Showing posts with label Tho. Show all posts
Showing posts with label Tho. Show all posts

Friday, August 14, 2026

DÂNG MẸ!

I. HT. THÍCH QUẢNG ĐỘ - MỘT BẬC CHÂN TU

HT. Thích Quảng Độ sanh năm 1928 tại Thái Bình, xuất gia từ thuở thiếu thời, và đã dành trọn cuộc đời mình cho con đường tu học, phiên dịch kinh điển và hoằng dương Phật Pháp.

Nhắc đến HT. Thích Quảng Độ, trước hết là nhắc đến một học giả uyên thâm, một dịch giả cần mẫn, người đã bỏ ra hàng chục năm trời để chuyển ngữ những bộ từ điển Phật học đồ sộ, những công trình nghiên cứu Phật giáo từ Hán văn sang tiếng Việt, mở ra một kho tàng tri thức quý báu cho các thế hệ tăng ni, Phật tử Việt Nam sau này.

Công việc của ngài đã tạo nền móng âm thầm cho việc học Phật của biết bao người. Lặng lẽ bên trang sách, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, ngài dịch từng chữ, chú từng nghĩa. Đây là hạnh nguyện của kẻ sĩ xuất trần mà rất hiếm người, đủ kiên nhẫn, đủ tâm lực để theo đuổi trọn vẹn như vậy.

Bên cạnh sự nghiệp trước tác và phiên dịch, ngài còn là một nhà thơ, một cây bút giàu cảm xúc. Ít ai ngờ rằng, đằng sau dáng vẻ nghiêm trang của một bậc cao tăng suốt đời gắn bó với kinh sách, lại ẩn chứa một tâm hồn thi sĩ mẫn cảm, biết rung động trước những điều bình dị của kiếp người. Bài thơ Dâng Mẹ mà chúng ta sẽ cùng đọc dưới đây, được viết vào mùa Vu Lan Quý Mão 1963, là một trong những minh chứng cảm động nhất cho điều mà tôi vừa đề cập.

Tôi có chủ ý không đi sâu vào những biến cố về sau trong cuộc đời ngài, mà chỉ xin dừng lại ở hình ảnh một vị tăng sĩ với tấm lòng hiếu đạo sâu nặng, với ngòi bút chan chứa ân tình, bởi chính tấm lòng ấy, ngòi bút ấy mới là điều mà bài thơ Dâng Mẹ muốn gửi gắm đến người đọc hôm nay.

Một bậc tu hành, dù đã lìa xa mái ấm gia đình để bước vào cửa Không, thì trong tâm khảm vẫn còn nguyên vẹn một người mẹ, một quê nhà, một nỗi nhớ không bao giờ nguôi. Chính điều đó làm cho hình ảnh HT. Thích Quảng Độ trở nên gần gũi và đáng kính, đáng trọng với chúng ta, những kẻ hậu bối của cõi nhân sinh hôm nay.

******
II. BÀI THƠ DÂNG MẸ

Bao năm rồi con lưu lạc ngàn phương
Con nhớ mẹ suốt canh trường khắc khoải
Ơn dưỡng dục, mẹ ôi, sao xiết kể
Công sinh thành con nghĩ, quặn lòng đau

Gốc mai già xơ xác đã từ lâu
Chơ vơ đứng giữa đường đời gió lộng
Dòng sông chảy, ấy đời con trong mộng
Lững lờ trôi, trôi mãi đến bao giờ

Có những đêm con thiêm thiếp trong mơ
Con mơ thấy hồn con về thăm mẹ
Được ấp ủ trong tình thương của mẹ
Mảnh hồn con ấm dịu biết bao nhiêu

Bốn phương trời con tìm kiếm đã nhiều
Nhưng không có một tình yêu của mẹ
Vu Lan đến cõi lòng con quạnh quẽ
Bóng người xưa như phảng phất đâu đây

Một chiều thu lạnh dâng bát cơm đầy
Tình nghĩa ấy, mẹ ôi, bao thấm thía
Phương trời này con ngậm ngùi rơi lệ
Đức cù lao muôn một trả chưa xong.
(Mùa Vu Lan Quý Mão 1963)

******
II.1. CÔNG SINH THÀNH CON NGHĨ, QUẶN LÒNG ĐAU

Bao năm rồi con lưu lạc ngàn phương
Con nhớ mẹ suốt canh trường khắc khoải
Ơn dưỡng dục, mẹ ôi, sao xiết kể
Công sinh thành con nghĩ, quặn lòng đau

Lưu là ở lại. Lạc là đi xa, trôi dạt, không ở đúng nơi mình sinh ra. Lưu lạc chỉ tình cảnh phải sống xa quê hương, xa gia đình, nay đây mai đó hoặc phiêu bạt ở nhiều nơi. Từ “lưu lạc” thường gợi cảm giác cô đơn, xa cách và nhớ quê.

“Bao năm rồi", gợi quãng thời gian đằng đẵng, có thể đo bằng cả tuổi trẻ, cả một đời tu hành xa xứ. “Ngàn phương", mở ra một không gian mênh mông, vô định, như chính con đường đạo mà hành giả đã chọn, rời bỏ mái nhà, dấn thân vào cõi vô thường để tìm cầu giải thoát.

Nhưng dấn thân vào con đường ấy không có nghĩa là cắt đứt cội nguồn - con nhớ mẹ suốt canh trường khắc khoải. “Canh trường" là khoảng thời gian ban đêm, trong đó, trường là dài, kéo dài, canh trường vì vậy, chỉ đêm dài, suốt một đêm dài đằng đẵng.

Khi vạn vật đã yên, chỉ còn lại vị hành giả ngồi đó, giữa tịch mịch, mà lòng vẫn không thôi khắc khoải nhớ về đấng sinh thành. Dù đã khoác áo cà sa, ngày ngày tụng kinh gõ mõ, thì trong những đêm khuya thanh vắng nhất, tâm thức người con vẫn quay về với hình bóng mẹ hiền.

Hai câu tiếp theo là lời than thở, tự trách - ơn dưỡng dục, mẹ ôi, sao xiết kể / công sinh thành con nghĩ quặn lòng đau. Công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, không thể lấy gì mà đền đáp cho vừa, cho đủ.

Ngữ "quặn lòng đau", là một cảm giác của thân thể. Nỗi đau như thắt lại trong ruột gan, khi nghĩ đến công lao trời biển mà mình chưa báo đáp được là bao.

******
II.2. LỮNG LỜ TRÔI, TRÔI MÃI ĐẾN BAO GIỜ

Gốc mai già xơ xác đã từ lâu
Chơ vơ đứng giữa đường đời gió lộng
Dòng sông chảy, ấy đời con trong mộng
Lững lờ trôi, trôi mãi đến bao giờ

Cảm xúc trực tiếp của khổ đầu, khi sang khổ thơ thứ hai này, đã được chuyển hóa thành hai hình ảnh biểu tượng - gốc mai già và dòng sông.

“Gốc mai già xơ xác” là hình ảnh ẩn dụ cho người mẹ đã già yếu, đang đứng "chơ vơ giữa đường đời gió lộng" - đơn độc và mong manh xiết bao giữa phong ba của cuộc sống, không có ai kề cận chở che.

“Gốc mai già xơ xác” này, cũng có thể hiểu theo một nghĩa khác, đó chính là hình ảnh của cuộc đời hành giả, giữa cô liêu, giữa phong trần mà vẫn kiên cường chịu được gió bão.

Dòng sông chảy, ấy đời con trong mộng - đời vị hành giả, nơi đất khách, được ví như một dòng sông - lững lờ trôi, trôi mãi đến bao giờ. Câu thơ chất chứa, không chỉ sự mơ hồ về tương lai mà còn là nỗi ngậm ngùi trước thế sự vô thường.

Hành giả thấu hiểu lẽ này hơn ai hết. Nhưng thấu hiểu bằng lý trí là một chuyện, còn cảm nhận bằng trái tim con người lại là một chuyện khác. Câu thơ vì vậy, vừa là suy niệm về dòng đời trôi nổi theo tinh thần nhà Phật, vừa là tiếng thở dài trước sự xa xôi, cách trở, nhớ nhung của con và mẹ, đến câu hẹn ngày về cũng không thể.

******
II.3. MẢNH HỒN CON ẤM DỊU BIẾT BAO NHIÊU

Có những đêm con thiêm thiếp trong mơ
Con mơ thấy hồn con về thăm mẹ
Được ấp ủ trong tình thương của mẹ
Mảnh hồn con ấm dịu biết bao nhiêu

Khi thực tại không cho phép con trở về thăm mẹ, thì giấc mơ trở thành cây cầu duy nhứt nối liền hai chốn cách xa - có những đêm con thiêm thiếp trong mơ. “Thiêm thiếp" là trạng thái ngủ rất nhẹ, lơ mơ, chập chờn, không sâu, nửa tỉnh nửa ngủ, để rồi khi vừa thiếp đi, hồn đã vội vã "về thăm mẹ".

Thân của hành giả có thể bị ràng buộc bởi hoàn cảnh, bởi đạo nghiệp, bởi khoảng cách địa lý, nhưng tâm hồn thì không biên giới nào ngăn được. Nơi giấc mơ ấy, hành giả lại - được ấp ủ trong tình thương của mẹ - như thuở còn thơ dại.

Câu thơ cuối - mảnh hồn con ấm dịu biết bao nhiêu - là một câu cảm thán đầy xúc động, khiến người đọc như cảm nhận được hơi ấm của tình mẫu tử, lan tỏa ngay trên trang giấy thơ thơm tho, hiền hòa, lai láng tình con và mẹ.

******
II.4. BÓNG NGƯỜI XƯA NHƯ PHẢNG PHẤT ĐÂU ĐÂY

Bốn phương trời con tìm kiếm đã nhiều
Nhưng không có một tình yêu của mẹ
Vu Lan đến cõi lòng con quạnh quẽ
Bóng người xưa như phảng phất đâu đây

Khắp bốn phương trời, con người có thể tìm được bạn hữu, tri kỷ, có thể tìm được danh vọng, tìm được đạo quả, nhưng tình yêu của mẹ thì không thể, bởi đó là thứ tình cảm chỉ có một lần, gắn với một người duy nhứt trong đời.

Mùa Vu Lan, mùa báo hiếu lại về. Nhưng thay vì mang đến niềm vui sum họp, thì mùa Vu Lan của vị hành giả lúc này lại khiến - cõi lòng con quạnh quẽ - hơn bao giờ hết. Trong ngày lễ tri ân cha mẹ này, người con xa xứ Thích Quảng Độ càng thấm thía nỗi trống vắng của sự chia lìa.

Bóng người xưa như phảng phất đâu đây - là một hình ảnh vừa hư vừa thực. Mẹ như đang hiện diện đâu đó trong không gian tưởng niệm, trong tâm tưởng người con.

Nỗi nhớ mẹ, giờ đây, đã trở nên khắc khoải hơn bao giờ hết, đến người đọc thơ như tôi, cũng cảm thấy nao lòng.

******
II.5. ĐỨC CÙ LAO MUÔN MỘT TRẢ CHƯA XONG

Một chiều thu lạnh dâng bát cơm đầy
Tình nghĩa ấy, mẹ ôi, bao thấm thía
Phương trời này con ngậm ngùi rơi lệ
Đức cù lao muôn một trả chưa xong.

Đẹp nhứt với tôi, lay động nhứt trong tôi, chính là câu thơ mở đầu trong khổ thơ cuối cùng này - một chiều thu lạnh dâng bát cơm đầy.

Bát cơm - thứ gắn liền với sự sống của con người, gắn liền với công ơn nuôi dưỡng trời bể của mẹ cha từ thuở lọt lòng. Trong cái lạnh của chiều thu nơi đất khách, bát cơm ấy, với vị tu sĩ, như gợi lại cả một trời kỷ niệm về bàn tay mẹ, về mái nhà xưa, khiến - tình nghĩa ấy, mẹ ôi, bao thấm thía.

Và rồi, giữa "phương trời này," người con không kìm được nữa mà "ngậm ngùi rơi lệ." Giọt nước mắt lăn ra, rồi rơi xuống, là sự trào dâng tự nhiên của một tấm lòng hiếu thảo đã dồn nén suốt bao tháng năm cách xa đằng đẵng.

Nên - đức cù lao muôn một trả chưa xong - đã trở thành lời hối lỗi của một người con luôn cảm thấy mình chưa làm tròn đạo hiếu, đạo của kẻ làm con. Công ơn cha mẹ, dù có báo đáp trọn đời, cũng khó lòng đền ơn trọn vẹn.

******
III. MỘT CHIỀU THU LẠNH DÂNG BÁT CƠM ĐẦY

Dâng Mẹ không chỉ là một bài thơ ghi lại tâm sự riêng của một vị tăng sĩ trong một mùa Vu Lan nhất định, mà Dâng Mẹ còn là mạch nguồn cảm xúc, mang tính phổ quát.

Trong truyền thống văn học Việt Nam, hình ảnh người mẹ và đạo hiếu luôn là một đề tài lớn, trở đi trở lại qua nhiều thế hệ thi nhân, từ câu ca dao "công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” cho đến những tác phẩm văn chương sau này như tuyệt phẩm Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu, hay Bông Hồng Cài Áo của ngài Thích Nhất Hạnh.

Dâng Mẹ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã tiếp nối mạch nguồn ấy trong một sắc thái riêng, đó là tiếng lòng của một người đã chọn con đường xuất thế, nhưng vẫn không rời bỏ cội rễ nhập thế sâu xa nhất - tình mẫu tử.

Theo tôi hiểu, Phật giáo Việt Nam không quan niệm, đi tu là dứt bỏ tình thân, mà là chuyển hóa tình thân ấy thành động lực tu tập, thành tâm nguyện hồi hướng công đức cho cha mẹ, cho chúng sinh.

Vu Lan là mùa lễ, bắt nguồn từ tích Bồ Tát Mục Kiền Liên cứu mẹ, được ghi lại trong kinh Vu Lan Bồn. Từ tích truyện ấy, đạo hiếu trong Phật giáo không dừng lại ở sự phụng dưỡng vật chất, mà còn được nâng lên thành sự báo hiếu bằng đời sống tu tập, bằng công đức hồi hướng.

Trong Dâng Mẹ, người con tuy không thể ở bên chăm sóc mẹ theo lẽ thường tình, nhưng cả đời tu hành, cả những dòng thơ chan chứa nước mắt, đều là một cách "dâng" lên mẹ những gì quý giá nhứt mà người con có được.

Dâng Mẹ cũng chạm đến chủ đề vô thường và nỗi cô đơn của kiếp người. Hình ảnh "dòng sông chảy" trôi mãi không ngừng, hình ảnh "gốc mai già xơ xác" đứng giữa “đường đời gió lộng”, đều gợi nhắc về tính chất mong manh, biến đổi không ngừng của cuộc sống - một chủ đề trung tâm trong tư tưởng nhà Phật.

Nhưng khác với nhiều áng thơ thiền mang tính chiêm nghiệm duy lý, Dâng Mẹ lại thấm đẫm hơi ấm của tình cảm con người. Dâng Mẹ cho ta thấy rằng, giác ngộ lẽ vô thường không đồng nghĩa với sự dửng dưng, lạnh nhạt mà trái lại, càng thấu hiểu vô thường, người ta càng nâng niu hơn bao giờ hết những giây phút được yêu thương, được gắn bó với những người thân yêu trong cõi tạm này.

Dâng Mẹ, vì vậy, không chỉ có giá trị với riêng Phật tử hay người mến mộ đạo Phật. Bất kỳ ai, dù theo tín ngưỡng nào, dù ở phương trời nào, từng có một lần xa nhà, từng có một đêm trằn trọc nhớ về quê cũ, đều có thể tìm thấy chính mình trong từng câu, từng chữ của bài thơ này.

Dâng Mẹ đã vượt qua ranh giới tôn giáo, ranh giới thời đại, để chạm đến một điều mà mọi trái tim đều chất chứa - lòng biết ơn và nỗi nhớ thương dành cho đấng sinh thành.

******
IV. PHƯƠNG TRỜI NÀY CON NGẬM NGÙI RƠI LỆ

Dâng Mẹ không mang đến cho chúng ta một triết lý cao siêu, mà mang đến cho chúng ta hình ảnh giản dị, chân thực của một người con. Dù đã khoác áo tu hành, dù đã bước những bước dài trên con đường giác ngộ, vị hành giả ấy vẫn không nguôi ngoai nỗi nhớ về người mẹ hiền nơi quê cũ.

Đạo hiếu - đạo lý căn bản và thiêng liêng nhất của con người, đã được thể hiện bởi một người, vừa ở vị trí xuất gia tu hành, vừa ở vị trí làm con, rất yêu thương và biết ơn mẹ.

Điều khiến tôi cảm động nhứt mỗi khi đọc lại bài thơ này, đó chính là hình ảnh của một bậc chân tu, người đã lìa xa những ràng buộc thế tục để tìm cầu chân lý, với những giọt nước mắt lã chã rơi xuống trong một chiều thu lạnh vì nhớ mẹ.

Tu hành không phải là chối bỏ tình cảm, mà là biết ơn sâu sắc gốc rễ đã sinh thành và nuôi dưỡng mình, để rồi mang tấm lòng hiếu đạo ấy mà chuyển hóa thành lòng từ bi rộng lớn hơn, dành cho tất cả chúng sinh - những người, xét cho cùng, ai cũng từng là con, từng có một người mẹ để thương, để nhớ.

Đã đúng sáu mươi ba năm trôi qua, kể từ mùa Vu Lan Quý Mão năm ấy, nhưng mỗi lần đọc lại Dâng Mẹ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ, tôi tin, người đọc hôm nay vẫn cảm nhận được vẹn nguyên hơi ấm của một tấm lòng con thảo.

Dâng Mẹ không chỉ là một áng thơ hay để thưởng thức, mà còn là một nén tâm hương để mỗi người, dù đang ở phương trời nào, dù còn hay đã mất mẹ, cùng lặng lòng mà tưởng nhớ, mà tri ân đấng sinh thành, như chính người đã viết nên những dòng thơ thấm đẫm nước mắt ấy, giữa một chiều thu xa xứ, cách đây đã hơn nửa thế kỷ.

Sài Gòn 14.08.2026
Phạm Hiền Mây

Wednesday, July 22, 2026

NGUYỄN TẤT NHIÊN - THI SĨ TÀI HOA BẠC MỆNH…

Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm.

Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài Vì tôi là linh mục tuyệt hay: 

“Vì tôi là linh mục/ Giảng lời tình nhân gian.../ Một tín đồ duy nhất/ Đã thiêu hủy lầu chuông…/ Vì tôi là linh mục/ Không biết rửa tội người/ Nên âm thầm lúc chết/ Tội mình còn thâm vai”…

Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.

Đòi nhuận bút những bài thơ phổ nhạc:

Tôi quen Nguyễn Tất Nhiên khoảng đầu năm 1971, khi Nhiên đến tòa soạn tặng tôi tập thơ Thiên tai. Sau đó tôi thường gặp Nhiên ở nhà Du Tử Lê. Gọi là nhà nhưng đó chỉ là một căn phòng nhỏ trong cư xá Bưu Điện, đường Hồng Thập Tự, nơi vợ chồng Du Tử Lê thuê ở tạm trong thời gian chờ mua nhà ở làng báo chí. Căn phòng chỉ rộng chừng vài chục mét vuông mà chị Thụy Châu, vợ Du Tử Lê, vừa làm nơi nấu nướng, ăn ngủ, tiếp khách. Vậy mà mỗi lần Nhiên đến ngủ lại, chiếm cái bàn viết của anh Lê, ngồi làm thơ, cả đêm uống trà, cà phê, hút thuốc khói bay mù mịt cả căn phòng.

Theo lời Du Tử Lê thì anh là người chọn và đưa những bài thơ Nguyễn Tất Nhiên cho Phạm Duy phổ nhạc. Nổi tiếng nhưng Nhiên vẫn nghèo kiết xác. Rồi không biết ai “xúi” Nhiên đòi Phạm Duy trả tác quyền mấy bài thơ phổ nhạc bởi Nhiên khá ngây thơ, chẳng quan tâm chuyện gì ngoài chuyện làm thơ.

Về sau tôi mới biết là do Lê Cung Bắc. Lê Cung Bắc kể chuyện anh quen Nhiên: Một lần anh đến Biên Hòa, vừa xuống xe thì có một thanh niên cao, gầy, rất lãng tử bước đến hỏi: “Có phải anh là Lê Cung Bắc?”, Bắc gật đầu. Lê Cung Bắc bấy giờ là diễn viên kịch tên tuổi, thường xuất hiện trên truyền hình nên nhiều người biết. Chàng thanh niên tự giới thiệu là Nguyễn Tất Nhiên. Bắc đã đọc và thích thơ Nhiên nên từ đó hai người thân với nhau. Biết được chuyện Phạm Duy phổ nhạc thơ Nhiên nhưng không hỏi và cũng không trả đồng nhuận bút nào, Lê Cung Bắc bèn đưa Nhiên đến gặp Chu Tử, chủ bút nhật báo Sóng Thần, bởi Bắc có tên trong nhóm chủ trương báo này.

Nhà văn Chu Tử, tác giả những tiểu thuyết nổi tiếng Sống, Yêu, Ghen, Loạn… cùng gốc người Bắc và cũng trạc tuổi Phạm Duy, vốn không ưa Phạm Duy nên ông “phang” ngay một bài khá cay trên mục Ao thả vịt của ông!

Một thời gian sau tôi thấy Nguyễn Tất Nhiên chạy một chiếc xe Honda nữ còn mới, nhìn rất tức cười. Bởi chiếc xe dành cho nữ khá thấp trong khi Nhiên cao lều khều, người gầy, chân tay dư thừa lòng khòng. Nhiên bảo tiền nhuận bút thơ mình Phạm Duy phổ nhạc đấy. Tôi cũng không hỏi thêm Phạm Duy trả hay ai trả và trả bao nhiêu.

Sau này, khoảng cuối năm 1974, khi tôi gặp Phạm Duy trong lần ông lên Buôn Ma Thuột trình diễn chung với một ca sĩ du ca nổi tiếng người Mỹ, tôi hỏi chuyện này, Phạm Duy bảo chắc người in nhạc ông trả chứ ông đâu biết mặt mũi Nguyễn Tất Nhiên ra sao đâu!

Vẫn lơ ngơ chân không chạm đất:

Sau ngày 30-4-1975 vài tháng, Nguyễn Tất Nhiên từ Biên Hòa xuống Sài Gòn thăm tôi. Nhiên gầy hơn, cao lêu nghêu và đen nhẻm. Vẫn đôi dép lẹp xẹp, áo bỏ ngoài quần, trông còn lè phè hơn xưa. Nhiên bảo lúc này làm việc ở Hợp tác xã Xe lam. Bữa nay được nghỉ, Nhiên đi Sài Gòn mua ít đồ, tiện ghé thăm tôi.

Tối đó Nhiên ở lại, hai thằng ngồi lai rai hết mấy xị đế ở hành lang căn gác tôi ở trọ. Và cùng ngủ ngồi bởi nơi tôi ở ghép trên đường Nguyễn Huỳnh Đức (Phú Nhuận) nhà chật chội, khá đông người, không có chỗ cho hai đứa.

Từ đó, tôi không gặp Nhiên. Khoảng đầu những năm 1980, tôi nghe tin Nhiên vượt biên, sang định cư ở Pháp, rồi sau lại nghe Nhiên sang Mỹ.

Nhiên lấy vợ tôi không hay, nhưng tin Nhiên mất tới tôi rất nhanh, qua một người bạn từ Mỹ về báo.

Mãi đến năm 2014 tôi qua Mỹ mới được nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ và đạo diễn Nguyễn Hoàng Nam, em trai Nguyễn Tất Nhiên, đưa tôi đến thăm mộ Nhiên. Không tìm đâu ra nén nhang, tôi xin Nguyễn Lương Vỵ điếu thuốc, đốt gắn trên mộ bạn nằm dưới bóng cổ thụ trong Vườn Vĩnh Cửu, nghĩa trang Westminster, California tĩnh mịch, yên bình.

Những câu thơ tiên tri về bi kịch cuộc đời:

Tôi được nghe kể lại, thời gian sau khi ly hôn Nguyễn Tất Nhiên sống cô độc trên chiếc xe hơi cũ, lang thang vô định. Trong xe của Nhiên lúc nào cũng có một bịch khoai tây sống để ăn tạm khi đói. Rồi một ngày người ta tìm thấy anh nằm chết trên xe đậu trong sân một ngôi chùa. Tôi nghe mà lòng nghẹn đắng, thương bạn. Tôi nhớ bạn tôi vốn có nét mặt khắc khổ, ít khi thấy hắn cười, có cười thì nụ cười méo xệch. Thơ cũng như người. Thơ Nguyễn Tất Nhiên khi trẻ là những bài thơ thất tình đã được Phạm Duy phổ nhạc.

Nhân vật Duyên trong Khúc tình buồn là một bạn học lớp đệ ngũ, đệ tứ (lớp 8, lớp 9) khi mới 14-15 tuổi. Cô Bùi Thị Duyên hiện định cư ở Michigan, Hoa Kỳ. Cô cho biết chỉ là bạn học thôi nhưng Hải (NTN) thích và làm thơ tặng thì mình nhận. Nhưng vẫn thường nói với Hải bấy giờ mình mãi mãi chỉ là bạn thôi. Và Hải cũng gật đầu.

Khi lớn hơn một chút, thơ Nguyễn Tất Nhiên bi thiết não lòng. Khi mới hai mươi, Nguyễn Tất Nhiên đã có những câu thơ định mệnh: 

Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ/ Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian/ Phải đau theo từng hớp rượu tàn/ Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định…” (Giữa trần gian tuyệt vọng, 1972).

Bốn câu thơ này được khắc trên mộ bia Nguyễn Tất Nhiên. Cả bài thơ tặng sinh nhật vợ sắp cưới cũng là những vần thơ sầu thảm như một lời tiên tri về những bi kịch sẽ đến: 

Khổ đau oằn nặng sinh thời/ Yêu ai tôi chỉ có lời thở than…/ Lôi người té sấp, gian nan/ Lỗi tôi, ừ đó, muôn phần lỗi tôi!”.

Minh khúc 90, Nguyễn Tất Nhiên làm sau khi ly hôn, nhiều câu đọc lên mà nghe nhói lòng: 

Đường không gian - đã phân ly/ Đường thời gian - đã một đi không về/ Những con đường mịt sương che/ Tôi vô định lái chuyến xe mù đời/ Cu Tí ngủ gục đâu rồi?/ Băng sau nhìn lại bời bời nhớ con...”. 

Những câu thơ xé lòng của một thi sĩ đi đến tận cùng nỗi bi thiết.

Chuyện cái bút danh:

Về chuyện bút danh Nguyễn Tất Nhiên, sau này tôi nghe nói sau khi Nhiên chết, ở Mỹ có người bàn tán về cái bút danh ngộ nghĩnh Nguyễn Tất Nhiên. Chính Nguyễn Tất Nhiên kể với tôi là khoảng năm 1969, lần đầu gặp Du Tử Lê, nhà thơ thần tượng của anh bấy giờ, tại quán Cái Chùa (La Pagode), Sài Gòn, anh rụt rè hỏi: “Cái bút hiệu Hoài Thi Yên Thi bạn em bảo hơi “sến” phải không anh?”. Du Tử Lê buột miệng: “Tất nhiên”. Rồi hỏi: “Họ Nguyễn hả?”. Hải gật đầu. Du Tử Lê bảo: “Thì lấy Nguyễn Tất Nhiên đi!”.

Và từ đó, bút danh Nguyễn Tất Nhiên đi theo anh đến hết cuộc đời như một định mệnh nghiệt ngã. Khởi đầu từ tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970 đến khi thi sĩ nằm chết lặng lẽ trong chiếc xe hơi cũ ở sân chùa, khu Garden Grove, California mùa thu năm 1992, ở tuổi 40.

03/06/2017 
PHẠM CHU SA



Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên(thứ hai từ trái qua) và các bằng hữu tại tư gia ở Westminster, Hoa Kỳ:



Saturday, June 6, 2026

Nguyễn Đính Trần Vàng Sao

1* ĐƯỢC SAY THUỐC LÀO NGẤT NGÂY.

PGS.TS Hồ Thế Hà, giảng viên khoa ngữ văn Trường ĐH Khoa học Huế, nhận định: "Bài thơ này là sự hóa giải cho chính nhà thơ và cho mọi người về một tình yêu có sức ám ảnh lớn: Tình yêu Tổ quốc. 

“Bài thơ của một người yêu nước mình” là điển hình cho phong cách thơ Trần Vàng Sao. Vì vậy, nhiều người cho rằng nếu chỉ chọn một bài của Trần Vàng Sao thì chắc chắn phải là “Bài thơ của một người yêu nước mình” này.

...Đất nước này còn chua xót
Nên trông ngày thống nhất
Cho bên kia không gọi bên này là người miền Nam
Cho bên này không gọi bên kia là người miền Bắc
Lòng vui hôm nay không thấy chật
Tôi yêu đất nước này chân thật
Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi
Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi
Và yêu tôi đã biết làm người
Cứ trông đất nước mình thống nhất

2* DẬP ĐIẾU CÀY.

Cách đây 8 năm cái người làm thơ ở thôn Vỹ Dạ, Huế đã âm thầm đi gặp ông cố nội cộng sản ngày 9-5-2018. Người đó là Nguyễn Đính Trần Vàng Sao.

Nhà thơ Uyên Vũ nhận xét về ngôi sao vàng rụng cánh này :

“Từ một nhà thơ dùng tên lá cờ làm bút hiệu, ông đã bị đấu tố, bị coi là kẻ phản động, nói xấu lãnh tụ, đả kích chế độ. Ông đã bị trù dập, cô lập, và bị hành hạ đến sống dở chết dở trở thành một kẻ bị mọi người khinh bỉ, xa lánh, tàn tệ đến mức, như ông kể, ai cũng gọi ông là “hắn” hay “thằng Đính”, chỉ có “một thằng bé bị thần kinh gọi tôi bằng chú”.

Nguyễn Đính, sinh năm 1942 ở Huế. Năm 1962 đỗ tú tài rồi dạy học ở Truồi, tham gia các phong trào đấu tranh của sinh viên cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Hiếu Đằng. Vào 1965 trèo núi băng rừng trốn theo việt cọng, chiến đấu và làm thơ ca ngợi Đảng. Năm 1970 bị thương được đưa ra Miển Bắc chửa trị và an dưỡng. Chính ở cái hậu phương xhcn được nhất ừng vạn hô là kiêu hùng này “người làm thơ yêu nước mình” mới thấy rõ bầy sâu cọng sản bò lúc nhúc để biết mình đã bị lừa.

Nhà thơ Ngô Minh, bạn của TVS kể : Trong thời gian chữa bệnh anh có một cuốn sổ ghi nhật ký và những bài thơ mới viết của mình. Ai dè có người đọc được liền lấy cắp cuốn sổ và báo cáo với cấp trên. Thế là “người yêu nước mình” thành tên phản động.

Lữ Phương ( Lê Văn Phuơng, sinh 1938, tốt nghiệp Ðại học sư phạm Sài Gòn năm 1960, viết nhận định chính trị của tạp chí Tin Văn ở Sài Gòn. Năm 1968, ra bưng, giữ chức vụ thứ trưởng văn hóa Chính phủ cách mạng lâm thời. Sau 1975, Hà Nội vắt chanh bỏ vỏ, dẹp bỏ phuờng chèo MTGPMN, Lữ Phương làm ở Bộ văn hóa, Hà Nội 2 năm, rồi trở lại sống ở hcm, năm 1999 bỏ Đảng ) đã viết trong Lời Giới thiệu “Hồi ký Tôi bị bắt” của Trần Vàng Sao :

“Tài liệu mà tôi gởi tới độc giả sau đây là một tập hồi ký, dày 134 trang A4 đánh máy vi tính chữ nhỏ xuất hiện dưới hình thức samizdat được photocopy (thứ văn chương chuyền tay khá phong phú ở Việt nam sau những năm “đổi mới”) cách đây có hơn 10 năm. 

Tác giả của nó là Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Ðính), một người làm thơ ở miền Nam, nhưng vào những năm 60 của thế kỷ trước, đã cùng với nhiều bạn bè đồng lứa đứng lên chống lại chế độ chính trị của miền Nam lúc đó bằng cách “đi lên núi” để cuối cùng, sau khi thoát khỏi bom đạn Mỹ, anh đã vướng vào một tai họa cực kỳ tệ hại.

Cuốn hồi ký này kể lại cái tai họa đó khi từ chiến khu, anh được đưa ra miền Bắc trị bệnh. Ở nơi đây sau một thời gian quan sát, anh đã ghi lại những suy nghĩ của mình về cái gọi là “hậu phương xã hội chủ nghĩa“ đó bằng nhật ký và chính vì những suy nghĩ ghi thành chữ viết này anh bị các đồng chí của mình truy bức, nguyền rủa, phỉ nhổ, cô lập đến chỗ như anh cho biết anh không còn được coi là con người mà đã thành “một con vật, một con chó”.

Trần Vàng Sao kể lại chuyện bị đấu tố trong “Hồi ký Tôi bị bắt” :

… Tôi uống nước và ngó ra ngoài cửa sổ. Trời khô và lạnh. Không khí bắt đầu căng thẳng. Trên mặt của họ đã lộ vẻ căm tức. Họ không còn bất động nữa. Tiếng giày dép kéo trên sàn nhà, tiếng áo quần xát trên ghế, chân ghế đụng chân bàn. Bọn họ xoay người, nghiêng ngửa, đổi thế ngồi, chống tay lên cằm, cắn môi, cắn ngón tay, đẩy gương sát vào mắt, đẩy tách nước ra xa, bẻ ngón tay.

Ông tên Lai, chắc ông ta là trưởng đoàn của đoàn người tra khảo tôi, nói:
- Tôi biết hiện nay anh đang nghĩ gì về chúng tôi. Tôi biết những gì đang chứa trong đầu óc của anh. Tôi nói thẳng anh là một tên phản động, chống Ðảng. Anh căm thù chúng tôi, căm thù Chủ Nghĩa Xã Hội, căm thù chế độ này. Anh đang âm mưu lật đổ chế độ này. Có phải chính anh đã kêu gọi biểu tình, viết báo chữ to lật đổ chế độ này hay không? Anh sợ? Anh chối à? Nói đi, nói đi, có phải không?

Ông ta chồm người ra trước dằn giọng:
- Đây, đây này, anh đòi bắn, đòi treo cổ tất cả bọn chúng nó, đã đến lúc phải biểu tình, viết báo chữ to tố cáo tội ác của chúng nó.

Ông ta dừng lại, bỏ kính cuống bàn nghe cái cạch:
- Có phải anh đã viết trong nhật ký như thế không?
- Tôi không nhớ
- Anh viết mà anh lại không nhớ à?
- Làm sao tôi nhớ hết những gì tôi viết”.

Cái ông trẻ dưới bốn mươi tuổi đứng dậy xoay người ra phía sau lấy cái cặp da để đứng dưới sàn nhà. Cái cặp đã mở sẵn. Ông ta xây lưng về phía tôi rồi rút ra một tờ giấy đưa ra trước mặt tôi:

- Cái gì đây? Có phải chữ của anh không?
- Phải

Ðó là bức ảnh chụp một trang nhật ký của tôi, khổ bằng tờ giấy kẻ ngang. Ðến lúc này tôi mới biết là toàn bộ nhật ký của tôi đã bị chụp ảnh trong thời gian tôi về bệnh viện E2 để kiểm tra sức khỏe là một sự xếp đặt của Ban Thống Nhất Trung Ương, Cục đón tiếp cán bộ B và Cục 78.

Ông Lai nói:
- Anh hết chối chưa. Mọi người ở đây đều đã biết trước sự việc sẽ diễn tiến ra sao rồi. Tối hôm qua họ đã họp với nhau bàn kế hoạch: Tại sao anh lại đòi bắn, đòi treo cổ? Bắn ai, treo cổ ai? Nói đ.

Tôi nói:
- Tôi đòi bắn tất cả những kẻ nào, người nào đã ăn đường, sữa, tã lót của trẻ con, ăn hòm, vải liệm của người chết, những kẻ đã đẩy con dân vào chiến trường còn con cháu họ thì qua Liên Xô, Bulgari, Hungari,…

- Anh đòi bắn cả Trung Ương Ðảng kia mà
- Nếu trong Trung Ương Ðảng, trong chính phủ có người nào đã ăn như thế, theo tôi, đều đem bắn được hết!”
- Anh lại còn kêu gọi biểu tình?
- Tôi đâu có kêu gọi ai. Tôi nói là đã đến lúc phải làm như thế
- Vì sao lại viết báo chữ to?
- Viết báo chữ to để mọi người cùng biết
- Mọi người là ai?
- Là Nhân dân
- Nhân dân, hừ.

Một ông chỉ vào mặt tôi:
- Nhân dân, anh làm gì có nhân dân. Nhân dân theo Ðảng làm cách mạng, đổ xương, đổ máu để có được như ngày hôm nay. Nhân dân của anh là nhân dân kiểu Mỹ Ngụy. Anh là kẻ thù của nhân dân thì có!…(Hết trích)

Karl Marx :”Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh” nên Trần Vàng Sao cần Chưởi và phải Chưởi

Son Le

***
Tau Chưởi

tau tức quá rồi
tau chịu không nổi
tau nghẹn cuống họng
tau lộn ruột lộn gan
tau cũng có chân có tay
tau cũng có đầu có óc
có miệng có mắt
có ông bà
có cha mẹ
có vợ con có ngày sinh tháng đẻ
có bàn thờ tổ tiên một tháng hai lần
rằm mồng một hương khói bông ba hoa quả
tau đầu tắt mặt tối
đổ mồ hôi sôi nước mắt
vẫn đồng không trự nõ có
suốt cả đời ăn tro mò trú
suốt cả đời khố chuối Trần Minh
kêu trời không thấu
tau phải câm miệng hến
không được nói
không được la hét
nghĩ có tức không
tau chưởi
tau phải chưởi
tau chưởi bây
tau chưởi thẳng vào mặt bây
không bóng không gió
không chó không mèo
mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước
giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây
đặng nghe tau chưởi
tau kêu thằng khai canh khai khẩn tam đợi mười đời
cao tằng cố tổ ông nội ông ngoại cha mẹ chú bác cô dì
con cháu thân hơi cật ruột bây tau chưởi
tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống
hết nối dõi tông đường
tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp
tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu
tam giáo đạo sư bây
cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây
hà hơi trún nước miếng cho bây
bây ỉ thế ỉ thần
cậy nhà cao cửa rộng
cậy tiền rương bạc đống
bây ăn tai nói ngược
ăn hô nói thừa
đòn xóc nhọn hai đầu
ngậm máu phun người
bây bứng cây sống trồng cây chết
vu oan giá hoạ
giết người không gươm không dao
đang sống bây giả đò chết
người chết bây dựng đứng cho sống
bây sâu độc thiểm phước
bây thủ đoạn gian manh
bây là rắn
rắn
toàn là rắn
như cú dòm nhà bệnh
đêm bây mò
ngày bây rình
dưới giường
trên bàn thờ
trong xó bếp
bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật lúc bây giả
khi bây ẩn khi bây hiện
lúc người lúc ma
lúc lên tay múa ngón sủi bọt mép gào thét
lúc trợn mắt khua môi múa mỏ đả đảo muôn năm
lúc như thầy tu vào hạ
lúc như con nít đói bụng đòi ăn
hai con mắt bây đứng tròng
bây bắt hết mọi người trước khi chết phải hô
cha mẹ bây ông nội ông ngoại bây tiên sư cố tổ bây
sống dai đời đời kiếp kiếp
phải quỳ gối cúi đầu
nghe bây nói không được cãi
phải suốt đời làm người có tội
vạn đợi đội ơn bây
đứa nào không nghe bây hớt mỏ chôn sống
thằng nào không sợ bây vằm mặt thủ tiêu
bây làm cho mọi người tránh nhau
bây làm cho mọi người thấy nhau nhổ nước miếng
đồ phản động
đồ chống đối
đồ không đá bàn thờ tổ tiên
đồ không biết đốt chùa thiêu Phật
thượng tổ cô bà bây
mụ cô tam đợi mười đời bây
tau xanh xương mét máu
thân tàn ma dại
rách như cái xơ mướp chùi trách nồi không sạch
mả ông bà cố tổ bây kết hết à
tụi bây thằng nào cũng híp mắt hai cằm
bây ăn chi mà ăn đoản hậu
ăn quá dã man
bây ăn tươi nuốt sống
mà miệng không dính máu
người chết bây cũng không chừa
năm năm mười năm hai mươi năm
xương chân xương tay sọ dừa vải liệm
bây nhai bây khới bây mút
cả húp cả chan bây còn kêu van xót ruột
bao nhiêu người chết diều tha quạ rứt xương
khô cốt tàn dọc bờ dọc bụi giữa núi giữa rừng
để bây xây lăng đắp mộ dựng tượng dựng đài cho
cha mẹ cố tổ bây
hỡi cô hồn các đảng
hỡi âm binh bộ hạ
hỡi những kẻ khuất mặt đi mây về gió
trong am trong miếu giữa chợ giữa đường
đầu sông cuối bãi
móc họng bóp cổ móc mắt bọn chúng nó
cho bọn chúng nó chết tiệt hết cho rồi
bây giết người như thế
bây phải chết như thế
ác lai thì ác báo
tau chưởi ngày chưởi đêm
mới bét con mắt ra tau chưởi
chập choạng chạng vạng tau chưởi
nửa đêm gà gáy tau chưởi
giữa trưa đứng bóng tau chưởi
bây có là thiền thừ mười tám con mắt tau cũng chưởi
mười hai nhánh họ bây
cao tằng cố tổ bây
tiên sư cha bây
tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén
xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng
tau chưởi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ
mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm
tau chưởi cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc
đoạ xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu
tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàn
đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ
bốc đất mà ăn xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra
cũng phải tránh xa
tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn
sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn
chết không được mà sống cũng không được
tau chưởi cho dứt nọc dòng giống của bây cho bây chết sạch hết
không bà không con
không phúng không điếu
không tưởng không niệm
không mồ không mả
tuyệt tự vô dư
tau chưởi cho bây chết hết
chết sạch hết
không còn một con
không còn một thằng
không còn một mống
chết tiệt hết
hết đời bây

Trần Vàng Sao (29 tháng 6 năm 1997)


Sunday, April 26, 2026

TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN - CÚ TÁT NẢY LỬA CỦA ĐỖ TRUNG QUÂN DÀNH CHO “BÊN THẮNG CUỘC”…

1. Nhắc đến ĐTQ, đa phần mọi người chỉ biết "Quê hương" (được Giáp Văn Thạch phổ nhạc từ bài thơ "Bài học đầu đời cho con").

Riêng Qua, rất thích những bài thơ viết về Mẹ của ông.

Đặc biệt, thích hơn cả là "Tạ lỗi Trường Sơn" - bài thơ được ông sáng tác 1982 cho đến nay vẫn không thể đăng báo chính thống nên ít người biết. Cũng vì lý do này mà ĐTQ có lần bảo, đây là bài thơ ông buộc phải nhớ, phải thuộc.

- Có thể nói, "Tạ lỗi Trường Sơn" là bản trường ca lột trần bản chất thật của vô số kẻ đạo đức giả, ngụy trí thức, ếch ngồi đáy giếng, không phải đểu giả mà là đểu...thật.

- Có thể xem "Tạ lỗi Trường Sơn" như 1 "cái tát lịch sử"; 1 lời nhắc nhở nhẹ nhàng cho những ai còn chút liêm sỉ và tự trọng.

2. Hơn 50 năm qua, nhất là từ khi đổi mới, trong vô thức SaiGon là nơi ai cũng muốn đến, muốn vào "để sống", để mưu sinh, để đổi đời, để kiếm danh, kiếm chác, hưởng thụ... Thế nhưng, sau khi đã thỏa mãn tất cả thì bắt đầu lên giọng bố đời, trịch thượng "biết bố tao là ai không?"

Trong khi "những con điếm xưa đã trở lại làm người" thì vô số những thằng trí thức nay lại đang ủ mưu, bắt đầu hành trình khởi nghiệp làm điếm. Điếm bút. Một dạng "điếm cấp cao" như cách nói của Nguyễn Duy:

"Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng
Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn
Vật giá tăng vì hạ giá linh hồn..."

Thật không thể nào không khinh bỉ.
---

3. Cùng đọc lại:

TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN

Đỗ Trung Quân.

1.
Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm
Các anh từ Bắc vào Nam
Cuộc trường chinh 30 năm dằng dặc
Các anh đến
Và nhìn Sài Gòn như thủ đô của rác
Của xì ke, gái điếm, cao bồi
Của tình dục,ăn chơi
“Hiện sinh – buồn nôn – phi lý!!!”
Các anh bảo con trai Sài Gòn không lưu manh cũng lính nguỵ
Con gái Sài Gòn không tiểu thư khuê các, cũng đĩ điếm giang hồ
Các anh bảo Sai Gòn là trang sách “hư vô”
Văn hoá lai căng không cội nguồn dân tộc
Ngòi bút các anh thay súng
Bắn điên cuồng vào tủ lạnh, ti vi
Vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ
Các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản
Các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi loạn
Là thiêu thân uỷ mị, yếu hèn
Các anh hùa nhau lập toà án bằng văn chương
Mang tuổi trẻ Sài Gòn ra trước vành móng ngựa!!!

2.
Tội nghiệp Sài Gòn quá thể
Tội nghiệp chiếc cầu Công Lý
Có anh thợ điện ra đi không về
Tội nghiệp những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống Mỹ
Lửa khói vỉa hè nám cả những hàng me
Tội nghiệp những người Sài Gòn đi xa
Đi từ tuổi hai mươi
Nhận hoang đảo tù đày để nói về lòng ái quốc
Có ai hỏi những hàng dương xanh xem đã bao nhiêu người Sài Gòn hoá thân vào sóng nước
Tội nghiệp những đêm Sài Gòn đốt đuốc
Những “người cha bến tàu” xuống đường với bao tử trống không
Tội nghiệp những ông cha rời khỏi nhà dòng
Áo chùng đen đẫm máu
Tội nghiệp những chiến trường văn chương, thi ca, sách báo
Những vị giáo sư trên bục giảng đường
Ưu tư nhìn học trò mình nhiễm độc
Sài Gòn của tôi – của chúng ta.
Có tiếng cười
Và tiếng khóc.

3.
Bảy năm qua đi với nhiều buồn vui đau xót
Một góc phù hoa ngày cũ qua rồi
Những con điếm xưa có kẻ đã trở lại làm người
Giã từ ghế đá công viên để sống đời lương thiện
Những gã du đãng giang hồ cũng khoác áo thanh niên xung phong lên rừng xuống biển
Tìm lại hồn nhiên cho cuộc sống của mình
Cuộc đổi thay nào cũng nhiều mất mát, hy sinh...

4.
Và khi ấy
Thì chính “các anh”
Những người nhân danh Hà Nội
Các anh đang ngồi giữa Sài Gòn bắt đầu chửi bới
Chửi đã đời
Chửi hả hê
Chửi vào tên những làng quê ghi trong lý lịch của chính mình
Các anh những người nhân danh Hà Nội sợ đến tái xanh
Khi có ai nói bây giờ về lại Bắc!!!
Tội nghiệp những bà mẹ già miền Bắc
Những bà mẹ mấy mươi năm còng lưng trên đê chống lụt
Những bà mẹ làm ra hạt lúa
Những năm thất mùa phải chống gậy ăn xin
Những bà mẹ tự nhận phần mình tối tăm
Để những đứa con lớn lên có cái nhìn và trái tim trong sạch
Bây giờ
Những đứa con đang tự nhận mình “trong sạch”
Đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân
Các anh
Đang ngồi giữa Sài Gòn nhịp chân
Đã bờm xờm râu tóc, cũng quần jean xắn gấu
Cũng phanh ngực áo, cũng xỏ dép sa bô
Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh ti vi, cassette, radio...
Bia ôm và gái
Các anh ngông nghênh tuyên ngôn ”khôn và dại”
Các anh bắt đầu triết lý “sống ở đời”
Các anh cũng chạy đứt hơi
Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ
Sài Gòn 1982 lẽ nào...
Lại bắt đầu ghẻ lở?

5.
Tội nghiệp em
Tội nghiệp anh
Tội nghiệp chúng ta những người thành phố
Những ai ngổn ngang quá khứ của mình
Những ai đang cố tẩy rửa “lý lịch đen”
Để tìm chỗ định cư tâm hồn bằng mồ hôi chân thật

6.
Xin ngả nón chào các ngài
“Quan toà trong sạch”
Xin các ngài cứ bình thản ăn chơi
Bình thản đổi thay lốt cũ
Hãy để yên cho hàng me Sài Gòn
Hồn nhiên xanh muôn thuở
Để yên cho xương rồng, gai góc
Chân thật nở hoa.
Này đây!
Xin đổi chỗ không kỳ kèo cho các ngài cái quá khứ ngày xưa
Nơi một góc (chỉ một góc thôi)
Sài Gòn bầy hầy, ghẻ lở
Bây giờ...
Tin chắc rằng trong các ngài đã vô số kẻ tin vào "thượng đế"
Khi sống hả hê giữa một thiên đường
Ai bây giờ
Sẽ
Tạ lỗi
Với Trường Sơn?

FB. Quách Hạo Nhiên








Monday, April 20, 2026

HẠNH PHÚC LÀ GÌ?


Hạnh phúc là buổi sớm
Mở mắt thấy an nhiên
Một hơi thở thật nhẹ
Cũng đủ ấm lòng riêng.

Hạnh phúc là rất khẽ
Khi buông xuống muộn phiền
Không cần thêm gì nữa
Chỉ cần lòng bình yên.

Hạnh phúc không quá lớn
Chẳng ở tận chân trời
Đôi khi là chén nước
Giữa lúc lòng chơi vơi.

Hạnh phúc là hiểu được
Sau giông gió cuộc đời
Nước mắt rơi lặng lẽ
Dạy ta biết mỉm cười.

Hạnh phúc không phải giữ
Mọi thứ ở bên mình
Mà là khi dám mất
Vẫn thấy lòng lặng thinh.

Hạnh phúc là chia sẻ
Một ánh nhìn, bàn tay
Cho đi mà không đợi
Nhận lại điều gì ngay.

Hạnh phúc đôi khi lạ
Chỉ một phút dừng chân
Nghe tim mình rất thật
Không vướng bận, phân vân.

Đừng đi tìm xa quá
Hạnh phúc vốn đang gần
Ngay trong từng khoảnh khắc
Ta sống thật với tâm.

Rồi một ngày sẽ hiểu
Giữa thế gian xoay vần
Hạnh phúc không rực rỡ
Chỉ cần… đủ ấm lòng

ST



Blog Archive