Showing posts with label Ba Ngo Dinh Nhu. Show all posts
Showing posts with label Ba Ngo Dinh Nhu. Show all posts

Saturday, March 28, 2026

DI NGÔN CỦA BÀ NGÔ ĐÌNH NHU TRƯỚC KHI LÌA ĐỜI…

Mùa Phục Sinh năm 2011, giữa tiếng chuông nhà thờ ngân dài trên bầu trời La Mã, bà trút hơi thở cuối cùng trong lặng lẽ. Một đời nổi sóng, kết thúc như giọt sương tan vào ánh sáng.

Trước khi rời cõi tạm, bà để lại vài dòng viết bằng tiếng Pháp. Không phải lời oán than, cũng không phải lời thanh minh. Đó là một lời xác quyết. Bà tự nhận mình vẫn là người của Việt Nam Cộng Hòa, vẫn là “Sứ giả” thi hành sứ vụ được trao phó:

”Tôi Trần Lệ Xuân, Dân biểu lập Hiến Pháp, Dân biểu quốc Hội, Chủ tịch Phong trào Phụ Nữ Liên Đới, Vâng lệnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, với sự đồng ý của chồng tôi, ông cố vấn Ngô Đình Nhu, rời Viêt Nam sang các nước Tây Phuơng tranh đấu cho sự thật và độc lập của đất nước tôi, trong lúc tôi rời đất nước các thế lực Tây Phương đã dùng nhóm phản loạn, phản bội lại chính quyền Dân Chủ và Độc Lập Việt Nam Cộng Hoà, đã sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Gia tộc của Tổng Thống và chồng tôi, sứ mệnh của tôi càng trở nên khó khăn hơn, khi con gái của tôi Ngô Đình Lệ Thủy bị sát hại vì muốn nói lên tiếng nói sự thật, sứ mệnh của tôi chưa hoàn tất, tôi vẫn là con dân Việt Nam Cộng Hoà, vẫn là Sứ Giả của nước Việt đến hơi thở cuôi cùng với Sự Vụ Lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm... "

Trong những dòng cuối ấy, người ta không thấy nhắc đến biệt thự, tiền bạc hay quyền lực. Chỉ thấy nhắc đến bổn phận. Và nỗi tiếc nuối vì “sứ mệnh chưa hoàn tất”.

Lịch sử về biến cố ngày 1 tháng 11 năm 1963, về cái chết của Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn, đã được giải mật từ nhiều phía. Nhưng nhận định vẫn chia hai dòng nước. Có người trách. Có người thương. Có người cho rằng nếu bà có mặt tại Dinh Gia Long hôm ấy, cục diện có thể khác. Điều đó, giờ chỉ còn là giả định.

Sau năm 1963, bà sống gần như ẩn dật tại Pháp. Căn hộ nhỏ ở số 24 Rue du Suffren, quận 15 Paris, không phải là cung điện của “bà rồng” như nhiều người tưởng tượng. Bà sống lặng lẽ, đi lễ mỗi sáng, tránh truyền thông, từ chối nhiều cuộc phỏng vấn. Người phụ nữ từng đứng giữa ánh đèn quốc tế chọn bóng tối làm bạn.

Năm 2013, cuốn sách Finding the Dragon Lady của Monique Demery ra mắt, cố gắng giải mã hình ảnh “Dragon Lady”. Có người xem đó là nỗ lực nghiên cứu. Có người cho rằng chỉ là lắp ghép tư liệu cũ. Như mọi chân dung chính trị, sự thật thường bị khúc xạ qua lăng kính của thời đại.

Hình ảnh “bà rồng” từng bị truyền thông quốc tế tô đậm. Nhưng cũng có những câu chuyện rất đời thường. Chuyện sửa một cái chụp đèn mà đắn đo tiền công. Chuyện kén rể bằng thử thách nhịn ăn. Những mảnh ghép nhỏ ấy làm bức tranh bớt sắc cạnh, thêm phần con người.

Lịch sử không phải bản án. Nó giống một tấm gương nhiều mặt. Mỗi thế hệ soi vào, thấy một góc khác nhau.

Nhắc đến bà Ngô Đình Nhu hôm nay, có thể người ta vẫn còn tranh luận. Nhưng điều khó phủ nhận là bà là một nhân vật có ảnh hưởng sâu đậm trong giai đoạn đầu của Việt Nam Cộng Hòa. Một phụ nữ bước vào chính trường giữa thời cuộc dữ dội, chọn đối đầu thay vì lùi bước.

Và cuối cùng, giữa mùa Phục Sinh, bà ra đi trong im lặng. Không diễn văn. Không sân khấu. Chỉ còn lại vài dòng chữ khẳng định niềm tin và sứ vụ.

Có lẽ, đó là chương cuối mà chính bà đã tự viết cho mình.

Phong Hoàng.



Sunday, October 6, 2024

Bà Ngô Đình Nhu Trả Lời Phỏng Vấn Pháp năm 1982 (phụ đề Việt Ngữ by HNPD )



Wednesday, December 27, 2023

Bà Ngô Đình Nhu


"Con nhà danh giá học thức. Nhưng người VN có tính xấu, khi đối thủ nhau thì đi thêu dệt nói xấu một cách vô sỉ...".

Tôi đến thăm Bà Ngô Đình Nhu vào lúc 2 giờ trưa ngày 16 tháng 3 năm 2002 tại kinh thành Paris của nước Pháp. Nắng êm dịu vừa lên sau buổi sáng ẩm ướt của những ngày đầu Xuân và Paris thì lúc nào cũng chật ních những người và xe. Thành phố có cả một kho tàng bảo vật và huyền thoại. Ở đây người đi bộ đầy đường với những tiệm ăn và quán cà phê nối tiếp chạy dài cả dẫy phố. Người Paris nhàn và ham muốn hưởng thụ, chậm chạp nhưng thon thẻ hơn người Seattle. Cuộc sống thư giãn chậm chạp của những ông Tây bà Đầm là niềm ước mơ của những người luôn phải vội vã lập cập với tốc độ từ sáng sớm đến nửa đêm ở Cali hayTexas.

Bà Nhu ở một mình trong một đơn vị gia cư (apartment) của một tòa nhà mới xây gần tháp Eiffel. Nói là mới để phân biệt với những chung cư san sát ở Paris đã được xây cả đến vài ba thế kỷ với những đường nét hoa văn cổ kính. Chung cư Bà Nhu ở có những nét kiến trúc đương đại giống như một cái hộp khổng lồ bằng kính, có lẽ đã được tạo dựng từ 30 đến 40 năm. Bà Nhu là sở hữu chủ hai (02) đơn vị gia cư ở trên tầng lầu thứ 11 của tòa nhà cao tầng ở khu vực có địa thế rất đẹp và đắt tiền nhất thủ đô Paris, ngay giữa cái nôi của văn hóa và chính trị thế giới. Nơi đây, một tấc đất chẳng biết giá tới mấy chục hay mấy trăm tấc vàng. Cả vùng này hầu như là nơi cư ngụ của các nhân viên và phái đoàn ngoại giao trên đất Pháp. Bà Nhu ở một đơn vị và cái thứ hai cho thuê để lấy tiền sinh sống. Đó là lợi tức duy nhất của Bà, cũng tiện tặn đủ sống và không cần nhờ vả đến các con. Bà sống ản dật, đi về lẻ loi thầm lặng đến nỗi một khuôn mặt quen thuộc của cộng đồng người Việt quốc gia ởParis là cựu Trung Tướng Trần Văn Trung vẫn nghĩ là Bà Nhu sống ở bên Ý.

Trên đường đến thăm Bà Nhu, tôi vẽ ra trong đầu óc qua hình ảnh của những chung cư đắt tiền ở New York hay San Francisco đã xem trên những tạp chí chuyên về địa ốc ở Mỹ và nghĩ là nơi cư ngụ của Bà Nhu chắc phải sang trọng lắm. Những apartment của Jacqueline Kennedy hay John Lennon ở New York và của các tay tài phiệt ở San Francisco gợi cho tôi một náo nức mong chờ. Các cụ mình ngày xưa vẫn nói "ăn cơm Tàu, ở nhà Tây" thì chắc là đã có một so sánh cẩn trọng. tôi bước đi vội vàng với những lung linh nơi lãnh địa của giới thượng lưu. Những dòng họ quý tộc từ bao nhiêu đời cấu trúc nên vẻ hào nhoáng phong nhã của kinh thành Ánh Sáng và dân cư ngụ dù ở chân trời góc biển nào lưu lạc tới đây cũng được nhận lãnh ấn tích của người Paris.

Chiếc thang máy nhỏ hẹp vừa đủ chỗ đứng cho một ông Mỹ quá khổ đưa tôi lên tầng 11 của tòa nhà cao tầng. Bà Nhu mở cửa đón khách trong chiếc áo kimono Nhật mầu xanh nước biển, khuôn mặt trang điểm kỹ lưỡng với giọng nói đặc Huế không vồn vã mà cũng chẳng quá lạnh nhạt. Bà Nhu sắp vào tuổi 80 nhưng rất khỏe mạnh. Bà đi đứng nhanh nhẹn, lưng thẳng, đôi mắt to và sáng. Có người nói từ năm 1963 đến nay Bà chẳng già đi chút nàọ Thật ra đó chỉ là một lối nói để diễn tả sức khoẻ sung mãn của một người tuy đã nhiều tuổi đời nhưng vãn giữ được vóc dáng linh hoạt và nét mặt không có những nếp nhăn theo thời gian. Tuy nhiên "cái già" cũng vất vưởng đâu đó trên khoé mắt vành môị Khi Bà cười thì khuôn mặt trông rất tươi trẻ phô bầy bộ răng trắng vẫn còn đầy đủ trong tình trạng hoàn hảo.

Chỗ ở của Bà Nhu tuy không nghèo nàn nhưng chẳng có gì đáng nói, ngay cả không bằng cái apartment mà tôi thuê mướn ở ngoại ô thành phố Seattle vào mùa Đông năm 1975 khi vừa đến Mỹ. Đơn vị gia cư của Bà Nhu rất tầm thường giống như những apartment rẻ tiền ở Mỹ với hai phòng ngủ và một diện tích nhỏ làm phòng khách. Phía tay trái lối đi từ của ra vào là nhà bếp. Trên tường phòng khách treo vài khung hình lớn có những tấm hình Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đức Cha Ngô Đình Thục, Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, cô trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy và nhiều người thân tộc đã quá vãng. Khoảng trống phía bên tay phải là phòng khách có một bộ xa lông, bên cạnh kê bàn ăn với 6 cái ghế. Bộ bàn ghế này và cài cái tủ nhỏ kê ngoài phòng khách làm bằng gõ gụ mầu đen với những nét chạm trổ VN quen thuộc. Bà Nhu cho biết trước kia thân sinh là Ông Bà Trần Văn Chương có một apartment ở Paris và những đồ đặc này được mang từ VN qua, lâu lắm rồi. Khi hai cụ thân sinh bán cái apartment đi thì cho Bà Nhu bộ bàn ăn và hai cái tủ nhỏ nàỵ Tôi đã đọc mấy bài báo nói về khiếu thảm mỹ của Bà Nhu qua việc sắp xếp và trang hoàng Dinh Độc Lập. Giờ này được đứng ngay giữa cơ ngơi của riêng Bà mà chẳng thấy một "công trình" nào xem cho bắt mắt, có thể vì điều kiện tài chánh hay thời trưng diện của Bà đã qua.

Đứng ở nhà bếp nhìn ra ngoài có cảm tưởng như tháp Effeil sát ngay bên cạnh khung cửa kính. Tôi tiếc thầm, phải như phòng khách mà được xếp đặt ở chỗ này thì đẹp biết baọ Ngồi đây nhâm nhi ly cà phê nhìn thiên hạ từ khắp nơi trên thế giới đổ xô đến chân tháp chờ lên thang máy nhìn cả kinh thành Paris. Ngày như đêm lúc nào cũng là hội hè đình đám. "Vui với cái vui của thiên hạ" chắc lòng mình cũng phần nào đỡ trống trảị. Có lẽ cũng vì vậy mà phòng ngủ bên cạnh nhà bếp có kê một bộ xa lông để bù đắp lại sự thiếu sót to lớn của người thiết kế khu chung cư. Phòng ngủ thứ hai là chỗ làm việc của Bà Nhu với đủ loại sách báo. Cả đơn vị gia cư của một người sống lẻ loi một mình không có một cái giường nhỏ. Buổi tối Bà Nhu trải một cái chăn trên nền nhà, ở một chỗ nào đó trong căn hộ- nhỏ hẹp để nghỉ qua đêm. Bà không ngủ trên giường nệm nên mặc dầu đã lớn tuổi mà vẫn giữ được lưng thẳng và đi đứng nhanh nhẹn mạnh dạn.

Bà Nhu mời tôi ngồi trên một cái ghế ngay đầu bàn ăn cạnh khu phòng khách. Bà ngồi ghế đối diện, chân trái gác lên một chiếc ghế thấp hơn. Bà nói kỳ này khí hậu thay đổi bất thường nên cái chân hơi bị đau vì vết thương ngày trước. Bà Nhu bị gẫy chân trái trong vụ hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử ném bom Dinh Độc Lập vào ngày 27 tháng 2 năm 1962. Sau này bà đang đi bộ thì trượt chân ngã và cũng cái chân trái này bị gẫy lần thứ hai. Mặc đầu Bà không gặp khó khăn gì khi đi đứng nhưng đôi khi cũng thấy khó chịu.

Đối với tôi đây chỉ là một cuộc thăm viếng thường tình giữa người đồng hương nơi xứ lạ. Tôi không có ý định phỏng vấn Bà Nhu và chắc chắn Bà sẽ không được tự nhiên, thoải mái khi phải đóng khung trong những câu hỏi của một cuộc phỏng vấn. Phần khác tôi cũng không muốn khơi lại những đau thương mà Bà phải gánh chịu trong cơn bão táp lịch sử và bể oan cừu cay nghiệt của cuộc đời. Tôi muốn cuộc thăm viếng không bị gò bó và trói buộc vào một chủ đề, đồng thời cũng không muốn tìm tòi những gì mà cá nhân tôi và rất nhiều người được nghe đủ loại chuyện tốt xấu về Bà mà chẳng biết hư thực ra sao, và từ những mù mờ đó đã có biết bao câu hỏi về một người đàn bà một thời xe ngựa thênh thang. Tôi muốn câu chuyện được tự nhiên và để Bà chủ động bất cứ những gì Bà muốn nói. Tôi có thể dùng những tiểu xảo của kỹ thuật phỏng vấn "gài" Bà vào những sơ hở để thỏa mãn những gì tôi muốn biết hoặc chỉ nghe đồn thổi. Tôi đã không làm như vậy vì lòng kính trọng đối vơi Bà và lương tâm ngay lành của tôi.

Tôi mở đầu câu chuyện bằng mấy lời xã giao thông thường, kính chúc bà luôn được mạnh khỏe an vui. Bà bắt đầu nói về lai lịch nơi hiện cư ngụ. Rất nhiều người biết qua báo chí chuyện một người Pháp giầu có biếu Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục một món tiền lớn và Đức Cha Thục đã cho Bà Nhu để mua một đơn vị gia cư trong tòa nhà cao tầng này và sau đó Bà dành dụm mua thêm được một đơn vị nữa. Sự thật không phải như vậy. Bà Nhu trực tiếp nhận được một số tiền rất lớn từ một vị ân nhân ẩn danh. Có tiền trong tay, Bà đã nhờ một cựu bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle giúp mua liền một lúc hai đơn vị gia cư này. Vào những năm mà người Việt vượt biển ra đi một cách rầm rộ gần như công khai, Bà Nhu cho mấy thanh niên mới bơ vơ đến Pháp tạm trú ở đơn vị gia cư thứ hai và không lấy tiền thuê mướn hay bất cứ chi phí điện nước nào cả. Một thời gian sau những thanh niên này tìm được thân nhân hay vì nhu cầu công việc ra đi tạo lập đời sống mới thì Bà Nhu cho một nhà ngoại giao Nhật Bản thuê mướn cho đến ngày nay. Vị ân nhân tặng Bà Nhu số tiền kếch xù đó là Bà Capaci, một cư dân thành Milan nước Ý và cũng là một trong bẩy người phụ nữ giầu nhất thế giới. Bà Nhu chưa được một lần gặp vị ân nhân này và mãi đến bốn năm sau khi Bà Capaci tạ thế Bà Nhu mới được biết tên cũng như thanh thế và sự nghiệp của người đã gia ân cho mình.

Trên bức tường ngăn phòng khách và nhà bếp có treo tấm hình đen trắng ngôi nhà của Ông Bà Nhu ở Đàlạt, tôi kể cho Bà nghe chuyến đi về VN nhân dịp Tết Tân Tỵ, lần đầu tiên sau 26 năm vội vã ra đi lánh nạn. Tôi đã đi ĐàLạt, ghé lại thăm ngôi nhà xưa của thời trung học, bước qua đướng đứng nhìn nhà Ông Bà Nhu một lúc lâu. Ngôi nhà của Ông Bà Nhu hiện không có người ở nhưng được bảo quản khá tốt, không thấy những đổ vở hoang tàn vì thời gian hay qua những biến động. Hiện nay Bà Nhu không có ý định về thăm VN mặc dầu Bà được nhà cầm quyền Hà Nội đánh tiếng cho biết là nếu Bà muốn về thì cũng chẳng có trở ngại gì. Những kỷ niệm về một nơi chốn thân thương xa xưa gợi lại miền ký ức dấu ái, Bà nói "tôi gặp Ông Cố Vấn năm 16 tuổi, đến năm 18 tuổi thì làm đám cưới". Bà có vẻ buồn khi nói đến ngôi nhà ở Đà Lạt. Một vùng trời mộng mơ với những kỷ niệm của ngày tháng êm đềm nơi xứ sương mù vẫn còn vương vất đâu đây. 

Khi nói về những người con thì Bà Nhu có vẻ bằng lòng với chút hãnh diện. Tôi cố tình không hỏi gì về trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy đã bị chết thảm trong một tai nạn xe cộ trên xa lộ vòng đai của Paris. Rất có thể đây là một âm mưu quốc tế còn nhiều nghi vấn chưa được sáng tỏ và tôi cũng không muốn khơi lại những kỷ niệm đau buồn để rồi những giọt nước mắt của bà mẹ lại một lần nữa ướt đẫm trên khuôn mặt đã có quá nhiều khỗ đau. 

Ông con trai lớn Ngô Đình Trác tốt nghiệp kỹ sư canh nông, năm nay cũng đã 55 tuổi, lấy vợ người Ý và có bốn con, ba trai một gái. Bà Nhu nói về những đứa cháu nội, con trai của Ông Trác, trong niềm vui "cao một mét tám, to lớn và đẹp trai lắm". Vợ ông Trác thuộc giòng dõi quý tộc rất giầu có. Ông Trác rất đam mê công việc trồng trọt chăn nuôi và đã chế tạo được nhiều dụng cụ nông cơ thích hợp cho việc canh tác những thủa đất nhỏ. Gia đình Ông Trác sỡ hữu một biệt thự to và rất đẹp trong nội thành La Mã. Ngôi biệt thự này có cách cấu trúc và đáng dấp như một tu viện. Bà Nhu đã ở đấy nhiều năm nên rất nhiều người lầm tưởng rằng Bà đã tá túc ở một tu viện Công giáo trong khoảng thời gian dài.

Người con trai thứ hai là Ngô Đình Quỳnh cũng đã trên 50 tuổi, tốt nghiệp trường E.S.E.C. (École Suprrieure de l'Economie et du Commerce) chứ không phải trường H.E.C. (Hautes Etudes Commerciales) như rất nhiều báo chí và sách vở đã sai lầm. E.S.E.C. là trường tư đào tạo các chuyên gia kinh tế và tài chánh cao cấp, có học trình gay gắt và học phí rất cao. Sinh viên được nhận vào học trường này phải vượt qua những cuộc thi cử cam go và sau khi tốt nghiệp được các cơ quan kinh tế và tài chánh trên toàn thế giới trọng vọng. Khi Ngô Đình Quỳnh hoc trường này Bà Nhu đã không đủ khả năng trả học phí nên phải làm giấy xin nợ tiền học. Hiện ông Quỳnh làm đại diện thương mại cho một số công ty Hoa Kỳ ở Bruxelles, thủ đô nước Bỉ. Ông Quỳnh không lập gia đình. Bà Nhu cười nói "Ông Quỳnh giống Bác", hàm ý sống độc thân như Tổng Thống Ngô Đình Diệm. 

Đang lúc tôi nói chuyện với bà Nhu thì một thiếu nữ người Pháp gõ cửa bước vào với một xấp hình trên tay. Cô bé 17 tuổi này vừa trở về sau chuyến đi làm công việc thiện nguyện giúp các thanh nữ Phi Luật Tân bị bệnh AIDS. Tất cả chi phí cho chuyến đi của cô bé này do ông Ngô Đình Quỳnh đài thọ. Cô bé có những lọn tóc mầu hạt dẽ khoe những tấm hình chụp chung với các nạn nhan của căn bệnh thời đại và ước mong sẽ được trở lại thủ đô của nước Phi Luật Tân để tiếp tục công viêc bác ái. Bà Nhu nói ông Quỳnh sống đạm bạc và rất tích cực trong những hoạt động từ thiện nên ước vọng của cô bé chẳng phải là một giấc mơ.

Cô con gái út Ngô Đình Lệ Quyên có bằng tiến sĩ Luật từ trường đại học Roma. Lệ Quyên là một luật gia ngành Công Pháp rất nổi tiếng nhưng chỉ được mời thỉnh giảng và tham luận ở phân khoa Luật của đại học Roma mà thôi. Lý do đơn giản là Lệ Quyên không chịu vào quốc tịch Ý. Luật lệ nước Ý không cho phép những người không có quốc tịch được quyền giảng dậy một cách chính thức trong học trình. Lệ Quyên thường xuyên được mời dự các hội nghị quốc tế và có nhiều bài tham luận xuất sắc làm sửng sốt các "cây đại thụ" của ngành công pháp thế giớị Lệ Quyên có chống người Ý, nhưng đứa con trai 7 tuổi lại chính thức mang họ mẹ trên giấy tờ hộ tịch. Bà Nhu hãnh diện nói tên cháu bé là Ngô Đình Sơn, một tự hào dòng họ hay là sự gìn giữ gốc rễ gia tộc.

Mỗi buổi sáng sớm, bất kể thời tiết. Bà Nhu đều "xuống đường" đi bộ chừng độ 10 phút đến nhà thờ Saint Léon dâng thánh lễ hằng ngày. Cũng tại ngôi thánh đường này, lần đầu tiên vào tuần lễ đầu tháng 11 năm 2001, Ba Nhu tổ chức lễ tưởng niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Thông thường sau thánh lễ Bà ở lại giúp dọn dẹp nhà thờ và xếp đặt trưng bày hoa nến. Ngày chú nhật Bà phụ trách dậy lớp thánh kinh cho các trẻ nhỏ. Bà gia nhập đạo Công giáo khi lập gia đình, nhưng lúc thiếu thời được giáo dục trong các trường Công giáo nên có thể nói là Bà đã lớn lên và trưởng thành trong tín lý của đạo Chúa. Trong câu chuyện, Bà Nhu nhiều lần biểu lộ Đức Tin tuyệt đối nơi sự an bài của Đấng Tối Cao. Khi nghe tôi nói có thân nhân đang bị bệnh và rất muốn trở về Mỹ sớm hơn, Bà Nhu đi vào phòng làm việc lấy cho tôi một tượng ảnh Đức Mẹ Maria đúc bằng kẽm to hơn đồng một xu Mỹ kim. Bà nói mang tượng ảnh về cho bệnh nhân thì Đức Mẹ sẽ cứu giúp và chữa khỏi. Tôi nghĩ là vì có Đức Tin mạnh mẽ như vậy nên Bà đã vượt qua được bao cơn sóng gió ba đào mà sống mạnh khỏe đến ngày nay.

Trên đường từ nhà thờ về Bà Nhu cũng thỉnh thoảng ghé lại tiệm bán hoa và cây cảnh, mua vài bông hoa hay một chậu cảnh trang hoàng trong nhà. Ít khi Bà phải nấu nướng vì ăn rất ít và những bà bạn người Pháp thường mang đồ ăn đến cho nên cũng chẳng bận rộn gì việc bếp núc. Trước kia tôi nghe có người nói Bà Nhu chỉ ăn qua loa, hai ba lần một tuần. Tôi nghĩ là nếu ăn uống như vậy thì làm sao mà... thở được. Bây giờ tôi nghe chính Bà Nhu nói "hai ngày nay tôi chưa ăn gì cả, vì tôi không ăn nên không có bệnh". Các vị tu sĩ Ấn Độ giáo rất ít khi ăn uống nhưng người nào cũng mạnh khỏe và sống lâu trăm tuổi. Ở các nước Âu Mỹ đa phần người ta chết vì ăn chứ có ai chết vì đói.

Bà Nhu hầu như không đi sắm sửa quần áo giầy dép. Mỗi năm một bà bạn người Nhật gởi qua cho vài cái áo kimono đủ mặc trong nhà, có việc đi đâu thì mặc mấy cái quần áo cũ cũng còn tạm được. Nói đến quần áo, Bà có vẻ đăm chiêu "ở Sàigòn nóng quá nên tôi mặc áo dài hở cổ, Tổng Thống không bằng lòng". Chiếc áo dài hở cổ được đặt tên là "kiểu áo Bà Nhu" đã một thời là "mốt" của các thiếu nữ Sai Gòn và cũng là một đề tài xôn xao của những người vô công rồi nghề. Bà kể chuyện trước kia phải đại diện chính phủ tiếp đón phu nhân các vị quốc khách mà chẳng có đến một món trang sức nên thấy thiếu sót. Nhân có bà vợ một ông bộ trưởng muốn bán mấy món đồ trang sức làm bằng đá đỏ (ruby), Bà Nhu có trình và xin Tổng Thống số tiền sáu ngàn đồng bạc VN để mua lạị Tổng Thống nghe lời giãi bầy cũng hợp lý nhưng yêu cầu người bán phải viết một tờ giấy biên nhận với đầy đủ lai lịch của những món đồ trang sức này. Bà Nhu nói đó là lần duy nhất Tổng Thống cho tiền và cung chẳng còn nhớ những đồ trang sức đó bây giờ thất lạc nơi đâu.

Nhớ lại Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới năm xưa, Bà nắm hai tay trước mắt nhìn lên trần nhà nói bằng tiếng Pháp "phụ nữ phải được giải phóng, phụ nữ phải được tôn trọng". Giấc mơ của Bà là người phụ nữ phải có chỗ đứng và tiếng nói trong xã hội. Ước vọng của Bà là người phụ nữ phải có những cơ hội thuận tiện để thăng tiến trong mọi lãnh vực của đời sống. Tiếng nói của Bà rõ ràng, chắc nịch, lên xuống với những cảm xúc làm người nghe rất dễ bị lôi cuốn rồi nhiệt tình ủng hộ.

Trong cả một buổi chiều, lúc nói chuyện này và đột nhiên nói sang chuyện khác nhưng Bà không hề đả động gì đến nước Mỹ mặc dầu Bà biết tôi đến từ một tiểu bang ở vùng Tây Bắc nước Mỹ. Nhiều người nói Bà Nhu căm thù Mỹ lắm vì những sai lầm trong chính sách đối với VN và nhất là đối với Đệ Nhất Cộng Hòa VN. Vào những ngày tháng cuối năm 1963, cả thế giới đã kinh ngạc nghe và nhìn Bà Nhu mạt sát nước Mỹ và những nhà lãnh đạo của siêu cường này ở tại một địa điểm chỉ cách Tòa Bạch Ốc một quãng đường. Tôi nghĩ là Bà dã không còn mang những "hận thù" đó trong tim óc nữa và thực sự muốn quên hết để mọi chuyện nhẹ nhàng đi vào lịch sử.

Bà kể chuyện vào mùa Xuân năm 1975, hệ thống truyền thanh NBC của Mỹ có xin phỏng vấn trong 30 phút. Lý do Bà chấp nhận lời yêu cầu của NBC và đòi mười ngàn (10,000) Mỹ kim thù lao cộng với hai vé máy bay khứ hồi hạng nhất Paris - Washington DC, vì lúc đó Lệ Quyên rất nhớ và muốn đi gặp ông bà ngoại. Bà Nhu không có tiền trang trải cho chuyến đi nhưng vì thương con nên bằng lòng trả lời cuộc phỏng vấn để có tiền đưa con gái đi gặp Ông Bà Trần Văn Chương ở thủ đô của nước Mỹ. Đối với một tổ hợp truyền thông to lớn như NBC thì những điều kiện đó thật quá nhỏ bé và họ đã vội vàng thực hiện cuộc phỏng vấn. Đó là lần duy nhất Bà đi Mỹ và cũng là lần duy nhất Bà tiếp xúc với giới truyền thông quốc tế sau năm 1963. Ngoài ra, Bà chưa từng gặp gỡ hoặc tiếp xúc với báo giới Việt ngữ dưới bất cứ hình thức nào. Trong quá khứ đã có vài tờ bào ở Đức quốc và California đăng tải bài phỏng vấn Bà Ngô Đình Nhu. Tất cả những bài "phỏng vấn" đó đều là những ngụy tạo mà độc giả rất dễ dàng nhận ra tính chất giả dối và bịa đặt của người viết.

Bà Nhu cũng không nói gì về vụ phản loạn 1.11.1963 và những người được ngoại bang thuê mướn sát hại chồng Bà. Tôi có nói xa gần đến đám quân nhân phản loạn để dò xét phản ứng của Bà nhưng không trông chờ ở một sự tức giận thường tình của một con người vì thời gian đến gần 40 năm cũng đã làm nguôi ngoai cơn thịnh nộ. Bà có vẻ buồn, nhìn qua khung cửa sổ nói một cách nhỏ nhẹ bằng tiếng Anh "đó là một bọn ngu đốt".

Đồng hồ chỉ tám giờ rưỡi tối. Những ngọn đèn của Paris kết nối làm thành một biển ánh sáng và thành phố đã bắt đầu đi vào cuộc sống ban đêm. Hơn sáu giờ đồng hồ ngồi nói chuyện, tôi đã uống hết hai ly nước bưởi to nhưng tuyệt nhiên không thấy Bà Nhu uống một chút nước nào. Tôi sợ ngồi lâu quá Bà sẽ mệt mỏi những thực sự thì chính tôi là người đã thấm mệt. Bà Nhu không tỏ ra mệt mỏi hay có một dấu hiệu nào biểu hiện sự rã rời sau một buổi chiều dài chuyện trò. Trước khi tôi xin cáo từ Bà Nhu có nói đến cuốn sách của Bà. Theo chỗ tôi được biết thì cuốn sách này sẽ được phát hành cùng một lúc tại nhiều nơi trên thế giới bằng bốn thư ngôn ngữ: VN, Anh, Pháp và Ý. Bà viết bằng tiếng Pháp và tự dịch sang tiếng Anh và Ý. Bản dịch tiếng Việt đang trong giai đoạn nửa chừng. Cũng vì vậy mà tôi hạn chế bài viết này trong một kích thước vừa đủ, những gì độc giả muốn biết hay những gì gọi là "bí mật lịch sử" sẽ rất có thể được nói đến hoặc phân giải trong cuốn sách mà rất nhiều người chờ đợi.

Tôi chợt nghĩ đến "ông tướng phường chèo" Nguyễn Khánh. Ông này đi đến đâu cũng cầm cuốn vở học trò huyênh hoang có nhật ký của Bà Nhu trong tay. Tôi nghĩ rất có thể Ông này lượm được cuốn vở Bà Nhu ghi chép những chuyện vụn vặt của một người nội trợ trong gia đình như hôm nay đi chợ cần phải mua những món gì, đến bao giờ thì phải đóng tiền trường cho con... Ngoài ra chẳng có gì đáng nói tới hay có một giá tri gì cả. Tôi cũng không hiểu được lý do tại sao khi bị đuổi ra khỏi nước mà đương sự còn ôm theo "báu vật" đó để làm gì. Đặt trường hợp "báu vật" đó mang lại danh vọng và lợi lộc hoặc là một thứ vũ khí để để mạt sát nhục mạ Bà Nhu thì chắc chắn độc giả đã được đọc từ lâu rồi.

Tôi bước ra chỗ thang máy để xuống phố lang thang với người Paris mà trong lòng xôn xao niềm vui vì không ngờ một "bà cụ" gần 80 tuổi đã vật vã với bao sóng gió phũ phàng của cuộc đời mà lại còn có một sức khoẻ thật sung mãn, trí óc minh mẫn đến như thế. Ở vào tuổi đời như vậy mà còn giữ được thể chất và tinh thần trong một tình trạng gần như lý tưởng thì thật là hiếm có. Bà Nhu đã thực sự lánh xa những tục lụy phù phiếm của trần gian. Bà sống trong hơi thở nhịp tim của đời sống tận hiến và phó dâng với niềm cậy trông tuyệt đối với sự quan phòng của Đấng Tạo Hóa. Tôi cầu chúc Bà luôn mạnh khỏe, an vui.

Luật sư Trương Phú Thứ
Từ Fb Nguyễn Nam Hải

Tuesday, May 1, 2018

Bà. Ngô Đình Nhu trả lời phỏng vấn năm 1982 


WGBH Media Library (phụ đề Việt Ngữ by con dân PhuCam)

Friday, September 9, 2016

PHU NHÂN TRONG ÁO LỤA


(NCTG) “Cái đám đàn ông học ở đâu cái thói “nói xấu đàn bà là thú vui thần thánh” cóc biết gì hùa nhau viết về bà Nhu cứ như hàng xóm. Không ai nhớ một điều vô cùng đẹp từ cô tiểu thư xuân thì 15 tuổi trở thành phu nhân quí phái: Bà Nhu mặc hàng nội hóa nhiều hơn là hàng lụa nhập cảng từ Ý, Thái, Ấn Độ, Ba Tư”.
Đệ Nhất Phu Nhân Trần Lệ Xuân (1924-2011) - Ảnh tư liệu
Triều đại nào lỡ lọt vào tay các sử gia cũng sẽ thành chuyện kể nhiều kỳ dằng dặc. Lịch sử không phải lúc nào cũng cung đao bom đạn hay tướng tá mặt sắt đen sì gươm giáo leẻng keẻng làm nhân gian quên rằng trang sử đôi lúc rất êm rất tình. Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa (1954-1963) tình êm nhất là tình ủ trong áo lụa.

Một cuốn sách về Bà Nhu vừa xuất bản ở Sài Gòn với tựa đề dịch không sát nhưng rất ngang xương là “Madam Nhu Trần Lệ Xuân - Quyền lực Bà Rồng” (nguyên tác “Finding the Dragon Lady: The Mystery of Vietnam's Madame Nhu”, tác giả Monique B Demery do Nhà xuất bản Public Affairs phát hành tháng 5-2013). Theo một bạn nhà báo người Sài Gòn xưa, Vũ Ngọc Nhạ nói ông Diệm là Bạch Long - ông Nhu là Thanh Long - nếu đúng vậy thì bà Nhu phải là Thanh Long Đại Công Nương ... Cho có mùi kiếm hiệp. Đã vậy, không phải Long thường mà là “Hỏa Long Đại Công Nương”.

Tôi vừa đặt mua qua amazon.com xem Demery viết gì. Nếu dịch, tôi sẽ dịch ý “Đì tìm Bà Nhu, Phu Nhân Bão Tố Việt Nam” hơn là sát xà bông là “Bà Rồng”. Biết dịch giả ở đâu tôi sẽ hẹn so gươm hay đấu súng sau một chầu cà phê Liégeois ai thua phải trả tiền.

Hay bao giờ rảnh sẽ viết “Từ Ỷ Lan Phu Nhân tới Trần Lệ Xuân Áo Lụa” để nhớ hai khuôn mặt cách nhau gần một ngàn năm, một người hái dâu tằm một người mặc áo lụa, cả hai đều để lại trang sử vô cùng độc đáo.

Bài viết ngắn này như lời chào gương mặt hoa trong áo lụa không chỉ xinh đẹp mà còn rất giỏi, một cái giỏi định mệnh như cụ Nguyễn Du tiên tri: “Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Đó là bà Ngô Đình Nhu tên tiểu thơ là Trần Lệ Xuân, 15 tuổi “thay áo xanh theo chồng sang sông quên mái tranh quên con đò xưa”.

Gia đình tôi vào Nam năm 1954. Mẹ tôi mới đầu may áo dài hàng phin nõn của Pháp. Khi có hàng “Vân nội hóa” thì mừng lắm nhớ khi “Em là con gái trong khung cửi” mà thời tao loạn ở ngoài Bắc đi tới đâu Mẹ cho hai chị học nghề tới đó, nhỡ lạc bầy có nghề mà sống khỏi đi ăn mày. 

Tôi chưa sinh ra nên không may mắn như hai chị, không biết làm hàng vàng chẳng biết nuôi tằm dệt tơ. Khi trong chợ Bến Thành tha thướt những miếng vải nội hóa đủ mầu, Mẹ và các chị mỗi tuần lượn vòng trong vòng ngoài ngắm lên ngắm xuống tôi đi theo mỏi cả chân phụng phịu đòi uống nước dừa. 

Vào học trường Trưng Vương mới hay gia đình bạn có xưởng dệt ở đường Chi Lăng Phú Nhuận. Hóa ra người Bắc di cư giấu trong tay nải may quàng cả tình yêu Hà Nội lẫn nghề dệt của tổ tiên. Xưởng mua tơ sống Tân Châu dệt thành hàng Vân nội hóa pha mầu hoa cúc hoa lan đẹp nõn đẹp nường gọi là Lụa Nội Hóa. Làng Tân Châu (tỉnh An Giang) sản xuất lụa Mỹ A đen tuyền và láng bóng như satin tuyết nhung Pháp nhưng bền hơn satin hợp cho phụ nữ miền Nam đi ghe đi xuồng. Trước 1975, một buổi sáng tơ vàng ở Tân Châu tôi mê mải lạc giữa vườn dâu ràn rụa nhớ nữ sĩ Đoàn Thị Điểm “Ngàn dâu xanh ngắt một màu. Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”.

Nguời mở đầu trang sử áo dài Lụa chính là bà Ngô Đình Nhu vào thời miền Nam hớn hở đón thế hệ học sinh sinh viên vừa lớn sau những năm dài chinh chiến. Lụa Hà Đông, cơn sốt mát rượi cháy bỏng thân hình xử nữ thanh tân nữ sinh Sài Gòn. Đúng ra phải gọi là Lụa Sài Gòn hay Lụa Tân Châu vì sau 1954 hai miền Nam-Bắc tuyệt đối không hề liên lạc ngoại trừ vài tấm card thăm hỏi gia đình một năm một lần do Ủy Hội Quốc Tế chuyển. 

Ông ngoại mất ở Hưng Yên năm sau mới nhận được tin, Mẹ tôi mắt đỏ cay xé vội đôi vành khăn trắng muộn màng vọng về Bắc. Sông Bến Hải chia đôi nhưng Lụa nối không gian hai miền Nam Bắc. Từ tơ tằm, Hà Đông dệt nhiều loại lượt, là, lĩnh, lụa, xuyến, lương, đoạn, vân, gấm, vóc, sa... Chị Cả Hà Đông không ngờ cô Út Sài Gòn nhớ mình dệt Lụa Hà Đông.

Trần Bích Lan tức thi sĩ Nguyên Sa học Triết ở Đại học Sorbonne bên Pháp về Sài Gòn năm 1955. Với ông mục tiêu của triết học là thông cảm là tìm ra ý nghĩa cuộc đời hơn là reo hò “giết giết nữa đi” nên thơ có nắng Sài Gòn mát anh mát ả có sông Seine bỡ ngỡ vui ả vui anh. Năm 1957 Nguyên Sa Trần Bích Lan làm bài thơ “Áo Lụa Hà Đông”:


Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng.


Thơ Nguyên Sa như cô tiên Giáng Kiều ở ngõ Bích Câu Hà Nội từ trong tranh bước ra say mê nhân gian không trở vào tranh nữa. “Bích Câu kỳ ngộ”, tiểu thuyết chữ Hán trong tập “Truyền Kỳ Tân Phả” của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Hà Nội hiện nay có còn phố Bích Câu không?

Nữ sinh Sài Gòn sợ thơ Nguyên Sa bay mất nên rủ nhau may áo Lụa Sài Gòn nhưng nhất định gọi là Lụa Hà Đông. Nam sinh níu áo nàng thơ giữa sân trường dúi vào tay câu thơ Nguyên Sa:


Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở xung quanh.


Từ 1963 tới nay, cái đám đàn ông học ở đâu cái thói “nói xấu đàn bà là thú vui thần thánh” cóc biết gì hùa nhau viết về bà Nhu cứ như hàng xóm. Không ai nhớ một điều vô cùng đẹp từ cô tiểu thư xuân thì 15 tuổi trở thành phu nhân quí phái: Bà Nhu mặc hàng nội hóa nhiều hơn là hàng lụa nhập cảng từ Ý, Thái, Ấn Độ, Ba Tư. 

Ngay bây giờ lụa Hermès, Mossul, Thượng Hải cũng không dệt loại Vân này. Bà Nhu có một tội lớn lắm, tội quá đẹp lại còn quá giỏi giữa một dòng sông lúc nhúc đàn ông ganh tị hơn Tấm Cám. Bà dám ăn dám nói dám vẽ ra chiếc áo khoét cổ “lăng loàn”. Bàn tay đẹp đủ mê từng ngón nhưng thời đó đố ai dám mê. Bà mang địa vị Đệ Nhất Phu Nhân vì ông anh tổng thống Ngô Đình Diệm không lập gia đình.

Trên ít nhất ba photo trên tờ “Life”, bà Nhu đều đeo chiếc broche gài trên áo đỏ đủ hiểu bà không nhiều nữ trang như địa vị bà có thể. Chọn lọc từng màu áo, từ áo lụa Vàng hoàng hậu với nữ trang nhận turquoise xanh Ba Tư...

.. tới áo Trắng in hoa Cúc nên chị dẫn đi mua vải ở tiệm Hồng Hoa đường Phan Bội Châu bên hông chợ Sài Gòn tôi cũng chọn hoa cúc cho áo đồng phục trắng Trưng Vương.

Lần đầu tôi mặc áo dài không dám thở sợ rách. Bà nội dặn rách cũng phải giữ lấy lề, phải tập giữ gìn áo dài giặt bằng nước chanh không giặt xà bông, không phơi ngoài nắng lót khăn ướt mà ủi áo lụa mới bóng hoài. 

Hàng Vân hoa to như áo Hồng Vỏ Đỗ này rất hiếm, hai chị tôi bắt chước nhịn ăn sáng có tiền may áo mặc rón rén chỉ sợ áo nhàu đi đứng khoan thai điều điệu cứ tưởng mình là Giáng Kiều trong tranh tố nữ.

Ngô Đình Lệ Thủy ăn mặc đơn giản chọn màu nhã nhặn rõ là con nhà sang từ trong trứng. Mặt dây chuyền hạt trai cũng theo bà Nhu xuất hiện ít nhất trong ba lần khác nhau. Thời đó chuỗi hạt trai mắc lắm nên chỉ đeo một hạt. Lời đồn đoán về gia tài đồ sộ của bà Nhu có thể không phản ảnh trên nữ trang có vẻ khiêm nhường.

Trăm quan mua lấy miệng cười. Hai miệng cười không thắm được lâu. Lệ Thủy mất trong một tai nạn xe hơi ở Pháp khi mới 22 tuổi. Tôi không tin đó là tai nạn. Một thế lực bắt bà Nhu phải im miệng suốt đời để giữ bí mật nào đó? Bao giờ rảnh tôi sẽ tuốt kiếm tìm cho ra manh mối có phải loài người ác tới theo đuổi một gia đình cô độc mẹ góa con côi quá nhiều cái chết thảm khốc. Tôi cũng tuốt kiếm hầm hầm nếu ai dám chê bai đàn bà con gái chúng tôi ăn nhiều nói lắm không chịu thương ít chịu khó hiếm nhịn nhục kém hy sinh, thỉnh thoảng còn xúi nhau: “Ái chà chà! Con vợ mày đoảng! Mày tát nó một cái vỡ mặt cho tao”...

Nói vậy cho ngon chứ kiếm đâu mà tuốt! Tuốt làm gì cho phí cho hoài! Nếu ngộ ra trong thơ Nguyên Sa rằng:


Cuộc đời dẫu có phù vân.
Ở trong mây nổi có phần thiên thu.


Cả thi sĩ lẫn bao người Áo Lụa đều đã qua đời. Phần thiên thu để lại, phải chăng là mùa thu tóc ngắn nhờ nhân gian giữ hộ mầu áo lụa Hà Đông? Có ai cùng tôi vẫn yêu màu áo ấy vô cùng? Hay chỉ đi qua mà không bảo gì nhau?


(Viết cho linh hồn chị, thích Áo Lụa và thơ Nguyên Sa)
Trần Thị Vĩnh-Tường, từ California - Ngày 15-2-2016

Wednesday, April 20, 2016

Hai huyền thoại thời trang bất tử của Việt Nam

17/04/2016

Hoàng hậu Nam Phương và bà Trần Lệ Xuân luôn được nhắc nhớ bởi vẻ đẹp và thẩm mỹ thời trang tuyệt vời.

Nam Phương Hoàng hậu
Vị hoàng hậu cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam không chỉ được hậu thế nhắc nhớ bởi lòng nhân từ và phẩm hạnh cao quý mà còn bởi hình ảnh thời trang vô cùng thanh nhã. Nguyễn Hữu Thị Lan là tên thật của Hoàng hậu Nam Phương .

Bà được nhiều người "thần tượng" cả trí tuệ và nhan sắc. Là một phụ nữ quý tộc có học thức, tiếp thu văn hóa phương Tây và hấp thụ tinh hoa phương đông từ gia đình.

Theo những ảnh tư liệu còn lại, Hoàng hậu Nam Phương mặc đẹp cả trang phục truyền thống và trang phục Tây phương. Hoàng hậu tôn nghiêm trong hoàng phục với áo rồng mũ phượng. Đẹp cao quý với áo dài truyền thống. Bà thường chọn vòng cổ, hoa tai, cài áo để kết hợp cùng áo dài. Cũng có hình ảnh hoàng hậu mặc áo dài, đội khăn chít.

Trong những bộ âu phục đương thời, Nam Phương Hoàng hậu vẫn giữ vẻ đẹp đài các, sang trọng. Những đường nét Á Đông trên gương mặt dường như đồng điệu hoàn hảo với phục sức phương Tây. Hoàng hậu đeo vòng cổ ngọc trai, đội mũ lệch và mặc những chiếc váy dài qua gối.

Hoàng hậu Nam Phương mặc hoàng phục.

Hình ảnh bà Nguyễn Hữu Thị Lan trong lễ tấn phong hoàng hậu năm 1934.

Hoàng hậu Nam Phương thường mặc áo dài, đội khăn chít trong thời gian trước năm 1945.

Bà thường chọn khăn chít, vòng cổ, hoa tai, và cài áo để kết hợp với áo dài truyền thống.

Hình ảnh hoàng hậu mặc áo dài dể tóc theo lối phương Tây thật có nét gần gũi với thời nay.

Hoàng hậu mặc áo dài bên hoàng tử và công chúa.

Nam Phương trong những bộ âu phục chỉn chu và thấm đẫm phong cách quý tộc. Với mũ, vòng cổ ngọc trai, cài áo , áo cỗ chữ V kín đáo, mái tóc hoàng hậu được uốn lọn gọn gàng, sang trọng.

Hoàng hậu cùng vua Bảo Đại, bà hoàng Việt Nam mặc suit thanh lịch.

Hoàng hậu Nam Phương mặc áo choàng, hình ảnh ghi lại trong năm 1938.


Trần Lệ Xuân

Người phụ nữ quyền lực trên chính trường đồng thời là biểu tượng thời trang một thời của Sài Gòn. Bà Trần Lệ Xuân được cho là người khởi xướng mẫu áo dài cổ thuyền cách tân. Bỏ đi phần cổ dựng kín đáo để dem tới cái nhìn thoáng hơn cho trang phục truyền thống.

Hầu hết hình ảnh của Trần Lệ Xuân là gắn với chiếc áo dài cách tân. Bà thường chọn một số phụ kiện như găng tay, mũ có mạng che, cài áo và trang sức ngọc trai để kết hợp với áo dài.

Kiểu áo dài cổ thuyền khoét sâu đã được gọi với cái tên "Áo dài Trần Lệ Xuân". Cùng với áo dài, bà Nhu còn theo đuổi lối trang điểm tân thời, kẻ lông mày đen, đậm, kẻ mắt đen cong vút và màu son tươi thắm.

Bà Trần Lệ Xuân mặc chiếc áo dài cổ thuyền trứ danh và thần thái cuốn hút.

Bà chăm chút cho những phần nhỏ nhất như chiếc cài áo, mái tóc vấn cao sang trọng.

Những trang sức đồng bộ, tinh tế góp phần tạo nên hình ảnh "hoàn hảo".

Trần Lệ Xuân trở thành một biểu tượng thời trang.

Người phụ nữ ghi dấu ấn thời trang cá nhân sâu đậm của Việt Nam những năm cuối thế kỷ 20.

Saturday, March 26, 2016

BÀ NGÔ ĐÌNH NHU, NĂM MƯƠI NĂM CÔ ĐƠN
 
kim thanh


Tin từ Ngô Đình Trác báo cho ông bạn tôi, Luật sư Trương Phú Thứ, hay rằng Bà quả phụ Ngô Đình Nhu, nhũ danh Maria Trần Lệ Xuân, đã về Nước Chúa lúc 2 giờ sáng ngày lễ Phục Sinh, 24/4/2011, hưởng thọ 87 tuổi.

Tôi viết bài này gửi các thân hữu, bạn bè, và những người mà tôi biết chắc vẫn còn ái mộ, quý mến  –hoặc ít ra không thù ghét– Bà Ngô Đình Nhu, chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, và Tổng thống Ngô Đình Diệm. Không như những phản tướng 1963, tôi chưa hề gặp mặt Bà Nhu, chưa hề nhận ân sủng nào của Bà hay của chế độ, ngoài một trăm đồng Bà gửi tặng Hội JECU (Thanh Sinh Công Đại Học) năm xưa, được Ngô Đình Lệ Thủy trao cho tôi (xin đọc bài “Ngô Đình Lệ Thủy, hồng nhan mệnh yểu”).

Bà Ngô Đình Nhu là người nổi tiếng thuộc dòng họ Ngô Đình, và người liên hệ trực tiếp với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa duy nhất còn sống sót, vừa ra đi. Dù thương hay ghét Bà, ai cũng phải công nhận Bà là một nữ lưu thông minh, có tài có sắc, một cộng sự viên đắc lực, quả cảm của chồng và anh chồng. Qua hai nền Cộng Hòa, chưa có một phụ nữ tầm cỡpublic figure (người của quần chúng) Việt Nam nào làm tôi thấy cảm phục và hãnh diện như Bà Ngô Đình Nhu. Cho dù, dĩ nhiên, Bà chưa hoàn hảo, cũng như bất cứ ai trên đời. Trước và sau vụ đảo chánh 1963, Bà là mục tiêu tấn công của những nhà báo, và chính khách Việt Nam và ngoại quốc, đầy thiên kiến, thiếu công bằng, nhất là Mỹ, chưa nói Cộng sản đội lốt tôn giáo, đối lập, “cách mạng”, đã không ngần ngại vu khống, xuyên tạc, đổ lỗi, thêu dệt đủ điều, kể cả về đời tư của Bà. Đọc tất cả những tài liệu đã được giải mật, và những sách báo cũ, và những sách báo mới trên các Diễn Đàn Hải Ngoại và Việt Nam-Việt Cộng –những diễn đàn của Đui Chột, của Thù Hận, của Ác Độc– tôi thấy bất nhẫn và buồn nôn trước sự hèn hạ, nhỏ nhen của con người, vì dù sao Bà cũng chỉ là một phụ nữ và không giữ một chức vụ chính thức nào trong chính quyền. Bọn họ, kể cả Mỹ và Tây Phương, không mã thượng, anh hùng đủ, than ôi, để đánh Bà bằng một cánh hoa hồng, nhưng đã dùng mọi thứ dao búa. Họ dã man, trên phương diện tinh thần, không khác chi một Gia Long đã hành hình, về thể xác, nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái 16 tuổi bằng cách cho voi dày.

Bà là hiện thân và nạn nhân của Bất Hạnh như một trong những nữ nhân vật chính tuyệt đẹp của những vở bi kịch Hy Lạp. Nhưng khác với họ luôn vùng lên, phản kháng, chất vấn Thượng Đế, Bà đã im lặng, chấp nhận mệnh số nghiệt ngã, và âm thầm chịu đựng tất cả những sầu khổ, oan khiên, bất công, suốt một nửa thế kỷ.

Một điểm nữa, ngời sáng, về con người của Bà, mà tôi tin rằng đến cả kẻ thù cũng không thể phủ nhận. Khi chồng bị thảm sát, Bà còn trẻ đẹp lắm  –điều mà báo chí Mỹ thiên vị và ác độc cũng phải ca ngợi. Nhưng Bà ở vậy, thờ chồng, nuôi đàn con còn vị thành niên, không có của chìm của nổi, không lầu son gác tía, nhờ tham nhũng hoặc ăn cắp của công. Nếu có bằng chứng Bà phạm vào hai điều cấm kỵ này, chắc chắn báo chí và công luận Mỹ và Việt Nam, vốn thù nghịch, đã không bao giờ để Bà yên. Bà sống khép kín như một nữ tu tại gia. Không xuất hiện trước đám đông. Không cho nhân gian thấy tóc đổi màu, những dấu chân chim in trên đuôi mắt và những tàn phai bởi thời gian, theo gương những mỹ nhân tự thuở xưa. Không tuyên bố này nọ. “Thời của tôi qua rồi”, bà thường nói với những người quen biết, như một lời giã biệt thế gian. Không mang tiếng, không bồ bịch, không bước thêm bước nữa. Không vì tiền bán thân cho tỷ phú. Nếu sống vào thời quân chủ, Bà xứng đáng nhận lãnh bằng khen “Tiết Hạnh Khả Phong”.

Bấy nhiêu thôi cũng đủ làm tôi yêu mến Bà như một người mẹ (bà kém mẹ tôi một tuồi). Ca ngợi Bà như một nữ chính khách một thời sáng giá, đảm lược, dám nói dám làm, như chồng Bà, trước vòng vây khốn của thù trong giặc ngoài. Kính trọng Bà như một thần tượng. Làm sao tôi không xúc động khi nghe tin Bà đã bước vào một cuộc hành trình cuối cùng, ngày Chúa chết trên cây thập giá và sống lại, để từ nay vĩnh viễn thuộc về của Tuổi, nói theo Edwin Stanton, belongs to the Ages. 

Nhà danh họa thuộc phái ấn tượng Auguste Renoir của những tuyệt phẩm chan hòa ánh sáng và màu sắc, những năm cuối đời, bị bệnh thấp khớp hành hạ, không đứng được nữa, phải ngồi vẽ tranh một cách đau đớn với bàn tay co quắp, nhức buốt. Người học trò của ông, danh họa Matisse, thấy vậy, thương ông, đã hỏi: “Tại sao Thầy phải tiếp tục ngồi vẽ một cách khổ sở như thế?” Renoir ngước nhìn khung vẽ, trả lời: “Đau đớn sẽ qua đi. Cái đẹp sẽ còn lại.”

Tôi muốn nhắc lời của Renoir, để nói về Bà, trong một nghĩa nào. Đau đớn tinh thần của Bà Ngô Đình Nhu sẽ qua đi. Cũng như đau đớn thân xác của nữ tướng Bùi Thị Xuân. Nhưng vẻ đẹp của hai bà sẽ tồn tại. Vĩnh viễn.

Tôi biết những kẻ chống và ghét Bà sẽ khó chịu vì bài viết của tôi. Không sao. Đời mà. Tuy nhiên, xin những kẻ ấy xử sự cao thượng một chút, như một con người. Hãy để Bà yên nghỉ, ít nhất trong thời gian này. Chờ sau ba tháng, một năm, mười năm nữa, rồi hãy chìa ra nanh vuốt, cũng chưa muộn.

Tôi muốn báo tin cho các thân hữu của tôi và xin họ đọc một kinh, cầu nguyện cho linh hồn Bà mau về Cõi Vĩnh Hằng, và tìm được Bình An đích thực. Sau năm mươi năm cô đơn.


Kim Thanh
Thứ sáu tuần thánh (Good Friday) 3/25/2016

Thursday, February 25, 2016

Nhớ đến Bà Ngô Đình Nhu

Luật sư Trương Phú Thứ


Bà Ngô Đình Nhu

Mùa Phục Sinh lại đến.  Chúa sống lại trong niềm hoan lạc của con cái Chúa và vì Chúa sống lại cũng để cho chúng con được sống lại trong vinh quang.  Buổi sáng lễ Phục Sinh năm 2011, Bà Ngô Đình Nhu đã trút hơi thở cuối cùng tại một bệnh viện ở La Mã trong khi mọi người đang rộn ràng mừng lễ Chúa Phục Sinh.  Bà đã chết đi trong ánh sáng của Chúa Phục Sinh.  Bà đã âm thầm và lặng lẽ trên đường đi về Nhà Cha như mỗi buổi sáng bà lủi thủi đơn côi đi dâng thánh lễ bắt đầu cho một ngày mới.  Bà đã sống lại trong niềm tin yêu vô cùng nơi Thiên Chúa là nơi bà đã ngày đêm cậy trông và nương tựa trong những tháng ngày đau khổ nơi trần gian.
.
Rất nhiều người đặt câu hỏi rằng trước khi lìa trần bà Ngô Đình Nhu có trăng trối qua tiếng nói hay bút tích không.  Câu trả lời là có và đây là lời trăng trối ngắn gọn được bà viết bằng tiếng Pháp:
.
"Tôi Trần Lệ Xuân, Dân biểu lập Hiến Pháp,  Dân biểu quốc Hội, Chủ tịch Phong trào Phụ Nữ Liên Đới, Vâng lệnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm,với sự đồng ý của chồng tôi, ông cố vấn Ngô Đình Nhu, rời Viêt Nam sang các nước Tây Phuơng tranh đấu cho sự thật và độc lập của đất nước tôi, trong lúc tôi rời đất nước các thế lực Tây Phương đã dùng nhóm phản loạn, phản bội lại chính quyền Dân Chủ và Độc Lập Việt Nam Cộng Hoà, đã sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Gia tộc của Tổng Thống và chồng tôi,  sứ mệnh của tôi càng trở nên khó khăn hơn, khi con gái của tôi Ngô Đình Lệ Thủy bị sát hại vì muốn nói lên tiếng nói sự thật, sứ mệnh của tôi chưa hoàn tất, tôi vẫn là con dân Việt Nam Cộng Hoà, vẫn là Sứ Giả của nước Việt đến hơi thở cuối cùng với Sự Vụ Lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm... "
Bà Ngô Đình Nhu được Tổng Thống Ngô Đình Diệm trao phó một sứ vụ vô cùng khó khăn và nặng nề. Thân nhi nữ cô độc  gánh vác sứ vụ đội đá vá trời chống đỡ lại những mưu mô và kế hoạch thâm độc của Hoa Kỳ và các tổ chức quốc tế được sự thông đồng của Mỹ để triệt hạ chính thể Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà.  Bà đã vẫy vùng trong một vũng lầy của những gian manh xảo quyệt của các hệ thống truyền thông quốc tế và ác tâm của một đường lối vô nhân đạo mà chánh quyền Hoa Kỳ đương thời chỉ với một mục đích phục vụ quyền lợi của một nhóm tư bản đứng sau toà Bạch Cung đã tàn nhẫn xuống tay đưa cả dân tộc Việt Nam vào vòng điêu linh thống khổ.  Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người đặt quyền lợi và danh dự quốc gia hơn cả mạng sống mình đã bị thảm sát vô cùng dã man. Bà Ngô Đình Nhu cũng bị tắt tiếng sau cái chết đau thương của vị nguyên thủ quốc gia.
.
Bà Nhu được giao phó nhiệm vụ “tranh đấu cho sự thật và độc lập của đất nước”.  Bà lên đường với một sự vụ lệnh của Tổng thống và bà đã vô cùng dũng mãnh quyết liệt chống chọi với bọn truyền thông gian manh quốc tế và những xảo quyệt của chính quyền Hoa Kỳ.  Mùa Thu năm 1963 cả thế giới đã kinh ngạc nghe và nhìn bà Nhu mạt sát và lên án những người được gọi là bạn, là đồng minh Hoa Kỳ ngay tại một địa điểm chỉ cách Toà Bạch Cung mấy con đường. Nhiều người cho đó là một hành vi thiếu khôn ngoan nhưng có ai thấu hiểu đó chỉ là những tiếng kêu tuyệt vọng của một người lương thiện trước khi bị bọn gian manh thổ phỉ hành quyết!

Đọc những dòng chữ trăng trối của bà Nhu thì không ai có thể phủ nhận được tâm huyết của bà với non sông đất nước.  Năm trên giường bệnh trong giờ phút lâm chung nhưng bà không nghĩ đến những oan cừu khổ nạn mà bà và cả gia đình bà phải thống khổ chịu đựng.  Bà không thù oán những người đã cầm súng bắn vào chồng bà bởi vì bà nói “đó là một bọn ngu dốt” không đáng đếm xỉa đến.  Nhưng hơi thở cuối cùng của bà vẫn trông về quê hương yêu dấu mà bà đã can đảm dự phần trong công trình xây dựng một quốc gia thanh bình thịnh vượng,toàn dân sống trong tự do no ấm.  Bà tiếc nuối vì sứ mạng đã bị trù dập và không hoàn thành nhiệm vụ được giao phó. Bà vẫn tự gánh vác trọng trách đó cho đến hơi thở cuối cùng trong đơn côi lặng lẽ cho dù đó chỉ là những ước vọng của những giây phút tàn hơi.  Một "lãnh tụ chánh trị" khoe đã gặp bà Nhu và nghe than thở “thời của tôi đã hết rồi”.  Đây cũng chỉ là một tưởng tượng nghèo nàn của vị "lãnh tụ" này mà thôi.  Bởi vì những giây phút cuối đời thì bà Nhu khẳng định: vẫn là Sứ Giả của nước Việt đến hơi thở cuôi cùng với Sự Vụ Lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm...

Bài viết này đến tay độc gỉả nhân ngày giỗ thứ năm bà Ngô Đình Nhu.  Từ sau ngày Đệ Nhất VNCH sụp đổ, bà Nhu  sống đơn độc nơi đất khách quê người gần như hoàn toàn cách biệt với những sinh hoạt chộn rộn của một con người.  Người yêu kẻ ghét với những lời khen tiếng chê đã không lọt qua bức tường căn phòng nhỏ hẹp của một người muốn rũ bỏ tất cả những oan cừu trần gian. Bà sống khổ hạnh như một nữ tu ngong ngóng trông chờ giây phút “đoàn tụ” với ông chồng mà bà hết lòng yêu thương và kính phục.
.
Gần đây có một quyển sách viết về bà Nhu bằng tiếng Anh với tựa đề FINDING THE DRAGON LADY của tác giả Monique Demery và vừa được dịch sang tiếng Việt Nam với một loại chữ nghĩa văn thể rất kệch cỡm : MADAM NHU TRẦN LỆ XUÂN QUYỀN LỰC BÀ RỒNG. Tác giả Demery đã có một thời gian “học tập” ở Hà Nội, nói tiếng Việt thành thạo giọng đặc Hà Nội. Tôi có xem qua quyển sách này, không có gì gọi là tư liệu hay lịch sử.  Từ đầu đến cuối chỉ là những sao chép vụng về  chẳng có một giá trị nào dù rất nhỏ nhoi. Vào Google đánh chữ Bà Ngô Đình Nhu thì có đến gần 4 triệu tài liệu và bài viết nói về bà Nhu được đăng tải rải rác trên nhiều mạng lưới vi tính từ nhiều quan điểm khác nhau đã được bà Demery vơ vét làm của riêng mình rồi nặn óc sáng chế ra một cái tựa sách nghe ra cũng độc mồm độc miệng. Bà Demery viết và đọc tiếng Việt Nam thành thạo nên đa số những cái gọi là “tài liệu hiếm qúy” trong quyển sách này đã từ lâu xuất hiện trên các mạng lưới vi tính Việt ngữ. Tựa đề của cuốn sách trong bản dịch tiếng Việt với mấy chữ QUYỀN LỰC BÀ RỒNG có thể làm người đọc hình dung ra hình ảnh của một “bà rồng” mặt sắt đen xì dữ tợn hung ác nhưng trong cả cuốn sách chỉ toàn là những nhai đi nhai lại nhàm chán trên các mạng lưới vi tính Việt ngữ chứ chẳng thấy “bà rồng” đâu.

Tác giả Demery sẽ biện minh như thế nào khi gán ghép cho “bà rồng” một giai thoại như sau:

When her brother-in-law, President Ngo Dinh Diem, had once questioned the modesty of Madame Nhu’s slim-fitting tunics, referring to their décolletage, she is said to have silenced him with a withering reply: “It’s not your neck that sticks out, it’s mine. So shut up” (P.18)

Một dịch giả dễ tính có thể chuyển dịch những dòng chữ này một cách giản lược như sau:
Tổng Thống Ngô Đình Diệm tỏ vẻ không được hài lòng vì cái áo dài hở cổ của bà Nhu.  Nhưng bà em dâu đã xấc xược trả lời ông anh chồng: “Cái cổ tôi hở ra chứ không phải cổ của ông.  Vậy thì ông câm mồm đi.”

Đọc những dòng chữ bặm trợn này thì ai cũng có thể lượng giá được khả năng viết lách của tác giả và giá trị của quyển sách.

Đã rất lâu tôi có xem một phim tài liệu của hai nhà nữ nhân chủng học người Mỹ làm công việc khám phá một bộ lạc gần như tuyệt chủng ở trong rừng rậm Phi châu và chưa hề có bất cứ một tiếp xúc dưới bất cứ hình thức nào với thế giới bên ngoài.  Hai nhà nữ nhân chủng học này đã lặn lội trong những điều kiện vô cùng gian khổ và đã đến được nơi muốn đến.  Hai cô gái xinh đẹp này đã sống với hai người đàn ông hiếm hoi còn lại của bộ tộc này như vợ chồng trong thời gian một năm.  Họ học tiếng nói cũng như ăn uống sinh hoạt như một thành viên của bộ tộc và như là những người vợ của hai người đàn ông còn lại của bộ tộc trước ngày bị hoàn toàn diệt chủng.  Hai cô gái trở về Mỹ đã cống hiến cho thế giới một tài liệu phong phú và những thước phim chân thực sống động vô cùng qúy giá. Họ đã tự mang cả thân mình ra để làm một công việc mà họ say mê và bằng mọi cách phải đạt đến mục tiêu tuy rằng phương cách làm việc của họ không đáng được khuyến khích và đề cao.
.
Tác giả Demery cũng chỉ nghe và biết đến bà Nhu qua báo chí và những bài viết trên các mạng lươí vi tính mà thôi.  Trong cuốn sách, bà Demery xác nhận có hẹn gặp bà Nhu hai lần nhưng cả hai lần bà Nhu đều thất hẹn.  Mặc dù bà Nhu sống đời ẩn dật tự giam hãm mình trong một căn phòng nhỏ nhưng bà Nhu cũng có những chọn lựa và suy tính trong các giao tiếp rất hiếm hoi.  Bà Demery hẹn gặp bà Nhu ở nhà thờ Saint Leon là nơi bà Nhu đi lễ hàng ngày.  Thế nhưng đến ngày giờ hẹn thì bà Nhu lại không đến.  Lần sau thì bà Nhu hẹn gặp tại nhà, bà Demery đến đúng hẹn nhưng bà Nhu lại không mở cửa. Bà Nhu cũng chẳng mặn mà gì với những gặp gỡ này và cố tình hủy bỏ cuộc hẹn.

Vậy thì ngoài những sao chép trên các mạng lưới vi tính và chưa một lần được gặp bà Nhu thì bà Demery lấy gì và biết gì để viết về cả một cuộc đời cay đắng nghiệt ngã của bà Nhu.
.
Rất nhiều người có chung một quan điểm là nếu bà Nhu có mặt tại dinh Gia Long vào ngày 1 tháng 11 năm 1963 thì cục diện của vụ phản loạn chắc chắn đã không xẩy ra như vậy.  Là thân nữ nhi nhưng bà Nhu lại có một dũng chí và rất quyết liệt trong những tình huống dầu sôi lửa bỏng.  Thưở sinh thời, Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ nhiều lần tiếc nuối nói nếu như bà Nhu không đi ra nước ngoài thì chắc là vụ phản loạn đã bị dẹp tắt ngay từ những tiếng súng lạch cạch của mấy chú tân binh quân dịch từ trung tâm huấn luyện Quang Trung.  Ông Duệ nói rằng bà Nhu rất kính trọng và phải nói là rất sợ ông anh chồng Tổng Thống nhưng lúc cần phải lên tiếng thì bà cũng rất mạnh bạo.  Nhiều người truyền miệng câu chuyện bà Nhu bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm giận dữ ném cái gạt tàn thuốc lá vào người thì đó cũng chỉ là một bịa đặt nhảm nhí.  Nghị sĩ Lê Châu Lộc nguyên là tùy viên của Tổng Thống Diệm xác nhận là bà Nhu cũng như tất cả những người khác muốn gặp Tổng Thống thì đều phải đi qua một lịch trình xếp đặt của Chánh văn phòng Phủ Tổng Thống. Rất ít khi bà Nhu xin gặp Tổng Thống và những lần diện kiến ngắn ngủi dăm ba phút đó thì bà Nhu ăn mặc rất chỉnh tề, cánh cửa văn phòng Tổng Thống mở rộng và bên ngoài là các sĩ quan tùy viên và nhân viên văn phòng.  Nếu bà Nhu là một loại đàn bà đanh quánh hỗn láo thì chắc hẳn là thiên hạ sẽ được nghe và nhìn thấy những hoạt cảnh ồn ào chợ búa trong những ngày tháng nơi xứ lạ quê người.
.
Tổng Thống Diệm đặc biệt qúy mến bà Nhu vì đã mạnh bạo hoàn thành bộ luật gia đình và nhất là bà Nhu đã sinh ra hai người con trai để nối tiếp dòng họ Ngô Đình.  Ông Ngô Đình Luyện có hai đời vợ nhưng cũng chỉ có một binh đội đến mười cô con gái, mãi đến người con út mới được một mống con trai. Con trai lớn của bà Nhu là Ngô Đình Trác lấy vợ người Ý và bây giờ cũng có cháu gọi là ông nội rồi.  Người con trai nhỏ là Ngô Đình Quỳnh làm việc ở nước Bỉ và không lập gia đình cũng đã trên sáu mươi tuổi.  Từ sau năm 1963, ông Ngô Đình Trác sống ở Roma và chưa một lần đi ra khỏi nước Ý.  Câu chuyện đồn thổi "bà Nhu cho ông Trác sang Mỹ để xin lỗi" người này người kia cũng chỉ là một bịa đặt láo khoét mà thôi.
.
Các tài liệu về vụ phản loạn 1 tháng 11 năm 1963 do Hoa Kỳ điều động đã được hoàn toàn giải mã.  Đám quân nhân và các tổ chức liên hệ chỉ thi hành những mệnh lệnh từ một bọn kiêu binh tác oai tác quái lợi dụng sự nhu nhược của một ông tổng thống tồi tệ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.  Bà Nhu biết và hiểu rõ phương cách điều hành của các cơ chế chánh trị Mỹ.  Tất cả đều bị sai khiến bởi các thế lực đứng sau toà Bạch Cung. Nói một cách rõ ràng là những thế lực đó được điều hành và nhận chỉ thị từ những nhóm Do Thái có thực lực nắm giữ huyết mạch chánh trị và tài chánh của nước Mỹ.  Cũng chính những thế lực này, qua bàn tay của Henry Kissinger đã dâng hiến nước Việt Nam Cộng Hoà cho khối cộng sản quốc tế..

Khi nói về cái chết thảm thương của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn thì bà Nhu cũng chỉ nhỏ nhẹ nói “ Tổng thống của nó mà nó còn giết thì tổng thống của mình nó coi ra gì”.  Chữ “nó” đây bà Nhu cố ý nói về các thế lực Do Thái trong chính trường Hoa Kỳ.  Tổng Thống Kennedy đã bị bắn chết trước mắt hàng triệu dân Mỹ mà cho đến nay hơn một nửa thế kỷ sau vẫn không một cá nhân hay tổ chức nào dám phanh phui ra tên tuổi của đứa đã cầm súng bắn vào đầu Tổng Thống Kennedy.  Những thế lực này mạnh đến nỗi ngay khi ông Obama được đảng Dân Chủ đề cử cũng đã vội vàng bay sang Do Thái “trình diện”.  Trong suốt gần hai nhiệm kỳ tổng thống, ông Obama chưa hề có một lời nói hay hành động nào làm mích lòng Do Thái.  Đôi khi cũng có tiếng bấc tiếng chì nhưng đó chỉ là những trình diễn có xếp đặt mà thôi.  Bà Nhu rất căm thù những nhóm quyền lực Do Thái đứng sau toà Bạch Ốc.  Cũng chính bọn này đã mua chuộc được hầu như tất cả giới truyền thông quốc tế để cùng toa rập với nhau triệt hạ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà rồi sau đó dâng hiến cho cộng sản quốc tế.  Khi nói về cái chết của cô trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy, bà Nhu vẫn có những câu hỏi về vai trò của tổ chức tình báo Do Thái trong tai nạn giao thông thảm khốc này.

Ai cũng biết là từ ngày tủi nhục vất vưởng nơi quê người, bà Nhu sống rất nghèo khổ, nhiều năm sống trong cơ hàn.

Trong một bài viết, tôi có đề cập đến nhà bà Nhu là một đơn vị gia cư trong một chung cư bề thế ở thủ đô Paris.  Địa chỉ của chung cư đó là số 24 Rue du Suffrene, Paris 15.  Tôi viết một cách lập lững rằng một tỷ phú người Ý vì thương cảm nên đã cho bà Nhu một số tiền kếch xù để mua một lúc hai đơn vị gia cư, một để ở và cái khác cho thuê lấy tiền sinh sống.  Sự thật không phải như vậy.  Vị tỷ phú này có lòng từ tâm và rất thương cảm hoàn cảnh của bà Nhu. Tuy nhiên vị tỷ phú này biết sử dụng và đầu tư đồng tiền một cách rất khôn ngoan bên cạnh lòng nhân ái cứu giúp người hoạn nạn.  Bà Nhu được vị tỷ phú này nhờ mua một lúc hai đơn vị gia cư của một chung cư ở vị trí rất đẹp ở thủ đô Paris bởi vì bà Nhu vẫn còn những liên lạc với một số chính khách Pháp và có thể nhờ cậy các vị này trong việc thương thảo mua bán.  Bà Nhu đã nhờ một vị cựu bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle giúp mua hai đơn vị gia cư.  Không ai biết những cam kết và hợp đồng giữa bà Nhu và vị tỷ phú người Ý như thế nào nhưng ai cũng biết là lúc còn sống thì bà Nhu sinh sống ở một đơn vị và cái khác cho một nhà ngoại giao Nhật Bản thuê mướn để có tiền chi tiêu. Chỉ một thời gian ngắn sau khi bà Nhu từ trần thì các con của vị tỷ phú này đã tiến hành thủ tục pháp lý lấy lại hai đơn vị gia cư này.  Việc chuyển giao đã tiến hành một cách âm thầm và êm đẹp.  Tất nhiên trị giá của hai đơn vị gia cư này đã cao hơn nhiều lần lúc mua.

Trong một lần tôi đang nói chuyện với bà Nhu thì chuông điện thoại reo, bà Nhu đứng lên cầm ống điện thoại nhờ người gọi lấy dùm cái chụp đèn ở ngoài tiệm về.  Bà Nhu nói với tôi là rất thích cái chụp đèn bằng vải này nhưng vì quá cũ nên có chỗ bị rách.  Bà nhờ người mang ra tiệm sửa lại nhưng tiền công sửa quá đắt, đến cả gần một trăm euros nên thôi không sửa nữa.  Nếu bà Nhu có mười bẩy tỷ Mỹ kim như một vài “sử liệu” tiết lộ thì đâu có phải tính toán đắn đo gì với số tiền công sửa cái chụp đèn này.

Sau ngày phản loạn 1-11-1963, để lấy điểm với một vài phe nhóm và bọn tay sai nằm vùng của cộng sản Bắc Việt thì những người nắm quyền đương thời cũng trình diễn ra những cái gọi là "ủy ban điều tra tội ác và tài sản nhà Ngô".  Cuối cùng thì những ủy ban này với bao nhiêu hận thù và điêu ngoa gian dối sau khi vắt cạn kiệt ác tâm cũng đã chế tạo ra được hai cái “sử liệu” rất "hoành tráng" để đưa vào “chính sử”.  Thứ nhất là "bà Nhu có mười bẩy tỷ Mỹ kim, hai thương xá ở Paris và một đồn điền ở Ba Tây". Thứ nhì là "Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã tàn sát ba trăm ngàn Phật tử ở miền Trung".  Các “sử gia chân chính” đã xác nhận như vậy thì chắc hẳn phải là “chính sử”.!!!
.
Chung cư 24 Rue du Suffren Paris 15

Nói và viết về bà Ngô Đình Nhu thì toàn là những chuyện buồn phiền đau khổ.  Vậy xin kể một chuyện vui vui.  Một thanh niên người Ý bảnh trai con nhà gia thế cùng cha mẹ thưa chuyện với bà Nhu xin cưới cô con gái út Ngô Đình Lệ Quyên, tiến sĩ Luật Khoa Roma.  Trong lúc vui vẻ chuyện trò thì bà Nhu nói với chàng rể tương lai rằng mỗi tuần lễ bà chỉ ăn hai hay ba lần thôi, nếu anh có thể ăn uống được như vậy thì tôi sẽ gả út cưng cho. Anh chàng này vẫn có lòng kính phục bà mẹ vợ tương lai nên xin hai tháng để thử thách.  Sau hai tháng nhịn ăn nhịn uống, rồi cũng quen dần.  Bởi vậy anh chàng gầy đét như con mắm khô, chỉ thấy da bọc xương. Cho đến bây giờ, mặc dầu cô vợ yêu qúy đã chết vì một tai nạn xe cộ nhưng anh này vẫn giữ thói quen ăn uống như vậy.
.
Con người ta ai rồi cũng sẽ trở về cát bụi.  Nhớ bà Ngô Đình Nhu với hình ảnh của một người phụ nữ xinh đẹp, tài giỏi, đức hạnh và hết lòng vì quê hương đất nước.  Nguyện cầu hương hồn bà an vui nơi cõi Hằng Sống...

25/02/2016Luật sư Trương Phú Thứ

Thursday, December 17, 2015


 
Đinh Từ Bích Thúy

Lời Giới Thiệu: Hình ảnh bà Nhu đã cuốn hút Monique Demery từ lúc cô còn bé, lần đầu cô nhìn thấy bức ảnh nổi tiếng của nhiếp ảnh gia Larry Burrow chụp Bà Nhu năm 1962 "với mái tóc đen bới cao và móng tay sơn đỏ," trong trang phục áo dài bó sát người, đang cầm khẩu súng lục.

Đây cũng là hình bìa cuốn tiểu sử của Monique Demery về cựu Đệ nhất Phu nhân của miền Nam Việt Nam, tựa đề Finding the Dragon Lady: The Mystery of Vietnam’s Madame Nhu (nxb PublicAffairs: 2013).

Tuy lúc còn bé Demery bị sắc đẹp của bà Nhu thu hút, dần dà cô có một cảm nhận sâu xa về vấn đề mà nhiều người đàn bà thông minh và nhan sắc kết hôn với những chính khách thế lực vẫn phải đương đầu ngày hôm nay: làm thế nào để một phụ nữ không được dân bầu xử sự đúng cách, trong trường hợp bà từ chối đóng vai trang điểm – mà người Mỹ gọi là “kẹo tay” (arm candy) – bên cạnh ông chồng?

Hơn năm mươi năm trước đây, bà Ngô Đình Nhu, dân biểu Quốc hội và em dâu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, là một nhân vật gây nhiều tranh cãi và chia rẽ trong dư luận báo chí Mỹ. Trần Lệ Xuân, hay "mùa Xuân đẹp," đã nổi tiếng ở phương Tây qua danh từ không được trân trọng là "Dragon Lady," ám chỉ một femme fatale quyến rũ nhưng hiểm độc. Lời tuyên bố của bà về “màn kịch sư nướng" sau vụ Thượng Tọa Thích Quảng Đức tự thiêu đã chấn động thế giới và tác động sự hậu thuẫn của chính quyền Mỹ trong cuộc đảo chính lật đổ nhà Ngô vào năm 1963. 

Sau biến cố 1963, bà Nhu sống nhiều năm trong bóng tối. Vào năm 2005, Monique Demery, một học giả trẻ tuổi có kiến thức ngôn ngữ Việt, Pháp và một đam mê về lịch sử hiện đại của Việt Nam, quyết định từ Mỹ sang Paris “truy lùng” bà Nhu. 

Demery đã đọc một bài báo của Trương Phú Thứ về chuyện ông phỏng vấn bà Nhu trong một “đơn vị gia cư trên tầng thứ 11 của một tòa nhà gần tháp Eiffel.” Sự kiên trì của Demery giúp cô tìm ra chỗ ở của Bà Nhu, để rồi bị bà tạo ra vô số những dàn cảnh phức tạp để tránh gặp mặt. Tuy vậy, Demery đã có một tình bạn kéo dài sáu năm qua những trao đổi điện thoại và e-mail, cho đến lúc bà Nhu qua đời vào tháng Tư năm 2011. Từ những cuộc đối thoại này, Demery đã có đủ tư liệu để viết thành quyển Finding the DragonLady: The Mystery ofVietnam’s Madame Nhu (Đi Tìm Long Nữ: Bí Ẩn về Bà Nhu). 

Qua tác phẩm của Demery, hình ảnh bà Nhu trở nên linh động, phức tạp hơn chân dung “ác phụ” của bà trước đây: một nữ sinh tự tin và mạnh mẽ, đã chọn đóng vai người mẹ ghẻ "do tiềm năng tuyệt vời của vai ác" thay vì vai Bạch Tuyết trong màn kịch ballet của trường học; một bà mẹ trẻ quyết liệt bảo vệ sự an toàn cho đứa con gái một tuổi (Ngô Đình Lệ Thủy) trong cuộc di tản đường bộ từ Kinh Thành Huế vào tháng Chạp năm 1946 dưới sự quan sát gắt gao của Việt Minh; một nhà cải cách xã hội thẳng tay lên án những bất công về giới tính nhưng bị cô lập vì dư luận và thành kiến.

Demery tốt nghiệp Thạc sĩ khoa Đông Á Học tại Đại học Harvard. Những cuộc đàm thoại qua điện thoại giữa cô và bà Ngô Đình Nhu vào năm 2005 là loạt phỏng vấn đầu tiên sau năm 1986 mà bà Nhu đã dành cho một học giả Tây Phương. Demery hiện sống và làm việc ở Chicago, Illinois. 

Nguyên bản Anh ngữ (rút gọn) của bài phỏng vấn đã được đăng trên thư mục điểm sách Shelf Awareness ngày 8 tháng 10, 2013, 

Monique Demery

(1) Xin chị cho biết về mối liên hệ giữa chị và bà Nhu? 

MD -Tôi bắt đầu được biết bà vào năm 2005. Mối liên hệ này chấm dứt vào năm 2011 khi bà qua đời. Phần nhiều sự giao thiệp này được thực hiện qua những cuộc nói chuyện bằng tiếng Pháp trên điện thoại, rồi qua email vào cuối đời bà Nhu. Chúng tôi không bao giờ gặp mặt nhau. Bà luôn luôn úp mở, hứa hẹn về chuyện muốn gặp mặt tôi. Lúc đầu tôi còn tin bà. Bà Nhu bày ra những dự án phức tạp về những buổi gặp gỡ đã không bao giờ diễn ra ở Paris. Bà thích hẹn hò, và đưa ra nhiều điều kiện, nhưng luôn luôn thất hẹn vào giờ chót. 

Một lý do duy nhất mà tôi có thể hiểu từ cách xử sự mâu thuẫn của bà, là chuyện bà không muốn người khác thấy bà như một người đàn bà già yếu hay tầm thường. Bà muốn duy trì không khí huyền thoại về bà. Tôi không trách bà chuyện này, tuy đã hy vọng rằng sẽ một ngày được gặp mặt bà.

(2) Trong thời gian chị có những liên lạc qua điện thoại và thư từ với bà Nhu, chị đã gửi cho bà một tấm ảnh trong thư viện lưu trữ những tài liệu của Tổng Thống Lyndon Johnson (LBJ Presidential Library) ở Đại học Texas tại Austin. Tấm hình chụp bà khoe những tấm da hổ trong phòng ngủ của bà ở Dinh Độc Lập với Lady Bird Johnson, phu nhân của Phó Tổng thống Johnson, và bà Jean Smith, em gái của Tổng thống Kennedy, trong chuyến phái đoàn Mỹ sang thăm viếng Việt Nam vào tháng 5 năm 1961. 

Tôi nghĩ đây là một tấm ảnh khá trung thực và hài hước về hai khuynh hướng văn hóa. Tấm ảnh biểu tượng không những bà Nhu mà còn là hình ảnh của Việt Nam – một quốc gia có những nét văn minh, đài các, thậm chí thân mật, ấm cúng (vì ảnh chụp trong phòng ngủ bà Nhu) nhưng vì phòng được trải những tấm da hổ nên vẫn có vẻ hoang dã, xa lạ. Những người đàn bà Tây Phương trong tấm ảnh, với dáng dấp cao lớn hơn bà Nhu, đã cố giữ phong cách phớt tỉnh bên cạnh những tấm da hổ có vẻ như sẽ vùng dậy bất cứ lúc nào.

Nhưng tấm hình được chọn làm hình bìa cho quyển sách lại là một tấm hình có phần cliché– là cảnh bà Nhu mặc áo dài bó sát người đang cầm súng nhắm bắn, như một ác phụ trong phim James Bond. Tại sao tấm hình này lại được chọn?

Lady Bird Johnson, bà Ngô Đình Nhu, bà Jean Smith và một phụ nữ trong phái đoàn ngoại giao Hoa kỳ

MD -Hình bìa của cuốn sách là một hình bìa tuyệt vời, và tôi dám cả quyết một cách tự phụ như thế vì tôi không phải là người chọn nó! Nhà xuất bản PublicAffairs và nhân viên thiết kế sách đã chọn tấm hình nổi tiếng này, trước đây đã xuất hiện trên tạp chí LIFE chụp bà Nhu đang huấn luyện các phụ nữ trong Hội Phụ Nữ Liên Đới cách bắn súng. 

Nếu tôi không biết gì về bà Nhu và tình cờ đi ngang qua một hiệu sách có trưng bày cuốn sách với một hình bìa như vậy, tôi sẽ chú ý đến nó ngay lập tức, vì đó là một hình bìa có tính cách khiêu khích. Tôi đồng ý rằng hình ảnh đó làm người ta nghĩ đến Bà Nhu như một người đàn bà quyến rũ nhưng ác hiểm, một “Rồng Mụ.” Tôi hy vọng rằng nội dung cuốn sách sẽ thay đổi cái nhìn của người đọc, và sẽ cho ta thấy con người thật của bà đằng sau hình ảnh phiếm họa đó. 

Tôi cũng đồng ý với chị là hình bà Nhu với những tấm da hổ là một tấm hình có phần chân thật, và cảm động hơn. Chúng ta thấy một người đàn bà khuê các, nhỏ nhắn, có vẻ truyền thống. Bà rất hãnh diện và chủ quan khi khoe quan khách ngoại quốc những tấm da hổ – thành tích từ những chuyến đi săn của ông Nhu.

(3) Vâng, tôi nghĩ hình ảnh của báo chí Tây Phương về bà Nhu như một “Dragon Lady” ác hiểm và đầy quyến rũ là một hình ảnh khá sáo mòn. Ký giả Stanley Karnow tả “áo dài hở ngực và thái độ hống hách” của bà trong quyển sách Vietnam: A History của ông. Thiếu tướng Edward Lansdale, hòa nhã hơn, nhận xét trong một bài phỏng vấn rằng bà Nhu là một người đàn bà thích lo cho chồng, cho con, và được “huấn luyện kỹ trong những nghệ thuật dành cho phụ nữ” nhưng bà không được chồng hay gia đình nhà chồng hiểu. Những yếu tố nào đã tạo ra những cái nhìn khác biệt, nhưng vẫn còn khá giới hạn, về bà Nhu? 

MD - Tôi nghĩ rằng những nhân vật độc đáo trong phim ảnh, sách báo, hay lịch sử, đều là những con người phức tạp nhất. Như chị đã nhận xét, cái nhìn về bà Nhu của ký giả Karnow và chính khách Landsdale đều giới hạn và chưa lột tả hết con người của bà Nhu. Tôi không muốn đi vào con đường mòn của họ. 

Tôi nghĩ cách tốt nhất để hiểu những mâu thuẫn về bà Nhu là đặt bà trong bối cảnh lịch sử. Bà là một sản phẩm tiêu biểu của thời đại bà – một thời đại đầy hỗn loạn! Thời đại thực dân Pháp sắp sửa kết thúc, và tinh thần quốc gia bắt đầu thăng hoa. Những giá trị xã hội cổ truyển cũng thay đổi khi người dân rời vùng quê lên thành thị lập nghiệp. Những cải cách giáo dục và xã hội trong đời sống phụ nữ tạo ra sự xung khắc với quan điểm phụ hệ. 

Một thí dụ điển hình về sự xung đột trong con người bà Nhu: bà bắt mọi nguời phải nói tiếng Pháp ở bàn ăn cùng lúc tuyên bố rằng bà ghét truyền thống thực dân và hết lòng khuyến khích các phụ nữ Việt theo chân bà trong quá trình phát triển bản sắc quốc gia.

4) Từ cái nhìn của người Mỹ, hình như các nhà báo thiên tả đều có khuynh hướng kỳ thị đàn bà không khác gì những người viết bảo thủ. Ông Karnow viết, “quyền lực của bà Nhu biểu hiện cho một chế độ trên đà xuống dốc — như trong lịch sử Đài Loan và Trung Hoa — sự thăng tiến của Bà Tưởng Giới Thạch đã rút ngắn sự tồn tại của phu quân, và thế lực của Giang Thanh phản ảnh sự xuống dốc của Mao Trạch Đông” (Vietnam: A History, trg. 266). Tương tự, chị đã trích ký giả David Halberstam buộc tội bà Nhu là “nhúng tay vào chuyện chính trị của đàn ông với cung cách kiêu căng vô lối” (Finding the Dragon Lady, trg. 136). Hình như những nhận xét này vừa kỳ thị đàn bà vừa kỳ thị chủng tộc? Hình như người Mỹ về sau cũng phàn nàn chuyện bà Hillary Clinton xía vào những hoạt động chính trị của Tổng thống Clinton?

MD - Tôi nghĩ rằng khuynh hướng báo chí mô tả bà Nhu như một “Dragon Lady” có nhiều phần kỳ thị giới tính và chủng tộc, nhưng tôi nghĩ các ký giả vào thập niên 60 không chủ tâm như vậy. 

Như đã nói, tôi nghĩ phần đông là do ảnh hưởng của thời thế. Đối với người Mỹ, Việt Nam là một khái niệm thật xa lạ cho nên tôi nghĩ Hoa Kỳ vào thời đó đã cố ép bà vào một khuôn sáo thuận tiện cho những mục đích của họ. Qua cách “quỷ hóa” bà Nhu, giới báo chí Mỹ đã thuyết phục dân chúng Mỹ rằng bà là “kẻ lạ” và người Mỹ có bổn phận phải can thiệp vào nội bộ chính trị của Việt Nam. Tôi không nghĩ trường hợp Hillary Clinton 30 năm sau là hẳn như vậy. 

Những cuộc phỏng vấn thu băng vào năm 1964 giữa Jacqueline Kennedy và Arthur Schlesinger – được phổ biến gần đây – phản ảnh một quan điểm khá điển hình của những người cùng thời với bà Nhu. Jackie phát biểu qua giọng nói rất nhỏ nhẹ gợi cảm của bà về chuyện bà rất hãnh diện trong cuộc hôn nhân phụ hệ “mang nhiều hơi hướm Á Đông” với Tổng thống Kennedy. Bà cũng nói rằng một phụ nữ khuôn mẫu nên đừng bao giờ dính líu vào chính trị. 

Jackie cũng chê Clare Boothe Luce (dân biểu chống Cộng Đảng Cộng Hòa, nhà ngoại giao, kịch gia và vợ của chủ nhiệm báo Time, ông Henry Luce) và bà Nhu là những mụ đàn bà “khao khát quyền lực vì họ ghét đàn ông, hay tệ hơn, có thể họ nhiễm bệnh đồng tính luyến ái!” Tôi nghĩ thái độ của Jacqueline Kennedy về những phụ nữ có quyền thế cũng không khác gì với quan điểm của Karnow và Halberstam vào thời đó.

(5) Trong sách chị có nói rằng bà Nhu là một nữ sinh chăm học và thông minh. Chị đề cập chuyện bà theo học trường Albert Sarrault ở Hà Nội cùng trường ballet của Madame Parmentier – nơi bà đã tình nguyện đóng vai mẹ ghẻ của nàng Bạch Tuyết trong khi các cô gái khác tranh nhau muốn làm Bạch Tuyết. Nhưng ký giả Karnow nói bà chỉ là một học sinh xoàng và đã bỏ học trước khi kết hôn với ông Nhu vào năm 1943 (Vietnam: A History, trg. 266). Có phải bà Nhu đã bỏ học để đi lấy chồng như Karnow đã trình bày? 

MD - Tôi hình dung bà Nhu như một nữ sinh hiếu học qua những câu chuyện bà kể cho tôi, nhưng đó chỉ là cảm nghĩ riêng của tôi. Bà có nói với tôi bà muốn trở thành một luật sư như bố bà. Tôi nhớ lúc nghe bà nói tôi đã cảm phục khát vọng này của bà, nhưng tôi nghĩ bà không có điều kiện thuận lợi để đạt được giấc mơ này. 

Ông Karnow nói đúng khi ông bảo bà Nhu đã không học hết trình độ trung học, vì nếu học lên bà sẽ phải thi bằng Tú Tài để vào đại học, nhưng thế giới lúc đó đang biến chuyển – Đệ Nhị Thế Chiến đã bùng nổ. Bà có nên tiếp tục theo học chương trình Pháp nếu Nhật có cơ hội thắng ở Đông Dương? Bà muốn lấy chồng để thoát sự kềm kẹp của gia đình, nhưng đồng thời có lẽ bà biết người bà kết hôn sẽ không muốn bà có địa vị ngoài xã hội. 

Tôi đồng ý rằng ký giả Karnow có chiều hướng khinh thường bà, nhưng đó cũng chính là lập luận của ông. Ông Karnow nghĩ bà Nhu là một người đàn bà hời hợt, đẹp nhưng ngông cuồng và thích sôi động. 

Tôi vẫn nghĩ bà Nhu là một người đàn bà có bộ óc chính trị sắc sảo – điều này đã được nhiều người cùng thời với bà xác nhận, như nữ tác giả Maguerite Higgins, người đã phỏng vấn bà trong quyển Our Vietnam Nightmare: The Story of U.S.Involvement in the Vietnamese Tragedy, with Thoughts on a Future Policy (nxb Harper & Row: 1965). Ông Nhu coi mình như một người trí thức và lấy bà một phần cũng vì ông nghĩ bà là một người đàn bà thông minh và do đó thường bàn những chuyện quốc gia với bà. 

Theo những dư luận nội bộ, bà Nhu đã cố vấn Ông Diệm và ông Nhu về chuyện giữ vững lập trường chính trị trong những tình huống căng thẳng, như sau lần đảo chính hụt của Tướng Nguyễn Chánh Thi vào tháng 11 năm 1960.

(6) Tôi muốn biết thêm về bản thảo hồi ký của bà Nhu, có tựa là Caillou Blanc, hoặc Viên Sỏi Trắng, mà bà Nhu đã gửi cho chị qua email trước khi bà qua đời. Chị có phải là người duy nhất mà bà gửi gấm bản hồi ký này?
MD -Trước khi bà Nhu qua đời, bà có nói với tôi rằng bà cũng đã gửi bản hồi ký này cho một người đàn bà khác ở Pháp. Người này là bà Jacqueline Willmetz, con gái một người bạn cùng khóa với ông Nhu trong thời ông đi du học ở Paris trong thập niên 1930. Hai gia đình có sự giao hảo tốt đẹp qua nhiều năm. Sau cuộc đảo chính năm 1963, bà Nhu đã được gia đình bà Willmetz giúp đỡ nhiều về mặt tinh thần nên họ trở nên rất thân thiết và thăm viếng nhau thường xuyên. Những người con của bà Nhu cũng thường đi nghỉ hè với gia đình bà Willmetz.

(7) Như vậy ai là người có tác quyền xuất bản quyển hồi ký, vì bà Nhu đã gửi bản thảo này đến hơn một người? 

MD -Đó là một câu hỏi rất thú vị! Sau khi nhận được bản thảo hồi ký của bà Nhu vào năm 2011, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần, “Tôi sẽ làm gì với hồi ký này?” Tôi chỉ biết một điều là bản thảo này đã được bà Willmetz và các con của bà Nhu là Ngô Đình Quỳnh và Ngô Đình Lệ Quyên biên tập, với sự chấp thuận của bà Nhu trước khi bà qua đời. Quyển sách đã được xuất bản vào tháng 10 năm 2013 bởi nhà xuất bản L’Harmattan, với tựa La République du Vietnam et Les Ngo Dinhs: Suivi des mémoires posthumes de Madame Ngô-Ðình Nhu. Tôi nghĩ rằng nếu có nhu cầu, quyển sách này rồi cũng sẽ được dịch ra tiếng Việt, hay tiếng Anh.

(8) Chị có viết trong sách là chị bị hoang mang bởi nội dung bản thảo Caillou Blanc. Tại sao vậy? 

MD -Bản thảo Caillou Blanc có nhiều diễn giải liên hệ đến Thánh Kinh và những vấn đề tâm linh. Bà Nhu liên kết những chi tiết trong đời bà với vai trò của chồng và anh chồng là Ông Diệm – hai người mà bà coi như thánh tử đạo, cùng những quan hệ về niềm tin Công giáo của bà. Bản thảo có rất nhiều chú thích, đưa đến lập luận “tiền định” của bà, là lập luận về chuyện gia đình họ Ngô được Chúa chọn. Tôi không thấy hứng thú khi đọc những lập luận của bà Nhu về sứ mệnh luân lý và tôn giáo của gia đình họ Ngô. Người đọc cảm thấy như bị giảng đạo. Tôi nghĩ những kinh nghiệm cá nhân trong cuộc đời bà có lẽ cuốn hút hơn những suy luận siêu hình trong hồi ký.

(9) Bên cạnh bản hồi ký của bà Nhu còn có một quyển nhật ký tiếng Pháp, khoảng 300 trang, mà chị cũng đề cập trong quyển sách. Theo chị thì quyển nhật ký này có nhiều phần xác thực là của bà Nhu, với những ghi chép từ tháng Giêng năm 1959 tới tháng 6 năm 1963, trước khoảng thời gian bà và con gái lên đường sang Mỹ để phục hồi dư luận sau vụ “màn sư nướng.” Lúc sinh thời có bao giờ bà Nhu nói về quyển nhật ký này với chị?

MD - Không, tôi không biết gì về quyển nhật ký này cho tới hơn một năm sau khi bà Nhu qua đời. Lần đầu tiên tôi biết về sự hiện hữu của quyển nhật ký là vào tháng 8 năm 2012, khi Đại úy James Thạch, cựu quân nhân Mỹ gốc Việt chiến trường Iraq và A Phú Hãn, liên lạc với tôi.
 
(10) Đại úy Thạch đã liên lạc với chị bằng cách nào? 

MD - Đại úy James Thạch khám phá qua một tài liệu trên mạng là tôi đang viết một quyển sách về bà Nhu và từ đó đã liên lạc với tôi. Khi gặp tôi ông chỉ nói là ông đã có quyển nhật ký này từ lúc ông mới lớn, đã được trao đến tay ông từ những người trong gia đình trước đây làm việc trong Bộ An Ninh Cảnh Sát của miền Nam Việt Nam vào thời điểm 1963. Đại úy Thạchtin chắc rằng quyển nhật ký này là của bà Nhu. Ông không đọc được quyển nhật ký này vì ông không biết tiếng Pháp nhưng ông rất muốn được tôi kể lại những chi tiết trong đó. Ông rất tử tế vì đã cho phép tôi đọc quyển nhật ký này và ghi chép rất nhiều từ nó, trong hai buổi gặp gỡ cũng khá lâu.

(11) Đại úy Thạch cho chị mượn quyển nhật ký này mang về, hay ông đã ở bên cạnh chị khi chị đọc và ghi chép từ quyển nhật ký?
 
MD - Không, tôi không hề được mượn quyển nhật ký để mang về nhà đọc. Cả hai lần gặp mặt, Đại úy Thạch giữ khoảng cách vừa tầm mắt chỗ tôi ngồi đọc và ghi chép từ quyển nhật ký. Lần gặp đầu tiên chúng tôi tới một quán cà-phê Starbucks ở Queens, Nữu Ước. Lần thứ nhì chúng tôi tới một thư viện công cộng. Tôi bỏ ra khá nhiều thời gian đọc và chép từ quyển nhật ký. Ông Thạch rất kiên nhẫn trong lúc ngồi đợi tôi.

(12) Chị có nghĩ quyển nhật ký với tuổi đời gần 60 – mà theo chị thì đúng là nhật ký của bà Nhu – sẽ được đánh giá cao hơn quyển hồi ký của bà?
MD - Đó là một câu hỏi tuyệt vời, nhưng nó không cho người ta một câu trả lời dễ dàng. Quyển nhật ký của bà Nhu – hiện trong tay của Đại úy Thạch – cho ta một cái nhìn sống thực về những cảm nghĩ của bà trong quãng thời gian lịch sử đã qua. Sự thu hút của quyển nhật ký là do đặc điểm riêng tư, bộc bạch của nó và cũng vì nó chưa bao giờ được phổ biến trước công chúng. Nói cách khác, quyển nhật ký là một tài liệu nóng bỏng cho dù nó là một tiếng vọng từ quá khứ. 

Ngược lại, tôi thấy khó có thể hiểu hết những suy niệm mông lung về tôn giáo đã được bà viết trong hồi ký Viên Sỏi Trắng vào lúc cuối đời, khi bà muốn nương tựa vào một niềm tin tôn giáo. Tuy nhiên, giá trị lịch sử của hai tài liệu này cũng tùy vào khuynh hướng của người đọc. Có thể sẽ có một số người cảm nhận được những điều mới mẻ sâu xa trong hồi ký của bà. 

Đối với tôi, chìa khóa giúp tôi hiểu thêm về con người bà Nhu là cách hồi ký đã giải thích những đối thoại giữa tôi và bà Nhu trong quá khứ. Nó là tài liệu bổ sung cho nhiều điều mà bà đã đề cập qua điện thoại với tôi trước đây. Người đàn bà mà tôi đã quen biết trở thành thâm trầm hơn khi tôi đọc hồi ký của bà. Tôi cảm nhận phần nào khuynh hướng triết lý của bà về những sự việc đã xảy ra, hoặc tại sao chúng đã xảy ra. 

Cho nên, tóm tắt là cả hai tài liệu, hồi ký tâm linh và nhật ký của bà Nhu, đều phản ảnh con người của bà ở hai chặng đời khác biệt, và cả hai đều ích lợi cho mọi sử gia với tầm nhìn bao quát.

(13) Chuyện gì sẽ xảy ra cho quyển nhật ký? 

MD - Tôi không biết rõ những dự án của Đại úy Thạch về quyển nhật ký này, nhưng tôi biết có nhiều nơi muốn xác nhận và bảo tồn nó như một tài liệu lịch sử. [1] Tôi chỉ biết rằng Đại úy Thạch hiện đang nói chuyện với nhiều cơ quan hàn lâm và những viện lưu trữ tài liệu, và ông cũng nói với tôi về chuyện liên lạc với gia đình bà Nhu.

(14) Với sự xuất hiện của quyển Finding the Dragon Lady, chị có nghĩ bà Nhu sẽ được “tìm thấy” hoặc phục hồi trong cái nhìn của thế giới?

MD - Mục đích tôi viết quyển sách này không phải vì lý do phục hồi hay muốn vẽ lại một hình ảnh tốt đẹp hơn cho bà Nhu, nhưng một phần là để cho mọi người thấy sự bất công trong cách nhìn bà Nhu như một “Dragon Lady” mà không cần tra cứu hay phân tích vị trí xã hội của bà, cùng ảnh hưởng của bà trong bối cảnh lịch sử Việt Nam và Hoa Kỳ. Tôi cũng muốn cá nhân hóa những năm đầu tiên của cuộc chiến. Tôi thấy bà Nhu là một nhân vật đã làm sống động cả một thời đại bao la và đầy xáo trộn mà trong đó người Mỹ đã liên lụy vào nội bộ Việt Nam, đồng thời tại sao di sản chiến tranh Việt Nam vẫn còn ám ảnh chúng ta cho đến ngày hôm nay.
 
[1] Wikipedia đã thông báo rằng Thư viện Hoover và Kho Lưu Trữ tại đại học Standford, Bắc California, hiện đang thực hiện những bước đầu trong dự án xác nhận quyển nhật ký là tài liệu viết bởi chính tay của bà Nhu, http://en.wikipedia.org/wiki/Madame_Nhu

Blog Archive