thấy rằng dù ở phương Đông hay trời Tây, con người ở đâu cũng có những căn bản giống nhau. Có lần thấy trên báo có một bức tranh hí hoạ ở dưới có câu "Between a rock and a hard place", bà đoán ý rồi hỏi lại con. Khi thấy mình đoán đúng, bà hể hả:
- Thì ra Mỹ cũng có câu giống như tục ngữ cuả mình, tiếng Việt mình bảo là "Trên đe dưới buá" đó con.

Rồi bà còn tìm ra nhiều câu khác làm bà thích thú lắm, chẳng hạn như "Like father, like son" thì là "Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh"; "What goes around comes around" thì cũng tương tự như tiếng Việt mình nói là "Ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ"...

Khi bé Hạnh ra đời, con bé đã may mắn được có ông bà ở bên từ lúc sơ sinh. Vốn là nhà giáo nên ông Vinh có thói quen chuyện gì cũng giảng giải tới nơi tới chốn. Ông Vinh thích bế con bé đi vòng vòng, kể chuyện về mọi thứ trong nhà. Bài giảng thích nhất của hai ông cháu là về bức tranh vẽ một bầy chim tung cánh bay. Bà Lan đã bật cười, khi bà nghe ông nói chuyện với con bé mới sáu tháng như nói với người lớn:

- Đây là bức tranh vẽ bầy chim đang bay. Con thấy con chim bay trước nhất này không" Người ta gọi nó là con chim đầu đàn. Con chim đầu đàn là con chim khôn nhất, nó biết bay đúng đường cho cả đàn bay theo. Thường thường con chim đầu đàn cũng là con chim khoẻ nhất. Con thấy không, cánh nó giang rộng nhất, cổ nó vươn về phiá trước...

Lúc đầu bà Lan nghĩ con bé không để ý và không hiểu gì những lời cuả ông Vinh, nhưng rồi bà cũng phải tin là con bé hiểu vì lần nào bà bế bé Hạnh đi ngang qua bức tranh, nó cũng chỉ tay, miệng bi bô cho tới khi bà phải đứng lại và lập lại những lời giống như ông thường nói.

Rồi thằng bé Khoa ra đời. Hai đưá luôn quấn quýt bên ông bà và chúng lớn lên với những lời ru ca dao và thơ tiếng Việt. Hai chị em nó thích nhất bài Nhớ Làng cuả Yến Lan:

Mưa đưa thương nhớ về làng
Mưa làm xa những dặm đàng bến sông
Chiều nay mở cưả ra trông
Thấy làng đâu - chỉ thấy lòng mà thôi
Mưa đưa thuơng nhớ bời bời
Bời bời thương nhớ, mưa ơi khuất làng
Ở đây sông núi võ vàng
Dừa cao lểnh khểnh cành xoan ngoằn ngoèo
Con đường thì hút cheo leo
Mình đi chỉ bóng cùng theo với mình...
Làng tôi gió nhỏ thênh thênh
Mưa rơi nhè nhẹ, trăng lên dịu dàng
Làng tôi khôn nói hết làng
Có người cứ mỗi chiều vàng... nhớ tôi...

Có lần đang ru hai đứa bà nghe thằng Khoa bập bẹ nói theo. Không tin là thằng bé nói chưa sõi mà nhớ được thơ, bà cố ý chờ ở chữ cuối của mỗi câu và thấy nó nói đúng. Thì ra con nít cũng biết lắng nghe và còn nhớ nữa!

Con gái và rể cuả ông bà Vinh rất mừng khi thấy hai đưá bé ngoan ngoãn và càng lớn càng nói giỏi tiếng Việt. Vợ chồng nó cứ bảo là hai đứa bé lanh lẹ là nhờ công ông bà dạy dỗ từ thưở mới ra đời. Ông bà chỉ cười nói có hai đứa hủ hỉ làm tuổi già cuả ông bà hết quạnh hiu chứ ông bà đâu có cố sức dạy gì đâu. Ông bà chỉ sống theo nếp Việt Nam, ru cháu bằng những lời ông bà đã từng ru các con ngày xưa. Ông thích thơ thì đọc thơ, bà thuộc ca dao thì ru bằng ca dao, tự nhiên nó thấm vào đầu hai đứa. 

Khi rảnh rỗi bà Lan kể chuyện cổ tích hay nghe nhạc, xem video Việt Nam và hai đứa cháu cũng xem theo. Hôm sinh nhật thằng Khoa, hai chị em nó vưà dậm chân đi diễn hành vưà hát "Mờ trong bóng chiều, một đoàn quân thấp thoáng..." (1) làm ông bà cũng không ngờ là hai đứa nhớ lời nguyên cả bài hát dài. Chưa hết, bé Hạnh còn hứng chí hát luôn bài Sầu Đông cuả Khánh Băng, lúc nó lên giọng "Em đã sang ngang rồi ... Đành thôi nhớ mong...", cả tiệc đã được một trận cười.

Bây giờ ngoài tiếng Việt, bé Hạnh và bé Khoa cũng thích xem những chương trình thiếu nhi của Mỹ như Barney, Sesame Street... Nhờ thế, bà Lan cũng có dịp làm quen với những mục này. Âm thanh vui nhộn, màu sắc rực rỡ làm cho cả ba bà cháu đều thích thú. Hai đứa còn "dạy" bà hát bài của Barney:

I love you
You love me
We re a happy family
With a great big hug, and a kiss from me to you
Won t you say you love me too" (2)

Một tuần chúng còn đi học ở trường vài tiếng đồng hồ, tuy rất thương cô giáo và thích bạn bè, nhưng hai đứa vẫn quyến luyến ông bà lắm ... Chúng có vẻ "mê" các bài hát ru và những chuyện đời xưa bằng tiếng Việt cuả ông bà hơn. Lúc đầu bà Lan lo cho cháu bị rối trí vì phải học tiếng Anh, tiếng Việt nên bà tính để cho cháu ở lại thêm giờ ở trưòng nhưng con bà trấn an ngay "Mẹ đừng lo, bác sĩ bảo con nít học dễ lắm, không có vấn đề gì đâu. Con coi trên Internet có nhiều cuộc nghiên cứu chứng minh rõ ràng là con nít có thể học tới 3, 4 thứ tiếng cùng lúc mà! ". Ông Vinh mỉm cười đồng ý, gật đầu ngâm một câu thơ mà ông rất tâm đắc

" Chỉ sợ đàn con quên Việt Ngữ,
Đừng lo lũ trẻ kém Anh Văn..." (3)

... Dòng tư tuởng cuả bà Lan bị cắt đứt vì bé Hạnh nhõng nhẽo níu áo
- Bà ơi con muốn bà kể chuyện con thỏ con ruà.

Bà Lan mỉm cười:
-Con nghe chuyện này nhiều lần rồi, thôi bà kể chuyện khác nhé.

Con bé nũng nịu:
- Nhưng con thích con thỏ con ruà mà ...

Vưà nói nó vưà trèo lên lòng bà. Ông Vinh cười, mắng yêu:
- Con bé này nhõng nhẽo quá!

Bà Lan âu yếm bảo cháu:
- Con phải ngoan không thì người ta bảo "cháu hư tại bà" đấy!

Bé Hạnh tròn xoe đôi mắt nai, phản đối "Hông! Cháu ngoan tại bà!"

Rồi con bé tụt xuống, vưà chạy ra sân sau vưà reo vang "Cháu ngoan tại bà". Thằng bé Khoa cũng bắt chước chạy theo, vừa chạy vưà la "Chaú ngoan tại bà ... Cháu ngoan tại bà..."

Ông Vinh và bà Lan mỉm cười nhìn theo hai đưá bé. Năng đã lên chan hoà, trời thật đẹp...

***

Chú thích:

(1)Chiến Sĩ Vô Danh - Phạm Duy

(2) Tạm dịch:
Con thương ông bà
Ông bà thương con
Gia đình ta thật là yên vui
Một vòng ôm thật chặt,
một nụ hôn đến với ông bà
Ông bà có nói thương con không nào"

(3) Thơ của cố nhà giáo lão thành/thi sĩ Bảo Vân

Các chữ và câu tiếng Anh trong bài:
Social worker: nhân viên sở Xã Hội.
Worker: gọi tắt của social worker.
Vietnamese, please: Làm ơn nói tiếng Việt.
I need help: Tôi cần giúp đỡ.
I am Vietnamese: Tôi là người Việt.

Saturday, April 22, 2023

Nồi Chè Của Ông Tướng

Không hiểu chị tôi đã nghe tin về ông bằng cách nào. Thời đó, đầu thập niên tám mươi, mọi phương tiện truyền thông đều thuộc về nhà nước Cộng Sản, quanh năm suốt tháng báo chỉ đăng tin “nước ta đang trong thời kỳ quá độ…” Kiểu dùng chữ như vậy mọi người phải chịu đựng mãi nên đỡ thấy quái đản. Người đọc cứ tự điền vào chỗ trống thành “nghèo quá độ”, “đói quá độ” hay “láo quá độ”… tùy theo câu. Vậy mà, một buổi tối, đột nhiên chị tôi nói “Em có biết Tướng Lê Minh Đảo không? Ông tướng đánh trận Xuân Lộc đó. Nghe nói ổng mới chết trong tù rồi! Tội quá, ổng còn trẻ lắm!”

Tướng Lê Minh Đảo (ngồi) và Đại tá Ngô Văn Minh tại trạm Tham mưu Tiền phương của mặt trận Xuân Lộc tháng 4/1975 – nguồn quorq.com

Trước ngày miền Nam thất thủ tôi không biết ông Lê Minh Đảo. Sau đó, tôi có nghe loáng thoáng người lớn rỉ tai nhau về trận đánh ác liệt bảo vệ ngõ vào Sài Gòn trong những ngày đầu tháng Tư, 1975 tại Xuân Lộc. Tôi cảm phục những người chiến đấu đến cùng, nhưng điều đó sớm chìm vào những hỗn độn của cuộc đổi đời. Vả lại tôi còn nhỏ quá, chẳng biết nghĩ gì hơn. Cũng như thế, tối hôm đó, sau khi nghe chị tôi nói, chúng tôi chỉ biết nhìn nhau trong niềm xót thương lặng lẽ.

Một thời gian sau, tôi lại nghe một người bạn nói “Ông Lê Minh Đảo còn sống. Ổng chỉ bị mù thôi.” Ở trong tù mà bị mù thì chắc còn khổ hơn chết. Tôi thở dài – trẻ con Việt Nam sớm biết thở dài – rồi thầm đọc một lời cầu nguyện. Cho ông và những người tù chính trị đang bị đọa đày.

*
Đến năm 1993, khi đang ở Mỹ, nghe tin Tướng Lê đã sang theo diện HO và mắt vẫn sáng, tôi ngạc nhiên và vui lắm. Mừng cho ông cuối cùng cũng có những ngày bình an sau gần hai thập niên tù ngục. Nhiều năm sau, khi internet cung cấp mọi tin tức mà ngày trước không dễ kiếm, tôi đã lên mạng tìm xem mặt Tướng Lê và nghe ông nói. Tôi muốn biết về ông. Không phải qua những lời kể, mà bằng cảm nhận của chính tôi. Và tôi đã gặp được đoạn phim buổi nói chuyện của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo với Việt Dzũng.

Buổi phỏng vấn khá dài nhưng tôi nhớ nhất là khi ông nói về sự hy sinh của người lính. Giọng ông hơi lạc đi khi nhắc đến tình bạn của hai người lính trẻ và sự đơn sơ, không hận thù trước bờ sinh tử của họ. Phút nghẹn ngào của Tướng Lê đã làm tôi bồi hồi. Tôi ngỡ tim ông đã cứng và nước mắt ông đã kiệt sau mấy chục năm ngang dọc trên chiến trường và mười bảy năm trong tù. Tôi ngỡ ông sẽ nói nhiều về những chiến công và những đóng góp của ông trong hai mươi năm gìn giữ miền Nam. Nhưng ông nói về các điều khác, như cái chết của người lính trẻ và sự hy sinh của chiến binh. Hơn hai mươi năm đã qua, ông vẫn tự trách mình, môi ông run run khi nói “…chúng tôi cũng không lo được cho họ một cách đầy đủ…” Có lẽ chưa bao giờ ông ngưng buồn về chuyện đó. Tài làm tướng của ông đã làm tôi phục. Nhưng vết thương mấy chục năm trong lòng ông mà tôi vừa chứng kiến đã làm tôi quý mến ông.

Đầu tháng Tư, 2015 tôi viết lại chuyện của những sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ bốn mươi năm trước. Họ tụ tập tại một chung cư cũ kỹ ở Houston, khắc khoải nhìn về miền Nam đang vuột mất. Người sinh viên năm xưa cứ nhắc đi nhắc lại niềm hy vọng bùng lên khi đám người Việt trẻ theo dõi sự anh dũng của những chiến sĩ Xuân Lộc, dù bị dồn tới chân tường. Vì thế, tôi tìm xem lại những khúc phim của tháng Tư xưa. Tôi thấy lại khói lửa điêu tàn. Tôi gặp lại các chiến sĩ anh hùng. Và Tướng Lê Minh Đảo, mắt nảy lửa, nghiến răng thề quyết chiến.

Rồi tôi giật mình, nhận ra rằng những người trai dũng mãnh ấy nay đã già, và tôi cũng đang già. Mai này khi chúng tôi ra đi, đàn con gốc Việt còn biết gì về quê cha đất tổ? Phải chăng điều đó tùy thuộc vào những gì chúng tôi làm hôm nay?Thế hệ trẻ cần nghe những điều thật từ những người thật. Sẽ tốt biết bao nếu họ được gặp gỡ những nhân vật lịch sử như Tướng Lê Minh Đảo. Thế là tôi lần mò đi tìm Tướng Lê. Tôi không có mối quen biết xa gần nào với ông, cũng chẳng có chức tước ở bất cứ hội đoàn nào. Vậy mà tôi thấy chuyện mời ông đến vùng Thung Lũng Điện Tử thật tự nhiên, nhẹ nhàng. Có lẽ tôi linh cảm rằng vị tướng, người sau hơn hai mươi năm vẫn khóc cho lính, rất quan tâm tới lớp trẻ.

Sau hai tuần hỏi thăm nhiều người, cuối cùng tôi may mắn có được sự giúp đỡ tận tình của một người chị làm báo. Tôi được một cái hẹn nói chuyện với Tướng Lê. Mười giờ sáng, một ngày đầu tháng Tư, 2015. Gần tới giờ hẹn, tôi thấy hơi hồi hộp. Thật tình tôi sẽ buồn chút thôi nếu Tướng Lê từ chối sang California nói chuyện. Nhưng tôi sẽ buồn nhiều nếu thực tế quá khác với những cảm nghĩ ở trong lòng.

*
Ông đến San Jose chiều 27 tháng Tư, 2015 trên chuyến bay từ Arizona. Từ xa, tôi thấy ông trong chiếc áo sơ mi kiểu Hawaii màu vàng nhạt có hoa xám, đang dáo dác nhìn quanh.“Thưa Bác! Con là Kh. A.” Ông cười. Chúng tôi bắt tay nhau. Giản dị như đã quen từ trước. Ông cho biết đã lên máy bay ngay sau khi dự buổi lễ kỷ niệm bốn mươi năm miền Nam bị cưỡng chiếm với cộng đồng Việt-Mỹ ở Pheonix, Arizona. Tôi hỏi ông có mệt không, ông nói “Không sao đâu. Bác giờ như một kho sách cũ, chỉ lo không đủ giờ để trao lại kiến thức cho những người đi sau…”

Tối hôm đó, chúng tôi mời ông ghé chơi nhà một người bạn. Khi bước vào nhà, trên salon có một cây đàn guitar kiểu mới, chỉ có khung sắt mà không có thùng đàn. Tôi thấy mắt ông ngời lên một sự thích thú gần như trẻ thơ. Ông bước nhanh tới, nâng cây đàn lạ mắt, vuốt nhẹ lên những sợi dây. Khi chúng tôi mời ông đánh một bài, ông xòe bàn tay ra nhìn, cười nhẹ rồi nói:- Ở tù bị thương, hư tay rồi. Giờ lại già nữa, đánh kém lắm. Chúng tôi không nài ép, chỉ lẳng lặng nhìn ông vừa nói chuyện vừa lơ đãng lướt tay trên cần đàn. Một lúc sau, như hứng khởi, ông hát “Trùng dương dâng sóng, biển khơi như thét gào. Cuốn đi cánh hoa đào dạt trôi nơi nao… “Bài hát đó ông sáng tác trong tù, ngày nghe tin người bạn cùng trại mất hết vợ con trên đường vượt biển.“Còn sống tôi còn khóc, tôi còn thương quê hương tôi …”(*)Giọng ông nhẹ và buồn. Tôi nghe, và nghĩ rằng ông đang nói những điều tận đáy lòng.

*
Tướng Lê Minh Đảo và ái nữ Bích Phượng. Photo Võ Thành Nhân

Sáng 29 tháng Tư, Tướng Lê bắt tay vào chuẩn bị cho buổi nói chuyện ngay sau ly cà phê sớm. Ông sắp xếp ý nghĩ, soạn phần trả lời cho các câu hỏi các sinh viên đã gởi đến, và ghi xuống một loạt các quyển sách nói về chiến tranh Việt Nam để giới thiệu đến các sinh viên. Mãi tới giờ ăn trưa tôi mới có dịp nói chuyện với ông. Vì có quá nhiều điều muốn hỏi, tôi buột miệng:

- Bác ơi, có bao giờ Bác hối hận đã làm cho các con Bác kẹt lại với Cộng Sản sau ngày mất miền Nam không? Các con Bác có bao giờ trách Bác không?Nói xong, tôi hơi bối rối vì đã hỏi một câu khá nặng nề trong lúc ông đang nghỉ ngơi.

Nhưng ông trả lời ngay:- Đó là một quyết định rất đau lòng, nhưng Bác chưa bao giờ hối hận. Bác ra lệnh cho anh em binh sĩ quyết đánh, gia đình của họ đều ở lại, có lẽ nào Bác lo cho con Bác ra đi? Bác có thể thu xếp cho gia đình mình, nhưng làm sao thu xếp được cho mọi gia đình của những người đang tin vào Bác?

Nếu Bác cho vợ con đi trước, lính của Bác biết là giờ chót Bác có thể lên máy bay đi bất cứ lúc nào. Như vậy họ còn tin tưởng để đánh hay không? Như vậy Bác có công bằng với họ hay không? Bác chấp nhận định mệnh của Bác và gia đình, nếu có phải chết thì chết cùng nhau. Bác muốn đối xử công bằng để sau này con bác không phải xấu hổ với con em của những người từng nghe lời Bác mà liều chết. Bác muốn con bác sau này không phải nhìn Bác mà nghĩ ông già mình ngày xưa từng gạt lính.

Trầm ngâm vài giây, rồi ông tiếp:- Năm 1979, lúc Bác đang bị Cộng Sản đày đọa, nghe tin gia đình đi thoát hết sau năm lần vượt biên bị tù, Bác trút được gánh nặng khủng khiếp trong lòng. Bác tạ ơn trời đã cho Bác ân huệ được lương tâm yên ổn, được trọn vẹn mọi bề. Từ đó, Bác không còn phải lo lắng, đau khổ cho số phận của vợ con trong nanh vuốt của kẻ thù nữa. Bác không sợ kẻ thù dùng các con thơ để khống chế mình nữa. Bác được tự do. Còn các con Bác, tụi nó cũng hiểu và không trách Bác. Trong bốn năm kẹt lại, tụi nó đã học được rất nhiều. Những kinh nghiệm sống đó làm cho chúng biết thương người, biết khiêm nhường, biết quý những điều tưởng như là tầm thường. Các con của Bác có thể tự hào rằng mình đã hiểu biết về Cộng Sản và đã vượt thoát khỏi ngục tù của họ. Đó là một tài sản mà Bác nghĩ các con Bác nên hãnh diện đã có được.

Tôi uống một ngụm trà, nuốt xuống cái nghèn nghẹn ở cổ. Tôi nghĩ, trước khi tử chiến ở Xuân Lộc, nếu ông lo cho gia đình đi thì đó cũng là chuyện thường tình. Không ai trách được ông. Nhưng Tướng Lê không phải là người làm những chuyện thường tình...Thời vừa bị chiếm, mạng sống của người miền Nam rất nhỏ, thêm dịch bệnh hoành hành làm trẻ con chết rất nhiều. Nếu chỉ một trong chín người con ông có mệnh hệ nào, nỗi dằn vặt sẽ ám ảnh ông suốt đời. Nhưng Thượng Đế đã gìn giữ gia đình ông vẹn toàn. Cám ơn Thượng Đế, Tướng Lê cần và xứng đáng với ơn huệ của ngài.

Hôm sau, ngày 30 tháng 4, 2015, ông và người thông dịch miệt mài chuẩn bị cho buổi nói chuyện lúc 6 giờ chiều. Trưa đến, tôi nhắc ông đi ăn nhưng ông dùng dằng mãi vẫn chưa đứng lên được. Thấy vậy tôi đành khuân về mấy ổ bánh mì thịt nguội. Ông gặm bánh mì, uống beer và cười nói vui vẻ, hài lòng vì buổi nói chuyện được chuẩn bị chu đáo.

Cuôc gặp gỡ với sinh viên diễn ra thành công và cảm động. Tướng Lê đã nhắn nhủ lớp trẻ bằng những điều ông đúc kết suốt nửa cuộc đời trong chiến tranh cộng với mười bảy năm trong tù ngục. Những chia sẻ của ông thiết tha, sâu sắc nhưng cũng rất thực tế, phù hợp với tâm hồn và đời sống của giới trẻ. Buổi họp kết thúc khá trễ nên chúng tôi chỉ ghé tiệm kem ăn tráng miệng rồi về. Mãi đến đêm, tôi mới chợt nhận ra rằng bữa ăn “đàng hoàng” nhất của Tướng Lê ngày hôm đó là ổ bánh mì. Vì ông đã không đụng đến đĩa thức ăn do các em sinh viên mời lúc chiều, ông nói muốn tập trung để nói chuyện với các em.

*
“Con gián làm mồi câu tốt lắm, con à.” Buổi chuyện trò của tôi và Tướng Lê ngày hôm sau bắt đầu bằng câu chuyện đời thường như thế. Ông kể thời ông ở Cần Thơ, ông thường bắt gián ở đằng sau một tiệm ăn ở gần nhà rồi đem ra bến Ninh Kiều câu cá. Biết rằng lúc đó ông đã lên tới cấp Tá, tôi hỏi:

- Chắc Bác câu cá cho vui hả Bác?

- Câu cá về ăn chớ! Nhà Bác đông con, lương của Bác thì khá so với lính, nhưng chẳng dư dả gì đâu, con. Lính mình hồi đó cực lắm con à, một tháng lương mua được một tạ gạo. Còn lương Bác cũng chỉ tạm đủ lo cho vợ con. Hoàn cảnh lính và những hy sinh của gia đình lính thì không nói sao cho xiết, con à. Gần một triệu người đã chết và bị thương trong cuộc chiến, còn số người chịu mất mát sau lưng họ thì không biết đếm bằng cách nào! Bác cứ nghĩ con người ta ai cũng bằng xương bằng thịt, nếu Bác chết trận, mười người trong gia đình Bác đau đớn bao nhiêu thì những cái chết trong gia đình lính cũng đau bấy nhiêu.

Hồi ở Chương Thiện, có một người lính đi phục kích, vợ con bị địch câu pháo trúng vô nhà, chết hết. Anh ta về, ngồi gục mặt trước đống gạch nát, Bác đứng đó mà chỉ biết đặt tay lên vai anh ta, không tìm được lời nào an ủi. Vậy mà hai bữa sau, anh ta trở lại đơn vị, tiếp tục đánh giặc…

Cái nhíu mày của ông làm tôi nghĩ ruột ông đang thắt lại, nên tôi chuyển qua đề tài khác:- Thời Bác ở trong quân đội, di chuyển nhiều nơi, cả nhà đều đi theo hả Bác?

Nụ cười nhẹ làm những vết nhăn trên trán ông dãn ra.

- Ờ! Bác bận rộn quá nên đi đâu Bác cũng cố gắng đem gia đình theo để được ở gần càng nhiều càng tốt. Khi nào có dịp nghỉ, Bác dắt vợ con đi chơi. Nhưng sau này, Bác ở đóng quân ở Long Bình thì tụi nhỏ đi học ở Sài Gòn, cuối tuần nếu Bác không đi hành quân thì mới được gặp. Có một lần Bác dắt tụi nhỏ đi coi chiếu bóng về, tụi nó than đói bụng. Ở tỉnh lỵ đâu có hàng quán ban đêm, Bác lại không muốn sai lính nên tự nấu chè cho tụi nó ăn. Nấu nước sôi, đập vô một củ gừng, quậy đường cát, rồi xé bánh tráng bỏ vô. Bánh tráng mà mình hay ăn đồ cuốn đó. Bánh tráng coi mặn mặn vậy mà nấu chè ngon lắm! Bữa nào con làm thử đi!

Ông vừa nói vừa gật đầu để thêm phần… thuyết phục. Tôi tròn mắt nhìn ông. Chỉ là một kỷ niệm vui, không màu mè, bóng bẩy, nhưng ông làm tôi cảm động lẫn ngạc nhiên. Một vị Tư Lệnh tự nấu chè cho con ăn khuya? Nồi chè mà tôi không cần thử cũng biết là không thể ngon. Nhưng nó làm tôi thương người cha ở trong ông, và tự hào vì quân lực VNCH đã có một vị chỉ huy như ông. Ôi, nồi chè của ông Tướng!

Càng nói chuyện với ông, tôi càng thấy ông rất “không thuờng tình”. Ông không dè dặt, thận trọng như thường thấy ở những người từng chứng kiến nhiều mưu mô, tráo trở. Ông không có cái trầm ngâm, chán chường của một người nếm quá nhiều đau thương. Ông nhiệt tình, hăng hái, và thật. Như thể cuộc đời ông chưa từng bị dập vùi, như thể ông còn rất trẻ và còn tin tưởng rất nhiều vào con người. Và, ông hoàn toàn không có cái xa cách của người xem mình là quan trọng.

Vì thế, tôi đã hỏi ông một câu mà trước khi gặp ông tôi không nghĩ là mình dám hỏi:- Bác ơi, ngày 30 tháng Tư 1975, sau khi miền Nam thất thủ, Bác có bao giờ nghĩ đến chuyện tự sát hay không?

- Lúc đó, mỗi người có một quyết định riêng, không ai đúng ai sai. Riêng Bác, Bác không có ý định tự tử. Các con Bác đã mất quá nhiều, Bác không muốn chúng phải mất cha. Nếu bị giặc Cộng giết, Bác chấp nhận nhưng Bác không tự mình làm điều đó với các con. Hơn nữa, Bác không có cái uất ức, đau khổ của một bại tướng vì Bác chưa bao giờ nghĩ là mình thua. Mình chỉ tạm thời khó khăn vì những thế lực quốc tế đẩy mình tới đó, nhưng Bác muốn sống để xem mọi sự xoay vần tới đâu.

*
Tướng Lê Minh Đảo

Nếu chỉ được dùng một từ để diễn tả Tướng Lê, tôi sẽ chọn “lãng mạn”. Những quyết định cực kỳ cứng rắn, những hành động hết sức can đảm của ông đều bắt nguồn từ những tình cảm sâu xa. Chỉ có người rất lãng mạn mới đủ tin yêu để làm những điều phi thường như ông đã làm. Ông để vợ con cùng ở lại đương đầu với Cộng quân là vì ông yêu sự “công bằng” mà ông đã nhắc đến mấy lần trong câu trả lời ngắn. Ông tử chiến vì ông hết lòng tin vào sứ mạng gìn giữ miền Nam. Ông không sợ chết vì ông không muốn phụ lòng những người lính đã nằm xuống và những người lính đã dựa vào ông mà đứng lên từ những căn nhà cháy ra tro của họ. Cống hiến của ông cho đời giống như những viên kim cương, tuyệt sáng và tuyệt cứng. Nhưng chúng đã được hun đúc từ phần lõi là những tình cảm tinh tuyền, và những giọt nước mắt. Sẽ không có kim cương nếu không có phần lõi đó. Lịch sử Việt Nam có Tướng Phạm Ngũ Lão gạt nước mắt, chia tay mẹ già đi đánh giặc. Có Tướng Trần Khánh Giư bỏ gánh than, từ giã đời ở ẩn để trở về cứu nước. Có biết bao chuyện nhờ dân gian ghi lại mà ngày nay chúng ta được biết.

Cho nên, tôi muốn ghi lại nồi chè bánh tráng của Tướng Lê Minh Đảo. Ghi lại lúc ông chấp nhận để các con ông cùng chung số phận với gia đình lính. Ghi lại lòng thương yêu và quý trọng vô bờ của ông với binh sĩ và vợ con của họ. Về lời ông nói, đùa mà rất thật “nếu trời cho sống đến hơn trăm tuổi, tôi vẫn muốn cống hiến thời giờ và sức lực cho Việt Nam tới phút cuối.”

Năm nay Tướng Lê đã tám mươi ba. Vinh, nhục, yêu, ghét, thăng hoa, đày đọa … ông đều đã trải. Vì thế, tôi viết bài này không phải cho ông. Mà để lưu lại vài mẩu chuyện về Ông Tướng Lãng Mạn cho mai sau. Để góp một chút tin yêu bởi vì làm người Việt Nam rất buồn. Để cho chính tôi nhớ gương của Tướng Lê, lạc quan trong khó khăn và cố gắng làm những điều tốt đẹp nhất trong khả năng của mình, hầu mong mai sau con cháu không phải ngần ngại nhận mình là Việt.

Tác giả: Khôi An
18/06/2016

(*) Lưu Đày – Nhạc và lời của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo Bài dịch tiếng Anh “Tướng Lê Minh Đảo tại Đại Học Stanford” và những câu trả lời sinh viên trên trang của SVSA (Stanford Vietnamese Student Assocication):http://svsa.stanford.edu/blackapril.html#leminhdao

Blog Archive