Showing posts with label Minh Nguyệt Graves. Show all posts
Showing posts with label Minh Nguyệt Graves. Show all posts

Friday, December 20, 2019

Giáng Sinh và Cậu Bé

Image result for christmas images
Như thường lệ, thứ bảy của tuần lễ trước Giáng sinh, bà Candy dẫn cha của mình đi cắt tóc cho gọn gàng sạch sẽ. Năm nay cũng vậy.

Tiệm tóc không đông mấy, nên cả 2 không phải đợi lâu. Tóc bà dài, nên cắt gội lâu hơn cái đầu hói của ông.

Sau khi người thợ cắt tóc xong xuôi, ông ra ngồi ở chiếc ghế đợi. Thấy có cậu bé ngồi một mình, ông mới hỏi, “Con đi với ai?”

-“Với mẹ cháu.” Cậu bé đáp.

Ông nhìn cậu thông cảm, “Đàn bà làm cái gì cũng lâu lắm cháu à, nhưng cháu thật là dễ thương khi ngồi ở đây ngoan đợi mẹ đó, ông phục cháu lắm.”

-“Mẹ hứa, sẽ dẫn cháu đi mua quà khi mẹ xong, nên cháu không ngại đâu.”

Cậu mỉm cười ra vẻ hiểu ý ông.

“Thế năm nay cháu nghĩ là ông già Noel sẽ cho cháu quà gì nào?” Ông hỏi cho có chuyện.

Thằng bé mặt buồn hẳn đi, nó ngước nhìn ông như sắp khóc đến nơi, “Cháu không biết. Mẹ bảo năm nay ông ấy không đến đâu.”

Ông tò mò, “Mẹ đùa đấy, làm gì có chuyện đó.”

Thằng bé khăng khăng, “Mẹ bảo vậy mà.”

“Thế cháu muốn cái gì?’ Ông hỏi.

“Cháu muốn bố về dẫn cháu đi công viên chơi, có cầu trượt, và đu dây, cả ngày luôn.” Thằng bé nói huyên thuyên.

“Tưởng gì, cái đó dễ ợt mà.” Ông đáp.

-“Nhưng bố cháu đang ở Irag, không về được!” Thằng bé đáp chậm rãi từng từ một.

Ông chựng lại, “Ừ, mình đoản thiệt, đâu phải dễ như mình nghĩ.” Ông suy nghĩ một lát, “Thế ngoài điều đó ra, cháu còn muốn gì nữa nào?”

-“Cháu muốn có chiếc xe 4 bánh, để cháu tự lái chạy quanh xóm, có một chỗ ngồi bên cho bạn gái cháu ngồi nữa. Nhưng mẹ nói, ông già Noel không có nhiều tiền, cả mấy trăm chứ không phải ít đâu.” Nó nói "tra trắng” như thể nó biết giá trị của đồng tiền lắm!

“Mẹ cháu nói đúng đấy. Thế ngoài hai thứ đó, cháu còn ước gì nữa không?” Ông căn vặn.

-“Có chứ, cháu muốn có dàn trống để đánh. Cháu thích đánh trống.” 

Thằng nhỏ hào hứng kể, “Nhưng mẹ nói thứ đó cũng nhiều tiền lắm. Bởi vậy, cháu nghĩ là ông già Noel không đến năm này đâu. Mẹ sẽ dẫn cháu đi chợ, cho cháu lựa một món quà thôi, cũng tốt phải không ông?”

Ông nhìn thằng bé, nó khoảng 7, 8 tuổi mà nói năng như người lớn, khôn trước tuổi. Mà ai đời, nó ước toàn thứ đắt tiền và khó vậy, ông già Noel nào mà lo cho nỗi!!!

Sau khi cắt tóc xong, ông nhờ bà Candy ngồi chơi với cậu bé, còn ông đến hỏi chuyện mẹ của cậu.

“Cô à, tôi nghe thằng bé nói, năm nay nó sẽ không có quà, tôi thương cháu quá, muốn giúp cô mua quà cho cháu.” Khẽ khàng ông nói.

Mẹ cậu bé khóc oà vì cảm động, mới kể cho ông nghe hoàn cảnh của họ.
Hai vợ chồng trẻ, lấy nhau được 7 năm rồi, chồng cô đang đóng quân ở Irag, thì bị bom, sợ không qua khỏi. Cô từ hồi nào đến giờ chỉ ở nhà lo cho thằng bé, vì nó cũng èo ọt, đau ốm luôn, nên không đi làm, hàng tháng sống vào tiền lương của chồng gởi về.

"Gần Giáng sinh, nhưng tôi không có tiền để mua quà cho nó, cha nó cũng không thể gọi skype để nói chuyện với nó như mọi năm. Những ngày tháng sắp tới sẽ khó khăn lắm đây.” Cô nói.

Ông cũng không cầm được nước mắt, ông an ủi, “Ráng lên con, mọi chuyện đều có Chúa dìu dắt ta đi qua. Thằng bé có nói cho tôi biết là nó muốn chiếc xe hay bộ trống, cô cầm lấy số tiền này, mua cho cháu nhé.” 

Nói rồi, ông xin cô địa chỉ và số điện thoại, “Để lâu lâu hỏi thăm thằng bé.” Ông giải thích.

-----

Ông có 2 con gái, bà Candy và Karen, người nào cũng bị bệnh phì mập, to béo quá cỡ, họ đều đã lớn tuổi, 65 và 68. Bà vợ của ông mất cách đây 16 năm.

Năm nay Ông được 90 tuổi, đã từng đi lính trong chiến tranh thế giới lần 2, rồi làm cho công ty xây dựng cho đến ngày nghĩ hưu.

Ông thích sống một mình, không thích sống chung với con cái, và càng ghét việc phải vào nhà dưỡng lão.

Gia đình hai người con gái ở không xa nhà ông, cách nhau vài dãy nhà thôi. Hàng tuần ngày thứ bảy, họ thay phiên tới chở ông đi ăn sáng, và chiều chủ nhật chở đi chợ, còn sáng chủ nhật đi nhà thờ.

Từ đầu tháng 11 đổi giờ, nhưng ông cứ quên béng mất việc phải đổi giờ ở cái đồng hồ lớn treo tường nơi phòng khách, (Người ta gọi là Grandfather clock.)

Sáng chủ nhật, ông chợt nhớ nên lôi cái ghế đẩu tới, trèo lên để với tay xoay cái kim đồng hồ thêm 1 giờ.

Vừa làm ông vừa nhớ hai người con gái thường la ông, “Cha già rồi, đừng có trèo lên ghế cao, nguy hiểm, lỡ té xuống thì mệt lắm đó.” Ông nghĩ, họ hay lo chuyện bao đồng, ông làm cái việc này cả trăm lần rồi, nói thật đấy, một năm đổi giờ 2 lần, từ ngày ông mua cái đồng hồ này, tới nay cũng gần 70 năm! Người con gái lớn bao nhiêu tuổi, thì cái đồng hồ cũng ở với ông bấy nhiêu năm.

Trong khi ông loay hoay xoay cái kim đồng hồ, vì nó hơi bị cứng do lâu rồi, không chêm thêm dầu mỡ, thì cái tay ông mỏi, rồi cái chân ông cũng mỏi, chừng như muốn khuỵu. Ông tìm cách ngồi xuống, nhưng cái đầu lại chúi xuống trước, khiến ông trượt ra khỏi ghế, hai tay ông quýnh quáng chụp đại cái đồng hồ.

Cái đồng hồ bị ông níu, đổ cái rầm, đánh vào đầu và ngực ông và rơi xuống nền nhà. Bất tỉnh khoảng mấy giây thì hơi lạnh của nền nhà làm ông tỉnh lại, vừa lúc chuông điện thoại reng. Tìm cách đẩy cái đồng hồ ra khỏi người mình, lết từng chút một, ông vớ được cái điện thoại, trên cái bàn nhỏ trong phòng khách.

Thều thào, ông nói, “Ai đó, tôi bị té.”

Bà Karen hoảng hốt, “Cha có sao không? Cha tắt máy đi, con sẽ tới ngay và gọi cấp cứu liền bây giờ.”

Thông thường, Chủ nhật, bà Karen không gọi cho cha của mình cho tới khi đi lễ nhà thờ về. Nhưng sáng hôm đó, linh tính thế nào, mới 9 giờ sáng, trong lúc ông chồng lo cạo râu, thay áo quần để đi lễ, bà lấy phone goi cho cha thì mới hay cớ sự.

Người ta đưa ông vào cấp cứu, may 9 mũi trên đầu, cánh tay bị gãy người ta đăng bột, rồi họ chuyển ông tới nhà dưỡng lão (Nursing home) để tập vật lý trị liệu.

Nhưng tình hình ngày càng tệ, ông yếu dần, một tuần sau, cũng là tối thứ bảy, cô y tá gọi cho bà Candy và Karen, đề nghị ngày mai nên đưa ông vào bệnh viện lại.

Sáng sớm hôm sau, tình hình càng tệ hại hơn, cô y tá sợ ông không qua khỏi, mới gọi lại hối hai người con gái vào với ông gấp gấp.

Lúc 8 giờ 50 thì ông mất! Mãi gần 9 giờ bà Candy mới tới.

Bà gọi cho chị, bà Karen, “Chị đang làm gì?”

-“Đang lái xe tới Nursing home đây.” Bà Karen trả lời.

“Chị tấp xe vào lề, rồi em nói cho nghe.” Bà Candy nói tiếp,

“Cha mất rồi, trước lúc em tới 10 phút. Sao cha không đợi mình chị nhỉ? Hay ông giân mình đã đưa ông vào đây?”

Bà Candy thắc mắc.

Bà Karen nói, “Không phải vậy đâu. Cha luôn luôn bảo vệ hai chị em mình, không muốn mình phải đương đầu với khó khăn, trắc trở. Chị tin là lần này cũng vậy. Cha biết mình sẽ rất buồn nên không để cho mình thấy cảnh vĩnh biệt càng đau lòng hơn.”

Trong đống giấy tờ ông để lại, có một cái Notes, rất mới, chỉ mấy ngày trước khi ông bị té thôi.

Cái Notes giành cho cậu bé ông gặp ở tiệm hớt tóc.
“Hai con gái à, Ta muốn trích từ tiền ta để lại, hàng năm gởi quà cho cậu bé này.” Ông đã cẩn thận đính ghim mảnh giấy nhỏ ghi tên, địa chỉ, số phone của hai mẹ con cậu bé.

….

Đêm Giáng Sinh, lúc cậu bé đang ngũ ngon, thì người hàng xóm tốt bụng lễ mễ đem cái thùng to đùng đựng chiếc xe đồ chơi, mà mẹ cậu đã mua và nhờ hàng xóm cất dùm vì căn phòng họ nhỏ quá, không dấu được. Rồi cô hì hục gói giấy bóng, và để dưới gốc cây Noel.

Hồi chiều chỗ bệnh viện nơi chồng cô đang nằm, có tin rằng anh đã tỉnh lại, cơn nguy hiểm đã qua đi, mặc dù anh sẽ bị tàn tật vĩnh viễn, vì bị mất hai chân. Cô cũng được bà Candy gọi phone báo tin ông già đã cho con trai cô quà Giáng sinh; vừa mới mất, và lời hứa sẽ giữ liên lạc và gởi quà hàng năm cho cậu bé.

Một mình trong căn phòng nhỏ, nhìn ánh đèn lung linh từ cây Giáng Sinh, cô nghe lòng ấm lại. Chắc chắn rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi.

Cám ơn ông già tốt bụng, mong ông an nghĩ ngàn thu.

Merry Christmas! Cô nói thầm và gởi nụ hôn gió đến chồng nơi phương xa!

Merry Christmas!

Christmas 2019
Minh Nguyệt Graves

Source:vietbao.com

Thursday, May 9, 2019

Chuyện Hậu Tháng Tư: Ngôi Nhà Đã Mất





Tháng Tư, 1975, bước ngoặt bi thương của lịch sử đã thay đổi cuộc đời của bao nhiêu số phận con người. Riêng tôi,  cứ mỗi lần tháng Tư về, tôi lại nhớ ngôi nhà cũ.

Hơn 40 năm từ khi xa ngôi nhà, nhưng những kỷ niệm xưa vẫn còn in đậm mãi trong lòng tôi.

Ba tôi được đổi về Huế làm ở toà hành chính năm 1963, và một năm sau thì mua ngôi nhà ở đường Mai thúc Loan. Đó là một căn trong khu chung cư cho công chức- những người làm việc cho chính phủ- được thiết kế giống như nhau. Trong hồ sơ giấy nhà, tôi vẫn còn giữ do có thời gian ba tôi ở nhà tôi, thì nhà có hai phần, phần nhà ở và phần vườn. Sau đó mấy năm, ba tôi xây thêm có mái che để làm nhà máy sản xuất nước đá và kem cây.

Ban đầu ba tôi chỉ là thư ký toà hành chánh, rồi mấy năm sau, ông được đi học tiếp và tốt nghiệp trường Quốc gia hành chánh. Đến năm 1969 thì ông được cất nhắc lên làm Phó tỉnh trưởng. Năm 1972 ông lại thuyên chuyển vào Sài gòn làm phát ngân viên ở Tổng nha nhân dân tự vệ, cho đến tháng 4 năm 1975.

Chỉ mấy ngày sau 30 tháng 4, 1975 khi cả gia đình tôi đang chạy tản cư ở Đà nẵng, thì ba tôi bị bắt đưa đi tù- mà nói theo ngôn ngữ thời đó là cải tạo trên Tiên Lãnh, mãi đến tám năm sau ông mới được tha về.

Trong lúc đó, ở nhà có biêt bao nhiêu là đổi thay!

Chiến tranh kết thúc, mạ tôi dẫn bầy con về lại Huế. Thành phố hoang tàn, không còn xe hơi chạy, cả xe máy cũng hiếm dần, vì bị cấm. Tôi thấy mọi thứ đều thay đổi, từ áo quần người ta mặc cho tới giày dép. Ngoài đường mấy cái loa nói suốt ngày, trời mưa còn đỡ, trời nóng nghe rất nhức đầu, nhất là buổi trưa đi học về đói bụng. Người lớn như mạ tôi thì tối tối phải đi tập trung nơi sân của phường để họp hành. 

Ban ngày, mạ tôi cứ đi quanh nhà những người quen, ai muốn mua hay bán gì thì nói với bà, rồi kiếm tiền chênh lệch, chứ trước 1975 thì ba tôi đi làm lãnh lương, mạ chỉ ở nhà nội trợ là chính.

Thỉnh thoảng tôi lại nghe mạ và các anh chị trong nhà bàn tán “Nhiều nhà của bạn bị lấy, không biết khi mô thì tới phiên nhà mình đây?” 

Rồi một hôm gia đình tôi nhận được giấy “mời” lên đồn công an. 

Buổi sáng mạ tôi đi một mình, tới gần trưa thì 2 chiếc xe Jeep chở bà về, cùng rất nhiều người lạ.

Họ, gần 10 người mặc đồng phục, đã bắt những người có mặt trong nhà đứng quanh phòng khách và đọc “cáo trạng” phải bị tịch thu tất cả tài sản, bao gồm căn nhà, nơi cả gia đình gồm một bà mẹ và 8 người con đang trú ngụ! 

Họ vào lùng sục khắp nơi, tôi không hiểu gì, chỉ đứng trơ mắt ngó, bị ông anh la mà không hiểu vì răng mình bị la!

Ổng nạt tôi, “Cái con ni, mấy cái hộp đựng đồ chơi ni mà cứ vất tùm lum ri, đem đi cất đi, tau mà còn thấy là bị đánh cho no đòn luôn!”

Nhận lấy cái hộp từ tay anh, rồi lúp xúp chạy vô bỏ trong cái cặp táp đi học, nước mắt rơm rớm, muốn cãi mà không dám, vì nhà đang đông đúc! Tự nghĩ, “Cái hộp ni có phải của mình mô? La oan rứa mà không cho cãi!”

Sau mới biết đó là hộp Mạ tôi đựng nữ trang, nên anh muốn tôi dấu, không thôi cũng bị tịch thu luôn. Lúc đó, tôi 13 tuổi, đang học lớp 8.

Họ cũng bảo rằng, gia đình nếu muốn đi kinh tế mới thì họ sẽ giúp cho phương tiện để đi, hoặc về quê chồng.

Vậy là ngôi nhà của ba tôi đã mất. Đi kinh tế mới thì không được rồi, vì mạ tôi cả đời là dân thành phố, đâu có biết ruộng nương là gì? Bầy con thì còn nhỏ, đang đi học, lấy chi mà ăn? Chỉ còn cách xin về quê nội.

Mạ tôi xin ông nội cho tá túc nơi căn nhà lợp tôn phía sau của ông, trước kia được dùng làm cái quán bán tạp hoá. Cái quán bề ngang 3 mét, chiều dài cỡ 10 mét hướng ra đường Đoàn thị Điểm, còn căn nhà chính phía hướng ra đường Mai thúc loan.

Vì nhà xưa nên cái gì cũng cũ! Tôi nhớ cái cầu tiêu bởi vì nó nằm ngoài khuôn viên nhà, và lâu ngày thì bị hư. Vậy là chúng tôi phải đi qua bên bờ hồ để “giải quyết nỗi lòng!” Nhưng đó là buổi tối thôi, chứ buổi ngày đâu có đi được? Vậy là phải đi trong bô, rồi đào đất ngoài vườn chôn! 

Nước dùng thì phải đi gánh ở giếng nước cách đó 3 nhà. Nước uống từ mấy cái “rô bi nê” chảy từng giọt như nước mắt, tối nào mấy chị em gái cũng thay nhau thức khuya ngồi hứng để hôm sau có mà nấu ăn.

Bếp thì mạ tôi xin cái thùng sau xe Lambretta của bác Thoại, để dưới gốc cây Nhỡn cho tụi tôi ngồi đỡ mưa mà nấu. Củi ướt, nên khói ghê lắm, vừa phì phò thổi lửa, vừa phải học bài, tới khi nấu xong được nồi cơm thì cái quần cũng ướt sũng vì nước mưa rơi lõm tõm xung quanh cái thùng xe. 

Thời gian đó thiệt là khổ!

Người ta nói, “Bần cùng sinh đạo tặc,” khổ quá nên ăn trộm như rươi! Hở cái chi ra là mất cái nấy. Tôi nhớ nhất là chị con cậu ở Đà nẵng gởi ra cho cái quần cũ để mặc đi học, tôi mừng lắm, đem đi giặt, dự định phơi qua đêm để sáng mai có mặc. Trời nhá nhem tối, tôi nghĩ, “Phơi trên sợi dây treo ngoài trời cho ráo nước, rồi đem vô móc trong nhà,” ấy vậy mà trong lúc vừa ngồi học bài vừa ngó chừng cái quần, cúi lên cúi xuống viết thì cái quần "bay" mất! 

Ngoài chuyện khổ về thể chất, còn nhiều chuyện khổ oái oăm hơn nữa.

Sau khi học xong lớp 9 thì chúng tôi phải thi lên lớp 10. Tôi tuy không thuộc loại thông minh xuất sắc, nhưng cũng thuộc loại học sinh giỏi chăm ngoan. Vậy mà kỳ thi đó tui rớt cái bịch! Và sau đó mới biết, tôi không phải là đứa duy nhất có lý lịch “xấu" bị rớt. Một năm ở nhà, tôi đi học thêu ren trên Thuận hoà, gần cống Thủy quan, thỉnh thoảng phải chia phiên nhau để ngủ trực, (không biết trực để làm chi?) có bữa bị “Thằng đèn pin” rọi đèn, cả mấy chị em sợ quá đóng kín cửa sổ mặc dù trời nắng nóng vô cùng.

Một năm sau, nghe lời khuyên người bạn cũ tôi đi thi lại, và có lẽ “họ” đã thay đổi chính sách hay sao đó, nên tôi đậu và học cho hết lớp 12. Thế nhưng có nhiều bạn học cũ đã không làm như tôi, và không bao giờ có cơ hội để học tiếp.

Trong nhà tôi, ngoại trừ hai anh đầu vào đại học trước 1975, thì sau đó không ai được vào đại học cả. Vậy mà tôi đã đi thi 5 lần! Năm nào tôi cũng đi thi. Vừa đi làm, vừa tự học. Ba tôi hay đùa, “Chắc kiếp trước con làm giám khảo khó tính với thí sinh, nên kiếp ni họ bắt con rớt hoài đó.”

Không được vào đại học, thì phải đi làm nghề lao động kiếm sống, đúng không? Nhiều khi tôi tự hỏi, “Phải chăng đó là điều Họ muốn?" Tôi đã từng dạy kèm trẻ tại nhà, làm thợ may, sau này có thời gian lái taxi.

Và cũng vì không được học lên cao, nên cuộc sống cũng khó ngóc đầu lên nỗi!

Hai anh đầu đi vượt biên qua tới Mỹ, và nhờ quan hệ ngoại giao giữa hai nước Mỹ và Việt nam thay đổi, gia đình tôi lần lượt đều qua được Mỹ. 

Ngoảnh qua ngoảnh lại, gần hết một đời người! 

Giờ đây, Ba Mạ tôi đều đã qua đời, cho tới ngày mất, ông bà không mua lại được căn nhà nào khác cả.

Có lần ngồi gội đầu cho Mạ, tôi hỏi: “Mạ có nhớ nhà 83 ở Huế không?”

“Nhớ nhiều chơ. Ngôi nhà đầu tiên và cũng là cuối cùng ba mạ có. Dành dụm bao nhiêu năm trời, kỷ niệm với con cái…” Giọng trầm buồn bà nói.

Rồi có lần cắt tóc cho Ba, tôi cũng hỏi, “Ba có nhớ ngôi nhà 83 không?”

“Nhớ nhiều lắm. Ba một đời thanh bạch, liêm khiết, nhờ mạ giỏi giang chăm lo thu vén dành dụm tiền mua được nhà, mừng lắm. .” Ba tôi nói.

“Ba làm Phó tỉnh trưởng sau khi mua nhà 6 năm, ngôi nhà nớ ai làm công chức cũng mua được, vậy mà Họ lấy, vô lý thiệt!” Tôi hỏi.

“Đó là lý của kẻ mạnh con à.” Ba tôi đáp.

Ôi,  nỗi nhớ Tháng Tư không biết tới bao giờ mới nguôi.

Minh Nguyệt Graves

Saturday, April 27, 2019

Điểm Credit và Mua Nhà




1. Credit Card-Thẻ tín dụng.

Hồi tui ở Việt nam, chẳng hề biết "Điểm credit" là gì cả! Qua tới Mỹ, cả năm trời tui vẫn không hình dung được nó quan trọng như thế nào, cho đến một hôm…

Hôm đó tui được anh John chở lên phi trường để về lại Austin, sau mấy ngày qua Cali thăm ông bà ngoại và các anh. 

Vì mới qua Mỹ hơn một năm, tiếng Mỹ không rành, nên anh John ngoài việc chở tôi đi còn phải giúp tui lo giấy tờ ở quầy "check in" nữa. 

Tui chìa tờ giấy có in thông tin chuyến bay do ông chồng mua vé trên internet, cùng với bằng lái xe. 

Cô nhân viên hỏi, “Bà có credit card không?”

-Không, tui không có. Nhưng tui có thẻ nhà bank-Debit card đây.”

Cô ấy nói gì nữa tui không hiểu, nhưng thấy anh John trả lời, và cô ấy đưa tờ giấy lên máy bay. Từ đó tới chỗ kiểm tra hành lý, anh John nói, “Răng Bc không có credit card?”

-“Bc có dùng hắn để làm chi mô? Bc có tiền mặt đây nữa, nếu trong thẻ nhà bank không đủ.” Tui nói.

“Không phải vậy. Mình cần phải có credit card bởi vì, trong trường hợp mình muốn thuê xe, ở khách sạn ngừơi ta bắt buộc phải dùng thẻ credit. Còn như sau này muốn mua xe, mua nhà trả góp cũng rất cần. Hoặc đi thuê nhà, mua mấy đồ dùng sinh hoạt trong nhà nữa. Kỳ ni về, biểu thằng Carl giúp mở thẻ đi hí.” Anh John dặn lui dặn tới trước khi ôm tôi chào tạm biệt.

Về nhà, tui thỏ thẻ với ông chồng, “Tui muốn có cái credit card bỏ trong ví cho oai!”

-"Sao khi không bà muốn vậy?” Ổng hỏi.

Đem chuyện ở sân bay kể cho ổng nghe, “Được rồi, để tui gọi hỏi nhà bank của bà coi họ có chương trình cho người mới mở thẻ lần đầu không?” Ổng nói.

Nhưng rồi bận bịu với công việc, cả tui lẫn ông chồng cũng quên mất chuyện đó, và nếu tui nhớ không lầm lúc tui đi thăm ông bà ngoại là dịp Spring Break, giữa tháng 3.

Đến cuối tháng 3, tui nhận được một cái thư từ Walmart, họ nói nếu tui viết cho họ cái check 99 đồng, thì họ sẽ gởi cho tui cái thẻ 50 đồng để bắt đầu tạo điểm credit. 

Nhưng mà khi đó thấy 99 đồng to ghê lắm luôn! Tui cứ phân vân sợ lỡ mình “bị lừa” thì mất tiền!

Thời gian đó thiệt là khó khăn. Chỉ một năm trước thôi, tháng 2 ông chồng tui với bà vợ trước ly dị, mà ở Mỹ ni, ly dị là coi như…nghèo luôn! Tiếp tới tháng 5 thì ổng bị thất nghiệp! Đến tháng 8 cưới tui, và phải tới cuối tháng 12 mới có việc làm lại, gần cả năm trời chơ ít chi, đúng là năm vận tháng hạn! 

Còn phần tui mới qua Mỹ được hơn một năm, chưa hiểu lắm về cuộc sống ở đây, ngay cả chuyện viết check cũng không rành, nên làm chi cũng sợ. Lại thêm bản tính là mụ hom, chỉ thích tiền vô chơ không thích tiền ra, nên cứ chần chừ miết. Nhưng mà nói cho ra lý do chính thì, vì nghèo không có tiền dư. Cuộc sống khá chật vật, tiền lương ông chồng sau khi trả tiền nhà chi phí ăn uống là coi như “sát nút”. Tui vừa đi học, vừa đi làm, mà lúc đó tay nghề yếu nên không kiếm được mấy tiền cả.

Cái thư của Walmart chỉ được áp dụng trong vòng một tháng, mà tui cứ lần lữa nên cuối cùng… hết hạn!

Tui nghĩ, “Cũng chả sao, mình đâu có cần thẻ thiếc chi cho mệt, có đồng nào tiêu đồng nấy khỏi lo.”

Nhưng rồi, cuộc đời không phải lúc nào cũng suông sẻ. Một ngày tháng 5 trời Texas nóng như đổ lửa mà máy lạnh của xe tui không chạy, cửa sổ phía tài xế không hạ xuống được, nóng khủng khiếp! Lại thêm cái xe Honda Accord có cái tật, hễ đậu xe giữa trời nóng để vô lớp học, tới khi ra mở máy hắn không chịu nổ! Kỳ cục. Có khi cả tiếng đồng hồ sau mới nổ máy. Kiểm tra bình điện, đủ thứ, ông thợ già ở đường Lamar nói “Cái loại xe này chạy bền, nhưng có cái bệnh này đó.” 

Hai vợ chồng bàn nhau mua xe mới cho tui. Nhưng mà dù trả tiền hàng tháng được, tui lại không có điểm credit nên người ta không cho mượn tiền!

Thôi đành lái xe cũ chơ biết làm răng chừ, nhưng tui tự hứa với lòng, tui phải “build credit”-tích luỹ điểm credit, để sau này mua xe mới đi cho sướng cái thân!

Đúng lúc đó thì tui nhận được thư mời mở thẻ của Bank of America, đó cũng là bank tui đang dùng. Họ yêu cầu giống như Walmart rứa!

Họ muốn tui viết cho họ một tờ check 99 đồng, rồi họ sẽ gởi cho tui cái credit card với mức tối đa là 50 đồng, đó là để mua hàng, còn như rút tiền mặt thì chỉ 30 đồng thôi. Sau ba tháng, nếu tui trả số tiền tối thiểu họ yêu cầu là 10 đồng đúng hẹn, họ sẽ tăng dần mức tiền tối đa lên. Tiền lời thì tính theo hai cách, nếu mua hàng (merchandise) thì tiền lời thấp 10% một tháng, còn nếu rút tiền mặt (Cash advance) thì tiền lời 30% và tính ngay từ ngày rút tiền. Cách tốt nhất là không dùng để rút tiền mặt, và khi nhận hoá đơn, trả hết thì không trả đồng tiền lời nào cả. 

Tui đồng ý.

Như trước kia, tiền lương đưa vào bank sau đó đi chợ hay mua sắm thì trả ngay bằng thẻ nhà bank-debit, còn chừ thì khác. Mua đồ trả bằng thẻ credit, đợi tới cuối tháng nhận hoá đơn, mới dùng tiền trong nhà bank để trả lại. 

Tui đùa với ông chồng, “Khách hàng mô cũng như tui thì nhà bank chắc vỡ nợ, vì không làm ra tiền để trả cho nhân viên!”

Ổng cười, “Bà khéo lo! Chỉ cần bà rút tiền mặt từ thẻ credit hay quên trả hoá đơn một lần là tụi nó đã lấy lại vốn rồi đó!”

Sau 3 tháng đầu, tui gọi cho nhà bank và yêu cầu tăng số tiền trong thẻ cho mượn, lý do là tui cần mua cái máy giặt. Họ đồng ý, tăng lên 300. Ba tháng sau, tui gọi tiếp, “Tui muốn mua cái computer để học, tui cần 700.” Họ cũng đồng ý.

Chỉ sau một năm, thẻ của tui được dùng tới 1000, bạn có tin không? 

Có lần vui miệng tui kể cho bà khách nghe chuyện mở thẻ, bà hỏi ngược lại, “Sao ông chồng cô không ghép tên cô vào thẻ của ông ấy, cũng là một cách để tích luỹ điểm credit đó.”

Tui cười, “Không được đâu, vì ông ấy là nạn nhân của bọn ăn cắp thông tin cá nhân, “Identity Theft”, có làm báo cáo với cảnh sát, nhưng họ cũng không giúp gì được cả. Để có thì giờ tui sẽ kể cho nghe.

Như đã nói ở trên, tháng 2/2002 ông chồng tui với bà vợ trước ly dị, bà dọn ra khỏi nhà. 

Ổng ở một mình, cũng buồn, nên một buổi tối ở quán Bar gần nhà, gặp hai anh em Bill và Jack, nghe họ mới dọn tới Austin, thì ông không ngần ngại hỏi, “Có muốn thuê phòng không? Nhà tôi dư hai phòng, không ai ở cả.”

Không kiểm tra tiền sử cá nhân, không kiểm tra thu nhập gì cả. Họ về nhà với ông, và ở đúng một tháng. 

Nhà có ba phòng, ông ở phòng lớn, hai người đó ở hai phòng còn lại, có nhà vệ sinh riêng luôn.

Cứ sáng sáng ông lái xe đi làm, họ ở nhà làm gì ông cũng không để ý lắm. Chiều cuối tuần thì cùng nhau ngồi ngoài bể bơi ăn uống thoải mái, ông không nề hà, tính toán thiệt hơn.

Đúng một tháng, khi ông đi làm về thì thấy phòng hai người trống trơn! Không một lời từ giã, và dĩ nhiên không trả tiền tháng đó luôn.

Kệ, họ nghèo, coi như giúp cho họ cũng được.

Cỡ thêm một tháng nữa thì ông bắt đầu nhận được những hoá đơn tính tiền từ các công ty thẻ Credit card ông không hề dùng! Nhìn hoá đơn thì càng tá hoả tam tinh! Ở tận Las Vegas, khách sạn, nhà hàng, đánh bài, mua sắm… Ông nhấc phone goi cho ra ngọn ngành, vì rõ ràng ai cũng biết thời gian đó ông ở Austin, đi làm suốt, lấy đâu ra giờ đi Las Vegas chứ?

Nhưng mà thẻ đúng là tên ông, số thẻ xã hội của ông, địa chỉ nhà ông! Lúc này ông mới nghĩ tới Bill và Jack. Trong khi ông đi làm, họ ở nhà, dùng phone nhà, lấy những thông tin của ông một cách dễ dàng vì tính ông cẩu thả, tin người, giấy tờ vung vãi khắp nơi. Không một phòng nào trong nhà có ổ khoá, mà dẫu có khoá cũng chưa chắc ông nhớ để khoá đâu! Họ lấy những thư mời mở thẻ, vì ông có good credit nên họ gởi hoài, ông hoàn toàn không biết chi trơn.

Tổng cộng hoá đơn gần 20 ngàn, chỉ trong vòng một tháng! 

Bao nhiêu năm trời ông làm việc cực khổ, xây dựng điểm credit để mua xe, mua nhà, buôn bán thì giờ đây coi như số không!

Đúng là “Hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai!”

Ông tới sở cảnh sát để báo cáo sự việc. Mà khổ nỗi, ông không có lấy một tấm hình, hay bằng lái của Bill và Jack nên cảnh sát cũng không biết đâu mà lần!

Về phía các công ty thẻ credit, dĩ nhiên ông không phải trả số tiền đó, nhưng để bảo vệ quyền lợi của họ, các công ty thẻ thu hồi các thẻ đã cấp cho ông. Và điểm credit của ông coi như số không!

Thật không công bằng! 

Họ nói, nếu ông chấp nhận “Bankruptcy”- Vỡ nợ, rồi sau 7 năm sẽ “build credit” lại. Ông cương quyết không khai bankruptcy, bởi vì ông bị oan.  

Ông chính là nạn nhân của tội phạm ăn cắp dữ liệu cá nhân, “Victim of Identity Theft.”

Thật ra, khi lấy tui ông có kể cho tui nghe, và an ủi tui, “Bà đừng lo, mình có nhà, có xe đầy đủ rồi, thì credit cũng không quan trọng lắm đâu.” 

Nhưng như tui đã nói phần đầu, tui muốn credit của riêng mình. Sau một năm có thẻ, nhà bank tăng giá trị thẻ lên 10 ngàn, và sau ba năm, cuối năm 2005, thì credit của tui đủ tốt để ký giấy nợ mua nhà!

Chúng tôi quyết định dọn chỗ ở mới, vì muốn tìm trường tốt hơn cho hai đứa con gái. 

Điểm credit của ông chồng vẫn rất thấp, người làm nợ khuyên chúng tôi không nên để tên ông vào sẽ ảnh hưởng xấu tới hồ sơ vay nợ, nhưng vẫn dùng thu nhập của ông để coi như thu nhập của hai vợ chồng.

Nói thì đơn giản vậy, chứ bán và mua nhà cũng đau đầu lắm, nhưng nhờ đó tui cũng học thêm được nhiều điều.

2. Mua nhà, mua xe, mua tiệm...

Ngôi nhà cũ của tui nhỏ thôi 1450 square feet, có 3 phòng ngủ, xây từ 1988. Điều tui thích là nhà có bể bơi, nhưng đồng thời đó cũng là điều tui không thích, hay không đáp ứng nỗi nếu nói cho thật lòng.

Có bể bơi thì tốt cho hai đứa con gái, vì được bơi cả ngày, cuối tuần tụi nó rủ mấy đứa bạn hay chị em bà con tới bơi. Còn tui trồng chuối và hoa quanh hồ bơi trông rất vui mắt. 

Thế nhưng dọn dẹp bể bơi cho sạch cũng nhiêu khê và tốn tiền, mà tui thì đi làm Nails, “Bán mặt cho bàn nail, bán lưng cho trần nhà,” mấy khi có giờ để ngắm!

Sau khi hai vợ chồng quyết định bán nhà thì, việc đầu tiên là tìm cho mình một Realtor, người môi giới mua bán nhà. Họ có chứng chỉ và hiểu biết về luật pháp cũng như các thủ tục cần thiết.

Tiền công là 3 phần trăm cho mỗi hợp đồng, riêng trong trường hợp chúng tôi thì vì người realtor lo cả bán và mua nhà và cũng vì ông ấy là bạn thân của ông chồng tui nên đồng ý bớt 1 phần trăm. Ổng tên là Michael. 

Người realtor giỏi còn phải biết dự đoán giá nhà sao cho hợp lý, dựa vào giá trị nhà, giá trị của những ngôi nhà chung quanh, địa thế, hay chủ nhà muốn bán nhanh hay chậm…vv và vv…

Realtor sẽ đặt một cái ổ khoá ở cửa trước, rồi mỗi lần có khách hàng muốn coi nhà, thì người realtor của họ sẽ liên hệ với realtor của tui để biết mã số mà vào coi nhà. 

Lần đầu chúng tôi đặt bảng bán nhà, chỉ trong vòng một tuần đã có người muốn mua, đặt cọc 200 đồng. Sau khi nhận đặt cọc, thì hai vợ chồng cuống cuồng tìm nhà để mua! Vừa lo đi coi nhà, vừa lo làm giấy tờ nợ, và dĩ nhiên vẫn phải đi làm!

Còn người mua thì tiến hành làm các việc kiểm tra như thường lệ: Kiểm tra nền móng, mái, tường, điện nước…

Michael giới thiệu Harry, người chuyên làm “Loan” tức là làm nợ. Sau khi nộp 25 đồng để kiểm tra điểm credit, thì mấy ngày sau, Harry báo cho biết nợ được chấp thuận. Tui mới hỏi, “Tiền lời bao nhiêu vậy?”

Harry bảo, “10 phần trăm, theo thời điểm hiện thời và với điểm credit của bà.”

Nghe vậy, tui tá hoả tam tinh, mới gọi ngay cho ông chồng, “Không được rồi, phải huỷ chuyện mua bán nhà lại thôi!”

-“Vì sao vậy?” Chồng tui hỏi.

“Là vì hiện tại nợ nhà chỉ có 7 phần trăm, nhà cũng tốt, tự nhiên khi không đem bán, lại chịu tiền lời cao gấp rưỡi, có mà điên a!”

-“Nhưng lỡ nhận cọc rồi?” Chồng tui lo lắng, “Giờ mà bán nhà, thì không có chỗ ở. Mà mua nhà mới với tiền lời quá cao thì cũng không cách chi trả nỗi! Còn như trả lại tiền đặt cọc thì phải mất 400 đồng, uổng ghê.”

Đang suy đi tính lại thì trời thương, tự nhiên hôm sau người môi giới của bên mua nhà báo cho biết là họ muốn huỷ tiền cọc, bởi vì nhà có bể bơi, họ sợ không kham nổi. 

Hú hồn hú vía, vậy là tui nói với ông Michael hoãn chuyện bán nhà lại, đợi một thời gian nữa rồi tính, ổng có vẻ không vui nhưng cũng đồng ý với suy tính của tui.

Một năm sau, bé lớn bắt đầu vào lớp 9, phải chuyển trường, vì ở Mỹ, lớp 9 tới 12 là Highschool. Chồng tui không thích ngôi trường nó sẽ học, sau buổi đầu đi họp phụ huynh! “Phải đổi trường thôi, trường này thấy nhiều học sinh ăn mặc lôi thôi, nhếch nhác quá.” Tui đồng ý.

Rút kinh nghiệm lần trước, tui mới nói với ông chồng, “Chừ mình lo làm nợ trước, coi họ cho mượn bao nhiêu, tiền lời mấy, khỏi vắt giò lên cổ chạy như lần trước, với lại có thì giờ để lựa chọn nhà mới nữa chơ.”

Theo lời giới thiệu của người bạn, kỳ ni tui đi gặp cô làm nợ là người Việt. Tui sẽ ký hai nợ, nợ thứ nhất trị giá 20 phần trăm ngôi nhà, tiền lời cao 10%, nhưng bù lại, nợ thứ nhì trị giá 80 phần trăm của ngôi nhà được hưởng tiền lời khá thấp, 5 phần trăm thôi. “Chị ráng trả hết nợ thứ nhất càng sớm càng tốt nhé,” cô ấy dặn lui dặn tới.

Và rất may mắn, tui bán nhà cũ khá nhanh, dọn về ở chung với ông bà ngoại hai tháng thì mua được ngôi nhà mới với giá rất tốt. Lý do: Chủ nhà nghỉ hưu, không màng chuyện thế sự nữa!

Ngôi nhà này, 2400 sf, xây từ 1998, và tui mua 169 ngàn. Ai cũng khen rẻ! Đúng là "Thánh nhân đãi kẻ khù khờ!”

Mà thật ra mua nhà cũng là cái duyên. Chuyện như thế này. 

Sau bữa ăn lễ Thanksgiving năm 2005, tui lo dọn dẹp, ông chồng tui với bé Vi vào computer để coi các ngôi nhà bán. Ổng chạy ra hối thúc tui thay áo quần để đi coi nhà! “Chừ hả? Biết Michael có rảnh không mà đi coi nhà?”

“Bà đừng lo, tôi điện cho hắn rồi, đang trên đường lên đó. Mình qua coi phía ngoài trước, tôi thích hai cái cũng ở gần nhau thôi.” Ông chồng tui giải thích.

Khi chúng tôi tới, thì có thêm 2 gia đình đang đứng đợi ở ngoài đường, “Người realtor của chủ nhà chưa tới.” Một người nói.

Chồng tôi không muốn chờ, bèn lái xe đi coi ngôi nhà thứ hai. Vì Michael chưa tới nên chúng tôi cũng chỉ đứng nhìn ở ngoài thôi. Một lát, thì Michael gọi tới coi lại ngôi nhà thứ nhất.

Vậy là cả 3 gia đình cùng vào coi ngôi nhà. Khi ra về, Michael bảo, “Nếu thích thì mua ngay, đừng bớt giá gì cả, bởi vì giá thấp hơn thị trường và theo tui biết, hai gia đình kia cũng muốn mua, nhưng họ đòi bớt vài ngàn.”

Ông chồng tui rất thích ngôi nhà, bé Vi cũng vậy, riêng tui và bé Sa thì dễ tính hơn, sao cũng được.

Chúng tôi đồng ý và đặt cọc ngay tối hôm đó. Và nhờ chúng tôi đã lo giấy tờ nợ trước sẵn rồi, nên đúng một tháng sau thì giấy tờ ký xong xuôi, chúng tôi dọn vào nhà mới một ngày trước Christmas, 2005.

Mười một năm sau, Giáng sinh 2016, món quà tui dành cho ông chồng là tờ giấy nhà bank xác nhận hết nợ!

Năm 2006 tui mua chiếc xe mới Nissan Xentra.

Năm 2007 tui mua cái tiệm Nails nhỏ nhỏ gần nhà, chưa đầy 3 miles, lái xe chưa đầy 10 phút.

Năm 2011 mua chiếc xe Truck Chevrolet mới toanh to đùng đùng cho ông chồng.

Hai đứa con gái lên lớp 11 là mỗi đứa một chiếc xe để cha mẹ đỡ lo đưa đón.

Cả hai học đại học ở Austin và San Antonio, ra trường món quà được cha mẹ tặng là tờ giấy xác nhận không có đồng nợ nào cả!

Đi Việt nam chơi 3 lần, còn lâu lâu thì đi quanh quẩn trong nước Mỹ, nói chung cuộc sống an nhàn, không có gì để phàn nàn, nhờ ơn trời Phật.

Đầu năm vừa rồi tui nghỉ hưu, riêng ông chồng thì phải đợi cuối tháng 8 này, khi ổng tròn 66 tuổi, mới nghỉ hưu để được hưởng toàn bộ quyền lợi. Hai vợ chồng tui coi như xong bổn phận với con cái! Giờ chỉ trông cho có sức khoẻ để trồng cây, làm vườn an hưởng tuổi già, chẳng đòi hỏi gì thêm!

Tất cả, đều nhờ vào điểm credit! Tui đã cương quyết giữ uy tín với nhà bank, và tất nhiên cùng với sự cố gắng tằn tiện của ông chồng nữa chứ, để xây cho mình một điểm credit cao.

Tui muốn cám ơn nước Mỹ đã cho tui cơ hội để có nhà cửa, cuộc sống yên bình, vì biết đâu, đối với nhiều người, có thể đó là mơ ước của cả một đời người chứ chẳng phải chơi!

Austin, TX. April 19th, 2019

Minh Nguyệt Graves

Thursday, January 24, 2019

Trai Năm Thê Bảy Thiếp!




Người ta bảo rằng, tới một độ tuổi nào đó, người già lại trở thành trẻ con.


Có những người 70, 80, 90 tuổi bị bệnh mất trí nhớ, cư xử ngu ngơ như trẻ lên 2, lên 3.

Một số khác thì do tuổi đời chồng chất, bộ nhớ trong đầu họ không còn chỗ để chứa nữa hay sao ấy, mà họ chỉ nhớ chuyện ngày xửa ngày xưa cả 40, 50 năm về trước rõ mồn một, còn như chuyện hôm nay, mới nói 5 phút trước, 5 phút sau đã quên lững mất rồi, thế không phải như trẻ con là gì?

Cách đây gần 10 năm, mỗi thứ Ba hàng tuần tôi tới nhà Dưỡng lão gần tiệm để làm Nails cho bà Picow. Rồi sau khi bà mất, mỗi khi có dịp, tôi lại tới, nhưng chỉ đi quanh quẩn, nói chuyện vu vơ với những người ở trong đó, đặc biệt là người Việt nam, vì tôi nghĩ "chắc là họ cô đơn lắm," nhờ vậy tôi nghe được nhiều chuyện khá thú vị.

Ông Bảy.

Tôi không gặp ông Bảy thường xuyên, nhưng mỗi lần gặp, ông đều nói chuyện lâu, rất lâu nữa là khác. Hồi mới gặp ông, người ta nói với tôi là ông được 85 tuổi, giờ thì ông khoảng 95, nhưng trông còn quắc thước lắm. Lúc nào ông cũng áo quần chỉnh tề, dáng dấp phong cách rất sang.

Ông bị điếc nặng, thời gian đầu mới quen ông, mỗi lần nói chuyện, tôi phải nói thật to, như hét vào mặt thì ông mới nghe được. Một thời gian sau, bảo hiểm y tế cho ông cái ống nghe gài vào tai, thì có đỡ hơn một chút. Nhưng mấy cô y tá cứ phàn nàn, rằng nhiều lần đi tắm, ông quên lấy cái ống nghe ra, vậy là nó bị ướt, bị hư, không nghe được nữa. Mà xin bảo hiểm thì phải có thời gian, vậy là ông buồn thiu, ngó tội nghiệp lắm.

Tháng rồi, tôi đang vào thăm ông, thì cũng có gia đình người bạn cũ của ông tới thăm. Bạn ông đã mất, giờ chỉ có vợ của bạn, bà Linh, và cô con gái tên Sương thỉnh thoảng lại tới thăm vì thấy thương cho hoàn cảnh đơn chiếc của ông.

Cô Sương đem dĩa Táo tàu ra mời, “Mời Bác.”

Ông lịch sự nói, “Mời chị.”

Bà Linh, “Dạ mời anh. Anh cẩn thận nghe, vì trái táo ni có hột, khéo cả mắc cổ đó.”

Ông cười tủm tỉm, ánh mắt sáng lên trông tinh quái, nghịch ngợm lắm. Rồi tôi nghe ông nói,

-“Chị hả miệng ra, tui đút trái táo vô, chị ăn thử coi có mắc cổ không nghe!”

Bà Linh ngượng đỏ mặt, “Dạ, không, không! Anh cứ ăn đi, đừng lo cho tui,” vừa nói vừa lắc đầu lia lịa.

Được vài câu, thì hình như ông không nhớ mình đang làm gì. Ông ngồi trầm ngâm.

Một lát sau, cô Sương lại mời ông ly chè khoai tía. Bà Linh dúi vào tay ông ly chè nhỏ, “Dạ mời anh.”

Đón lấy ly chè, mặt ông tươi trở lại, nét tinh nghịch trong mắt ông lại ánh lên, nhưng dường như ông không nhận ra bà là người quen, khi tôi nghe ông hỏi, “Thế chị tên chi?”

Bà Linh nhỏ nhẹ, “Dạ, tui là vợ anh Linh đây.”

Tôi đoán ông không hiểu, hay không nhớ, nên tôi nghe ông bỡn cợt, “Linh mô tui không biết. Mà thôi, mời chị. Hay chị để tui đút cho nghe!”

Bà Linh lại đỏ mặt, “Dạ, dạ, không, không, mời anh cứ tự nhiên.”

Thấy tôi đứng lớ ngớ ở góc phòng, cô Sương ghé tai tôi nói nhỏ,

“Ui cha, mô ra mà tình dữ rứa?” Cả hai chúng tôi cùng không nhịn được cười.

Họ ngồi chơi một lát thì ra về, còn lại mình tôi với ông Bảy, tôi mới hỏi, “Sao ông đùa với người quen, ông không sợ họ giận hả?”

Ông trả lời ngây ngô, “Tôi có nhớ họ là ai đâu! Khi nghe bà ấy mời táo, tự nhiên tôi nghĩ trong đầu, “Cái hột táo to rứa làm răng mà nuốt cho xuống cái cổ họng được, bà ni lo “Voi chết không hòm!” Chừ mà đôi hột táo vô thẳng miệng bà, cho bả nghẹn cổ họng thì chắc là vui lắm đây!”

Tôi căn vặn tiếp, “Rồi khi bà ấy mời chè, ông còn đòi đút cho bà ấy ăn, không khéo bà ấy giận vì ông quá sỗ sàng đó!" Mặt ông ngơ ngác như đứa trẻ bị la oan, “Nói thật với cô, có lúc tâm trí thiệt mù mờ, không nhớ họ là ai? Chỉ thắc mắc sao mà họ tốt ghê, cứ mời mình ăn hoài. Mình phải lịch sự mời lại mới đúng là người thanh lịch, chứ không có ý gì khác! Có lúc tôi nhìn những người chung quanh, có người ngó quen quen, nhưng không cách chi nhớ tên hay vì sao mình quen họ cả. Khi họ nói chuyện với nhau, tôi chỉ cố lắng nghe xem họ nói gì mà ai cũng cười, vui vẻ, (vì cái máy nghe cứ rồ rồ, không phân biệt từng tiếng được.)

Một hôm khác, vào thăm ông, tôi đùa,

"Hôm nay mình nói chuyện tình yêu ông nghe, ông đẹp trai phông độ thế ni, hồi trẻ chắc lăng nhăng lắm, phải không?”

Ông Bảy kể:

"Năm tôi 42 tuổi, từ Quảng trị được thuyên chuyển vào Sài gòn làm việc cho Tổng nha Cảnh sát. Trong phòng tài chính tôi làm, ngoài những nhân viên đã đứng tuổi, thì có cô Lan thư ký chuyên lo việc đánh máy giấy tờ, còn rất trẻ, mới tròn 20 tuổi.

Lan người Hà nội, gia đình di cư vào Nam năm 1954, nói tiếng Bắc rặt. Ban đầu tôi không thích giọng của Lan bởi vì, giọng nói của cô ấy trái ngược với khuôn mặt đẹp chân chất của mình, giọng cô nghe rất đanh đá, chua ngoa!

Những lúc rảnh việc, tôi thường hát nghêu ngao trêu Lan:

“Này cô em Bắc kỳ nho nhỏ, này cô em tóc đờ mi gạc xông…” Thì cô ấy lại làm bộ nguýt, háy trông càng đáng yêu hơn.

Thật ra Lan lớn hơn con gái đầu của tôi mấy tuổi, mấy người bạn cùng phòng hay trêu chọc, tôi lại phân bua, “Cô ấy chỉ đáng tuổi con gái tôi thôi."

Qua một thời gian làm chung, tôi đoán Lan cũng mến tôi. Chúng tôi gặp nhau 8 tiếng một ngày, 6 ngày một tuần, nên dần dà trở nên thân thiết. Đó là chưa kể buổi trưa, chúng tôi cùng nhau ra quán gần đó ăn cơm bình dân, cuối tuần rảnh rỗi, lại rủ nhau đi coi phim. Mà tôi thì cô biết rồi đó, mê coi phim lắm. Tôi có thể coi phim suốt ngày, chỉ cần nhai bánh mì uống nước đá cũng được.

Ông bà mình ngày xưa hay nói, “Lửa gần rơm lâu ngày cũng cháy, thiếp gần chàng cũng áy náy chân tay!” Đúng quá phải không cô? Lan biết tôi có gia đình ở Quảng trị, nhưng vẫn yêu tha thiết, đúng là:

Nào ai định nghĩa được tình yêu?
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều,
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu…” (“Vì sao?”-Xuân Diệu)

Ngắt lời ông Bảy, tôi tò mò hỏi, “Cô ấy mới lớn, ngây thơ, gặp ông đẹp trai, từng trải thì yêu ông là phải rồi. Nhưng cá nhân ông thì nghĩ sao? Ông có gia đình, vợ con rồi mà? Hay vì họ ở xa nên ông thấy cô đơn? Sao ông không tìm cách đưa họ vào Sài gòn sống luôn?”

Ông Bảy nhìn tôi hồi lâu, ra vẻ đăm chiêu, suy tư dữ lắm.

“Tôi nghĩ gì ư? Thời tôi lớn lên, Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng! Có gì lạ đâu, chuyện đàn ông có gia đình, rồi có thêm bà hai, bà ba, phòng nhì, phòng bốn hả cô? Từ cha tôi, cho tới chú bác của tôi, mà ngay cả anh em trai tôi, ai cũng có hai ba bà vợ hầu. Mà ngay như tôi đây, cũng đâu có ghét vợ hai, vợ ba của cha tôi? Tôi yêu quý các bà thiếp của cha tôi như mẹ mình, tôi nói rất thật lòng đó cô à.”

Tôi lại hỏi, “Thế vợ ông có biết không? Ông giữ bí mật chuyện tình yêu vụng trộm của mình được bao lâu? Thời đó tin tức chậm chạp chứ không như chừ, ông há?"

"Đúng rồi,” Ông nói.

"Tôi ít khi về Quảng trị, phần vì tốn tiền, tôi chỉ là công chức, lương lãnh hàng tháng gởi về cho vợ lo nuôi con, chỉ giữ lại một ít để trả tiền thuê nhà, tiền ăn uống, đổ xăng. Mà tính tôi dễ lắm, ăn uống đạm bạc quen rồi. Ăn để mà sống chứ đâu phải sống để mà ăn, phải không cô?

Vé máy bay đắt, mà hồi đó không có tàu lửa đi từ Sài Gòn ra Quảng trị, nên chỉ còn cách đi xe đò. Nhưng đi xe thì lâu và mệt lắm, thành ra có khi cả năm tôi mới về một lần.

Tết năm 1975 tôi thu xếp về thăm nhà. Chuyến bay trưa, từ sân bay Phú Bài tôi đi xe buýt về Huế, rồi từ Huế đi xe đò ra Quảng Trị.

Vừa bước chân vào nhà, đứa con gái nhỏ chạy ra reo mừng, “Ba về, ba về, ba có mua đồ chơi không ba? Răng lâu rứa ba mới về?”

Tôi đáp, “Công việc bận bịu quá, không cách chi dứt ra được, thành ra ba không về.”

Đột nhiên, giọng vợ tôi từ phía sau bếp vang lên, “Chơ không phải vì con quỷ đó không để cho ông về à? Răng ông không đi luôn đi? Về làm chi?”

Tôi không đáp lại một lời nào, ai dại gì đi cãi lại người phụ nữ đang ghen, đúng không cô?

Bọn nhỏ loay hoay mở vali tìm quà, vô tư không biết ba mẹ chúng giận nhau. Đó là lần đầu tiên không khí trong nhà thật nặng nề, không ai nói với ai lời nào.

Bà giúp việc nhà cả hơn mười năm, nói với tôi, “Làm cho ông bà lâu ni, lần đầu tiên tui nghe ông bà to tiếng đó tề.”

Đó là cái Tết buồn nhất mà tôi từng trải qua. Vợ chồng tôi không nói với nhau một lời, cho tới ngày tôi vào Sài gòn lại.

Rồi mấy ngày sau, trên tivi, đài truyền thanh loan tin chiến tranh bùng phát dữ dội ở miền trung, (khắp nơi thì đúng hơn) đầu tháng 3 năm 1975 gia đình tôi di tản từ Quảng Trị vào Đà Nẵng. Suy nghĩ mấy ngày, tôi quyết định mua vé bay ra Đà Nẵng tìm gia đình.

Trong lúc bao nhiêu người từ miền Trung tìm cách vào Sài gòn để tìm đường đi ra nước ngoài, máy bay chyến nào cũng chật cứng, thì chuyến bay từ Sài gòn ra vắng hoe! Cả chiếc Boeing thênh thang mà chỉ có 10 hành khách. Trong đầu tôi dằn vặt bao nhiêu điều, vì nhiều người đã khuyên tôi đừng đi ra ngoài ấy, vì chiến tranh khốc liệt lắm, tôi về, biết có trở lại Sài Gòn được nữa không?

*
Tôi hỏi, “Vậy là cho tới tháng 4 năm 1975, ông và gia đình đã ở xa nhau 10 năm sao? Vợ chồng thì phải ở gần nhau chứ?”

-“Không hẳn như vậy. Mỗi năm tôi về thăm nhà một lần, bà vợ tôi bị bệnh bướu cổ, phải vào Sài gòn chữa bằng phóng xạ ở bệnh viện Grall, cả mấy năm đó chứ. Mùa Hè năm 1972, Quảng Trị bị bom cày nát, nhà cửa bị san bằng, gia đình tôi di tản vào Sài gòn, cứ nghĩ là sẽ ở lại luôn, vậy mà vợ tôi nhất định về quê lại đó cô à. Bà ấy sinh ra và lớn lên ở Quảng Trị, công việc buôn bán, nhà cửa, gia đình anh chị em đều ở quanh thành phố đó, khó mà dứt ra được."

“Ông kể tiếp chuyện những ngày tháng 4 năm 1975 đi.” Tôi thúc ông kể tiếp, kẻo sợ ông quên!

-“Tối hôm trước khi bay ra Đà Nẵng, tôi và Lan đã thức trọn đêm nói chuyện. Chúng tôi hy vọng, tình hình sẽ lắng xuống như mấy năm trước, và mơ ước ngày đất nước hết chiến tranh.

Nhưng mà cuộc đời có những ngả rẽ thật bất ngờ! Không ai nói trước được!

Tôi về Đà nẵng được 10 ngày thì Đà nẵng thất thủ! Và 2 tuần sau, một buổi chiều, lúc tôi đang đạp xe từ nhà ông anh về, thì có 3 người mặc bộ đồ màu xanh lá cây đậm, đội mũ cối, đi dép cao su quai, chặn xe tôi lại từ đầu hẻm, hỏi tên tuổi tôi, rồi yêu cầu tôi về nhà lấy ít tư trang vật dụng, để theo họ “tập trung học tập, cải tạo tư tưởng.”

Trước sự ngơ ngác của cả gia đình tôi, họ đã dẫn tôi đi.

Đi đâu? Chính tôi cũng không biết!

Ban đầu người ta đưa tôi vào trại giam ở gần chợ Cồn, rồi sau đó đưa lên Tiên Lãnh, vùng núi non hiểm trở, hoang sơ của tỉnh Quảng Nam.

Không thể kể hết nỗi khổ cực lúc đó đâu cô. Cứ tưởng tượng một vùng núi hoang vu, chúng tôi đốn cây, dựng láng, lợp mái để làm nhà ở. Nước thì ra suối gánh về. Làm việc nặng nhọc suốt ngày, mà mỗi bữa người ta chỉ phát cho một chén, không phải chén cơm đâu nhé. Trong chén chỉ có một nhúm nhỏ cơm, còn lại là khoai, sắn. Chén không đầy đâu, chỉ lưng hai phần chén thôi. Và một ngày chỉ có 2 chén như vậy, để cầm hơi! Chuyện ăn đã khổ, chuyện ỉa càng khổ hơn. Mà khổ nhất là mỗi khi có người bị tiêu chảy. Để dễ quản lý tù nhân, (Người ta gọi chúng tôi là tù nhân chính trị!), cầu tiêu đơn sơ được dựng ngay bên cạnh chỗ ngủ của cả trại, cho nên, buổi tối mà có người bị đau bụng đi re, thì cả láng phải ngửi mùi, nghe tiếng của “nỗi lòng”, và bệnh đó lây lan cũng rất nhanh nữa.

Bữa ăn thường chỉ có canh rau lõng bõng nước, mà rau khoai lang đó, cũng được tưới bằng phân người, giờ nghĩ lại thấy ghê quá!

Một năm chúng tôi được ăn thịt một lần, vào dịp Tết, cán bộ được phép mổ con heo hay con bò thì tuỳ năm đó nuôi con gì. Tôi được may mắn, có vợ tôi thăm nuôi, bà ấy đem cho tôi kim chỉ để vá áo quần rách, thuốc chống sốt rét, thuốc trị tiêu chảy, cá nục kho khô, muối mè, đậu phụng, mỡ heo rán... Có năm vợ tôi đi thăm dịp Tết, thêm mấy đòn bánh tét, bánh chưng của người bạn gởi cho.

Trong trại (tù cải tạo) có một anh chàng được mang biệt danh, “Thực Thất Thử”, hỏi ra mới biết vì anh chàng thèm ăn quá, đi làm lao động, bắt được 7 con chuột con, lấy lá nướng ăn, bị cán bộ bắt được, phạt cách ly!

Còn có ông An kia thì thèm thịt quá, ăn trộm đuôi heo khi đang lo phụ bếp nấu ăn bữa Tất niên, cũng bị “bêu danh” trước cả trại bởi vì cán bộ quả quyết, “Heo thì phải có đuôi, phạt một lần cho tởn!"

Ôi, có những năm tháng của cuộc đời sao tối tăm mù mịt, con người ta sống, không khác chi những con vật, lây lất, không ước mơ, không kỳ vọng, bởi vì trong đầu luôn luôn ám ảnh bởi “Cái Đói”, nó cồn cào suốt ngày, từ khi mở mắt cho tới khi được phép ngã lưng!

Trong một lần thăm nuôi, vợ tôi báo cho tôi biết, cha tôi đã qua đời. Tôi buồn khóc vật vã mấy ngày. Cha tôi chết, tôi không được về thọ tang! Tôi thật là một đứa con bất hiếu! Người bạn tù nằm cạnh tôi an ủi, “Tụi mình bị tù, dù là tù chính trị, dù chỉ vì tụi mình làm việc cho chính phủ miền Nam, thì làm sao được như người bình thường để về thọ tang cha! Không ai trách anh đâu!" Tôi loay hoay lấy cái áo cũ, cắt một phần cánh tay áo, thành từng miếng hình vuông, một đầu tôi cắt lua tua, rồi may lên phía sau lưng, và hai bên cánh tay áo giống như áo tang tôi đã từng mặc trong đám tang mẹ tôi, và ông bà nội của tôi nữa đó cô à.

Mấy năm đó, sao toàn nghe cả chuyện buồn! Nhà cửa bị lấy mất, vợ và 2 đứa con gái phải vào Huế sống nhờ với gia đinh em trai của tôi. Anh trai tôi ở Đà Nẵng mất đột ngột vì tai nạn xe, gia đình đứa con gái lớn đi vượt biển mất tích, đứa con trai kế đi lính cũng chết mất xác vào những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975. Một lần, tôi nói với vợ, “Bà đừng đợi tôi về, tìm cách gả chồng cho hai đứa con gái út kẻo tụi hắn lỡ thời, ở goá tội nghiệp.” Lúc đó tụi nó khoảng 20, 23 rồi.

-“Thế thời gian đó cô Lan có bao giờ đi thăm nuôi ông không?” Tôi lại hỏi.

“À, cô ấy có ghé thăm lúc tôi đang bị giam ở chợ Cồn. Tôi khuyên Lan nên quên tôi đi, tìm người để lập gia đình, chứ thời buổi như thế này, biết tôi có trở về được không? Sau đó thì tôi hoàn toàn bặt tin tức của Lan.”

“Thế năm nào thì ông được tha về?” Tôi càng tò mò muốn biết thêm về cuộc đời của ông Bảy.

Có một lần đi trong rừng lao động, chúng tôi đi thành hàng dọc, trời mưa, đường trơn, tôi sảy chân, rớt xuống cái hố sâu, tôi sợ quá la to, “Cứu tôi với, cứu tôi với!” Nhưng không ai nghe tôi cả. Tôi cố gắng giữ bình tĩnh, cứ niệm chú Quan Âm luôn miệng, “Nam mô đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, quảng đại linh cảm bạch y quan thế âm bồ tát."

Trời tối dần, tôi vừa lạnh, vừa đói, vừa sợ, thì tự nhiên nghe có tiếng người lao xao. Tôi cố ráng sức la to, “Tôi ở dưới này, cứu tôi với!” Một lát thì thấy mấy người cùng chạy tới, họ quăng dây xuống, kéo tôi lên. Ông Bình, cán bộ của trại nói, “Anh Bảy định trốn trại à?” Tôi trả lời ngay, “Dạ cán bộ, tôi già, đi đứng vụng về, nên rớt xuống hố, chứ trốn trại thì lấy chi mà sống?”

Về trại, mấy người bạn tù mới kể lại. Cả đoàn đi một lát thì ông Cường, là người thường nằm cạnh tôi, mới hỏi, “Anh Bảy đâu rồi? Có ai thấy anh Bảy không?” Ông Hùng là người đi sau lưng tôi lúc đi rừng nói, “Đi một đoạn, tôi vẫn còn thấy anh Bảy, nhưng lúc trời đổ mưa, tối thì không còn thấy nữa.” Vậy là họ báo cho cán bộ của trại biết, và quyết định đi trở lại con đường cũ để tìm tôi.

Tôi cám ơn họ rất nhiều.

Đến tháng 9 năm 1985, nhân dịp quốc khánh của nước Việt nam, tôi được tha về. Vợ chồng đứa con gái lên đón tôi về, người tôi chỉ còn da bọc xương. Tôi thường có râu quai nón, lâu ngày không cạo râu, giờ râu ria rậm rạp, tóc tai thưa thớt, chắc là ngó thảm não lắm. Dừng lại ở quán ăn nơi thị xã Tam Kỳ, con gái tôi cứ dặn lui dặn tới, “Ba ăn từ từ thôi, đừng ăn nhiều một lần mà đau chừ.” Tôi thèm ăn từ bắp su luộc cho tới chén nước mắm, chén cơm, chén cháo… Cái miệng thèm ăn, hơn 10 năm tôi không có một bữa ăn no, cô à!

Sau đó thì tôi ở nhà, để phụ vợ bán bánh kiếm tiền đi chợ. Hai đứa con gái đã có gia đình riêng. Rồi khoảng cuối năm 1987, một buổi tối nọ, có một vị khách bất ngờ xuất hiện ở nhà tôi. Ông ta là công an của bộ, từ Hà nôi vào, yêu cầu tôi viết lại toàn bộ hệ thống hành chánh, chức vụ, tên tuổi, bất kể ai mà tôi còn nhớ. Ông ấy hỏi, “Thế bây giờ, cho bác đi Mỹ, bác có muốn đi không?”

Trong bụng tôi, vừa mừng vừa lo. Mừng vì hy vọng được đi Mỹ, theo như tin tức từ đài BBC tôi vẫn nghe lén hằng đêm. Lo vì sợ bị đặt bẫy của công an!!!

Tôi trả lời nước đôi, “Dạ, tuỳ mấy ông thôi. Tôi già rồi, không dám nghĩ gì cả.”

Mấy tháng sau, tôi được gởi giấy mời qua công an thành phố Huế, làm thủ tục đi H.O.

Chỉ có 2 vợ chồng tôi đi, lúc đó tôi 65 tuổi. (1988)

Trước khi đi Mỹ, hai vợ chồng tôi vào Sài gòn sống gần 5 tháng, phần để kiểm tra sức khoẻ, phần để vợ tôi chữa răng, vì răng bà ấy hư nhiều, phải mổ để làm răng giả. Tôi tìm lại được thông tin của Lan. Và tôi quyết định đến thăm cô.

Lan ngỡ ngàng khi nhận ra tôi! Lan đã lập gia đình được 10 năm, có 2 con. Chồng Lan là cũng là người Hà nội, nhưng mới vào 1975, đi dạy ở trường đại học, nên cuộc sống cũng khá tươm tất. Trước khi chia tay, tôi dúi vào tay Lan số phone nhà của đứa con gái, dặn rằng, lúc nào cần liên lạc với tôi thì hãy gọi cho nó.

Hai vợ chồng tôi tới Mỹ, ngoài tiền trợ cấp, chúng tôi làm thêm chả giò, chả lụa để bán kiếm tiền giúp cho 2 đứa con gái còn kẹt lại ở Việt nam. Còn Lan, qua thư từ, email, tôi được biết hai vợ chồng không hạnh phúc, bởi vì "Lan lấy một người mà Lan không yêu! Và chồng Lan biết rõ điều đó.” (Lan viết cho tôi.)

Năm 1990 khi biết tin hai vợ chồng Lan chia tay. Tôi nói dối với vợ, để cho tôi về thăm quê một mình. Sau khi thăm con gái ở Đà nẵng, tôi đã vào Sài gòn thăm Lan. Tôi nói, “Lúc nào tôi cũng yêu Lan.” Chúng tôi cùng nhau đi chơi gần 2 tuần, tôi chỉ ra lại Đà Nẵng, để bay về Mỹ trước 2 ngày. Tôi đã có những giây phút thật là hạnh phúc bên Lan, cứ ngỡ như 15 năm về trước vậy. Nhưng mới về nhà được mấy ngày thì tôi nhận được email của Lan.

-“Suốt đời này, Lan chỉ yêu có một mình anh Bảy. Nhưng giờ đây, Lan chỉ muốn được sống môt mình, Lan luôn mang mặc cảm đã lấy cắp tình cảm của anh dành cho vợ. Nên Lan muốn sám hối. Chúc anh may mắn. Đừng tìm Lan nữa.”

10 năm sau khi qua Mỹ, (1998) chúng tôi bảo lãnh gia đình hai đứa con gái.

Tháng 5 năm 2005, vợ tôi mất. Bác sĩ bảo bà ấy không bị bệnh gì cả, bà ấy chỉ yếu dần rồi ra đi, trong vòng một tháng, được 72 tuổi. Cơ thể con người đâu đã già ở tuổi ấy được cô nhỉ? Tôi tuy không phải là bác sĩ, nhưng tôi biết bà ấy bị bệnh gì nè, cô có đoán ra được bà ấy bị bệnh gì không? Trầm cảm! Bà ấy buồn vì tôi yêu Lan. Điều tôi không hiểu là sao bà ấy không thông cảm cho tôi? Từ xưa tới giờ, tình cảm của tôi dành cho vợ vẫn y nguyên, không có gì thay đổi cả. Tình yêu giống như bầu khí quyển, chứ không phải là một cái bánh, mà nếu có ai chia xẻ thì mình sẽ bị mất phần!

Tôi đã yêu cả 2 người đàn bà, có ai hiểu cho nỗi khổ của tôi không? Tôi cũng đâu có muốn vậy, tình yêu nó tự đến đấy chứ! Biết làm sao được hả cô?

"Sau khi vợ mất, tôi tiếp tục sống một mình, không muốn làm phiền con cái, vì tính tôi thích độc lập, nhưng được 2 năm thì tôi bán nhà, chia cho hai đứa con gái một phần, rồi tôi dọn vào khu nhà dành cho người già, khỏi lo điện hư, nước hỏng, khỏi lo cắt cỏ, tưới cây, mà lại có bạn già ở chung quanh cũng vui. Thời gian đầu, tôi lái xe, sau này thì không. Hàng tuần, có chiếc xe buýt của khu nhà, chở mọi ngừơi đi chợ, đi chơi bowling, đi coi phim. Tôi tự nấu ăn, chứ nếu tôi ăn đồ Mỹ thì người ta cũng có phục vụ trong phòng ăn chung đó cô.” Ông kể tiếp.

Chợt nhớ lần tôi dẫn ông đi khám mắt, tôi hỏi, “Này, ông có nhớ lần tôi dẫn ông đi khám mổ mắt không? Lần đó ông làm tôi hơi ngượng với mấy cô nhân viên lắm đó.”

Ông cười, “Nhớ chứ, cám ơn cô.”

Chuyện thế này, sau khi ghi tên ở cửa sổ phòng ngoài, một cô y tá dẫn ông vào phòng trong. Cô ấy đo nhiệt độ, huyết áp, và hỏi những câu hỏi thông thường như: Có đau ở đâu không? Có uống thuốc gì?…

Xong xuôi, cô nói, “Bác sĩ Marian sẽ gặp ông trong giây lát, ông có cần hỏi tôi thêm điều gì không?”

Mỉm cười rất điệu đàng, ông đáp, “Cám ơn cô đã lo cho tôi. Tôi không có câu hỏi gì, nhưng tôi muốn nói với cô một điều, không dính líu chi tới bệnh trạng của tôi, có được không cô?”

Tôi đoán, cô y tá hơi bị ngạc nhiên vì nghe ông già người châu Á nói tiếng Anh khá rõ, và một câu hỏi hơi lạ thường, nhưng có lẽ nhìn khuôn mặt dễ mến, đẹp lão của ông, cô không thấy bực bội, mà trái lại thấy vui vui, nên dễ dãi cười thành tiếng, “Ồ, có gì đâu mà ông phải rào đón dữ vậy, ông cứ tự nhiên hỏi. Cái gì tôi biết thì tôi trả lời, cái gì không biết thì đành chịu thôi.”

Vẫn với nụ cười mỉm chi trên môi, ông chậm rãi nói, “Trong đời tôi, chưa bao giờ tôi thấy ai có cặp mắt đẹp, tinh anh như đôi mắt của cô!”

Cô y tá cười sung sướng nói “Cám ơn” và bước ra khỏi phòng, vì cô phải lo cho bệnh nhân kế tiếp thì phải.

Tôi cười như nắc nẻ, “Nè, mắt ông bị bệnh, thì tôi có biết, nhưng tôi không ngờ là bệnh nặng dữ vậy đó!”

-“Ý cô là sao? Mắt tôi bị cataract thì cũng là bệnh thông thường của người già thôi mà?” Ông ngây thơ hỏi lại.

  “Mắt của cô y tá đó bị bé, hai con nhìn hai hướng, vậy mà ông bảo là đẹp, tinh anh thì tôi chịu thua ông rồi đó! Ông xạo vừa vừa thôi! Xạo quá họ bảo mình đểu thì kỳ lắm!” Tôi vẫn còn ôm bụng cười.

-“Cô thiệt là! Đàn bà phụ nữ, có ai không thích được khen! Nghe một câu khen ngợi, dù có giả dối một chút, thì cũng dễ lọt tai hơn là một câu chê bai chứ! Cô tin tôi đi.” Ông trả lời.

Mấy phút sau thì cô bác sĩ Marian bước vào. Cô Mỹ trắng, còn trẻ, cỡ 35 tuổi, thanh mảnh dễ nhìn. Sau khi khám lui khám tới hai con mắt của ông, cô viết xuống tờ giấy chỉ dẫn để lấy hẹn ngày mổ, và những gì cần chuẩn bị. Trước khi kết thúc, như lệ thường, cô hỏi, “Ông về nghĩ ngơi cho khoẻ, y tá sẽ gọi lại cho ông 2 ngày trước khi mổ, ông có cần hỏi tôi điều gì không?”

Mỉm cười duyên ông nói, “Cám ơn bác sĩ đã khám cho tôi. Tôi không có gì thắc mắc cả, tôi chỉ muốn nói là trong đời tôi, chưa bao giờ tôi thấy ai có cặp mắt đẹp, tinh anh như đôi mắt của cô!”

Cô bác sĩ cười tươi, bắt tay ông, và nói cám ơn.

Trên đường về, tôi nói, “Cái văn phòng bác sĩ đó nhỏ chút à, cả bác sĩ lẫn nhân viên cỡ 6 người là cùng. Tôi dám cam đoan với ông, là trưa nay, khi họ tụ tập ăn trưa họ sẽ nhắc tới ông cho mà coi! Và họ sẽ nói là ông ba xạo! Ha ha ha. Ông khen 2 cô giống đúc nhau luôn, một cô bị lé, một cô không lé, tôi thua ông rồi đó!”

Ông có vẻ giận vì bị tôi “sửa lưng,” nhưng vẫn chống chế, “Đàn bà có ai không thích được nịnh đầm, được khen, cô sao khó tính quá!!!”

Chọc ông cho vui thôi, chứ tôi biết ông là người rất tao nhã, bặt thiệp. Tôi biết ông nhớ bà lắm, vì tôi có đọc được mảnh giấy nhỏ, ông viết để bên cạnh bức ảnh thờ của bà trong cái tủ nhỏ đầu giường, “Giờ này em đang ở đâu? Em có ok không?”

Tôi hỏi bâng quơ, “Ông nè, nếu ông được gặp bà lại, thì ông sẽ nói gì với bà?”

-"Những ngày cuối cùng, vợ tôi yếu nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt ICU bệnh viện, tôi ngồi một bên giường, cầm tay bà ấy, tôi đã khóc và hát bài hát mà cả hai chúng tôi yêu thích, “Nếu có điều gì vĩnh cữu được, thì em ơi, đó là tình yêu của chúng ta…” ("Mãi mãi bên em"- Từ công Phụng.)

Vợ tôi lúc đó không nói được vì bị đặt ống thở qua cổ, nhưng ánh mắt yếu ớt của bà vẫn như còn giận hờn, khiến lòng tôi tan nát…

"Thế còn cô Lan thì sao, ông hoàn toàn không liên lạc với cô ấy nữa à?” Tôi hỏi.

-"Tôn trọng ý nguyện của Lan, tôi không dám làm phiền cô ấy nữa. Tháng ba năm 2006 thì tôi nhận được tin cô ấy mất vì ung thư. Từ đó đến nay, tôi cũng không nghĩ đến chuyện yêu ai nữa, mà có ai điên gì đi yêu ông già như tôi hả cô?"

Tôi đùa, “Lúc đó ông chưa tới 83, chắc tại ông không muốn thôi, chứ biết đâu có người còn thích ông?"

Ông nhìn tôi có vẻ nghiêm nghị, "Cô đã nghe kể chuyện đời tôi, thế thì theo cô, tôi có phải là mẫu người đàn ông thích lăng nhăng không? Hay chỉ là người đa tình, nên bị khổ luỵ vì yêu? Tôi đã làm đau khổ, không chỉ một mà là hai người đàn bà, tôi yêu hết mực!”

Tôi nghe ông hát ê a: “Nếu trên đời này, có điều gì vĩnh cữu được, thì em ơi, đó là tình yêu của BA chúng ta…”

Tôi không biết nên cười hay giận ông già lém lĩnh này đây!

Austin, Texas
Minh Nguyệt Graves

Blog Archive