Showing posts with label Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn. Show all posts
Showing posts with label Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn. Show all posts

Friday, April 24, 2026

Vượt Biên Qua Tàu, Rồi Qua Mỹ

Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn

Sau khi ba tôi và người bạn thân của ông bị bắt đi tù “cải tạo”, mẹ con tôi bị đẩy đi vùng kinh tế mới. Dì Bảy là con nuôi của Ngoại, là vợ của người bạn thân với Ba, cũng cùng chung số phận với Mẹ con tôi. Hai gia đình chúng tôi sống nương tựa với nhau trong vùng kinh tế mới. Dượng Bảy, chết trong tù, chẳng bao lâu Dì không còn hy vọng gì nữa, không gượng dậy nổi, đành đoạn bỏ đứa con gái duy nhất tên Thúy Yên để theo Dượng về bên kia thế giới. Mẹ cưu mang Thúy Yên từ đó.

Ôi biết bao cảnh gia đình tan tác từ ngày ấy, cái ngày cả Miền Nam bị đày ải, kẻ đi tù, kẻ mất hết đất đai, tài sản, kẻ vượt biên, vượt biển. Chết trong rừng, chết ngoài biển cả, kể sao cho xiết.

Mùa xuân năm 1978, Ba được thả về, Mẹ mừng lắm. Từ ngày “Giải Phóng” đến nay chưa bao giờ thấy Mẹ vui như thế. Mẹ làm buổi tiệc nho nhỏ để Ba có dịp chào bà con trong xóm. Mẹ mời hàng xóm thân thiết, có cả hai cô giáo dạy đám trẻ em trong làng và chú công an khu vực đến dự. Bữa tiệc đơn sơ chỉ có vài món thịt rừng nhưng ai cũng vui vẻ. Về nhà được ăn uống đầy đủ, Ba khỏe mạnh hẳn ra.

Tôi và Ba làm việc ngoài rẫy còn Mẹ và em coi mấy vườn rau chung quanh nhà. Trong trại tù, Ba trong đội cải thiện đời sống tù, nói nôm na là trồng rau xanh, nên cũng có chút ít kinh nghiệm. Ngoài việc làm rẫy, tôi và Ba làm bẫy săn thú rừng, đời sống chúng tôi khá hơn nhiều. Ban đêm Ba dạy tôi học thêm Toán và Anh văn, hai cô giáo Ngọc và Lan vẫn còn dạy tôi nhưng bớt giờ lại vì còn phải dạy các em Tiểu Học.

Ba được dân Xóm Lá rất kính nể vì là người học thức nhất, mỗi khi cần làm đơn từ gì, hàng xóm lại tìm Ba. Hàng tháng Ba vẫn phải lội bộ ra thị trấn Long Thành để trình diện công an huyện. Lúc khá giả hơn, Ba bán bò và mua được chiếc xe đạp cũ, từ đó Ba thường chở nông phẩm, rau củ ra thị trấn bán và mua các vật dụng khác để Mẹ mở một cửa hàng tạp hóa nho nhỏ. Những ngày mùa khô, Ba bàn với Mẹ ra thị trấn làm công, bất cứ việc gì, từ phụ thợ hồ, vá bánh xe, sửa chữa máy móc. Mục đích kiếm chút tiền và cũng để móc nối với những đường dây vượt biên.

Phong trào vượt biên lên rất cao vào thời điểm đó, cả những đường dây kháng chiến giả tạo do công an thành lập. Cuối năm 1978, có tin đồn chiến tranh Việt – Trung sắp xảy ra. Một hôm Ba từ thị trấn về rất sớm, kéo Mẹ và tôi ra làm ngoài rẫy, tôi biết Ba có chuyện quan trọng cần bàn bạc. Ba vẫn coi tôi như người lớn, luôn cho tôi tham dự vào những quyết định trong gia đình, có lẽ từ ngày Ba vắng nhà tôi thật sự gánh vác tất cả công việc đáng nhẽ thuộc về Ba.

Khi đã ra giữa rẫy, nhìn quanh quẩn không có ai, chúng tôi vẫn cắm cúi làm như đang nhổ cỏ dại, Ba cho biết đã liên lạc được với chú Út của Ba từ ngoài Bắc vô. Ba dặn tôi gọi người bà con này là Ông Trẻ. Ông đã ở lại ngoài Bắc khi ông nội tôi di cư vào Nam năm 1954. Vì ông là cán bộ nên đi lại tương đối dễ dàng, Ông cho biết tình hình ngoài Bắc rất lộn xộn, họ đang đuổi người Việt gốc Hoa về Trung Quốc.

Vào thời điểm đó tổng số người Hoa ở VN vào khoảng 1 triệu rưỡi, 85% ở miền Nam. Người Hoa ở ngoài Bắc, công an đã có danh sách sẵn những gia đình đáng nghi ngờ, nửa đêm đến đánh thức cả nhà dậy và tống lên xe bít bùng đưa thẳng ra ga xe lửa hay tàu buồm để đẩy ra biên giới rồi tống xuất về Trung Quốc, không cho mang bất cứ thứ gì. Hầu hết những người Hoa ở Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh gần biên giới như Đồng Đăng, Lào Cay, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn đều bị đuổi qua biên giới trước khi chiến tranh Việt Trung xảy ra đầu năm 1979.

Cũng có một số lớn là tự nguyện hồi hương vì không thể chịu được sự đàn áp của chính quyền. Lợi dụng cơ hội này, gia đình Ông và gia đình chúng tôi có thể trà trộn vào đám người Hoa đó để vượt biên qua Tàu rồi từ đó tìm đường qua Hồng Kông. Trong giai đoạn này, ở miền Nam công an tổ chức vượt biên bán chính thức cho người Hoa, tuy vậy tốn kém và nguy hiểm hơn nhiều.

Ông Trẻ cần một số tiền mua lý lịch giả để cho có vẻ “Tàu” một chút. Ba đã kiếm được một người bạn tù, hiện đang ở Chợ Lớn tên ông là Liêu Chí Vinh. Gia đình ông Vinh khá giả nhưng kín đáo và khiêm nhường nên không bị đánh tư sản, ông vẫn còn cất giấu được một số vàng bạc và chịu đi cùng với chúng tôi. Ông có hai người con, người con nhỏ cũng xấp xỉ tuổi tôi.

Sáng Chủ Nhật Mẹ gọi tôi dậy sớm để chuẩn bị ra đi. Ba chở em ra thị trấn như những lần Ba đi làm công trước đây, tôi và Mẹ đi làm rẫy như thường lệ, rồi lần theo đường tắt ra ngoài lộ. Con đường này tôi rất quen thuộc. Hai Mẹ con ra bến xe đi Sài Gòn mà không gặp người quen nào. Ba đón chúng tôi ở ga xe lửa Sài Gòn, bên cạnh có Ông Trẻ và gia đình Ông Liêu Chí Vinh.

Nhìn Ông Bà Vinh, tôi có thể nhận ngay ra gia đình người Hoa. Chúng tôi lên tàu lửa như những người từ ngoài Bắc, thân nhân của cán bộ vào “tham quan” miền Nam trở về, họ mang đủ thứ đồ đạc lỉnh kỉnh gom góp được ở miền Nam. Tàu đông người đến nỗi khó mà kiếm được chỗ ngồi. Sau mấy ngày đêm mệt mỏi, ngủ gà ngủ gật, chúng tôi cũng đến được ga Hàng Cỏ, Hà Nội. Người đông ơi là đông, Ông Trẻ dặn chúng tôi nghỉ ngơi trong sân ga, ăn uống cho no, có thể ngay tối nay sẽ phải vượt biên giới. Ông phải ra ngoài liên lạc với nhóm tổ chức để lấy giấy tờ, ngoài giấy tờ của chính phủ Việt Nam, còn cần phải có giấy tờ của tòa Đại Sứ Trung Quốc để qua cửa biên giới.

-oOo-

Chúng tôi hồi hộp và rất lo lắng không biết Ông có trở lại không? Mọi người đều thấy bơ vơ lạc lõng. Chiều gần tối, Ông trở lại dẫn chúng tôi đi bộ đến một chiếc xe bít bùng đậu bên đường. Ông nói chuyện với hai người công an đứng gác rồi hối chúng tôi lên xe. Trong xe đã có sẵn một số người, chắc cũng chuẩn bị vượt biên như chúng tôi, tất cả đều yên lặng, hồi hộp. Ông giới thiệu chúng tôi với hai người con của Ông, trao giấy tờ lý lịch mới, hộ chiếu cho Ba tôi và Ông Vinh dặn phải học cho thuộc để nếu ai hỏi phải trả lời cho đúng, Ông cũng đưa cho Ông Vinh và Ba tôi một nắm giấy bạc Trung Quốc.

Chúng tôi chia nhau mỗi người giữ một ít, kể cả mấy người con Ông Trẻ và Ông Vinh. Ông Trẻ gởi gắm hai cậu quý tử của Ông cho Ba tôi. Công việc của Ông đến đây coi như xong, còn lại nhờ Ba tôi và Ông Trời. Ông thu lại những hộ khẩu và giấy tờ tùy thân cũ và chúc chúng tôi lên đường bình an rồi vội vàng quay đi, giấu những giọt lệ chia ly. Ông ở lại với cơn sốt chiến tranh đang lan tràn trên miền Bắc.

Có lẽ đây là một tổ chức quy mô của công an đưa người vượt biên bằng đường bộ, như ở trong Nam đưa người vượt biển. Chúng tôi ngồi trong xe im lặng và chờ đợi, lòng đầy hoang mang hồi hộp, không biết bước kế tiếp sẽ như thế nào. Thúy Yên sợ lắm, em ôm chặt lấy tôi. Trong bóng tối, tôi nghe rõ từng hơi thở và nhịp đập của trái tim em. Cuối cùng, một toán công an chia nhau lên xe và chạy đi đâu một quãng xa, dừng lại trước một căn nhà lớn, dồn lên hai gia đình nữa. Lúc xe sắp chạy, một toán công an khác đến, họ bàn bạc với nhau một lúc lâu, một anh công an nói cho chúng tôi hay xe không thể ra biên giới được, tất cả sẽ phải đi bằng xe lửa.

Họ chở chúng tôi trở lại ga xe lửa và thả mọi người xuống đó. Hai gia đình mới lên cũng là người Việt gốc Hoa từ Miền Nam ra. Chúng tôi bàn với nhau và quyết định kết hợp thành một đám sống chết có nhau. Cả đám lên cùng một toa xe, ai cũng lôi thôi lếch thếch, hốt hoảng, dáo dác như một đàn gà con mất mẹ. Cả ga xe lửa hỗn loạn người la, kẻ khóc, tiếng gọi mẹ, gọi con thất lạc, đúng là cảnh đang chạy loạn. Họ là những người Hoa đã ở trên đất Việt lâu đời, chỉ là không hội nhập được 100%, bây giờ bị đuổi về quê hương xa lạ bên kia biên giới đầy bất trắc, mong manh, không hiểu vì sao. Họ chỉ là quân cờ trên bàn cờ chính trị của hai nước “anh em” đầy thù hận sắp sửa choảng nhau. Còn gia đình chúng tôi, đi tìm đường sống trong cái chết, nhờ sự hỗn loạn đó mà cảm thấy yên thân hơn, sẽ không sợ bị ai hạch hỏi lý lịch.

Đoàn tàu đi ngược về phía Bắc, Thúy Yên dựa vào tôi ngủ gà ngủ gật suốt đêm. Khi ánh sáng ban mai tràn ngập lòng tàu, tôi nhìn ra phía ngoài, rừng núi mênh mông, lính tráng đang đào hầm hố chuẩn bị chiến tranh, xe quân đội chở súng ống đạn dược xếp hàng dài trên con lộ chạy song song với đường rày xe lửa. Tàu dừng lại tại thị trấn Lào Cai, đây là thị trấn cực Bắc của Việt Nam còn cách biên giới khoảng 2 km, bên kia biên giới là thành phố Hà Khẩu, có đường xe lửa chạy thẳng đến Côn Minh Trung Quốc.

Trong sân ga bộ đội đầy nghẹt, những khuôn mặt còn trẻ măng chắc chỉ lớn hơn tôi vài tuổi. Chúng tôi theo đoàn người đi bộ về phía cửa khẩu xa xa, tôi và Ba thay nhau cõng em trên lưng. Gần cổng biên giới, người càng đông hơn, phía bên Trung Quốc họ kiểm soát giấy tờ, ưu tiên cho những người có chiếu khán của tòa Đại Sứ cho nên nhịp độ rất chậm. Cảnh chen lấn nhau hỗn loạn, khoảng gần trưa, công an biên phòng Việt Nam dùng vũ lực đẩy tất cả mọi người về phía trước, thế là bên phía Trung Quốc phải mở nút chặn cho dân chúng ào qua cửa khẩu. Có tiếng súng nổ ở cả hai bên, nhưng may mắn chỉ là những tiếng súng bắn lên trời để thị oai.

Sau khi khai lý lịch và trình giấy tờ của tòa Đại Sứ Trung Quốc, chúng tôi được chở về một nông trường ở Hải Yên, Đài Sơn tỉnh Quảng Đông. Ở đó họ cung cấp nhà ở tập thể có đủ bếp núc, nồi niêu, chăn màn, quần áo. Kể ra cũng tốt hơn vùng kinh tế mới bên Việt Nam rất nhiều. Ngày ngày ra ngoài đồng trồng trọt, cũng đủ ăn. Vào khoảng đầu tháng Hai, Cán bộ nông trường bắt đi một số thanh niên biết nói tiếng Hoa để làm thông dịch viên cho quân đội Trung Quốc. Sau trận chiến Việt Trung (17 / 2 /79 – 18/3/79) một số được trả về, số còn lại chẳng biết ra sao. Ở nông trường cũng dễ thở, cán bộ dễ dãi. Họ coi tất cả những người vượt biên như kẻ tạm trú, không phải là công dân Trung Quốc. 

Cuối năm 79, chúng tôi xin được di chuyển tới hải cảng Bắc Hải, từ đó mọi người gom tiền bạc mua thuyền đánh cá đi Hồng Kông. Người Trung Quốc chắc cũng không muốn gánh cái của nợ Hoa kiều thêm phiền phức cho nên giúp đỡ chúng tôi tận tình để mọi người ra đi bình yên. Thế là sau một năm trời ra đi từ Xóm Lá, chúng tôi đã đến được trại tị nạn Hồng Kông bình an. Chính quyền Hồng Kông cũng nhân đạo, họ săn sóc và nuôi nấng dân tị nạn đầy đủ, không phân biệt xuất xứ từ đâu. Có lần cả Ông Thống Đốc cũng vào thăm trại và an ủi mọi người, hứa sẽ giúp đỡ hết khả năng của Ông, ngoài ra sẽ liên lạc chặt chẽ với Cao Ủy Tị Nạn để sắp xếp việc cứu xét định cư sớm. Tất cả mọi người đều hoan hô lòng nhân từ bác ái của Ông. Chính quyền cũng cho các Cha và các Sơ Công giáo vào trại lo việc xã hội. Hai Chú con Ông Trẻ sáp nhập vào gia đình tôi để đi định cư với nhau cho dễ dàng.

Khoảng giữa thập niên 80, gia đình ông Vinh và chúng tôi được chấp nhận cho định cư ở Hoa Kỳ, vì cả hai chủ gia đình đều là cựu tù cải tạo. Cô Năm em ba tôi, bảo lãnh tất cả về Houston.

Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn









Saturday, April 19, 2025

Chuyện 30 tháng 4: Một Mảnh Đời Tỵ Nạn

1. Chuyện 30 Tháng Tư

Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ Binh. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.

Ngày 29 tháng 4, tôi nhờ chú em con bà cô chở ra bến Bạch Đằng, Saigon xem tình hình và thấy rất nhiều tàu kể cả chiếc Việt Nam Thương Tín, Trường Xuân, Tàu Hải Quân, trong số này có một số tàu đánh cá của một công ty Đức, to rộng rãi và bằng sắt đàng hoàng. Trở về nhà, tôi hối Ba đi trước với chú em. Hai chú cháu lọt được vào căn cứ Hải Quân và đi theo họ. Riêng tôi còn lần khân ở lại, hy vọng đến phút chót có thể gặp lại được Quỳnh Hoa, người yêu đầu đời của mình, nhưng phép lạ không xẩy ra.

Sáng ngày 30 tháng Tư, tôi trở lại bến Bạch Đằng, Chiếc tàu Trường Xuân vẫn còn đó, đầy nhóc người lên xuống tấp nập. Từ giữa sông chiếc VN Thương Tín bắt đầu di chuyển về phía kho 5. Tôi đạp xe lần theo, nhưng không vào được cổng. Lính gác cổng không cho vào, phải chi tiền, mà tôi thì chỉ còn hai tờ Đức Thánh Trần thôi. Người ta đang phá các kho thực phẩm để khuân vác về nhà. Tôi ghé quán chú Ba ăn no bụng và mua một mớ mì gói mang theo rồi đi ngược về phía Saigon. Dân Saigon ào vào mấy chung cư Mỹ khuân ra nào TV tủ lạnh, giường nệm. Ngang qua tòa Đại sứ Mỹ, còn vài người lảng vảng ở đó, cửa đóng, bên trong im lìm. Tôi lại trở ra bến Bạch Đằng, nhảy qua mấy chiếc tàu đánh cá của Đức, leo lên chiếc đậu ngoài cùng.

Chừng nửa giờ sau, một đám quân nhân súng ống đàng hoàng từ trên 2 xe jeep nhảy xuống, hộ tống một ông mặc đồ vest mang theo chiếc samsonite căng phồng. Họ nhảy xuống mấy chiếc tàu đánh cá, rồi thử nổ máy từng chiếc. Cuối cùng nhảy lên tàu tôi đang đứng, Lính tráng dàn hàng ngang bên thành tàu, súng chĩa vào bờ, không cho ai lên nữa. Khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, chiếc VN Thương Tín bò ra giữa sông hướng về Vũng Tàu. Thuyền của tôi theo sau một quãng. Tàu Việt Nam Thương Tín đi được một đỗi thì bên kia Thủ Thiêm các đồng chí tương cho 3 quả đạn. Tôi thực sự chẳng biết là đạn gì, có thể là đạn súng cối. Con tàu Việt Nam Thương Tín bèn quay đầu lại 180 độ đi ngược lại một chút, rồi lại quay đầu một lần nữa 180 độ đi thẳng về hướng Vũng Tàu.

Khi tàu chúng tôi đến tầm súng của các “đồng chí”, mấy Xếp lớn rút vào phòng lái, còn các người khác nằm rạp trên sàn tàu phó mặc cho định mệnh. Tôi và một ông Thiếu Tá cảnh sát, nằm bên cạnh cửa phòng lái hướng về Saigon. Nín thở qua sông! Ông già cảnh sát đang lâm râm cầu nguyện, còn tôi cũng xin Đức Thánh Trần phù hộ cho tai qua nạn khỏi. Đúng lúc ấy thì nghe một tiếng “bụp” từ phía bên kia Thủ Thiêm dội qua, sèo sèo qua đầu rồi nổ ầm một cái dưới nước, hơi dài! Một phút sau lại một tiếng nổ nữa dưới nước, hơi ngắn! Tôi nghĩ bụng:

”Các đồng chí ấy đang điều chỉnh đây, một quả dài, một quả ngắn, quả thứ ba thế nào cũng trúng. Ác thật, ai mà nhẫn tâm bắn vào kẻ đã buông súng đầu hàng!”

Một tiếng ầm vang lên, cánh cửa phòng lái bung ra, lỗ tai tôi lùng bùng, đầu kêu o o như có con ve sầu đang ca hát trong đó. Tôi nhủ thầm, đạn trúng phòng lái rồi. Con tàu vẫn chầm chậm trôi đi như không có chuyện gì xảy ra. Có ai đó đóng cửa phòng lái lại. Tôi đoán chắc có người bị thương nhưng tuyệt nhiên không nghe tiếng la khóc gì cả. Một đỗi sau, dìu ông già đứng dậy. Ông ta chỉ bị thương nhẹ trên môi, còn cẳng chân tôi máu chảy ra xối xả. Tôi vội xé chiếc áo thun đang mặc và cột chặt phía trên chỗ bị thương. Một lúc sau vết thương ngừng chảy máu, coi lại, thấy chỉ bị một mảnh nhỏ ghim vào chân. Ông Thiếu Tá Cảnh Sát, sau này theo con tàu Việt Nam Thương Tín về lại Saigon với một đám si quan cảnh sát khác người miền Trung, dù tôi đã can ngăn hết lời. Đời ông chắc là thê thảm lắm, khi hoang tưởng rằng phía “người anh em” bên kia sẽ dung thứ cho ông!

“Họ cũng là người Việt như mình cả mà”, ông nói với tôi như vậy, bây giờ chắc ông đã hiểu họ là người gì rồi!

Chiếc tàu đánh cá chạy cà rịch cà tang sang Singapore. Mỗi ngày được ăn một lần. Nhà bếp nấu một nồi cơm nhỏ, phát cho mỗi người một muỗng cơm. Cứ chìa tay ra, họ đổ muỗng cơm vào bàn tay, mình hất vào miệng thế là xong.

Đến Singapore, có cả ngàn chiếc tàu lớn nhỏ đậu trong vịnh, nhưng không ai được lên bờ. Họ cho thực phẩm, nước, và xăng dầu rồi đuổi cả đám qua Subic Bay bên Phi Luật Tân. Chúng tôi được dồn vào trại nghỉ mát của quân đội Mỹ, ngủ trong mấy phòng mát mẻ có máy điều hòa không khí, ngày ngày đi lãnh đồ ăn và tắm hồ bơi. Tôi chẳng còn tâm trí đâu mà hưởng những tiện nghi của họ. Nỗi cô đơn và buồn tủi luôn đeo đẳng, nước mất nhà tan, tương lai vô định, còn gì nữa để vui chơi.

Ở Subic Bay đâu được một tháng, chúng tôi được chuyển từ từ qua đảo Guam. Tôi gặp lại Ba tôi và chú em ở đó, rồi cùng nhau qua Mỹ.

2. Một mảnh đời tị nạn

Định cư ở Mỹ, tôi làm lại cuộc đời từ con số không. Làm đủ thứ nghề lao động.

Những ngày đầu định cư ở Oklahoma lạnh giá, mỗi sáng hai cha con đạp xe đi làm trong trại ương cây. Chiếc xe tải mui trần chở một đám nhân công ra cánh đồng để đào cây, bó chặt gốc bằng bao bố rồi quăng lên xe tải. Cánh đồng mùa đông đầy tuyết, cứng như đá, những nhát cuốc bổ xuống dội lên tê rần cánh tay. Chỉ đào mươi phút, thân thể nóng ran phải cởi bỏ lớp áo lạnh dầy cộm. Một ngày chỉ đào được 3 cây là cùng, trong khi đó mấy ông Mễ cùng toán đào được it nhất 10 cây. Tuy vậy đào cây cũng không cực nhọc bằng khiêng một đống cây mới đào quăng lên xe tải. Những gốc cây đầy đất và rễ, nhiều khi còn nặng hơn cả thân mình, làm sao khiêng nổi? Mùa đông ở Oklahoma lạnh đến nỗi nước hồ đóng thành băng thường xuyên. Những lúc buồn nhớ nhà, tôi ra ngồi bên bờ hồ, nhìn đàn vịt trượt tuyết trên mặt hồ làm vui, nước mắt lại ứa ra, nghĩ thân phận mình không bằng những con vịt đang vui chơi hồn nhiên ngoài kia.

Làm cho hãng trồng cây được vài tháng, có người bạn giới thiệu làm lau chùi quét dọn trong nhà thương. Tôi nhận ngay, ít ra cũng được làm trong nhà ấm cúng. Tuần đầu Xếp giao đánh bóng sàn nhà cả một tầng lầu. Qua tuần thứ hai Xếp giao thêm một tầng nữa, tuần thứ ba giao thêm một tầng nữa, như vậy cả thảy là 3 tầng phải làm xong trong một đêm.

Một ngày nọ đi chợ, có anh chàng cao bồi da trắng cao nhòng, đứng cạnh hỏi:

- Hi young man, are you Vietnamese?
- Đúng rồi, tỵ nạn mới tới đây!
- Tôi tên Joe, hân hạnh được biết anh.
- Tôi tên Lập.
- Láp, Láp hả. Tôi phát âm như vậy có đúng không?
- Không đúng lắm, nhưng cũng tạm được.

Từ đó tôi đươc gọi là Láp, giống như “bá láp” vậy.

Chàng cao bồi nói huyên thiên như vớ được một người thân vắng mặt lâu ngày. Tiếng Mỹ ăn đong của tôi cũng lõm bõm hiểu rằng, chàng là đầu bếp trong một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến ở Chu Lai. Về lại cố hương, mở tiệm ăn nho nhỏ, hỏi tôi có muốn làm cho chàng ta không. Công việc là phụ nấu bếp và rửa chén. Dĩ nhiên tôi nhận lời ngay, nếu tiếp tục làm nhà thương chắc có ngày Xếp sẽ giao đánh bóng cả 20 tầng lầu.

Anh chàng “Cao Bồi” cũng tử tế, mướn giúp một căn nhà nhỏ, tặng cho một tủ lạnh cũ. Chàng ta bán lại cho tôi chiếc xe hơi to cồng kềnh với giá 100 đô, trả góp 10 đô một tháng. Xăng lúc bấy giờ chỉ 32 xu một galon (4 lít). Thuốc lá vài đô la mỹ một cây 10 gói, hút chết bỏ. Từ đó tôi cai thuốc lá luôn sợ ghiền thuốc chắc phải bán phổi cho mấy bà nấu cháo lòng. Đi chợ chỉ 20 đô 2 người ăn 1 tuần rộng rãi.

Tiệm ăn nhỏ, Joe và tôi làm trong bếp. Bà xã tên Nancy và cô con gái tên Kim làm tiếp viên. Kim còn rất trẻ, mới vào đại học.

Buổi trưa, khách chỉ lai rai, nhưng buổi tối và cuối tuần rất bận rộn. Chẳng bao lâu, Joe mướn thêm người phụ bếp. Tôi được làm tiếp viên và dọn bàn. Joe muốn tôi có cơ hội học thêm anh văn và có thêm tiền “tip”. Lúc rảnh rỗi, hai chúng tôi kể cho nhau nghe những kỷ niệm lúc còn ở Việt Nam. Kim cũng lắng nghe và góp ý kiến hoặc đặt câu hỏi với tôi, Kim còn trẻ nên không hiểu mấy về cuộc chiến VN như hầu hết sinh viên phản chiến lúc bấy giờ. Nàng cho rằng, tại sao người Mỹ lại phải đổ biết bao tiền bạc và xương máu ở một xứ sở xa lắc xa lơ chẳng ăn nhập gì với đất nước này. Người Mỹ lúc này chỉ muốn quên đi chiến tranh VN. Những chàng chiến binh trở về từ chiến trường VN không được đối đãi nồng hậu như thời Đệ nhất, Đệ nhị thế chiến. Họ luôn mang mặc cảm, thứ mặc cảm mà giới truyền thông Mỹ đã “brainwash” (tẩy não) dân chúng thời đó điển hình là nữ tài tử điện ảnh Jane Fonda đã sang tận Hà Nội để ca tụng người Cộng Sản chiến đấu anh dũng.

Tôi sắp xếp với Joe để chỉ làm việc từ 4 giờ chiều tới 12 giờ đêm, công việc vẫn vậy, tiếp viên, phụ bếp, dọn bàn, lau chùi quét dọn trước khi đóng cửa. Thật vất vả cực nhọc, nhưng tôi có cả ngày để đi học. Kim giúp đỡ tôi rất nhiều trong những ngày đầu còn bỡ ngỡ, ghi danh chọn môn học, xin tiền học bổng và trợ cấp của chính phủ, lựa chọn thời khóa biểu, và nhiều thứ linh tinh khác.

Tôi không có bằng trung hoc của Mỹ nên phải thi bằng tương đương. Cũng chẳng khó khăn gì chỉ là trình độ trung học đệ nhất cấp của VN. Lúc đó ngành điện toán mới bắt đầu phát triển vả lại học điện toán chẳng đòi hỏi nhiều chữ nghĩa như các ngành khác. Tôi có thể bắt kịp dễ dàng.

Ngày đầu đi học, tôi vừa vui mừng vừa e dè như cậu bé nép vào áo mẹ đến trường mà Thanh Tịnh đã tả trong bài “Hôm nay tôi đi học”. Tôi còn nhớ lõm bõm vài câu:

“Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.”

Ngày xưa, trong thời chiến tranh tôi vẫn ước mơ như trong bài hát “Qua Cơn Mê” của Nhật Ngân:

Một mai qua cơn mê, qua cuộc đời bềnh bồng, anh lại về bên em …Cùng theo lũ em học hành như xưa”.

Tôi đã qua cơn mê chưa nhỉ? Không theo lũ em học hành như xưa bên quê nhà nhưng là đi một mình, trên mảnh đất tạm dung, xa lạ. Tôi đã già đi rất nhiều vì chiến tranh. Năm 1976, 31 tuổi đầu 7 năm tuổi lính. Không một mảnh bằng, không nghề ngỗng, chữ nghĩa ăn đong. Tôi đi làm lại cuộc đời đánh mất!

Kim giúp tôi làm luận văn, đọc Hamlet của Shakespeare: “To be, or not to be, that is the question”. Tôi chỉ nàng giải toán, sửa program, môn toán “Math for Engineer” làm cho nàng nhức đầu còn với tôi chỉ là dĩa cơm tấm sườn bì tàu hũ ky!

Thời đó chưa có PC. Tất cả program phải dùng key punch (đục lỗ trên tấm thẻ) rồi nạp cho computer operator đọc vào máy. Một program ngắn cũng cần một số thẻ dầy cỡ một gang tay. Một lần, Kim cầm sấp “thẻ” program của nàng để nạp cho operator chẳng may ai đó đụng vào cánh tay, cả xấp thẻ rớt xuống đất. Phải mất rất lâu để gom lại và xếp theo thứ tự. Giờ thi và nạp bài cuối khóa đã gần đến, nàng ngồi bệt xuống đất thu lượm thẻ mà nươc mắt chạy quanh. Tôi đi ngang, hối nàng vào phòng thi, để xấp program đó tôi lo cho. Thi cuối khóa nàng được điểm “A”, tôi được nàng tặng cho một nụ hôn nồng cháy nhớ đời!

Thường thì viết program rồi cho vào máy computer chạy thử, nếu sai, sửa lại, chạy lại. Cứ như thế cho đến khi hết lỗi, rồi kiểm soát lại kết quả mà program đưa ra xem có đúng như đòi hỏi không? Kim rất thông minh, những bài program khó đến đâu, chỉ nói sơ qua là nàng hiểu ngay. Chạy program hai, ba lần là sạch lỗi. Tôi cố gắng học tất cả các khóa hè, cho nên cũng bắt kịp Kim. Chúng tôi ra trường cùng một lượt. Ngày ra trường, Joe và Nancy được chúng tôi mời đi dự, có cả Ông Bà nội của Kim nữa, hai ông bà là chủ một nông trại gần Kansas City. Joe giới thiệu tôi là người VN, một cựu chiến binh. Hai ông bà rất ngạc nhiên, chưa từng thấy người VN bao giờ, chỉ nghe nói trên TV. Ông cũng từng là cựu chiến binh thời đệ nhị thế chiến, và rất hãnh diện. Ông Bob (ba của Joe) tiết lộ rằng ở tỉnh nhỏ, đám thanh niên chỉ học cho lấy lệ, phần lớn giúp cha mẹ trông lo nông trại, lớn lên nhập ngũ để thỏa mãn chí giang hồ vì cả đời không có dịp đi xa hơn tỉnh nhỏ của mình!

Joe cám ơn tôi đã giúp Kim học hành, còn tôi cám ơn ông đã cho tôi cơ hội. Nancy rất cảm động nói với tôi: “Kim là người duy nhất trong gia đình tốt nghiệp Đại Học”.

Chúng tôi may mắn, kiếm được việc ngay sau khi tốt nghiệp trong một hãng lớn đang có hợp đồng với Trung Tâm Không Gian tại Houston. Tôi tiếp tục học thêm vào buổi tối, chẳng bao lâu lấy thêm bằng cao học. Một lần nữa tôi mời Nancy, Joe và Kim đi dự lễ ra trường của tôi. Joe đã đóng cửa tiệm ăn mấy ngày và bay qua Houston. Tôi cảm ơn Joe và nước Mỹ đã cưu mang tôi và cho tôi cơ hội như ngày hôm nay. Ông ôm lấy tôi và nói trong nghẹn ngào:

- Tôi thành thực xin lỗi những người tỵ nạn VN, chúng tôi đã bỏ rơi chiến hữu VN nhưng các bạn không hề oán hận. Tôi giúp cho Láp có giờ đi học chẳng qua là muốn bạn đạt được những ước vọng mà tôi hằng mong muốn.

Tôi cũng đáp lại bằng lời cám ơn vụng về:
- Cám ơn Joe, tôi chỉ cố gắng hết mình và Trời cũng giúp tôi nữa.

Joe an ủi tôi bằng những lời rất chân tình:

- Những người chiến binh như tôi, khi nhập ngũ, ai cũng hy vọng đăng lính vài năm rồi giải ngũ, quân đội sẽ giúp học bổng để tiếp tục đại học. Nhưng thực tế số thành tựu không nhiều. Từ chiến trường VN trở về chúng tôi với thân xác mệt mỏi, nghiện ngập, chán nản không mấy ai nghĩ đến chuyện cắp sách đến trường nữa.

Tôi và Kim yêu nhau, lấy nhau. Joe trở nên cha vợ của tôi. Ở với nhau một thời gian, những di biệt về văn hóa, tuổi tác, nếp sống càng ngày càng lớn. Nàng luôn luôn tranh cãi với ba tôi. Những buổi họp mặt bạn bè hay gia đình của tôi, mới đầu nàng cũng tham gia nhưng dần dà càng thưa thớt hơn. Nàng không thể thưởng thức được món ăn VN. Chúng tôi chẳng có con cái nên việc phải đến đã đến: ly dị.

3. Họp bạn Thanksgiving 1990.

Buổi tiệc họp mặt thân hữu cựu sinh viên trường Đại Học CTKD được tổ chức trong phòng Ball Room của Hilton Hotel trên lầu ba. Khách sạn gồm 22 tầng lầu sát bên hồ Clear Lake, ngoại ô thành phố Houston.

Clear Lake cũng là tên của thành phố nhỏ rất thơ mộng này. Khách đến đã đông, nhưng còn hơn một giờ nữa mới khai mạc. Bạn hữu lâu ngày gặp nhau, tay bắt mặt mừng, hỏi thăm nhau kẻ mất nguời còn, ai đã vượt biên, ai còn kẹt lại, tiếng cười ròn rã, xen lẫn tiếng gọi nhau ơi ới. Ai đó khoe làm ăn phát tài, kẻ khoe mới bắt được job thơm, người khoe con cái đỗ đạt thanh tài, ôi thôi đủ thứ chuyện trời ơi đất hỡi.

Tôi đứng bên cửa sổ, nhìn mông ra ngoài. Mặt hồ phẳng lặng, vài chiếc du thuyền với những cánh buồm đủ màu sắc còn lưu luyến một ngày sắp tàn. Bên kia bờ hồ, xe cộ nối đuôi nhau trên chiếc cầu cao lêu nghêu in mình trên nền trời, đèn xe sáng chói đan vào nhau dài bất tận trông như một con trăn khổng lồ màu bạc. Đó là chiếc cầu bắc ngang qua Water Way nối liền Hồ Clear Lake và Gaveston Bay, đủ cao cho du thuyền qua lại.

Khu giải trí Kemah bên bờ vịnh với hàng chục nhà hàng sang trọng, đã lên đèn sáng chưng. Chiếc đèn hải đăng bên phải hồ, gần mấy biệt thự lợp ngói đỏ, thỉnh thoảng lại quét một vạch sáng trên nền trời như muốn nhắc nhở ai đó, trên mấy chiếc du thuyền, hãy mau mau cập bến. Ngoài xa tít kia là vịnh Galveston, một vài tầu chở dầu đang nối đuôi nhau đi vào Ship Chanel của hải cảng Houston. Những chiếc tàu dài gấp hai ba lần sân đá banh, và cao hơn một cao ốc 20 tầng, nổi lềnh bềnh trên mặt nước, từ xa trông chẳng khác gì mấy chiếc thuyền ba lá bên quê nhà. Vài đàn ngỗng trời bay về phương nam trốn lạnh, từng hàng cánh trắng lấp lánh, phản chiếu chút ánh nắng yếu ớt còn sót lại. Trời vào thu đã lâu, gần tới ngày lễ Thanksgiving rồi. Tôi cảm thấy se lạnh và cô đơn giữa đám đông người.

Có ai đó đập khẽ trên vai tôi:

-Anh Lập ơi, có ai hỏi thăm anh nè, gớm tìm anh mãi mới ra, sao lại đứng đây một mình vậy. Chắc đang mơ mộng người đẹp nào phải không?

Tôi quay lại, đó là Đạt, người bạn học cùng lớp khi còn ở Đại Học, chúng tôi đã từng gặp nhau trong những lần họp mặt trước đây nên nhận ra anh ngay. Tôi giật mình, nhìn người đàn bà trung niên, đứng bên cạnh hỏi:

-Có phải Quỳnh-Hoa đây không? Ôi! Thật là bất ngờ. Anh tìm em khắp chân trời góc biển không ra. Ngọn gió nào thổi em tới đây?

Quỳnh Hoa là người yêu đầu đời của tôi, lúc còn lang thang trên vùng cao nguyên. Nàng bối rối trả lời:

-Ngọn gió Bấc đấy, bởi em ở gần Bắc Cực, anh có biết không?

Nàng chỉ nói được có bấy nhiêu rồi nước mắt vòng quanh. Tôi cũng không cầm được nước mắt. Đạt đã kiếm cớ lỉnh đi. Quỳnh-Hoa nói trong tiếng nghẹn ngào:

-Em đã chịu bao nhiêu đắng cay cực khổ để chờ đợi anh trên xó rừng cao nguyên đó, nhưng anh chẳng bao giờ trở lại. Em đã tưởng anh chết mất xác đâu đó rồi. Không ngờ Trời Phật run rủi lại gặp anh ở đây.

Tôi cứ để nàng khóc và kể lể như vậy một lúc lâu cho vơi đi bao nhiêu uất ức, sầu hận. Một vài người tò mò đi ngang nhìn chúng tôi rồi bỏ đi. Cũng may, phòng hội rộng thênh thang, chỗ tôi đứng ở cuối phòng xa hẳn đám đông nên ít người để ý. Hôm nay chắc cũng nhiều người, gặp nhau lần đầu, phải đổ nhiều nước mắt. Tôi cuống quit dỗ dành nàng:

-Anh xin lỗi em, lúc mất Quảng Trị, đơn vị anh từ vùng giới tuyến rút về Saigon, anh đã tìm em ở tất cả những nơi có người tị nạn từ miền trung hay cao nguyên chạy về, có lần ra tận Tuy Hòa nữa nhưng chẳng biết nhà mẹ em ở đâu. Anh chỉ sợ em lạc loài đâu đó trong đám người rút theo tỉnh lộ số bảy từ cao nguyên về Tuy Hòa.

Nàng hờn dỗi;
-Anh chỉ mong em chết đi phải không?

Tôi biết nàng bao giờ cũng yêu tôi hết lòng và hiểu rõ lòng tôi cũng vậy, đó chỉ là lời trách móc nhẹ nhàng mà thôi.

Nhạc trổi lên, ban tổ chức yêu cầu mọi người vào chỗ ngồi để buổi tiệc được bắt đầu đúng giờ. Nàng chẳng quen ai ngoại trừ vợ chồng Đạt nên tôi quyết định nhập chung với đám Đạt cho vui, toàn là bạn cùng khóa thời sinh viên. Ban tổ chức không xếp chỗ, ai ngồi đâu cũng được miễn là đủ 10 người một bàn. Tôi giới thiệu nàng với mọi người cùng bàn:

-Thưa các anh các chị, đây là Quỳnh-Hoa, người bạn rất thân, quen nhau từ thời tôi còn trong quân đội, chúng tôi đã suýt lấy nhau, nếu không có vụ tan hàng hồi 30 Tháng Tư.

Có nhiều tiếng lao xao chọc ghẹo nàng:
-Tên đẹp như người, anh Lập thật là có mắt.

- May quá không có vụ “30 Tháng Tư”, anh Lập không bị đi tù cải tạo cũng bị tù chung thân.

- Ê, có bao nhiêu người biết bị tù chung thân mà vẫn chui vào đó thôi.

- Chắc chúng mình sắp được uống rượu nữa rồi.

Nàng cười bẽn lẽn, hai má đỏ hồng, lúm đồng tiền vẫn còn đó, bây giờ đã là thiếu phụ trung niên, vẻ ngây thơ hồn nhiên không còn nữa, có mập ra một chút, hai bên khóe mắt đã xuất hiện “dấu chân chim” nhưng thân hình vẫn cân đối trong chiếc áo dài màu tím. Nước da trắng bóc, có lẽ ít khi ra nắng.

Chương trình văn nghệ bắt đầu với giọng ca quyến rũ của Nguyên Khang, bài “Tinh Tự Mùa Xuân” của nhạc sĩ họ Từ:

Em, lại đây với anh, ngồi đây với anh, trong cuộc đời này”
“Nghe, thời gian lướt qua, mùa xuân khẽ sang”
“Chừng như không gian đang sưởi ấm những giọt tình nồng”
….

Tiếng hát vẫn vang vang, nhưng tôi không còn nghe được lời nào, lỗ tai lùng bùng, đoạn phim dĩ vãng lại trở về trong đầu tôi.

Ngày ấy, xa lắm rồi. Quỳnh Hoa tuổi đôi mươi, là cô giáo dạy ở trường tiểu học Phú Nhơn, quận Cheo Reo. Tôi mới đến vùng này, là một Thiếu Úy trẻ măng vừa đổi về đơn vị mới thành lập.

Chúng tôi quen nhau và yêu nhau tự nhiên như cây mọc trên núi rừng. Hai năm sau tôi phải đổi ra Quảng Trị. Thỉnh thoảng tôi bay về Pleiku trong những ngày phép ngắn ngủi để thăm nàng.

Nhưng rồi, cuộc triệt thoái cao nguyên quá đột ngột, rồi nước mất nhà tan! Trôi dạt qua tới Mỹ, tôi chẳng hy vọng có ngày gặp lại nàng.

Tiếng vỗ tay vang rần lẫn trong tiếng huýt sáo inh ỏi kéo tôi về thực tại. Nhìn sang Quỳnh-Hoa, mắt nàng cũng đỏ hoe. Nàng lí nhí mấy câu xin lỗi rồi rời khỏi bàn đi về phía cửa. Tôi vội vàng đuổi theo nàng. Chúng tôi ra phía sân sau khách sạn, vượt qua mấy bậc thềm và hướng về phía cầu đá bên hồ. Cầu đá thực sự là những tảng đá lớn xếp bên nhau thành một con đường ngắn, nhô ra khỏi hồ để người ta câu cá.

Chúng tôi ngồi trên một tảng đá bằng phẳng bên nhau như ngày nào ngồi trên chiếc cầu “Biên Giới” trong xó rừng cao nguyên. Cứ ngồi như thế một lúc lâu, im lặng, nhìn mông lung ra ngoài hồ, xa tận những ánh đèn bên khu giải trí Kemah, tận ngoài vịnh Galveston, xa mãi ngoài biển Đông, về tận Saigon và lên đến xó rừng cao nguyên.

Tôi cởi áo vest ra đưa cho nàng:

-Em mặc thêm áo vào kẻo lạnh.

-Em không lạnh, ở xứ lạnh quen rồi anh ạ.

Nàng từ chối, nhưng vẫn đưa tay cho tôi khoác áo vào.

-Em sang đây lâu chưa?

-Mới hôm qua, cùng với anh chị Đạt, chúng em đặt phòng ngay trong khách sạn này.

-Em định cư ở đâu?

-Na Uy anh ạ. Xứ ấy lạnh lẽo quanh năm, nhưng tình người rất ấm. Họ giúp đỡ người tị nạn tận tình. Lúc mới qua, được cấp cho nhà ở, bảo hiểm sức khỏe đầy đủ, tiền ăn học và tìm việc cho mình. Dân số rất ít nhưng đời sông đầy đủ tiện nghi chẳng khác gì Mỹ, nhưng lạnh quanh năm. Qua Houston thấy trời ấm áp em thích lắm.

-Làm sao em trôi dạt qua tận Na Uy lận?

-Lúc quân đội rút khỏi cao nguyên, em ở mãi xó rừng chẳng có phương tiện gì di chuyển cả, một lũ học trò bám theo em, không thể nào dẫn các em theo được, nếu đi bằng đường bộ.

-Nên em quyết định ở lại?

-Dạ, sau này em mới biết, đó là cái may của em. Bao nhiêu người đã chết trên đường số 7 từ Phú Bổn về Tuy Hòa, con đường đó nguy hiểm quá.

-Đúng vậy, lúc còn ở trên cao nguyên, có lần anh đóng quân ở quận Phú Túc, đó là một quận nhỏ nằm giữa đường số 7. Con đường thì nhỏ, nhiều ổ gà, cầu cống hư hỏng nhiều, hai bên là rừng, rất dễ bị phục kích.

- Những ngày tháng ấy, em đợi anh đến tuyệt vọng. Em nhớ lới anh thề nguyện hai đứa sẽ thành hôn. Nào ngờ...

-Anh cũng muốn trở lại lắm chứ, nhưng anh chẳng làm chủ được định mệnh của mình. Anh như cánh lục bình trên dòng sông, nước đưa đến đâu thì trôi đến đó. Em có nhớ dòng sông của hai đứa?

- Chiều nào em cũng ra ngồi trên “Cây Cầu Biên Giới” của chúng mình, nhìn qua bên kia bờ sông, sờ tay trên hai câu thơ anh khắc trên đó...

- Khoan kể, khoan nhắc. Để anh đọc thêm hai câu tiếp theo: “Chiều về chiều vẫn một mình, Trách người năm cũ bỏ tình bơ vơ...”

Quỳnh Hoa kêu:
- Anh... Anh có về tìm em thật à.

- Sao không thật! Ngay khi có thể bay về Việt Nam, anh đã đến Phú Nhơn tìm em...

Tôi kể cho Quỳnh Hoa nghe chuyến trở về của mình. Quang cảnh vẫn không thay đổi mấy, ngôi trường tiểu học vẫn như xưa. thời gian như ngừng trôi ở quận lỵ nhỏ bé này. Phố chợ đìu hiu vẫn còn kia, hàng rào kẽm gai chung quanh doanh trại nơi tôi đóng quân vẫn còn đó, nhưng chẳng ai biết đến một người con gái đẹp như hoa quỳnh đã từng in dấu chân nơi chốn này. Hình ảnh ngày xưa vẫn còn đủ chỉ thiếu một người. 

Quỳnh Hoa ngậm ngùi:

-Tiếc nhỉ, lúc đó em đã bỏ đi lâu rồi, mấy thằng cán bộ cứ theo chọc em, rồi hăm dọa em, em nói em đã có chồng rồi, giống như chị Lan, chị Mai, chị Tú đều bị gọi là vợ ngụy quân cả, em cũng nhập chung với các chị ấy. Có vài chị độc thân không chịu nổi áp lực, đành phải lấy cán bộ. Còn em, có lúc muốn đâm đầu xuống sông chết cho rồi. Nhưng lại nghĩ tới anh nên ráng chịu đựng. Trong lòng em lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện vươt biên thôi. Ngày nọ em xin nghỉ phép để về thăm nhà, rồi cùng Mẹ và hai đứa em trốn ra Vũng Tàu, ở tá túc nhà ông chú. Gia đình chú tổ chức vượt biên, em gom được ba cây rưỡi vàng giao cho chú. Số vàng này em để giành từ trước năm 75 định sẽ chi tiêu vào dịp đám cưới của chúng ta.

-Tội nghiệp em, rồi sao nữa.

-Thuyền ra khỏi hải phận vài giờ thì hư máy, bao nhiêu tàu buôn đi ngang qua nhưng chẳng ai ngó ngàng tới. Cho đến một ngày, một chiếc thuyền buôn của Na Uy chịu cứu vớt và chở thẳng vào Mã Lai, sau đó Na Uy đã bảo lãnh tất cả số người trên tàu. Lúc đó em thật bơ vơ, một mình phải lo cho mẹ và hai đứa em nhỏ, chẳng biết trông cậy vào ai. Em lại nghĩ đến anh, vừa buồn vừa tủi thân. Chính phủ Na Uy giúp cho chỗ ăn ở và giúp cho mấy chị em đi học, mẹthì được một việc làm trong siêu thị. Đời sống chật vật lúc khởi đầu nhưng cũng tạm ổn định.

-Em học về ngành gì vậy?

-Em học kế toán, lúc đầu cũng thật khó khăn, nhưng nhờ các giáo sư thông cảm và tận tình chỉ dạy rồi em cũng tốt nghiệp, hai đứa em của em cũng ra trường kỹ sư một thời gian sau đó. Còn anh sao qua được Mỹ?

Sau khi kể lại chuyện ra đi ngày 30 tháng Tư của mình cho Quỳnh Hoa nghe, chúng tôi ngồi yên lặng bên nhau.

Tôi muốn nói với nàng trăm ngàn điều nhưng vẫn không mở miệng được. Thời gian đã khác, hoàn cảnh đã khác. Khuôn mặt nàng hiện lờ mờ trong bóng tối. Tôi khóc lúc nào mà không biết. Không biết tôi khóc cho số phận gian truân của chúng tôi, của cả dân tộc tôi bị đọa đầy hay cho hạnh phúc muộn màng của hai đứa chúng tôi. Hạnh phúc dù đến muộn màng nhưng vẫn là báu vật Trời ban cho.

Minh Đạo Nguyễn Thach Hãn



 màng nhưng vẫn là báu vật Trời ban cho.Minh Đạo  Nguyễn Thach Hãn

Wednesday, October 23, 2024

Cây Cầu Biên Giới 


Tôi đứng ngay tại Ngã Ba Hàm Rồng nhìn dáo dác chung quanh. Buổi trưa nắng chang chang. Thỉnh thoảng một cơn gió nổi lên cuốn theo những đám bụi đỏ mù trời. Tôi dụi mắt mấy lần cố tìm những gì thân quen của một quá khứ yêu dấu xa xưa. Người tài xế của hãng du lịch chạy đến bên tôi thắc mắc:

– Anh kiếm cái gì thế? Con đường trước mặt đi về hướng Phú Nhơn đến tận Ban Mê Thuột,bên trái là ngõ về quận lỵ Phú Thiện và tỉnh Phú Bổn, còn đằng sau là con đường mình mới từ Pleiku ra đây. Anh muốn đi đâu thì cứ cho tôi biết, tôi sẽ đưa anh đến nơi đến chốn.

Không lưu tâm gì đến anh tài xế, tôi vẫn đứng yên đó thầm nghĩ:

“Dù đã lâu lắm rồi nhưng làm sao quên được. Mình đã để lại một đoạn đời hoa bướm, 1 mối tình đầu tha thiết nơi rừng núi này. Quang cảnh chung quanh vẫn vậy, nhưng con đường trải nhựa có thêm nhiều ổ gà, vắng người qua lại và hàng quán xơ xác tiêu điều hơn xưa”.

Rồi tôi trả lời bâng quơ:

– Tôi đang chụp hình.

– Tôi đâu thấy anh mang máy hình?

– Ồ, chụp hình trong đầu ấy mà.

Nguời tài xế há hốc mồm ra ngạc nhiên, anh ta nói lẩm bẩm trong miệng nhưng đủ cho tôi nghe rõ:

– Mấy ông nội Việt Kiều thật là lẩm cẩm.

Tôi leo lên xe và hối người tài xế chạy về phía quận Phú Nhơn. Chiếc xe mướn của hãng du lịch tương đối còn mới, lồng lộn lao về phía trước, lúc nghiêng qua trái, lúc lách qua phải để tránh những ổ gà và khúc đường bể chưa được sửa chữa. Mà có lẽ sẽ chẳng bao giờ được sửa chữa nữa. Hàng trăm thứ chuyện quan trọng hơn người ta còn chẳng thèm để ý tới, xá gì một con đường nhỏ ở một thành phố xa xôi hẻo lánh này. Để mặc tài xế đánh vật với chiếc xe và con đường, tôi thả hồn chìm về dĩ vãng...

*******

Pleiku....

Ngày ấy đã xa lắm rồi. Tôi, một Thiếu Úy trẻ măng vừa đổi về đơn vị mới thành lập. Tiểu Đoàn tân lập, từ sĩ quan đến binh lính, hầu hết là những thành phần khó xài từ các đơn vị khác gởi về. Dĩ nhiên tôi cũng ở trong thành phần bất hảo đó. Từ miền biển bị đưa lên miền núi và chỉ huy một đám quân hỗn tạp gồm đủ mọi thành phần. Tôi còn đang tập những bước đi chập chững của nghề chỉ huy thì bị quăng ra chiến trường. Ngày ấy, cũng trên con lộ này, tôi dẫn 2 con Gà Cồ Đại Pháo 105 ly để yểm trợ cuộc hành quân trực thăng vận tái chiếm quận lỵ Phú Nhơn mà Bắc Quân vừa mới tràn ngập đêm hôm trước.

Ngã ba này bình thường chỉ có vài quán cóc lèo tèo để bán đồ ăn thức uống cho khách của xe đò chạy đường Pleiku-Phú Bổn hay Pleiku-Ban Mê Thuột. Hôm đó dân chạy loạn từ Phú Nhơn ra rất đông, từ những làng Thượng, hoặc mấy khu dinh điền và những người làm ăn buôn bán chung quanh quận lỵ. Đồng bào thấy lính đi tái chiếm quận, họ rất mừng rỡ, người hỏi thăm, người cho quà bánh. Để đáp lại tấm thạnh tình, đám lính tặng lại dân chúng thuốc lá và những đồ hộp Quân Tiếp Vụ. Họ ở quận nhỏ xa xôi cũng nghèo khổ như lính vậy thôi.

Từ sáng sớm, lo đốc thúc tải đạn, sửa soạn xe cộ, đại bác, hàng trăm thứ phải làm cho 1 cuộc trực thăng vận, cho nên bao tử đã cồn cào. Phi cơ câu súng đại bác phải xin từ căn cứ Mỹ ở Quy Nhơn lên, nên chờ cũng còn lâu. Tôi rủ anh chàng Chuẩn Úy Trung Đội Phó kiêm Đề Lô vào quán bên đường kiếm cái gì lót bụng. Dân quận lỵ bu lại hỏi thăm tình hình, đánh nhau có lâu không? chừng nào có thể về quận được? Toàn những câu hỏi mà chỉ có Trời mới trả lời được. Có tiếng một cô gái hỏi thăm ông chủ quán người Việt gốc Hoa:

– Mấy anh ấy đi giải tỏa quận Phú Nhơn phải không ông chủ.

– Tôi đoán vậy, cô thử hỏi mấy ổng coi.

Tôi quay lại, người vừa hỏi là 1 thiếu nữ độ đôi mươi, nàng mặc chiếc áo dài trắng học trò, trông rất hiền thục, đang hỏi thăm người chủ quán, tôi hỏi lại cô gái:

– Sao cô đoán tụi này đi giải tỏa Phú Nhơn?

– Em mới từ Tuy Hòa lên Pleiku hôm qua. Sáng nay đáp xe đò vô quận, không ngờ kẹt từ sáng đến giờ.

– Cô cũng ở quận Phú Nhơn sao?

– Em dạy ở trường tiểu học Phú Nhơn, còn nhà em ở Tuy Hòa.

– Cô nên về Pleiku kiếm chỗ ngủ đỡ qua đêm nay.

– Em không có ai quen ở Pleiku cả, vả lại em nóng lòng không biết nhà cửa, trường ốc ra sao?

– Cô có lo lắng thì cũng chẳng làm gì được, tốt hơn hết là kiếm chỗ nào nghỉ đỡ qua đêm nay, chờ giải tỏa xong mới về được.

– Đám học trò của em chạy ra đây cũng đông lắm, em không thể bỏ chúng được. À này các anh đừng pháo vào trường học nghe.

Tôi vỗ vai Châu Đề Lô vừa cười vừa nói:

– Cái đó cô phải nhờ ông Châu mới được, ổng chỉ đâu là nơi đó thành bình địa.

Châu vội lên tiếng:

– Trường của cô giáo tụi này không dám đụng tới đâu.

Tôi chế giễu Châu:

– Bạn hứa một mình chứ không có tôi can dự trong đó đâu nghe. À nãy giờ mình nói chuyện mà quên giới thiệu. Tôi tên Lập, anh bạn này tên Châu. Còn quý danh cô là...

– Em tên là Quỳnh Hoa, các anh hứa là phải giữ lời đó à nghe!

Tôi chọc ghẹo Quỳnh Hoa:

– Nếu thế thì QuỳnhHoa phải đền cái gì mới được chứ!

Tôi nhìn người con gái nước da trắng hồng, mịn màng như trứng gà bóc, đôi môi đỏ như cánh bích đào, cặp mắt to đen láy trông thật thông minh lanh lẹ, mái tóc thề phủ xõa ngang lưng, nụ cười tươi như hoa với hàm răng đều đặn như những hạt bắp vừa đủ lớn. Nhìn Quỳnh Hoa đứng giữa đám học trò nhà quê lem luốc bẩn thỉu, tôi có cảm tưởng nàng là bà tiên giáng trần, đang cầm cây đũa thần gõ trênđầu đám chúng sinh đầy đau khổ. Nàng rất bạo dạn tuy hơi lo lắng nhưng không có cái e lệ như những cô gái kinh thành. Tôi tự nhủ:

– Bông hoa vương giả này sao lại mọc ở chốn rừng không mông quạnh này nhỉ?

Quỳnh Hoa thấy tôi nhìn cô chăm chú, có vẻ mắc cỡ đôi má càng hồng hào thêm, còn đang phân vân chưa biết trả lời ra sao, Châu vội đề nghị:

– Thôi bữa nào giải tỏa xong, đãi tụi này một bữa cơm dân dã được không Quỳnh Hoa?

– Em nấu ăn dở lắm, nhưng em sẽ đãi các anh một chầu bún bò Huế, được không?

Tôi làm bộ nuốt nước miếng:

– Ôi chao, chưa thấy mùi mà đã thèm nhỏ dãi rồi.

Có tiếng trực thăng từ xa vọng lại, chúng tôi từ giã Quỳnh Hoa rồi vội vã đốc thúc anh em binh lính để cuộc di chuyển được mau chóng. Bình, anh chàng tài xế xe jeep của tôi chạy lại hỏi:

– Mình cần về hậu cứ lấy thêm gì nữa không ôngThầy?

– Chắc đủ rồi, vả lại cũng không còn kịp nữa.

Tôi móc túi đưa cho Bình một ít tiền lẻ và nói:

– Em vào trong quán mua vài gói mì và một hộp trà, tối nay mình ăn mừng chiến thắng.

Bình cầm tiền, nheo mắt chọc tôi:

– Cái cô hồi nãy coi bộ chịu đèn ông Thầy lắm rồi đó nghe.

Tôi thấy thích thú trong lòng nhưng cũng làm bộ chống chế:

– Con gái đời nay đẩy đưa lắm, đừng tưởng bở.

Trời bắt đầu đổ mưa khi trực thăng vừa bốc 2 khẩu đại bác. Tôi nhìn bầu trời đen nghịt mà lo lắng cho những giờ phút nguy hiểm gian lao sắp tới bởi vì tôi vừa phải chiến đấu với địch quân vừa phải yểm trợ cho quân bạn ngay từ phút đầu trong thời tiết mưa gió bão bùng này. Những cơn mưa trên miền núi thường dai dẳng và mang theo gió lạnh thấm đến tận xương tủy của những người lính Pháo Thủ, vừa thiếu ăn vừa phải làm việc cực nhọc. Tôi thầm hỏi liệu đêm nay trực thăng có kịp đổ quân để bảo vệ 2 con gà cồ của mình không?

2 khẩu đại bác cùng với 4 túi đạn 105 ly và chiếc xe Jeep được thả xuống một ngọn đồi trọc. Dưới cơn mưa tầm tã, đất đỏ lầy lội, đám pháo thủ thoăn thoắt làm việc: hì hục đẩy 2 khẩu pháo lại gần nhau, khuân vác đạn dược, dựng cây truyền tin, nhắm hướng súng. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, những trái đạn đầu tiên đã được phóng đi liên tục để dọn bãi đáp cho 2 tiểu đoàn Bộ Binh đổ bộ xuống mục tiêu.

Trận tái chiếm quận Phú Nhơn hôm đó đã thành công hoàn toàn nhưng Châu Đề Lô đã bị thương nặng, một mảnh đạn B40 của địch quân đã chọc một lỗ lủng lớn ở bụng của hắn. Toán Pháo Binh được di chuyển về phía sau quận hành chánh để sẵn sàng yểm trợ cho lực lượng bảo vệ quận.

Một buổi sáng, sau khi sửa sang tuyến phòng thủ tạm ổn định, tôi ghé thăm Quỳnh Hoa. Ngôi trường chỉ bị thiệt hại nhẹ. Anh em quân nhân trong quận đang giúp một tay sửa sang những chỗ bị trúng đạn. Tôi đến bên lớp học của Quỳnh Hoa, nàng đang say sưa tập hát cho các em nhỏ. Có tiếng một em bé báo động:

– Thưa cô có Ông Lính tới kiếm.

Nàng quay lại, gật đầu chào. Tôi ướm thử xem nàng còn nhận ra tôi không:

– Ông Lính kính chào Cô Giáo, Cô Giáo còn nhớ Ông Lính này không?

Nàng không thể nhịn cười được lối diễu cợt của tôi, nhưng cũng chẳng chịu thua:

– Ông Lính đi đâu mà lạc vô đây?

– Ông Lính đi lạc vào Thiên Thai đó ạ, không biết Tiên Nữ có cho Ông Lính thăm rừng Đào Tiên không?

Nàng cũng lém lỉnh không vừa trả lời tôi bốp chát:

– Ông Lính tỉnh lại đi, đây là chốn phàm tục, làm gì có nàng Tiên nào đâu.

– Chứ Quỳnh Hoa không phải là Tiên sao?

Nàng nghe tôi khen không khỏi e thẹn:

– Anh Lập làm Quỳnh Hoa mắc cỡ quá hà! Người ta xấu như ma mà so sánh với Tiên, anh có mơ ngủ không đấy? Anh Châu có khỏe không anh Lập?

– Châu bị thương nặng đang nằm ở quân y viện Pleiku.

– Trời ơi, có nguy hiểm lắm không anh?

Thấy mặt Quỳnh Hoa biến sắc, tôi thấy hơi ghen tỵ với bạn mình, nhưng vội trấn an:

– Chắc không đến nỗi nào, nhưng phải nằm nhà thương một thời gian.

– Hôm nào anh có đi thăm anh Châu cho em đi theo với nghe.

Tôi tự nhủ thầm sao nàng dễ xúc động như vậy nên hứa đại cho xong chuyện:

– Cuối tuần tôi phải về hậu cứ nhân tiện ghé đón Quỳnh Hoa đi thăm Ông Châu luôn thể, được không?

– Gia đình ảnh đã biết tin chưa vậy anh Lập?

– Gia đình ảnh ở Pleiku đã được thông báo rồi.

Tôi hỏi thăm qua loa về tình trạng trường ốc và nơi ở của nàng rồi vội vã cáo lui, hẹn gặp lại sáng thứ bảy. Quỳnh Hoa hiện ở trọ tại nhà bà Hiệu Trưởng, một người bạn cũ của gia đình nàng. Chồng bà cũng là một cựu quân nhân giải ngũ, có tiệm tạp hóa ngoài chợ.

Sáng thứ bảy, tôi cho tập họp Trung Đội, giao doanh trại cho Ông Thượng Sĩ Thường Vụ rồi hối đám quân xa chuẩn bị xe cộ về hậu cứ lãnh lương thực và đạn được. Tôi gọi Bình vào văn phòng rồi dặn:

– Bình à, coi lại xe cộ, xăng dầu đầy đủ, bữa nay mình về hậu cứ đồng thời ghé thăm ông Châu luôn thể. À hôm nay có một người bạn xin quá giang nữa nghe.

– Ai vậy ông Thầy?

– Cô giáo bữa mình gặp ngoài ngã ba Hàm Rồng đó nhớ không em?

– Ồ, vậy em phải rửa xe cho thật sạch mới được.

– Lính tác chiến mà chú mày làm như lính kiểng ở thành phố không bằng, không sợ tụi hậu cứ nó cười sao?

– Sức mấy mà tụi nó dám cười thầy trò mình.

Tôi ghé lại nhà Quỳnh Hoa, nàng đã chờ sẵn, vẫn chiếc áo dài trắng hôm nào. Nét mặt vui vẻ, nụ cười tươi như hoa trông mới duyên dáng làm sao! Nàng bước ra cửa đón tôi:

– Chào anh, mời anh vào trong nhà uống miếng nước đã.

– Chào cô Quỳnh Hoa, cám ơn cô để khi khác, thôi chúng ta lên đường kẻo trễ.

Đến hậu cứ, tôi nhận tiếp liệu rồi hẹn tất cả tập trung lúc 2 giờ chiều để trở ra Phú Nhơn. Tôi chở Quỳnh Hoa vào bệnh viện. Châu vẫn còn thiếp trong giấc ngủ mê, khuôn mặt trắng bệch, hơi thở yếu ớt. Bà mẹ của Châu nhìn thấy chúng tôi thì không cầm nổi nước mắt. Bà bắt đầu thút thít khóc. Tôi tự hỏi trong những ngày qua người mẹ đau khổ này đã đổ bao nhiêu nước mắt cho đứa con yêu dấu của mình. Chiến tranh thật tàn nhẫn! Nó như một con quỷ luôn luôn cười cợt trên sự đau khổ của con người. Nó lấy xác chết làm chiến lợi phẩm. Quỳnh Hoa nhìn thấy Châu, bỗng hai hàng lệ tuôn trào. Tôi đưa chiếc khăn tay, nàng cầm lấy, che lên mắt và đi vội ra ngoài. Tôi không ngờ nàng quá nhạy cảm và thương tâm như vậy đối với một người bạn mới quen. Tôi an ủi bà mẹ của Châu mấy câu rồi vội vã đi tìm Quỳnh Hoa. Nhìn nàng đứng dựa chiếc cột ngoài hành lang bệnh viện, đôi vai rung lên từng hồi, có lẽ nàng đã quá xúc động. Tôi chẳng biết làm sao để an ủi nàng. Miệng lưỡi cứng đơ, chân tay thừa thãi, tôi lặng lẽ đến bên nàng, mắt tôi cũng bắt đầu nhòa lệ, tôi ôm lấy đôi vai bé bỏng của nàng. Quỳnh Hoa quay mặt lại và úp mặt vào vai tôi khóc nức nở như một đứa con nít. Có lẽ những đau khổ thầm kín lâu nay được dịp tuôn ra theo dòng nước mắt. Tôi để mặc nàng khóc cho vơi mối thương tâm. Một vài người đi ngang dòm chúng tôi với đôi mắt dò hỏi rồi bỏ đi. Chuyện khóc lóc có lẽ quá bình thường ở nhà thương. Nàng khóc một lúc rồi im lặng, chỉ còn những tiếng nấc nghẹn ngào. Tôi an ủi nàng:

– Em đừng khóc nữa, anh Châu chắc không đến nỗi nào đâu, mẹ ảnh nói Bác Sĩ cho hay ảnh đã qua cơn hiểm nghèo rồi chỉ chờ bình phục thôi.

Nàng thì thầm bên tai tôi:

– Em nhớ ba em hồi đó, cũng nằm ở bệnh viện này trong cơn hấp hối, nên em không cầm nổi nước mắt, xin anh tha lỗi cho em.

– Anh xin lỗi em, không ngờ cuộc thăm viếng này đã gợi cho em những đau đớn như vậy.

– Anh đừng nói vậy, anh không có lỗi gì cả, chỉ vì em tủi thân đó thôi.

Khi đã tỉnh trí, nhìn thấy một bên vai áo tôi ướt đẫm nước mắt, có lẽ thấy hơi ngượng ngùng nên Quỳnh Hoa đẩy nhẹ tôi ra và lí nhí mấy lời xin lỗi. Tôi vội dìu nàng ra xe và rủ ra ngoài phố kiếm gì ăn.Tôi dẫn Quỳnh Hoa vào quán như một đôi tình nhân gắn bó bên nhau. Những cặp mắt nhìn soi mói của đám thực khách mà quá nửa là lính tráng khiến nàng hơi bối rối. Tôi nhìn nàng với đôi mắt nồng nàn, thầm cám ơn Thượng Đế đã cho tôi có dịp làm quen với người con gái dễ thương và thùy mị như vậy. Sự hiện diện của nàng trong đời sống cô đơn và đầy hiểm nguy ở nơi tiền đồn bất trắc khiến tôi thấy những gánh nặng trên vai bỗng nhẹ hẳn đi.Quỳnh Hoa là một dòng suối ngọt, một bóng mát, một hy vọng, một nơi yên tĩnh, êm đềm cho linh hồn và thể xác mệt mỏi của tôi trong cuộc chiến tàn nhẫn đầy máu và nước mắt này.Tôi luôn cảm thấy rằng sau nét mặt vô tư ngây thơ, Quỳnh Hoa có một sức thu hút kỳ lạ, giống như một vùng đất mới chứa đầy những bí mật quyến rũ đối với những nhà thám hiểm. Đúng vậy, nàng chính là sự thiêng liêng kỳ bí, một vườn địa đàng cho riêng tôi. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao nàng quá đau lòng khi thăm Châu trong bệnh viện nên muốn tìm hiểu thêm:

– Quỳnh Hoa ở Phú Nhơn lâu chưa?

– Độ gần 1 năm thôi, em ra trường sư phạm cấp tốc rồi xin đổi về đấy ngay.

– Sao em không xin dạy ở gần nhà có phải tiện hơn không?

– Ngày xưa, ba em làm QuậnTrưởng Phú Nhơn. Người đã bỏ cả cuộc đời để xây dựng và cải tiến cái quận đèo heo hút gió này. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dân chúng từ miền ven biển và từ ngoài Bắc di cư lên đây lập nghiệp rất đông, đã được chính quyền tận tình giúp đỡ. Nhưng rồi trong một cuộc đi thăm đồn điền của một xã phía tây quận lỵ, ba em đã lọt vào ổ phục kích và bị sát hại. Em lớn lên, muốn tiếp nối cái hoài bão của ba em là nâng cao dân trí để họ có thể hiểu được ý nghĩa của sự tự do, dân chủ, công bình và lẽ phải.

Tôi thầm nghĩ những mỹ từ tự do, dân chủ thật quá mơ hồ đối với những người lính tác chiến, với đám dân quê nghèo thất học ở đây. Gia đình, vợ con, miếng cơm, manh áo, mạng sống, có lẽ gần gũi hơn. Tôi thấy vừa kính nể vừa thương hại người con gái mới lớn mang trong lòng một hoài bão quá lý tưởng, quá to lớn. Nàng đúng là một Tiên Nữ mà Thượng Đế đã gởi xuống cõi trần đầy khổ đau này.

Sau nhiều lần đi thăm Châu, chúng tôi thấy gần gũi nhau hơn. Tôi tìm thấy ở nàng một niềm vui, một ước mơ, một mái ấm gia đình cho tương lai. Vùng đất hoang vu này trở nên tươi mát đáng yêu bởi vì chỗ nào cũng thấy đóa hoa quỳnh nở rộn ràng.

Chúng tôi đã yêu nhau, có núi rừng và con sông nhỏ chảy qua quận lỵ làm chứng. Con sông thật hiền hòa và dễ thương như người tôi yêu.Bên bờ sông những hàng cây phượng vĩ nở đỏ rực mỗi mùa hè. Mùa mưa nước phù sa đỏ ửng từ trên ngàn chảy cuồn cuộn xuống ngập gần hết cây cầu sắt nhỏ bắc qua sông. Cây cầu nhỏ sơ sài có vài nhịp, bề ngang chỉ đủ cho 1 chiếc xe đò qua lại. Mùa nắng, nước cạn trơ những bãi cát trắng tinh. Người ta đào cát thành những vũng nước trong, gánh về để uống. Giữa lòng sông nước trong vắt chảy lững lờ, nhìn thấy cát và sỏi tận dưới đáy. Mấy chàng Pháo Thủ thường ra tắm sông để được chiêm ngưỡng những nàng thôn nữ cao nguyên ngực no tròn và tự nhiên một cách vô tư. Tôi yêu núi rừng cao nguyên, mỗi buổi sáng thức dậy đứng trên đồi nhìn chung quanh chỉ thấy một màu xanh rì, mênh mông như biển cả. Tôi yêu con sông bé nhỏ, tôi yêu cây cầu sắt cũ kỹ đưa người qua sông, tôi yêu hàng phượng vĩ học trò, tôi yêu sân trường tiểu học Phú Nhơn, tôi yêu con đường nhựa bé bỏng chạy qua quận lỵ và băng qua núi rừng cao nguyên. Tôi yêu và yêu rất nhiều, bởi vì ở đâu cũng thấy hình bóng của nàng. Tôi yêu vô cùng những buổi chiều hai đứa dẫn nhau ra bờ sông, lang thang dưới những hàng cây xanh um, hoặc ngồi trên thành cầu nhìn dòng nước hững hờ trôi. Nàng ngồi bên tôi, đong đưa hai bàn chân trắng muốt, cười nói vô tư như một Thiên Thần. Trời đất, vũ trụ, thời gian như ngừng hẳn, ôi đẹp đẽ và thanh bình đất nước tôi! Ở đó, bấy giờ, không nghe tiếng súng nổ, không nghe tiếng gầm gừ của máy bay phản lực, không gian hoàn toàn yên tĩnh.

Chúng tôi đã dệt những giấc mộng tương lai đơn sơ và êm đềm. Tôi thì thầm bên tai nàng:

– Quỳnh Hoa ơi, mai này chiến tranh chấm dứt, anh sẽ cất một căn nhà bên bờ sông này, em sẽ tiếp tục dạy học, còn anh sẽ biến vùng đất màu mỡ này thành một đồn điền trù phú, em có chịu không?

– Anh trồng cho em một vườn trái cây mít, ổi, xoài, đu đủ, mảng cầu nghe anh.

– Ừ, anh sẽ trồng bất cứ cây gì em muốn.

– Anh hứa thương em và chiều chuộng em như ngày xưa ba yêu thương và chiều chuộng em nghe.

– Anh hứa.

– Anh đừng bỏ em, như ba đã bỏ em một mình, em sợ lắm.

– Không, anh sẽ không bỏ em một mình.

– Nghe anh nói thơ mộng và sung sướng quá, cám ơn Trời Phật đã cho em gặp anh. Có lẽ ba đã run rủi cho em gặp anh đó. Lập ơi, em thương anh lắm, anh biết không?

– Sao em thương anh nhiều dữ vậy?

– Không biết nữa, có lẽ em thấy anh giống ba em. Anh chiều chuộng em, anh là người lớn, bao dung, đại lượng, biết nhiều, hiểu nhiều. Anh biết không, hôm em gặp anh đi hành quân, em thấy anh oai hùng quá, giống như ba em ngày xưa. Mấy ông lính thương anh lắm phải không?

– Không, mấy ông ấy ghét anh lắm.

– Cái mặt xạo, ai mà ghét anh. Anh nhiều đào lắm phải không? Nói cho em nghe đi.

– Có mình em thương anh thôi, thiệt đó.

Tôi ngồi bên nàng, uống từng giọt tình yêu ngọt ngào, nghe trái tìm mình đập từng điệu nhạc run rẩy trên lối vào Thiên Đường chỉ có hai đứa chúng tôi. Nàng đã dạy cho tôi biết mơ mộng, thấy đời đáng yêu hơn, những thứ đó tôi đã đánh mất từ khi mới lớn, từ khi bước chân vào quân ngũ, tôi vẫn nghĩ tuổi trẻ của tôi đang đi vào ngõ cụt với những giấc mơ hãi hùng. Đời tôi thật trống rỗng nếu không có nàng. Tôi thấy yêu thương nàng quá đỗi. Quỳnh Hoa vẫn còn vẽ những giấc mơ của nàng nhưng tôi không còn nghe gì cả, chỉ thấy cánh môi hồng mấp máy, hơi thở thơm tho mùi mía lùi phà trên mặt tôi. Bất chợt, tôi ôm và hôn nàng say đắm, người nóng bừng như có dòng điện chạy ào ạt từ tim lên đầu. Nàng đẩy nhẹ tôi ra:

– Coi kìa, người ta cười mình đó.

– Ai mà dám cười mình.

Nàng đánh trống lảng, bâng quơ hỏi tôi:

– Anh ơi, cây cầu này có tên không anh?

– Anh cũng chẳng biết nữa, hay là mình đặt cho nó một cái tên làm kỷ niệm nghe.

– Em cho anh đặt đó.

– Ừ, hay là mình gọi là Cây Cầu Biên Giới nghe em.

– Cái tên nghe cũng hay đấy, nhưng mà nghe có vẻ chia ly quá. Giống như trong bài “Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu” của Nguyễn Văn Đông vậy.

Tôi phì cười:

– Mới thương nhau mà em đã nghĩ đến chuyện chia ly rồi.

– Nhưng mà em sợ lắm, thời buổi chiến tranh... Lỡ mai này, anh bỏ em ở đây một mình, em buồn lắm đó.

Tôi cố gắng đặt niềm tin vào trái tim đang hoang mang của nàng:

– Không, anh sẽ không bỏ em một mình, anh sẽ xin với mẹ để cưới em, chúng ta sẽ mãi mãi bên nhau.

Nàng reo lên sung sướng như một đứa con nít, mắt sáng ngời những tia hy vọng, rồi ôm lấy tôi. Ôi mùi thơm ngọt ngào, tôi làm bộ đẩy nhẹ nàng ra:

– Coi chừng người ta thấy, họ cười mình đó.

Vẻ mặt hân hoan, nàng không còn e dè gì nữa, trả lời tôi một cách táo bạo:

– Ai cười hở mười cái răng!

Thật không ngờ, nơi rừng rú hoang vu nguy hiểm này ai nghe đến cũng rợn tóc gáy. Bạn bè, người thân, lâu không gặp nhau, hỏi tôi bây giờ ở đâu, tôi trả lời ở quận Phú Nhơn tỉnh Cheo Reo, ai cũng lè lưỡi chọc tôi bộ hết đất rồi sao lên miền Thượng ở vậy, tôi chỉ cười khì. Bây giờ tôi đã có lý do để trả lời họ... Bởi vì tôi mê hoa quỳnh, thế thôi.

– Anh làm gì ngồi thừ ra thế, hãy nói tiếp về tương lai của chúng ta cho em nghe đi.

– Anh đang sung sướng quá nên làm 1 bài thơ kỷ niệm.

– Ồ, anh biết làm thơ nữa sao? Hãy đọc em nghe đi, em sẽ thưởng cho anh.

– Ừ, anh đọc thơ con cóc, em đừng cười nghe. Em biết thơ con cóc không? Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra.

Nàng đọc tiếp:

– Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi...với anh!!! Em thích thơ con cóc lắm. Em sẽ làm con cóc như trong chuyện cổ tích gì đó, anh học trò có người vợ cóc xấu xí, đêm đêm hiện nguyên hình là một nàng Tiên săn sóc cho chồng. Ban ngày là một con cóc lẽo đẽo theo chồng.

– Nếu em là một nàng Tiên cóc, anh sẽ bỏ em vào ba lô mang theo khi đi hành quân để lúc nào em cũng ở bên anh.

– Anh phải đọc thơ cóc cho em nghe. Ơ, nếu vậy mấy ông lính sẽ gọi anh là người điên đó.

– Điên vì em, thì anh cũng chịu.

Nàng bá cổ tôi nũng nịu:

– Thôi đừng đánh trống lảng, đọc thơ con cóc cho em nghe đi anh.

– Ừ, anh đọc nghe, cấm cười đó, đứa nào cười anh khóa miệng lại cho mà coi.

Thế là tôi phải đọc bài thơ con cóc của tôi cho nàng nghe:

Chiều về thấp thóang bên sông,
Thấy Quỳnh thơm ngát thấy lòng xôn xao.

Nàng cười rũ rượi, hai tay đánh liên hồi vào vai tôi.

Một ngày như mọi ngày trôi qua, trong thung lũng tình yêu, bên cây câu biên giới, nỗi chết đã chịu tạm rút lui, để nhường chỗ cho tình yêu hoa bướm ngọt ngào. Tôi lấy con dao găm đeo bên mình khắc câu thơ trên thành cầu sắt để đánh dấu một chặng đường yêu đương...

******
Tôi đánh rơi giấc mơ trên con đường nóng bỏng khi nghe ông tài xế léo nhéo bên tai:

– Anh muốn vào chợ hay đến nhà ai ở quận Phú Nhơn?

Tiếng người tài xế kéo tôi về thực tại. Giấc mơ thật ngắn ngủi, như cuộc tình của chúng tôi.

– Anh cho tôi lại trường tiểu học.

Quang cảnh vẫn không thay đổi mấy, ngôi trường tiểu học vẫn như xưa. Thời gian như ngừng trôi ở quận lỵ nhỏ bé này. Phố chợ đìu hiu vẫn còn kia, hàng rào kẽm gai chung quanh doanh trại nơi tôi đóng quân vẫn còn đó, nhưng chẳng ai biết đến một người con gái đẹp như hoa quỳnh đã từng in dấu chân nơi chốn này. Hình ảnh ngày xưa vẫn còn đủ chỉ thiếu một người. Tôi hối người tài xế chạy ra phía cây cầu. Chiếc cầu sắt nhỏ bé đầy dấu kỷ niệm, tôi như trong giấc mơ, chàng Tú Uyên ngày xưa khi tỉnh giấc không thấy người đẹp trong tranh đâu nữa, chắc cũng ngỡ ngàng như tôi hôm nay thôi. Tôi bước lên cầu, ngồi đúng vào chỗ ngày xưa chúng tôi đã từng có một thời mơ mộng. Tôi ngồi bệt xuống, hai chân đong đưa, mắt nhìn xa xăm trên những ngọn phượng vĩ bên sông, cố tìm chút nắng vàng ngày xưa của một buổi chiều tà. Tìm mãi cũng chẳng thấy đâu, không thấy một dấu tích gì của nàng. Nơi thành cầu này tôi đã hôn những nụ hôn đầu tiên trong đời, vẽ những giấc mơ đầu tiên trong đời và những bài thơ con cóc đầu tiên trong đời tôi. Đúng là cây cầu chia ly như nàng đã nói. Bây giờ nàng ở đâu, hay đã bỏ xác trên tỉnh lộ Số 7 trên đường di tản về Tuy Hòa. Ồ phải rồi, tôi phải tìm lại bài thơ con cóc, có lẽ đó là kỷ niệm duy nhất còn lại của tôi với nàng. Tôi dò từng tấc sắt trên thành cầu, bài thơ còn đó nhưng đã dài thêm hai câu:

Chiều về chiều vẫn một mình,
Trách người năm cũ bỏ tình bơ vơ.

******
Tôi bay về Hoa Kỳ lòng buồn miên man, bao nhiêu háo hức của ngày trở lại Việt Nam đã tiêu tan đâu mất chỉ còn lại sự mệt mỏi và chán chường. Tôi đã đi mọi nơi, để tìm tung tích của Quỳnh Hoa nhưng cũng không có tin tức gì. Ngày ấy nếu tôi không bị kẹt ngoài Huế, chắc chúng tôi đã chết bên nhau hay cùng nhau lênh đênh trên con tàu vượt biển. Thời gian thấm thoát trôi đi, tóc tôi đã bắt đầu điểm bạc. Mỗi lần đi đâu, thấy bóng dáng mái tóc thề và chiếc áo dài trắng lòng tôi lại xôn xao như ngày nào bên chiếc Cầu Biên Giới.

Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn

Blog Archive