Showing posts with label Nguyễn Văn Tới. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Văn Tới. Show all posts

Wednesday, July 1, 2026

UAV (Unmanned Aerial Vehicles)

Wikipedia. Kettering Bug trên bệ phóng. $400/ 1 chiếc. Tầm hoạt động 40 dặm. Động cơ 2 thì, 40 HP do Ford sản xuất.

UAV thời nay được gọi là phương tiện điều khiển không người lái, hay còn được gọi là vũ khí điều khiển từ xa. Thực ra, UAV không phải là loại vũ khí mới mẻ gì, nó đã được chế tạo vào năm 1918 bởi hãng Dayton-Wright Airplane Company tại Hoa Kỳ vào cuối Thế Chiến thứ I, với cái tên là Kettering Bug. Ngày nay, UAV được chế tạo tối tân hơn, và sử dụng rộng rãi, thành công, tỏ ra rất hiệu quả trên chiến trường.

Vũ khí UAV bây giờ không chỉ tàn phá, san bằng những tòa cao ốc thành những đống gạch vụn, nó được chính con người tạo ra để giết con người. Tiếc thay, ngày nay, thế giới vẫn chưa học được cách ngừng làm tổn thương nhau và vẫn chạy đua vũ trang để tiêu diệt lẫn nhau.

Chúng ta không cổ võ chiến tranh, nhưng phải biết tự vệ khi có kẻ thù mạnh hơn xâm chiếm đất nước mình. Vì vậy, vũ khí là điều ắt có và phải có. Ngoài các loại vũ khí quy ước như đạn pháo, bom, hỏa tiễn liên lục địa, máy bay, xe thiết giáp, thứ vũ khí mà các nước đang sử dụng phổ biến nhất hiện nay là máy bay không người lái, gọi tắt là UAV (Unmanned Aerial Vehicles).

Cuộc chiến tranh Russia (Nga) xâm lăng Ukraine, lấy thịt đè người, từ tháng 2 năm 2022 vẫn đang tiếp diễn và chưa có hy vọng gì kết thúc sớm. Cuộc chiến tranh kế tiếp của Mỹ và đồng minh Do Thái chống thần quyền Iran, cũng vào tháng 2, quyết không cho nước này sở hữu vũ khí hạt nhân, đang nóng lên từng ngày, lúc thì ào ạt, vũ bão, lúc ngưng lại để hòa đàm. Để rồi lại không đi đến đâu. Thế giới vẫn lo lắng lẫn hồi hộp theo dõi vì nó ảnh hưởng đến cuộc sống của toàn thể nhân loại, cho dù người đó đang ở đâu, trên quả điạ cầu này.

Vì bắt buộc phải tự vệ, chống lại anh láng giềng khổng lồ xấu tính, Ukraine vẫn kiên cường chiến đấu từng bước, được hỗ trợ từ Mỹ và các nước Âu Châu, họ tự tìm tòi, học hỏi và trở thành nước dẫn đầu về cách sử dụng máy bay không người lái và các phương tiện điều khiển từ xa. Các nước Tây Âu, kể cả Mỹ đều phải nghiêng đầu bái phục và phải học hỏi chiến thuật UAV từ Ukraine.

Chàng David-Ukraine nhỏ con đã dạy tên khổng lồ Goliath-Russia bài học thiệt hại nằng nề về nhân mạng, khí tài, và tiêu hao tiền bạc đáng kể, phải đi cầu viện thêm lính bắc Hàn và tuyễn mộ lính đánh thuê từ Châu Phi. Đây là con số mới nhất về số lính tử trận giữa Russia và Ukraine dựa theo ước tính của khối NATO:

Russia: 230,000 - 430,000 binh sĩ tử trận, chưa kể bị thương.

Ukraine: 100,000 - 140,000 binh sĩ tử trận, chưa kể bị thương.

Và cuộc chiến Mỹ/Do thái - Iran.

US: 13 - 15 binh sĩ tử trận.

Israel: 24 - 35 binh sĩ tử trận.

Iran: 3,100 – 3,468 tử trận, chưa kể các tướng và thủ lĩnh cao ấp bị tiêu diệt do chiến đấu cơ oanh tạc vào nơi đang hội họp.

Ngoài máy bay không người lái UAV, còn có loại tàu thủy không người lái USV (Unmanned Surface Vehicle), và xe tự hành UGV (Unmanned Ground vehicle). Trong bài này, chúng tôi sẽ nói đến UAV đánh chặn (interceptors), vì loại này được dùng phổ biến nhất trong cuộc chiến chống khủng bố ở Trung Đông và nó đã biến chiến tranh ngày nay thành một cuộc chiến không giống bất cứ cuộc chiến nào trong quá khứ, khiến một cường quốc như Russia phải khốn đốn vì tiêu hao nhân mạng quá nhiều, biến một cuộc chiến không cân sức thành một cuộc so tài bên 8 lạng người nửa cân.

Máy bay không người lái đánh chặn: RoadRunner - M. Cao 5 ft.

Để đánh chặn một máy bay, một hỏa tiễn liên lục địa hay bất cứ vũ khí trên không nào khác, trong trường hợp này là một UAV của kẻ thù đang xâm phạm bầu trời chúng ta, loại UAV đánh chặn phải tối tân hơn về mọi mặt và nhất là phải bay nhanh hơn, chính xác hơn, dễ sử dụng hơn, và quan trọng nhất là rẻ tiền.

Trước đây, Hoa Kỳ, đã sử dụng hỏa tiễn Patriot và một số vũ khí đánh chặn khác để bảo vệ tính mạng quân lính và các căn cứ Mỹ ở mọi nơi trên thế giới. Tuy chúng ta thành công, nhưng hậu quả là tốn kém quá nhiều. Nếu chiến tranh kéo dài, chúng ta sẽ không đủ tiền đánh nhau theo kiểu con nhà giàu. Iran có thừa kiên nhẫn, Hoa Kỳ thì không.

Trong cuộc chiến hiện nay với Iran, họ phóng những loại UAV tự sát Sahed rẻ tiền, sản xuất hàng loạt dễ dàng, giá thành khoảng $30,000 một chiếc; chúng ta đánh chặn thành công bằng loại Interceptor UAV như Coyote của Raytheon hay các loại khác, giá đắt hơn gấp nhiều lần, có thể lên tới $900.000 một chiếc. Kinh nghiệm từ Đệ II Thế Chiến của phe Đồng Minh chống phe Trục gồm 3 nước Đức-Ý-Nhật. Nhờ vũ khí của Hoa Kỳ vừa rẻ vừa sản xuất hàng loạt, tuy không tối tân hơn, vẫn thắng được cuộc chiến, bài học vẫn còn sờ sờ ra đó.

Nhận ra điểm yếu của mình, Hoa Kỳ vừa đưa ra một loại UAV đánh chặn rất tối tân, hiệu quả, có thể sản xuất hàng loạt vừa túi tiền, có thể xài máy in 3-D printers, in ra hằng trăm chiếc một ngày, đó là Interceptor-UAV RoadRunner-M, cao 5 feet, loại tự động đánh chặn không cần người điều khiển từ xa, do công ty Anduril mới khởi nghiệp, một tên tuổi ít người biết đến, được sáng lập bởi Palmer Luckey, 32 tuổi, cũng là cha đẻ của kính Oculus 360.

Đây là loại UAV, cũng được gọi là AVV (Autonomous Air Vehicle), sử dụng AI tự động điều khiển và ra lệnh, trang bị 2 máy phản lực (twin turbo jets), được thiết kế để truy lùng và tiêu diệt UAV hay bất cứ hỏa tiễn, máy bay nào.

Tính năng đặc biệt của RoadRunner, khác với tất cả UAV, nó cất cánh thẳng đứng như trực thăng (VTOL), bay rất nhanh, nếu không có mục tiêu, nó sẽ trở về lại nhà an toàn như phi thuyền không gian SpaceX của Elon Musk lúc trở về trái đất. Không giống như các interceptor-UAV khác, khi được phóng lên, sẽ một đi không trở lại, sẽ tự hủy và sẽ không được sử dụng lại. Điều này, tiết kiệm được rất nhiều tiền.

Khi được phóng từ một “launcher” di động và cũng là tổng đài liên lạc trực tiếp, nó bay thẳng lên một độ cao nhất định theo chiều thẳng đứng (vertical) rồi chuyển sang chiều xoay ngang (horizontal), bắt đầu uyển chuyển tự thay đổi phương hướng, kiếm mục tiêu, tăng tốc độ lao tới rất nhanh chạm vào vật thể bay đó và phát nổ. Trường hợp mục tiêu đó đã bị tiêu diệt, nó sẽ bay lượn trên không, kiếm mục tiêu khác, nếu không có, nó sẽ tự động bay về lại launcher và đáp xuống an toàn, nạp thêm nhiên liệu, sẵn sàng cho nhiệm vụ kế tiếp.

Cái hay và vượt lên trên các loại UAV khác, RoadRunner được sử dụng lại, không phải tự hủy nếu không gặp mục tiêu. Nó bay với tốc độ âm thanh, được kiểm soát bằng phần mềm Lattice Network, tất cả trong một (All in One), có thể thay đổi trọng lượng của đầu đạn mang theo (Modular Payload), biết phân biệt bạn hay thù, có thể tương tác với con người hay các loại máy bay chiến đấu bạn đi theo. Nó tự động bay, không cần người điều khiển, sẽ tự kiếm mục tiêu và đánh chặn chính xác. RoadRunner đã được thử nghiệm tại chiến trường Ukraine từ năm 2024 và tỏ ra rất hiệu quả, có thể bay cao và xa hơn, khiến Russia thất điên bất đảo.

Những thông số kỹ thuật về loại vũ khí này, cho đến nay, vẫn được giữ kín đề phòng những địch thủ chuyên đi ăn cắp như China. Ai cũng biết, họ đã nhiều lần lén lút xâm nhập vào trang mạng quốc phòng của Hoa Kỳ và các nước khác để phá hủy và ăn cắp thông tin. Hơn nữa, cũng vì lòng tham vô đáy của các công ty công nghệ Mỹ muốn đầu tư vào thị trường khổng lồ 1.4 tỷ dân của China, đã cho không nước này nhiều kỹ thuật tân tiến. Vì vậy chỉ trong hơn 40 năm, từ một nước lạc hậu về kinh tế, kỹ thuật, họ đã vươn lên thành cường quốc về quân sự, chỉ sau Hoa Kỳ và ngày nay còn qua mặt Hoa Kỳ về nhiều lĩnh vực khác.

Hiện nay, ngân sánh quốc phòng Hoa Kỳ vẫn còn lệ thuộc vào 5 công ty quốc phòng khổng lồ như Lockheed Martin, Northrop Grumman, Boeing, Raytheon, General Dynamic, và RTX với tổng số tiền khổng lồ hơn $118 tỷ (billions) một năm, từ tiền đóng thuế của người dân. Các “ông lớn” này móc túi người dân Mỹ một cách tận tình, móc đến những đồng xu cuối cùng; người Mỹ vẫn vui vẻ đi cày để trả bill. Đã đến lúc, chúng ta phải bắt họ dừng lại và chuyển hướng qua những công ty khởi nghiệp trẻ với tầm nhìn mới, nhất là vừa túi tiền của người dân.

Nhìn qua ông bạn vàng “môi hở răng lạnh”, ở phía Bắc của Việt Nam thì biết. Lối suy nghĩ (họ gọi là tư duy) và hệ thống của họ là chế tạo cái gì cũng rẻ, để ai cũng có thể mua được: có những chiếc xe hơi điện mini giá thành chỉ mắc hơn cái Iphone của Mỹ một chút xíu. Thần quyền Iran đang thực hiện chiến lược này bằng những Sahed- UAV rẻ tiền khiến túi tiền của Hoa Kỳ điêu đứng. Nếu nước Mỹ không chịu nhận ra điều này để thay đổi thì cuộc chiến tranh sắp tới giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc về Đài Loan, cán cân sẽ nghiêng về nước nào thì chúng ta đều có thể đoán được: Hoa Kỳ càng đánh, càng kiệt quệ và sẽ “sập tiệm” trước.

Từ sau Thế Chiến thứ II, Hoa Kỳ vẫn tin rằng ai sở hữu vũ khí to lớn và mạnh mẽ hơn sẽ nắm phần thắng, nếp suy nghĩ đó vẫn còn đúng trong một chừng mực nào đó; bây giờ kỹ thuật và đặc biệt là AI, trí thông minh nhân tạo đã xoay chuyển cuộc chơi. Chúng ta hy vọng với những kỹ thuật tân tiến, rẻ tiền hơn, nhưng hiệu quả hơn của những nhà thầu trẻ, Hoa Kỳ sẽ tiết kiệm và dùng số tiền thặng dư đó cho nhu cầu an sinh của người dân trước khi quá trễ.

Ai có thể cầm lòng được khi nhìn ánh mắt ngơ ngác của những đứa trẻ lớn lên không có cha mẹ, những khuôn mặt thất thần, đẫm nước mắt của người mẹ, bàn tay cào bới trên những đổ nát hoang tàn, chỉ mong tìm gặp lại bàn tay lạnh ngắt của đứa con; những dòng người tị nạn lê thê lếch thếch, tay xách nách mang, bỏ lại cả cuộc đời phía sau để đổi lấy sự sống còn.

Chiến tranh là một khuynh hướng khó đảo ngược, nước nào cũng muốn mình là bá chủ thế giới, khi họ có những Hitler, những Putin, những Mao, những Kim, những đảng độc tài, những giáo quyền mưu đồ tư lợi riêng. Chúng ta chế tạo vũ khí để tự vệ và để trả lời, cũng như răn đe những tên đồ tễ khát máu hay những chế độ độc tài hoặc thần quyền coi thường tính mạng người dân, chỉ để đổi lấy tham vọng riêng tư cho bản thân và băng đảng của chúng.

NGUYỄN NGUYỄN VĂN TỚI.. 6/2026

Saturday, May 23, 2026

Mũi Né, Nên Hay Không Nên 


Apec Mandala Cham Bay resort

Tay nắm chặt ghi đông chiếc Honda Air Blade 125 phân khối, tôi phóng xe với tốc độ 85 km/giờ trên cao tốc trải dài hun hút dưới nắng gắt. Mặt trời chói chang như đổ lửa, hơi nóng hắt lên từ mặt đường khiến không khí rung lên mờ ảo. Mồ hôi rịn ra, chảy ướt cả trán và lưng áo, gió tạt mạnh vào mặt lại mang đến cảm giác vừa rát vừa sảng khoái. Bà xã ngồi phía sau ôm thật chặt vì sợ rớt xuống xe. Xa lộ vắng tanh, chỉ có tiếng động cơ gầm vang và tiếng gió thổi phần phật bên tai. Tôi cứ lao vun vút về phía trước trong nắng và gió bất tận của vùng biển Mũi Né.

Mũi Né – Phan Thiết, thuộc vùng duyên hải miền Trung, là thủ đô của nắng và gió. Cái nắng miền này dữ dội, không chỉ gay gắt mà còn khô và rát như thiêu đốt da thịt. Gió ở đây không dịu mát mà thổi mạnh, mang theo hơi cát khô khốc, quất vào mặt bỏng rát. Khí hậu vùng này khắc nghiệt hơn nhiều so với những nơi như thành phố Sài Gòn hay Cần Thơ, nơi không khí thường ẩm và có phần dễ chịu hơn dù cũng nóng.

Ở Mũi Né, cái nóng kéo dài, ít mưa, đất đai khô cằn, tạo nên một cảm giác hoang sơ và khắc nghiệt rất riêng. Chính sự khô hạn và gió mạnh ấy khiến nơi đây giống như một “tiểu sa mạc” giữa miền Nam, khác biệt rõ rệt so với sự xanh tươi của nhiều tỉnh đồng bằng khác.

Chúng tôi đang cố chạy cho nhanh về lại khách sạn Apec Mandala Cham Bay, khu nghỉ dưỡng ở Hòn Rơm, để nhảy xuống hồ bơi của khách sạn, tận hưởng cảm giác mát mẻ của làn nước mơn trớn trên da thịt, trong cái nóng kinh người ở đây. Khu resort này với 5 tòa nhà cao 23 tầng to lớn, và bề thế nhất ở đây so với các khách sạn khác trong vùng.

Ngày xưa, Mũi Né chỉ là một làng chài nhỏ bé và nghèo khổ, dân cư thưa thớt, bãi biển vắng tanh; bây giờ sau 25 năm, trở lại đây, tôi không thể nhận ra cái làng bé nhỏ ngày xưa. Giờ đây nhà cửa và các khu nghỉ dưỡng mọc lên khắp nơi, làm thay đổi bộ mặt nơi này. Mới nhìn, tôi chưa thấy được toàn cảnh của khu du lịch này, cho đến khi tôi mướn chiếc xe gắn máy và chạy khắp nơi để khám phá, mới biết được sự thật phũ phàng của nó.

Ngoài con đường bờ kè Nguyễn Đình Chiểu là khu trung tâm du lịch Mũi Né sầm uất với khách du lịch đi lại, ăn uống, và vui chơi, tắm biển; các nơi khác như Hòn Rơm, cách đó khoảng 5,6 cây số, không thấy hàng quán gì nhiều. Không khí nơi đây cũng trầm lắng, ít xe đi lại.

Chạy vòng vòng khu Hòn Rơm, tôi thấy rất nhiều khu resort bỏ hoang, tường vôi bong tróc, cửa sổ bị đập vỡ, một vài bức tường sập đổ, chỉ còn lại mái ngói đỏ là thấy rõ rệt nhất. Không cần là một người làm kinh tế, tôi cũng có thể thấy bức tranh toản cảnh tiêu điều của nó: người đầu tư ồ ạt vào đây, giờ bỏ của chạy lấy người. Biết bao nhiêu tiền bạc, công sức bỏ ra xây cất, giờ trắng tay.

Mang tiếng là khu du lịch mà không có thắng cảnh nào cho ra hồn. Bãi biển cũng không đẹp, cát không trắng mịn, lại còn xả rác khắp nơi. Đến tham quan bãi cát Đỏ, tôi thất vọng vì nó bé tí xíu và nóng đến cháy da chân. Ai đã từng lái xe trên đường xa lộ liên bang số 8 từ tiểu bang Arizona đi California sẽ thấy một sa mạc cát cát rộng mênh mông ngút ngàn tầm nhìn với những đồi cát lượn sóng tuyệt đẹp.

Đây là một bãi cát của tiểu bang Arizona, trải dài đến tận chân trời, rộng mênh mông như không có điểm kết thúc. Dưới ánh nắng rực rỡ, từng hạt cát ánh lên màu vàng óng, tạo nên một bức tranh vừa hoang sơ vừa lộng lẫy. Những đồi cát nhấp nhô uốn lượn như những con sóng mềm mại, khi thì thoai thoải, khi lại dốc đứng đầy thách thức, gió thổi tự nhiên tạo nên những đường vân tinh tế như nét vẽ của thiên nhiên.

Đó đây, những chiếc “buggy” lao đi với tốc độ cao, để lại phía sau những vệt bánh xe dài và những đám bụi cát tung bay mù mịt. Tiếng động cơ gầm vang phá tan sự tĩnh lặng của sa mạc, mang theo cảm giác kích thích và tự do. Các tay lái điều khiển xe lướt qua từng triền cát, lúc leo dốc, lúc đổ xuống, tạo nên những pha chuyển động mạnh mẽ và đầy kịch tính.

Xa xa, không gian như hòa vào bầu trời xanh thẳm, nơi đường chân trời mờ dần trong làn hơi nóng. Toàn cảnh vừa hùng vĩ, vừa sống động, một sự kết hợp hoàn hảo giữa vẻ đẹp yên bình của thiên nhiên và sự náo nhiệt, bùng nổ của những người ham mê phiêu lưu khám phá.

Sẽ là một sự so sánh khập khiễng giữa bãi cát nơi này và bãi cát lặng im, không khí đặc quánh ở Hòn Rơm, Mũi Né. Nói chung, Mũi Né không có một thắng cảnh nào có thể được gọi là điểm nhấn để tạo nên sức hút cho du khách ngoài một dãy dài bãi biển tầm thường thiếu sức sống. Từng được gọi là thiên đường nghỉ dưỡng, giờ chỉ còn là một bức tranh ảm đạm.

Chính quyền thiếu tầm nhìn xa, không biết quy hoạch rõ ràng, cho phép phân lô bán nền, xây dựng tràn lan, lấy tiền đút túi riêng. Những mảnh đất ven biển bị chia nhỏ, chen chúc nhau bởi đủ kiểu kiến trúc: “nhà nghỉ”, khách sạn mini, villa tự phát, không có hạ tầng đồng bộ, tạo nên một sự tương phản như cái gai trong mắt. Người dân các nơi muốn làm giàu nhanh, cứ tràn về đây bỏ tiền ra đầu tư trong lúc du khách không có đủ mà tốc độ xây dựng cứ tăng. Thị trường bão hòa. Giấc mơ đổi đời tan biến để lại một dãy hoang tàn đổ nát như một “khu nhà ma”.

Không còn thích thú với thắng cảnh, chúng tôi đi sâu vào các khu dân cứ để coi người dân điạ phương sinh sống ra sao, đặc biệt là ngư dân đi biển như thế nào. Từ trên đường, nhìn xuống làng chài, tôi thấy lô nhô những tấm bạt che giăng khắp nơi; tôi chạy xe xuống một bãi cát, đến tận nơi, gặp gỡ, và làm quen với anh Nhỏ đang lui cui sắp xếp dụng cụ trong chiếc thuyền thúng của mình.

Tôi quá bất ngờ khi thấy phương tiện ra khơi đánh cá của người dân nơi đây là những chiếc thuyền thúng rất thô sơ, chèo bằng tay. Trước đây, người ta dùng thuyền thúng để đi lại giữa tàu lớn và bờ, ngày nay họ dùng nó như một phương tiện để đánh cá vì lý do đơn giản là họ không đủ tiền sắm tàu lớn bằng gỗ, giá vài ba tỷ đồng, trong khi một chiếc thuyền thúng có gắn máy chỉ dưới 100 triệu.

Anh Nhỏ tâm sự, chiếc thuyền thúng của anh, đường kính khoảng 2,5 mét, được trang bị một máy radar định dạng, một tay lưới và một động cơ nhỏ, anh có thể ra khơi một mình, không cần mướn thêm bạn ghe để giảm chi phí. Cứ mỗi hai ngày, anh chỉ cần chạy xa bờ khoảng 15 hải lý, hôm sau về là kiếm được 3,4 triệu (khoảng $100- $150).

Thuyền thúng truyền thống ở Mũi Né (Bình Thuận) thường là loại thúng nhỏ được đan bằng tre, trét “nhựa chai”, sử dụng dầm bơi bằng tay, nhưng ngày nay người ta chế tạo ra “thuyền thúng máy” bằng sợi tổng hợp (composite) nên thuận tiện và bền hơn rất nhiều, không phải bảo trì thường xuyên như trước. Với cấu trúc cứng cáp và nhẹ nhàng hơn tre, ngư dân có thể gắn một động cơ truyền động nhỏ từ 10- 30 mã lực là có thể chạy rất nhanh đến 5- 7 hải lý/giờ.

Hiện nay ở Việt Nam, hầu hết ngư dân đều sử dụng loại thuyền thúng máy này vì tính tiện lợi, nhẹ nhàng, xoay sở dễ dàng và nhất là tiết kiệm được tiền.

Tôi đọc được trên khuôn mặt khắc khổ rám nắng gió của anh Nhỏ lúc anh cười, một thoáng ưu tư pha với sự chịu đựng của một đời người gắn chặt với biển cả, nơi mỗi ngày trôi qua là một lần chiến đấu với thiên nhiên, sóng gió trùng khơi và cả nỗi vui mừng khi trúng được mẻ cá nặng trĩu, quay chiếc thuyền thúng đầy cá trở về.

Tôi cũng thấy được bức tranh sống động nhưng u ám của người dân làng chài, lúc nào cũng lam lũ, cực nhọc, làm bữa nào biết bữa đó, tương lai bất định. Ngày nào máy hư, bão lớn, ngày đó không có tiền. Nhìn sang người “bạn vàng” to lớn phía Bắc, ngư dân của họ được trang bị bằng những chiếc tàu sắt khổng lồ, ra khơi đánh bắt xa bờ, thường xuyên xâm phạm lãnh hải Việt Nam và các nước khác, thậm chí đánh đập và tịch thu tàu của ngư dân Việt Nam mà chính quyền thường chỉ biết “quan ngại” vì hoạt động của các “tàu lạ” xuất hiện trong vùng biển nước mình.

Giờ đây giữa những công trình bỏ hoang và những giấc mộng làm giàu dang dở, sự bình yên đã bị chôn vùi đâu đó, chỉ còn lại trong ánh mắt u buồn của người dân nơi đây, mỗi lần nhìn về mênh mông biển cả và trong chính nỗi lòng của tôi và của những ai đã từng đi qua nơi này.

Trong tôi một nỗi mong muốn rất thầm lặng: xin trả lại cho Mũi Né vẻ yên bình của một làng chài ngày xưa. Không có những dãy khách sạn chen chúc, không cần ánh đèn rực rỡ suốt đêm thâu. Chỉ cần buổi sáng còn nghe tiếng mái chèo khua nước, những thuyền thúng trở về trong sương sớm, mang theo mùi cá tươi và vị mặn của biển cả, những mái nhà thấp nằm ép mình dưới hàng dừa và tiếng ơi ới gọi nhau khiêng những thúng cá nặng trĩu giao cho bạn hàng.

Mũi Né. Tháng 4- 2026
Nguyễn Văn Tới

Anh Nhỏ đang chuẩn bị đồ nghề trước khi ra khơi


Tuesday, April 15, 2025

Cái Bẫy Chó 



Hình minh họa được vẽ bởi AI

Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung; và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm. Lịch sử cũng đã chứng minh rõ ràng chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ ngay tại cái nôi cách mạng tháng 10 tại quê hương sản sinh ra nó, nước Nga Sô-Viết. Dù hôm nay nước Ngay đã từ bỏ chủ nghĩa quái thai này, nhưng cội rễ nó đã ăn sâu vào căn tính dân tộc nên dân Nga vẫn còn ê chề và bị cả thế giới phỉ nhổ với việc xâm lăng Ukraine.

Nhà giảng thuyết người Mỹ gốc Đức William J.H. Boetcker (1) (1873-1962) có viết trong bài The Ten Cannots, 10 Điều Không Thể, rất nổi tiếng của ông, có 2 câu vẫn còn rất đúng cho đến ngày nay: You cannot help the poor by destroying the rich. Bạn không thể giúp người nghèo bằng cách tiêu diệt người giàu. You cannot help men permanently by doing for them what they can and should do for themselves. Bạn không thể mãi mãi giúp người khác điều mà chính họ có thể và phải làm cho chính bản thân họ.

Người cộng sản với khẩu hiệu “cướp của người giàu đem cho người nghèo” là hoàn toàn sai. Cùng đồng nghĩa với câu “cướp chính quyền về tay nhân dân” cũng hoàn toàn trái với nhân sinh quan của loài người trong một xã hội văn minh. Họ chỉ biết tiêu diệt, giết chóc, tàn phá để đạt được mục đích, cho dù họ biết là sai; và khi phá hoại xong, họ lại không biết phải xây dựng lại như thế nào. Đây là sự bất hạnh lớn nhất của dân tộc, đưa cả nước trở về thời Đồ Đá, thua kém các dân tộc khác trong vùng.

Nếu ai hỏi tôi nghĩ gì về chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam. Tôi sẽ không ngần ngại trả lời chỉ bằng 1 chữ: ĐÓI. Vâng, ngoài sự bất hạnh của cả nước, cái nghèo-đói lan rộng trên đất nước từ Nam ra Bắc, nạn đói kinh hoàng mà người cộng sản mang lại cho người dân Việt Nam. Người dân ai cũng đói đến vàng mắt. Những mái nhà xiêu vẹo dọc theo con đường đất tung bụi mù nơi miền thôn dã; những con hẻm vắng lặng ở thành phố, nơi người già và trẻ con gầy gò ngồi thẫn thờ. Trộm cắp xảy ra khắp nơi. Ý thức không cao hơn cái bao tử.

Người cộng sản vốn ngu dốt, cộng thêm chính sách của họ là điên cuồng, đập đổ tất cả những điều tốt đẹp để xây dựng lại từ đầu, dù họ biết là sai; họ phải tiêu diệt và phá hủy tất cả những gì của chế độ trước để rồi không biết phải xây dựng cái gì. Cái đói khát không chỉ hiện diện trên từng khuôn mặt hốc hác, mà còn in sâu vào từng bước chân nặng nề của những người cha, người mẹ trên con đường kiếm sống, vất vả, lam lũ nuôi đàn con. Cái nghèo đói còn để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong ký ức mọi người, cho đến nhiều năm sau này.

Một ngôi làng nghèo nàn ở ven đô Sài Gòn, 3 năm sau ngày “giải phóng”, vợ chồng ông bà Gia và 3 đứa con, 2 trai một gái, sống trong một mái nhà tranh vách đất giống như hầu hết mọi người ở quê thời bấy giờ. Gia đình ông bà từ thành phố đi “kinh tế mới” về vùng này đã 2 năm nay, nhìn họ không có vẻ lam lũ và đen đúa như những người dân quê khác, nhưng họ vẫn đói, vẫn phải ăn để sống. Ông bà đã bán sạch sẽ những gì họ có thể bán để sống sót trong thời buổi ngăn sông cấm chợ này.

Cả tháng nay họ phải ăn khoai củ thay cơm, gạo chỉ còn vài lon sữa bò, phải để dành nấu cháo cầm hơi. Hôm nay, trời oi bức, thỉnh thoảng một cơn gió thổi tung bụi đất trước sân, tiếng ve kêu inh ỏi, chói tai trong bóng cây hàng rào trước cổng nhà, muốn ngủ cho quên đói cũng không xong. Cái nóng như đồng lõa với cái đói, khiến mọi người không muốn bước ra khỏi nhà. Thằng Đạo, con trai lớn của ông Gia, đang nằm trên cái chõng tre, ngó trân trân lên trần nhà; ông Gia đang nằm đong đưa trên cái võng đan bằng cỏ Lác, ngó mông lung ra ngoài đường. Cả hai như đang chăm chú nhìn mà không thấy gì.

Một con chó vàng gầy gò, chỉ còn da bọc xương, hai hàng vú của nó xẹp lép, không còn chút sữa nào cho đàn con đang đói khát, bộ lông xơ xác bám bụi, đang đi vào cổng nhà ông. Tới trước hiên nhà, nó ngừng lại, đánh hơi mong tìm kiếm một chút thức ăn thừa. Cặp mắt ông Gia chợt sáng lên vui mừng. Ông nhẹ nhàng ngồi dậy, khẽ kêu con trai:

- Mày vào trong bếp, lấy cho tao củ khoai mì và sợi dây thừng.

Thằng Đạo nhìn ba nó, đôi mắt ông đang chăm chăm nhìn con chó vàng ngoài hiên, nó hiểu ngay sự việc. Nhanh như cắt, nó cũng nhẹ nhàng đi vào bên trong và trở ra với một sợi dây nylon và một mẩu khoai mì trên tay. Nó bẻ một miếng nhỏ khoai mì, ném về phía con chó, vừa kêu:

- Kiki, tới đây, tao cho mày ăn.

Con chó vẫn đứng im, đôi tai vễnh lên, mắt nhìn hai cha con với vẻ đề phòng, không tỏ ra thèm muốn. Hai cha con ông Gia vừa dụ dỗ vừa đưa miếng khoai mì còn sót lại gần con vật hơn. Nó lùi lại một bước, mắt vẫn nhìn miếng khoai vẻ thèm thuồng. Ông Gia ném thêm một mẩu khoai nữa, rồi hai cha con dừng lại, im lặng quan sát. Một hồi lâu, không cưỡng lại cơn đói, con chó tiến nhanh đến, đớp miếng khoai và chạy ra xa, dừng lại và nhai ngấu nghiến. Ăn xong, nó trở lại gặm miếng khoai còn lại và lại chạy ra xa để thưởng thức tiếp. Ăn xong hai miếng khoai mì, con chó vẫn còn thòm thèm, nhìn hai cha con ông Gia như muốn xin thêm.

Ông Gia ghé tai đứa con trai thì thầm thật nhanh rồi ông đích thân bước vào trong bếp. Lát sau ông đem ra một cái nồi nhôm cũ, trong đó có ít cháo lỏng dưới đáy nồi. Ông thắt một cái nút thòng lọng và quấn sợi dây nylon quanh cột nhà trong khi Đạo vẫn cố nhử con chó vàng vào trong nhà. Quen mùi, không cưỡng lại sự thèm muốn, con chó từ từ theo vô, bạo dạn hơn vì nó cảm thấy hai người này không có vẻ gì muốn hại nó. Ông Gia đặt cái nút thòng lọng xuống nền nhà, ông nắm chặt đầu dây kia và vòng nó qua cái đinh lớn đóng vào cột nhà để giăng võng.

Hai cha con kiên nhẫn, từng chút một, từng chút một, họ ném hết củ khoai mì, ông Gia đưa nồi cháo đến gần mũi con chó. Nó đánh hơi mạnh hơn và bạo dạn đến gần đưa mũi ngửi. Ông Gia chậm rãi kéo cái nồi để gần cột nhà và nhẹ nhàng đặt nút giây thòng lọng lên miệng nồi. Hai cha con ngồi xa ra một chút, nín thở theo dõi từng cử động của con chó trong khi tay kia ông vẫn nắm chặt một đầu dây. Con chó không cưỡng lại được mùi thơm, từ từ đến gần nút dây. Nó nhìn hai cha con ông Gia một lần nữa để chắc rằng họ không làm gì nó.

Con chó lè lưỡi liếm nhanh vào đáy nồi cháo và lùi lại một bước, tiếp tục dò xét cha con ông chủ nhà. Không thấy gì khả nghi, con chó lần này bạo dạn, tiến lại gần, xục mạnh vào nồi cháo và ăn thật nhanh. Ông Gia giật mạnh, sợi dây thắt vào cổ con chó khiến nó hoảng hốt chạy ra phía cửa. Càng chạy, sợi dây thắt càng chặt, con chó rên lên ư ử đau đớn vì bị kéo lê về phía cột nhà. Hai cha con thở hồng hộc, ra sức kéo mạnh sợi dây trượt trên cái đinh lớn, kéo cổ con chó lên cao hơn. Con chó dãy dụa càng mạnh thì sợi dây lại càng thắt chặt hơn. Con chó yếu dần, hai chân sau dãy dụa, móng chân cào mạnh trên sàn đất, cả thân mình nó run lên bần bật, miệng sùi bọt mép, nước mắt nó chảy ra, cặp mắt lồi ra ngoài như van xin.

Tiếng con chó rít lên yếu dần. Hai cha con ông Gia vẫn ghì chặt sợi dây cho đến khi con chó oằn mình lên lần cuối cùng, bốn chân nó cứng đơ, rồi mới chịu nằm im. Chờ thêm vài phút nữa, ông Gia đá vào mình con chó, biết chắc nó đã chết, họ thả lỏng sợi dây và kéo con chó ra sau bếp.

Phòng bên kia của gian nhà, sau bức liếp tre, tôi đang lên con sốt rét rừng, nằm đắp cái mền rách cũ kỹ, nhàu nát mà rét run từng cơn, tôi chứng kiến tất cả sự việc từ đầu đến cuối, qua khe hở mà không hề lên tiếng. Tôi mướn căn phòng trong nhà ông bà Gia để lấy chỗ đi về trong lúc đi phá rừng ở Bàu Cạn. Miệng đắng nghét, người hầm hập nóng, tôi với tay lấy ly nước đầu giường uống một hơi, rồi nằm xuống tiếp tục với cơn sốt còn váng vất khiến tôi không thể đứng dậy được.

Chiều tối hôm đó, sau khi khóa cổng và đóng cửa nhà cẩn thận, gia đình ông bà Gia ngồi bên mâm cơm có thịt, dưới ngọn đèn dầu leo lét, mùi thức ăn bốc lên thơm phức khiến tôi chảy nước miếng. Tôi được mời ăn bữa cỗ thịnh soạn như một trao đổi ngầm là sự im lặng đồng lõa; nhưng tôi ăn không nổi, thịt con chó dai như cao su và toàn là xương, tôi lại đang bệnh nặng nên chẳng còn biết ngon là gì.

Ông bà Gia cố ép tôi húp chén cháo cho khỏe, để mau giải cơn sốt rét rừng. Tôi cố đưa chén lên miệng, húp một miếng nhỏ mà cổ họng đắng nghét. Tôi cám ơn và xin phép trở lại cái chõng tre của mình. Hình ảnh con chó dãy dũa đau đớn hồi trưa vẫn còn ám ảnh, khiến tôi không thể nuốt nổi miếng nào dù rằng đã lâu tôi không có miếng thịt nào trong một thời gian rất dài.

Sáng hôm sau, nhà hàng xóm kế bên, bà Huấn đứng bên kia bờ rào, chửi đổng qua bên đây:

- Giời ơi là giời! Tiên sư chúng mày ăn cắp chó nhà bà, con chó đang nuôi con nó mà chúng mày nỡ lòng nào đi giết nó. Giời ơi là giời!

Bà tốc cả áo sống lên, thậm chí đưa cả “một bộ phận không nhỏ của nguời dân” ra mà chửi, mệt vô nghỉ, rồi ra chửi tiếp. Tôi nằm đắp mền, bịt tai lại, vẫn nghe rõ mồn một. Bên này, ông Gia hối thúc gia đình phi tang các chứng tích, đem dấu tất cả đồ ăn còn lại, chôn sâu tất cả lông và xương chó dưới bụi chuối già, đồng thời ông cho mở radio hết cỡ bài “Tiếng chày trên sóc Bombo” theo kiểu “Tiếng hát át tiếng bom” một thời được nhai đi nhai lại, điếc cả tai, ở cái loa đầu xóm.

Ngày 13 tháng 02, 2025, ông tổng bí thư, người đứng đầu đảng cộng sản Việt Nam, tại phiên họp bất thường của quốc hội lần thứ 9, khi so sánh Singapore với miền Nam Việt Nam thời kỳ trước 1975, đã phát biểu như sau: “Nhìn sang Singapore, xưa họ nói được sang Việt Nam chữa bệnh là điều mơ ước, 50 năm nhìn lại, giờ mình lại mơ được sang SP để khám bệnh”.

Có vậy mới biết ngày xưa VNCH đã phát triển vượt bậc so với miền Bắc Việt Nam và là nơi mơ ước của các nước trong vùng Đông Nam Á. Đức Đạt Lai Lạt Ma, vị lãnh tụ tinh thần của Phật Giáo Tây Tạng, sau nhiều năm lưu vong, đã đúc kết về chủ nghĩa cộng sản như sau: "Cộng sản là loài cỏ dại, mọc lan trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sinh ra từ rác rưởi của cuộc đời. Cộng sản sinh ra từ đói nghèo và ngu dốt, lớn lên bằng dối trá và bạo lực và sẽ chết đi trong sự khinh bỉ và nguyền rủa của nhân loại."

Ngày nay, thực tế lịch sử cho thấy những thất bại nặng nề của chủ nghĩa cộng sản để lại cho loài người. Một xã hội mà các Ác hiện hữu lên ngôi, dương dương tự đắc trong khi cái Thiện phải trốn trong một góc tối, thì xã hội đé sẽ không bền vững được. Mong một ngày không xa, Việt Nam sẽ từ bỏ cái chế độ duy trì quyền lực bằng bạo lực, không còn kiểm soát thông tin và quyền tự do trong nước, để dân Việt có thể sánh vai với các nước Đông Nam Á, mà không còn phải qua các nước láng giềng đi làm thuê.

NGUYỄN VĂN TỚI.

Tháng 04/2025. 50 năm nhìn lại.

PREFERENCES:


https://www.brainyquote.com › authors › william-j-h-b...



Wednesday, April 10, 2024

Vui Sao Nước Mắt Lại Trào 

Muốn biết một đất nước có văn minh hay không, người ta thường quan sát nhiều khía cạnh khác nhau với một tinh thần phóng khoáng, một tâm trạng cởi mở, không thiên vị, về xã hội, cách điều hành đất nước (governance), việc bảo tồn và thăng tiến văn hóa, về mức sống người dân như việc chăm sóc sức khỏe, môi trường, giáo dục, và trên hết là sự hạnh phúc (well-being) của người dân.

Những điều trên vượt quá khả năng và hiểu biết của một người tầm thường như tôi, vì vậy tôi chỉ xin kể bạn nghe một chuyện vui, rất tự hào của đất nước mình. Từ những chiếc xe chở khách chạy bằng than củi vào cuối thập niên 70, nay có đến mấy hãng hàng không chở khách, thật tiến bộ vượt bậc, nhưng sao vẫn thấy ngậm ngùi “rằng hay thì thật là hay, nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào”.

Hồi còn đi học, môn lịch sử thế giới có kể về hoàng đế La Mã Julius Cesar, năm 47 BC trước Công Nguyên, khi ông dẫn quân đi chinh phạt và thu phục được Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi chiến thắng, ông có nói một câu để đời: veni, vidi, vici. I came, I saw, I conquered. Tôi đã đến, đã thấy, đã thắng (chinh phục).

Tôi về Việt Nam vài lần, mỗi lần ở khá lâu, đi khắp 3 miền đất nước. Tôi cũng đã đến, đã thấy, và đã có được cảm nghiệm rất sâu, rất gần gũi với ngưởi dân đủ mọi thành phần, những người giàu có ở những nơi sang trọng, và gần gũi nhất là những người nghèo khó bị chính quyền, bị xã hội bỏ quên, trong đó có cả những người phong cùi trên vùng cao nguyên.

Ngày nay, đất nước đã quy về một mối, năm 1975 đất nước đã được “giải phóng”, người dân Việt Nam được giải thoát ra khỏi sự nghèo khổ, ngu dốt, nô dịch về văn hóa của Tư Bản, được đảng đem ánh sáng tri thức và văn minh đến cho người dân trong nước. Sau 49 năm, thử nhìn lại, dân tôi đã được gì và mất gì? Mời bạn đọc theo tôi về Việt Nam, chứng kiến câu chuyện về chữ nghĩa, chuyện học hành, cách giao tiếp bằng tiếng Anh của một ông xếp trẻ một hãng hàng không trong nước. Một chuyện rất đáng tự hào vì đất nước ta “chưa bao giờ được như hôm nay” như lời một “ông bác" tóc bạc đã tuyên bố trên đài truyền hình.

Chuyện lẽ ra phải đáng vui mừng vì ông này được học hành, đào tạo đến nơi đến chốn, là hình ảnh tiêu biểu của đất nước, hằng ngày ông phải nói chuyện, gặp gỡ với du khách trong và ngoài nước, trình độ tiếng Anh chắc phải lưu loát, tệ lắm thì cũng nói được và khiến du khách hiểu được mình muốn nói gì. Câu chuyện có vẻ tiếu lâm nhưng khiến tôi phải ngậm ngùi buồn cho nền giáo dục của nước nhà.

Trong chuyến bay của hãng hàng không Vietjet, một hãng hàng không nổi tiếng là Delayed-Airlines của Việt Nam, nổi tiếng với rất nhiều chuyến bay trễ đến vài giờ đồng hồ mà tôi là một nạn nhân đến 2 lần. Trong khi chờ đợi chuyến bay lúc 20:00 giờ, từ Cam Ranh về Sài Gòn, theo thói quen, tôi luôn đến phi trường sớm trước 2 giờ với phương châm “thà mình chờ họ, chứ họ chẳng bao giờ chờ mình”.

Tôi kiên nhẫn ngồi nhấm nháp ly cà phê ở khu chờ đợi, mở điện thoại cầm tay ra đọc tin tức ở quê nhà. Chán chê, tôi coi đồng hồ: còn 40 phút nữa đến giờ bay. Tôi đứng dậy, đi lại cho dãn gân cốt, nhìn về phía cửa ra thang máy bay, chắc mẩm giờ này nhân viên đã chuẩn bị cho hành khách lên phi cơ.

Đi qua đi lại nhiều lần, tôi nhìn đồng hồ chỉ còn 25 phút nữa là đến giờ bay, sao họ vẫn chưa có dấu hiệu gì là chuẩn bị cho khách “boarding”. Tất cả hành khách, kể cả hành khách ngoại quốc, đều có vẻ nôn nóng, đứng ngồi không yên. Riêng tôi, dù đã chuẩn bị cho tình huống xấu nhất là chuyến bay sẽ bị đình hoãn, tôi vẫn không ngăn được mình ngó về hướng cửa. Mấy thằng bạn thân trong nước đã nhắc nhở và khuyên tôi đừng bay hãng Vietjet, chỉ thêm bực mình, nhưng tôi quyết không nghe, muốn tự “trải nghiệm để có kinh nghiệm”.

Nhiều hành khách bồn chồn, chờ không được, đã cùng nhau xếp thành một hàng dài trước quầy dịch vụ, hy vọng sẽ gây chú ý, khiến nhân viên cũng phải “bức xúc” như mình. Trước nay, người ta cứ tin rằng phớt tỉnh Ăng-Lê là tính chất của người Ăng-Lê; ngày nay, danh hiệu đó phải dành cho người Việt Nam mới đúng. Dù rất nhiều nhân viên Vietjet Airlines đi qua đi lại, nhưng tất cả bọn họ đều phớt tỉnh hơn cả người Ăng-Lê và chẳng thèm để ý đến “một bộ phận” hành khách đang như ngồi trên đống lửa.

Còn 15 phút nữa đến giờ bay, bỗng một anh nhân viên trẻ, tướng tá coi khá “đẹp giai”, áo sơ mi trắng, cà vạt đen, quần đen, tướng đi đứng ra dáng là một ông xếp, bước đến quầy dịch vụ, kéo từ hộc bàn ra một cây bút lông. Anh ta bước tới bảng cập nhật thông tin chuyến bay, cúi người xuống viết gì đó lên tấm bảng, rồi anh ta quay ngoắt đi thật nhanh, đến ngồi vào cái bàn có máy tính.

Tất cả hành khách thở ra một hơi dài như trút được gánh nặng chờ đợi từ nãy giờ. Ai cũng nghĩ anh ta lo mở máy tính chuẩn bị thủ tục cho hành khách xuống phi cơ. Nhưng không, anh ta thò tay vào túi sau, móc cái phone ra và bắt đầu bấm bấm gì đó, thỉnh thoảng lại cười mỉm chi ra vẻ thích thú lắm. Kim đồng hồ trên tường vẫn lặng lẽ xê dịch từng giây và hành khách vẫn nhấp nhổm xếp hàng chờ đợi từng khắc, với những khuôn mặt “cực kỳ hình sự” như cách nói của người dân trong nước.

Tôi tò mò bước lại gần bảng thông tin coi anh ta viết những gì: chuyến bay VJ 607 từ Cam Ranh đi Sài Gòn bị dời lại 1 tiếng 20 phút, lý do: khai thác. Tôi đọc đi đọc lại đến 4 lần mà vẫn không hiểu cái “lý do khai thác” nghĩa là gì. Một số hành khách trong nước cũng bu quanh tấm bảng và buông ra những tiếng than lẫn tiếng chửi thề. Vài người khách ngoại quốc chỉ hiểu được một nửa, nhưng phân vân, không biết lý do. Tôi quay qua người đứng kế bên, hỏi lý do khai thác nghĩa là làm sao. Anh ta cũng ngớ ra một hồi rồi trả lời không biết.

Tôi đọc lại cái lý do đến lần thứ 5 mà vẫn như người đang đi trong đêm đen, vẫn không sao hiểu nổi hai chữ “khai thác” rất bình thường đó. Hay tại ngôn ngữ Việt Nam mình đã vươn lên một “đỉnh cao chói lọi” của chữ nghĩa mà mình dốt nên bị tụt lại phía sau?

Sau một hồi suy nghĩ, bóp trán đến méo cả đầu, tôi quyết định đến hỏi anh chàng xếp đẹp giai đó để “đả thông tư tưởng” của mình. Sợ hỏi bằng tiếng Việt, anh ta sẽ chê tôi ngu, người Việt mà không hiểu tiếng Việt, tôi bèn bập bẹ bằng tiếng Anh cho khỏi lòi cái dốt của mình:

- Excuse me, sir, would you tell me why the flight has been delayed?

Anh ta ngước lên nhìn tôi vẻ bực mình nhưng ấp úng không trả lời được bằng tiếng Anh, chỉ đưa tay ra hiệu chờ. Anh ta bấm lia lịa trên cái điện thoại cầm tay, và chìa cái phone cho tôi coi vừa luôn miệng xổ một tràng “reason mining, reason mining”. Thì ra anh ta xài Google translation và đưa kết quả cho tôi coi. Trời ạ! Tôi chỉ biết cười mếu. Chữ “khai thác” trong tiếng Việt khi qua Google thì được dịch ra “mining” là phải rồi.

Ông du khách ngoại quốc đứng kế bên tôi, nãy giờ sốt ruột theo dõi, cũng ghé mắt nhìn vào cái điện thoại của anh “đẹp giai”, một thoáng ngẩn tò te, cặp mắt ông ta đứng tròng một hồi lâu, rồi lắc đầu hỏi tôi nghĩa là gì. Ông ta thắc mắc chữ “mining” có gì liên quan đến chuyến bay của mình hay không? Tôi trả lời là chính tôi cũng mất 10 giây đồng hồ để gặm nhấm và giờ mới hiểu ra nghĩa của chữ này.

Google dịch chữ “khai thác” ra chữ “mining” như sau: the process or industry of obtaining coal or other minerals from a mine. (tiến trình hay kỹ nghệ lấy được than đá hay khoáng sản ra từ một hầm mỏ).

Chữ “khai thác” nếu đứng một mình thì người ta sẽ hiểu là khai thác hầm mỏ, cho nên Google dịch thành chữ “mining” từ chữ “mine” thuộc về hầm mỏ là đúng chứ không sai. Cái cười ra nước mắt là anh chàng xếp của Vietjet Airlines, vì học sai hoặc thày dạy tầm bậy, nên sử dụng không đúng chỗ. Than ôi, tôi chỉ còn biết than thở như cụ Tú Xương ngày xưa: cái học ngày này đã hỏng rồi!

Cái học ngày nay đã hỏng rồi
Mười thằng đi học, sáu thằng chơi
Ba thằng thất học làm quan lớn
Sai thằng có học chạy tả tơi

Tôi cám ơn anh ta vì đã nhọc công, “vận dụng tư duy” một cách quyền biến và sáng tạo, biết cách sử dụng công nghệ tiên tiến để trả lời du khách nước ngoài mà vẫn không cần mở miệng. Tội cho ông du khách ngoại quốc, và thật tội nghiệp cho tôi, một người An-Nam-Mít chính gốc, không lai căng một tí ti ông cụ nào, cả hai chúng tôi vừa bước đi vừa lẩm bẩm “Thank you, but I don’t get it”.

Sau đó, chuyến bay lại bị đình trệ thêm hơn 1 tiếng nữa, vẫn cùng một lý do: khai thác. Đêm đó chúng tôi về đến Sài Gòn lúc 23:30, đón taxi về tới nhà hơn nửa đêm. Chuyện vui, chuyện tự hào dân tộc văn minh, khả năng giao tiếp “nói” tiếng Anh như gió, mà vui không nổi.

Đọc báo Việt Nam, ai cũng biết nhà nước mình muốn nâng cấp trình độ của cán bộ, công nhân viên nhà nước để chứng tỏ chủ nghĩa cộng sản “ưu việt” hơn các nước láng giềng bằng cách cho đi học tại chức, còn gọi là học “chuyên tu”. Theo thống kê của bộ khoa học-công nghệ, Việt Nam có 24,300 Tiến Sĩ và 101,000 Thạc Sĩ, gấp 5 lần nước Nhật và cao nhất Đông Nam Á. Vậy mà ngày nay, người dân vẫn truyền tai nhau câu ‘dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”. Riêng tôi chỉ biết kêu “Trời”, chuyện vui mà cứ … buồn đến trào nước mắt.

Ông xếp Vietjet Airlines

NGUYỄN VĂN TỚI.
Nhân dịp 49 năm sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 – 2024.



Sunday, May 2, 2021

Chuyện Dọc Đường 

Nguyễn Văn Tới

Lên đường (Hình tác giả cung cấp)

Mới đó mà thời gian qua thật mau, lại tới ngày tôi chuẩn bị cho một chuyến công tác mới vào đầu tháng 3 năm 2021. Lần này tôi sẽ đi Iraq, nơi mới nghe tên, ai cũng hình dung ra chiến tranh, chết chóc, khủng bố và nguy hiểm đang chực chờ. Mọi người trên thế giới vẫn còn nhớ cuộc chiến tranh do Mỹ và đồng minh dẫn đầu, lật đổ nhà độc tài Sadam Hussein vì tội ác diệt chủng người Kurd trong chiến tranh và sự xâm lăng đất nước Kuwait. Cuộc chiến Vùng Vịnh, Gulf War, kéo dài 6 tháng từ ngày 2 tháng 8, năm 1990 đến ngày 28 tháng 2, năm 1991.

Có một điều không mấy người nhớ, trong lịch sử lâu đời, Iraq đã từng là một trung tâm văn minh rực rỡ thời xa xưa, một đất nước với một lịch sử huy hoàng ghi trong Kinh Thánh, với vườn treo Babylon, the Hanging Gardens, được xây dựng bởi vua Nebuchanezzar để tặng hoàng hậu Amytas và nó được coi là 1 trong 7 kỳ quan thời cổ đại, giờ chỉ còn là tàn tích nằm ở phía Nam thủ đô Baghdad. Nhà độc tài Saddam Hussein đã cho xây 1 dinh thự lộng lẫy trên đống đổ nát của vườn treo và khắc tên mình trên đó cùng với tên vua Nebochanezzar để tên hắn ta đi vào lịch sử như một anh hùng.

Một địa danh nổi tiếng khác là Thành Lũy Erbil, The Citadel of Erbil, có từ hằng 6000 ngàn năm trước Công Nguyên, được xây dựng trên một ngọn đồi cao ngay trung tâm thành phố Erbil, thuộc khu tự trị Kurdistan ngày nay, phía Bắc Iraq. Khi tôi đến, nó vẫn sừng sững ở đó như một thách đố với thời gian. Pháo đài này đuợc Unesco công nhận là 1 trong những di sản của thế giới.

Cây Lành Dữ, The Tree of Knowledge. Internet

Một địa danh khác nổi tiếng không kém là Cây Lành Dữ, The Tree of Knowledge ở một tỉnh nhỏ phía Nam Iraq, tỉnh Qurna, nằm ngay ngã ba nơi hai con sông Tigris và sông Euphrates gặp nhau trước khi đổ ra vùng vịnh Ba Tư, Persian Gulf nổi tiếng. Nhiều nhà học giả tin rằng, theo kinh thánh Thiên Chúa Giáo, đây là cái cây hiểu biết sự Lành và sự Dữ, cái cây mà nơi đó, nàng Eva, vì không nghe lời Thượng Đế, đã bị con rắn dụ dỗ ăn trái cấm và bị Ngài đuổi cả hai vợ chồng thủy tổ loài người ra khỏi vườn Địa Đàng, Garden of Eden.



Để chuẩn bị cho chuyến đi này, trong cảnh dịch bệnh Covid, tuy đã bớt, nhưng vẫn còn hoành hành khắp nơi, tôi phải đi làm thử nghiệm Covid trước khi lên đường. Sau khi khám sức khỏe, đo EKG, chích ngừa đủ loại như thường lệ, tôi cũng phải chích thêm thuốc ngừa Anthrax để chống vũ khí sinh học nếu xảy ra, thuốc này khá mắc, $900 một mũi, chích vào khá đau và có thể bị phản ứng phụ. Một ngày trước chuyến bay quốc tế, tôi phải đi thử RT-PCR Covid Test thay vì trước đây một số hãng máy bay chỉ yêu cầu thử Antigen Covid Test.

Antigen Covid Test là loại thử nghiệm người ta lấy mẫu từ khoang mũi của mình, rồi coi trong hệ thống miễn nhiễm của mình, immune system, có bị tấn công bởi con virus hay không, nhưng độ chính xác không cao. Loại RT-PCR Test (1) là loại thử nghiệm mới, chi tiết và chính xác hơn thử nghiệm cũ, họ sẽ coi cái DNA của mình có bị protein có hình dáng gai góc của con virus hay không. Nếu mình muốn có kết quả trong ngày, đương nhiên sẽ mắc hơn gấp 6 lần. Tôi phải móc túi trả trước $275 bằng thẻ tín dụng.

Chiếc Airbus A-350 hãng Quatar Airlines từ Chicago đi Doha vẫn không đủ khách như thường lệ, tôi không cần phải mua vé hạng nhất mà vẫn có thể nằm dài thẳng chân ra ngủ. Mặc dù đã có vé lên tàu online từ trước, nhưng nhân viên hãng hàng không Quatar vẫn bắt buộc hành khách phải “check in” lần nữa vì tình hình chiến tranh bất ổn hiện đang xảy ra tại Iraq. Họ yêu cầu xuất trình visa và giấy kết quả PCR Covid Test. Tôi vẫn chưa có Iraq Visa vì tình hình đang chiến tranh nên tòa đại sứ Iraq tại Washington DC đã ngừng cấp. Tôi phải đưa giấy giới thiệu đặc biệt của quân đội cho phép người có tên trong giấy được phép đến Erbil, rồi từ đó sẽ xin visa tạm 6 tháng để vào Iraq. Hơn 13 giờ bay, tôi quá cảnh ở phi trường quốc tế Doha, thủ đô nước Quatar.

Ra khỏi máy bay, tôi đi thẳng đến cổng bay tiếp đi Erbil, Iraq, không cả kịp xài phòng vệ sinh. Chiếc Airbus A-320 đáp xuống phi trường quốc tế Erbil khi trời chập choạng tối. Khi làm thủ tục thử Covid test đau đến chảy nước mắt, họ thọc sâu que thử lên tới tận lông mày của tôi thì phải, đau mà tôi vẫn phải trả $50 tiền mặt bằng giấy bạc mới tinh. Họ không nhận thẻ tín dụng. Cám ơn mấy đồng nghiệp đi trước đã dặn dò kỹ lưỡng điều này.

Về tới trại lính Mỹ, sau khi nhận lều, tôi vất hành lý và bộ “Gear” của mình dưới gầm ghế bố, đi tắm ở những phòng tắm dã chiến, rồi về lều ngủ một giấc, không màng đến ăn uống. Họ khoanh vòng một phạm vi nhỏ của một trại lính để làm nơi cách ly. Trong lúc tạm thời ở đây, tôi sẽ tự túc xin visa để vào Iraq. Oái oăm thay, tôi phải liên lạc ngược trở về với một công ty luật của Mỹ ở Seattle, Washington để làm thủ tục. Họ “chém đẹp” cái visa $2,500 để vô được Iraq. Tất cả mọi người đều làm tiền một cách tận tình và bắt chẹt nhau bằng đủ mọi cách, họ biết chắc khi công ty gởi người đi, giá nào họ cũng phải trả. Tôi dám quả quyết với bạn chính phủ Iraq chỉ nhận được cao lắm là $200, số còn lại vào túi công ty luật này, và đây là cái visa mắc nhất thế giới mà tôi phải trả từ trước đến giờ.

Bạn hãy làm một con tính nhỏ sẽ thấy ngay số tiền kếch xù mà công ty luật này móc túi bạn. Erbil, nơi tôi ở tạm những ngày cách ly chờ bay vào Iraq, có 7 lều, tổng số khoảng 100-120 người. Số người ra vô trại đều đặn mỗi tuần, mỗi nhóm chiếm 1 lều, nhóm này vào thì sẽ có nhóm khác ra. Bạn sẽ thấy số tiền họ thu vô không phải là ít. Số người đi công tác tiếp tục vào trại lúc nào cũng đầy ắp, chỉ tăng chứ không giảm. Một tháng có 4 nhóm ra vào. Vậy mới thấy con người với nhau sẵn sàng dẵm đạp lên sự cần thiết của nhau để bỏ vào túi tham của riêng mình.

Tôi cũng xin nói một chút về RT-PCR Covid test để ai trong chúng ta có việc cần phải đi những chuyến bay quốc tế nên chuẩn bị, kẻo ra đến phi trường, rồi phải trở về nhà. Trước chuyến bay, nên liên lạc với hãng hàng không coi họ yêu cầu loại Covid test nào. Nếu không bạn sẽ không bao giờ được lên máy bay nếu bạn lấy lộn qua cái Covid test khác. Theo cá nhân tôi, loại PCR test chính xác hơn các loại thử nghiệm khác, nhưng cũng là một kiểu làm tiền mà ai đó bày ra để trục lợi. Một người đi công tác đến từ Anh quốc, anh ta cho hay anh phải trả tổng cộng cho mấy lần thử nghiệm này từ lúc rời nhà cho đến nơi làm việc ở Amman, nước Jordan, tổng cộng gần $1,000.

Điều mà tôi lo lắng nhất không phải là công việc tôi đang làm vì đó là chuyên môn của tôi, mà là các chuyến bay quốc tế và các thủ tục rườm rà của mỗi một nơi tôi phải đi qua. Tôi phải tự xoay xở, tự tìm hiểu từ những đồng nghiệp đi trước, người này chỉ bảo kinh nghiệm lại cho người sau, nếu có trục trặc gì xảy ra thì tôi phải tự xoay sở. Các chuyến bay quốc tế, tuy không đầy như trước đại dịch Covid, nhưng vẫn tấp nập những người đi lại hoặc làm việc ở khắp mọi nơi trên thế giới.

Trong cơn dịch Covid hơn 1 năm vừa qua trên toàn thế giới đã ảnh hưởng đến mọi người, nhất là người Mỹ. Tuy nhiên vì tính chất của công việc, chúng tôi vẫn phải lên đường công tác, cho dù gia đình đã lo lắng sợ bị lây lan cho người thân mình khi họ đang trên đường rong ruỗi tỏa đi khắp thế giới. Chúng tôi đã không được ưu tiên chích ngừa phòng bệnh mà chỉ cố gắng giữ vệ sinh tối đa cho bản thân khi bay những chuyến bay nội địa chật ních người hoặc những chuyến quốc tế thưa thớt chỉ hai, ba chục người. Vì công việc, chúng tôi vẫn cứ phải đi dù biết mình sẽ dễ bị lây lan hơn những người ở nhà.

Cách ly là việc không thể tránh được, nhưng tình trạng ăn ở và cách điều hành là hai điều làm chúng tôi đau đầu nhất vì mỗi nước, mỗi nơi đến, họ đều làm việc khác nhau tuy họ đều tuân theo quy tắc chung là 14 ngày. Tôi kể bạn nghe về nơi cách ly của chúng tôi như sau, nó vô lý đến không thể nào tin được. Trại này được điều hành bởi toán y tế của Hải Quân Mỹ.

Trại cách ly có 7 lều, mỗi lều có thể chứa 20 người. Mười chiếc ghế bố (cots) xếp chồng lên nhau như giường đôi (bunkbeds), mỗi giường được xếp cách nhau 3 feet. Khi bước vào lều, chúng tôi nhận ra đây không phải là kiểu cách ly đúng quy định vì khoảng cách an toàn phải ít nhất là 6 feet. Tôi nghĩ vui chắc là con virus này không biết nhảy cao, nhảy ngang hoặc không thể nhảy xa quá 2.9 feet? Luật lệ trại không bắt buộc đeo khẩu trang, mọi người trại vẫn đi lại, sinh hoạt, ăn uống bình thường như đang đi cắm trại.

Chúng tôi ở đó 2 tuần theo quy định. Ngày thứ 13, một nhóm lính quân y hải quân Mỹ đến làm thử nghiệm. Trong 7 lều, có 2 lều gồm 6 người có kết quả duơng tính. Họ lập tức đem 6 người đó đi vào nhà thương và toàn trại bị cách ly thêm 14 ngày nữa. Lều tôi có 1 người bị. Chúng tôi phản đối và xin gặp vị chỉ huy là một Trung Tá bác sĩ. Bị chất vấn vì lối sắp xếp của trại, ông ta bối rối và hứa hẹn sẽ về tra cứu thêm rồi sáng hôm sau sẽ trở lại.

Ngày hôm sau, ông tuyên bố rằng cơ quan CDC có luật mới cho phép cách ly chỉ 1 tuần thay vì 2 tuần. Ông cho hay đây là luật quân đội nên không thể thay đổi. Luật là luật. Vậy là chúng tôi bị ở lại thêm 7 ngày nữa. Tôi nghĩ kiểu cách ly này có vẻ không được vì nếu sau 7 ngày, lại một người nữa trong mỗi lều bị thì sao. Chúng tôi yêu cầu có biện pháp khác. Ông ta nói không đủ chỗ để phân tán mỏng người ra vì trại này vốn lập ra không phải để chứa gần 100 người.

Sáu người được đưa vào bệnh viện cách ly riêng. Chúng tôi liên lạc với họ qua phone, tất cả đều cho hay họ vẫn bình thường, không hề có triệu chứng ho, nóng sốt hay khó thở. Mỗi ngày bọn họ đều cho chúng tôi hay hiện trạng của họ. Sau 8 ngày, họ được cho ra khỏi bệnh viện và bay thẳng đi đến địa điểm làm việc.

Đúng như chúng tôi dự đoán, lần này 2 người trong lều chúng tôi lại bị dính chưởng của con virus trong khi các lều khác hết hạn 7 ngày đều được ra đi đến nơi họ cần đến. Hai người được đưa đi cách ly riêng, còn lại một lều chúng tôi kẹt lại thêm 7 ngày nữa. Tổng số là 12 người chúng tôi kẹt lại 28 ngày. Chúng tôi tự động chia ra 4 người 1 lều vì ban chỉ huy trại muốn dỡ bỏ 4 lều khác và đóng cửa trại vĩnh viễn vì diễn biến quá quá phức tạp vượt khỏi tầm kiểm soát của họ. Ở lại trong trại cách ly mà chúng tôi không thể nào yên tâm vì có thể đoán trước được tình hình sẽ ra sao nếu có thêm người bị. Chúng tôi sẽ kẹt lại đến bao giờ? Những người đang cờ chúng tôi đến thay, họ mong ngóng từng ngày để được trở về nhà.

Thành phố Erbil là thủ phủ của vùng tự trị Kurdistan nằm ở phía Bắc Iraq, gồm gần 1 triệu người Kurd. Họ tuy là công dân Iraq nhưng đã bị tên độc tài Saddam Hussein dùng vũ khí hóa học tiêu diệt một lần. Người Kurd là một sắc tộc thiểu số đông dân nhất thế giới và cũng là dân tộc bất hạnh duy nhất trên thế giới không có quê hương. Tổng số họ có khoảng 35 triệu dân sống rải rác ở nhiều nước, gần biên giới phía Bắc Iraq, phía Nam Turkey, Tây Bắc Iran, và Tây Nam của Syria. Họ đã từng cầm súng chiến đấu cho độc lập nhưng vì những thế lực chính trị quốc tế, cho đến nay họ vẫn còn là một dân tộc không có quê hương ngay trên vùng đất của cha ông mình.

Trại lính Mỹ và lính địa phương quân nằm cuối phi trường Erbil để bảo vệ an ninh cho các chuyến bay dân sự và quân sự phục vụ cho việc tiếp tế quân trang quân dụng trong vùng. Mới bước vào trại, họ đã cho chúng tôi biết nên chuẩn bị áo giáp, nón bảo vệ sẵn sàng để khi có báo động thì chui vào hầm. Ngày 15 tháng 2 vừa qua, bọn khủng bố đã bắn 14 trái pháo 107 ly vào phi trường này trước cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng. Một nhân viên dân sự Mỹ chết và 13 thường dân bị thương. Vì thế ngày nào trực thăng cũng bay lượn xung quanh vành đai phi trường, ngày cũng như đêm khiến không ai được yên giấc. Nhiều người đã khuyên ĐGH hủy bỏ chuyến đi, nhưng ngài cương quyết dấn thân vào nguy hiểm để đến với đàn chiên của ngài ở vùng đất đầy biến động này.

Chính phủ Mỹ đang cố gắng giúp đỡ chính phủ tự trị Kurdistan rất nhiều nên khi tôi xuống phi trường, nhìn thấy passport Mỹ, họ đối xử rất thân thiện và vui vẻ, rất khác với các đất nước kế bên ở vùng Trung Đông khiến tôi cũng khá ngỡ ngàng về thái độ của họ. Sau này khi tiếp xúc, tôi mới khám phá nét khác biệt của họ so với người dân Iraq, từ cách ăn mặc cho đến văn hóa của họ. Người Kurd hiền lành, thân thiện, dễ thương và cởi mở hơn nhiều.

Trong trại chỉ ăn với ngủ, hoặc lên mạng liên lạc với mấy ông xếp để lo thủ tục giấy tờ và địa điểm sắp đến. Tôi phải tự túc mua wifi và data trên mạng để có thể liên lạc với hãng và nói chuyện với gia đình. Việc sinh hoạt trong trại thì đương nhiên không được như ở nhà. Từ phòng tắm, nhà vệ sinh, và phòng giặt đều chỉ là những căn phòng dã chiến được dựng lên từ những container chở hàng hoặc những nhà vệ sinh di động. Đã chấp nhận đi thì phải biết cách sống với những điều kiện khó khăn như vậy. Đời sống y như một người lính. Cái khổ nhất của một người không còn trẻ như tôi là ngủ. Nằm trên cái ghế bố không nệm, tôi trải một cái túi ngủ dầy mà vẫn trăn trở suốt đêm vì đau lưng.

Mỗi ngày có người đem thực phẩm đến đúng giờ, ngày ba bữa, có cà phê, trà, và đủ loại đồ uống. Nói chung là dư thừa theo tiêu chuẩn lính Mỹ. Chỉ có một điều là tôi ăn không vô vì họ nấu nhạt nhẽo lắm. Tôi thỉnh thoảng phải mua đồ ăn từ các nhà hàng ở phố để họ đem giao đến tận nơi, chứ ăn đồ lính mỗi ngày chắc chịu không nổi. Đồ ăn người Kurd hương vị đậm đà do họ dùng nhiều loại gia vị đặc biệt chính họ làm ra. Món thịt trừu rất ngon, họ bỏ trong lò nướng qua đêm nên thịt mềm, cắn một miếng, vị ngọt thơm của thịt thấm vào tận chân răng. Cá chiên họ cũng ướp gia vị thấm vào trong từng thớ thịt con cá, da cá dòn tan. Mỗi món ăn đều đi kèm với cơm và ít đồ chua hoặc rau.

Giống như người Việt mình và cũng giống như các sắc dân Á Châu, cơm là phần không thể thiếu trong bữa ăn. Khi cơm chín, họ trộn với nước sốt tùy theo món ăn đi kèm theo cho thích hợp với hương vị của món ăn chính. Khi nhai hạt cơm, tôi cảm nhận được vị béo nồng nàn, mùi dược thảo, và mùi rau thơm thái nhỏ trộn lẫn vào trong cơm. Một mùi vị đặc trưng khác biệt với món ăn Việt Nam. Tôi thích cơm của họ, nhưng ăn nhiều thì tôi chắc cholesterol sẽ lên cao ngất ngưởng vì tinh bột, carbohydrate rất cao.

Môt bữa đọc thực đơn, tôi thấy một món ăn chơi lạ lùng làm từ bộ phận truyền giống của con cừu mà họ gọi là “sheep testy-kebab”, Việt Nam thường gọi là “ngọc hành” hay “ngẩu pín”. Tò mò, tôi mua thử coi nó ra sao vì ở Việt Nam chỉ nghe nói chứ chưa bao giờ ăn. Món này, họ dùng 1 cây xiên xỏ vào ngẩu pín đã cắt khoanh tròn và nướng trên lửa than. Cắn miếng đầu tiên, cảm giác nó hơi mềm, hơi dai, và hơi dòn, nhai một lúc thì không có vị gì đăc biệt. Không biết mấy ông lang băm Việt Nam mình có nghiên cứu kỹ càng không khi khoe nhặng lên là món ăn giúp đàn ông thêm “dũng mãnh” trên chiến trường. Tôi chắc mấy cha này nói láo ăn tiền vì họ dựa theo phương pháp “pha học” từ thời ông bành tổ là ăn gì bổ nấy.

Năm ngoái tôi bị cách ly ở Dubai trong một khách sạn 5 sao, ở riêng một phòng, cơm nước, cà phê, rượu bia đem tới tận của phòng, lại có thêm TV, tha hồ coi phim để giết thời gian. Năm nay bị cách ly trong trại lính, gần 20 người ở chung 1 lều, chật chội, không có chỗ đi lại chứ đừng mong có không gian riêng biệt. Ăn uống, điều kiện vệ sinh sao so sánh được với khách sạn. Wifi chậm như rùa, nếu muốn nhanh, phải tự trả tiền. Vậy mà phải ở gần một tháng. Bạn cứ tưởng tượng coi cuộc sống kéo dài lê thê đến chừng nào.

Rồi cũng đến lúc thử Covid lần nữa, thông thường chữ “Negative” là chữ mà không ai muốn vì nghĩa của nó là không tốt, nay nó lại là chữ mà tất cả chúng tôi đều đang mong chờ. Tin vui đến tất cả 12 người chúng tôi vì kết quả đều âm tính. Chúng tôi rời trại cách ly bằng chiếc vận tải cơ C-130 bay đi căn cứ quân sự nơi tôi sẽ làm việc ở đó. Tính ra tôi bị cách ly tổng cộng 4 tuần vì vài người trong trại, khi vô thì khỏe mạnh, khi sắp ra thì dính con Covid do lối điều hành sai nguyên tắc của trại cách ly.

Trước chuyến bay vào Iraq một ngày ở trại chuyển tiếp, tôi có quen Hakeem, một anh thanh niên trẻ người Kurdistan. Anh này coi một nhóm nhân viên về bảo trì mọi việc trong khu chúng tôi ở tạm. Anh ra vộ trại hằng ngày nên ai cũng biết mặt. Anh đưa tôi ra ngoài phố để tận mắt thấy cuộc sống ở đây theo lời tôi yêu cầu. Tôi chỉ kịp ghé qua mấy nơi nổi tiếng và chụp ít tấm hình, buổi chiều trước khi về trở về trại, tôi ngỏ ý muốn đãi anh một bữa ăn với yêu cầu có những món ăn truyền thống của người Kurd.

Anh đưa tôi vào một nhà hàng nhỏ. Bước vào, mùi đồ ăn thơm lừng với các đầu bếp đang xào nấu và chuyện trò râm ran. Họ chào đón anh bằng tiếng Kurdish, anh đáp lại một tràng dài mà tôi chỉ hiểu được lõm bõm vài chữ “American”. Anh nói được 3 ngôn ngữ: Arabic, Kurdish, và English. Anh giới thiệu tôi với họ, tất cả đều vui vẻ chào hỏi, tôi chỉ biết giơ tay phải đặt lên trái tim mình đáp lại. Bữa đi phố này, tôi học hỏi được nhiều điều hay mà chưa bao giờ tôi được nghe hoặc đọc trên sách báo.

Ăn xong món thịt trừu thật tuyệt, họ bưng ra hai ly cà phê pha sẵn, màu như cà phê sữa. Tôi hớp một ngụm lớn, hơi nhăn mặt vì nó quá ngọt. Tôi nhìn Hakeem, anh hiểu ý và cho biết người dân ở đây đều uống cà phê như thế. Cà phê này được làm từ một loại hạt gần giống như hạt Pistachio được nấu sôi với sữa và đường trên ngọn lửa nhỏ; nó không thể so sánh với ly cà phê phin của Việt Nam mình, khi nhấp một hớp đầu tiên vào buổi sáng, cà phê Việt Nam cho tôi cảm giác như cả một luồng sảng khoái tràn vào cơ thể và chớp lấy cả linh hồn, làm mình tỉnh táo hẳn.

Khi tôi trả tiền, Hakeem cho biết họ không lấy tiền vì anh đã giới thiệu tôi là công dân Mỹ. Đây là cách họ muốn cám ơn người Mỹ đã đến đây giúp đỡ dân tộc họ. Tôi hơi áy náy, dầu sao họ cũng phải làm ăn kiếm sống. Anh bạn an ủi, nói tôi không nên lo lắng vì đó là nét hiếu khách của người dân ở đây. Tôi mới hiểu ra tại sao nhân viên thuế quan tỏ ra thân thiện và vui vẻ với tôi khi vừa đặt chân lên đất nước họ.


Người bán tamarind Hình internet

Chúng tôi bước ra khỏi quán và đi bộ dọc theo con đường hai bên tấp nập hàng quán, cửa tiệm mọc lên khắp nơi. Một người đàn ông khá đứng tuổi, vai đeo một cái bình bằng đồng sáng bóng cao vượt đầu, một cái vòi uốn cong nhô lên dưới nách, bình được trang trí họa tiết khá sắc xảo và đẹp. Quanh bụng ông ta là cái thắt lưng to bản mang theo nhiều cái ly nhựa. Trên tay là 2 cái dĩa nhỏ bằng đồng liên tục gõ vào nhau tạo ra những tiếng leng keng vui tai. Ông ta mời. Tôi dừng lại hỏi Hakeem. Anh cho biết đó là một loại thức uống tên tamarind. Tôi ngỏ ý muốn thử. Ông ta lấy ra một cái ly, nghiêng người cúi về phía trước, từ miệng vòi một dòng nước màu nâu chảy ra rất khéo léo như làm xiếc, rót đầy cái ly và trao cho tôi. Tôi nếm thử, vị vừa chua vừa ngọt cũng dễ uống giống như plum juice ở nhà. Chúng tôi trả tiền và không nhận lại tiền thối. Ông nghiêng mình cám ơn rất lịch sự. Người bạn cho hay đây là một nghề đã có từ lâu lắm rồi của người Kurd, hiện nay chỉ thấy ở những nơi có du khách mà thôi.

Dọc đường đi, có nhiều tiệm bán đủ thứ rất lạ mắt. Hakeem hỏi tôi muốn thử kẹo cao su không. Anh đưa tôi coi một gói nylon trong đó có một miếng giống như một cục xà bông hình vuông màu trắng đục, khá cứng. Tôi bẻ thử một miếng đưa vào miệng nhai một hồi, dẻo như cao su, vị hơi đắng, như một chất dầu tiết ra. Anh bạn cho biết họ dùng kẹo nhai này như một loại thảo mộc sát trùng miệng sau khi ăn. Loại kẹo cao su này được chiết ra từ một loại nhựa cây trong vùng, nấu lên, đổ thành những bánh vuông vức và cũng được dùng như một thảo dược chữa những bệnh bao tử đầy hơi.

Phố xá Erbil khá văn minh như các thành phố khác trên thế giới, cũng nhà lầu cao tầng có vẻ mới xây mọc lên san sát, xe hơi hạng sang cũng không thiếu. Đa số họ mặc âu phục như mình, một số ít ăn mặc theo truyền thống. Đàn ông mặc áo liền quần, quấn khăn turban trên đầu và quấn quanh bụng một giải khăn to; còn phụ nữ thì ăn mặc mầu sắc rực rỡ đẹp như trong truyện ngàn lẻ một đêm.

Hakeem tâm sự rằng đa số người phuơng Tây hiểu lầm về đất nước của anh qua các phương tiện truyền thông, phim ảnh Holywood hoặc mạng xã hội. Họ tạo một ấn tượng Iraq là một vùng đất nguy hiểm với những người đàn ông râu rậm, mặt đằng đằng sát khí, bắn giết không gớm tay. Anh muốn mời họ đến đất nước anh để đi, để thấy, để cảm nhận được sự hiếu khách và nét văn hóa cổ truyền và đẹp như thơ như tranh vẽ của đất nước và con người Kurdistan. Hơn ai hết, dân tộc anh là một dân tộc yêu hòa bình dù hằng trăm năm nay bị đủ mọi thế lực trấn áp và đánh chiếm. Tôi cảm nhận điều này rất rõ qua con người anh và dân tộc anh dù chỉ ở đây chỉ một tháng.

Dọc đường Hakeem kể tôi nghe về vùng đất quê hương anh. Tôi biết thêm đất nước Iraq này còn có thêm một sắc tộc nhỏ khác khoảng vài trăm ngàn người là sắc dân Yazidi. Sắc tộc này hiện còn rất ít, họ tôn thờ một Chúa Trời mà thôi, và họ giữ nguyên vẹn những tập tục, thói quen nghi lễ đạo của họ từ ngàn năm qua. Trải qua bao sự bắt bớ giết chóc của những người khủng bố Isis, họ vẫn tồn tại như là một tín ngưỡng lâu đời nhất trong mọi tôn giáo trên thế giới. Khi Đức Giáo Hoàng ghé thăm Iraq, ngài có dịp gặp gỡ một số chức sắc các tôn giáo ở đây với thông điệp chung sống hòa bình cho tất cả các sắc dân.

Thiên Chúa Giáo thực ra phát xuất từ vùng Trung Đông, đặc biệt từ Iraq. Các nhà thờ Chính Thống Giáo được xây dựng ở đây hằng ngàn năm trước, thế kỷ thứ 4 sau công nguyên. Gần Mosul nơi xảy ra nhiều trận chiến long trời lở đất với lực lượng Isis mà chúng ta hay coi trên TV, có một tu viện cổ kính hàng ngàn năm của người Yazidi tọa lạc trên ngọn đồi cao nhìn về phía thành phố Erbil. Đất nước Iraq này là một vùng đất mang đậm nét huyền sử ca được ghi trong Kinh Thánh và các sách cổ bao gồm nhiều kỳ quan trong thời cổ đại.

Có đi xa mới thấy nhiều điều kỳ diệu và lạ lùng mà qua sách báo, phim ảnh, và truyền thông chỉ cho chúng ta một cái nhìn phiến diện. Lý do tôi thích đi những chuyến công tác xa qua các vùng đất nước khác nhau là để được nhìn thấy và trải nghiệm được những điều kỳ thú mà cho dù bạn có coi, đọc hoặc nghe cũng không bằng một lần đến để được chính mắt nhìn, tay sờ được trên những thành quách, lâu đài, và những tàn tích còn được ghi lại trong Kinh Thánh. Bạn thân mến, chỉ có một điều tôi hơi lo là năm ngoái tôi còn nhấc bổng cái ba lô lên dễ dàng. Năm nay, khi tôi ngồi xuống, xỏ hai cánh tay qua vai đeo của cái sắc marin nặng 52 cân của tôi, tôi đứng dậy khó khăn, phải nhờ người khác nâng lên dùm. Chắc đến lúc phải dừng bước giang hồ thôi. Nếu bạn nào còn trẻ trung, nuôi mộng tang bồng, nên thực hiện ngay lập tức kẻo không còn kịp nữa.

Nguyễn Văn Tới. Tháng 4-2021.

REFERENCES:

1. https://www.fda.gov/media/136151/download

Thursday, April 1, 2021

Tạ Ơn Em

Nguyễn Văn Tới
Cô cún Sacha thân yêu của chúng tôi

Một buổi chiều chớm Thu vùng sa mạc Arizona, khi nắng vàng nhạt dần trong không gian, cái nóng dịu đi dưới những áng mây vừa kéo về đan vào nhau như những tảng bông gòn trắng xám giăng trên bầu trời xanh. Vợ chồng tôi cùng với con chó nhỏ thân yêu Sacha cùng nhau đi bộ dưới những tàng cây Palo Verde tuyệt đẹp, dẵm lên những cánh hoa vàng rực rỡ trải đầy trên lối đi. Vài cơn gió nhẹ thổi những bông hoa rụng dạt qua hai bên đường, tạo thành con đường vàng hoa uốn lượn quanh co qua lối đi, song song với con lộ chính. Hàng cây xanh rực rỡ sắc hoa vàng nghiêng mình bên đường đi, tỏa bóng mát trên con đường nhỏ men theo những dãy nhà xinh xắn ẩn mình trong khu xóm hiền hòa chúng tôi đang sống.

Mùa Thu ở sa mạc rất thật là Thu khi những cơn gió nhè nhẹ, lao xao thổi qua mang theo hương thơm dịu dàng của các loài hoa xương rồng gai góc nhưng sắc hoa thì đẹp đến nao lòng. Gió men theo những bụi hoa dại thấp, lướt trên các chòm cây Mesquite cao phủ đầy hoa vàng, rồi nhẹ nâng gót các cánh hoa rơi nhẹ xuống hai bên đường. Cảnh sắc mùa Thu Arizona, một bức tranh hòa quyện màu sắc tuyệt đẹp đan xen vào nhau khiến khách nhàn du ngơ ngẩn trên đường chiều và lòng tôi cũng chới với mơ theo những áng mây bàng bạc phía chân trời.

Đi hết con đường hoa, chúng tôi bước vào khu rừng thưa và thấp trước mặt, bắt đầu cho buổi dã ngoại chiều nay. Khu rừng đầy các loại cây xương rồng, nhiều loại thực vật và các loại thú hoang thích hợp sống trong vùng sa mạc cao là nơi chúng tôi và các dân cư vùng này vui thích đến đi hiking, những cuộc đi bộ ngắn không cần phải chuẩn bị nhiều thứ linh tinh. Chỉ cần vài chai nước là đủ vì chúng tôi chỉ đi khoảng 3, 4 giờ là quay về. Tiểu bang Arizona là một trong những tiểu bang của nước Mỹ có nhiều hoạt động ngoài trời cả năm nhưng nhiều nhất là vào mùa Xuân và mùa Thu cho những người yêu thiên nhiên khoáng đãng và yêu chim chóc. Hằng năm nhiều hội yêu chim về đây đem theo ống dòm và máy chụp hình đặc biệt để thu vào ống kính những loại chim hiếm có.

Theo thói quen, tôi thường đi trước mở đường với một cây gậy điện bên hông và một cây gậy dã ngoại bảo vệ cho vợ tôi và cô cún nhỏ đi theo sau. Để an toàn, tôi luôn mang theo cây gậy điện vì chúng tôi đã một lần bị hú vía, suýt chút nữa bị 3 con chó to lớn lao vào tấn công khi đang đi dã ngoại trong rừng. May mà chủ của 3 con chó nghe tôi hét lớn và vung gậy xua đuổi đàn chó, ông ta vội chạy đến, vừa la mắng vừa xua chúng lên chiếc xe đậu gần bên, vì thế chuyện đáng tiếc đã không xảy ra. Nhiều người không ý thức, dẫn chó đi ra ngoài mà không đem theo dây buộc cổ, để chúng tấn công những người khác, đôi khi gây ra chết người.

Trong rừng, khi về chiều, thỉnh thoảng có một vài con chó sói, coyote, hoặc vài con mèo rừng, bob-cat, ra kiếm ăn sớm, chúng sẽ tấn công khi thấy những con chó nhỏ hơn chạy tung tăng phía trước; vì thế, tôi lúc nào cũng mang theo “đồ chơi” để tự bảo vệ mình và bảo vệ cô cún nhỏ của chúng tôi. Cây gậy điện, vừa là đèn pin, dài 19 inches, bằng hợp kim nhôm hình dáng như chiếc đèn pin bình thường, vừa là vũ khí, với phần đầu lởm chởm răng cưa dùng để đập vào đầu kẻ tấn công. Nó được trang bị với giòng điện 9 triệu Volt, khi đánh trả, sẽ lưu lại một dấu vết khó phai nhòa cho kẻ tấn công. Khi bấm nút, nó có công dụng làm chùn bước bất kỳ sinh vật hung dữ nào, với mấy tiếng điện nẹt thật to tóe lửa khiến đối phương mất tinh thần. Không giống như súng Taser của cảnh sát có thể bắn xa khoảng 10-15 ft., gậy điện chỉ đánh được trong khoảng cách gần để tự vệ mà thôi.

Hôm nay, không hiểu sao, vợ tôi cứ xăm xăm đi trước, tay cầm gậy, tay dẫn Sacha qua mặt tôi lúc nào không hay. Tôi cứ lững thững theo sau và giữ một khoảng cách gần và vừa đủ để có gì xảy ra, vẫn kịp thời can thiệp. Rảo bước giữa thiên nhiên hoang sơ, dưới bóng cây rợp mát, tôi nhìn về phía trước, hình dáng vợ tôi bước thấp bước cao, cố gắng theo kịp Sacha, những bước chân của nàng khiến tôi hồi tưởng lại bóng dáng ngày xưa và của chính mình trong một cuộc đi chơi trong vườn hoa Azalea gần 30 năm trước, ở tiểu bang Oklahoma.

Ngày ấy, mới bước chân đến vùng đất mới, cả hai chúng tôi đều còn trẻ ở tuổi trên 30, chúng tôi hăm hở lao vào phía trước với một sức sống mãnh liệt, niềm tin vào một tương lai tươi sáng. Chúng tôi không nề hà bất cứ một việc gì miễn là có tiền tự nuôi sống mình trên quê hương mới. Hôm nay, nhìn dáng đi hơi nặng nề của vợ tôi khi cố gắng chạy theo con chó nhỏ, và cảm giác những đau nhức khớp xương đầu gối tôi mới vừa trải qua. Tôi thấy rõ thời gian đã lưu lại dấu vết của nó trên cuộc đời sống con người và cảm nhận được mùa Thu đời người đang đến gần với chúng tôi hơn. Sacha vẫn thích thú chạy nhảy tung tăng, nó kéo sợi dây buộc cổ làm vợ tôi phải chạy theo mệt vã mồ hôi. Tôi tiến lên nắm sợi dây và dẫn cô chó đến một rẻo đất thoai thoải, chúng tôi ngồi xuống nghỉ chân dưới một gốc cây cao.

Ngồi lặng im dưới bóng mát tàng cây, tôi để hồn tôi lãng đãng trở về những năm tháng xa xưa đầu thập niên 90, ở một tiểu bang vùng Trung Tây nước Mỹ. Lúc đó, cả hai chúng tôi đều còn rất ngỡ ngàng trước cuộc sống mới trên vùng đất lạ. Cô mới vừa từ trại tỵ nạn Mã Lai qua và còn đang sống chung với gia đình người chị ruột. Tôi khố rách áo ôm, một thân một mình, không thân nhân, bạn bè, tôi cũng vừa đặt chân lên vùng đất hứa này.

Tính tự lập, tôi cắm đầu vừa đi học ESL vừa đi làm để sống vì không biết chỗ để xin trợ cấp chính phủ dành cho người tỵ nạn; vả lại tiếng Mỹ không rành, nếu biết nói chắc cũng chẳng biết trình bày ra sao. Cô cũng thế, ở nhà chị, tuy không bận tâm nhiều về chỗ ăn ở, nhưng cũng vẫn lo kiếm việc làm cho tương lai riêng mình chứ đâu thể ở nhờ mãi trong gia đình chị mình.

Chuyện chúng tôi quen nhau phải được gọi là chuyện tình “Hamburger” hay văn hoa một chút là Hamburger love story. Cô làm phụ bếp cho một tiệm bán đồ ăn nhanh ban ngày và làm cho hãng lựa thư quảng cáo vào ban đêm, nơi tôi cũng đang làm ca đêm và đi học ban ngày. Trong hãng cũng có một số người Việt Nam làm ở đó. Vào giờ ăn, trong lúc mọi người lấy đồ ăn đem theo ra hâm lại, vừa ăn vừa nói chuyện, tôi ra canteen của hãng, ngày nào cũng mua độc nhất một món “biscuit and gravy”, món bánh bột nướng, ăn kèm với nước sốt trộn nấm, không có thịt, chỉ tốn .99 xu, đem đến ngồi cuối bàn vừa ăn vừa nghe phe ta rôm rả nói chuyện.

Có lẽ cô thấy tôi cứ ăn một món suốt ngày này qua ngày khác, thân hình gầy gò, ốm yếu, ho hen, nên thương tình bước đến gần và cho tôi một cái hamburger, cho có một “chút thịt thà” với người ta để còn đủ sức làm việc. Cũng có thể vì thấy tôi “vợ con chưa có, mèo chó cũng không” nên cô thương cảm tình cảnh gã độc thân, không nhà không cửa, “chẳng ma nào nhìn” vào thời đó. Tôi cảm động thật tình vì tôi không có nhiều tiền để mua những món ăn có thịt và cũng chẳng có thời giờ tự nấu ăn. Cứ đụng đâu, ăn đó. Nói vui, lúc đó tôi mạnh trùi trụi, khỏe như trâu, chỉ có một căn bệnh duy nhất là “rối loạn tiền xài” vì làm đồng nào là xào đồng nấy, chứ không phải “rối loạn tiền đình” như người trong nước ngày nay hay nói về chứng bệnh xây xẩm chóng mặt, mà khi nghe, tôi cứ tưởng họ đang kể chuyện kiếm hiệp của Kim Dung tiên sinh.

Thời đó, chương trình định cự diện HO đang qua ào ạt và đương nhiên gia đình nào, ít nhiều, đều có con gái. Các nàng tuổi cập kê đến Mỹ thật đúng lúc làm cho các chàng độc thân đang trong thời gian hạn hán như gặp được cơn mưa phùn. Mỗi buổi sáng, một chuỗi dài những chiếc xe mới tinh, bóng loáng nối đuôi nhau đậu trước những căn chung cư để mong được đưa đón những lá ngọc cành vàng và cả nhà của nàng đi làm giấy tờ cần thiết; khỏi cần nói, các tài xế ăn mặc bảnh bao, quần áo cũng láng cóng thơm phức nước hoa, đang kiên nhẫn ngồi nặn mụn, soi gương trong xe, nhưng đôi mắt lúc nào cũng nhìn về phía cửa nhà các nàng.

Ở nhà thờ Việt Nam, sau thánh lễ Chủ Nhật hằng tuần, cha xứ có thói quen giới thiệu những gia đình HO mới qua khi họ gia nhập xứ đạo cho mọi người biết mặt biết tên, và hân hoan chào đón họ đến với cộng đồng giáo xứ. Dạo này nhà thờ hình như đông hơn trước vì các thanh niên độc thân có đạo cũng như không có đạo bỗng trở thành những con chiên ngoan đạo đến lạ kỳ. Các chàng ngoan ngoãn, siêng năng đến tham dự thánh lễ và ở lại cho đến phút cuối cùng, chứ thường khi cha xứ vừa cho rước lễ xong là các chàng lẻn về mất tiêu, đến không ai biết, về không ai hay như điệp viên 007. Nay các chàng nấn ná ở lại, ra vẻ cầu nguyện sốt sắng nhưng mắt thì đảo một lượt khắp nơi trong nhà thờ, cho đến khi cha xứ giới thiệu các gia đình mới qua, mà nhất là các gia đình có nhiều con gái thì tiếng vỗ tay càng to. Tôi cũng đi nhà thờ này, nhưng cha xứ hình như quên, không thấy hay không biết tôi là ai. Tôi chưa hề được chính thức giới thiệu gia nhập xứ đạo bao giờ dù tôi cũng từ đảo mới qua gần như cùng một thời gian với họ.

Nhưng trong cái thiệt thòi vẫn có cái may, cuối đường hầm vẫn còn le lói chút ánh sáng. Giữa đám đông xa lạ ấy, tôi vẫn may mắn rinh được một “nàng” tuổi độ trăng tròn, xinh như mộng, đẹp như thơ như hoa mà tôi đang tìm kiếm và mê như điếu đổ. Tên nàng là Impala, họ Chevrolet, sinh năm 1975. Số là một anh trong ban hành giáo, một người tốt bụng, thật thà, và đôn hậu. Anh nghe nói có một chú trẻ tuổi mới ở đảo qua, tướng mạo giống anh như hai anh em ruột. Anh đến tìm tôi sau buổi lễ. Tôi sững sờ nhìn anh. Anh cũng nhìn tôi, miệng há hốc, rớt cả quai hàm. Anh thấy được hình ảnh của chính anh 20 năm trước và tôi cũng thấy tôi, 20 năm sau, trong vóc dáng một người đàn ông 55 tuổi, cao, gầy nhom, và khắc khổ. Có một điểm rất giống nhau là cả hai chúng tôi đều… xấu trai y như nhau.

Anh mời tôi về nhà ăn cơm, rồi tặng tôi chiếc xe Chevrolet Impala đời 1975, mới được 16 năm tuổi. Tôi mừng như bắt được vàng vì tôi đi làm, đi học đều bằng xe bus. Tôi rơm rớm nước mắt vì lòng tốt của anh. Hai mươi năm sau, tuy ở xa, tôi vẫn tìm kiếm thông tin về anh và gởi anh một món quà đặc biệt kèm theo lời cám ơn chân thành nhất của tôi. Tuy món quà chẳng đáng là bao so với thời gian anh làm ơn cho tôi đúng lúc tôi cần nhất. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Tôi nhớ ơn anh mãi cho đến bây giờ.

Vì đã có cô Impala nên tôi không màng đến các nàng nào khác nữa. Biết thân phận “đũa mốc mà chòi mâm son”, tôi theo chiến thuật biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng; tôi luôn chung tình bầu bạn với nàng Impala của tôi, tôi săn sóc cho nàng mỗi ngày, tôi tắm rửa, lau chùi, tôi trân quý nàng như một bảo vật. Trong đôi mắt tôi, cô là tất cả. Tôi đi làm, đi học với nàng, không nhìn ngang nhìn dọc, chẳng lo lắng phải đưa đón ai. Xe của tôi, nếu đậu trước cửa nhà các nàng mới qua, chắc chắn chẳng ai thèm nhìn. Từ đó, số phận của tôi và nàng Impala gắn bó với nhau một thời gian dài.

Nói dài dòng một chút để bạn thấy rằng một người không ai thèm biết đến như tôi bỗng nhiên được một cô gái để ý và đến cho bánh hamburger, hỏi sao không xúc động. Bấy giờ tôi mới nhớ ai đó có nói tình yêu đến qua bao tử nhanh hơn đến từ trái tim là rất đúng trong trường hợp của tôi.

Tôi chăm chỉ học hành, lấy cần cù để bù thông minh, sau hai năm, tốt nghiệp cái bằng về ngành hàng không để có thể tự nuôi thân mình trước rồi mọi chuyện khác tính sau. Ra trường, tôi cùng nàng Impala của tôi chạy mất gần 2 ngày đường xuống tới Phoenix, Arizona vì được một việc làm trong phi trường Sky Harbor; sau đó, tôi trở lại chốn cũ cưới nàng hamburger của tôi. Chúng tôi tạo dựng cuộc sống mới trên vùng sa mạc khô cằn, nóng đến độ sỏi đá cũng biết thở dài.

Tôi vẫn còn hình dung ra vợ tôi, những năm tháng xa xưa ấy, ngày mới lấy nhau, còn là một cô gái trẻ làm việc trong một hãng điện tử, chân mang giày bốt và áo bảo hộ lao động, dáng dấp hơi chậm chạp nhưng vững vàng, bước đi qua lại như con thoi không ngừng nghỉ. Đôi tay bận rộn, lúc hàn những con chíp, con điện trở, lúc dùng kềm để gắn cái tụ điện một cách tinh tế, kế bên là một chồng những board điện tử khác đang nằm chờ đôi tay khéo léo của nàng. Tan ca, chiều về, lạng lách trên các nẻo đường, rồi lái xe như bay trên những xa lộ để mau về đến nhà; cô lại lao đầu vào bếp lo bữa cơm cho chồng, cho con. Biết bao nhiêu công việc mà sao cô vẫn không hề biết mệt là gì.

Những năm sau này, phong trào làm nail đang nở rộ vào cuối thập niên 90, tôi mua cho vợ tôi một tiệm nail để cô làm chủ, khỏi phải làm công cho người khác và cũng mong làm giàu nhanh hơn. Nhưng ngặt một nỗi, tính cô thật thà, không lanh lẹ, nên bị thợ ăn hiếp. Cô lại không có đầu óc tổ chức, thay vì làm cho cô giàu, tôi lại làm cô khổ hơn lúc đi làm hãng. Cô làm ngày hơn 10 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần, bận rộn tiệm, bận rộn con cái, cơm nước trong khi tôi đi học tiếp lấy bằng 4 năm, ngày đi làm, chiều đến lớp nên chẳng giúp gì được nhiều.

Kéo dài như thế cả mấy năm dài, khi tôi học xong, tiệm nail không có lời, thua đi làm thợ, mà quá cực khổ. Hai đứa “chợt nhìn nhau xem dung nhan ấy bây giờ ra sao”? Cả hai chúng tôi mặt mày hốc hác, người ngợm gầy rạc, tàn tạ, thần sắc nhợt nhạt mất hết sinh khí. Con cái thì bỏ bê. Có ngày chúng tôi phải đem con lên tiệm để chúng chơi hoặc làm bài vở ở đằng sau. Tôi quyết định bán tiệm huề vốn để thoát ra giấc mộng làm nghèo, thay vì người ta là giấc mộng làm giàu. Chúng tôi nhận ra giàu nghèo đều có số. Đôi khi chúng ta tận lực nhưng sẽ không có cậy trông, nếu tính toán sai. Tôi không biết làm ăn, tôi làm khổ vợ tôi.

Giờ đây nhìn lại, cũng cô gái đó, tóc chớm bạc và thưa dần, thân hình có hơi đẫy đà hơn trước, đang cố gắng vừa đi vừa kéo ghì dây buộc cổ cô cún Sacha, nhưng cẩn thận, chậm rãi đặt những bước chân trên con dốc đầy sỏi đá, lòng tôi bỗng nhiên chùng lại. Tôi đã đọc ở đâu đó hay nghe ai đó nói khi mình già, đôi chân sẽ già trước. Quả thật, tôi cảm thấy đôi chân mình bắt đầu mỏi mệt, thỉnh thoảng đầu gối đau khi chạy nhanh thì vợ tôi chắc cũng không ngoại lệ. Khuôn mặt nàng lấm tấm mồ hôi nhưng hồng lên vì mải đuổi theo con chó nhỏ.

Tôi kêu vợ tôi cùng ngồi xuống nghỉ ngơi dưới một gốc cây Mesquite, lá nhỏ như lá me nhưng tàng cây rậm rạp, tỏa bóng mát giữa buổi chiều Thu nhạt nắng; tia sáng mặt trời chênh chếch rọi xuyên qua kẽ lá tạo nên những hình ảnh ngộ nghĩnh nhảy múa tung tăng mỗi khi có cơn gió nhẹ thổi qua. Thấy cảnh đẹp, vợ tôi lấy phone ra chụp hình Sacha, cô lục túi kiếm đôi kính đeo lên mũi, không thấy, phải nheo mắt một hồi mới thấy đường mở cái app chụp hình. Tôi nhận ra mắt vợ tôi bắt đầu kém. Tôi đã mang kính cận từ lâu nhưng vợ tôi thì chưa. Khi mình già, cặp mắt đương nhiên mờ đi nhưng bù lại, ta có thể nhìn cuộc đời rõ hơn trước qua lăng kính trái tim dù nhịp đập đã ít nhiều chậm đi.

Không những mắt mờ mà tai cũng lãng. Có lẽ do ngày trước, chỗ làm việc, chung quanh cô chỉ toàn tiếng động đều đều của những cỗ máy đang chạy rì rầm đơn điệu cả ngày. Ra khỏi hãng là những âm thanh tất bật của cuộc sống thường ngày, tiếng cười nói chung quanh mình về chuyện chợ búa, chuyện nhà, chuyện trường lớp, con cái, và cả những chuyện ngoài ngõ. Rồi tiếng xe lăn bánh lạo xạo de ra khỏi bãi đậu, tiếng bánh cao su rít lên trên đường về nhà. Tôi nhớ lại những ngày hai vợ chồng tôi gặp nhau tại bãi đậu xe của hãng, cô vội vã trao lại đứa con gái bé bỏng của chúng tôi đang say ngủ trong nôi, trước khi tất bật vơ vội túi ăn trưa, theo chân các bạn đồng nghiệp vào bấm thẻ cho kịp giờ. Ngày ấy, chúng tôi không có cha mẹ hay anh chị em ở gần để gởi con nên phải làm như vậy mong tiết kiệm được đồng nào hay đồng ấy.

Chúng tôi phải nỗ lực làm việc cho tương lai. Chúng tôi phải làm việc nhiều hơn bình thường để lo trả nợ mấy năm đi học của tôi. Cô không từ nan bất cứ công việc gì, dù nặng nhọc hay không, giúp tôi trả cho xong món nợ sách vở, nợ cơm áo và lo cho cái gia đình nhỏ bé của chúng tôi. Cô không bao giờ se xua trong ăn mặc, ít khi đi shopping trong Malls. Cô chỉ mua những quần áo khi giảm giá, on sale. Tủ áo của cô toàn quần áo rẻ tiền mua ở Walmart, hay sang hơn một chút ở Target.

Tôi thấy thương vợ tôi hơn vì từ nhỏ, cô đã không phải làm bất cứ việc gì trong nhà, kể cả nấu cơm. Cô dân Sài Gòn, nên dù nghèo, vẫn không phải làm việc tay chân cực nhọc. Vậy mà từ khi lấy tôi, cô phải học làm mọi thứ dù cô làm rất chậm không nhanh nhẹn như người ta. Đôi khi tôi phải gắt lên vì kiểu làm việc quá chậm của cô. Chỉ có duy nhất một việc cô làm rất nhanh khó ai qua mặt đó là lái xe. Thật vậy, mỗi lần cô chạy trên đường, chiếc xe như phượng hoàng được chấp thêm đôi cánh, chân ga lúc nào cũng sát sàn xe, cô bị phạt liên miên đến nỗi bảo hiểm xe không muốn bán. Họ nói cô phải chạy chậm lại nếu không, chẳng hãng nào dám bán bảo hiểm cho cô. Tôi nổi nóng la mắng vì sợ cô bị tai nạn, cô chẳng buồn giận, luôn nhẫn nhục, không bao giờ cãi một lời.

Bây giờ, ngồi đây, âm thanh duy nhất chỉ có tiếng gió rì rào như tiếng ru mẹ hiền, có âm thanh êm êm của giai điệu hạnh phúc đang vang vọng trong tôi, và có tiếng chim ríu rít trên ngọn cây đang chơi trò đuổi bắt, chuyền từ cành này qua cành khác nghe xôn xao cả một buổi chiều yên tĩnh và thanh bình. Một con sóc nhỏ xuất hiện, cái đuôi dựng đứng và xòe ra thật dễ thương, đôi mắt nâu lanh lẹ nhìn chúng tôi thật nhanh, rồi biến mất sau gốc cây. Nhắm mắt lại, chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hơi thở của lồng ngực mình, tiếng lá xào xạc đâu đây, tiếng xột xoạt của nai mẹ và nai con nai đang nhởn nhơ gặm những chồi non của lá. Cảnh vật thật thanh bình và đầy chất thiền lặng.

Mẹ con nai thơ thẩn chiều thu

Chợt tiếng vỗ cánh thật lớn của một con chim ưng làm đàn chim nhỏ bay tán loạn và cô cún Sacha của chúng tôi vùng dậy sủa vang, phá vỡ giấc mơ dĩ vãng của tôi. Tôi chợt nhận ra bao lâu nay sao tôi vẫn vô tình không hay biết và không để ý săn sóc người đi bên cạnh cuộc đời tôi, người đã chia ngọt sẻ bùi với tôi hơn 25 năm trường. Đời sống vội vã khiến tôi không còn thời gian để nhận ra người mình yêu thương mỗi ngày, không nhận biết một tình yêu thương tràn ngập trong cuộc sống nàng vẫn âu yếm trao ban. Tôi biết tôi nợ cô một lời yêu thương, một cử chỉ trìu mến đáp trả và chợt thấy thương vợ tôi thật nhiều. Nhìn cô nhắm mắt, lưng tựa vào thân cây, tôi vẫn còn thấy phảng phất đọng lại hình ảnh của của một quá khứ tươi đẹp vừa qua, bây giờ khó mà tìm bắt lại.

Cô cũng vì tôi mà phải lâm vào cảnh má hồng truân chuyên, làm người chinh phụ ngày đêm trông ngóng tin chồng. Những năm tháng dài tôi bôn ba tận những nơi xa xôi bên kia nửa vòng trái đất, ở vùng Trung Đông chiến tranh, chết chóc, loạn lạc xảy ra như cơm bữa. Tuy không là lính chiến, tôi vẫn phải đi vào vùng lửa khói, sát cánh với người lính để bảo vệ cho hậu phương nơi quê nhà. Tôi đi vì chí tang bồng hồ thỉ và vì yêu công việc, nỗi nhớ nhà chắc không day dứt như người ở lại. Tôi đi vì tôi biết tôi sẽ an toàn khi có những người lính chiến đấu bên cạnh bảo vệ tôi. Khi bạn đọc những giòng chữ này, tôi đang ở Kurdistan, một vùng tự trị của sắc tộc người Kurd ở Iraq, và tôi đang nhớ về vợ tôi.

Cô ở nhà, không còn cảnh người thiếu phụ tựa bên song cửa nhìn về phương trời xa xôi, gởi niềm nhớ nhung đến bóng chim tăm cá mịt mùng như trong trường ca Chinh Phụ Ngâm, người chinh phụ nhớ chồng đến “sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng” (1). Cô thay tôi lo lắng việc nhà, vẫn đi làm, về nhà nấu ăn cho con cái, giữ cho mình bận rộn để khỏi phải lo lắng nhớ thương chồng nơi phương xa. Nhưng khi đêm về, cô vẫn nhớ chồng đến quay quắt, khi chiếc gối bên cạnh không có hơi ấm của người chồng yêu thương.

Tưởng sống ở một đất nước văn minh và hùng mạnh nhất trên trái đất này, sẽ không còn cảnh ly biệt vợ chồng, không còn cảnh “đường rong ruỗi lưng đeo cung tiễn, buổi tiễn đưa lòng vướng thê noa” như ngày xưa; nhưng vẫn còn đó hình ảnh buổi chia tay, những cái hôn tạm biệt, những vòng tay ôm ghì lấy nhau trước lúc ra đi. Cô đã vì lý tưởng của tôi mà chấp nhận để chồng mình đi vào chỗ hiểm nguy, không biết trước số phận sẽ ra sao khi hòn tên mũi đạn vốn vô tình. Chỉ những người một thời đã là lính chiến xa nhà và những người vợ lính như trong cuộc chiến Việt Nam, mới thấu hiểu nỗi lòng của người đi kẻ ở. Ôi, người chinh phụ thời nào cũng buồn như nhau!

Có một lần, cách đây khoảng 5 năm, một tối trên đường lái xe về nhà, dưới cơn mưa tầm tã, nôn nóng sao về cho kịp để còn lo cơm nước cho chồng con, cô đã không chịu dừng lại trước một dòng nước lũ đang cắt ngang chỗ trũng trên con đường lộ, trong khi tất cả các xe khác đều kiên nhẫn dừng lại bên đường chờ cho nước rút bớt. Cô đạp mạnh chân ga, hy vọng xe sẽ lướt qua dòng nước đang cuồn cuộn chảy. Chiếc xe chồm lên, nhưng dòng nước mạnh hơn, cuốn phăng chiếc xe theo làn nước. Động cơ xe bị ngập nước, bị “hydro-locked”, ngưng hoạt động, đèn xe tắt ngấm. Cô hoảng loạn la hét bên trong, cửa xe bị khóa vì hệ thống điện cũng hư, không ai dám liều mạng lao xuống nước cứu. Càng sợ hãi, trí óc cô càng mụ mẫm đi vì kinh hoàng, không biết phải làm gì, đành phó mặc cho dòng nước cuốn đi.

Chiếc xe xoay tròn từ từ và chậm rãi. Nước đã tràn vào xe, ngập đến qua mắt cá chân, cô run lập cập vì lạnh và vì sợ hãi nhiều hơn. Cô nhắm mắt lại chờ chết. Chợt một tiếng động khá lớn vang lên, chiếc xe chạm phải một thân cây và dừng lại, không trôi nữa. Khi nước dâng lên cao gần đến đầu gối, cô thoáng thấy ánh đèn xe cứu hỏa nhấp nháy từ xa. Thời gian như đứng lại. Cô vẫn run rẩy, vẫn nhắm mắt cho tới khi cảm giác chiếc xe như bị kéo đi và tiếng người lính cứu hỏa hét to bên ngoài:

- “Are you ok?”.

Cô gào lên tưởng như tiếng hét của mình khản đặc lại trong cổ họng:

- “Yes, yes, yes, I’m ok”.

Khi tôi đến nơi xảy ra tai nạn, cô đang được trùm một tấm chăn và vẫn đang run bần bật, tôi ôm cô thật chặt để truyền thêm hơi ấm cho cô bớt run. Cô thổn thức trong nước mắt:

- “Em tưởng không còn được gặp anh và các con nữa rồi”.

- “Đừng sợ, anh và các con vẫn và sẽ còn gặp em mỗi ngày mà”. Tôi an ủi và nhìn vào đôi mắt vẫn còn đầy vẻ kinh hoàng của vợ mình.

Đêm đó, trong giấc ngủ, cô choàng dậy la hoảng vì dư chấn nỗi sợ hãi vẫn còn trong tâm trí. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy tôi vẫn còn may mắn vì tôi vẫn còn có nàng kế bên và các con tôi vẫn còn có mẹ.

Giữa chốn thiên nhiên đẹp xinh này, nhìn cô nhắm mắt như đang ngủ và hơi thở nhẹ nhàng, tôi chợt ý thức, trong lúc dịch bệnh Covid vẫn còn đang hoành hành khắp nơi, mỗi một hơi thở thật là cái thước đo của sự sống. Tôi cảm nhận được chúng tôi may mắn vẫn còn có nhau, chúng tôi vẫn tự do hít thở bầu không khí trong lành trong khi biết bao người khác phải xài máy trợ thở trong các phòng cấp cứu. Tôi thì thầm:

- “Chỉ cần có em bên anh thì mọi tai nạn, mọi gian nan trong cuộc sống cũng không có gì đáng ngại”.

Cô ngẩng đầu lên hỏi tôi vừa nói cái gì. Tôi chỉ mỉm cười nói không có chi, chúng mình chuẩn bị về vì trời sắp sửa về chiều, rồi kéo cô đứng dậy. Mặt trời đang chiếu những tia nắng muộn màng lấp lánh trên những chòm cây, ánh nắng chênh chếch rọi vào mắt khiến tôi hơi nhíu mày.

Mặt trời lên rồi lặn, nhưng trái đất vẫn tồn tại. Trời dù mưa lớn đến đâu, rồi trời cũng vẫn sẽ nắng. Đời người sinh ra, mất đi, nhưng trái đất vẫn quay. Mọi giòng sông đều chảy ra biển rộng, nhưng biển vẫn không bao giờ đầy. Cuộc sống vợ chồng mỗi ngày nối tiếp nhau như một vòng quay, lập đi lập lại đến nhàm chán, nhưng nếu biết trân quý nhau, tình yêu lúc nào cũng đơm hoa kết trái. Tình yêu là sống và dám hy sinh cho người mình yêu, mối tình ấy sẽ mãi mãi trường tồn với thời gian.

Tôi nghiệm ra cái quý nhất cuộc đời con người là sự bình yên. Hạnh phúc cũng không phải là điều quá xa vời nếu chúng ta biết trân trọng nó dù nhiều người đã không nhận ra cho đến khi đi gần hết con đường đời. Nhìn lại cánh cửa của quá khứ, có lúc tôi tưởng tôi đã mất nàng, nhưng hôm nay tôi vẫn còn được thấy nàng mỗi ngày trong cuộc sống. Tôi biết tôi hạnh phúc.

Tôi biết tôi phải nói với vợ tôi ba chữ “Tạ Ơn Em” ngay bây giờ hoặc sẽ không bao giờ. Tôi biết ba chữ đơn sơ này vẫn không đủ nói lên những hy sinh nàng đã đi bên cạnh tôi suốt bao nhiêu năm trường gian khổ có nhau như trong câu thề hứa của đôi tân hôn trước bàn thờ Chúa (2): “Sẽ trung thành và thương yêu nhau từ bây giờ và cho đến mãi mãi, trong thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời, và chỉ cái chết mới có thể chia lìa đôi ta”.

Ngày nay, ở mọi nước trên thế giới, người ta bày ra ngày Valentine để có dịp chúc tụng hay tặng quà cho người mình yêu. Đối với tôi, tôi không chờ ngày đó mỗi năm, nhưng tôi trân trọng mỗi một ngày sống bên vợ tôi, để tôi vẫn còn nói được ba chữ Tạ Ơn Em với nàng, bây giờ và suốt đoạn đường còn lại của cuộc đời. Xin mượn hai câu thơ rất đỗi chân chất, mộc mạc, và gần gũi của nhà thơ Bùi Giáng để được tạ ơn Em, tạ ơn Mình và tạ ơn Nhà Tôi:

Mình ơi tôi gọi là Nhà

Nhà ơi tôi gọi Mình là Nhà Tôi.

Nguyễn Văn Tới. 03/2021.

REFERENCES:

1 . Chinh Phụ Ngâm. Tác giả Đặng Trần Côn và dịch Nôm Đoàn Thị Điểm. Lament of the soldier’s wife.

https://en.wikipedia.org/wiki/Chinh_phụ_ngâm.

Blog Archive