Showing posts with label Nguyên Nhung. Show all posts
Showing posts with label Nguyên Nhung. Show all posts

Monday, September 8, 2025

Cánh Hoa Pensée



"Đời như giấc mộng, tình như ảo
Nào biết gì đâu, để đợi chờ".

Không biết tại sao tôi vẫn nhớ anh, dù thời gian trôi đi đã hơn 40 năm, mỗi lần hồi tưởng lại những kỷ niệm thời đi học, tôi lại nghe trong lòng rưng rưng một nỗi buồn dìu dịu. Mỗi năm khi mùa Xuân trở lại, nhìn những đóa hoa pensée trước sân nhà, rung rinh những cánh hoa màu nâu, tím, vàng rực rỡ, dưới ánh nắng dịu dàng một sáng mùa Xuân, lòng tôi lại nao nao nhớ về những đóa pensée ngày trẻ tuổi.

Tôi gọi anh là "người anh đồng môn", chỉ vì khi tôi đang học năm cuối Trung học đệ nhất cấp, anh đã sắp sửa ra trường để lên Đại Học. Anh là bạn học của chị tôi, vì thế hai người khá thân nhau, thành ra tôi không bao giờ nghĩ thứ tình cảm đầu đời dễ thương ấy anh lại dành cho tôi, cô bé nghịch ngợm và hay tìm dịp để trêu ghẹo anh mỗi lần gặp.

Anh hiền, hiền lắm, dáng dấp thư sinh, trông chững chạc vì tính ít nói, lại thêm đôi mắt hơi buồn nên lúc nào cũng như chìm trong mộng. Mỗi lần đến thăm chị em tôi, bao giờ anh cũng mang theo cuốn sách mới. Sách vừa xuất bản còn nóng hổi, chị em tôi chuyền tay nhau đọc trước, sau mới tới lượt anh. Đó là mấy cuốn tiểu thuyết của các nhà văn nổi tiếng thời ấy, viết về chiến tranh và những câu chuyện tình tiền tuyến hậu phương đẫm đầy nước mắt. Tâm hồn chị em tôi thật đa cảm, dễ khóc dễ cười , dành nhau những cuốn tiểu thuyết anh đem tới trong khi anh chỉ cười với đôi mắt hiền khô. Để không thể ngờ, mấy chục năm sau tôi có dịp hồi tưởng kỷ niệm thời đi học, anh lại là nhân vật chính cho câu chuyện "Cánh hoa Pensée" của tôi.

Khi mùa Xuân đến, anh và người bạn cùng lớp đến rủ chị em tôi đi chợ Tết, tôi thường kéo theo một, hai đứa bạn nữa. Lúc bị vây quanh bởi một lũ con gái nghịch ngợm, tự nhiên các chàng bắt đầu khớp, vốn ít nói anh càng ít nói hơn, vẫn chỉ hay cười. Chợ hoa nằm gần bờ sông, mỗi năm người ở trong quê chở vào thành phố những chuyến đò đầy hoa, không biết bao nhiêu loại hoa đẹp. Những chậu mai vàng đầy nụ, đứng chen chân với các loài hoa cúc, thược dược, mẫu đơn nhiều màu sắc, khiến khu chợ hoa càng hấp dẫn hơn nhờ bóng dáng của các cô thiếu nữ xinh tươi, với những tà áo màu vờn bay trong gió.

Thuở ấy tâm hồn chúng tôi còn tràn ngập màu xanh biêng biếc của tuổi học trò, hình ảnh của chiến tranh mờ nhạt nơi những chiến trường xa, sự mất mát của người lính ngoài tiền tuyến chưa làm quặn lòng người hậu phương bao nhiêu, nhất là ở tuổi "ăn chưa no, lo chưa tới" của đám trẻ thành phố. Chỉ vài năm sau, khi người bạn của mình lên đường nhập ngũ, rồi vĩnh viễn đi vào lòng đất mẹ, chúng tôi mới đủ lớn khôn để nghĩ về sự mất mát quá lớn lao ấy thì tất cả đã muộn màng.

Năm nào cũng vậy, mỗi khi Xuân về, anh không quên tặng tôi một tấm thiệp Xuân. Bên ngoài bao giờ cũng có hình con én ngậm thiếp chúc Xuân, bên trong dưới tấm giấy kính mờ mờ, một cành hoa pensée vàng, tím được ép khô, màu sắc vẫn tươi tắn. Tôi có cái thú từ hồi bé, hay để dành những tấm thiệp chúc Xuân làm kỷ niệm, nhìn những tấm thiệp to nhỏ bày đầy trên bàn học, tôi có cảm tưởng mùa Xuân lúc nào cũng rộn rã quanh mình.

Tấm thiệp chúc Xuân của anh rất đặc biệt, năm nào cũng gửi ngày tháng giống nhau, dù ngày Tết hằng năm có thay đổi. Mãi sau này anh không còn nữa, khi lật lại chồng thư cũ đời học sinh, vô tình tôi đã nhận ra điều đó. Cánh hoa pensée như một tín hiệu của tình yêu được lập đi lập lại nhiều lần, tiếc thay, tôi đã không hiểu hay không muốn hiểu, và khi ngồi lật lại chồng thư cũ, nhìn những tấm thiệp của người anh đồng môn năm cũ, tôi thực sự đã rơi những giọt nước mắt muộn màng cho một người đã ra đi.

Tấm thiệp Xuân năm xưa cũng kín đáo như tâm hồn anh, có lẽ vì khi anh nhập ngũ, tôi còn quá non nớt để bước chân vào cuộc đời một người lính, nên vì thế mà anh im lặng. Năm nào trong tấm thiệp Xuân cũng chỉ là hàng chữ nắn nót rất đẹp: "Gửi người một đóa pensée", chỉ thế thôi, ngày tháng của mùa Xuân và tên người gửi. Thuở ấy, nhận tấm thiệp chúc Xuân của anh tôi thích lắm, vì nó là một trong những tấm thiệp đẹp nhất trong nhiều tấm thiệp của bạn bè, tôi thích vẻ đẹp rực rỡ của hoa pensée, nâng niu nó vì thích tấm thiệp, chứ chưa hiểu hết nỗi lòng của người tặng.

Sau này tôi có dịp đọc trong báo một bài viết về hoa Pensée, với câu chuyện tình thật đẹp và nhiều nước mắt của một đôi tình nhân. Tôi không nhớ rõ vì hoàn cảnh nào mà người con trai phải ra đi, vượt qua bao nhiêu núi non hiểm trở, để rồi cuối cùng một chiều kia, anh ta đã không bao giờ trở lại. Xác thân anh được vùi chôn nơi rừng sâu, bên một bờ suối vắng. Từ đó trên nấm mộ của người thanh niên si tình kia, mọc lên những bụi cây thấp nhỏ, nở ra nhiều đóa hoa đầy màu sắc tươi thắm, người ta đặt tên cho nó là hoa Pensée, có nghĩa là Thương Nhớ.

Năm ấy chiến tranh bùng nổ khắp nơi, chiến trường cần những người trai trẻ, lệnh tổng động viên được ban hành cho nên anh cũng phải xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Một số bạn cùng trường cũng phải ra đi, không khí của những buổi tiễn đưa đã gieo nỗi buồn mênh mang vào tuổi học trò hồn nhiên, vô tư lự. Chúng tôi bắt đầu cảm nhận được nỗi buồn của sự biệt ly, có những cặp tình nhân tuổi học trò đã thổn thức với nhau trước cảnh người đi kẻ ở:

"Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn"
(Chinh Phụ Ngâm Khúc)

Trước ngày anh lên đường, chúng tôi có một buổi tiệc nhỏ, bạn bè anh dăm người, lũ con gái loi nhoi hay ríu rít nói chuyện, hôm ấy bỗng dưng cũng buồn ngơ ngẩn. Đêm ấy trời mưa, một đám bạn trẻ quây quần bên nhau trong căn phòng khách nhà anh, khói thuốc mờ với những ly cà phê đắng. Khuôn mặt ai cũng đăm chiêu lặng lẽ, nghe tiếng mưa rơi rả rích ngoài hiên, thoảng vào căn phòng ấm chút gió khuya lành lạnh. Trong không khí buồn buồn của ngày cuối cùng bên nhau, người bạn anh ôm cây đàn "guitar", đệm theo tiếng hát mượt mà của cô bạn nhỏ:

"Chỉ còn một đêm nay nữa thôi, mai chúng ta mỗi người một nơi . . . Nhìn hành trang lệ rưng cuối mi, cố nén trong tim một điều gì. . . "

Tiếng hát ngân lên âm điệu buồn buồn trước giờ ly biệt, tôi thấy anh ngồi im lặng trong góc tối, ngó mông lung vào một nơi nào đó rất xa xăm. Đôi lần ánh mắt ấy nhìn tôi thật lặng lẽ rồi quay đi, hình như có tiếng thở dài rất nhẹ khiến tôi trở nên lúng túng, cố tránh tia nhìn đằm thắm của anh.

Đêm đã khuya, mọi người phải từ giã nhau để mai anh lên đường sớm. Trên mặt bàn còn lại những mẩu thuốc cháy dở, những chiếc ly không, lúc ấy tôi mới rùng mình vì cái lạnh của cơn mưa đêm, luồn vào tâm tư nỗi buồn của sự chia ly. Ngày mai, chúng tôi đã có hai cuộc sống khác hẳn nhau, những người còn lại vẫn cắp sách đến trường, những người sắp đi vào miền gió cát. Chẳng biết những gì sẽ xảy đến với người trai thời ly loạn, khi chiến tranh vẫn giăng bủa trên mọi miền của đất nước.

Giây phút chia tay, các bạn đều lần lượt nắm lấy tay anh nói những lời chúc an lành, bởi vì từ nay anh đã thực sự rời ngưỡng cửa học đường, giã từ sách vở, giã từ mái nhà thân yêu để bước vào con đường chiến chinh gian khổ, sẽ đối mặt sống chết với hiểm nguy của chiến trường. Tôi là người cuối cùng từ biệt anh, lúc nắm tay tôi, anh xiết nhẹ, bàn tay anh nóng ấm như chuyển gửi vào đó bao yêu thương mà anh chưa dám ngỏ. Đôi mắt anh quyến luyến một tình cảm tha thiết, anh dặn tôi chăm học, khi nào được về phép anh sẽ đến thăm chị em tôi. Tự nhiên tôi lúng túng rụt tay về, trong bóng tối tôi nhìn thấy tia nhìn nồng nàn trong đôi mắt anh. Đôi mắt của người anh "đồng môn", sau này khi anh không còn nữa, mỗi lần nhớ đến anh, tôi lại thấy lòng thổn thức. . . .

Anh đi xa, nhưng mùa Xuân đầu tiên ở quân trường, anh vẫn không quên gửi về tặng tôi tấm thiệp và bản nhạc "Cánh hoa Pensée", với những lời ca mà tôi chỉ còn nhớ rất mù mờ:

"Ngày nao xa em anh gửi lại. Gửi trao cho em một cành hoa. Hoa Pensée là màu hoa yêu thương. . . ."

Lần về phép đầu tiên trong đời lính, anh ghé vào thăm chị em tôi. Trong màu áo trận, anh chững chạc hẳn ra vì nắng gió quân trường, mái tóc hớt ngắn, nước da đậm đà khỏe mạnh, nhưng đôi mắt thì vẫn buồn làm sao! Anh kể cho chị em tôi nghe về thời gian huấn nhục ở quân trường, biết bao cực nhọc với phương châm "thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu". Ngày anh ra đơn vị, thỉnh thoảng mỗi lần về phép anh lại đến thăm, lại kể chuyện chiến trường, anh nói mạng mình "lớn" lắm nên bao nhiêu lần đụng trận mà đạn không dám đụng vào anh. Tôi hết còn dám chọc ghẹo anh như ngày xưa, còn anh thì dày dạn phong trần, có làm mấy câu thơ tặng tôi trước ngày trở ra đơn vị:

"Mai về thăm lại ngôi trường cũ
Thăm bạn bè xưa tuổi học trò
Nhìn ai, chưa nói lời thương nhớ
Để lại ra đi chẳng hẹn hò."

Sau này tôi ít được gặp anh, chiến tranh đã đẩy anh đi những bước thật dài để người lính ấy càng ngày càng trưởng thành trong binh lửa. Mỗi lần nhận thư anh từ một nơi xa xôi nào đó, những địa danh xa lạ, đọc những dòng chữ thân thương của anh, tôi lại nhớ đôi mắt anh trong buổi tối chia tay nhau trước ngày nhập ngũ. Sao mắt anh buồn ơi là buồn, hình như đó là dấu hiệu báo trước cuộc sống ngắn ngủi của anh trên cõi đời này, người lính trẻ tội tình của thế kỷ 20, khi anh ra trường, lao vào cuộc chiến để đối đầu với lằn tên mũi đạn.

Tôi vẫn là cô nữ sinh bé bỏng, lòng đã biết xôn xao với những rung cảm đầu đời, nhưng tình yêu của anh tôi vẫn thấy xa vời lắm. Có lẽ tôi chưa yêu anh, tình cảm có một lúc nào đó đã để lại trong tôi chút bâng khuâng, nhưng để đáp lại tiếng lòng của những đóa pensée tôi vẫn ngại ngần. Những đêm dài bất chợt nhìn ánh hỏa châu bừng sáng ở một góc trời, tiếng bom đạn rền rền ở vùng xa vọng về thành phố, tôi đã nghĩ đến anh và thầm cầu nguyện cho anh được trở về bình yên.

Đã hơn 40 năm rồi, một khoảnh khắc của thời gian nhưng cũng là một đoạn đường dài để con người trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, đau khổ. Lần lượt những hình ảnh thân quen trong quá khứ có giây phút trở về, tôi lại nhớ đến anh, nhớ đến những đóa pensée rung rinh mỉm môi cười mỗi mùa Xuân tới. Tôi vẫn chỉ gọi anh bằng mấy chữ dễ thương: "người anh đồng môn", hình ảnh anh vẫn hiển hiện trước mắt tôi. Tôi nói "hiển hiện" là vì anh đã không về nữa, chỉ còn hình ảnh người trai trẻ năm xưa trong lòng tôi, đôi mắt dễ thương, nụ cười dễ thương, cái xiết tay ấm áp trong buổi chia tay lúc anh lên đường nhập ngũ.

Đời lính đưa anh đi xa rồi lại về gần, cuối cùng, anh đã bỏ mình trong một trận đánh bên dòng sông quê mẹ. Hôm ấy hai cánh cửa sắt nhà anh mở toang, tôi đi lại nhiều lần nhìn vào chiếc quan tài phủ cờ với những vòng hoa tang, ngọn nến bập bùng hắt lên di ảnh "người anh đồng môn" của tôi, người lính trẻ đã nằm xuống khi tuổi còn thanh xuân.

Tôi vẫn không đủ can đảm bước vào để nói lời từ biệt "người anh đồng môn" dễ thương ấy, vì tôi biết rằng thế nào mình cũng khóc, hoặc để người khác biết được nỗi buồn đã chớm nở trong trái tim, như lần đã rụt tay về vì sợ anh ngỏ với tôi nỗi niềm thương nhớ của những đóa pensée. Không biết ở bên dòng sông nơi anh nằm xuống, dòng máu đỏ của người lính đã loang chảy vào lòng đất, có mọc lên những bông hoa pensée đầy thương nhớ không nhỉ?

Nguyên Nhung



Friday, February 17, 2023

NGƯỜI ĐƯA THƯ

Thời gian mới định cư ở Hoa Kỳ, khi đến cư ngụ khu chung cư nhiều người Việt tôi đã thấy ông ta! Đó là người đưa thư, có bộ râu hung hung xồm xoàm viền quanh miệng, khiến thoạt nhìn người ta thấy ông có nét một ông già Santa Claus mỗi mùa Giáng-sinh!!!

Nụ cười hiền, đôi mắt xanh mông mênh màu biển, ông là người đều đặn mang niềm vui cho đám cư dân sống ở chung cư, đa số mới từ Việt-Nam sang, thường ngóng những cánh thư ở quê nhà!

Ông ta trạc độ ngoài năm mươi, dáng dấp khỏe mạnh, khó đoán tuổi cho chính xác vì bộ râu xồm xoàm đó! Mỗi buổi chiều, khi chiếc xe của Bưu-Điện chạy vào con dốc đầy ổ gà, nơi đặt mấy thùng thư đã thấy có người đứng đợi. Đa số là người già, không biết làm gì cho hết ngày, đi lấy thư cũng là một cái thú !!!

Ông ta bỏ thư vào từng hộp thư của mỗi nhà trong xóm, xong lái xe đi, không quên giơ tay vẫy mấy đứa trẻ đang chơi đùa trên khoảng sân trống.

Mãi cho đến một hôm, trời mùa đông lại mưa tầm tã, tôi thấy người đưa thư ngừng xe trước cửa căn chung cư, rồi chạy ào vào hiên gõ cửa, đưa cho tôi một lá thư. Lá thư của người bạn học từ Việt-Nam gửi sang, đề trúng tên người gửi và địa chỉ “zip-code”, nhưng thiếu số nhà của căn chung cư, không hiểu sao ông ta lại biết là của tôi. Chính vì thế mà tôi biết ông đọc được tiếng Việt, lại còn quen cả tên của người nhận thư, rồi vì sợ thư không đến tay người nhận, thay vì trả lại cho Bưu-Điện, ông mang thư đến thẳng nhà tôi !

Hôm ấy trời bão rớt, mưa suốt từ sáng đến chiều chưa ngớt, bầu trời xám xịt khiến mùa Đông càng có vẻ rét mướt. Tôi cảm động nhận lá thư từ tay ông, nhìn ông ướt át trong chiếc áo mưa màu vàng, những bụi mưa còn đọng trên mái tóc đã ngả bạc với bộ râu hung hung viền quanh miệng. Ông hỏi, bằng tiếng Việt:

“Xin lỗi, có phải tên cô không ?”

Tôi ngạc nhiên, vì lần đầu nghe ông ta nói tiếng Việt, chực nhớ lại bà con trong khu chung cư, gặp nhau ngoài thùng thư vẫn hay nói chuyện này nọ về xứ Mỹ và người Mỹ, có lẽ ông đã nghe được cả. Tôi nhận đúng là tên mình, rất cảm kích vì tấm lòng của người đưa thư. Ái ngại khi thấy mưa vẫn như trút nước, rặng cây ven đường như mờ mịt đi dưới màn mưa trắng xóa. Tôi hỏi ông, bằng tiếng Anh:

“Ông có vội lắm không? Mời ông vào nhà chơi, mưa lớn quá !”

Ông nheo đôi mắt xanh nhìn trời, cười hiền hậu, nói một câu thành ngữ tiếng Anh:
“It’s raining. . . cats and dogs…”

Đoạn ông ta nói bằng tiếng Việt:
” Mưa lớn quá, giống như mưa ở Việt-Nam !”

Tôi mở to mắt nhìn ông thán phục:
“Ông nói tiếng Việt giỏi quá, ông học ở đâu vậy ?”

Người đưa thư giơ tay vuốt những giọt mưa trên tóc, trên mặt, giọng thoáng một niềm vui, thật xa vời:
“Từ Việt-Nam. Tôi đã từng ở Việt-Nam, cách đây ba mươi năm. Việt-Nam luôn ở trong trái tim tôi !”

Tôi mỉm cười, một câu xã giao mà người Mỹ nào cũng học qua, nhưng sao ở người đàn ông này, tôi không thấy sự giả dối ! Một lần nữa, tôi mời ông vào nhà, không khách sáo, trước khi bước vào căn phòng ấm, ông tháo đôi giày để ngoài cửa, giọng dí dỏm:

“Người Việt thường cởi giày trước khi vào nhà, có phải vậy không?”

Ngạc nhiên vì câu hỏi của ông, một người Mỹ hiểu cả thói quen của người Việt, thật là hiếm, như vậy ông ta chắc phải tha thiết với xứ sở của tôi nhiều lắm, tự nhiên tôi thấy có cảm tình với ông . Như hai người đồng hương đã lâu không gặp nhau, ông thổ lộ:

“Tôi nhớ Việt-Nam nhiều lắm, nhớ ‘người’ Việt-Nam lắm !!!”

“Người Việt-Nam” ở đây thì nhiều lắm, sao ông lại nói câu ấy với nhiều cảm xúc trong ánh mắt mà tôi có thể nhìn được. Rồi đưa mắt nhìn khắp căn phòng được bài trí theo kiểu Á-Đông, ông dừng lại một bức tranh trên tường vẽ cảnh mùa Xuân, con ngõ nhỏ với hai hàng mai nở vàng thật đẹp. Ông thảng thốt reo lên, giọng lơ lớ:

“Đấy có phải là hoa mai ?”

Tôi gật đầu, cảm phục một người Mỹ biết nhiều về xứ sở của mình:
“Ồ! Ông cũng biết hoa mai ? Nó là loại hoa biểu-tượng cho mùa Xuân ở quê-hương tôi, và chỉ nở vào mùa Xuân !”

Ông gật đầu, đôi mắt xanh thoáng một nét bâng khuâng, nhìn theo những sợi mưa nghiêng nghiêng đan nhau trong khung trời mờ tối:
“Tôi biết, vì cô ấy tên Mai, Mai là tên người yêu của tôi, cô học-trò bé nhỏ !”

Hình như ông xúc động, yên lặng để dấu đi nỗi buồn. Tôi cũng ngạc nhiên không ít, khi khám phá ra mối tình của người đưa thư, một mối tình có lẽ rất đẹp mấy chục năm trước vẫn ấp ủ trong trái tim ông, từ những ngày trẻ tuổi !

Buổi chiều mưa hôm đó, một chiều mưa trên xứ người, nghe câu chuyện tình của người đưa thư, tự nhiên tôi cảm thấy dâng lên trong lòng một nỗi buồn rất Việt-Nam, cả cái không-khí lãng-đãng một chút ngậm-ngùi theo từng giọt mưa rớt xuống hàng hiên ẩm-ướt ! Trong khi chờ mưa ngớt hạt, người đưa thư bồi-hồi kể tôi nghe chuyện tình của ông ba mươi năm trước…

***** * * *
David sinh trưởng ở Sacramento, thủ phủ của tiểu bang California. Vùng đất phì nhiêu màu mỡ có rất nhiều cánh đồng trồng rau và trái cây, đủ cung cấp cho hầu hết các tiểu bang của Hoa-Kỳ. Sinh ra trong một gia đình đông anh em, cả nhà sống trong một trang trại trồng hoa quả vùng ngoại ô, David có bản chất một người đồng quê rất hiền lành và thật thà, yêu thiên nhiên !

Học hết Trung Học, David rời gia đình đến Nam Cali để tiếp tục việc học. Sau bốn năm Đại Học, vốn bản tính hiền lành, thích làm việc thiện, David tình nguyện sang Việt-Nam làm công tác giáo dục và thiện nguyện. Do đấy, chàng có một thời gian dài đến gần bốn năm phục vụ trong các trung tâm Việt Mỹ, dạy tiếng Anh cho những người Việt trẻ tuổi.

Lúc ấy David còn trẻ lắm, mới hai mươi hai tuổi. Trước khi sang Việt-Nam, chàng được học tiếng Việt sáu tháng, cho nên lúc đến Việt-Nam chàng đã bập bẹ nói được những câu xã giao thông thường với người bản xứ. Năm David tới Việt-Nam, chiến tranh đang thời kỳ leo thang, nhưng ở thành phố tương đối người dân vẫn sống trong yên bình, chưa nhìn thấy bao nhiêu sự đe dọa của chiến tranh. David chỉ ở Sài-Gòn một thời gian ngắn, sau đó được đưa về Cần Thơ. Chính nơi này, thành phố thơ mộng ven bờ sông Hậu, đã khiến David lúc quay về Mỹ, mang theo một vết thương lòng!

David đã có dịp đi lại mấy lần trên nẻo đường mang nhiều sắc thái miền Tây Nam Phần, đó là quốc lộ 4. Những cánh đồng lúa bát ngát, những vườn cây xanh, những mái tranh nghèo khuất sau hàng dừa rủ bóng trên giòng sông đục ngầu phù sa, lắc lẻo nhịp cầu tre bắc ngang sông rạch. Chàng thích nhất những chuyến phà qua sông Hậu-Giang, nhất là khi chiều về, vài cọng hoa lục bình màu tím lênh đênh trên sóng nước. Phong cảnh Việt-Nam thật lạ lẫm, mới mẻ nhưng gần gụi biết bao, không hiểu sao khi nhìn thấy miền đồng bằng sông Cửu-Long lần đầu tiên, David đã cảm thấy yêu mến vùng đồng bằng, êm ả như vùng quê nơi chàng sinh trưởng, dù mỗi nơi đều có nét khác biệt nhau !

Vì là nhân viên dân sự, David may mắn chỉ ở thành phố, không đối diện với chiến tranh như những người lính Hoa-Kỳ tham chiến ở Việt-Nam, và cũng không hề giao tiếp với giai cấp phụ nữ bám theo đoàn quân viễn chinh ! Cho nên, những ngày dạy học tại Trung Tâm Việt Mỹ, David thật thơ ngây khi lần đầu tiên trong đời, chàng đã trao trái tim mình cho cô bé Việt-Nam, Mai là một cô học trò rất chăm chỉ, ngoan hiền trong lớp học căn bản của Trung Tâm này !!!

Mai đẹp lắm, ít là dưới mắt của David, một vẻ đẹp Á-Đông rất ưa nhìn. Mái tóc đen mượt, đôi mắt đen láy như hai hạt nhãn, nét ngây thơ dịu dàng của cô con gái Á-Đông khiến con tim chàng trai Mỹ mới biết yêu lần đầu, đã thổn thức vì nhớ thương. Như câu ca dao Việt-Nam,”Yêu ai yêu cả đường đi lối về”, David cũng yêu cái mênh mông của dòng sông Cửu-Long, yêu hàng dừa lơi lả nơi bến sông, nhìn những đợt sóng nhấp nhô vào những buổi hoàng hôn, David tưởng như nó chuyên chở bao nhiêu tình tự dân tộc, hiền hòa, vui tươi và đầy thiện cảm. 

Mỗi buổi sáng, David say sưa ngắm nhìn những tà áo trắng bay bay như những cánh bướm, trên chiếc xe đạp thong thả của đám nữ sinh mỗi buổi đến trường. Cả thành phố dậy lên sức sống, người ta đi lại đông đảo, đàn bà xách giỏ đi chợ, vài chiếc xe chất đầy rau quả, những đứa trẻ con ngoan ngoãn đi học với nhau, chiến tranh hình như chưa hiện diện nơi đây. David có được những tháng ngày thật tuyệt vời với công việc của mình, một biệt thự xinh đẹp tọa lạc trên con đường trung tâm thành phố.

Năm ấy Mai độ mười bảy tuổi, tư chất thông minh cộng thêm nét ngây thơ của cô bé mới lớn, đã chinh phục trái tim ông thầy trẻ tuổi. Cách biểu lộ tình cảm của mỗi dân tộc có khác nhau, David không hề dấu diếm tình yêu của mình với cô gái trẻ, trong khi Mai cố tình né tránh, dù nàng rất có cảm tình với ông thầy vừa đẹp trai, lại rất hiền hậu nữa. Sau nhiều lớp ở Trung tâm Việt Mỹ, Mai là một học sinh xuất sắc được chọn là người phụ giáo cho những lớp học vỡ lòng, trong thời gian này hai người cùng làm việc chung, David càng thấy gần gũi nàng hơn !!!

Với bản tính thẳng thắn của người Mỹ, David tỏ tình và đề cập với Mai về chuyện hôn nhân, chàng nghĩ nó rất đơn giản như bao cuộc hôn nhân trên xứ sở chàng. Nhưng điều làm cho David đớn đau hơn cả, không ngờ Mai đã từ chối kết hôn với chàng, nguyên nhân chỉ giản dị là không cùng chủng tộc, cha mẹ nàng coi đấy là điều không thể chấp nhận, dù David là một chàng trai học thức! David không hiểu tại sao Mai không quyết định được chuyện hôn nhân của mình, dù rằng Mai cũng cảm thấy mình yêu thương chàng trai Mỹ tóc vàng, mắt xanh hiền lành ấy ! David thắc mắc thì Mai chỉ im lặng thở dài, rồi cho chàng biết những gia đình Việt-Nam bảo thủ, không bao giờ chấp nhận chuyện con cái kết hôn với người ngoại quốc !

Sống ở Việt-Nam khá lâu, ăn những món ăn Việt-Nam, học được cách cư xử của người Việt, David hoàn toàn chấp nhận tất cả những đòi hỏi theo phong tục, tập quán người Việt; nhưng vẫn bị từ chối. Thật sự chàng không thể nào hiểu nổi dân tộc này, trong cái thân thiện bên ngoài hình như họ vẫn dấu kín những thành kiến bí ẩn, có lẽ đã ăn sâu vào gốc rễ trong tâm hồn họ. Không lấy được Mai, nhiều lúc thất vọng đến chán chường, David còn muốn tìm cái chết để quên đi hình bóng diễm kiều của cô gái Việt! Cuối cùng, bị khủng hoảng tinh thần, David không thể tiếp tục làm việc, với ý nghĩ một ngày nào đó Mai thuộc về người khác. David được hồi hương trước thời gian ấn định, lúc chia tay, lần cuối cùng gặp nhau, Mai đã khóc và nói với chàng:

“Nếu không được kết-hôn với anh, em sẽ không bao giờ lấy ai nữa !”

* * ******
Câu chuyện tình của người đưa thư tưởng đến đấy là hết, bất ngờ David hỏi tôi:

“Tại sao dân-tộc cô lại có cái nhìn khe-khắt như thế ? Một tình yêu khác chủng-tộc có phải là điều tội-lỗi ?”

Tôi bối rối nhìn ông, không làm sao cắt nghĩa cho ông hiểu. Đúng, tình yêu tự nó đâu có gì tội lỗi, nhưng dưới con mắt lệch lạc của những người có nhiều thành kiến, họ vẫn không chấp nhận , David lại nói tiếp:

“Ba mươi năm nay tôi vẫn không quên điều đó, vẫn tìm-tòi văn-hóa Việt, và tôi hiểu tại sao dân-tộc Việt-Nam không tiến lên được. Trong một vấn-đề giản-dị đó, họ đã không có cái nhìn rộng-rãi, thì những vấn-đề lớn hơn, họ cũng khó mà thay-đổi !”

Tôi thở dài nói với David:
“Tôi nghĩ không chỉ người Việt-Nam chúng tôi mới có quan-niệm thiển-cận như thế, ngay những người Mỹ, cũng đâu có thích con cái họ lấy một người không cùng sắc-tộc với mình. Hơn nữa người Việt-Nam lấy chữ hiếu làm đầu, cho nên ít khi chống đối lại Cha Mẹ, và họ chấp nhận điều ấy như là một thứ định-mệnh đã đặt để, ông thông cảm cho Nhưng thưa ông, đấy chỉ là những suy-nghĩ của thời-gian đó, bây giờ mọi điều đã thay-đổi !!!”

Giọng David đều đều như tiếng mưa rơi ngoài hiên, ông nói:
“Cô có biết tôi đã đau-khổ biết bao nhiêu khi không lấy được Mai, tôi đâm ác-cảm với tất cả người Việt vì lối suy-nghĩ của họ. Khi về nước, lâu lắm tôi vẫn không quên được người con gái ấy, rồi lại nhớ đến câu nói cuối cùng của Mai nói với tôi, tôi không nghĩ rằng Mai đã thực-hiện được. Khi đất nước cô bị rơi vào tay Cộng-Sản, tôi vẫn hy-vọng là sẽ gặp Mai trong đám người Việt di-tản sang Hoa-Kỳ, nếu cô ấy chưa lấy ai thì trên xứ sở này, không ai cấm cản Mai kết-hôn với tôi cả !”.

Tôi ngắt lời David:
“Ông có gặp lại cô ta không ?”

David gật đầu, đôi mắt xanh chợt buồn, để rồi lại toát ra một tia nhìn ấm áp:
“Có, tôi đã gặp lại Mai, nhưng bấy giờ tôi là người dừng lại, vì Mai đã là một nữ tu đang săn sóc cho đám trẻ mồ côi đem từ Việt-Nam sang. Lần này tôi thực sự cảm thấy mình không có quyền theo đuổi con người cao quý đó . Mai đã hy sinh tình yêu, tuổi xuân để phục vụ cho một nghĩa vụ cao cả hơn, đấy là tình nhân loại .Tôi vẫn yêu Mai, nhưng không có quyền giữ lấy nàng làm của riêng, khi nhìn thấy bản chất cao đẹp trong tâm hồn nàng ”

Giọng ông ta chợt bùi ngùi:
“Đồng thời, tôi cũng hiểu được ý nghĩa lời nói của Mai, khi đã khóc và nói với tôi câu nói cuối cùng trước khi chia tay nhau. Nàng là người con gái Việt Nam thuần túy có những suy nghĩ theo tính cách của dân tộc nàng. Nhưng trong tình yêu, tôi hiểu nàng cũng yêu tôi, thích hợp với đời sống và việc làm của tôi, nhưng vẫn không dám chống đối lại Cha Mẹ. Để rồi cuối cùng, cô đã chọn con đường ấy, con đường phục vụ cho tha nhân !”

Đôi mắt xanh buồn buồn của người đưa thư lại hướng về bức tranh có những bông mai vàng óng ả treo trên tường, thật dịu dàng ông nói tiếp:

“Từ đấy, tôi muốn mình cũng như Mai, làm một điều gì đem lại niềm vui cho mọi người, dù rất nhỏ nhoi. Nếu không hỏi cô, có lẽ lá thư này sẽ bị trả lại cho người gửi, bạn cô mất đi một niềm hy-vọng, và ngay cả cô cũng mất niềm vui được đọc một lá thư. Bao nhiêu năm rồi tôi có nhiều cơ hội để tìm một việc làm tốt hơn, nhưng tôi vẫn vui thích với nghề nghiệp hiện tại, khi nghĩ mình đã đem đến cho mọi người những gì họ chờ đợi, nhất là trong những mùa Lễ, Tết ! Tôi cũng hiểu rằng từ miền đất xa xăm nghèo khổ kia, họ đã phải tiết kiệm như thế nào mới có đủ tiền để gửi một lá thư cho người phương xa. “

Tôi cảm động nghe ông ta nói, tự thấy xấu hổ với mình khi chính tôi có lúc đã rất hững hờ với những lá thư từ bên nhà gửi sang, cũng chỉ vì sợ phải giúp đỡ.

Ngược giòng thời gian, tôi như nhìn thấy mình trong quá khứ, trong lúc cùng cực vẫn trông chờ một niềm hy vọng, vậy tại sao tôi lại không có được tấm lòng như người đưa thư này lúc ấy, nhìn đôi mắt xanh của ông ta, chòm râu hung hung viền quanh mặt, trông ông hiền hậu và dễ thương như ông già Noel đem niềm vui cho trẻ con mỗi mùa Giáng-Sinh !

Tôi nói với ông rất thành thật:
“Tôi cám ơn ông, một người Mỹ rất có tình với quê hương tôi, dân tộc tôi, đủ trước kia ông đã bị đau khổ vì sự suy nghĩ của họ. !”

Mưa đã ngớt, chưa tới sáu giờ mà trời mùa Đông đã tối xầm lại. David đứng dậy, ông còn phải trở về Bưu điện, đem theo những lá thư người trong chung cư nhờ ông gửi giùm. Ông chào tôi rồi mang đôi giày vào chân, mỉm cười nhìn những bóng đèn màu chớp tắt trên cây Giáng Sinh ở góc phòng. Tôi nhìn theo người đưa thư bước ra đường, lòng dâng lên một niềm ấm áp cho dù đang là mùa Đông ở xứ người.

Câu chuyện của David đã làm tôi suy nghĩ. Tình yêu muôn thuở vẫn chỉ là Tình yêu, nhưng vượt lên trên đó, nó có một sứ mệnh thật cao cả khi người ta nhìn ra cái đẹp của nó, và sống với cái đẹp của tình yêu !

Giờ này, ở một nơi nào đó trên đất Mỹ, Mai, cô gái Việt Nam năm xưa, có lẽ nay đã đứng tuổi, vẫn hăng say phục vụ tha nhân trong lãnh vực của cô. Không biết cô có hiểu rằng, chính tình yêu của cô đã làm cho David, người đưa thư quen thuộc của khu chung cư, cũng đang đi con đường của người ông yêu tha thiết năm xưa, cũng với mục đích đem niềm vui đến cho mọi người. 

Giá tất cả thế nhân đều nghĩ đến nhau với một tấm lòng như thế, thì có lẽ chiến-tranh đã chấm dứt từ lâu trên trái đất !

Nguyên Nhung 

Saturday, April 24, 2021

Về Với Dòng Sông

- Nguyên Nhung -
Ngày Hà chào đời ở đó đã có dòng sông, ngay trước mặt, cách một con đường mà nơi mé sông người ta trồng đầy hoa phượng. Mỗi độ hè về nắng lên rực rỡ, hoa đỏ ối soi mình dưới dòng sông lung linh như một tấm lụa đào. Vào mùa thu, cơn mưa dầm miền Nam làm rớt xuống hàng hiên những bong bóng nước phập phồng, cuốn theo những chiếc lá nhỏ rớt xuống lòng sông, trôi theo những giề lục bình hoa phớt tím, lang thang không biết đâu là bờ, là bến.



Năm 1954, bố Hà trôi giạt theo đoàn người di cư từ Bắc vào Nam. Hà nghe nói bố vào Nam chỉ có một mình với người bác ruột, ông bà nội Hà không đi vì sợ nơi xứ lạ quê người, phần tiếc vườn rau ao cá. Miền Bắc khi ấy vừa tiếp thu, không khí chính trị sùng sục như nồi nước sôi, ông bà nội cho bố đi trước, hy vọng một vài năm đất nước yên ổn, cả nhà lại đoàn tụ. 

Ai ngờ chuyến đi ấy là chuyến đi không có ngày trở về, hai miền Nam Bắc thực sự phân ly từ nhịp cầu Hiền Lương trên dòng sông Bến Hải, bố Hà chỉ có một thân một mình bơ vơ ở miền Nam.
Người bác dâu không tử tế như bố nghĩ, lại thêm anh chị họ đông nên dần dần bố thấy lạc lõng như chịu cảnh mẹ ghẻ con chồng. Cố học xong mảnh bằng Tú Tài, ông nhập ngũ ngay, ra trường là một sĩ quan tốt nghiệp trường Trừ Bị Thủ Ðức. Từ đấy đời sống của ông trôi nổi theo những đơn vị và những chuyến xe nhà binh, đâu cũng là nhà. Mãi đến khi về Trà Vinh, thị xã buồn với tiếng lá reo của hàng sao già trong ngôi chùa Khờ Me cổ kính, gặp mẹ Hà, người tình đầu tiên và cũng là vợ hiền của ông.



Cuộc tình của bố mẹ Hà là cuộc tình "Tình Bắc, duyên Nam". Mẹ Hà lúc ấy là giáo viên dạy Tiểu Học, sống với gia đình người dì thứ Năm có chồng là công chức cao cấp ở Tỉnh. Ông bà ngoại Hà ở miền quê, trong một cuộc đất ven sông rộng hằng mấy mẫu, trồng toàn dừa nước để lấy lá bán cho người ta lợp nhà, và vườn cây ăn trái đủ thứ ổi, mãng cầu, cam, quýt và dừa xiêm.



Ngày mẹ quyết định lấy bố cũng gặp phải trở ngại dữ dội phía bên ngoại, dù hai người cùng là người Việt Nam, nhưng hai chữ "Bắc Kỳ" vẫn mơ hồ như là người khác nước. Bà ngoại Hà e sợ cảnh về làm dâu nhà người Bắc, khi biết bố Hà chỉ có một mình, bà lại ngại thứ con đường con chợ. Cả hai mẹ con khóc lên khóc xuống nhiều phen, sau phải nhờ ông dượng có uy quyền nhảy vào can thiệp, màn kỳ thị Bắc Nam mới chấm dứt. Bố Hà tập nói tiếng Nam, giọng miền Bắc cứng đơ là những tràng cười mua vui cho gia đình bên vợ, nhưng tính ông hiền lành, lại tốt bụng, khéo cư xử nên dần dà ai cũng thương.



Bố Hà tập ăn canh chua miền Nam, mắm kho nấu với tép bạc, lươn vàng, cá lóc và cà tím. Tập ăn cọng bông súng, rau dừa và rau giấp cá, canh củ mài nấu với tôm bóc vỏ có rắc ngò gai, dưa mắm thay cho cà bát ngâm tương, lâu ngày ăn quen nên đi đâu cũng nhớ hương vị miền Nam. Chợ Trà Vinh nằm ven bờ sông, tấp nập ghe thuyền từ các nơi chở đến nên tôm cá tươi nhảy soi sói, cây trái miệt vườn còn thơm hương đồng cỏ nội, dân chúng lại mộc mạc ấp lẫm tình người. Món đặc biệt nhất của Trà Vinh là bún nước lèo đầy ắp những tôm, thịt và cá lóc.Tuy vậy, bố vẫn thèm món riêu cua đồng miền Bắc, những tháng chợ nhiều cua đồng, bố bày cho mẹ nấu riêu cua miền quê nội. 


Những con cua đồng miền Nam trước kia chỉ để luộc ăn chơi với muối tiêu, nay được mẹ giã nhỏ lọc lấy nước, rồi phải biết bí quyết nấu, thịt cua nổi lên từng mảng thật đẹp trên mặt nồi canh, ăn với cây chuối non thái mỏng và rau kinh giới, thêm chút mắm tôm của người Bắc. Thỉnh thoảng ngoại ra thăm, mẹ lại trổ tài nấu món bún riêu cua đồng miền Bắc, ai ăn cũng khen ngon. Bởi vậy sau này khi Hà được bố mẹ cho về quê thăm ngoại, đã thấy món canh cua đồng được phổ biến rộng rãi nơi những nhà bên ngoại.



Canh cua đồng

Bố mẹ lấy nhau hơn một năm thì Hà ra đời. Bố đặt tên cho cô con gái đầu lòng là Thanh Hà vì con sông xanh trước cửa nhà, tuy con sông nước lờ lợ đục ngầu phù sa. Vào mùa khô, nước kém, nước biển tràn về làm nước sông lờ lợ. Người ta không uống được nước sông như những nơi khác thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nhưng đã có nước giếng. Ngay nước giếng cũng đầy phèn, mỗi khi giặt giũ xong, Hà thấy trên móng tay bám một lớp trắng xoá. Vài hôm, mẹ Hà lại kêu chị người làm gọi những xe nước uống vào đổ đầy mấy cái lu lớn, mỗi cái xe chở nước được phủ lên mặt những cành lá dứa. Sau này Hà mới biết muốn có thứ nước để uống, người ta phải tìm những mạch nước ngọt, nằm gần ngôi chùa Phướn ở ngoại ô đào thành những cái giếng vừa to vừa rộng, người lấy nước có thể đi xuống lòng giếng và múc nước về chứa trong thùng, lóng trong rồi mới đem đổi cho người dùng. Người ta không gọi là "bán nước", để tránh hai chữ oan nghiệt mà bất cứ người Việt Nam nào cũng lờ mờ hiểu là chẳng hay ho gì.



Nhà của bố mẹ Hà là một căn nhà ngói được xây theo kiểu mới, xen lẫn với những căn nhà cổ ẩn sau vườn cây xanh có từ thời Pháp thuộc, nằm bên này bờ sông gần phố chợ. Trước nhà là một giàn bông giấy màu hồng tím, chiếc cổng sắt sơn màu vàng nhạt. Từ trong nhà bước ra, trước mặt là dòng sông, đi về phía tay trái là khu nhà ở, phong cảnh thật là thơ mộng với nhiều vườn cây ăn trái nằm dọc ven con đường mé sông, không chen chúc chật chội như những khu khác. Nhưng những năm về sau cuộc chiến lan rộng hơn, Hà thấy ở mé bờ những con rạch nhỏ đã có đám người từ trong quê chạy ra thành phố lánh bom đạn. Họ làm nhà bằng cây tràm, gỗ tạp và thiếc mỏng, lợp lá, nằm chen chúc nhau trên bờ rạch, rác rưởi và bao nhiêu thứ xú uế được đẩy xuống dòng sông, phong cảnh đã không còn thơ mộng nữa.



Ði về phía tay mặt là con đường dẫn ra chợ, chỉ một con đường mà hai cảnh sống đã khác nhau. Ðấy là một khu phố chợ phồn thịnh, tràn đầy sức sống, có những vựa củi, tiệm tạp hoá, cửa hàng chạp phô của người Hoa và cả quán ăn nữa. Cả một khu chợ nằm ven sông, chen chúc những chiếc ghe xuồng từ miền quê chở rau cỏ, tôm cá từ quê ra chợ, người ta lên xuống những chiếc đò máy đi về hai ngả của dòng sông. Hà chỉ biết lờ mờ ngả bên phải dẫn về quê ngoại của mình, và ngả bên tay trái đi về những làng mạc ngoài sông Cái, từ đấy có một cửa sông rộng, nước chảy xuôi ra biển. 

Cũng trên dòng sông ấy, gần khu chợ là một chiếc cầu sắt bắc từ bờ bên này sang bờ bên kia, gọi là cầu Long Bình. Bên này là phố chợ an ninh và bên kia, chỉ cách một nhịp cầu mà đêm đêm, người ta có thể nghe thấy tiếng súng nổ vu vơ. Mẹ Hà chập tối đã lùa lũ con vào nhà, nét âu lo thoảng trên khuôn mặt dịu hiền, khi thấy bố Hà vì bận công tác vẫn chưa về nhà ăn cơm chiều. 




oOo
Những năm còn bình yên, dòng sông vẫn hiền hoà đưa những chuyến đò về quê ngoại ăn Tết. Con đò lướt đi trên dòng sông mênh mông, hai bên bờ là những rặng dừa nước, những cây bần, bình bát, bằng lăng hoa tím như đan thành một bóng râm mát rượi, làm đẹp thêm không khí an bình cho dòng sông miền quê ngoại. Suốt năm ở thành phố, chị em Hà chỉ mong Tết hay hè được đi đò về quê ngoại, rón rén đi trên chiếc cầu khỉ bắc trên con mương ven bờ sông, để thấy căn nhà của ngoại có khoảng sân rộng trồng đầy cây kiểng, nhìn con bò mẹ đứng yên cho con bú, và chị em Hà được ăn thoả thích những thứ cây trái trong vườn nhà ngoại. Buổi chiều, trên chiếc tam bản, người chị họ đưa mấy chị em đi chơi dọc theo dòng sông, thỉnh thoảng lại có chiếc đò máy phăng phăng lướt sóng, chiếc tam bản bị nhồi lên nhồi xuống theo làn sóng trong nỗi sợ hãi của chị em Hà.



Ngày Hà lớn dần lên là những năm chiến tranh càng ngày càng lan rộng, mẹ Hà không dám đưa con về quê ngoại như những năm trước, bố Hà lại càng vất vả vì những cuộc hành quân nguy hiểm. Mãi sau này, lần đầu tiên Hà theo lũ bạn thời Trung Học qua chiếc cầu sang bên kia sông vào một ngày nắng đẹp, Hà mới thấy quê hương sao đẹp đẽ vô ngần. Ngồi với bạn trên một bờ cỏ non của Xóm Ðầu Bờ, con đường này kéo dài về những vùng xa như Giồng Rùm, Bàng Ða, Cầu Ngang rồi sẽ đưa du khách đến Ba Ðộng "biển xanh cát trắng". Chiến tranh đã giết dần mòn những khung cảnh nên thơ của đất nước, chỉ qua đến Ðầu Bờ, Hà đã được nhìn đàn cò trắng xoải cánh bay trên những thửa ruộng, người nông dân quần xắn cao trên đầu gối đang cấy mạ trên thửa ruộng săm sắp nước. Hà không hình dung nổi ở vùng đất ấy, bóng đêm cùng với thần chết rình rập lên trên thân phận con người.

Chuyện ấy xảy ra đã lâu nhưng với Hà là một ám ảnh khôn nguôi, trước cái chết hãi hùng cha của người bạn cùng lớp. Ông chỉ sang sông để làm công tác bình dân học vụ, và vài hôm sau, người ta thấy ông nổi lên với cái xác cụt đầu. Hà không hiểu nổi sự hận thù nào có thể có được trong những công việc tốt đẹp như thế. Ðể rồi nhiều năm sau, tâm hồn cô bé đã bớt ngạc nhiên khi thỉnh thoảng nhìn thấy xác người trôi trên dòng sông, tấp vào phố chợ, những người sống ven bờ sông hãi hùng hàng mấy ngày không dám tắm tát, giặt giũ, bơi lội nữa.

oOo
Năm 75, lúc ấy Hà đã mười sáu tuổi. Ðáng lẽ là thời kỳ bắt đầu tuổi mộng mơ thì Hà đã già dặn hơn, chỉ vì là chị lớn trong nhà, trong lúc bố một sáng một chiều bỗng dưng trở thành người không chỗ đứng . Bố kể lại cái cảm giác kỳ lạ của bố những ngày sau chiến tranh, khi đất nước được lãnh đạo bởi những người anh hùng áo vải, chân đất. Sự suy nghĩ của họ thật đơn giản là đánh đổ những cái cũ, nhưng cái mới thì lại trống trải, do đó chẳng phải bố bị đưa đi tẩy não, mà cả những người trí thức cũng tự nhiên phải công nhận là mình chưa đủ trí tuệ. 

Căn nhà của bố mẹ nay đã cũ kỹ, hình như nó cũng buồn theo khi bố Hà từ giã vợ con lên đường ra Bắc. Chuyến về quê vẫn chỉ có một mình như chuyến vào Nam cũng chỉ có một mình, nhưng lần này bi thảm hơn. Chuyến đi thăm bố ở miền Bắc là lần cuối cùng Hà được gặp bố, bố dặn Hà thay bố về quê cũ tìm lại ông bà nội và các chú bác trong nhà. Ông bà nội đã mất, chỉ còn lại hai nấm mồ được xây bằng những tảng đá ong. Sau đó về Nam, mẹ quyết định cho Hà và hai đứa em kế theo chị đi vượt biên như lời bố dặn dò.

Khi bước chân ra đi, Hà không hề nghĩ có ngày mình sẽ trở lại quê nhà có một mình, sau chuyến vượt biên kinh hoàng bi thảm đó.

 Hà mất một lúc hai đứa em. Chuyến đò chuyển người lên tàu lớn để ra khơi bị rượt đuổi, giữa một đêm tối trời đã đụng vào ghềnh đá. Ðêm rất lạnh, con đò bị lật xuống bất ngờ, hai đứa nhỏ đang ngủ chìm nghỉm trong tấm chăn ướt không vùng vẫy ra được. Hà may mắn bám vào được chiếc thùng nước rỗng, giữa những người bị nạn lóp ngóp, lặn hụp giữa đợt sóng dữ và bóng tối, sau đó được dân trong vùng mang xuồng ra tiếp cứu, may mắn mới còn sống sót.

 Lúc bước thấp, bước cao trong bộ quần áo ướt sũng, theo đám người đồng cảnh hoạn nạn đêm ấy về trại giam, Hà chưa nghĩ nổi là mình đã mất hai đứa em, và không biết tại sao mình còn sống. Hai đứa em trai tuổi mới lớn, tính còn trẻ con, mỗi buổi chiều vẫn bơi lội bì bõm nơi dòng sông trước nhà, mới đó đã không còn. Những ngày trong tù, Hà vẫn hoảng loạn nghĩ là hai đứa đi chơi đâu, và mỗi bữa cơm, Hà lại thảng thốt gọi em về ăn cơm, trong nỗi thương cảm, đau sót của những người đồng cảnh ngộ.



Phải một thời gian lâu lắm Hà mới tạm quen sự vắng mặt của hai đứa em, khi một người bạn tù đã nghĩ ra cách nói dối là hai đứa đã được cho về với mẹ. Mãi mấy tháng sau khi được thả, mẹ đưa Hà đến nơi chôn cất hai thằng em trai, hai nấm mộ đất cắm hai mảnh gỗ mỏng, nằm trên một vồng đất ven con sông cái.

 Hai nấm mộ nằm bên nhau, cỏ mọc lún phún trong khu đất của một ngôi chùa miền quê, nơi ấy Hà còn thấy vài nấm mộ nữa. Tất cả là những nạn nhân xấu số mà người ta vớt được xác vài ngày sau cái đêm kinh hoàng đó. Một bên là vồng đất cao trồng rẫy, một bên là hàng dừa xanh lả bóng ven sông, tạo thành một khoảng bóng lớn che trên những nấm mộ đất đơn sơ. Hai đứa em nằm đó, hai thằng bé dễ thương vẫn chị chị em em hôm nào, nay chỉ còn là hai nấm mộ lặng lẽ nằm ven bờ sông, ngày ngày nghe tiếng sóng âm vang dội vào bờ cát.

Chưa thấy bến bờ tự do, gia đình Hà đã đánh đổi lấy một giá quá đắt cho hai chữ tự do, để cuối cùng lại quay về chốn cũ với bao nhiêu mất mát. 

Sau ít lâu, hai thằng nhỏ được gia đình bốc mộ đem tro cốt về quê. Hai cái hũ đựng hình hài được đem gửi trong một ngôi chùa gần nhà, cũng nằm ven dòng sông. Ðôi khi Hà nghĩ về thế giới bên kia, liên tưởng như hai đứa em vẫn ngày ngày bơi lội trên dòng sông, vẫn nhìn thấy những chuyến đò đưa khách từ bờ bên này sang bờ bên kia mỗi buổi chợ. Chắc hẳn những ngày sau đó, hai linh hồn thơ dại kia, mỗi ngày đã có tiếng kinh, tiếng mõ xoa dịu chút nào những mảnh hồn lạnh lẽo. Những ngày trước đó, không mấy đêm mà Hà không thấy hai đứa em trở về, lần nào cũng như lần nấy, hai đứa nhỏ người ướt sũng như vừa từ bến nước lên, lần nào chúng cũng than lạnh. Bao nhiêu lần trong giấc mộng, giữa đêm khuya, Hà hoảng hốt choàng dậy đi lấy quần áo cho em. Cũng ngay lúc ấy, Hà như nhìn thấy chập chờn hai chiếc bóng trắng, tan đi như sương, phả vào căn phòng một luồng hơi lạnh ngắt.



oOo
Sau này, Hà lại một lần nữa thử thời vận với biển khơi, chuyến đi thập phần sinh tử nhưng cuối cùng cũng đến được bến bờ tự do, năm ấy Hà đã hơn hai mươi tuổi. Bố Hà vẫn chưa về, chỉ có mẹ và đứa em nhỏ nhất ở nhà. Làm sao nghĩ nổi rằng hạnh phúc lại có thể mất đi một cách quá dễ dàng như thế, sự tan nát của một gia đình. Lớn lên , Hà chưa kịp yêu thì cuộc đời đã giáng xuống bao thảm cảnh, khiến mỗi lúc nhớ về dĩ vãng thì chỉ là những hình ảnh mơ hồ trong mênh mông cuộc đời. Con đường đến trường rợp lá me bay, hàng phượng vĩ ven sông in xuống đáy nước rung rinh màu hoa đỏ thắm. Chuyến đò đêm từ quê ngoại về thành phố, sông bao la lấp lánh ánh trăng vàng, hai ven bờ là những thôn xóm rải rác, cây lá mập mờ dưới bóng đêm, chiếc cầu sắt nằm vắt ngang dòng sông. Hà mang theo hình ảnh ấy vào tâm khảm khi có những tháng ngày sống một mình đằng đẵng chốn quê người. . .

Cuối cùng thì bố cũng trở về với mẹ, với căn nhà bên dòng sông mà lúc bố vào Nam đã nhận đấy là quê hương. Những lá thư của bố viết sang không hề than thở, nhưng nhìn dòng chữ yếu ớt run run của bố, Hà hình dung ra sự đổ vỡ của tâm hồn lẫn thể xác. Phải một thời gian khá lâu, Hà mới mang được bố mẹ và đứa em út sang Mỹ. Hai đứa em chết năm xưa bố mẹ vẫn để trong chùa, sang đến xứ người Hà thấy bố vẫn không vui hơn, hình như bố cứ u uẩn nỗi nhớ quê và bao điều không làm được.

oOo
Từ ngày xa quê hương, Hà không nghĩ là mình sẽ trở lại. Về với dòng sông nơi những năm tháng xa xưa, Hà có lúc đã đắm hồn theo những giọt mưa giăng giăng mịt mùng, khi bóng chiều đã ngả xuống mặt sông, có những chiếc xuồng lướt qua như đi về cõi hư vô. Mưa từ trời đổ xuống, nước từ dưới sông dâng lên hoà vào nhau một chút sầu vời vợi.



Vậy là Hà vẫn trở lại, về với dòng sông, thăm căn nhà xưa, thăm miền quê ngoại, và cũng là để mang cốt hai đứa em về với dòng sông như ý muốn của bố mẹ. Nếu một mai không ai còn trở về, hai đứa em cuối cùng cũng đã hoà tan vào dòng sông chốn quê nhà, như thân phận con người rồi cũng trở về với tro bụi.

 Chiếc tam bản buổi sáng hôm ấy chỉ có Hà với cô gái chèo thuyền có khuôn mặt thuần hậu, đó cũng là hình bóng Hà trong những năm tháng cũ. Nhìn dáng vẻ mảnh mai với đôi tay chèo của cô con gái miền lục tỉnh trong chiếc áo bà ba, Hà biết chắc muôn đời sẽ không bao giờ quên nổi hình bóng dòng sông quê hương trong tâm khảm.

 Ôm khư khư chiếc xách tay có đựng tro cốt của hai đứa em, nước mắt Hà giàn giụa khi nhớ đến ngày xưa, hai thằng em được chị đưa đi tìm tương lai nơi xứ người, có biết đâu lần ấy là lần cuối cùng biền biệt cõi thiên thu.


Hà tụng kinh nho nhỏ, chiếc xuồng cứ thế lướt êm trên dòng sông gờn gợn sóng, hướng về phía cù lao có rất nhiều vườn cây ăn trái. Giữa khoảng trời nước mênh mông ấy, Hà đã chọn là nơi êm đềm nhất để hai đứa em, một lần cuối cùng được an nghỉ nơi dòng sông quê mẹ. 

Khi đổ nốt nhúm tro tàn xuống lòng sông, nước mắt Hà cứ tuôn như mưa. Cô gái chèo xuồng cũng không dấu được đôi mắt đỏ, cái miệng xinh xinh cũng đang lâm râm niệm Phật.

Ôi! Những giọt nước mắt của kẻ tha hương một lần trở lại chốn quê nhà, đã rớt xuống làm mặn thêm cái mặn mà của dòng sông quê mẹ, nơi đã từng sinh ra, đã từng lớn lên, đã có biết bao kỷ niệm đầm ấm.

 Còn một ngày cuối cùng trên quê hương để ngày mai trở lại nước Mỹ, Hà tìm đến căn nhà xưa nơi Hà đã mở mắt chào đời, đã ấp ủ bao nhiêu kỷ niệm một thời nay được bán lại cho người khác. Chiếc cổng sơn vàng vẫn rợp bóng cây bông giấy màu hồng tím, cây mận đỏ của mẹ trồng trước sân vẫn còn đó, tự nhiên Hà rưng rưng muốn khóc.

Ðứng nép vào bờ tường phía bên ngoài của căn nhà xưa, Hà dõi mắt nhìn theo đám trẻ con vẫn lội bì bõm dưới bến sông, bập bềnh từng mảng rác bẩn tấp vào mé cầu và giề lục bình hoa phớt tím lênh đênh trên sông chiều. 

Bóng chiều đã nhập nhoà in xuống dòng sông một mảng mây tím lúc hoàng hôn, cuộc sống dường như có quá nhiều thay đổi, nhưng dòng sông vẫn mãi mãi là dòng sông năm cũ. Bỗng trong một giây phút ngắn ngủi, Hà có cảm tưởng mình mơ ngủ, khi rõ ràng nhìn thấy hình ảnh hai đứa em lẫn trong đám trẻ con, đang vùng vẫy bơi lội dưới mé sông. Hai cái đầu hụp lên hụp xuống trong dòng nước, rồi tan đi như bong bóng.



Friday, March 5, 2021

Nồi canh riêu cá

Để tưởng nhớ đến Mẹ Già - với "Nồi Canh Riêu Cá" ở quê nhà năm xưa.

Cứ ra Tết độ mùng bảy là cụ Chánh lại làm một nồi canh riêu cá. Lúc ấy trời đã sang xuân, nắng dịu, gió thổi hiu hiu, những món rau tươi cũng rất sẵn sàng cho nồi canh riêu cá được đậm đà, mát mẻ. Mọi người sau những ngày Tết ăn nhiều thứ nóng nảy, nặng bụng, đều cảm thấy khoan khoái, dễ chịu với nồi canh riêu cá, một món ăn dân dã, ngon miệng trên những mâm cơm của gia đình miền Bắc.

Bà Chánh người Bắc Ninh, nơi xuất xứ những bài dân ca quan họ nổi tiếng. Thuở còn trẻ, bà cũng có đi hát đối, không phải vì ăn chơi, lãng mạn gì nhưng đấy là nền văn hoá đặc trưng của dân tộc. Bà Chánh vào Nam thấy đám trẻ mỗi lần hát bài Dân ca Quan Họ, bà lại nhớ đến khúc "Người ơi, người ở đừng về" , cũng vì mấy câu "Hai bên vạt áo ướt đầm như mưa" mà ông Chánh độ ấy còn trẻ, gốc người Thái Bình, đã phải về quê nói với cha mẹ đến xin cô gái Bắc Ninh về làm vợ.

Năm năm mươi tư, dạo ấy bà Chánh còn trẻ, mới độ bốn mươi thì ông chết, bà một mình dẫn ba người con về quê chồng, tỉnh Thái Bình, vùng đồng chiêm. Sau khi ông Chánh qua đời, bà Chánh nửa muốn đem con về quê mình, nhưng rồi thời cuộc đưa đẩy, từ đấy cứ theo người làng nước chạy ra Hải Phòng xuống tàu đi Nam. Bởi vậy khi ra đi, bà cũng mất liên lạc luôn với gia đình ở quê nhà, lúc cùng lũ con ngồi trên chiếc tàu há mồm lênh đênh từ biển Bắc xuôi về Nam, nước mắt bà cứ tuôn như mưa. Nhờ ơn trời cả nhà đi được hết, không thiếu một mống. Năm ấy anh con trai cả mới mười tám, đứa con út lên bảy. Cũng vì bà muộn con, lấy chồng mấy năm cầu khẩn mãi trời mới làm phúc cho được mống con trai, rồi thêm luôn hai cô con gái.

Tưởng hôm ấy ra đi bà Chánh bặt tin luôn người thân ở quê nhà, nhưng lần hồi khi vào Nam họ cũng gặp lại nhau. Hóa ra lúc thời thế hỗn độn, người nào người nấy cứ im ỉm từ giã làng quê mà đi. Lắm nhà kẻ ở người đi, chỉ có một dải đất mà biền biệt ngóng chờ nhau đến hai mươi năm chưa gặp lại. Hai mươi năm ly loạn, bom đạn giăng giăng trên quê hương làm đau lòng người dân hiền lành trên hai miền đất nước, bà Chánh vẫn khắc khoải nhớ từng con đường làng, lũy tre xanh, những thửa ruộng xanh màu lá mạ, gác chuông nhà thờ vươn lên khoảng trời đầy mây tím, vài cánh chim bay về tổ mỗi khi chiều xuống.

Miền Nam mưa nắng hai mùa, Tết đầu tiên đón Xuân trời nắng chang chang, món thịt đông miền Bắc không thể thực hiện được. Chợ Tết dưa hấu chất cao như núi, bánh tét thay cho bánh chưng, mùa Xuân mà nóng đến chảy mỡ, bà cứ nhớ cái rét ở quê xưa thắt cả ruột.

Bà Chánh tiêu biểu cho một người phụ nữ Việt Nam hiền lành, tần tảo và đảm đang. Bà chẳng hiểu chính chị, chính em là gì, nhưng từ lúc Tây về nước, Việt Minh lên nắm chính quyền, rồi sau này lại bảo là Cộng Sản, xem ra làng quê đã có chiều thay đổi. Từng đoàn bộ đội từ mặt trận kéo về, đêm nào cũng văn nghệ, đánh trống, phèng la, thanh niên nam nữ, trẻ con trong làng họp nhau lại để nhảy "son đố mì " thì bà đâm sợ. Tự nhiên người ta nhòm ngó nhau từ cái rổ đi chợ cho đến nồi cơm trong bếp, người ta bươi móc sự giàu nghèo của nhau để mà kết tội.

Làng bên chồng lẫn lộn vàng thau, chẳng biết ai tốt ai xấu, ai thật ai giả, có một số đi biệt đã lâu nay trở về xem chừng con người đã đổi khác. Mỗi chiều, ngay cả tiếng chuông nhà thờ nghe cũng buồn mênh mang, dường như từ độ ấy, nghe đã vắng tiếng cười vui trong các thôn ổ, gặp nhau bỗng nghi ngại điều gì, đa số những người lớn tuổi thường nhìn nhau rồi quay vội đi nén tiếng thở dài. Tuy là đàn bà, lại góa bụa, nhưng bà cũng biết nhìn xa, cứ kiểu cách này thì đám con bà khó mà nên người. Thế là một đêm tối trời, bà dẫn lũ con theo dăm người trong họ nhà chồng bỏ làng ra đi, nước mắt cứ tuôn như mưa dầm tháng Bảy.

Bà Chánh di cư vào Nam, nhưng phong tục tập quán nơi quê cha đất tổ thì bà không thay đổi. Tết chưa phải là Tết nếu không có bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành, dưa cải, thịt đông, thịt kho tàu và nồi gà xáo măng, lại thêm giò thủ nhai lựt xựt, đậm đà lẫn với tiêu sọ và mộc nhĩ. Món ngọt thì đã có nồi chè kho, đấy là thứ đậu xanh đãi vỏ nấu nhừ, nhưng không nhão, cô lại với đường rồi đổ ra cái mâm gỗ, trên mặt rắc vừng.

Quan trọng nhất vẫn là vại dưa, vại cà, Tết lại phải thêm món dưa hành để ăn với thịt mỡ. Món dưa hành miền Bắc sau này cũng có khác đi khi ở miền Nam, vì mỗi nơi có một lối muối khác nhau. Miền Nam ăn cái gì cũng ngọt, cho nên dưa hành chua ngọt ăn cũng hay hay. Ở làng bà ngày xưa, hễ thời làm con gái là phải biết muối dưa muối cà, cô nào đoảng vị, "muối dưa, dưa khú, muối cà, cà thâm" là kể như ế chồng.

Bây giờ theo thời gian mọi người đã gọi bà Chánh bằng cụ, khi anh con trai lấy vợ rồi có được ba đứa con lớn tồng ngồng cả lên. Cô con gái kế cũng đi lấy chồng, còn mỗi cô út kén cá chọn canh vẫn ở nhà với mẹ, cụ Chánh vẫn ở với con trai. Phong tục Việt Nam mình thế, "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử". Đó là cụ theo lối cổ, chứ thời buổi này mọi thứ thay đổi cả rồi, còn mấy ai lại chịu lệ thuộc con cái như phụ nữ Việt Nam ngày xưa.

Buổi sáng hôm nay, cụ Chánh vọc tay vào vại dưa, xem lại mớ dưa chua cụ làm từ trong Tết. Mấy ngày Tết, cả nhà đã thanh toán nhanh chóng mấy món thịt đông, thịt kho nước dừa ăn với dưa cải, dưa hành của cụ. Dạo còn ở ngoài Bắc cụ Chánh chỉ làm thịt kho tàu, thịt thái từng miếng nhỏ cỡ hai đốt ngón tay, kho xong miếng thịt đỏ au, tươm mỡ, rất đậm đà. Nhưng từ lúc vào Nam, cụ bắt chước người miền Nam cắt thịt từng miếng to tướng, kho với hột vịt và dùng nước dừa tươi, nồi thịt kho trông thật hấp dẫn, vừa mềm, vừa béo, vừa thơm. Dầu vậy, thịt kho tàu hay thịt kho nước dừa, nếu không có món dưa cải chua thì vẫn chưa đủ bộ. Ngay từ khi miếng dưa chưa đủ chua, còn nồng nồng vị cay và thơm lựng mùi hành xanh, các con các cháu cụ đã thắc thỏm khen ngon , đã bảo cụ Chánh làm dưa khéo từ hồi con gái.

Hôm nay chỉ còn ít thịt kho, cả nhà ăn đã ngán, cụ Chánh nhìn mớ dưa còn lại bảo con dâu:

"Hôm nay đi chợ nhớ mua bún, cá thu tươi với lại cà chua, thìa là , hành lá. Nhớ là cà chua phải thật chín, rau sà lách, rau kinh giới và tía tô, thêm một bó ngò rí nữa mẹ nó ạ."

Cô con dâu người Nam, gốc miền Tây Nam Bộ, tính tình rất đơn sơ cho nên độ mới về làm dâu, mẹ con cũng có vài khác biệt nho nhỏ. Chẳng hạn cụ kho thì phải mặn, người miền Nam lại thích ngọt cho nên lúc nấu ăn, thế nào cũng phải cho thêm tí đường. Lâu dần cụ Chánh cũng quen với lối nêm nếm của miền Nam, ăn canh chua cá lóc đã thấy ngon, nhưng món riêu cá của cụ cũng chẳng xa lạ gì với cô con dâu gốc Nam Bộ ấy nữa. Bây giờ "Nam Bắc đề huề", cô con dâu đã biết pha tiếng "ạ" mỗi lần nói chuyện với bà con bên chồng, cái giọng Nam pha Bắc nghe ngọt ngào dễ thương làm sao.

Cô con dâu hiểu ý mẹ chồng, năm nào cũng vậy, nồi canh riêu cá là món cuối cùng tổng hợp tất cả những món ngon ngày Tết còn lại, vậy mà cả nhà ai cũng thích. Chị xách giỏ đi chợ, nhớ kỹ những món mẹ chồng dặn, vì cụ Chánh chả mấy khi ra chợ, cụ ở nhà lãnh phần ru cháu ngủ. Ra Tết đồ hàng bông rất rẻ và rất non, xanh mươn mướt. Bao năm rồi về làm dâu cụ Chánh, chị đã quen cái món rau xanh ăn với canh riêu cá của bà mẹ chồng. Những món bánh chưng, lạp xưởng, giò thủ, giò lụa, thịt kho, xáo măng giờ này xem đã nặng bụng lắm. Giữa tiết trời thế này, trong người thấy hao háo một cái gì man mát, tươi tươi , xem ra món canh riêu cá đáp ứng thật là đúng lúc.

Cô con dâu đi chợ về, bình thường thì chị vẫn nấu ăn, nhưng đặc biệt món canh riêu cá ngày đầu năm phải đích thân do cụ Chánh nấu. Cụ rửa sạch mấy khứa cá thu với một chút nước muối, bao nhiêu thứ tanh tưởi trôi đi nhờ nước muối. Sau đó, cụ xát một chút muối tiêu vào từng khứa cá, rồi mới chiên sơ trên chảo mỡ. Cụ Chánh vớt hết dưa chua còn lại trong vại, dưa đã chua, ăn tươi thì hơi ghê răng nhưng chua thế này thì nấu riêu ngon tuyệt. Cụ trầm trồ nhìn mớ cà chua chín đỏ thẫm, cà phải chín thì nồi canh mới ngon, là vì trong cái chua ngọt của cà lẫn với cái chua dôn dốt của dưa, nó hòa hợp y như là có thuyền thì phải có sông vậy.

Cụ Chánh thái dưa, thái cà, đảo trên bếp với một chút hành lá, rồi tất cả những thứ thịt thà, mắm muối còn dư trong trạn cụ đổ cả vào nồi riêu. Người ta cho cụ là người tằn tiện, không bỏ phí một tí gì, nhưng nếu đã trải qua trận đói năm Ất Dậu như cụ, cả nhà suýt chết đói nếu không có người họ hàng giúp cho ít gạo nấu cháo, thì không thông cảm được cái lòng của cụ. Cái kinh nghiệm quí giá ấy, sau này các con cụ mới thấy rõ, nhất là anh con trai phải đi "cải tạo" mấy năm, càng nghĩ anh lại càng thương mẹ đã chắt chiu, tiện tặn.

Bây giờ cụ Chánh quay lại với nồi canh dưa của mình. Tí nữa thì cụ quên, còn phải cho vào tí mắm tôm, nhờ vậy hương vị của nồi canh dưa mới đậm đà, mà mấy anh muối hoặc nước mắm không làm sao có được. Ngần ấy thứ hỗn hợp với nhau, có thể nói nồi canh riêu cá là một thứ canh đặc biệt hòa hợp tất cả những thứ đồ ăn linh tinh còn lại của nhà bếp, bát thịt kho cũ, bát mắm ăn dở, tất cả trộn lẫn vào nhau để thành một hương vị riêng. Bếp vừa lửa, canh sôi vài dạo, canh dưa phải nấu kỹ mới ngon, nhưng cũng không lâu quá để miếng dưa cải vẫn còn hơi sần sật, và cái màu cà chua đỏ thẫm lẫn lộn với màu dưa cải vàng, một lớp mỡ váng trên mặt nồi canh, nhìn đã thấy thèm.

Cụ Chánh cho những khứa cá thu chiên vào nồi canh dưa, cá lẫn với dưa, bốc lên một mùi dễ chịu. Người ta cũng có thể nấu dưa với sườn heo non, hoặc thịt bò bắp, nhưng thật ra không anh nào qua mặt được thứ riêu cá. Cụ sống ở vùng biển nên dùng cá biển cho tiện, thực ra thịt cá thu vừa thơm, vừa bùi, đem kho riềng thì phải gọi là vô địch trong các thứ cá, trẻ con ăn không sợ hóc xương. Nồi canh dưa không thể nào ngon nếu không có hành, thìa là, khi nấu canh xong, người nội trợ phải cho vào nồi canh rồi bắc ngay xuống bếp, mùi hành lá và thìa là đặc biệt dậy lên một mùi thơm khó mà tả nổi.

Trong lúc nồi canh đặt trên bếp, cụ Chánh đã lo sửa soạn món rau sống. Trong chiếc rổ to, những cọng xà lách non mềm mại, tươi hơn hớn như con gái đang xuân, rau ngò rí thật thơm, kinh giới, tía tô, diếp cá đầy vị thuốc. Người Việt Nam mình sống trên đống thuốc mà không biết, những thứ rau cỏ hàng ngày đã cung cấp bao nhiêu thứ mát tì, mát vị, bổ âm bổ dương, lại cứ cầu kỳ đi tìm những thứ thuốc giời ơi, uống lắm chỉ phá gan, nát thận. Cứ nghiệm cái câu "thịt cá hương hoa, dưa cà căn bản", mới biết ông bà ta ngày xưa đã tìm ra được chân lý trong vấn đề ẩm thực, mới thấy cái văn minh, văn hóa của dân tộc tiềm tàng ngay từ trong cách ăn, nết ở.

Trưa hôm ấy, mâm cơm được dọn lên chỉ duy nhất có nồi canh riêu cá, đấy là dấu hiệu báo Tết đã hết, các món ngon, đầy bụng cũng không còn, nhà nhà đã trở lại những thức ăn dân giả đạm bạc. Gia đình anh con trai cả, gia đình cô con gái lớn, cô con út chưa chồng nhưng anh rể tương lai cũng được mời đến ăn canh riêu cá của cụ, chắc chắn là anh sẽ thành con rể sau này khi đã có dịp thưởng thức canh riêu cá.

Cả nhà quây quần quanh nồi canh riêu nóng, một rổ bún trắng ngần, mát như lụa, bún chan canh riêu nóng ăn với rau sống và một chút nước mắm cay. Cái hài hòa của thực phẩm và rau cỏ đi với nhau làm khoan khoái lục phủ ngũ tạng trong cơ thể con người, nhưng cái chính là nó đã nói lên sự bền chặt, ấm áp của một gia đình đoàn tụ. Họ nhai rau ráu, họ húp sùm sụp, miếng rau quyện vào miếng cá, bún cứ thế trôi tuồn tuột vào bao tử mọi người trong nhà, ăn đến đâu mát ruột đến đấy. Cụ Chánh hể hả nhìn niềm vui khoan khoái giãn ra trên nét mặt lũ con cháu cụ. Bát canh riêu cá chứa đựng biết bao nhiêu tình yêu của một người mẹ, đậm đà như miếng cá nằm trong bát canh sóng sánh, mát mẻ dịu dàng như các thứ rau xanh biểu hiện cho một tấm tình quê mộc mạc, chuyên chở được tất cả tình thương của người mẹ Việt Nam trong gia đình, với tình quê hương bàng bạc trong đó.

Sau bữa ăn, hai cô con gái phụ chị dâu dọn dẹp mâm bát, cả nhà quây quần trong phòng khách uống nước vối ăn chè kho. Năm nào cũng thế, nồi chè kho ăn lăn lóc mãi ra giêng cũng chưa hết, vì nó ngọt quá, nhưng cứ xong một bữa canh riêu cá ngon lành, miếng chè kho hình như bùi đậm hẳn lên, khi được chiêu bằng ngụm nước vối nóng.

Chẳng ai ngờ được có một ngày cụ Chánh lại theo đám con sống ở quê người. Sau năm 75, anh con trai bị đưa đi cải tạo ngoài miền Bắc, cụ lại khăn gói gió đưa đi thăm con, rồi nhân tiện đáo về quê cũ thăm mồ mả cha mẹ, ông bà. Bao nhiêu năm xa quê, cụ cứ thắt cả ruột khi nhìn lại xóm làng cũ, nơi chôn nhau cắt rốn nay đã tàn tạ, xác xơ, may là mồ mả cha mẹ vẫn còn vì nhờ có mấy tấn đá ong quây quanh nên cũng còn dấu vết.
Chuyến xe lửa từ Nam ra Bắc, đi qua bao nhiêu đoạn đường dài, cụ Chánh không ngủ được, cụ đứng tựa vào khung cửa sổ của con tàu, ngắm nhìn cảnh quê xưa đang lần lượt trở về trong tầm mắt của cụ. Làng xóm miền Nam khác xóm làng miền Bắc, chỉ cần vượt qua ranh giới hai miền là cụ đã nao nao xúc động, khi nhìn thấy cây đa cao ngất với những lũy tre xanh bao bọc thôn làng, dăm nóc nhà ngói đỏ, mấy đứa trẻ con đang chơi đánh đáo dưới bóng cây cổ thụ râm mát.

Cụ cứ bùi ngùi mãi, lúc bước thấp cao về tới quê xưa, ngôi Thánh Đường hồi ấy đẹp đẽ xiết bao, nay đã nghiêng ngả, tiều tụy như người ốm lâu ngày không vực được dậy. Nhưng lúc ấy hai miền Nam Bắc có khác gì nhau, mà cụ cũng không còn đường để chạy, mãi cho đến ngày anh con trai và cả gia đình được đi Mỹ theo diện HO, là cụ vui vẻ đi ngay không nuối tiếc.

Nói như thế không có nghĩa cụ là người bạc bẽo với quê hương, nhưng nếu không theo con cháu đi nước ngoài, mong gì cụ có để giúp đỡ cho người còn ở lại. Sang Mỹ, người cụ có khoẻ ra nhưng cái lưng lại còng hơn, bao nhiêu năm vất vả người cụ không đổ xuống là may. Suốt ngày trong nhà, cụ lạch từ nhà trên xuống nhà dưới, từ trong nhà ra ngoài sân, rồi từ cái khoảng sân sau mát mẻ ấy, cụ trồng rau. Anh con trai sợ mẹ già vấp ngã khi vun tưới cho vườn rau sau nhà, đã gắn sẵn cho mẹ một hệ thống tưới cỏ tự động.

Cứ mỗi chiều, cụ Chánh lạch bạch ra vườn, ngồi ở mé hiên gần cây hoa đào, phe phẩy chiếc quạt trong tay, cụ nhìn những tia nước phun lên rào rào trên những luống rau, luống cà, cụ lại ngỡ trời mưa. Cơn mưa xuân ở quê nhà ngày xưa cũng y như thế, trong trí cụ lại lan man hình ảnh mình với áo tứ thân, những câu dân ca Quan Họ ngày trẻ tuổi. Cánh đồng lúa chín với những cô thôn nữ hai má rám nắng hồng, đôi môi đỏ vì miếng trầu cánh phượng, những mối tình quê mộc mạc và đằm thắm, ý tứ kín đáo mà lại biết bao nhiêu tình. Buổi chiều mắt cụ Chánh tuy đã hấp hem, nhìn những giọt nước đọng trên rau cỏ trong vườn, sao nó cứ thấm thía tình tứ như câu quan họ ngày xưa:

" Người ơi! Người ở đừng về,
Người về ta chẳng ý y cho về,
Ta giữ vạt áo, ý a ta đề câu thơ,
Người ơi! Người ở đừng về
Người về em những ý y khóc thầm,
Hai bên vạt áo ướt đầm, đầm như mưa,
Người ơi! Người ở đừng về . . . . "

Không biết có phải vì chiều nay nắng hanh hanh, cơn gió Xuân chợt tới mà bà cụ già tự dưng lại cất cái giọng khàn khàn để hát lại cái bài Dân ca Quan họ . Những giọt nước mắt nóng hổi bỗng dưng cứ chảy dài xuống đôi gò má nhăn nheo, cụ lấy vạt áo lau vội đôi hàng lệ, hóa ra cái tình quê vẫn còn nguyên trong lòng cụ, như hương vị nồi canh riêu cá cụ cũng vẫn mang theo từ quê nhà tới quê người. Thế cho nên dẫu sống ở xứ người, sung sướng tới đâu, chẳng mấy ai đã quên được mảnh đất quê nhà, và những kỷ niệm ở quê hương, một lúc nào đó sống dậy, lại biến thành những nỗi nhớ đằm thắm dịu dàng suốt một đời vậy.

Bởi thế, đã bao nhiêu năm qua đi không thay đổi, nhà cụ Chánh vẫn duy trì nồi canh riêu cá, rau tươi và món chè kho vào ngày mùng bảy Tết. Đạm bạc, đơn sơ, nhưng cái ấm cúng của một gia đình sum họp, ràng buộc với nhau bằng nồi canh riêu cá của bà mẹ già mới là những gì phải ghi nhớ mãi.

Nguyên Nhung

Friday, December 18, 2020

 Mùa Giáng Sinh ở San Antonio

 Nguyên Nhung 

Bây giờ đã vào tháng Mười Hai. Trời lạnh nhưng nắng vẫn mượt mà óng ả, trời càng trong càng nắng lại càng lạnh, những hạt nắng như những viên thuỷ tinh lung linh, xuyên qua tấm màn ren mỏng chiếu vào cây Giáng Sinh đặt ở góc phòng. Cuối năm, dọn dẹp lại căn phòng nhỏ chất đầy báo chí và sách vở, bỗng dưng tờ tạp chí “People” nằm dưới chồng báo đập vào mắt tôi, để chợt nhớ rằng đã được đọc một bài phóng sự rất hay, viết về những đứa bé chào đời sau khi cha của chúng nó là những người lính đã hy sinh ở chiến trường.

 

Đó là câu chuyện của nước Mỹ, những đứa bé được chào đời từ tinh trùng của người cha để lại, cất giữ trong những ống nghiệm được đông lạnh. Để làm gì thì không ai hiểu, nhưng đã làm cho tôi vô cùng xúc động, khi nhìn thấy hình ảnh những đứa bé trai hay gái, giống y hệt như hình ảnh người cha đã ra đi mãi mãi không bao giờ trở về. Những người tình hay người vợ ấy đối với tôi họ phải có một tấm lòng can đảm và một tình yêu vô cùng mãnh liệt, khi dám chấp nhận hoàn cảnh cô đơn và đóng vai người mẹ của đứa con không một lần ân ái. Có thể trước khi ra đi người lính đã linh cảm thấy được thân phận mình trong bối cảnh chiến tranh “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, nên anh ta đã để lại cho người tình một chút hy vọng mong manh, kỷ vật vô gía của tình yêu chân thật nếu như một ngày nào đó thân xác ấy đã tan thành tro bụi.

 

Thế nhưng không ngờ tôi lại chứng kiến một câu chuyện tương tự như vậy xảy đến trong gia đình người chị bà con của tôi. Một buổi chiều tháng Mười Hai mùa Giáng Sinh, cách đây khoảng 10 năm, trời đã xâm xẩm tối để sáng lên những ánh đèn trang hoàng nhấp nháy từ hai dãy nhà trong xóm. Tiếng chuông điện thoại reo và nghe giọng nói quen thuộc của chị từ xa vọng đến:
“Merry Christmas”, sau câu chúc xã giao chị vào đề ngay, giọng sũng đi vì buồn:
“Có rảnh không lên đây chơi với chị, buồn nẫu cả ruột, con với cái!”

 

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

“Chị đang ở đâu, có chuyện gì thế?”

 

Giọng chị có vẻ rời rạc:

“Chị đang ở San Antonio, lên đây lâu rồi, chăm sóc cho con bé sinh nở không có ai. Cả nhà giận lắm, nhất là anh ấy đổ hết mọi thứ lên đầu chị là đã cho con bé đi học xa. Không ai hỏi han gì tới nó, nhưng chị thì không thể được, cháu sinh được 4 tháng rồi nhưng cái buồn thì thấm tận gan phổi cả mẹ lẫn con.”

 

Tôi an ủi chị:

“Chuyện ấy theo em không có gì quan trọng, nhất là đối với giới trẻ ở bên này, chị liệu thu xếp cho cháu hợp thức hoá là xong.”

 

Chị tức tưởi rồi oà lên khóc:

“Nếu nghĩ như cô thì mọi chuyện đã dễ giải quyết, cùng lắm thì mình muối mặt với họ hàng bè bạn một ít lâu rồi cũng đâu vào đấy. Đằng này, cha con bé không còn nữa, nó chết rồi, rơi máy bay chết tận chiến trường Iraq. Con bé không có cha, cha nó là một người lính, hai đứa học cùng trường với nhau. Rồi nó nhập ngũ, cứ đi đi về về rồi để lại cho con bé cái bào thai trong bụng mẹ, không hiểu sao con chị nó ngu thế, học hành chưa xong mà đã làm mẹ, trời ơi là trời!”

 

Nghe chị rên rỉ khóc lóc, tôi hiểu nỗi thất vọng trong lòng người mẹ đã kỳ vọng bao điều tốt đẹp ở tương lai đưá con gái, chưa gì đã chịu cảnh góa bụa. Thở dài vì câu chuyện không vui trong mùa Giáng Sinh, tôi hẹn với chị là sẽ lên thăm chị ngay trong tuần lễ áp Lễ Giáng Sinh năm ấy.


Quá giang một người quen đến San Antonio để thăm mẹ con chị. Trong lúc chờ chị đến đón trước cổng thành Alamo, đối diện với khu River Walk của thành phố được tiếng là xinh đẹp quyến rũ nhất của tiểu bang Texas. Buổi chiều hôm ấy đèn hoa đã nhấp nháy trên khắp các nẻo đường, hàng cây sồi lá vẫn xanh biếc mặc dù tiết trời đông buốt lạnh. Tôi đưa mắt quan sát xung quanh, chợt bắt gặp một người lính trẻ đang ngồi nghỉ chân trên chiếc băng đá nhìn vu vơ vào các cửa tiệm buôn nhấp nháy ánh đèn, vẻ tư lự của người lính trẻ khiến tôi hình dung ra nỗi cô đơn của anh ta trong một chiều mùa đông làm tôi chạnh lòng.

 

Tính nhạy cảm khiến tôi có thể tưởng tượng ra đủ thứ chuyện, ngầy ngật buồn vì hình ảnh người lính cô đơn về phép ngồi trên ghế đá, cũng như có những buổi tối trời mưa đi đâu về, tôi vẫn thương thầm cho người cảnh sát phải làm nhiệm vụ của anh ta lái chiếc xe tuần cảnh lẫm lũi đi vào những con đường vắng. Ở đó có bao nhiêu nguy hiểm rình rập họ, bóng tối và sự ác thường đồng loã với nhau làm cho cuộc sống đầy những bất trắc.

 

Chị đón tôi với khuôn mặt hốc hác trong chiếc áo dạ xậm màu, chiều đông lạnh lại càng lạnh hơn vì gió, gió luồn vào tận xương mặc dù ở đây trời hiếm khi có tuyết. Trên đường lái xe về nhà, chị kể thêm cho tôi nghe về đứa con gái duy nhất của anh chị, hiện tại hay tương lai đời nó chỉ là một màu xám xịt khi làm mẹ một đưá con không cha. Tôi không đồng ý với chị về cách suy nghĩ đó, chỉ đến khi bước vào căn chung cư nằm khá xa thành phố, nhìn thấy đứa con gái của chị đang bế đứa con xinh như một thiên thần nép đầu trên ngực mẹ nó, ánh đèn nhấp nháy từ một cây Noel nhỏ đặt trên bàn, có chân dung của người lính trẻ thì tự nhiên tôi cũng thấy nghẹn ở ngực. Sự cảm động đến bất chợt khi nhìn ngắm một hạnh phúc quá đớn đau, mà vẫn là hạnh phúc vì vẻ đẹp thiên thần của đứa trẻ thơ, tương phản với nổi u uẩn của mẹ nó và tấm hình của người cha đã tử trận.

 

Cháu chào tôi với một nụ cười gượng gạo trên đôi môi góa phụ còn ngây thơ và nét xuân sắc tuổi trẻ, lòng tôi chùng xuống khi tiến đến chìa tay để bế đứa bé vào lòng:

“Chao ơi! Cháu tôi xinh quá, con gái phải không?”

 

Liếc nhìn qua tấm hình người lính, con bé giống bố như đúc ở mái tóc tơ vàng óng, nước da trắng hồng , riêng chỉ đôi mắt màu nâu đen hơi buồn là của mẹ.

 

Chị ngồi xuống bên tôi, giọng buồn bã:

“Vâng, cháu con gái mai sau lại làm khổ mẹ, chị cũng muốn chết vì mẹ con nó…”

 

Tôi đưa mắt nhìn chị như ra dấu không nên nói những lời dằn vặt ấy với đứa con gái đang đau khổ của mình. Đứa bé nhìn tôi toét miệng cười, bốn tháng tuổi mà nhìn nó bụ bẫm như đứa sáu tháng. Chao ơi! Nụ cười ấy, ánh mắt ấy mới chính thật là đôi mắt thiên thần, chính chị đang có trong tay một thiên thần mà không cảm thấy được điều ấy sao?

 

Buổi tối hôm đó không khí dường như ấm cúng hắn lại vì sự có mặt của tôi. Bữa cơm ngon hơn, đưá cháu gái đã tươi tỉnh hơn khi thấy tôi luôn nựng nịu cháu bé với tất cả sự trìu mến của một người có tính yêu trẻ con, và đứa bé đã biết loi choi trong vòng tay của mẹ, nụ cười ánh mắt ấy có tiền chắc gì đã mua được. Khuya hôm đó tôi hơi khó ngủ vì suy nghĩ lung tung, ra tìm nước uống thì đúng lúc đó tôi thấy hắt lên tường cái bóng người mẹ ôm con trong đêm khuya, dưới ánh đèn ngủ mù mờ căn phòng nhỏ. Cho mãi đến bây giờ hình ảnh ấy vẫn y nguyên trong lòng tôi, tôi lặng người đứng nhìn phía sau lưng của người mẹ xoã mái tóc mây, ôm đứa con thơ trong lòng để ru ngủ khi đứa bé thức vào lúc nửa đêm vì khát sữa. Giá như có cái máy chụp hình tân kỳ như bây giờ để thu vào hình ảnh ấy, nó sẽ là một bức ảnh giá trị hơn nhiều tuyệt phẩm khác mà không cần phải có nhiều màu sắc rực rỡ.

 

Hình ảnh ấy cũng làm tôi chạnh lòng khi nhớ đến thời chiến tranh, đất nước tôi đã có biết bao nhiêu góa phụ tuổi hai mươi ngồi ôm con trong nỗi cô đơn như vậy. Buổi sáng mùa đông từ trong khung cửa sổ của căn chung cư, nhìn ra bên ngoài hàng cây trơ trụi lá, vài con chim vẫn ríu rít tìm mồi. Tôi tìm cách hỏi chuyện đứa cháu để hiểu nó hơn, khác hẳn với tâm trạng buồn rầu của bà mẹ, tôi thấy nó có vẻ bình thản và bằng lòng với kỷ vật vô gía là đứa con xinh xắn trong vòng tay của mình, chính tình yêu là một mãnh lực tuyệt vời để cháu bằng lòng với hoàn cảnh.

 

Khi chỉ có tôi và chị, tôi đi thẳng vào vấn đề của đứa cháu gái tội nghiệp, vì hiểu chị đang lúng túng chưa tìm được phương cách nào dễ chịu hơn:
“Theo em, chuyện của cháu không có vấn đề gì ghê gớm cả, ngọai trừ nhà chị có thêm một đứa cháu dễ thương. Cứ xem như đó chỉ là sự bồng bột của tuổi trẻ, mà không thể nào nói là thiếu tình yêu vì cháu đã can đảm cưu mang đứa con bé bỏng của mình. Xã hội này có rất nhiều “Single Mom” nhưng không phải người nào cũng giống người nào. Một đứa bé chào đời ở xứ sở này nếu cha mẹ không lo được thì nó cũng không bị bỏ bê, vẫn có thể sống được nhờ sự giúp đỡ của chính phủ, có phần ưu đãi nữa chị ạ. Cái chính là anh chị phải gạt bỏ thành kiến cố chấp khi nghĩ con mình là một đứa con hư, chị là người phải giơ đôi tay ra cho cháu bám vào, nó sẽ đứng dậy, “Đáng phục nhất của đời người là biết đứng dậy khi té ngã”, câu này nằm trong mười bốn điều của đức Phật mà em đọc được ở đâu đó chứ không phải của em.”

 

Một nụ cười tuy không tròn lắm nở trên đôi môi héo hắt của chị:

“Cô đi chùa từ khi nào thế?”

 

Tôi cười to lên để trêu chị:

“Em không đi chùa và cũng không đi tìm Phật ở chùa, nhưng em có cái duyên để những câu hay hay lại bất chợt đến với em, và nó đã nằm lại để tự nhiên biến thành triết lý Sống.”

 

Không để chị nói thêm, tôi tiếp tục giải tỏa cho chị những thành kiến khắt khe đã thấm vào tư tưởng hằng bao năm nay:

“Chị cứ làm đi và sẽ thấy kết quả của lời em nói, đừng sợ ai cười hay lên án vì tuổi bảy mươi cũng chưa gọi là lành, huống gì cháu còn quá trẻ. Sống chết với tình yêu để có một kỷ niệm giữ lại trong đời đâu phải là điều đáng khinh. Không ai chia cho mình được cái xui, cái hên, hạnh phúc hay đau khổ chỉ có mình gánh chịu thì mình cũng đừng sợ tiếng chì tiếng bấc của người khác. Chị phải thuyết phục anh, giận hờn rồi cũng nguôi ngoai, đớn đau bao nhiêu rồi cũng lắng xuống. Hai cháu trai trưởng thành đã có gia đình riêng, chỉ còn anh chị thui thủi vào ra ở nhà thì tại sao không mang cháu về, ông bà hủ hỉ với cháu bé, săn sóc cháu cho mẹ nó trở lại trường học. Em nghĩ sau lần này nó sẽ ý thức được bổn phận trách nhiệm của một người mẹ, cháu sẽ làm lại cuộc đời tốt đẹp hơn”.

 

Hình như thấm thiá với những lời phân giải của tôi, thái độ của chị đối với con gái dễ chịu hẳn trong những ngày tôi ở chơi với mẹ con chị. Cháu đẩy xe cho con đưa mẹ và khách đi dạo phố, thăm một vòng các nơi như cổ thành Alamo rợp bóng cây xanh, nơi ấy ngày xưa cũng là bãi chiến trường, những ụ súng hay lô cốt xung quanh bức tường thành đã để lại trong lịch sử nước Mỹ bao nhiêu trang giấy đánh đổi bằng máu xương của người lính thời chiến tranh.

 

Chúng tôi đi bộ trên bờ sông San Antonio River Walk, nó còn được gọi là khu Paseo Del Rio, một khúc sông hẹp nhưng thơ mộng nhờ những con đường lát đá ven bờ sông. Một bên vách đá dựng đứng có dây leo chằng chịt, nhiều cây cầu bắc ngang sông dành cho người đi bộ, đường đi lên lại chạy thẳng vào những phố xá thương mại rất đông người qua lại. Trên đường phố vẫn thấy nhiều bóng dáng những người lính trẻ, vai mang ba lô, chắc họ lang thang chờ chuyến xe về với gia đình trong những ngày Lễ đặc biệt, hay chờ chuyến bay để ra một chiến trường nào đó không chừng. Những khuôn mặt trai trẻ ấy lại gợi cho tôi nghĩ đến bố của đứa bé tội nghiệp, ra đời mà không hề được nâng niu trong đôi tay của bố.

 

Một thời gian sau tôi nghe chị khoe đã thuyết phục được chồng để đem con và cháu về lại Houston, tôi cũng mừng cho chị. Đứa con gái đã trở lại trường tiếp tục học chuyên ngành và cuối cùng ra trường với tấm bằng dược sĩ. Ngày con ra trường, nhìn thấy đứa cháu bé bỏng ngày nào của mình tung tăng chạy đến trao cho mẹ nó bó hoa hồng thật tươi thắm, tự nhiên chị bật khóc. Mừng mà khóc, những đau khổ ngày nào trôi đi theo dòng nước mắt, y như những gì tôi nói nếu những lúc con cái vấp ngã, cha mẹ không giơ tay ra nâng dậy thì chắc kết quả là đi luôn xuống vực thẳm. Đứa cháu bé bỏng ngày nào tưởng là nỗi bất hạnh của mẹ nó nay là món quà vô giá mà thượng đế đã ban cho gia đình. Anh chị vui hẳn lên vì trong nhà đã có thêm tiếng cười tiếng khóc con trẻ, con bé lớn lên càng ngày càng xinh đẹp và dễ thương, chính nó đã mang niềm hạnh phúc vô bờ bến cho tuổi gìa đỡ hiu quạnh.

 

oOo

 

Cách đây hai năm cũng vào mùa Giáng Sinh, vợ chồng bạn tôi từ Canada sang chơi, nhân dịp này tôi lại đến San Antonio lần thứ hai vào mùa đẹp nhất trong năm. Đẹp bởi vì ban ngày, River Walk giống như người con gái thanh xuân với vẻ xinh tươi mơn mởn ngồi phơi nắng giữa ban trưa. Ban đêm, River Walk vào mùa Giáng Sinh lại tăng thêm phần quyến rũ, nồng nàn như một bông hồng đã khoe hết vẻ đẹp mãn khai của nó dưới sương khuya.

 

Một tuần lễ trước Giáng Sinh trời thật lạnh, dòng sông hẹp uốn quanh thành phố bỗng trở nên huyền ảo tuyệt vời vì ánh đèn giăng mắc khắp nơi, từ những quán cà phê, tiệm ăn, những “building” nằm dọc theo hai bên bờ phản chiếu xuống mặt nước, y hệt một bức tranh nhiều màu sắc rực rỡ. Chúng tôi co ro đi sát vào nhau tìm hơi ấm, bờ sông thấp hơn mặt đường nên ít gió, hầu hết hàng quán ven bờ sông vào mùa này đều có những lò sưởi thiết bị như những cột đèn, phả hơi ấm cho khách ngồi uống cà phê ngoài trời không bị lạnh, người đi dạo cũng nhờ vậy cũng ấm áp được đôi chút.

 

Người ta đốt những ngọn nến lồng trong giấy hoa đặt trên những bệ đá hai bờ sông, ánh nến lung linh phản chiếu xuống mặt nước xẫm màu đẹp lạ lùng. Trời lạnh như cắt vào xương tuỷ mà các đôi tình nhân vẫn ngồi sát vào nhau trong quán cà phê thưởng thức nhạc Giáng Sinh, chưa kể có những quán cà phê vài người nghệ sĩ đang chơi đàn guitar, những bản nhạc Giáng Sinh qua tiếng đàn “guitar espagnol” vui tươi, réo rắt, khách bộ hành đi qua không quên đặt vài đồng lẻ thưởng cho ban nhạc đã cống hiến cho họ một đêm vui.

 

Mọi người xuống thuyền đi dạo phố đêm San Antonio, những chiếc thuyền hoa người chen nhau lên xuống. Bạn tôi thì thầm:

“Đâu thua gì Venise, nhất là mùa này hình như còn có phần đẹp hơn nữa đấy.”

 

 Tôi chưa bao giờ tới Venise và chỉ thưởng thức trên phim ảnh, nhưng quả thật San Antonio vẫn có gì gần gũi quyến luyến hơn vì nó thuộc tiểu bang tôi đã sống gần hai mươi năm nay. Càng về đêm, quán cà phê, quán ăn vẫn đông khách, người đi thuyền vẫn kiên nhẫn chờ đợi. Thuyền nổ máy tách bến rồi đi vào những khúc sông tối nhưng ánh đèn từ hàng cây, nhà cửa hai bờ sông phản chiếu dưới lòng sông lại rực rỡ như hội hoa đăng. Khi thuyền chạy qua một bến sông gần nhà thờ, dòng nhạc Giáng Sinh do các em bé trình diễn trên bờ vang vang những bản nhạc quen thuộc mùa Giáng Sinh vọng tới, tiếng chuông leng keng đưa tâm hồn mọi người trở về những mùa Noel trong cuộc đời.

 

Chắc hẳn mỗi người đang trôi nổi nỗi niềm riêng về những mùa Noel trong dĩ vãng, tôi cũng thấy lại hình ảnh mình những năm còn trẻ tuổi, tiếng hát trong trẻo tuổi thanh xuân vút lên âm điệu “Đêm Thánh Vô Cùng” cùng với ca đoàn thời đi học. Đêm thơm mùi hoa sứ, ngôi thánh đường với những tiếng chuông ngân niềm hy vọng. Đêm Noel của tuổi niên thiếu với tiếng đàn phong cầm trong ngôi nhà thờ nhỏ, tâm hồn còn tinh khôi và đơn sơ như con chiên non nằm trước máng cỏ.

 

Thế rồi tôi lại miên man nhớ tới mùa Giáng Sinh ở San Antonio hơn mười năm trước với gia đình người chị họ. Nụ cười hồn nhiên của trẻ thơ đã làm ấm lại những trái tim buồn bã, bây giờ họ đã tìm được hạnh phúc, khép lại một quá khứ buồn rầu để có một tương lai sáng sủa. Không biết đối với mọi người mùa Giáng Sinh ra sao, riêng tôi, mùa Giáng Sinh ở tuổi nào vẫn đem lại màu xanh tươi vui mà tâm hồn tôi luôn mở ra để đón nhận.

  

Nguyên Nhung

Blog Archive