Showing posts with label Chú Chín Cali. Show all posts
Showing posts with label Chú Chín Cali. Show all posts

Wednesday, November 19, 2025

 Trạm Cuối Cuộc Đời

Sống ở Mỹ khá lâu nên tôi ít nhiều cũng bị ảnh hưởng tư tưởng của người Mỹ nên không có ý định nhờ vả con cái khi tuổi về chiều. Một ngày nào đó khi thấy mình không còn khả năng để tự lo cho mình được nữa tôi sẽ vào sống trong các “Boarding care” để có người chăm sóc, nếu tệ hơn sẽ được hưởng những phúc lợi dành cho người cao niên và được bảo vệ bởi hệ thống an ninh xã hội Mỹ.

Ở Mỹ có “Nursing Home” được trang bị đầy đủ phương tiện, kỹ thuật và nhân sự chuyên môn để chăm sóc những người không còn khả năng tự lo cho mình, có “Hospice Service” chăm sóc vật chất lẫn tinh thần cho các bịnh nhân không thể sống hơn sáu tháng, giúp họ ra đi trong yên bình và giúp gia đình họ vượt qua giai đoạn khó khăn nhất.

Nhưng tư tưởng lạc quan này đã hoàn toàn thay đổi từ khi tôi thật sự đối diện với tử thần và nếm mùi bịnh viện sau khi trải qua một cơn bạo bịnh phải nhập viện trong 10 ngày. Tuy đã được thoát chết, vết thương mổ xẻ đã lành, nhưng những đau đớn về thể xác và vết thương tâm thần mà bịnh viện để lại vẫn còn hằn sâu trong ký ức không bao giờ lành. Từ đấy tôi bắt đầu thấy sợ bịnh viện, sợ luôn cả nursing home vì đây chẳng qua chỉ là một hình thức khác của bịnh viện, bịnh viện của người già.

Từ tâm trạng sợ hãi này tôi liên tưởng đến 4 năm hãi hùng mà nhạc mẫu tôi phải trải qua trong nursing home trước khi bà mất. Từ đấy những quảng cáo đẹp về nursing home với hình ảnh những cụ già vui chơi hạnh phúc được thay thế bằng những hình ảnh đau khổ của nhạc mẫu tôi và của những cụ già ngồi xe lăn ủ rủ, nghiêng ngả, cong queo, nhễu nhão, những gương mặt mếu máo, những ánh mắt vô thần.

Chúng tôi may mắn được sống chung với cha mẹ vợ vì bà xã tôi là con gái út. Lúc còn khỏe ông bà nhạc của tôi quán xuyến hết mọi chuyện trong nhà để vợ chồng tôi được rảnh tay lo chuyện ngoài xã hội. Hai con tôi gần gũi với ông bà ngoại nhiều hơn với cha mẹ chúng. Đi học về vừa đến cổng nhà là đã réo gọi ông bà ngoại. Tuy nuôi con nhưng thật ra tôi chưa biết thay tã hay cho con bú! Kể cả tiếng Việt chúng nói đều nhờ ông bà dạy từ ngày chúng bập bẹ tập nói.

Nhưng cuộc sống hạnh phúc chấm dứt từ khi nhạc mẫu tôi ngã bịnh. Năm 78 tuổi, sau chuyến du lịch Việt Nam về, mẹ nằm suốt trong phòng, than mệt. Ngoài bịnh tiểu đường loại 2 mãn tính, mẹ thường xuyên bị nhiễm trùng đường tiểu, đau cột sống, ho kinh niên và sau đó khám phá ra bị ung thư phổi. Từ đấy bà ra vào bịnh viện như đi chợ. Thiếu bàn tay của mẹ, gia đình tôi rối loạn lung tung, con cái đi học trễ, cơm nước thất thường, nhà cửa bề bộn. Vợ chồng tôi phải tập lại từ đầu cách quán xuyến gia đình, nuôi con, thêm nuôi mẹ già trong bịnh viện. Bố cũng yếu chỉ hụ hợ chuyện lấy thơ, đổ rác, đóng cổng là đã than mệt rồi.

Bác sĩ ung thư khuyến cáo không nên mổ xẻ hoặc trị liệu gì cho mẹ vì ung thư đã di căn đến não. Hơn nữa tuổi mẹ đã quá cao lại bị bịnh tiểu đường nên vết mổ không lành. Hãy để cho thiên nhiên quyết định vận mệnh của mẹ. Tôi dấu nhẹm lời bác sĩ bảo rằng mẹ chỉ sống tối đa là sáu tháng. Mẹ được cho về nhà với lời khuyên “thích ăn cái gì cho bà ăn cái nấy”. Nhưng “Còn nước còn tát” chúng tôi không chịu thua, chạy chữa bịnh cho mẹ bằng thuốc nam. Ai bày thuốc gì ở đâu tôi cũng tìm cho được. Khi lái xe mắt tôi cũng láo liên nhìn bên lề đường, dọc theo các hàng rào tìm cây cỏ “Dendelion” để hái lá cho mẹ ăn. Nghe nhà ai có cây nha đam chúng tôi cũng tìm đến xin hay mua cho bằng được. Bà xã tôi cầu nguyện cho mẹ hàng ngày không xao lãng.

Như được một phép nhiệm mầu, bịnh ung thư của mẹ tôi thuyên giảm dần dần và sau mấy tháng khối u trong phổi tự nhiên biến mất.

Bác sĩ gia đình rất vui bảo “đừng thắc mắc, hảy cứ tin là như vây đi”. Nhạc mẫu tôi thì tin là mình đã hết bịnh thật, còn vợ chồng tôi thì gần như kiệt lực, mong sau phép lạ sẽ kéo dài. Bịnh ung thư không thấy trở lại, nhưng bịnh đau cột sống làm mẹ đau đớn không ăn ngủ được nên sinh ra khó tính. Mẹ lại quên trước quên sau. Mẹ không còn kiểm soát được tiêu tiểu nữa nhưng nhất định không chịu mang tã. Bố cũng già mệt mỏi, suốt ngày ngủ trong phòng. Ông bà lại không biết tiếng Mỹ, không dùng điện thoại, nên khi vợ chồng tôi đi làm lúc nào cũng phập phòng lo sợ.

Bác sĩ gia đình đề nghị nên cho mẹ vào nursing home để dễ bề chăm sóc. Vợ chồng tôi đồng ý ngay nhưng gặp sự phản khán quyết liệt của nhạc mẫu tôi. Suốt đời mẹ không bao giờ xa gia đình nửa bước nói chi chuyện cách ly vĩnh viễn! Đối với mẹ, mất gia đình là mất tất cã. Chúng tôi nể mẹ nên không dám nói chuyện nursing home nữa, chỉ sợ làm mẹ buồn ảnh hưởng đến sức khỏe.

Nhưng sức khỏe của mẹ càng lúc càng tệ. Sau lần cấp cứu cuối cùng vì bị ngất xỉu, bác sĩ đề nghị phải đưa thẳng mẹ vào nursing home, vì theo ông, đó là cách tốt nhất để bác sĩ có thể theo dõi bịnh tình và giữ an toàn cho mẹ.

Ngày đầu tiên vào nursing home không ai nỡ bỏ mẹ một mình nên quấn quít bên bà cho đến tối rồi cũng phải ra về. Đó là ngày đầu tiên trong cuộc đời mẹ phải sống lẻ loi một mình bên những người xa lạ. Tôi còn nhớ rỏ gương mặt thẫn thờ của mẹ nhìn theo con cháu đang bỏ bà mà đi. Tôi không dám nhìn mẹ lâu hơn vì tôi thấy mẹ khóc, một điều rất lạ đối với nhạc mẫu tôi vốn là người đàn bà can cường và cứng rắn. Bố thấy tội nghiệp đòi mỗi ngày chở bố vào nursing home để ông chăm sóc cho mẹ. Được mấy tuần rồi tôi cũng chịu thua vì chuyện đón đưa hàng ngày thật là bất tiện…. Còn nếu để bố đi xe bus nếu có chuyện gì xảy ra thì ai lo cho bố đây!

Từ ngày Mẹ vào nursing home vợ chồng tôi thở phào nhẹ nhõm, không còn phải lo lắng như khi xưa khi bỏ mẹ ở nhà. Chúng tôi yên tâm là mẹ được theo dõi và chăm sóc 24/7. Tan sở vợ chồng tôi chở bố vào thăm mẹ, thấy mẹ sạch sẽ thơm tho, giường nệm trắng tinh, kẻ qua người lại tấp nập vui vẻ lắm. Yên tâm chúng tôi dần dần xao lãng việc thăm viếng…. Cả hai cháu cũng không còn đòi đi thăm ngọai nữa, nhiều khi phải bắt chúng mới chịu đi. Chúng không thích cái mùi trong nursing home.

Từ ngày sống trong nursing home mẹ hoàn toàn thay đổi, trở nên trầm lặng, ít nói, khác hẳn với mẹ trước đó “quậy” tưng bừng trong bịnh viện. Mẹ chịu mang tã, nằm yên trên giường, không có ý kiến chuyện chung quanh, không đòi hỏi gì, không còn than phiền đau lưng nhức gối, hay càu nhàu vì thiếu ngủ, mất ăn như lúc ở nhà. Sau này mới biết bà đã được cho dùng thuốc an thần và thuốc đau nhức nồng độ cao nên lúc nào bà cũng ở trạng thái lờ đờ lim dim ngủ. Có lúc tỉnh táo, mẹ chỉ nhìn qua khung cửa sổ với đôi mắt vô thần. Hỏi mẹ có đau đớn gì không, mẹ lắc đầu. Hỏi có thích ăn uống đồ ăn Việt Nam không mẹ lắc đầu, tuy tôi biết là mẹ rất ghét đồ ăn Mỹ nhất là khẩu phần cho bịnh nhân tiểu đường và cao máu nhạt nhẽo không sao nuốt nỗi. Mẹ chịu đưng, sống âm thầm không một lời than thở.

Cho đến một hôm mẹ nắm tay nhà tôi, nước mắt rưng rưng mẹ van xin:
– Mẹ muốn chết con à. Con xin người ta cho mẹ chết đi!

Bà xã tôi sững sờ, ôm mẹ năn nỉ:
– Mẹ đừng nói kỳ vậy, phải ráng lên chớ, con biết phải làm sao bây giờ?

Rồi vợ tôi cũng khóc. Tôi chỉ đứng nhìn. “Chúng tôi biết phải làm sao bây giờ”?

Vợ chồng tôi đều nghĩ rằng đã tìm được giải pháp tốt nhất cho mẹ rồi. Mẹ thì đã “ráng” quá nhiều, ráng đến mỏi mòn, đến kiệt quệ nên muốn bỏ cuộc. Đã bốn năm dài đăng đẳng mẹ sống nơi đây như cái xác không hồn.

Có lúc chúng tôi vào thăm mẹ vào giờ ăn trưa thấy mẹ ngồi gục đầu trên xe lăn như một em bé ngoan, mắt nhắm nghiền, đợị đến phiên mình há mồm được đút cho ăn. Mẹ không còn thiết tha gì nữa.

Những tháng cuối cùng mẹ nằm trên giường đưa mắt nhìn con cháu, không cử động hoặc nói năng gì. Hình như có điều gì u uẩn trong lòng mà mẹ không nói được hay mẹ có tâm sự gì nhưng muốn giấu kín trong lòng.

Một buổi sáng sớm, tôi nhận được cú điện thoại từ nursing home báo tin là mẹ chúng tôi đã mất đêm qua. Bà mất lúc nửa đêm nên không ai hay biết cho đến sáng ngày hôm sau. Bà âm thầm ra đi không một lời từ giả, không một giọt nước mắt tiển đưa. Chắc mẹ cô đơn lắm lúc trút hơi thở cuối cùng. Suốt đời mẹ lo cho chồng, cho con, cho cháu, ngày mẹ ra đi chỉ có một mình, trong cô đơn. Có ai biết rằng không phải mẹ chỉ cô đơn trong giây phút ra đi mà mẹ đã chết từ lâu rồi, kể từ ngày mẹ bước chân vào ngưỡng cửa nursing home, một nhà tù không cần đóng cửa.

Tôi chợt hiểu được tại sao mẹ đã khóc ngày đầu tiên đến nursing home. Ngày ấy mẹ chấp nhận bản ản tử hình không văn tự vì muốn hy sinh cho con cái. Ngày ấy Mẹ đã khóc lời vĩnh biệt các con cháu rồi.

Chúng tôi vội vã vào nursing home vừa kịp lúc nhìn mẹ lần cuối cùng trước khi người ta phủ kín mặt mẹ với tấm trải giường màu trắng rồi mang xác mẹ đi. Mọi người đứng nhìn theo chết đứng, ngỡ ngàng, đớn đau, nhưng không ai khóc thành lời. Chúng tôi đã biết là ngày này sẽ đến với mẹ, và hôm nay nó đã đến.

Cái chết của nhạc mẫu nhắc tôi nhớ lại chuyện cổ tích về chuyện người tiều phu đẩy xe chở mẹ vào rừng cho thú hoang ăn thịt vì bà đã quá già. Tôi có khác gì người tiều phu đó, đã đưa nhạc mẫu tôi vào nursing home để chết. Đến một ngày nào sẽ đến lượt con tôi chở tôi đi như vậy sao?

Tôi lại nhớ đến chuyện con voi già biết mình sắp chết, nó âm thầm đi vào cái “nghĩa địa voi” là cái hang động cho voi đến để chết. Nó âm thầm gục chết một mình bên cạnh những đống xương voi già đã chết trước nó. Tôi chợt nghĩ nếu con người làm được như con voi già thì con cháu không phải cực khổ vì cha mẹ già, không phải khổ tâm vì mặc cảm là đã làm một hành động bất nhân, bất hiếu, như tâm trạng hối hận của tôi bây giờ đối với nhạc mẫu của tôi.

Nursing home. Cái trạm cuối của cuộc đời mấy ai tránh khỏi!
Bạn đã chọn cho mình cách đến chưa?

Chú Chín Cali
 

Thursday, February 4, 2021

Canh Chua Cá Bông Lau, Bông Sua Đũa

Chú Chín Cali
– Cái tuổi thất tuần “ba cao hai thấp”, khó ai tránh khỏi.

– Cái gì cao? Cái gì thấp hả ông Hai?

– Thì cao máu, cao mở, cao đường.

– Còn thấp?

– Phong thấp và thấp khớp! Ha! Ha! ha!

Ông cười ha hả. Cái miệng móm sọm, trông vừa buồn cười vừa dễ thương. Ở tuổi 70 mà ông khỏe như thanh niên trai tráng. Tánh tình vui tươi, cởi mở như trẻ con.

Ông Hai làm vườn cho Hạnh được mấy tháng nay. Ông làm giỏi, có lương tâm, tín cẩn, lại tính giá rẻ.

Hạnh rất vừa ý về ông nên đề nghị:

– Ông Hai có muốn làm thêm việc để kiếm thêm ít tiền không?

– Mèn ơi, được “dậy” tui “dui” lắm chớ!

Thấy ông Hai lớn tuổi hơn cả cha mẹ mình nên Hạnh cũng thấy ngại mở lời nhờ ông lau chùi mấy cái nhà tắm cầu tiêu, nên nhờ ông xã nói hộ. Chồng Hạnh lưỡng lự hoài không dám “sai” ông Hai bèn nghĩ đến đứa con gái nhanh nhẩu nhất trong nhà, con bé nó đâu có biết ngại. Hạnh nháy mắt ra hiệu con bé.

– Ông Hai ơi ông Hai.

Con bé réo ông Hai đang tưới cây ngoài sau vườn.

– Ơi, cái “dì” “dậy” hả cháu?

– Má con nhờ ông chùi giùm mấy cái…. gì đó, ông nói chuyện với mẹ con nè.

Con Linda vừa nói, mắt vẫn không rời cái máy chơi game.

– Ờ, ờ, ông “dô” liền.

Ông kéo tay áo thun quẹt mồ hôi trán, vuốt vuốt cái miệng móm lưa thưa mấy chòm râu lún phún.

– Cái nào đâu cô chủ?

Hạnh chỉ ông ba cái nhà tắm phải làm. Ông vừa chăm chú nghe vừa gục gặc rồi lại lắc đầu, có vẻ đăm chiêu.

Ông Hai lúc nào cũng sốt sắng với việc làm, bất cứ nhờ điều gì ông đều không nệ hà. Hạnh nghĩ có lẽ vì ông chỉ quen làm việc ngoài vườn nên ngại không muốn vào trong nhà.

Thấy ông Tư có vẻ ngập ngừng như muốn nói điều gì, Hạnh bèn trấn an ông trước:

– Bác đừng ngại chuyện vào nhà. Nhà cháu như nhà bác vậy mà.

– Dạ, tui đâu có ngại, chỉ sợ hổng biết làm, làm dơ thêm cái nhà tắm của cô thôi. Cô chủ nói “dậy” thì tui thử nhen, miễn là cô chỉ cho tui.

Hạnh xăng tay áo vừa làm vừa chỉ ông Hai cách sử dụng từng loại thuốc.

– Tưởng chuyện “dì” khó chứ mấy thứ nầy dễ ợt, tui làm cái một, cô chủ coi nè.

Ông già lui cui làm việc, nhưng nét mặt buồn xo khác hẳn với bản chất của ông, lúc nào cũng vui tươi, vô tư như đứa trẻ. Hạnh len lén nhìn qua cái cửa hé mở, ái náy trong lòng nghĩ là ông buồn vì tủi thân đã già rồi mà phải đi chùi nhà tắm cầu tiêu. Thấy hối hận trong lòng Hạnh đến kéo tay ông không cho làm tiếp nữa rồi thưa:

– Xin lỗi bác, cháu đâu có ý định làm bác buồn, thôi bác để cháu lau cho. Bác ra làm vườn tiếp đi.

Ông Hai chưng hửng, trố mắt nhìn Hạnh, ngạc nhiên cái thái độ lạ lùng của Hạnh, vừa biểu làm, rồi lại biểu thôi.

– Ủa, sao “dậy” hả cô chủ? Bộ tui làm “dì” “chật” hả cô chủ?

– Sao mà mặt bác lại buồn xo như đưa đám vậy?

Ông Hai nhìn Hạnh dò xét, thấy Hạnh có vẻ chân thành, mới trả lời:

– Nào nói thiệt với cô, cái chuyện nhỏ nầy có nhầm nhò “dì” đối “dới” tui. Tui đang nghĩ nếu con gái tui mà nó biết tui “mần diệc” cho cô chủ chắc nó sẽ buồn lắm.

– Ủa, sao vậy hả bác?

– Tui có đề nghị làm vườn, lau nhà chùi nhà tắm cầu tiêu cho nó đỡ tốn tiền, nhưng nó nhứt định không cho. Nếu nó biết tui làm cho cô chắc nó sẽ tủi thân “chách” mình không làm “chòn” bổn phận làm con đến nỗi để cha già phải đi làm công làm mướn kiếm sống, tội nó lắm.

Rồi ông bùi ngùi vừa làm việc vừa thổ lộ với Hạnh tâm tư của ông, như hai người người bạn:

– Tui qua đây được hai năm, con gái nó bảo lãnh. Nó mồ côi mẹ khi còn nhỏ được tôi ôm nuôi đến lớn, cho ăn học đàng hoàng. “Gồi” nó làm sở Mỹ, lấy chồng người Mỹ, sếp nó. Tui cản nó mà có được đâu cô! Cưới xong tụi nó kéo nhau “dề” Mỹ. Tui già “gồi”, sống nay chết mai có xá gì, miễn là con nó có hạnh phúc thì tốt “gồi”. Nhưng vợ chồng nó đâu có chịu, nhứt định mang tui sang Mỹ để được phụng dưỡng tuổi già. Tui chỉ có nó là con, cũng muốn theo nó cho có con có cháu đồng thời coi cho biết cái xứ Mỹ nó ra làm sao.

Ngừng giây phút, ông nói tiếp:

– Qua đến Mỹ vợ chồng nó lo cho tui quá đầy đủ đến nỗi tui thấy ái ngại trong lòng, nhiều khi thấy bực mình. Nó chăm sóc tui như chăm sóc hai đứa con của nó! Tui suốt ngày ăn “gồi” ngồi không, buồn muốn chết. Dân lao động mà cô, ở không nó sinh bịnh! Tui đề nghị giúp nó làm vườn, nó không cho còn nói: “Ba già rồi nghỉ cho khỏe”. Tui đề nghị lau nhà bếp, chùi cầu tiêu giúp nó, nó cười tui, “Bộ ba muốn người ta cười con à?”. Nó mua thẻ cho tui đi tập thể thao, còn nói “Ba ráng tập đừng để bị bịnh thì chết con!”. Nó làm như tui lười biếng ăn không ngồi “gồi”. Tui suốt đời hoạt động, một mình ên làm 5 công ruộng như chơi chứ phải đâu cô, cô coi nè.

Ông xòe rộng cho Hạnh xem hai bàn tay gân guốc, năm ngón tay vừa to vừa dày, rắn chắc.

Hạnh nắm tay ông, thông cảm từng lời nói ông Hai kể. Hạnh thấy thương ông quá, siết chặt hai bàn tay gân guốc của ông như của một người cha đáng kính. Ông nói tiếp:

– Tui không muốn nhờ “dả” ở con hoặc xin xỏ nó điều gì, nhứt là khi nó đã lập gia đình, có chồng có con. Tui “chốn” nó đi làm định dành dụm đủ tiền để mua vé máy bay về lại Việt Nam. Cô hứa đừng cho con tui nó biết, nó sẽ giận tui. Nó tốn kém mang tui sang đây tui lại đòi “dìa” thì coi làm sao được!

Động tính tò mò Hạnh hỏi thử:

– Thế con gái bác là ai, ở gần đây không?

– Nó tên Linda. Nhà nó cách đây hai con đường.

– Bác nói sao, con gái của bác là chị Linda à? Chị Linda làm nhà băng Wells Fargo phải không bác?

– Thì nó đó chứ còn ai. Chồng nó là thằng Don.

– Dạ con biết Don Smith là Branch Manager.

– Ủa, sao cô biết “gáo” “chọi” “dậy”?

– Dạ chị Linda là bạn của con. Don là sếp.

Ông Tư hoảng hốt:

– Chết chưa! cô làm ơn đừng có nói bậy là tui mần “diệc” cho cô, cô làm ơn nghe cô. Ông Hai van xin.

Linda là bạn thân của Hạnh trong sở làm. Trong câu chuyện hàn huyên lúc ăn trưa, Linda có lần kể cho Hạnh nghe về chuyện bảo trợ cha mình sang Mỹ. Thấy ông cụ càng lúc càng buồn, Linda sinh lo không biết phải làm sao cho cha vui nên tâm sự với Hạnh:

– Ba em rất hiền từ, dễ tánh. Ông an phận thủ thường, không đòi hỏi ở con cái điều gì. Em cho tiền ông không nhận, ông nói “Ba có đi đâu mà cần tiền”. Chở ông đi chơi đây đó ông than “Đi xe ba bị nhức đầu”. Đi shopping ông không thích mua đồ còn bảo “Ba đã dư đồ xài rồi mua chi cho tốn kém”. Đưa ông đi ăn món ngon vật lạ ông không vui mà còn cằn nhằn “Ăn chi cho tốn kém quá vậy con, ba cả đời ăn kho khô kho quẹt quen rồi, mấy cái nầy ba ăn không quen”. Em mua quần áo cho ba, ông hít hà xót ruột, chỉ thích mặc mấy bộ đồ bà ba ông mang sang. Em cưng chiều hai đứa con, ông cằn nhằn “Mầy làm tụi nó hư”. Ba thấy Don rửa chén, ông rầy rà em “Mầy làm vợ cái kiểu “dì dậy”, bắt chồng rửa chén?”

Ngôn ngữ bất đồng, ông không gần gũi được 2 cháu và Don, tuy ai cũng thương ba, cố gắng được thân thiện với ông nhưng cái “gap” quá to khó mà hàn gắn được.

Linda lại là đứa con có hiếu nên tìm mọi cách để làm cho cha vui. Biết cha thích “nhậu”, Hạnh làm ít đồ nhấm bày rượu mời ông và Don ra nhậu. Hạnh pha trò cho vui nhưng Don không hiểu tiếng Việt nên cứ lộ mắt ra nhìn rồi cũng cười họa theo lãng xẹt. Hai cha con không nói chuyện được, cứ rót rượu mời nhau. “OK” rồi “dô”. Chẳng được bao lâu, chai rượu Chivas hết sạch. Chàng rể cùng cha vợ phòng ai nấy về, quên luôn chào hỏi “good night” vì cả hai đều “xỉn”. Những lần sau ông Hai nhậu một mình. Don nằm trên phòng coi TV vui hơn “dô” với ông già rồi xỉn, nhứt đầu muốn chết.

Thú vui của ông là đọc báo tiếng Việt. Sáng nào ông cũng cầm tờ báo ra sân uống trà hút thuốc, đọc cho hết từ trang đầu đến trang cuối. Ông giết thì giờ để đợi ăn trưa. Hai đứa cháu bị mẹ biểu ra vườn chơi với ông. Chúng đứng xa xa ngoài sân cỏ chơi banh, thỉnh thoảng dùng bàn tay quạt mùi thuốc lá. Chúng nhăn mặt: “grand pa its sting!”. Ông già nhiều lần bị chạm tự ái giận quá bỏ hút thuốc luôn sau mấy chục năm vấn thuốc rê. Thèm muốn chết! Ông đợi lúc ở nhà một mình ra sân hút lén. Ông chửi thầm trong bụng:

“Tổ cha tụi bây, hút thuốc lá mà phải lén như đi ăn “chộm” gà!”

Trưa ông ăn đồ nguội, cái thứ bánh mì dai nhách nhai không được vì ông không còn răng! Ước gì có nắm cơm với ít cá bóng kho tiêu!

Linda biết ý mua “cơm chỉ” cá kho tộ cho ông, nhưng khuyên ông nên ăn lạnh vì hâm lên hôi cả nhà “Don nó cằn nhằn”. Trời đất ơi! cá kho mà ăn lạnh ngắt, đóng mở trắng phếu thì nuốt sao cho nổi! Phải chi có nắm rau Cải Trời luộc chấm mắm kho! Ông nghĩ mà thèm.

Chiều về vợ chồng con cái quây quần, ông ngồi một mình coi TV, coi hình cho vui chứ có hiểu mô tê gì đâu! Có khi đang xem, mấy đứa cháu từ trên lầu chạy ù xuống, không hỏi ai, đổi đài xem Cartoon. Ông tức ứa gan nhưng không dám nói, ấm ức bỏ vào phòng. Ồng cảm thấy mình không là thành viên của gia đình nầy. Ông thấy thật cô đơn.

May mắn thay ông Hai gặp Hạnh. Từ lúc qua Mỹ đến giờ ông mới có người chịu ngồi lắng nghe ông tâm sự. Ông Hai có dịp thổ lộ hết những bí ẩn của mình cho Hạnh nghe.

Tội nghiệp cho ông Hai quá. Ông không muốn con buồn khi biết tâm tư của ông đang bị dằn vặt trong cô đơn. Ông nhớ quê hương, nhớ mảnh vườn, thửa ruộng, nhớ cái nhà ngói đỏ mà suốt đời ông cặm cụi mới tạo dưng nên. Ông nhớ da diết con rạch sâu, cái thuyền câu nho nhỏ mà ông nhờ nó đi bắt từ con tôm con cá như cái cò lặn lội nuôi con. Ông nhớ mấy người bạn già, chiều chiều đốt rơm nướng con cá lóc mới câu, khề khà xị rượu đế.

Ông nhớ Bà Tư, người bạn già đã chia ngọt sẻ bùi cùng ông mười mấy năm trường. Bà Tư ở lại thui thủi một mình trong căn nhà ông Hai để lại. Ông Hai ra đi nhưng trong lòng tan nát. Ông hứa mỗi năm sẽ về thăm bà. Nhưng hai năm qua rồi ông vẫn biệt tin. Bây giờ ông mới biết rằng ông không thể sống thiếu bà.

Sau mấy hôm suy tính, Hạnh quyết định kể tất cả những gì đã biết về ông Tư. Linda lắng nghe, đổi từ ngạc nhiên sang xúc động khi hiểu tấm chân tình của Hạnh và thương người cha già cô đơn.

Linda biết rằng mình đã làm sai, đã vô tình mang đến cho cha bao phiền não. Hai chị em quyết định phải làm gì cho ông Tư.

Trời đã sang mùa Thu khá lạnh đối với ông Hai. Sợ ông bịnh, Hạnh bắt ông làm việc trong nhà. Hết chuyện làm Hạnh nhờ ông Tư lau đi lau lại mấy cái cửa sổ.

– Mà nó sạch bon “gồi” lau chi hoài “dậy” cô chủ? Ông thắc mắc.

– Thì bác cứ lau đại cho con.

Ông Tư lau hoài mấy cái cửa thấy kỳ kỳ, lương tâm khó chịu. Một hôm ông không đến nữa. Mỗi tuần ông sang một lần để lau chùi nhà tắm cầu tiêu như thường lệ và một lần để dọn dẹp sân vườn. Ông chỉ nhận tiền lương một nửa.

Ông bảo:

– Cô hai tăng lương cao quá, lại không có gì làm sao tui ngại quá!

– Nhưng bác lãnh lương tháng, hổng làm con cũng phải trả lương.

– Đâu có được cô Hai. Tại “dậy” mà tui thấy ngại đó.

Hạnh đâu ngờ ông già có phản ứng kỳ cục như vậy! Ai đời làm việc ít mà lãnh lương nhiều ông lại cự nự đòi nghỉ việc!

Kế hoạch nầy không ổn, Hạnh gọi Linda để bàn kế hoạch khác cho ông già có tiền mà không phải làm việc vất vả. Hai người định cho ông trúng số giả hoặc nhặt được tiền đánh rơi, nhưng sợ không ổn. Dàn cảnh nhặt được tiền, ông đem nộp Cảnh Sát thì mất toi! Cả hai vẫn chưa nghĩ ra cách nào khác hơn.

***
Mùa Đông đến, ông già cúm rúm trong cái áo lạnh dầy cui, đầu bịt kín mít, co ro vì lạnh. Linda đề nghị tăng sưởi trong nhà thì bị mấy đứa con cằn nhằn than nóng. Linda thương cha nên rất khó xử.

Một hôm thấy ông vui, Linda lấy hết can đảm ngỏ lời đại cùng ông Tư, không biết ông sẽ phản ứng ra sao:

– Ba à, còn tháng nữa đến Tết rồi, ba có nhớ nhà không?

Ông Tư ngạc nhiên trố mắt nhìn Linda, rồi chầm chậm nói:

– Sao lại không, ba nhớ đứt ruột đây nè!

– Con muốn ba về Việt Nam ăn Tết, ba chịu không?

Ông Tư càng ngạc nhiên hơn, mắt sáng rỡ, nhìn Linda trân trân:

– Nhưng tốn kém lắm con à.

– Con đã chuẩn bị đâu vào đó rồi, cho Ba về ăn Tết với Má Tư.

Nghe tiếng “Má Tư” Ông Tư giật mình, chưng hửng:

– “Má Tư”? Bộ mầy giỡn với ba hả Linda? Làm sao con biết được chuyện “Má Tư”?

Linda vừa thấy thương, vừa buồn cười cho ông già bị đánh trúng tim đen nên giỡn tới, ghẹo ông:

– Sao lại không biết. Con thương “Má Tư” đứt ruột đây nè.

Từ ngạc nhiên nầy sang ngạc nhiên khác, Ông trố mắt, há hốc mồm nhìn Linda. Tuy đã “tằng tịu” mười mấy năm nay nhưng chuyện “lẹo tẹo” giữa ông và Bà Tư ông giấu rất kín. Bà chỉ về sống với ông mấy năm nay sau khi Linda đi Mỹ. Ông còn nói dối Bà Tư là người quản gia, giữ nhà hộ cho ông lúc ông đi Mỹ. “Không biết làm sao mà con Linda nó biết ráo trọi?”

– Con xin lỗi ba, Linda nói tiếp, chị Hạnh vì thương ba nên đã kể hết cho con nghe rồi, nhưng vì chị Hạnh có hứa với ba không tiết lộ chuyện nầy nên tụi con giữ kín cho tới hôm nay.

– Mèn đét ơi! Cô chủ à? Tụi bây đồng lõa với nhau phải hông?

Linda xấu hổ cười bẽn lẽn, ôm vai ông rồi nói.

– Hổng phải vậy đâu ba, tụi con chỉ muốn ba vui.

Ông Tư vò đầu Linda như thuở Linda còn nhỏ, rồi hỏi:

– “Dzậy” đứa nào xúi cô chủ trả lương cho ba gấp đôi?

– Dạ con.

– Đứa nào toa rập với cô chủ tăng giờ làm việc cho Ba?

– Dạ con.

– Đứa nào bắt tao lau chùi hoài mấy cái cửa sổ?

– Dạ con.

– Chèn ơi, mầy quá lắm rồi cái con khỉ, dám gạt cả ba?

– Thì tại ba gạt con trước chứ!

Hai cha con cười ngất. Chưa bao giờ ông cảm thấy hạnh phúc và thấy thương con gái hơn lúc nầy. Lần đầu tiên cha con hiểu nhau, từ lúc Linda lớn khôn đến bây giờ. Lần đầu tiên ông không thấy xấu hổ với Linda về chuyện Bà Tư.

Ông hình dung giờ phút gặp lại Bà Tư sau hai năm trường xa cách. Tháng nầy là mùa gió chướng, gió thổi mạnh, đong đưa hàng Sua Đũa trước sân nhà, có lẽ đã trổ bông trắng xóa. Giàn đậu rồng chắc đã nở hoa kết trái trên giàn, báo hiệu mùa câu cá Bông Lau. Ông thấy mình bơi chiếc xuồng câu lên vàm Nước Trong rồi thả mồi câu cá Bông Lau, thả hồn theo sông nước.

Ông chợt nghĩ đến nồi canh chua cá Bông Lau nấu với bông Sua Đũa do bà Tư nấu thơm phưng phức mùi rau Om mà thèm.

Ông Tư như con chim sắp được sổ lồng, tâm hồn phơi phới, hạnh phúc vô biên.

Chú Chín Cali

Monday, January 4, 2021

Lạy Trời Gió Lên

Chú Chín Cali
Sau biến cố năm 1975 là phong trào Boat People rần rộ vượt biên đi tìm sự sống trong cỏi chết. Họ ra đi mà một nửa trái tim còn để lại quê nhà. 

Phong trào vượt biên đã làm rung động cả thế giới, đánh thức lương tâm những người ngoại quốc có nhận thức và thành kiến sai lầm về cuộc chiến Việt Nam. Nhờ vậy họ đã dang tay đón nhận người Việt tị nạn với tấm lòng rộng mở. 

Từ bàn tay trắng với ý chí kiên cường, người Việt hải ngoại đã vượt qua mọi khó khăn lúc ban đầu, kiêu hảnh vương lên và đã tạo nên một thế đứng vững vàng như ngày nay. Bàn tay và khối óc người Mỹ gốc Việt đang góp phần xây dựng sự phồn vinh của xứ Mỹ. Văn văn Việt Nam đang đi vào lịch sử Mỹ. 

Trước năm 1975, người Việt Nam không ai có ý tưởng bỏ xứ mà đi nói chi đến chuyện liều chết vượt biên. Thuyền nhân ra đi vì không còn lối thoát. Họ tức tưởi từ bỏ quê hương ra đi với trái tim tan nát, thề rằng sẽ không bao giờ trở lại cái xứ sở bất hạnh nầy ngày nào cộng sản còn thống trị ở Việt Nam. 

Trong khi đó có những người tuy đã định cư ở ngoại quốc nhưng tâm hồn luôn hướng về quê hương. Có cụ đi lượm từng hộp lon bia, trồng từng luống rau dàn mướp bán kiếm it tiền gởi về Việt Nam giúp con cháu đang đói khổ. Thương lắm những người anh, người chị đã hy sinh tuổi trẻ của mình, cặm cụi đi làm ngày đêm dành dụm đủ tiền để lo bảo lảnh gia đình sang Mỹ. Tội lắm những người chồng xa vợ, những người mẹ xa con, những đứa con xa gia đình chắt chiu, gom góp từng món đồ nhỏ nhặt để gởi về Việt Nam làm “Một chút quà cho quê hương” *, gởi theo bao niềm thương nỗi nhớ, trong nước mắt nghẹn ngào. 

Đó là chuyện ngày xưa, thời loạn lạc. Ngày nay thế sự đã đổi thay. Trải qua một cuộc bể dâu, chuyện xưa đã di vào dĩ vãng. Thuyền nhân nay về hưu, an phận sống bên lề dòng chảy của xã hội đảo điên. Chân chùng gối mỏi, họ nhìn lại đời mình sao như một giấc mơ. Nhà cao cửa rộng, vật chất xa hoa không còn gì hấp dẫn nữa. Họ thấy mình lạc lõng như ngày nào vừa đặt chân đến xứ Mỹ. Cô đơn, họ có khuynh hướng quay về sống với nội tâm.

Trong cùng tận đáy lòng, họ thấy ray rức như có một cái gì thiếu thốn, một khoảng trống vắng trong tim không thể nào khoả lấp được. Đó là khoảng trống của một nửa trái tim mà họ đã để lại quê nhà ngày ra đi biệt xứ. Nay họ muốn tìm về với nó, được sống lại với nó, sống thật với chính mình thưở xa xưa, bên vườn rau ao cá, với thửa ruộng mảnh vườn, bên cạnh các người thân. Đó là tình quê hương thiếu thốn, như đứa trẻ mồ côi thiếu tình phụ mẫu, cho đến bạc đầu vẫn thấy thiếu thốn tình thương. Họ mơ ước một ngày về, được tiếp tục sống với khoảng đời đã đánh mất, được sống trong giấc mộng hồi hương của nhạc sĩ Lam Phương:

"Tàu đưa ta đi tàu sẽ đón ta hồi hương, Tây đô sẽ sống lại yêu thương" **

Ngày nào con tàu hồi hương rộn ràng đỗ bến, ngày ấy mới rõ mặt anh hùng, mới biết đâu là chính nghĩa. Những trái tim nóng bỏng, những khối óc sáng ngời của con cháu hậu duệ được ông cha ung đúc bấy lâu nay, sẽ rần rộ kéo nhau về cùng góp một bàn tay xây dựng lại đất nước. Những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa dẫu đã ra đi cũng ngậm cười nơi chín suối vì biết mình không lãng phí một đời cho chánh nghĩa quốc gia. Hồn thiên sông núi cũng hồ hởi reo mừng ngày hạnh phúc.

Họ không muốn gì hơn khi được một lần cùng toàn dân vỗ tay reo mừng ngày hạnh phúc, được hân hoan nhìn lại lá cờ vàng bay phất phới trên quê hương trước khi vĩnh viễn ra đi.

Có nhiều người biết rằng thực tế không cho phép họ thực hiện được ý nguyện của mình; họ nuôi dưỡng một giấc mơ mơ, mơ ngày nào khi về với cát bụi được nằm cạnh những người thân, được cùng chia sẻ khói hương gia tộc, mớ tro cốt được rải trên đất mẹ để được gần gũi với quê hương. Ôi tình quê hương sau quá đậm đà thắm thiết. Quê hương làm sao mất một khi nó còn được ấp ủ trong tim. Đất nước mãi mãi còn đó đợi chờ ngày nào lá cờ vàng còn ngạo nghễ tung bay. Còn quê hương, còn đất nước, ta còn giấc mộng hồi hương. 

Nhưng than ôi, thời gian không biết đợi chờ! Bao nhiêu người ôm ấp giấc mộng hồi hương phải bỏ lỡ chuyến tàu, ngậm ngùi ra đi trong nuối tiếc. Chuyến tàu hồi hương nay thiếu vắng thêm một bóng người, nhạc sĩ Lam Phương. Tuy người đã nằm xuống, nhưng con tàu mang tên người vẫn âm thầm vượt sống ra khơi, hướng về đất Phương Nam.. 

****
Chiều đã xuống từ lâu. Bao nhiêu lần mặt trời đã lặn. Mặt trời lặn rồi mặt trời sẽ mọc. 

Những con chim già mỏi cánh vẫn còn đó, kiên nhẫn đợi chờ. Chúng đợi chờ con tàu hồi hương với cánh bườm lộng gió. Chúng đợi chờ ánh sáng bình minh bên kia bờ đại dương, nơi đó có mẹ Việt Nam ngày đêm trông ngóng những đứa con lưu lạc. 

Gió lên, lạy trời gió lên… 

"Chim có bầy"

"Cây có cội".

"Ta chẳng lẽ suốt đời lưu vong"? *** 

Chú Chín Cali 

Chuyến tàu hồi hương nay thiếu vắng rồi nhạc sĩ Lam Phương, một thiên tài âm nhạc, một nghệ sĩ khả kính. Người ra đi nhưng hình ảnh của người vẫn còn sống mãi trong trong trái tim ấm áp của người Việt Nam mọi nơi, mọi thế hệ, qua dòng nhạc bất hủ và tinh thần quốc gia kiên cường.

* Đề tựa một nhạc phẩm của nhạc sĩ Việt Dzũng.

** Trích từ nhạc phẩm “Chiều Tây Đô” của nhạc sĩ Lam Phương.

*** Trích từ nhạc phẩm “Gởi người ngàn dậm” của nhạc sĩ Lam Phương.

Monday, September 17, 2018

Tâm Sự Một Kẻ Lưu Vong Bất Đắc Dĩ



viet ve nuoc My
Miệng nói “hòa giải hòa hợp” nhưng Cộng sản dựng bia cổ võ hận thù.

***
Hơn bốn mươi bốn năm về trước tôi háo hức đặt chân đến xứ Mỹ như là một sinh viên Việt Nam Cộng Hòa du học, tràn đầy sức sống, tương lai nhuộm màu hồng rạng rỡ.

Không ai ngờ ngày quốc nạn năm 1975 xảy ra như cơn lốc xoáy đã làm đảo lộn hoàn toàn cuộc đời chàng sinh viên trẻ cũng như vận mệnh của cả dân tộc Việt Nam. Biến cố xảy ra quá đột ngột, khủng khiếp và tàn nhẫn. Người Việt Quốc Gia đã làm gì nên tội đến nỗi phải trả bằng một giá quá cao, bằng máu xương và nước mắt? Xa quê hương, mọi liên lạc với gia đình đều bị cắt đứt, các du sinh lúc bấy giờ lạc lõng nơi xứ người, ngơ ngác như con chim lạc bầy trong cơn dông bão, ngỡ rằng mình đang sống trong cơn ác mộng. Từ đấy họ trở thành những kẻ lưu vong.

Hơn bốn thập niên sau, khi mái tóc xanh đã bạc màu, có nhiều lúc chạnh lòng, tôi hướng tâm về quê cũ hồi tưởng lại đời mình sao thấy như một giấc mơ, vẫn thấy mình bơ vơ lạc lõng như ngày nào khi mới vừa đặt chân đến xứ Mỹ. Có khác biệt chăng là con chim non lạc bầy ngày xưa bây giờ là con chim già mõi cánh nhìn về chân trời xa xăm và tự hỏi: Đâu là quê hương tôi? Là nơi đây hay ở tận bên kia bờ đại dương, nơi mặt trời đã tắt? 

Xứ Mỹ là vùng đất hứa. Người Mỹ đã mở động tầm tay đón nhận những người ty nạn với tấm lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm của một đồng minh và mặc cảm của một người anh phụ bạc. Họ chia sẻ một phần chiếc bánh phồn vinh mà họ được thừa hưỡng từ ông cha và không ngừng xây dựng cho đến ngày nay. Họ cho người ty nạn tất cả mọi cơ hội để trở thành như họ, công dân của một quốc gia phồn thịnh phú cường nhứt thế giới. Cũng nhờ vậy chúng ta và con cháu chúng ta mới có được được ngày hôm nay. Tôi biết mình may mắn và biết ơn.

Ngày xưa người Mỹ biết quí trọng ân nghĩa đã vinh danh ngày Thanksgiving là một quốc lễ để tạ ơn những người da đỏ ân nhân. Người Việt lưu vong phải chăng còn một món nợ ân tình phải trả đối với người Mỹ ân nhân đã giúp chúng ta có được ngày?

Nước Mỹ từ lâu là một đại cường quốc đứng đầu thế giới nhờ là một hợp chủng quốc, nơi phối họp tinh hoa của nhiều sắc dân trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Văn hóa Việt Nam đang đi vào lịch sử Mỹ. Bàn tay và khối óc của người Mỹ gốc Việt đã và đang góp phần xây dựng sự phồn vinh cho nước Mỹ.

Nhớ ngày nào, vừa được nhập quốc tịch Mỹ, tôi cầm lá cờ hoa trong tay mà sung sướng trong lòng, tự nguyện rằng tôi sẽ yêu thương quê hương mới mà tôi đã nhận là đất mẹ; tuy biết rằng mình còn xa lạ lắm đối với người mẹ mới, còn ngỡ ngàng trước những người anh em mũi lõ, mắt xanh, nhưng tôi đã nguyện với lòng là sẽ làm tất cả những gì trong khả năng của mình để xứng đáng là một công dân Mỹ.

Tôi làm việc như Mỹ, nói tiếng Mỹ, ăn hamberger, xem football, treo cờ Mỹ trong những ngày lễ lớn. Tôi tập nói “Thank you”, “I am sorry”, “Excuse me”, “Hi” và “Good morning”, những câu xã giao thông thường mà trước đây tôi không quen sử dụng nhưng bây giờ thấy đó là văn hóa.

Nhưng dẫu có cố gắng thế nào đi nữa tôi vẫn bị các con cháu sửa lưng vì dưới mắt chúng tôi vẫn còn quá nhiều “chất Mít” hơn là “chất Mẽo”! Tuy mang quốc tịch Mỹ nhưng trong cùng tận đáy lòng, chưa bao giờ tôi cảm thấy mình thật sự là một người Mỹ. Tuy nhiên tôi sẽ binh vực người Mỹ đến cùng trong các cuộc cãi vã. Ai chửi Mỹ tức là họ chửi tôi.

Nếu có người ngoại quốc hỏi tôi “where are you from”, cách hỏi quốc tịch, tôi trả lời ngay không cần suy nghĩ: “I am an American” để không bị lôi thôi phải trả lời những câu hỏi kế tiếp. Nhưng nếu có người nghi ngờ hỏi có phải tôi là người Việt Nam không, tôi sẽ lựng khựng không biết phải nói sao cho ổn. Tôi miễn cưỡng trả lời tôi là người Mỹ gốc Việt. Sở dĩ tôi không nhận mình là người Việt vì đối với người ngoại quốc khi nói đến người Việt họ có thể nghĩ ngay là tôi là công dân của cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đó là cái tên một đất nước bất hạnh còng đang bị kềm kẹp trong ách độc tài của cộng sản cuối mùa, nổi tiếng là tham nhũng, chà đạp nhân quyền, đàn áp tôn giáo, ăn cắp vặt ở Nhật Bản, Hồng Kông, phơi vi cá mập trên nóc nhà Đại sứ quán ở Chile làm hôi thối cả vùng! Tôi không muốn mình bị “quơ đũa cả nắm”.

Con người ai cũng có cội có nguồn và hãnh diện về nguồn cội của mình. Người Mỹ da đen nhất định đòi được gọi là “Người Mỹ gốc Phi châu” vì họ hãnh diện cái gốc Phi châu nô lệ của họ. Từ nghìn xưa, người Việt Nam đã bảo vệ cái gốc của mình bằng xương trắng máu đào. Ta phải hãnh diện và trân quí nó.

Người Việt hải ngoại ngày nay đã tạo được một thế đứng vững vàng, nếu không nói là nổi bật trong xã hội Mỹ nói riêng, trên thế giới nói chung. Tuy xứ Mỹ là một “melting pot” nhưng trong cái nồi xào bần nầy vẫn thấy nhiều nhóm trắng, đen, đỏ, nâu, vàng. Người Việt chúng ta như đàn kiến vàng mất tổ nên rủ nhau đến xây tổ mới. Trong cái tổ mới ấy, không ai còn mặc cảm mình là người ngoại quốc nữa, sống thoải mái trong cái thế giới của mình.

Mọi người Việt, dù đang trên đất Mỹ, đều có chung một màu da, một tiếng nói, cùng phong tục, tập quán, nhứt là ăn uống giống nhau. Ngày nay, hầu hết các nhu cầu, các dịch vụ và nhu yếu phẩm đều tìm thấy trong tầm tay. Tiếng Việt lại là ngôn ngữ chính để giao tiếp giữa các đồng hương nên tiếng Mỹ không còn cần thiết nữa nếu sống trong cộng đồng. Cũng vì vậy nhiều người quên bẵng đi là mình là người Mỹ, đang sống trên xứ Mỹ nên hành sử như người Việt Nam, đang sống ở Việt Nam.

Trước năm 1975 có rất ít người Việt ở Mỹ nên khi gặp nhau là một dịp quí hiếm, ai nấy đều vui mừng vồn vã tay bắt mặt mừng, khác hẳn với ngày nay. Vì cộng đồng Việt trên đất Mỹ hiện đã trên dưới hai triệu, đông nên đồng hương gặp nhau không còn là chuyện hiếm, cũng không còn thắm thiết như trước. Mặc dù vậy, từ khi về sinh sống trong khu Sài Gòn Nhỏ tôi vẫn thấy mình hạnh phúc hơn, cái cảm giác ấm áp, an toàn, khi con sâu được chui ngược vào nằm gọn trong cái kén quen thuộc mà ngày xưa nó cố vùng vẫy cắn phá để thoát ra. Tuy nhiên “ở xa mỏi chân ở gần mỏi miệng”, sống chung chạ khó mà tránh khỏi những va chạm phiền toái đến bực mình.

Tuổi trẻ đam mê với công việc làm, bận rộn với cuộc sống xô bồ, nên dễ quên quá khứ; nhưng một khi được trở lại nằm yên trong cái kén một mình, sống với nội tâm, vết thương vong quốc tưởng đã nguôi ngoai bỗng thấy lại ray rứt  khi nhớ về quê, tiếc thương một thời đã mất.

“Trẻ sống cho tương lai, già sống trong quá khứ” nên khi lớn tuổi tôi thường mơ về cuộc sống đạm bạc ngày xưa với nhiều kỷ niệm đẹp. Tôi nhớ căn nhà lá ven sông nơi mấy anh em tôi thường lặn hụp tắm sông câu cá, nhớ cây chôm chôm sai quằn trái đỏ, nhớ hương vị tô canh chua tép đất nấu với bông sua đủa (so đũa), rau cải trời chấm với mắm kho cá linh. Tôi nhớ tuổi học trò với những mối tình ấp ủ, những tà áo trắng thẹn thùng trên sân trường rụng đầy hoa phượng đỏ, hay cùng song bước trên vỉa hè đại lộ Catinat những chiều thứ bảy hẹn hò. Tôi nhớ cha mẹ, nhớ anh em, nhớ bạn bè và mong sao được gặp lại người thân.  Không thể kể hết từng nỗi nhớ da diết.

Khi bang giao Việt-Mỹ được thành lập năm 1995, tôi quyết định trở về Việt Nam thăm gia đình sau 25 năm xa cách. Về Việt Nam lúc ấy (1998) là một quyết định mạo hiểm. Nhiều người còn trăn trối trước khi đi. Tuy đã chuẩn bị tư tưởng trước nhưng tôi vẫn bị “shock” khi bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất tràn ngập thứ cờ quạt màu đỏ, mầu máu làm tôi thấy rùng mình. Tôi được tiếp đón bằng những gương mặt vô cảm, những cặp mắt hận thù, đố kỵ và bằng nhiều hành động khiếm nhã của những “người anh em” mà tôi từng nghĩ là đồng bào của mình; nhưng sao họ trông xa lạ quá, từ hành động, giọng nói, cho đến ánh mắt nhìn.

Tôi sinh trưởng ở quê hương “Đồng khởi” tỉnh Bến Tre trong thời chiến tranh nên không lạ gì với cộng sản nhưng vẫn còn có lúc từng ngây ngô nghĩ rằng, một khi khi chiến tranh chấm dứt, anh em trên hai miền chiến tuyến, dù có bất đồng chánh kiến, nhưng cũng là ruột thịt thì làm sao nỡ giết hại lẫn nhau. Nhưng tôi đã lầm. Dưới mắt những người cộng sản, người Việt quốc gia từng bị chụp cái mũ “Việt kiều” muôn đời là kẻ thù, là bọn “Mỹ ngụy”  vong bản, đáng bị nguyền rủa và trừng phạt!

Nhưng ai mới thật là “ngụy”, là “khát máu”, là “vong bản” đáng bị nguyền rủa và trừng phạt?

Ai đã “khát máu” đấu tố xử bắn 15,000 địa chủ miền Bắc trong phong trào cải cách ruộng đất 1953-1956.

Ai là “ngụy” chạy theo chủ thuyết cộng sản vô thần đưa Việt Nam vào cuộc chiến cốt nhục tương tàn? Ai đã đẩy hơn 2.0 triệu dân vô tội và 1.5 triệu lính hai miền là những thanh niên rường cột của quốc gia vào chỗ chết. Ai đã “ngụy” dùng chiêu bài “cách mạng”, “giải phóng dân tộc” để đẩy dân miền Nam vào địa ngục trần gian khiến cho hai triệu người phải liều chết vượt biên tìm lẽ sống, khiến ít nhất 400,000 người phải chôn vùi thân xác dưới đáy biển sâu hay trong rừng thiêng núi thẳm. Ai đã giam cầm cả triệu quân cán chính VNCH trong các nhà tù  mang  “Trại cải tạo”. Ai đã đã hèn hạ trả thù hàng triệu gia đình bị xem là “thành phần có tội với cách mạng”, cướp tài sản, tước đoạt các quyền tự do rồi cưỡng bức họ đi “vùng kinh tế mới” sống chết mặc bây?

Ai đã “vong bản” hèn với giặc, ác với dân? Bán đất, bán biển, bán đảo? Bán dân làm nô lệ dưới hình thức “xuất khẩu lao động”? Bán phụ nữ  cho ngoại bang? “Tàu lạ” nào độc quyền biển đảo, bắn giết ngư dân nhưng chính quyền run sợ không dán nói tên? Ai cho phép các nhà máy xả thải bừa bải gây ô nhiễm môi trường, tiêu diệt môi sinh, giết lần mòn cả dân tộc Việt Nam?

Máu đã chảy thành sông. Xương đã chất thành núi. Chừng ấy đau thương vẫn chưa thỏa lòng, CSVN còn cho dựng bia đá hận thù để cho thế giới biết rằng hận thù của họ “ngàn đời ngàn kiếp không quên.” trong khi ngoài miệng hô hào “hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù”!

Cả một dân tộc với 97 triệu dân đang bị hy sinh để nuôi dưỡng 3.6 triệu đảng viên cộng sản. Tài nguyên quốc gia họ mặc tình cướp phá. Cả nước thành bãi rác của Tàu. Biển cá chết. Rừng trụi cây. Sông nhiễm mặn. Đất cằn cỗi. Tài nguyên quốc gia cạn kiệt. Bốn ngàn năm văn hiến bây giờ là một xã hội rối banh. Còn gì nữa Việt Nam ngày nay?!

Tôi theo đoàn người hồi hương về Việt Nam thăm mẹ già tuổi đã trên trăm tuổi, đang trải qua những năm tháng cuối đời, thống khổ nhất của kiếp nhân sinh với bịnh Alzheimer.

Trong thời gian ở Việt Nam tôi đã có cơ hội để tìm hiểu và khám phá thêm về xứ sở mình sau nhiều năm xa cách.

Không biết nên buồn hay vui khi một xứ nghèo như Việt Nam với thu nhập bình quân đầu người chỉ có $2000/năm lại mang một bộ mặt lộng lẫy xa hoa với các tượng đài nghìn tỉ, các công thự với kiến trúc đồ sộ. Trong khi ấy, những vùng đất đai đẹp nhất, quí giá nhất của quốc gia đã lọt vào tay ngoại quốc biến thành các trung tâm du lịch, trung tâm sinh thái khổng lồ, các khách sạn, resources sang trọng tương phản với những vùng tạp nhạp, ngập lụt, rác rưởi ở những khu dân nghèo.

Dân chúng vì được thoát khỏi địa ngục trần gian của thời bao cấp nên dễ thấy là mình khá hơn; nay lại được tiếp cận với đời sống văn minh, tuy chậm trễ hàng chục năm, nhưng vẫn có thể cảm thấy như được đổi đời.

Nhìn bề ngoài, tại Việt Nam hiện nay, bất kể giàu hay nghèo, già hay trẻ, thuộc thành phần nào, mọi người đều như vô tư hưỡng thụ, ăn chơi. Ăn uống, nhậu nhẹt ì xèo khắp mọi nơi, từ các trung tâm ẩm thực khổng lồ, các nhà hàng sang trọng, khách sạn năm sao cho đến tận thôn xóm hay các hang cùn hẻm cụt vừa đủ chen cái bàn nhỏ và vài cái ghế thấp tè tè. Con gì nhúc nhích là bị bắt hết làm “mồi” nhậu. Họ nhậu sạch láng đến nỗi ngày nay thú vật hoang dã không thấy nữa trong thiên nhiên. Nhiều giống đã bị diệt chủng.

Mức độ tiêu thụ rượu bia ở Việt Nam đứng top 5 ở Á châu và top 25 của thế giới. Quan chức, đại gia thì nhậu rượu nhập, hàng xách tay, tính tiền bằng đô la. Giới bình dân thì nhậu rượu đế công xi, giá bèo 12,000 đồng một lít (nửa đô la), đủ say xỉn để về nhà quậy vợ chửi con.

Hình như người ta nhậu vì không có cái gì hấp dẫn hơn để làm, một lý tưởng gì để theo đuổi, nhậu để “xỉn”, để xả “xì trết”, để quên hết. Bốn thập niên sống với cộng sản, người dân đã học được bài học: Muốn sống yên phải chịu sống hèn, biết nói dối và vô cảm: Ai chết mặc ai. Đừng  dại gì lên tiếng,  tự mình làm con vật tế thần. Cách tốt nhất là cứ câm như hến mà ăn  nhậu cho qua.

Cả một dân tộc bị dồn đến mức ấy, đã tưởng là hoàn toàn tuyệt vọng. Nhưng rồi ngay trong các bàn nhậu trong nước, khi hơi men lâng lâng, họ công khai bàn luận chánh trị, đem sự thối nát của chế độ ra mà chỉ trích. Đề tài chính trong câu chuyện quanh bàn nhậu thường xoay quanh vấn đề tham nhũng, chuyện dài cảnh sát giao thông ăn hối lộ, công an ăn hiếp dân, và sự bất lực vô tài kém đạo đức của giới quan chức lãnh đạo. Họ xì xầm với nhau cho đã nư sự phẫn uất trong lòng.

Ai cũng biết tổng số bọn đảng quyền ở Việt Nam, dù có là dăm ba triệu đảng viên,  so với 90 triệu dân vẫn chỉ là thiểu số. Một chế độ độc tài có thể tồn tại được, ấy là nhờ  sự tuyên truyền lừa bịp, bưng bít.

Trẻ con thì chỉ được dạy và tin tưởng ở sự toàn hảo của chế độ, tôn sùng nhà nước và giới lãnh đạo như được huấn luyện, nhưng khi lớn khôn bắt đầu biết suy nghĩ hai chiều, và ngày nay đã thoát ra khỏi sự kềm kẹp tư tưởng nhờ sự quảng bá của internet. Nghiên cứu mới nhất do Google và tập đoàn tư vấn Boston (BCG) vừa công bố cho thấy, các hộ gia đình có kết nối internet tại Việt Nam đang chiếm tỷ lệ cao và có tới 72% dân số sử dụng điện thoại thông minh có kết nối internet tiếp cận với thế giới bên ngoài.

Cộng sản sống được nhờ dối trá, bưng bít sự thối nát của chế độ nhưng ngày nay, “mèo càng dấu cứt” càng lộ sự gian giối đến trơ trẽn. Dân chúng đã chai lỳ, không còn run sợ CS như xưa. Lịch sử đã chứng minh rằng những thể chế chính trị đi ngược lòng dân sẽ không thể tồn tại.

Thế sự có thăng trầm, quê hương tuy nay đã trở thành cố hương dưới mắt những người Việt hải ngoại, ngày nào hình ảnh quê hương còn sống trong tim ta, ngày ấy đất nước Việt Nam vẫn còn.

Một nghìn năm đô hộ bởi giặc Tàu, một trăm năm đô hộ bởi giặc Tây Việt Nam còn không mất thì xá gì cộng sản! Ngày tàn của CSVN đã cận kề. Mầm móng chống đối từ dân  chúng trong nước đang tới độ chín muồi.

Chiều nay, con chim già mỏi cánh nhìn về chân trời xa xăm, nhớ bài hát “Chiều Tây Đô” của  nhạc sĩ Lam Phương: 

Tàu đưa ta đi, tàu sẽ đón ta hồi hương
Tây Đô sẽ sống lại yêu thương *

Chú Chín Cali

Monday, May 14, 2018

Người Mẹ Can Cường




Trâm cố bơi nhanh chiếc ghe chở nặng đi ngược dòng nước ròng đang chảy xiếc để còn kịp cho ghe vào ụ trước khi trời xụp tối.

Mồ hôi nhễ nhại, Trâm hì hục quăng mấy trăm trái dừa khô lên bờ, chất thành đống trước nhà, thỉnh thoảng lại ngừng tay kéo tay áo lau mồ hôi trán. Con Mi Nô chạy lăng xăng trên bờ, quẩy đuôi mừng chủ sau một ngày không gặp. Nó là người bạn duy nhất của Trâm ở vùng thôn quê hẻo lánh nầy. Ngày xưa những công việc nặng nhọc nầy chồng Trâm đều lo cả, Trâm ở nhà lo cơm nước nuôi con. Từ ngày bị thương nặng vì trúng đạn pháo binh, chồng Trâm được di tản về tỉnh cứu cấp, còn đang trong thời kỳ dưỡng bịnh nên ở lại trên tỉnh với đám con đang đi học. Trâm phải về quê một mình để giữ ruộng vườn không bị tịch biên vì vắng chủ và đồng thời thu hoạch huê lợị nuôi sống gia đình.

Ở đây nhà cửa lưa thưa, cách xa nhau qua mấy bờ mương, con rạch đầy lao (Saccharum spontaneum) sậy (Phragmites australis) và những mảnh ruộng um tùm với ô rô (Acanthus), cóc kèn (Derris Trioliata), mọc hoang cao quá đầu. Trong thời buổi chiến tranh, nhà ai nấy ở, chuyện ai nấy lo, hàng xóm ít khi gặp nhau trừ khi có chuyện khẩn cấp cần sự giúp đỡ. Làng xóm buồn tẻ tiêu điều vì chiến tranh tàn phá.

Trâm ngồi trên ngạch cửa nhìn con gà mẹ “tục tục” gọi đàn con rồi dẫn nhau vào chuồng mà lòng thấy nao nao. Gà mẹ còn có con để chăm sóc còn Trâm phải xa con, nhìn đàn gà mà nhớ con đứt ruột. Đám vịt còi thiếu mẹ trèo lên tuột xuống cái bờ mương trơn trợt rồi sau cùng cũng lên được trên sân, đứng rỉa lông. Đêm đến thật nhanh. Trâm dẫn con Mi Nô vào nhà thắp sáng ngọn đèn hột vịt rồi đóng cửa gài then cần thận. Sống giừa vùng nông thôn hẻo lánh một mình, Trâm rất cẩn thận.

Đằng sau ánh sáng lù mù của ngọn đèn dầu hiu hắt là bóng đêm, là cả một thế giới âm u ma quái đang kéo về dầy đặc. Ngày xưa khi có vợ có chồng, Trâm không biết sợ là gì. Bây giờ lẻ loi một mình Trâm mới thấy thấm thía thế nào là sợ hãi, là cô đơn khi thiếu cánh tay bao bọc của người chồng mà Trâm suốt đời gắn bó, đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi mười mấy năm nay.

Từ sáng đến giờ Trâm chỉ ăn củ khoai luộc buổi trưa nên thấy đói. Trâm cầm ngọn đèn đi xuống bếp thổi lửa nấu cơm, thỉnh thoảng lại quay nhìn lại sau lưng, cảm thấy như có ai đang theo dõi từng bước chân đi của mình. Có con Mi Nô lẩn quẩn bên chân nên Trâm thấy yên tâm phần nào. Gió đêm lành lạnh thổi rì rào bụi tre bên hông nhà, thân cây chạm nhau kêu ken két làm Trâm thấy ớn lạnh sau gáy, chạy dài trên xương sống, cảm giác như có nhiều đôi mắt trong bóng tối đang chầm chập nhìn phía sau lưng mình. Không kềm được cảm giác sợ hải Trâm nhắc vội nồi cơm vừa chín chạy ù vô nhà, đóng sầm cánh cửa, cài then cẩn thận rồi bật quẹt đốt lên ngọn đèn bàn. Ánh sáng ấm áp của ngọn đèn dầu đẩy lui bóng tối ma quái làm Trâm thấy yên tâm phần nào.

Bụng đói cồn cào nhưng Trâm nuốt không nỗi những hạt cơm có vị mặn vì nước mắt. Nhìn ánh đèn loà nhoà trong màng lệ Trâm biết rằng mình đang khóc. Đã qua mấy mùa trăng, đêm nào Trâm cũng vừa ăn cơm vừa khóc một mình như vậy. Trâm nhớ chồng, nhớ con, nhớ không khí gia đình mà đau thắt cã tim gan. Giờ nầy chồng con có lẽ đang say sưa trong giấc ngủ bình yên có biết đâu nơi đây một mình Trâm trằn trọc thâu đêm! 

Đêm càng về khuya càng thêm tĩnh mịch. Bên ngoài hàng vạn côn trùng đang hòa tấu cùng tiếng rên rỉ của vô số các loài sinh vật của thế giới về đêm. Tiếng chim vạt gọi đàn và tiếng chim cú kêu đêm càng làm cảnh đêm thêm não nuột. Thỉnh thoãng có đám chồn mướp chí chóe cắn nhau giành ăn. Chồn cáo thì thường về lúc nửa đêm bắt gà ăn thịt làm náo loạn trong chuồng gà và mấy con gà mái kinh hoàng la hoảng. Trâm sợ lắm kéo chăn chùm kín cã đầu, tay ôm cái chỉa ba nhưng chân cứ co rút lại, không dám bước xuống giường.

Nửa đêm có tiếng chó sủa văng vẳng từ xa, bắt đầu từ ngã ba Lộ Cái rồi kéo về xóm Cầu Kinh, chỉ cách nhà Trâm cái rạch nhỏ và dải ruộng hoang. Từ xóm Cầu Kinh, con đường mòn tách ra làm hai ngã, một rẻ về phía nhà Trâm, một đi về hướng bến đò để sang sông lớn. Trâm nín thở lắng nghe động tỉnh bên ngoài, nghe rỏ mồn một tiếng đập thình thịch của tim mình càng lúc càng to.

Ngày xưa mỗi lần nghe tiếng chó sủa đêm đến gần nhà như vậy Trâm xích lại bên chồng để tìm sự che chở thì thầm:

- Mấy ổng lại về.

- Ừa, chắc vậy. Mấy ổng về hà rầm hơi đâu mà mình sợ.

Chồng Trâm xem lại cái then cửa rồi thổi tắt ngọn đèn dầu. Hai vợ chồng ngồi yên trong bóng tối, lắng nghe, đợi chờ. Trâm thấy bàn tay chồng run run trong bàn tay lạnh giá của mình.

Đêm nay Trâm chỉ có một mình thì “Mấy ổng lại về”, Trâm sợ lắm nhưng tìm đâu ra bàn tay ấm áp của chồng để Trâm nắm lấy lúc nầy? Tiếng chó sủa nhỏ dần rồi chuyển hướng về phía bờ sông. Họ sang sông lớn để đi qua xóm Vịnh. Trâm nới tay đang bịt mỏ con Mi Nô vì sợ nó sủa. Bàn tay lạnh ngắt ướt đẫm mồ hôi. Trâm nhớ đến cái đêm kinh hoàng khi “mấy ổng” đến gỏ cửa lúc nửa đêm, bịt mắt chồng Trâm rồi dẫn đi biệt tích. Trâm đã khóc hết nước mắt lần nầy và đã đồng ý trả một số tiền thuế rất lớn hằng năm. Một tuần sau chồng Trâm được thả về lúc nửa đêm, xơ xác, đói khát. Từ đấy Tâm rất sợ tiếng chó sủa về đêm.

Trâm vặn nhỏ ngọn đèn dầu nhưng không dám tắt hẳn vì nàng sợ bóng đêm. Ngọn đèn mỏi mòn rồi cũng tắt khi hết dầu lúc gần sáng cũng như Trâm mòn mỏi thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn.

Làng Trâm ở nằm trong vùng xôi đậu, sát cạnh khu “Rừng Xanh” nên lính Quốc Gia thường đến trong những trận hành quân bất ngờ. Máy bay thám thính mà dân gọi là “Đầm Già” và đạn pháo binh không phân biệt bạn và thù. Dân chúng sống giữa hai gọng kềm, giữa hai lằn đạn nên lúc nào tai mắt cũng phải ở trong tình trạng báo động để kịp thời ứng phó.

Những đêm bị pháo kích Trâm thức trắng. Con Mi Nô đang nằm gác mỏ giữa hai chân trước lim dim ngủ bổng bật dậy, hai lỗ tai dựng đứng nghe ngóng, rồi nó cụp đuôi chui vào hầm. Những tiếng pháo bắn “bùm bùm” văng vẳng từ xa, những tiếng rít dài của lằn đạn pháo binh bay trên đầu như cắt vào tim, tiếp theo và những tràng đạn nổ “đùng đùng” vang dội. Khi nghe được tiếng đạn nổ Trâm có thể thở phì nhẹ nhõm vì tai nạn đã qua rồi. Sợ nhất là sau tiếng bắn “bùm bùm” tiếp theo là âm thanh “xà xà” đồn dập báo hiệu đạn pháo đang trên đường đi thẳng đến ta. Không còn đủ thời gian để chui vào hầm trú ẩn nữa. Trường họp nầy người dân chỉ có cách ôm đầu bịt tai, cầu nguyện Phật Trời phò hộ cho tai qua nạn khỏi.

Từ tiếng pháo bắn đầu tiên Trâm đã chui tọt nằm gọn trong hầm trú bom, tay ôm cổ con Mi Nô đang run rẩy. Hầm được xây bằng thân cây dừa cắt khúc, chất ở trên đủ thứ đồ tạp nhạp. Cũng tại căn nhà nầy, một trái đạn pháo 105 ly đã rớt lạc làm nhà Trâm tan nát. Hầm bị sập. Chồng Trâm bị thương nặng nên phải tản thương về tỉnh cứu cấp bằng ghe lúc nửa đêm. Trong lúc kinh hoàng, Mi Nô bị bỏ lại một mình. Hàng xóm kể lại rằng họ thấy nó nằm gục bên căn nhà đổ nát, không ăn uống, nên đã mang nó về nuôi cho đến ngày Trâm trở lại mấy tháng sau. Từ đấy mỗi lần nghe tiếng đạn pháo nó bị kích động chui đầu vào gốc hầm để trốn. Những tràng đạn nổ kéo dài một lúc rồi im bặt, có khi êm luôn cho đến sáng, có khi trở lại nhiều đợt rồi mới im. Ruộng vườn lại bị cày xới thêm nhiều hố đạn. Ai đã là nạn nhân mới đêm nay? Hy vọng sẽ không có những tiếng la ơi ới cấu cứu lúc nửa đêm hoặc ánh đuốc lập lòe, tiếng thuyền chèo vội vã trên sông để di tản người dân bị trúng đạn pháo binh.

Trâm vẫn không dám đi ngủ trở lại, nằm chèo queo trước miệng hầm lắng tai nghe tiếng máy bay “rì rì” khi xa khi gần rồi biến mất. Có những đêm đồn lính bị vây đánh, hỏa châu rực sáng cả một góc trời. Máy bay “bò rống” đến, rống lên từng hồi với mưa đạn bay tua tủa sáng trưng cả một góc trời. Mấy “ổng” đánh đồn. Đồn càng bị vây đánh, dân làng càng bỏ xứ mà đi, trai tráng trong làng càng thưa thớt và các bà mẹ khóc con vợ khóc chồng càng lúc càng nhiều.

Trong thời buổi nhiễu nhương nầy, người dân đã quen rồi với chuyện sống chết, xem nó như tai trời ách nước nên mọi người phải cam chịu không than van trách móc. Những đổ nát, tan thương, chết chóc, không phải là điều làm họ sợ. Điều mà họ sợ là sự căng thẳng đợi chờ, là câu trả lời cho câu hỏi “ bao giờ sẽ đến lượt mình?”! Họ sống từng ngày, từng đêm trong hồi hợp nhưng không lối thoát. Miếng cơm của họ gắn liền với mái nhà tranh, với thửa ruộng, mảnh vườn, với con sông, chiếc thuyền, nên họ không thể nào bỏ xứ mà đi. Mà đi đâu rồi làm sao để sống? Thôi họ phải đành cam chịu, nhắm mắt đưa chân. Trời kêu ai nấy dạ!

Ai có thức trắng đêm thì mới biết đêm dài. Có trằn trọc, trăn trở thâu đêm một mình mới thắm thía được sự tàn nhẫn của sự cô đơn. Nó như một loại ung thư, gậm nhấm từng tế bào trong cơ thể vốn đã quá mỏi mòn. Nó làm trái tim như ngừng đập, hơi thở tắt nghẹn, thần kinh căng thẳng muốn vở tung. Mỗi lần Trâm cảm thấy mình đang rơi vào tình trạng trầm cảm đến tột cùng như vậy chỉ muốn chết cho xong, Trâm chấp tay khấn vái Phật Trời cầu xin ơn trên ban bố cho nàng thêm can đảm và nghị lực để vượt qua. Bất cứ giá nào, Trâm cũng phải sống, không phải cho mình mà cho cả gia đình chồng con đang bám víu vào Trâm, vào thửa ruộng mảnh vườn.

Đêm dài vô tận rồi cũng qua khi có tiếng gà gáy sáng, con gọi, con trả lời, chuyền nhau từ nhà nầy sang nhà khác, từ xóm dưới sang xóm trên cho đến lúc khắp nơi gà cùng gáy rộ báo tin vui bình minh sắp đến. Đàn chim Trao Trảo gọi nhau trên cây vui mừng bình minh. Con Mi Nô lăn xăn đòi mở cửa để chạy ra ngoài sân với bầy gà vịt đang lao xao đợi Trâm vất cho nắm lúa. Mặt trời thập thò sau rặng dừa bên kia sông với những tia nắng ấm. Một ngày mới bắt đầu.

Trâm biết chắc rằng mình đã sống thêm được một đêm.

Và còn bao nhiêu đêm nữa Trâm phải trải qua? Trâm chỉ đếm được khi thấy mặt trời lên buổi sáng, biết rằng mình con sống.

Trâm đã chiến thắng được chính mình, khắc phục mọi trở lực để sinh tồn. Đó là bản chất của Trâm, người mẹ can cường, suốt đời chiến đấu. Ngày mới cưới nhau, thay vì an phận làm dâu con, nương tựa vào cha mẹ, cặp vợ chồng son quyết tâm ra riêng tự lập và đã tạo nên sự nhiệp từ bàn tay trắng, bằng mồ hôi và ý chí kiên cường. Trong thời buổi nhiễu nhương, trong khi trẻ con ở quê đều thất học, các con của Trâm đều được đi đến nơi đến chốn. Trong khi nhiều điền chủ phải bỏ đất mà đi để bảo toàn sinh mạng, Trâm quyết ở lại bảo vệ tài sản cho đến cùng, vì đó là mồ hôi nước mắt của vợ chồng, là tương lai sự nghiệp cho con cái.

Thử hỏi có bà mẹ nào can cường hơn Trâm? Có sự hy sinh nào cao quí hơn sự dấn thân của Trâm? Có lời ca tụng nào nói hết được tấm lòng của người mẹ như Trâm?

Khi con khôn lớn thấu hiểu được tình mẩu tử và sự hy sinh của mẹ thì mẹ đã già nua, da mồi tóc bạc, tai điếc mắt mờ lụm cụm sống trong căn nhà xưa cũ. Mẹ nuôi con không đòi được trả ơn, không đợi con báo hiếu. Tuy con sống kiếp tha hương nghìn trùng xa cách nhưng tâm con lúc nào cũng hướng về quê hương, nơi có người mẹ già khắc khoải trông con. Mẹ trông con chỉ để thương để nhớ nhưng không đòi hỏi một điều gì, không muốn làm vướng bận bước con đi. 

Trâm là mẹ tôi, người mẹ can cường.

Chú Chín Cali

Blog Archive