Showing posts with label Nguyễn Khắp Nơi. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Khắp Nơi. Show all posts

Monday, May 25, 2020

Tình Anh Lính Chiến

Nguyễn Khắp Nơi

Chồng sắp cưới của em tên Tốt, ảnh với anh Thân ở cùng xóm với em. Lớn lên, ảnh thương em, đòi ba má ảnh qua nhà em xin cưới. Em thấy ảnh tảnh tình hổng có hạp với em, nên không chịu, nhưng ba má ảnh cứ đeo theo em nói riết hà, anh Tốt cũng theo em hoài, luôn hai ba năm trời như vậy đó, làm cho em cũng thấy tội nghiệp ảnh. Cuối cùng, em suy nghĩ, thấy mặc dù hổng hạp, nhưng ãnh cũng có thành tâm, nên em chịu lấy ảnh.

Bữa làm đám nói, em có rao trước với ảnh rằng:
“Anh quen tui từ nhỏ, anh biết tánh tui rồi, tui nói gì thì tui làm cái nấy. Anh nói thương tui, bảo bọc được đời của tui, thì tui chịu. Nhưng hễ tui thấy anh làm hổng đúng như vậy, tui... bỏ anh liền đó.”

Anh Tốt thề sống thề chết là sẽ yêu thưong lo lắng cho em suốt đời, ba má ảnh cũng chịu làm chứng, nên em chịu làm đám cưới với ảnh.

Nhà em ở bên sông, nhà ảnh ở bên chợ, nên bữa đám cưới, nhà ảnh rước dâu bằng ghe. Ảnh với em và đám bạn bè ngồi chung một chiếc ghe chèo đi trước, phía nhà trai một chiếc, nhà gái một chiếc đi theo sau Bạn bè em ai cũng chúc mừng em lấy được chồng xứng đôi, biết thương mình.

Đoàn ghe cưới chèo đi ngon lành, sắp tới nhà trai rồi, hai bên bờ bà con lối xóm đứng tụ dài dài coi đám cưới, vui lắm. Tài công sửa soạn tấp ghe vô, anh Tài lo đốt pháo mừng, tụi bạn bè em phần vui vẻ, phần sợ pháo rơi trúng cháy quần áo, nên chộn rộn đứng lên đứng xuống. Ngay lúc đó, có một chiếc ghe máy chạy ngang, chiếc ghe lớn mà lại chạy mau nữa, nên làm sóng lớn đánh ào lên ghe cưới, nước lọt vô tùm lum, chiếc ghe muốn lật. Tụi em la hoảng quá chừng, kiếm đồ múc nước ra, nhưng ghe đám cưới đâu có đồ múc nước, lính quýnh một hồi, chiếc ghe bị lật luôn.

Tụi em đều là dân quê, đứa nào cũng biết lội, nhưng mấy đứa con gái tụi em bữa đó hổng làm sao mà lội hết mình được, vì đứa nào cũng bận áo dài, gài bông, đeo nữ trang tùm lum hết. Phần em còn nhiều hơn nữa, có đôi khoen tai má em mới cho, lại chiếc cà rá đám nói rộng rinh muốn xúc, nên em hổng dám đụng mạnh, chỉ ráng thả nổi chờ có ai cứu. Em nghe trên bờ người ta đứng coi la lối chỉ chỏ um xùm:
- “Cô dâu bị chìm, cô dâu bị chìm, cứu cô dâu cho mau...”

Em thấy anh Tốt đang lội ở đằng trước, em la lên:
- “Anh Tốt, cứu em...”

Ảnh dòm lại thấy em đang chới dới, mà ảnh làm như hổng thấy em, hổng nghe tiếng em kêu, ảnh cứ lội riết vô bờ.

Đám con gái tụi em ráng đập tay đập chân, đứa nào cũng la cầu cứu om xòm. Em đưa tay lên ngoắc anh Tối một lần nữa, la thiệt lớn:
- “Anh Tốt... Cứu em... Em lội hổng nổi, bị chìm rồi nè...”

Em há miệng lớn quá, bị nước vô miệng hụt hơi chìm luôn, thôi chết cho rồi.

Bất ngờ, em thấy có bàn tay của ai đó kéo em lên, rồi ôm lấy em mà lội vô bờ. Lên tới bờ, em muốn xỉu, nhưng cũng ráng dòm coi anh Tốt ở đâu? Coi ảnh có bị gì hông? Em thấy anh đang đứng trên bờ, lo cởi giầy cởi áo, lau người thì cũng đỡ lo. Bà con lối xóm đi coi thấy em được cứu, người ta mừng quính, la lên:
- Cô dâu được cứu rồi... Cô dâu xỉu rồi, mau đem vô nhà đám cứu tỉnh...”

Lúc đó ghe hai bên nhà trai nhà gái cũng cặp bến được rồi, ông bà giả ảnh cũng nhào lên, đỡ em vô nhà đám. Ba má em lo đi lấy khăn quấn cho em, kiếm quần áo khác cho em thay, hỏi em có sao hông? Bà con chòm xóm cũng bụ lại hỏi thăm em. Em chờ hoài mà hổng thấy anh Tốt đâu hết trơn, làm em tủi thân, em khóc quá chừng. Chuyện chèo ghe chìm xuồng ở xứ này, bữa nào cũng có, nhưng em thấy rõ ràng anh Tốt không có lo cho em, ảnh chỉ lo cho mình ên ảnh thôi. Chính cái miệng ảnh nói sẽ lo cho em suốt đời, vậy mà thấy em bị chìm xuồng, bỏ luôn hồng thèm cứu, đã vậy, em lên tới bờ cũng hổng thèm chạy lại hỏi thăm, coi em có bị gì hông? Người gì mà ác nhơn ác đức quá trời đi. hỏi sao em không buồn cho được.

Một hồi sau, cả hai gia đình tụ tập lại hết rồi, anh Tốt cũng đã thay đồ mới rồi, lúc đó ảnh mới tới hỏi thăm em. Em có hỏi ảnh:
- Anh có thấy tui bị chìm hông? Anh có nghe tui kêu anh cứu tui hông?

Ảnh trả lời tỉnh như không:
- Anh thấy, nhưng nghĩ rằng em biết lội, tự lội vô bờ được, đâu cần anh lo đâu! Mà hồi sau cũng đã có mấy người nhẩy xuống cứu em đưa lên bời rồi, nên anh mới lo đi thay đồ đặng lát nữa làm đám cưới tiếp. Sao em không đi thay đồ đi mà còn ngồi đó, để trễ giờ rồi.”

Em giận quá chừng là giận, nói với ảnh:
- Anh lo cho tui cái kỉểu đó đó hả? Anh đã hổng cứu tui, giờ còn bắt lỗi tui sao hổng đi thay đồ hả? Nếu không có người ta cứu tui, tui chết chìm rồi, lấy ai cho anh làm đám cưới.

Em vô trong nhà thay đồ, lấy bộ đồ thường ra bận, chứ hổng chịu bận đồ mới. Tới khi ba má ảnh đứng lên chào bà con rồi kêu em ra lạy bàn thờ ông Tổ, em một mình đứng lên nói với ba má ảnh và ba má em, nói với chòm xóm:
- “Thưa ba má, các bác, các dì, bữa nay là đám cưới của con với anh Tốt. Hồi làm đám nói, con có thưa với ba má và anh Tốt, ảnh phải bảo bọc được đời con thì con mới ưng ảnh. Bữa nay, con bị chìm xuồng, con kêu ảnh cứu con, ảnh hổng thèm cứu con, lo lội lên bờ mình ên. Tới khi con được cứu lên bờ rồi, ảnh cũng hổng thèm tới thăm, dòm ngó coi con còn sống hay chết. Hên là con được người ta cứu, chứ nếu không, con chết mất rồi, đâu còn đứng đây mà làm đám cưới. Cũng hên là con thấy cái bản mặt của ảnh ra sao trước khi làm đám cưới. Nguời như ảnh, làm sao lo cho con, bảo bọc được đời con? Con xin ba má hai bên, bỏ qua cái đám cưới này đi.

Em day qua anh Tốt, nói vởi ảnh:
- Anh Tốt, bữa đám nói, anh hứa lo cho tui, bảo bọc đời tui. Vậy mà bữa nay, tui bị chìm xuồng, anh lo mình ên anh, hổng thèm cứu tui, cũng hổng thèm dòm coi tui sống chết ra sao. Tui... hổng lấy anh nữa đâu. Nè, cà rá của anh nè, tui trả lại cho anh đó.”

Em nói một hơi, anh Tốt đứng xụi lơ, ba má ảnh cứng họng ngồi một đống, hổng nói được một tiếng. Tới khi thấy em trả lại cái cà rá, ổng bả hoảng quá, chạy lại ôm em, khóc:
- Con ơi, con thưong ba má đi, ai đời đám cưới mà nói gì tùm lum vậy. Vợ chồng có gì mai mốt đóng cửa chỉ biểu nhau, làm gì mà con làm dữ vậy con. Thôi con bớt giận đi, làm đám cưới cho rồi đi?

Ba má em thấy em đứng xững, hổng thèm trả lời ba má anh, ổng bả hổng hiểu cho em, còn nổi giận, la em:
- Mày dám từ hôn bữa nay hả? Thằng Tốt nó thấy mày được cứu rồi, thì nó lo đi thay đồ chứ còn gì nửa mà bắt lỗi nó. Mày mà hổng chịu làm đám cưới bữa nay, tao... từ mày luôn đó.

Em hổng nói gì thêm, xá ba má ảnh, ba má em rồi bỏ đi về.

Bà con lối xóm bu theo em, người thì nói em có lý, chồng cỡ đó bỏ đi là phải, người thì nói em xui xẻo quá... tùm lum hết. Em cứ lặng thinh bỏ đi một nước.
Đang đi, chợt em thấy mặt thằng Thìn, em mới hỏi nó:
- “Mày có thấy hồi nầy... ai cứu tao hông?”

Thằng Thìn chỉ người con trai đứng kế bên, đang cởi cái áo lính vắt nước cho khô:
- “Thằng này nè.”

Em nhìn người con trai, xụp xuống lạy ảnh một lạy:
- “Tui thiếu anh một mạng đó.”

Rồi đứng lên đi ra bờ sông kiếm ghe về nhà.”
......
Kể tới đó, Lan nắm tay Hải, cười như mắc cở.

Hải tiếp lời vợ:
- “Thiếu úy biết hông, bữa đó, tiểu đoàn được về hậu cứ nghỉ, cho đi phép 24 tiếng. Em về Cần Thơ hổng kịp, nên đi theo thằng Thìn về nhà nó chơi.

Về tới nhà, ba má thằng Thìn cho hay, bửa nay con Lan kế bên làm đám cưới. Thằng Thìn nói với em:
- “Vậy là trúng mối rồi, tao với mày đi... ăn ké cho vui.”

Nó dẫn em ra bờ sông, dòm nhà trai nhà gái rước râu bằng ghe, cũng ngồ ngộ. Đang coi thì thấy có chiếc ghe máy chạy ngang, làm sóng lớn lật chìm luôn chiếc ghe cô dâu. Em thấy người ta bị té dồn cục dưới nước, lội lủm chủm, có người lội không nổi, muốn chìm, em kêu thằng Thìn:
- “Mau cứu người ta, cởi giầy ra lẹ lên...”

Em và thằng Thìn nhào xuống sông lội một hơi, thấy một cô coi bộ muốn chìm lỉm, em lội tới đỡ đưa cô vào bờ rồi lội trở ra phụ thằng Thìn cứu thêm người khác. Tới khi tất cả đã được cứu rồi, tụi em mới lên bờ, cởi áo cới vớ lau mặt lau người chờ khô. Đang đứng xớ rớ, tự nhiên có một ai đó tới kế bên xụp xuống lạy em một lạy, làm em hoảng quá, nhẩy nai, hổng hiểu chuyện gì hết?

Khi cô đó đi rồi, thằng Thân mới cho em hay:
- “Mày hổng nhớ hả? Con nhỏ đó là... Cô dâu đó. Nó bị chìm xuồng, chính mày cứu nó đưa vô bờ đó. Thằng rể cũng bị chìm xuồng cùng với cô dâu, nhưng lo lội vô bờ mình ên, hổng lo cho nó, nó tức quá, lên tới bờ, nó... từ hôn, hổng thèm lấy thằng đó nữa. Nó mới đi ngang, hỏi tao ai cứu nó? Tao chỉ mày, nên mới xụp lạy mày cám ơn cứu mạng đó.”

Quần áo khô đỡ rồi, tụi em thả bộ ra chợ ăn uống đầy một bụng, tính đi về nhà thằng Thìn ngủ một giấc, ngày mai đi trình diện tiểu đoàn, lội tiếp.

Về ngang qua chòm cây gần bờ sông, thằng Thìn chợt thấy có bóng người đang ngồi chu hu dựa gốc cây. Nó thọc cùi chỏ em:
- Giờ này mà còn ai ngồi bờ sông coi bộ buồn hiu dzậy! Tới coi coi...

Tới gần, thằng Thìn dòm cô gái một hồi, cái mặt nó cũng buồn hiu, nói nhỏ với em:
- “Coong nhỏ Lan chớ ai, con nhỏ cô dâu hồi sáng đó. Chắc nó đang buồn vì đám cưới của nó hổng xong, nên mới ra đây ngồi đó. Mình tới nói với nó vài tiếng cho nó đỡ buồn đi, chứ để nó buồn, nó dám... nhẩy sông chết, uổng công mày cứu nó hồi sáng.

Tụi em tới nơi nói chuyện, Lan dòm thằng Thân một cái rồi dòm tiếp ra mé sông, hổng muốn nghe mà cũng hổng trả vốn trả lời gì hết. Một hồi sau Lan mới nói tâm sự của mình ra, buồn vì tưởng lấy được người chồng xứng đáng, bảo bọc được cuộc đời của mình, ai dè đụng chuyện mới biết anh ta chết nhát, chỉ biết lo cho thân mình. Lan buồn vì tình duyên, mắc cở với chòm xóm, lại bị cha mẹ từ, cô muốn bỏ xứ mà đi cho rồi, nhưng lại sợ ba má buồn, nên hổng biết làm sao. Em mới khuyên Lan:
- “Cô đừng có buồn ba má. Tại ba má cô thương cô, lo cho tương lại của cô vậy thôi. Ai cũng có số mạng, biết đâu sau này anh Tốt suy nghĩ lại, sẽ biết thương, biết lo cho cô.”

Lúc đó Lan mới ngó qua em, hỏi em:
- “Anh là... ai, mà bữa nay đi ngang đây dzậy? Anh hổng quen hổng biết gì tui, khi không nhẩy xuống cứu tui... chi dzậy? Anh coi bộ... gan cùng mình đó. Hồi nẫy, tôi có... xá cám ơn anh rồi đó, anh nhớ hông?”

Em trả lời Lan:
- “Thấy ai bị nạn thì mình cứu, đâu có cần quen biết gì đâu. Đánh trận với Việt cộng, sống chết mỗi ngày mà tui còn hổng ngáng, thì nhằm nhò chi mấy cái lẻ tẻ cứu người đó mà cô phải cám ơn tui...

Kế đó, em mới nói cho Lan biết, em tên gì? Ở đâu?

Em nói một hồi, hổng biết nói gì thêm, ngồi lặng thinh. Lan nghe tới hết, cũng ngồi làm thinh. Thằng Thìn chạy đi đâu mất tiêu, chỉ còn em với Lan ngồi đó. Lan ngồi một hồi, ngó lên nhìn em, vui vẻ cười nói:
- “Ngộ há! Anh dám nhầy xuông sông cứu tui, lại nói... Nhằm nhò chi. Tui... phục anh thiệc đó. Bộ anh hổng có biết ba má anh là ai hết hả? Buồng quá dzậy! Sao hổng... lấy dzợ đi, có người lo cho anh?

Em cũng cười lớn, nói với Lan:
- “Tui như cục đá từ trên trời rớt xuống, hổng có bà con, hổng có cha mẹ gì ráo... Cái mạng cùi của tui, tui còn lo hổng xong, nói chi tới lấy dzợ. Tui bây giờ là... Tứ Hải Giai Huynh Đệ, đâu cũng là nhà, có mấy thằng bạn lính là dzui rồi, hổng cần gì khác hết.”

Hai đứa cùng cười thiệt là vui. Lan lại ngồi bó gối suy nghĩ một hồi nữa, chợt nói với em:
- “Anh Hải à, tui... thiếu anh một mạng, mà tôi cũng... phục anh lắm. Anh mới là người có thể bảo bọc cho đời tui... Tụi... Chịu anh đó... Anh... chịu... tui hông?”

Em nghe cổ nói, mới dòm kỹ lại cổ. Lan coi bộ trắng trẻo, dễ thương... Mà cổ coi bộ cũng là... thứ thiệt, dám nói dám làm. Hổng ưa ai thì dám nói hổng ưa, mà thương ai thì cũng dám nói là thương. Em chịu thứ con gái như vậy, chứ hổng thích cái thứ nhỏng nhẽo làm bảnh.

Em dòm Lan, nắm tay Lan, từ từ nói:
- “Tui có mình ên, không bà con chòm xóm, cuộc đời chưa biết đi về đâu, Lan dám... chịu tui hả?”

Lan cũng nắm lấy tay em, nói:
- “Em phục ai thì lấy người đó. Anh là người hổng nói nhưng mà dám làm. Em chịu anh là như vậy đó.”

Em vẫn còn ngại ngùng, nói với Lan:
- “Anh hổng có ba má đứng làm đám cưới, ba má em... có chịu hông?”

Lan nhìn em, trả lời liền:
- “Hễ mình thương nhau là có ông Trời chứng giám, mấy cái chuỵện nhỏ đó, để em lo cho.”

Vậy là tụi em hứa với nhau. Lan dẫn em về ra mắt ông bà già:
- “Thưa ba má, đây là anh Hải, người cứu con hồi sáng. Tụi con gặp nhau, nói chuyện với nhau hạp lắm, rồi tụi con... thương nhau. Con muốn... lấy ảnh.”

Ba má Lan cùng với bà con đã mời dự đám cưới hồi sáng đã tụ tập về nhà đông đủ, chưng hửng nhìn tụi em. Một hồi sao, ba má Lan mới nói:
- “Mới hồi sáng đây, mày từ hôn với thằng Tốt, giờ đem đứa khác về đây đòi cưới? Bộ tụi bay quen biết với nhau trước, rồi... dàn cảnh chọc tức ba má hay sao đây?”

Hai đứa em ngồi xuống nói chuyện với ba má suốt buổi chiều. Anh Hải thưa ngày mai sẽ về Tiểu đoàn làm đơn xin cưới vợ. Chừng nào được phép, sẽ tổ chức đám cưới, mời ba má bà con lối xóm.

Ba má em hổng biết làm sao, nhưng thấy anh Hải hiền lành dễ thương, có gan cứu tử em, thì ba má em cũng đành chấp nhận.

Sẵn đồ ăn tiếp nhà trai còn dư hồi sáng, ba má em dọn ra, mời bà con... ăn cưới luôn, vui hết sức vậy đó.

Sẵn ba má em đang vui, em cũng xin ông bả cho em theo anh Hải về đơn vị xin chỗ ở, mai mốt được cấp nhà ở, sẽ làm đám cưới luôn.

Em đưa Lan về nhà Dượng Há, dượng của Lan, và cũng là Tiểu đội trưởng của tụi em, đặng nhờ ổng giúp đỡ.

Vừa mới bước vô, Dượng Há nắm cứng lấy hai người lính, giọng nói lạnh tanh:
- “Tụi mày đi đâu mà tao kiếm quá trời hổng ra. Tiểu đoàn phải đi hành quân gấp, đang cho Quân cảnh đi kiếm hết tụi bay về đó, vô trại với tao liền đi. Còn con Lan, sao mày lại đi chung với hai cái thằng trời đánh này?

Lan nghe ông duợng la lối om xòm, hoảng quá, vội vàng chỉ em nói với dượng:
- Dượng à, anh Hải... là chồng mới của con đó. Con... ưng ảnh, ba má con cũng chịu rồi, tụi con tới gặp dượng đặng nhờ dượng làm đơn xin phép cho ảnh làm đám cưới với con đó.”

Dượng Há đứng chết trân dòm hai đứa tụi em. Dì Há nghe la lối, cũng ở phía sau chạy lên. Khi nghe Lan nói, dì Há cũng đứng chắp tai sau đít dòm hai đứa tụi em, rồi cười nói:
- “Hai đứa tụi bay như dzầy mới xứng. Chứ mày lấy cái thằng Tốt gà chớt đó mà coi sao cho đặng!”

Dượng Há lúc giờ mới chêm vô:
- “Thấy ghe bay bị chìm, tao cũng có nhẩy xuống cứu bay, lên tới bờ, nghe mày từ hôn thằng Tốt, tao... chịu lắm. Thằng chồng gì mà thấy con vợ bị chìm, sợ chết hổng dám cứu, lên tới bờ cũng hổng thèm dòm. Thứ chết nhát đó, đem bỏ trôi sông cho rồi chớ lấy làm chồng sao được. Khi thấy mày đi dzìa, tao thấy cái đám cưới coi như là hổng có nữa, nên tao cũng dắc dì mày đi dzìa luôn. Thằng Hải trọc này thì được lắm, nhưng mà nó đâu có bao giờ đi cua gái đâu, mà cũng hổng phải dân Bạc Liêu mình, sao mà mày... dzớc được nó hay dzậy? Mà thôi, trễ giờ rồi, xe GMC sắp lại đây rồi đó, tụi mày vô trại hết đi, mai mốt gặp ông Thiếu úy Nam, muốn nói gì thì nói dzới ổng.”.

Em nghe ổng hối, không biết tính làm sao:
- “Nhưng mà còn con dzợ của con đây, con đâu biết để nó ở đâu bây giờ?”

Dượng Há cũng hổng biết làm sao, gấp quá rồi:
- “Thì... đi hết vô trại đi, rồi tính sau.”

Em kiếm trong ba lô bộ đồ Biệt Động đưa cho Lan bận vô, lấy đôi giầy và cái nón sắt cũ của dượng Há mang vô, coi cũng... ngầu lắm. Lan khoái chí đi tới đi lui ngắm mình trong gương. Vừa xong là xe nhà binh chạy lại gôm hết tụi em vô trong trại. Lan đi theo tụi em hành quân từ bữa đó, tới mấy bữa sau mới lên trình diện Thiếu úy Nam, ổng la tụi em quá trời, nói phải trả Lan về hậu cứ trong chuyến tiếp tế tới...

Nghe xong câu chuyện tình của Hải và Lan, tôi mỉm cười nhìn cả hai:
- “Câu chuyện tình thật đẹp. Hai người thật xứng đôi vừa lứa, anh chúc cho hai em thương nhau trọn đời, sống với nhau suốt đời suốt kiếp. Anh chỉ ghé đây có bữa nay, mai lại đi nữa rồi, có thể không có dịp gặp lại hai em nữa đâu. Hai em có muốn anh giúp chuyện gì không? Anh sẽ ráng làm trong khả năng của anh.”

Hải và Lan nhìn nhau, một lúc sau, Hải ấp úng nói:
- “Thiếu úy, tụi em mới gặp Thiếu úy, tự dưng... có cảm tình với Thiếu uý nhiều lắm. Sẵn Thiếu úy hỏi, tụi em hổng dám, nhưng ngày mai tụi em làm đám cưới, nhỏ nhỏ thôi, Thiếu úy có thể... làm anh lớn của em, đại diện bên nhà trai, đặng tụi em làm đám cưới, được không Thiếu úy?”

- Được quá đi chứ!

TÌNH LÍNH THÌ PHẢI... TÍNH LIỀN.

Đoạn chót của câu chuyện “Tình Anh Lính Biệt Động Quân”

Ngày 10 tháng 4 năm 2010,

Chào Thiếu úy mạnh giỏi.

Vợ chồng em kiếm được Thiếu úy, thiệt là mừng hết sức. Tụi em hổng thể ngờ là có ngày kiếm ra Thiếu úy đó chớ.

Sau bữa đám cưới của tụi em, em có hỏi xin địa chỉ để mai mốt còn liên lạc, Thiếu úy trả lời là hổng biết mình sẽ đi tiểu đoàn nào, thì làm sao mà có KBC cho được, chỉ cần nhớ địa chỉ của tụi em thôi, để mai mốt tính...

Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, cả tiểu đoàn của em còn đang hành quân, nghe đầu hàng, tụi em buồn muốn chết. Sau đó nghe tin các Sĩ quan của tiểu đoàn bị đi học tập hết, tụi em coi như là không còn hy vọng gì có ngày mai trở lại. Ở Bạc Liêu khó sống quá, vợ chồng em lên Cần Thơ, em lo chạy xe ôm, vợ em bán quán.

Vào khoảng năm 1989, có một bữa, em chở người ta đi ngang một công sở, em thấy rất nhiều người tóc vàng, tóc đỏ, da trắng da đen, mắt xanh biển mắt xanh lá cây, giống như em, đang đứng xếp hàng. Em cũng chạy vô coi, thì ra chỗ đó làm hồ sơ cho con lai lính Mỹ đi Mỹ. Em đâu có biết mình lai cái giống gì? Ba mình là ai? Nhưng cũng làm gan xếp hàng đại. Khi làm hổ sơ cho em, người ta chỉ hỏi em tên gỉ? Rồi hẹn ngày tới khám sức khỏe.

Em về nhà nói cho con Lan hay, vợ em nó mừng quá, nhưng mà lại nói là... hổng chắc, vì em đâu phải con lai Mỹ đâu. Em cũng nghĩ như vậy, nên không để ý tới chuyện đó nữa. Tới bữa khám sức khỏe, em cũng đi cho biết. Người ta chỉ nhỏ thuốc vô tóc của em, vô mắt của em để coi em có nhuộm tóc hay là có nhuộm con ngươi hay không mà thôi, chứ hổng hề hỏi ba em là Mỹ hay là cái giống gì?

Khoảng ba tháng sau, em nhận được thơ, nói rằng em được chấp nhận đi Mỹ với vợ và hai đứa con. Em như đang ở trên trời rớt xuống đất, hổng tin được chuyện như vậy có thể xẩy ra.

Rồi tụi em được đi Mỹ thiệt!

Vợ chồng em được gia đình người bảo trợ tới định cư ở Tiểu bang Minesota. Hai đứa em lo cho hai đứa nhỏ đi học, tụi em cũng đi học luôn. Con vợ em nó lanh lắm, học một hồi nó nói tiếng Mỹ còn giỏi hơn em nữa. Gia đình người bảo trợ có một hãng nuôi gà, bán gà và trứng gà. Tụi em cũng thích nuôi gà, nên theo học nghề này. Thấy tụi em siêng năng, nên ông bà bảo trợ nhận cho tụi em làm và chỉ dẫn cho em từng chút. Tới khi ổng bả về hưu, giao nguyên cái farm cho tụi em coi, lần hồi bán luôn cái farm cho tụi em. Cuộc sống của tụi em từ đó được thoải mái, vững vàng.

Một bữa, em vô trong internet đọc truyện, em thấy người nào đó tên Nguyễn Khắp Nơi có viết chuyện “Cà Phê Nha Chuẩn Úy?” trong đó có nhắc tới thời gian ba người Sĩ quan Biệt Động Quân đi thực tập ở Tiểu Đoàn 42 của tụi em. Em nghi một trong ba người đó là Thiếu úy, em kêu vợ em cho nó đọc lại cho chắc ăn. Tụi em đọc tới đọc lui ba bốn lần, chắc chắn là có Thiếu úy ở trỏng, nên đã theo địa chỉ trong báo Việt Luận mà hỏi thăm.

Thiếu úy gởi email trả lời cho tụi em, Đúng là Thiếu úy Đen, người đã làm đại diện nhà trai cho em lấy vợ. Tụi em mừng quá trời, coi như ông Trời có mắt, cho tụi em được gặp lại Thiếu úy.

Thiếu úy nói trong thơ, cỡ tháng 5 năm 2011 Thiếu úy sẽ đi thăm mẹ ở Canada, sẵn dịp sẽ đi thăm bạn bè ở Los Angeles, tụi em mừng quá, vội vàng gởi thơ lại liền, xin địa chỉ hotel của Thiếu úy đặng mua vé máy bay đưa hết cả nhà tới trình diện Thiếu úy. Giờ này mới là tháng 1 năm 2011, còn lâu lắm, tụi em mong sao cho chóng tới ngày đó đặng gặp lại Thiếu úy.

Cầu chúc Thiếu úy mạnh giỏi, giữ gìn sức khỏe. 

Nguyễn Khắp Nơi

Sunday, September 29, 2019

Di vật của người Lính Biệt Động Quân

Nguyễn Khắp Nơi  
Vào lúc 10 giờ sáng ngày Chủ Nhật 20 tháng 10 năm 2019 sắp tới, Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh Việt Nam (National Vietnam War Museum) của Hội Cựu Quân Nhân Úc Tham Chiến Tại Việt Nam (Vietnam Veterans) sẽ tổ chức buổi lễ khánh thành Hình Tượng Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa mặc quân phục tác chiến, với đầy đủ quân trang quân dụng cá nhân, đang cầm súng đứng gác giặc, tương tự như bức hình kèm theo đây. Sau buổi lễ, hình tượng này sẽ được trưng bầy vĩnh viễn tại Viện Bảo Tàng này cho công chúng thưởng lãm.

Đặc điểm của người Lính là anh ta mặc bộ quân phục tác chiến của Cố Thiếu Tá Trần Đình Tự, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân.

Thiếu Tá Tự tử trận tại chiến trường Củ Chi, vào lúc 4 giờ 14 chiều ngày 30 tháng Tư năm 1975. 

Viện Bảo Tàng Tàng Di Tích Chiến Tranh Việt Nam kính mời quý chiến hữu, quý đồng hương tới tham dụ buổi lễ khánh thành nói trên, được tổ chức tại phòng triển lãm theo địa chỉ dưới đây:

National Vietnam Veterans Museum
25 Veterans Dr, Newhaven, Phillip Island, Victoria 3925, Australia.

Hội Tương Tế Cựu Quân Nhân và Hội Biệt Động Quân Tiểu Bang Victoria đã có mướn 2 chiếc xe bus để chở hội viên tham dự buổi lễ nói trên, còn lại một số ghế trống. Quý chiến hữu và đồng hương nào muốn tham dự buổi lễ nói trên, xin liên lạc với chúng tôi qua số điện thoại di động như sau:

Nguyễn Hữu An: 0447 350 022
Hạ Bá Hùng: 0400 566 772
Nguyễn Hoàng Nhân: 0411 635 011.
Thời hạn cuối cùng là Thứ Hai 30/09/2019.

LỊCH SỬ BỘ QUÂN PHỤC CỦA THIẾU TÁ TRẦN ĐÌNH TỰ.

Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân do Thiếu Tá Trần Đình Tự làm Tiểu Đoàn Trường, đây là một  trong ba tiểu đoàn trực thuộc Liên Đoàn 32 Biệt Động Quân.

Vào ngày 28 tháng Tư năm 1975, Liên Đoàn đang hành quân ở Tây Ninh thì được lệnh rút về phòng thủ Sàigòn.

Buổi sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Tiểu đoàn 38 đang di chuyển đến địa phận Xã Trung Lập Hạ, Quận Củ Chi, Tỉnh Hậu Nghĩa (cách Sàigòn khoảng 35km) thì Thiếu Tá Tự nhận lệnh của Trung Tá Liên Đoàn Trưởng Lê Bảo Toàn, như sau:

“Tổng Thống Duơng Văn Minh đã đầu hàng Việt Cộng, ra lệnh cho chúng ta dừng quân tại chỗ, chờ phía bên kia đến bàn giao. 

Như vậy, Liên Đoàn 32 Biệt Động Quân coi như đã bị giải tán. 

Kể từ giờ phút này, tôi không còn là Liên Đoàn Trưởng nữa, nên không thể ra bất cứ mệnh lệnh nào cho các anh nữa cả. 

Do đó, ai muốn làm gì thì cứ tự việc tùy tiện.”

Thiếu Tá Tự không có ý định đầu hàng, ông tập họp Tỉểu đoàn lại, nói chuyện riêng với Đại Úy Xường – Tiểu Đoàn Phó –  rồi nói rõ ý định của minh:

Biệt Động Quân không đầu hàng, phải đánh việt cộng đên viên đạn cuối cùng.

Ai không muốn chiến đấu nữa, thì ở lại đây cùng với Đại Úy Xường, Tiểu Đoàn Phó, chờ bọn Việt cộng đến bàn giao.

Ai muốn đánh Việt cộng đến viên đạn cuối cùng thì hãy đi theo tôi.

Khoảng 90 Biệt Động Quân đã tình nguyện đi theo đi theo vị chỉ huy, tiến về phòng thủ Sài Gòn.

Trận chiến kéo dài từ 11 giờ 30 sáng cho tới 4 giờ 14 chiều ngày 30 tháng Tư 1975 thì lính chiến đấu của Tiểu đoàn, phần bị thất lạc, phần bị tử thương, bị thương, chỉ còn lại 13 người mà thôi.

Trận đánh cuối cùng đã diễn ra tại Cầu Sạn, Củ Chi.

Cầu Sạn, nơi diễn ra trận đánh vào giờ thứ 25 của cuộc chiến, giữa 13 người lính Biệt Động Quân và Bộ đội Cộng Sản Bắc Việt.

Sau khi đã bắn hết những viên đạn cuối cùng, mười ba người Lính Biệt Động Quân ghìm súng đứng bất động tại vị trí chiến đấu.

Khi Việt Cộng không nghe thấy tiếng súng từ vị trí của Biệt Động Quân, chúng tưởng rằng họ đang sửa soạn cho cuộc xung phong nổi tiếng “Biệt Động Quân SÁT” chúng hoảng sợ chúi đầu xuống chịu chết tại giao thông hào.

Nhưng không có cuộc xung phong nào cả.

Bọn Việt Cộng từ từ bò lên thám thính.  

Khi thấy các Biệt Động Quân vẫn chỉ đứng bất động, chúng biết ngay là họ đã hết đạn, nên đã ùa lên bắt sống họ, trói họ lại bằng bất cứ những gì chúng tìm được chung quanh: Dây kẽm gai, dây điện thoại, dây thừng . . .

Tên chỉ huy ra lệnh cởi trói cho Thiếu Tá Tự, yêu cầu ông gỡ cặp lon Thiếu Tá may dính trên cổ áo của ông ra.

Thiếu Tá Tự từ chối, ông trả lời tên Việt cộng:
“Cặp lon này do cấp chỉ huy gắn cho tôi, tôi không có quyền gỡ ra.”

Tên chỉ huy Việt cộng lại yêu cầu Thiếu Tá Tự phải cởi bỏ quân phục Biệt Động Quân.

Thiếu Tá Tự một lần nữa đã từ chối lời yêu cầu của tên Việt cộng, ông trả lời hắn:

“Theo Công Ước Quốc Tế, trong khi giao tranh, lính bị bắt làm tù binh, chỉ bị tước bỏ súng đạn mà thôi, nhưng vẫn có quyền mặc quân phục và mang cấp bậc.

Tên chỉ huy Việt cộng nổi giận, hắn dùng súng K 54 bắn ngay vào đầu ông. Thiếu tá Trần Đình Tự chết ngay tại chỗ.

Tên chỉ huy Việt cộng lại ra lệnh xử tử Đại Úy Tiểu Đoàn Phó (tiểu đoàn có 2 Tiểu Đoàn Phó) và một sĩ quan nữa ngay tại chỗ.

Sau dó, y ra lệnh cho bọn du kích dẫn những người lính Biệt Động còn lại ra phía sau trường học, đào một cái hố lớn, xử bắn họ cùng một lượt rồi xô xác xuống đó.


4 GIỜ CHIỀU NGÀY 30 THÁNG TƯ NĂM 1975, MƯỜI BA CHIẾN SĨ BIỆT ĐỘNG QUÂN ĐÃ CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM CỘNG HÒA TỚI VIÊN ĐẠN CUỐI CÙNG, ĐỂ RỒI BỊ BẮT, BỊ XỬ TỬ NGAY TẠI CHIẾN TRƯỜNG CỦ CHI.

(Ghi chú: Câu chuyện này được viết lại theo lời kể của những người lính còn sống sót sau trận chiến.)

Ba ngày sau (ngày mùng ba tháng 5 năm 1975), gia đình của Thiếu Tá Tự mới được biết tiểu đoàn của ông đang chiến đấu với Việt Cộng ở Củ Chi, và đến giờ này vẫn chưa về nhà. Sau khi bàn bạc, mẹ và người em của ông (tên Lộc) đã mướn xe ôm đi tới Củ Chi.

Hai mẹ con đã hỏi dân địa phương: Nơi nào Lính Biệt Động Quân đã đánh trận cuối cùng? Một người dân hiểu biết tình hình đã chỉ về phía Trường Tiểu Học Trung Lập Hạ trước mặt.

Trường Tiểu Học Trung Lập Hạ. Phía sau trường là nơi bọn Việt Cộng Xử tử các chiến sĩ Biệt Động Quân.

Lộc dẫn mẹ đi vòng từ trước ra sau trường: Thân xác của ba người lính Biệt Động Quân còn nằm chồng lên nhau ngay bên ruộng lúa, cái xác nằm dưới cùng là xác của Thiếu Tá Trần Đình Tự, bên cạnh là một cái ba lô nhỏ. Lộc mở ra xem xét, đó là ba ô của Thiếu Tá Tự, với bộ quần áo dự phòng và những đồ dùng cá nhân khác.

Lộc chạy ra ngoài mướn một chiếc xe lam chở xác người anh và cái ba lô về nhà.

Một vài năm sau, Lộc đã được ra khỏi nước và định cư tại San Jose, tiểu bang California.

Vào năm 2010, tôi đã có dịp đi thăm bạn bè tại Jan Jose và gặp Lộc, chúng tôi ôn lại những kỷ niệm xưa khi mới di cư vào Nam, Tự và tôi cùng học lớp Nhì và Lộc học lớp Tư của Trường Tiểu Học Di Chuyển Thạnh Mỹ Tây.

Lần cuối cùng gặp nhau vào năm 2015. Khi từ giã Lộc bất ngờ đưa cho tôi bộ Quân Phục Biệt Động Quân mà nói:

“Đây là bộ quân phục dự phòng của anh Tự, em tìm thấy nó trong ba lô của anh khi anh tử trận. Em giữ kỷ vật này rất kỹ từ năm 1975 tới nay, giờ tặng lại cho anh.”

Tôi ngạc nhiên hỏi tại sao lại giao cho tôi, vì đây là kỷ vật của gia đình. Lộc chỉ nói là anh ta đã giữ đủ rồi, tới phiên tôi.

Năm sau, tôi nghe tin Lộc đã qua đời vì ung thư.

Nhớ lại bộ quân phục của Tự, tôi chợt hiểu là Lộc biết mình sắp chết, nên giao lại cho tôi giữ để nó không bị mai một đi.

Tôi kể chuyện này lại cho gia đình tôi và Hội Biệt Động Quân Victoria nghe và cho tất cả biết về ý định của muốn giao lại cho một hội đoàn nào đó để mọi người có thể đến chiêm ngưỡng, để biết về lòng can trường, dũng khí của một người Lính Việt Nam Cộng Hòa, của Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân, đã anh dũng chiến đấu tới viên đạn cuối cùng để bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa chống lại sự xâm lăng của Việt Cộng.

Lễ Tiếp nhận quân phục của Thiếp Tá Trần Đình Tự và nón sắt, dây ba chạc, TAB và giầy MAP.
Từ trái qua phải: Nguyễn Hữu An, Philip Dressing, John Methven và Hạ Bá Hùng.

Ngày mùng 5 tháng 7 vừa qua, đại diện cho Hội Biệt Động Quân Tiểu Bang Victoria, đã xuống Philip Island để tặng bộ quân phục của Thiếu Tá Trần Đình Tự cho Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh Việt Nam. Quý ông John Methven – Sáng Lập Viên – và Philip Dressing – Tổng Giám Đốc của Viện Bảo Tàng đã tiếp nhận bộ quân phục này.

Ông Philip Dressing đã cám ơn Hội Biệt Động Quân Victoria và hứa sẽ trưng bầy vĩnh viễn bộ quân phục, kem theo bảng vàng ghi lại lịch sử cái chết hào hùng của Thiếu Tá Trần Đình Tự và các chiến binh của Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân. Viện Bảo Tàng sẽ  đúc một hình tượng (mannequin) để người mẫu này mặc bộ quân phục của Thiếu Tá Tự, mang súng M16 và những đồ quân trang quân dụng như: Nón Sắt, Dây Ba Chạc, Dây TAB và Đôi Giầy MAP . . . do Hội Biệt Động Quân Victoria tặng, để người mẫu có đủ hàng trang chiến đấu.

Sau buổi lễ khánh thành, hình tượng người Lính Việt Nam Cộng Hòa này sẽ được đưa vào một khung thủy tinh để bộ quân phục quý giá này không bị hư hại theo năm tháng.

Kính thưa quý Huynh Trưởng, quý Chiến Hữu, quý Đồng Hương,

Trong nền văn học của chúng ta, có câu ca dao tục ngữ:

“Hùm Chết Để Da,
Người Chết Để Tiếng”

Những người Lính Biệt Động Quân CỌP ĐEN của Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân nói riêng, và của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung, khi chết, ngoài miếng Da Cọp là Bộ Quân Phục Biệt Động Quân để lại cho đời sau, họ còn để lại Tinh Thần Chiến Đấu, hy sinh anh dũng của họ cho hậu thế noi theo.

Chúng ta hãy cùng nhau tham dự buổi Lễ Khánh Thành Hình Tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hòa để nhớ lại những ngày xưa chiến đấu bên nhau, xứng đáng với câu châm ngôn Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm.

BIỆT ĐỘNG QUÂN VÌ DÂN CHIẾN ĐẤU
BIỆT ĐỘNG QUÂN VÌ NƯỚC QUÊN MÌNH
BIỆT ĐỘNG BIỆT ĐỘNG SÁT.

Ghi Chú:

Khoảng đầu tháng 7 năm 2011, người con út của Thiếu Tá Trần Đình Tự và thân nhân của 12 tử sĩ Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân đã về lại ruộng lúa sau Trường Tiểu Học Trung Lập Hạ để bốc mộ cho những anh hùng đã Vị Quốc Vong Thân.

Họ đã tìm thấy:

Nơi thắp nhang là trung tâm của hố chôn tập thể các chiến sĩ Biệt Động Quân.

Xương ống chân và dây trói bằng chỉ cước xanh, sợi dây nịt bằng vải dù mặc dù cái đầu dây nịt đã rỉ sét

Thẻ Bài mang tên: Ly A Sam – Số quân : 70/131238 – Loại máu : A +
Và một thẻ quân nhân cũng là của Chú Sam, với họ tên đầy đủ là:
Lý A Sầm – Sinh ngày : 19/5/1950 – Cha : Lý Man Soi – Mẹ: Hồ Thị Minh


Thẻ Căn Cước mang tên:
Trịnh Ngọc Thuần – Sinh ngày : 3/03/1957 tại Saigon – Cha: Trịnh Hữu Hiền
Mẹ : Hứa Thị Là – Địa chỉ : 15/1 ngô Quyền – Sai gòn


Chiếc đồng hồ và sợi dây đeo còn nguyên vẹn.

Cái đồng hồ đã bị rỉ sét theo thời gian, nhưng hai cái kim đồng hồ còn nguyên vẹn, và chỉ đúng 4h14 phút ngày 31.

Như vậy, chủ nhân chiếc đồng hồ đó bị tàn sát vào lúc 4h14 phút ngày 30/04/1975. Vì đồng hồ lên giây chạy được 24 giờ nữa mới đứng.

Tất cả hài cốt, quần áo, dây thắt lưng và dây trói đang được hỏa táng.

Tất cả di hài và di vật của các Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân đã được anh Trần Đình Lộc mang qua Hoa Kỳ.

Vào lúc 11 giờ sáng ngày 28 tháng Tư năm 2012, Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc California đã tổ chức lễ tưởng niệm Anh Linh của các Anh Hùng Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa  đã hy sịnh cho Tổ Quốc Việt Nam Cộng Hòa, tại trụ sở của hội, số 111 E. Gish Road, San Jose CA 95112.

Di Hài 13 Chiến Sĩ Biệt Động Quân được mang qua Hoa Kỳ, đặt tại Hội Quán

NHỮNG NGƯỜI LÍNH BIỆT ĐỘNG QUÂN CỦA QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐÃ CHIẾN ĐẤU NHƯ THẾ ĐÓ. 

Nguyễn Khắp Nơi

Monday, September 3, 2018

 VẦN QUỐC NGỮ – CHỮ NƯỚC TA

 NGUYỄN KHẮP NƠI.

Di cư vào Nam vào Tháng 7 năm 1954, sau một thời gian chờ đợi, đám con nít chúng tôi đã được sắp xếp cho đi học trở lại. Tôi ở Thị Nghè, nên được học tại “Trường Tiểu Học Di Chuyển Thạnh Mỹ Tây II”, mượn cơ sở của trường Tiểu học hiện có tại đó, là Trường Tiểu Học Thạnh Mỹ Tây.

Tôi còn nhớ rất rõ, bài học đầu tiên của Lớp Nhì chúng tôi là bài Học Thuộc Lòng, mà Cô Giáo Đoan đã viết lên bảng để chúng tôi chép lại là bài:

 “Lên Sáu.

 Vần Quốc Ngữ, chữ nước ta,
 Con cái nhả, đều phải học.
 Miệng thì đọc, tai thì nghe,
 Đừng ngủ nhè, chớ láu táu.
 Con lên sáu, đang vỡ lòng,
 Học cho thông, thầy khỏi mắng.

Khi chép xong, cô Đoan đã dặn chúng tôi là về nhà phải đọc đi đọc lại nhiều lần để học cho thuộc, đến khi nào gập vở lại mà vẫn đọc lại được không thiếu một chữ nào mới xong. Lần sau, khi tới giờ “Học Thuộc Lòng”, cô gọi một vài đứa trong chúng tôi lên đưa vở cho cô xem, rồi ra đứng trước tấm bảng đen mà khoanh tay đọc lại bài “Lên Sáu”. Đứa nào đọc bài một cách trơn tru, không ngấp ngứng sẽ được điểm cao, đứa nào đọc ngấp ngứng sẽ bị trừ điểm và đứa nào không thuộc bài sẽ bị ăn zê rô kèm theo vài cây thước vào mông,

Ngoài những bài Học Thuộc Lòng, chúng tôi còn có giờ “Tập Đọc” nữa.
Cô Đoan viết một bài lên bảng, rồi đọc lại từng câu cho cả lớp nhắc lại. Bài Tập đọc mà tôi cũng còn nhớ đến ngày hôm nay là bài:

 “Tôi Đi Học.

Hằng năm cứ vào cuối thu, mỗi khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn:

Hôm nay tôi đi học.

Vừa đọc, cô giáo Đoan vừa giải thích những từ ngữ mới lạ hoặc khó hiểu cho chúng tôi, và gọi những từ ngữ đó là Ngữ Vựng.

Đối với những bài tập đọc, chúng tôi không cần phải học thuộc, mà khi được gọi lên bảng, chúng tôi phải đọc cho đúng giọng, phát âm cho đúng chữ là xong.

Những giờ mà chúng tôi ớn nhất, bị phạt, bị ăn đòn nhiều nhất là giờ Viết Chính Tả, giờ Tập Làm Văn và Văn Phạm.

Viết Chính Tả là viết lại những bài tập đọc trong đó có rất nhiều ngữ vựng mới lạ, nhiều chữ khó đọc, khó viết… mỗi khi nghe cô giáo đọc là phải hiểu chữ đó và biết cách viết thì mới viết được. Ví dụ: Khi cô đọc

Tổng Thống Ngô Đình Diệm hiệu triệu quốc dân”

Chữ “Triệu” cô không uốn lưỡi, mà đọc xuông là “Chiệu”.
Do đó, đám học sinh phải hiểu danh từ kép “Hiệu Triệu” thì mới biết cách viết chữ đó bằng vần TR chứ không phải là CH.

Tập Làm Văn là để nhớ lại, để kết hợp những đoạn văn, những bài tập đọc, những bài chính tả và ngữ vựng lại làm khuôn mẫu viết thành một đoạn văn của riêng mình, về một đề tài cô giáo đã cho.

Khi viết, phải biết cách đặt câu, dùng chữ nào làm chủ từ, chữ nào làm động từ và Túc Từ…

Tóm lại, từ hồi còn học ở bậc Tiểu Học, chúng tôi đã được học đọc, học viết, và được học những câu thơ, những đoạn văn hay, để từ đó mà phỏng theo để biết cách viết một đoạn văn của riêng mình, cho đúng với văn phạm, với ngữ vựng, với cú pháp.

Không phải chỉ riêng chúng tôi, mà tất cả những học sinh (Tiểu học và Trung học), sinh viên ở Miền Nam Việt Nam đều được dậy dỗ những cách thức căn bản về cú pháp, để làm cho tiếng Việt của chúng ta được nói, được viết, được đọc một cách toàn hảo, tiếng Việt càng ngày càng được chau chuốt thêm lên, cho đúng với lời tiên tri của học giả Phạm Quỳnh:

Tiếng Việt Còn, Nước Việt Còn.”

Đó là cách đào tạo những mầm non tương lại của một Quốc Gia mang tên Việt Nam Cộng Hòa, trước năm 1975, để Tiếng Việt càng ngày càng phong phú, đa dạng, rõ nghĩa, xứng đáng mang danh Ngàn Năm Văn Hiến.

Tiếc thay, sau ngày 30 Tháng Tư Năm 1975, Nước Việt Nam Cộng Hòa đã không còn nữa!

Việt Cộng, bọn người vô văn hóa, vô thần, vô tổ quốc, từ Miền Bắc vào đã chiếm đóng Miền Nam Việt Nam, đã đặt cả một quốc gia dưới quyền hành của đảng Cộng sản Việt Nam. Bọn chúng đã tàn phá đủ mọi thứ, từ nền móng xã hội, nhân quyền cho tới văn hóa.

Cả một quốc gia còn không được coi trọng, nói chi đến nền văn hóa Việt, chữ viết và ngôn ngữ Việt Nam nữa.

Ngôn ngữ Việt Nam, chữ viết Việt Nam của Thời Cộng Hòa đầy trong sáng, đầy ý nghĩa bây giờ không còn nữa, thay vào đó là những chữ viết đảo lộn hết cả nguyên tắc văn phạm, những tiếng nói không còn tôn trọng quy luật ngữ vựng để không còn sự trong sáng và rõ nghĩa nữa.

Cách viết và phát âm I và Y đã không còn được tôn trọng, mà đã cố tình đảo lộn đi.

Câu văn đã không còn tôn trọng cách đặt câu có Chủ Từ Động từ nữa, mà dùng Động từ làm Chủ Từ.

Các Ngữ Vựng cũng đã bị cắt bớt đi, trở thành những từ ngữ tối nghĩa, vô nghĩa.

Hàng ngày, chúng ta đều đã được đọc trên báo, được nghe trên đài phát thanh, đài truyền hình, những câu văn, những câu nói mà sau khi đọc đi đọc lại nhiều lần, cũng vẫn không hiểu người viết đó muốn viết cái gì, người nói đó muốn nói cái gì.

NHỮNG CÂU NÓI, LỜI VĂN VÔ NGHĨA, TỐI NGHĨA.
Chúng ta hãy đọc những lời văn như sau đây:

Lãnh Đạo Triều Tiên đã đi họp hội nghị thượng đỉnh với lãnh đạo nhà trắng.
  
Có khả năng Tầu cá cài đặt hỏa tiễn săn ngầm đã đến cảng Phi.”

“Siêu sao sở hữu thân hình khủng”

Quan chức Bộ Ngoại Giao Mĩ cho biết…”

Đọc qua những câu văn đó, chắc chắn là chúng ta không hiểu rõ người viết muốn nói lên điều gì, phải dọc kỹ và đặt thêm những câu hỏi để có thể hiểu rõ hơn:

Lãnh Đạo Triều Tiên đã đi họp hội nghị thượng đỉnh với lãnh đạo nhà trắng.”

Lãnh Đạo Triều Tiên đã đi họp? Lãnh Đạo là một động từ, chỉ một hành động về lãnh đạo, quản trị, tức là một mệnh lệnh. Đã là một mệnh lệnh thì không thể đi họp được, vì nó không có mắt mũi tay chân và mồm miệng. Chỉ có người lãnh đạo, tức là cái người làm cái hành động lãnh đạo nước Triều Tiên đó mới có thể đi họp được mà thôi.

Câu văn nói trên rất tối nghĩa, không thể hiểu được, vì nó thiếu chủ từ, tức là thiếu người ra hiệu lệnh lãnh đạo.

Nếu nói cho đúng, viết cho đúng, chúng ta phải viết, phải nói lại câu văn đó như sau:

Nhà (hoặc Người) Lãnh Đạo Nước Triều Tiên. Chỉ có người lãnh đạo xứ Triều Tiên mới có thể đi họp với nhà lãnh đạo của một quốc gia khác được.

Cũng cùng một cách giải thích đó, chúng ta phải thêm chữ “Người” vào đằng trước chữ Lãnh Đạo Nhà Trắng mới rõ nghĩa. Nhà Trắng là gì? Là White House?

Nếu nói căn nhà, thì phạm vi của nó nhỏ lắm! Một căn nhà, giỏi lắm có hai tầng, ba tầng lầu, diện tích nhiều lắm là 1,000.00 m2. Nhà chỉ dùng để ở mà thôi, chứ không dùng để làm việc và tiếp khách. Nếu dịch White House là Nhà Trắng thì không đúng nghĩa. White House là nơi làm việc của Tổng Thống Mỹ, nơi này rất rộng, rộng lắm, bao gồm ba phần, phần chính và hai cánh gọi là West Wing là nơi làm việc, hội họp, tiếp khách của Tổng Thống và cũng là nơi mà toàn thể nhân viên của ông làm việc nữa. Còn East Wing là là nơi làm việc của Đệ Nhất Phu Nhân và các Cộng Sự Viên.

Hơn nữa, White House là một danh từ kép, để chỉ nơi làm việc của Tổng Thống Mỹ, cho nên, không thể tách riêng chữ “House” ở danh từ White House để dịch là “Nhà” được, mà phải gọi là dinh thự hoặc tòa nhà. Chữ dịch sát nghĩa nhất là Tòa Bạch Ốc.

Nguyên câu văn nói này, nếu muốn viết cho đúng, nên viết là: Nhà Lãnh Đạo của Triều Tiên đã đi họp hội nghị thượng đỉnh với nhà lãnh đạo của Toài Bạch Ốc.”

Có khả năng Tầu cá cài đặt hỏa tiễn săn ngầm đã đến cảng Phi.

Có Khả Năng là một trạng từ chỉ một trạng thái có thể hoặc không có thể.
Nếu đã là Trạng từ, thì trạng từ chỉ dùng để làm rõ nghĩa cho một hành động mà thôi, chứ không thể đứng làm chủ từ được.

Cài đặt có nghĩa là gài, là một hành động nhẹ nhàng gài hoặc cài một vật gì vào một nơi nào đó một cách tạm thời không cần dùng một dụng cụ, một đồ nghề (tool) nào cả, để rồi khi không cần nữa, cũng sẽ nhẹ nhàng rút ra mà không cần dùng kìm búa gỉ cả.

Hỏa tiễn là một vật nặng, không thể… cài vào tầu cá để bắn đi được, mà phải Gắn vào tầu, tức là dùng ốc vít bù long kìm búa mà đục mà đẽo mà gắn chặt cái hỏa tiễn vào thành tầu.

Còn Tầu Cá! Tầu cá nghĩa là gỉ? Tầu làm bằng cá? Chế ra Tầu làm bằng cá để làm gì? Làm sao mà chạy được?

Hỏa tiễn săn ngầm là săn cái gì? Ngầm là những gì không thể thấy.
Vậy câu văn này có nghĩa là Hỏa tiễn đi săn không thấy! Một câu văn hoàn toàn vô nghĩa.

Suy nghĩ mãi, đọc qua phần giải thích bằng tiếng Anh: “Fishing ship with anti submarine rocket may reach Philipine shore.”

Thì ra, Tầu Cá là Tầu đi đánh cá. Săn ngầm có nghĩa là săn tầu ngầm.
Chỉ vì muốn đặt câu văn cho ngắn, nên thay vì viết Tầu Đánh Cá” người viết đã cắt đi chứ Đánh để thành Tầu Cá. Tầu Ngầm đã cắt chữ Tầu đi, chỉ để chữ Ngầm thôi. Viết văn như vậy ai mà hiểu cho nổi!

Câu văn nói trên, nếu viết cho đúng, sẽ là như vầy: Tầu đánh cá trang bị hỏa tiễn săn tầu ngầm có thể đến hải cảng của Phi Luật Tân.

Siêu sao sở hữu ngoại hình khủng”

Siêu Sao là dịch từ chữ Super Star, tức là Tài Tử Nổi Tiếng. Ngoại hình tức là thân hình. Còn Khủng thì… không hiểu là gì cả. Suy nghĩ mãi mới đoán chừng… khủng tức là khủng khiếp, tức là kinh khủng.

Diễn giải ra như vậy, cũng chỉ là đoán mò mà thôi, chứ cũng không hiểu người viết câu văn này muốn nói cái gì, muốn tả cái gì?

Quan chức Bộ Ngoại Giao Mĩ cho biết…

Quan chức là ai? Người làm Quan? Quan lại chỉ có vào thời Vua Chúa mà thôi, chứ thời nay làm gì có ai làm quan nữa! Thời Việt cộng, thì chỉ có bộ đội, cán bộ thôi, chứ làm gì có ai làm quan!

Mĩ là cái gì? Trong Tự Điển Anh Việt cũng như Việt Anh không có chữ này. Lại phải đi kiếm tờ báo tiếng Anh, đúng tin tức đó, kiếm hoài mới thấy câu: Officer of United States Secretary of State review that…

À thì ra… Quan chức tức là một nhân viên nào đó của chính phủ mà ngày xưa chúng ta gọi là Viên Chức. Còn Mĩ đây có nghĩa là Hoa Kỳ, là Mỹ, chứ không phải Mĩ.

Người viết câu văn này muốn chơi nổi, muốn gây sự chú ý của mọi người nên mới đổi chữ Y ra thành I.

TẠI SAO LẠI CÓ NHỮNG CHỮ VIẾT LẠ LÙNG NÀY?

Không phải đến bây giờ chúng ta mới nghe, mới thấy những chữ viết, những câu văn lạ lùng này. Ngay từ trước năm 1954, bọn Việt Cộng đã có dùng những loại chữ lạ lùng này rồi. Ngày đó, bọn chúng đã có ý định thay thế PH thành F – D thành Z – Y thành I

Khi bọn cán bộ vào thành, chúng cố gắng dùng loại chữ này để mong với quyền thế, với phương tiện tuyên truyền, chúng sẽ làm thay đổi cách viết của người Việt. Buồn thay, không một người dân nào viết theo cách thức của chúng cả.

Đến nay, lại có một số người đem cách thức viết chữ lạ lùng này ra dùng lại.

Ngày xưa, bọn Việt cộng thất bại trong việc chuyển ngữ này là vì thời đó còn là thời xôi đậu, bất cứ ai bắt chước dùng loại chữ viết này sẽ bị lộ hình tích là Việt Gian Cộng Sản, nên không ai dám xài. Còn bây giờ, chúng nó có cả một nước, muốn viết gì thì viết.

NHỮNG AI BẮT CHƯỚC DÙNG NHỮNG KIỂU CHỮ VIẾT LẠ LÙNG NÀY?

Nhiều! Nhiều lắm các bạn ạ!
Đọc báo Việt Ngữ hàng ngày, chúng ta thấy nhan nhản những chữ này. Lý do là vì có một số báo đã không có người dịch tin tức, không có người đi lấy tin, nên cứ lên internet, chôm chĩa những bản tin của các báo của Việt cộng ở trong nước mà đăng nguyên văn vào báo của mình. Mỗi lần dở tờ báo ra đọc, cứ dật mình thon thót, tưởng rằng mình vẫn còn ở Sài Gòn, vẫn đang bị đọc báo Sài Gòn Giải Phóng!

Mở đài phát thanh ra, rất buồn là đa số những đài phát thanh, từ Úc cho tới Hoa Kỳ, từ những đài tư nhân phát trên Youtube cho đến đài phát thanh của chính phủ, từ VOA cho tới đài BBC (BBC đã phải đóng cửa phần phát thanh Tiếng Việt rồi) cũng đều thâu nhận những xướng ngôn viên vừa có giọng nói giải phóng, vừa dùng những từ ngữ nghe không lọt tai này.

Lên internet, cũng toàn là những bài báo của Công An Nhân Dân, của Thanh Niên… của Việt cộng, chứ hiếm khi thấy một bài báo nào do chính những tác giả ở ngoại quốc viết tin.

Từ những tin tức, những bài bình luận mà các tờ báo, các đài phát thanh, các đài truyền hình này loan tải, mà người dân Việt hàng ngày đều phải nghe, phải đọc những loại chữ viết, những lời nói khó hiểu ghi trên.

LÀM SAO ĐỂ LẤY LẠI CHỮ VIẾT TRONG SÁNG CỦA NGƯỜI VIỆT?

Khó lắm, bạn ạ!
Học thói hư tật xấu thì dễ, chứ học cái tốt, hơi khó!
Hàng ngày, hàng giờ, những tờ báo, những đài phát thanh, những đài truyền hình đều phát tin, đều nhai nhải đọc những giọng văn vô nghĩa, khó hiểu như thế, nó sẽ in vào đầu con trẻ, tẩy não những người già (trong đó có chúng ta) thì làm sao mà chẳng quen với cách viết này cho được!

Tôi cũng có dịp nói chuyện với một số chủ báo, chủ đài phát thanh.
Một số cho biết, vì muốn lấy khách từ thành phần du học sinh, từ thành phần mới được bảo lãnh, được di dân qua Úc, qua Mỹ… nên phải dùng… tiếng của họ.

Một số khác trả lời: Tôi đâu có tuyển mấy người này đâu! Chính phủ họ tuyển, họ đưa vào làm chung với tụi tôi đó chứ! (SBS Tiếng Việt).

Làm sao bây giờ?

Thưa quý độc giả, quý chiến hữu, quý đồng hương,
Giữ cho Tiếng Việt được trong sáng, được rõ ràng hay không là do chính mình. Hãy đừng nghe, đừng viết, đừng phổ biến những loại chữ nghĩa đó nữa.

Thưa quý vị chủ báo, chủ đài phát thanh, đài truyền hình,
Hãy vì tương lai của dân tộc, vì tương lai của Chữ Việt, của Tiếng Việt,
Hãy đừng viết Lãnh Đạo Bắc Hàn nữa! hãy thêm chủ từ vào câu văn của mình để cho rõ nghĩa.
Hãy đừng cắt bớt ngữ vựng Việt để cho câu văn được dễ hiểu.
Hãy dịch cho đúng nghĩa những từ ngữ của Tiếng Anh, Tiếng Pháp để mọi nguòi được hiểu rõ bạn muốn nói gì.
Hãy đừng… quan chức nữa nhé!
Và cũng bất cứ lúc nào, đừng mở đầu câu nói của mình bằng câu… “Có Khả Năng”.
Hãy suy nghĩ những gì ta muốn viết, muốn nói trước khi viết ra báo, trước khi đọc bản tin.

Còn một điều nữa, thưa với quý xướng ngôn viên,
Khi quý vị gọi những người đến nghe chương trình nhạc hay bất cứ chương trình gì do mình làm xương ngôn viên. Nếu bạn đã gọi những khách này là QUÝ VỊ, tức là đã tôn trọng họ mà gọi như vậy. Thì khi nói với họ, nên THƯA QUÝ VỊ, để tỏ rõ sự tôn kính của mình đối với họ.
Chứ đừng… QUÝ VỊ ƠI…

ƠI chỉ dùng để gọi bạn bè: mày ơi, cháu ơi, con ơi… mà thôi.

XIN CÁM ƠN QUÝ VỊ ĐÃ ĐỌC BÀI VIẾT NÀY.

NGUYỄN KHẮP NƠI.

Blog Archive