Showing posts with label Phạm Đình Lân.. Show all posts
Showing posts with label Phạm Đình Lân.. Show all posts

Tuesday, December 17, 2019

NÓI CHUYỆN CÂY THÔNG VÀO MÙA GIÁNG SINH
 PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A..B.I.
 CÂY THÔNG Ở BẮC BÁN CẦU

Cây thông là một loại cây hình nón to lớn ở miền khí hậu ôn đới, bán hàn đới và hàn đới. Ở vùng khí hậu bán nhiệt đới cây thông được tìm thấy trên cao độ 1,000 m. Ở Việt Nam cây thông được tìm thấy ở miền Bắc, Trung và trên cao nguyên Nam Trung Bộ. Nó vắng bóng hoàn toàn ở Nam Bộ.

Cây thông cao từ 25- 35 m; lá nhọn và nhuyễn tựa như cây kim. Trái cứng và có vẩy. Lá thông xanh quanh năm ngay cả vào mùa đông đầy tuyết trắng. Cây thông thuộc dòng Pinus và gia đình Pinaceae. Thực tế có nhiều dòng cây thông khác với dòng Pinus và gia đình Pinaceae như thông Bunya thuộc dòng Araucaria và gia đình Araucariaceae hay thông đen Matai dòng Prumnopitys taxifolia thuộc gia đình Prumnopityaceae v.v.
Ở Âu- Mỹ có nhiều rừng thông mọc tự nhiên trên các dãy núi cao như Alps, Pyrénées, Urals, Allegheny v.v. Gỗ cây thông rất thông dụng ở các quốc gia ôn đới. Gỗ dùng để làm nhà, cửa, sàn nhà, đóng bàn, ghế, tủ, làm bột giấy. Nhựa thông dùng để làm dầu sơn. Dầu lấy từ lá thông được dùng trong y khoa. Hột cây thông Pinus sabiniana được dùng làm thức ăn.
Cây thông lá xám (gray leaf pine) mang tên khoa học Pinus sabiniana. Nó còn được gọi là cây thông triền (foothill pine) vì thường mọc trên các triền núi. Loại thông này được tìm thấy nhiều ở California. Trái màu vàng cam dài giống như trái cà tím nhưng có nhiều vẩy cứng.
Cây thông trắng Pinus strobus và Pinus monticola được xem là loại thông có giá trị cao. Loại thông trắng này mọc trên đất cát ở những vùng tương đối ẩm. Thỏ rất thích ăn vỏ cây thông trắng này. Gỗ thông trắng mềm và có nhiều công dụng trong ngành xẻ gỗ và ngành mộc. Thông trắng có nhiều ở Đông Bộ Bắc Mỹ (Canada và Hoa Kỳ). Cây cao từ 50- 70 m nên cho rất nhiều gỗ. Nguồn sinh tố C trong cây thông trắng Pinus strobus cao gấp 05 lần nguồn sinh tố C của chanh. Phần vỏ trắng (phia trong) là nguồn resveratrol C14 H12 O3 kháng ung thư và kháng viêm rất mạnh. Ngày xưa thổ dân địa phương (người Da Đỏ) dùng vỏ cây thông trắng làm thực phẩm và trị ho. Vì vậy ho gọi cây thông trắng là CÂY HÒA BÌNH.
Cây thông đỏ Pinus resinosa ở Bắc Mỹ có nhiều liên hệ thân thuộc với cây thông Na Uy. Khi còn trẻ cây thông đỏ có hình nón. Khi lớn cây có hình tròn. Gọi là thông đỏ vì lớp vỏ trong màu đỏ- vàng. Cây thông đỏ có thể sống dễ dàng trong điều kiện thổ nhưỡng nghèo nàn. Gỗ cây thông đỏ chắc và đẹp nên cây thông đỏ có giá trị thương mại lớn. Gỗ được dùng trong ngành kiến trúc, làm cột buồm, đóng thùng, đóng hộp, làm bột giấy v.v.

Cây thông Oregon (Douglas fir) mang tên khoa học Pseudotsuga menziesii thuộc gia đình Pinaceae. Cây thông Oregon chỉ cao không bằng cây sequoia mà thôi. Cây cao nhất cao 100.30 m; đường kính gốc cây đến 5 m. Loại thông này sống đến 1,000 tuổi. Thông Oregon được dùng làm cây Giáng Sinh, làm nhà, cầu cây, cột cờ. Năm 1915, khi Panama tổ chức triển lãm, một cột cờ cao 91.10 m được làm bằng cây thông Oregon được dựng lên vào ngày khai mạc buổi lễ.
Cây thông mật (sugar pine) Pinus lambertiana có nhiều ở Bắc Mỹ và Mễ Tây Cơ. Cây cao từ 60- 80 m nên cung cấp một nguồn gỗ quan trọng. Nhựa cây thông này ngọt như đường. Thông mật có liên hệ đến cây thông trắng Pinus strobus đề cập ở phần trên. Tuổi thọ của cây thông mật có thể lên đến 800 tuổi.
Cây thông vỏ trắng (whitebark pine) Pinus albicaulis mọc trên núi từ cao độ 1,500 m trở lên. Loai thông này có vỏ trắng nhưng khác với cây thông trắng Pinus strobus. Nó không có hình nón như những loại thông khác. Cây thông vỏ trắng tăng trưởng rất chậm. Cây thông này chỉ cho nhiều gỗ khi được 200 tuổi!
Cây thông lông gà hay thông tre Podocarpus neriifolius thuộc gia đình Podocarpaceae. Đây là loại cây thông vùng khí hậu bán nhiệt đới. Nó được tìm thấy ở Hoa Nam, Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam, Cambodia, Lào, Mã Lai, Taiwan (Đài Loan), quần đảo Ryu Kyu (Lưu Cầu- Nhật Bản), hải đảo Thái Bình Dương. Gọi là thông tre vì có người cho rằng lá của nó giống lá tre. Có người gọi là thông lông gà vì thấy lá của nó giống cái lông gà. Cây thông tre cao từ 20- 40 m; vỏ xám, có nhiều sợi. Trái to (karpus: trái- Hy Lạp ngữ) có hình chân (podos: chân) màu đỏ khi chín; hột rất cứng. Gỗ cây thông lông gà rất cứng nên được dùng để đóng tàu, xây dựng nhà cửa, làm dụng cụ âm nhạc. Người Anh gọi là brown pine (thông hung đỏ- do màu của gỗ mà ra).
Cây thông rừng mà người Anh gọi là Larchvà Pháp gọi là Meleze có nhiều ở Bắc Âu, Trung Âu, Đông Âu, Bắc Mỹ, Tân Tây Lan. Tên khoa học là Larix decidua thuộc gia đình Pinaceae. Cây có thể cao đến 50 m. Gỗ dùng để đóng du thuyền. Dầu thông được lấy từ cây thông rừng này. Vỏ và nhựa cây thông rừngLarix decidua được dùng để trị bịnh về đường hô hấp, viêm đường tiểu, tiêu chảy, kiết lỵ, trùng lãi, kinh nguyệt bất thông. Người bị bịnh thận không được dùng. Ở Bắc Mỹ có cây thông rừng Larix laricinacao cao tối đa 20 m. Gỗ cây thông này được dùng làm giày đi tuyết, dụng cụ âm nhạc, cây cảnh bonsai, cột đèn điện, làm củi đốt. Ngày xưa thổ dân dùng vỏ cây thông Larix laricina (tamarack larch) để trị đau khớp xương, hoàng đản.
Cây thông vùng khí hậu lục địa và hàn đới được người Anh gọi là spruce âm từ tiếng Ba Lan Zpruss ám chỉ Prussia (nước Phổ trong nước Đức ngày xưa). Người Nhật gọi làshin- kaya mà gỗ được dùng làm bàn cờ. Cây thông vùng khí hậu lục địa và hàn đới có lá xanh quanh năm, nhiều nhánh lia chia và có hình nón được tìm thấy khắp các lục địa Á, Âu, Bắc Mỹ có khí hậu lục địa và hàn đới. Đại để thông hàn đới gồm có: 

- Thông Picea glauca tức thông trắng ở Canada và Alaska
- Thông Picea purpurea tức thông tím ở Tây Bộ Trung Hoa
- Thông Picea abies ở Na Uy được dùng như thông cảnh, cây thông Giáng Sinh
- Thông Picea mariana là cây thông đen ở Bắc Mỹ

Cây thông khí hậu lục địa và hàn đới có thể cao đến 60 m; lá nhuyễn, trái dài và có nhiều mắt tựa như trái thơm. Thông hàn đới có công dụng đa dạng: trong kiến trúc, kỹ nghệ làm bột giấy, dụng cụ âm nhạc. Khung chiếc phi cơ đầu tiên do anh em Wright thí nghiệm được làm bằng gỗ cây thông hàn đới. Lá và nhựa thông hàn đới được dùng làm si- rô hay rượu bia. Người Anh gọi là Spruce Beer. Nhựa còn được dùng để làm chewing gum. Lá có nhiều sinh tố C. Người ta dùng lá để nấu nước uống ngừa chứng scorbutus hay scurvy do thiếu sinh tố C. Các nhà hàng hải Anh ngày xưa dùng phương pháp này để ngừa bịnh scorbutus cho thủy thủ trên tàu trong các cuộc hải hành xa xôi.
Cây thông Tây Bá Lợi Á Pinus sibiricathuộc gia đình Pinaceae được tìm thấy ở Bắc Hàn, Mãn Châu, Mông Cổ, Kazakhstan v.v. Loai thông này có trái to có vẩy màu đen mốc giống như trái thơm. Hột dùng để khai thác dầu để ăn, dùng trong kỹ nghệ mỹ phẩm hay kỹ nghệ dược phẩm. Tuổi thọ cây thông Tây Bá Lợi Á xê dịch từ 350 đến 550 năm. Cây già nhất lên đến 850 tuổi! Dầu thông Tây Bá Lợi Á dùng để trị béo phì (obesity), ngừa loét dạ dày, chống xơ động mạch, làm mịn da, nhuận trường, trị suyển, viêm phế quản, tăng cường hệ thống miễn nhiễm. Sự hiện diện của pinoleic acid C18 H30 O2 giải thích tính năng trị liệu chứng béo phì của dầu thông Tây Bá Lợi Á ở Nga, Trung Quốc và Bắc Hàn.

CÂY THÔNG Ở NAM BÁN CẦU
Cây thông Bunya gốc ở Chile mang tên khoa học Araucaria bidwillii và thuộc gia đình Araucariaceae. Cây thông này được nhà thực vật học John Carne Bidwill (1815- 1853) nghiên cứu. Do đó trong tên khoa học có tên Bidwill của ông. Gọi là cây thông Bunya vì loại thông này được tìm thấy nhiều trong dãy núi Bunya (Úc Đại Lợi). Thổ dân tôn kính cây thông này. Nhờ vậy loài thảo mộc này được gìn giữ trọn vẹn.

Cây thông Bunya cao từ 30- 45 m; lá xanh quanh năm nhưng cây không có hình nón mà có đỉnh tròn. Trái thông Bunya to và có nhiều hột. Thổ dân ở Úc xay hột trái thông Bunya rồi để cho lên men để làm một loại bánh mì ngon. Người ta giữ hột bằng cách đặt hột dưới suối rồi dùng hột trái thông lên men để làm thức ăn. Gỗ cây thông Bunya được dùng để làm nhà, làm đàn để có âm thanh ấm. Cây thông Bunya được trồng quanh vùng Sacramento, thủ phủ của tiểu bang California, các nước Nam Mỹ và Âu Châu. Trái cây thông Bunya cũng là nguồn thức ăn quan trọng đối với chim to lớn vì trái thông Bunya to, đường kính lối 35 cm, mỏ chim nhỏ không sao mổ nổi. Hột trái thông Bunya dài từ 3 dến 4 cm. Tuổi thọ của cây thông này có thể lên đến 500 tuổi.
Cây thông Chile được gọi là cây đuôi khỉ (hầu vĩ mộc)(Monkey tail tree) mang tên khoa học Araucaria araucana thuộc gia đình Araucariaceae. Cây cao đến 40 m; lá sần sùi như mặt lá có vây. Thân và nhánh cây cũng sần sùi. Cây không có hình nón mà có hình tròn. Cây thông Chile sống rất thọ nhưng gỗ không thông dụng như các loại cây thông khác. Cây không có nhánh ở phia dưới; thân sần sùi nên khỉ không leo lên được. Người Pháp gọi cây thông Chile này là desespoir des singes(nỗi thất vọng của loài khỉ). Người Anh gọi đơn giản làChile pine. Đó là quốc mộc của xứ Chile. Thực tế ngày nay cây thông Chile được tìm thấy ở Úc Đại Lợi, Hoa Kỳ, Na Uy, Canada.
Cây thông đen gốc ở Tân Tây Lan mang tên khoa họcPrumnopitys taxifolia thuộc gia đình Prumnopityaceae và được thổ dân trên đảo gọi là Matai. Đó là một cây thông có vỏ màu hung đỏ và gỗ màu hung đỏ ngã đen. Cây cao từ 25- 40 m. Chữ taxifolia trong tên khoa học của cây thông đen cho thấy lá của cây thông đen thuộc lá thủy tùng (yew),màu vàng- xanh nhạt. Trái có nhiều cơm. Phải mất từ 12 đến 18 tháng trái mới già.

Nhựa cây thông đen dùng làm rượu bia Matai (Matai Beer). Gỗ cây thông đen cứng nên được dùng trong việc xây cất nhà cửa, đóng bàn, ghế, tủ.
Cây thông Kauri được tìm thấy ở Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan. Cây Kauri cao đến 55 m. Cây tăng trưởng rất chậm. Cây 30 tuổi chỉ cao lối 10 m. Nhưng tuổi thọ của cây Kauri xê dịch từ 600 đến 2000 tuổi! Lá cây Kauri không giống lá hình mũi kim của cây thông nhưng trái Kauri giống như trái thông. Trái già màu vàng cam. Dầu Kauri được dùng như dầu copal trong kỹ nghệ ở Tân Tây Lan. Nhựa cây Kauri dùng để sản xuất vẹt- ni.
CÂY GIÁNG SINH
Nói đến Giáng Sinh thi chúng ta liên tưởng ngay đến cây Giáng Sinh. Mùa Giáng Sinh rơi vào mùa đông giá buốt. Chỉ có các loại cây thông, tùng bách còn xanh tươi mà thôi nên người ta chặt cây thông và trang trí bằng ngôi sao nhỏ lấp lánh, hình tượng các Thiên Thần, trái cây, bóng đèn màu để mừng ngày Giáng Sinh của Đấng Cứu Thế. Một ngôi sao lớn và sáng được gắn trên đỉnh của cây Giáng Sinh. Ở Việt Nam cây thông rất hiếm nên vào mùa Giáng Sinh người làm hang đá bằng giấy màu và làm những ngôi sao bằng tre với nhiều màu sắc rực rỡ để chào mừng Chúa Giáng Sinh ‘trong máng cỏ, trong hang lừa’.

Cây Giáng Sinh xuất hiện trước tiên vào thời Phục Hưng (Renaissance) (?). Ngày nay người ta cho rằng nó xuất phát từ Đức vào thế kỷ XVI và lan sang các quốc gia Bắc Âu trước khi thâm nhập trên toàn lục địa Âu Châu và Mỹ Châu. Martin Luther (1483- 1546), người lãnh đạo Giáo Hội Cải Cách (Tin Lành), đã thắp đèn cầy trên đỉnh cây Giáng Sinh đầu tiên. Ở Hoa Kỳ mãi đến thập niên 90 của thế kỷ XIX cây Giáng Sinh mới được quảng bá rộng rãi. Mãi đến năm 1923 tổng thống Calvin Coolidge mới tạo ra truyền thống đặt cây Giáng Sinh trong tòa Bạch Ốc.
Thoạt tiên người ta vào rừng thông tìm một nhánh cây thông đẹp đem về nhà trang trí theo ý muốn của chủ nhà. Ngày nay ở Hoa Kỳ có 22,000 đồn điền trồng cây Giáng Sinh để bán hàng năm. Đó là những cây thông có tối thiểu từ 3 đến 4 tuổi. Những cây thông từ 5 đến 7 tuổi được bán với giá cao hơn. Vật trang trí cây Giáng Sinh có bán đầy đủ tùy theo sự lựa chọn, sở thích và túi tiền của người mua. Các tiểu bang California, Oregon, Michigan, Washington State, Wisconsin, Pennsylvania, North Carolina là những tiểu bang nổi tiếng về việc trồng cây thông Giáng Sinh. Có lối 1,500,000 acres đất được dùng để trồng cây thông Giáng Sinh (acre: 4,070 m2: 40.7% của hectare) và thu hút lối 100,000 nhân công vào việc trồng trọt và chăm sóc cây Giáng Sinh. Thông thường các cây Giáng Sinh bán chạy ngoài thị trường là:
- cây thông Scots Pine; tên khoa học: Pinus sylvestris
- cây thông Douglas Fir tức cây thông Oregon; tên khoa học: Pseudotsuga menziesii
- cây thông Fraser Fir ( Basalm Fir); tên khoa học: Abies fraseri
- cây thông trắng (white pine); tên khoa học: Pinus strotus

Ở Hoa Kỳ có hai loại cây Giáng Sinh: 

a. cây Giáng Sinh tươi được liệng vào thùng rác sau ngày 25-12. 
b. cây Giáng Sinh nhân tạo được bỏ vào bao để tránh bụi hầu trưng bày trong nhà vào những ngày Giáng Sinh sau.

****
Tôi chân thành cám ơn nữ thi sĩ Đặng Ngọc Lệ Khánh gợi ý về đề tài này khiến tôi nhớ đến:
- Nguyễn Công Trứ khi viết:
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

- ca dao Việt Nam đề cập đến những loại thảo mộc hình nón có lá xanh quanh năm như thông, tùng, bách:
Ông Tiên ngồi dựa gốc tùng,
Phất phơ râu bạc lạnh lùng ông Tiên.
*
Có gió lung mới biết tùng, bách cứng,
Có ngọn lửa lừng mới rõ thức vàng cao.
*
Tuế hàn tri tùng bách chi tâm.
- nhà cách mạng Nguyễn An Ninh (1899- 1943), người dùng bút hiệu Thông Reo khi viết những bài bình luận chánh trị. Tôi xin cúi đầu ngưỡng mộ một trí thức Tây học xuất thân từ một gia đình giàu có ở Hóc Môn, Gia Định, đã từ bỏ cuộc đời nhung lụa để đấu tranh cho độc lập xứ sở và hạnh phúc của dân tộc và chấp nhận cái chết âm thầm ngoài Côn Đảo. Chuông Tự Do đã bể (Ông chủ trương tờ La Cloche Fêlée- Chuông Nứt). Dưới tuyền đài không biết hồn ông đã mãn nguyện hay vẫn còn ray rứt triền miên. Ông vẫn còn sống và sống mãi mãi vì ‘anh hùng tử nhưng danh bất tử’ và người chết vẫn còn sống nếu vẫn có người sống nhắc đến tên minh. Xin ông nằm yên giấc trong giấc ngủ thiên thu giữa tiếng gầm thét của đại dương và tiếng gió rú kinh hoàng của đại phong.
- quí linh mục Thuấn (Phạm), Thuấn (Đinh), Thiều (Vũ), Trân (Đinh), Dương (Nguyễn), Sơn (Nguyễn), Tiên (Nguyễn), Thanh (Phạm), Thành (Phùng) vào những ngày Giáng Sinh nửa thế kỷ trước. Năm nào đến dịp Giáng Sinh và Tết Nguyên Đán tôi đều được quí cha tặng rượu lễ. Là người ngoại đạo, gia đình tôi vẫn tổ chức ăn Giáng Sinh hàng năm bằng  gà tây như người Mỹ cử hành lễ Thanksgiving vậy. Ở Việt Nam phần lớn những người nuôi thỏ và gà tây đều là tín đồ Thiên Chúa Giáo. Để có  gà tây ăn Giáng Sinh tôi nhờ cha Trân, dòng Đa Minh (Dominicain), chỉ cho mua. Cha chỉ tới một tu viện gần hồ tắm Thủy Tiên Thủ Đức. Tôi đến đó và gặp một tu sĩ người ngoại quốc. Sau buổi nói chuyện tôi được biết ông là người Đức. Tôi nói tôi muốn mua một con  gà tây để ăn réveillon. Vị tu sĩ hỏi lại tôi bằng tiếng Việt: “Ông muốn mua  gà tây đàn ông hay đàn bà?” Nhờ đi mua gà tây mà tôi học được gà đàn ông và gà đàn bà. Lời nói đơn giản và thân thương nay còn đâu nữa! Tôi muốn nghe lại nhưng không biết nghe ở đâu?
Tôi xin mượn những dòng chữ vô hương, vô sắc và vô vị này để gởi lời chúc Giáng Sinh và Tân Niên 2015 đến quí cha và các thân hữu. Mong rằng lời chúc này như nguồn nước mát không màu sắc, không hương vị nhưng ai cũng cần và ai cũng dùng trong suốt quá trình sống của mình.

Giáng Sinh Vui Vẻ
Tân Niên Vạn Phúc
Hòa Bình Trong Tâm
Hòa Bình Trên Trái Đất

Thursday, June 15, 2017

SỐNG TẠM

  PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
Cây tầm gởi

>           Chúng tôi dùng hai chữ sống tạm ở đây theo nghĩa trực tiếp, dễ hiểu chớ không có một chút màu sắc triết lý cao xa nào cả. Dân tộc nào cũng đi tìm không gian sinh tồn. Người Việt Nam thường nói:Đất lành chim đậu. Do đó không gian sinh tồn là nơi đất đai, nước uống, khí hậu hiền hậu khả dĩ nuôi sống con người. Nhưng những yếu tố trên cần mà chưa đủ. Vì nhu cầu con người không chỉ thuần là nhu cầu vật chất (no cơm, ấm áo), mà còn có nhu cầu tinh thần nữa (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, chế độ chánh trị dân chủ và nhân bản, an ninh cư trú, công bằng xã hội, được sự bảo vệ của luật pháp v.v.).
Từ khi người Pháp đô hộ nước ta số thị dân bắt đầu gia tăng so với thế kỷ trước. Dù vậy nước ta vẫn là một nước nông nghiệp. 90% dân số sống ở nông thôn và làm nghề nông. Khổng giáo có ảnh hưởng to lớn trong xã hội Việt Nam. Việc thờ cúng tổ tiên và gìn giữ mồ mả tổ tiên là bổn phận của một con người trong xã hội Khổng giáo và nông nghiệp. Sự di chuyển của người dân từ nơi này đến nơi khác rất ít. Người bỏ xứ đi tha phương cầu thực bị dư luận trong xã thôn khinh bỉ. Con người bị ràng buộc bởi nhưng cổ tục, danh dự gia đình và sĩ diện bản thân. Tâm và thân không sao vượt khỏi lũy tre làng. Cuộc sống chật hẹp tự nhiên sinh ra tâm lý chật hẹp và những đụng chạm lẫn nhau giữa những người trong dòng họ, gia đình lẫn người quen biết trong xã thôn chật hẹp.
Sự phát triển thành phố, việc mở mang đường sá, cầu kỳ, bến cảng, thiết lộ Xuyên Việt v.v. giúp ích rất nhiều cho việc đi lại giữa miền này với miền kia trong nước. Có giao tiếp, có gặp nhau, có quen biết nhau mới hiểu được nhau mặc dù chưa được rốt ráo. Khi người Pháp đô hộ Việt Nam họ cần một số nhân công ở Việt Nam để làm việc trong các đồn điền cao su ở Nam Kỳ, hầm mỏ ở Nouvelle Caledonie. Châu thổ sông Hồng, sông Mã được xem là vùng bị nhân mãn trầm trọng ở Việt Nam. Họ mộ nhiều công nhân trên châu thổ sông Hồng và sông Mã để làm việc trong các đồn điền cao su ở Nam Kỳ và công nhân khai thác mỏ nickel ở Nouvelle Calédonie gần Úc Đại Lợi. Người Việt Nam thuộc thế hệ sinh vào thập niên 1930- 1940 đều tỏ ra phẫn nộ người Pháp tàn nhẫn đối với những phu mỏ này với hình ảnh mỗi gốc cao su chôn xác một phu cạo mũ! Mới nghe đã phẫn nộ . Trên thực tế họ chưa ai thấy và cũng không có một cuộc điều tra nhân quyền nào về việc này.
Không chối cãi được rằng có một số phu mỏ làm việc trong các đồn điền Dầu Tiếng, Phú Riềng, Lộc Ninh, Hớn Quản, Xuân Lộc bị chết vì sốt rét. Một số người tin rằng hút á phiện thì tránh được chứng bịnh gây tử vong ác quái này. 
Một điều hiển nhiên khác là các phu mỏ làm việc ở Nam Kỳ hay Nouvelle Calédonia được trả lương rất thấp. Nhưng so với lợi tức mà họ thu được trên châu thổ sông Hồng và sông Mã với tư cách nông dân hay công nhân nông nghiệp thì lợi tức ấy cao hơn và đảm bảo cuộc sống hơn trước nhiều. Thấp ở đây là thấp so với công nhân người Pháp cùng làm một công việc và cùng số giờ làm việc qui định nhưng đồng lương vẫn đảm bảo sự sống đối với người Việt Nam. 
Sau năm 1954 và 1975 có bao nhiêu phu mỏ làm việc trong các đồn điền cao su ở Nam Kỳ và quặn nickel ở Nouvelle Calédonia về miền Bắc như là sự phản đối chánh sách bóc lột công nhân của thực dân Pháp? 99.9% vẫn ở lại hai nơi nói trên. Người thì hội nhập với cuộc sống của người miền Nam. Người ở lại Nouvelle Calédonia có tên Pháp và quốc tịch Pháp. Con cháu thành đạt, khá giả và có danh vọng ngoài sự tưởng tượng của cha ông họ. Họ không sống tạm ở Nam Kỳ và Nouvelle Calédonie.
Cuộc chiến tranh Việt- Pháp bùng nổ. Thoạt tiên nhiều người ở thành phố chạy về nông thôn để tìm an ninh và an toàn. Sau một thời gian ngắn ngủi sống thiếu thốn và cảm thấy an ninh bản thân bị đe dọa họ lại chạy về thành phố. Lần này có những người chủ điền khá giả ở nông thôn cũng bỏ chạy ra thành phố để khỏi phải chứng kiến những cảnh chết chóc giữa hai phe lâm chiến và những cuộc họp dân tố khổ phú hào . Những người có đất đai ở nông thôn xem cuộc sống ở thành phố là cuộc sống tạm. Họ chờ đợi ngày chiến tranh chấm dứt để trở về quê thụ hưởng hoa lợi do đất đai mang lại. Cuộc chiến không ngắn ngủi như họ tưởng. Trái lại nó kéo dài chín năm đằng đẵng. Đất đai của họ mất sạch vì những cuộc cải cách ruộng đất trong vùng chiến khu. Ở thành phố họ không có gì ngoại trừ căn nhàsống tạm ở ven biên thành phố. Với cuộc cải cách điền địa năm 1957 ở VNCH họ được bồi thường nhưng số tiền bồi thường không được các chủ điền hài lòng.Luật Người Cày Có Ruộng năm 1970 bồi thường rộng rãi hơn. Đó là lúc các chủ điền thực sự không còn đất. Thực tế họ có nhiều ruộng đất nhưng họ không phải là người cày. Qua hai cuộc chiến và ba đợt cải cách ruộng đất của hai chế độ chánh trị đối nghịch nhau làm cho giới chủ điền mất đất hoàn toàn.
Năm 1954 đất nước qua phân. Có gần một triệu người ở miền Bắc di cư vào Nam. Ý thức việc rời bỏ nơi sinh quán không phải là điều tốt nhưng là điều không thể cưỡng lại được, những người này không xem cuộc sống ở nơi trú quán trên một phần lãnh thổ của đất nước ở phía Nam là sống tạmnên họ có cơ nghiệp vững vàng sau 20 năm sinh sống ở miền Nam. 
Sau ngày 30-04-1975 Việt Nam được xem như thống nhất dưới chế độ Cộng Sản có bao nhiêu người di cư năm 1954 trở về miền Bắc để sống?
Bao nhiêu người di cư năm 1954 rời Việt Nam trước ngày 28, 29 và 30-04-1975?
Bao nhiêu vượt biên?
Bao nhiêu người còn ở lại miền Nam?
Những câu hỏi trên không khó để trả lời mặc dù chúng ta không có đầy đủ số thống kê chính xác.
Nhiều trí thức Tây học không về nước hoặc về rồi lại bỏ đi.
Có người quen đời sống tự do ở Pháp, Bỉ, Luxembourg.
Có người thấy khó phát triển những điều học hỏi ở xứ người khi về nước vì đồng lương không bằng đồng lương mà họ có ở nước ngoài hay vì trong nước không có phương tiện cho họ thi thố khả năng của mình. Khả năng của họ không được những nhà lãnh đạo đất nước đánh giá cao và dùng đúng chỗ để có hiệu quả cao nhất.
Có người yêu nước để rồi thất vọng khi va chạm thực tế phũ phàng nên vĩnh viễn sống gởi thân nơi xứ người suốt hai cuộc chiến kéo dài lê thê.
Có người không về nước vì chinh chiến kéo dài suốt một phần tư thế kỷ sau đệ nhị thế chiến. Khi về già họ trở về quê hương để gởi nắm xương tàn và được khen ngợi là người yêu quê hương.
Có người lạc lõng ngay tại quê hương mình khi tự Tây hoá mình một cách thái quá. Đa số các vị nói trên, nếu có về nước, thì chỉ sống tạm mà thôi. 
Mỗi người trong số này có lý do riêng của mình.
Sau 1975 có ba triệu (03 triệu) người Việt Nam khắp ba miền rời khỏi nước và được định cư trên 80 quốc gia trên thế giới. Đó là các thuyền nhân (boat people) đi đường biển và hành nhân (walk people) đi bằng đường bộ bằng ngã Cambodia. Thành phần người Việt Nam rời Việt Nam gồm có:
1. quân nhân, công chức và gia đình ở miền Nam Việt Nam rời khỏi nước bằng tàu hay phi cơ. Ngoài ra còn có một số ngư phủ ở Vũng Tàu, Phước Tỉnh ra khơi và được tàu Hoa Kỳ vớt. Đó là đợt rời khỏi nước trước và sau khi tổng thống Dương Văn Minh nắm quyền ngày 28-04-1975. Đợt ra đi nầy lối 150,000 người.
2. sau đợt đổi tiền và ngăn sông cấm chợ nhiều người bắt đầu tổ chức vượt biên bằng thuyền gắn máy vào năm 1976. Người tổ chức vượt biên bắt buộc phải có móc nối với công an Cộng Sản ở những nơi có sông nước và biển cả. Dù vậy đa số các cuộc vượt biên đều bị bắt. Có sự thông đồng giữa người tổ chức và công an? - Cũng có thể. Đó là cách người tổ chức vượt biên lấy tiền của người vượt biên một cách trơn tru, êm ái vì bị công an bắt nên cuộc vượt biên thất bại!! Đa số những người vượt biên năm 1976 là người Việt gốc Hoa. Đến năm 1978 chánh quyền Cộng Sản cho người Việt gốc Hoa đăng ký bán chánh thức. Mỗi người phải trả 10 lượng vàng (01 lượng: 37.5 grams vàng). Vì chuyện đem người bỏ biển này mà Hoa Kỳ đưa ra chương trình ODP (Orderly Departure Program: Chương Trình Ra Đi Trật Tự). Dưới thời tổng thống Carter và sau cuộc chiến tranh Trung- Việt nhiều người ở miền Bắc tìm đường đến Hong Kong. Theo gương Pháp cho các con lai Pháp hồi hương, Hoa Kỳ cũng có chương trình đưa những người con lai sang Hoa Kỳ vào thập niên 1980. Đến đầu thập niên 1990 những quân nhân công chức bị học tập cải tạo ba năm trở lên được sang Hoa Kỳ theo diện HO (Humanitarian Operation). Tướng Lý Tòng Bá và thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Mai Văn An là những viên chức cao cấp của VNCH trước kia đến Hoa Kỳ theo diện HO đầu tiên. Trại tỵ nạn Hong Kong đóng cửa năm 1989. Các trại khác ở Phi Luật Tân, Mã Lai, Indonesia lần lượt đóng cửa vào giữa thập niên 1990. Đến năm 1995 có 03 triệu người tỵ nạn Việt Nam trên thế giới. Trong số này có trên 01 triệu người định cư ở Hoa Kỳ. Người ta ước lượng có lối nửa triệu người bị chôn vùi dưới lòng biển vì bão to, đói khát, hải tặc Thái cướp và giết chết.
3. Năm 1995 Hoa Kỳ và Việt Nam thiết lập bang giao. Từ đó Hoa Kỳ tiếp nhận nhiều du sinh Việt Nam. Những du sinh nầy xuất thân từ những gia đình của các viên chức cao cấp Cộng Sản trong nước. Họ học các trường danh tiếng, học phí $40,000- $50,000/ năm. Họ có nhà cửa khang trang, xe cộ đắt tiền trong khi đi học. Một số khác mua nhà, đất để kinh doanh lớn lao trên đất khách. Vài trăm ngàn người Việt Nam ở miền Bắc (trước 1975) và ở hai miền Nam- Bắc (sau 1975) được đưa sang các nước Cộng Sản theo diện xuất khẩu lao động. Họ sống ở Liên Sô (bây giờ là Nga) và các nước Đông Âu, sau này có một số người được xuất khẩu lao động sang Trung Đông và các quốc gia Âu Châu phi Cộng Sản.
Như vậy hiện nay có trên 04 triệu (04 triệu) người Việt Nam sống rải rác ở 80 quốc gia. Đó là chưa kể một số phụ nữ có chồng Đài Loan, Đại Hàn, Trung Hoa lục địa và một số người lao động lưu lại làm ăn ở Đài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Singapore v.v. Cách đây 20 năm có 370 người sống ở Do Thái và không người nào được nhập tịch Do Thái cả!
Ở phần trên chúng ta thấy một số người tản cư từ thôn quê ra thành thị sống tạm trong thời chiến tranh Việt- Pháp. Bốn triệu người Việt Nam sống trên 80 quốc gia khác biệt nhau về địa phương, tôn giáo, chánh kiến chánh trị, lý do tỵ nạn (chánh trị? kinh tế? cơ hội xuất ngoại? v.v.) đã xa quê hương gần nửa thế kỷ. Con cái của họ ở vào tuổi trung bình từ 40- 55 tuổi. Những người thanh niên này nay đã có gia đình. Có người có dâu, rể, cháu nội và cháu ngoại. Họ không biết gì Việt Nam, nói tiếng Việt kém hơn nói tiếng Anh, Pháp, Đức, Hòa Lan, Tây Ban Nha. Và, nếu nói được tiếng Việt, họ nói theo giọng Hoa Kỳ hơn là giọng Bắc, Trung hay Nam. Họ không thể là những người sống tạm mà là sống thật trên đất nước nơi họ ra đời hay ít ra đã nuôi dưỡng, giáo dục và đào tạo họ thành người hữu dụng có cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc. Người Cajuns là người Canada gốc Pháp sống ở Louisiana và các tiểu bang ven Vịnh Mexico. Người Canada ở đông bộ nước này từ Pháp sang sinh sống vào thế kỷ XVII. Người Canada ở Québec, Montréal còn nói tiếng Pháp, vài từ ngữ của Pháp ngữ thế kỷ XVII còn lưu lại. Rất ít người Cajuns ở Louisiana nói được tiếng Pháp. Họ là những người Canada gốc Pháp đến vùng Louisiana nguyên thủy thuộc Pháp (nguyên thủy Louisiana lớn gấp 3.5 lần diện tích Louisiana bây giờ). Trên thực tế những người Pháp ở Canada hay người Cajuns ở Louisiana đều là Canadians và Americans. Họ sống thật ở Canada và Hoa Kỳ chớ không sống tạm. Canada và Hoa Kỳ là tổ quốc của họ. Sự hưng thịnh và suy vi của Canada hay Hoa Kỳ là sự hưng thịnh và suy vi của vùng đất nơi họ sinh ra, lớn lên, được nuôi dưỡng, giáo dục và chính họ cũng góp sức vun bồi cho sự phát triển và lớn mạnh của không gian sinh tồn ấy. Tất cả người Âu Châu đến Hoa Kỳ đều tìm mảnh đất lành để sống và sống thật chớ không nói là sống tạm. Có bao nhiêu người Pháp thời cách mạng 1789 dùng tàu buồm vượt Đại Tây Dương sang Mỹ Châu trở về Pháp sau khi chế độ khủng bố của Robespierre sụp đổ?
Một điều đáng suy nghĩ là những người lãnh đạo ở Việt Nam lãnh đạo như thế nào mà cả họ và gia đình họ đều muốn rời khỏi Việt Nam? Cố nhiên lý do họ muốn rời quê hương của họ hoàn toàn không giống lý do của đại đa số những người khác bị đưa vào thế phải rời khỏi xứ sở như một cuộc vượt thoát của người tù trong một nhà tù vĩ đại.
Viết đến đây tôi nhớ đến câu chuyện giữa Đức Khổng Tử và người đàn bà ngồi khóc vì có con bị cọp ăn.
Đức Khổng Tử đến một làng hẻo lánh nổi tiếng có nhiều cọp dữ. Ông gặp một người đàn bà ôm mặt khóc tức tưởi. Đức Khổng Tử hỏi tại sao bà khóc. Người đàn bà trả lời: “Con tôi vừa bị cọp ăn. Cả nhà tôi đều bị cọp ăn chỉ còn sót một mình tôi chưa bị cọp ăn mà thôi.”
Nghe như vậy Đức Khổng Tử ngạc nhiên hỏi: “Ở nơi hẻo lánh và có nhiều cọp dữ như vậy sao không tìm cách đi nơi khác mà sống?
Người đàn bà đáp: “ Ở đây có nhiều cọp dữ. Nhưng các nhà cai trị đều thương dân, lo cho dân. Chắc gì đến nơi khác có những phụ mẫu chi dân tốt như vậy.
Đức Khổng Tử day sang các đệ tử và nói rằng: “ Nhà cai trị thối nát, hung bạo , tham lam, hối mại quyền thế còn dữ hơn cả cọp dữ ăn thịt người.
Việc gia đình các viên chức Cộng Sản chuẩn bị rời khỏi quê hương sau khi làm giàu không thể so sánh với cuộc đối thoại giữa Đức Khổng Tử và người đàn bà ngồi khóc vì có con bị cọp ăn được. 
Xem chừng cuộc sống của bốn triệu người Việt Nam sống trên 80 quốc gia trên thế giới không còn là sự sống tạm nữa. Những người xuất khẩu lao động sang các nước Cộng Sản như Liên Sô, và các nước Đông Âu đều có lý lịch Cộng Sản tốt. Các nước Cộng Sản Đông Âu hay Liên Sô tuy không giàu có như các nước Âu Châu không Cộng Sản như Pháp, Tây Đức, Hòa Lan, Ý…nhưng vẫn hơn Việt Nam rất nhiều. Sau khi các nước Cộng Sản Đông Âu không còn theo chế độ Cộng Sản và Liên Sô sụp đổ, họ cũng cố gắng tìm mọi cách ở lại đó chớ không nghĩ đến việc về “phục vụ” quê hương Xã Hội Chủ Nghĩa với niềm tin không lay chuyển về sự lãnh đạo ưu việt của đảng. Cho dù chế độ Cộng Sản tồn tại hay tiêu vong, có bao nhiêu người trong số 04 triệu người sống trên 80 quốc gia trên thế giới về “phục vụ” quê hương với những tinh hoa học hỏi được từ 80 quốc gia trên thế giới? Câu trả lời sẽ làm cho người lạc quan nhìn đời qua màu hồng thất vọng ê chề. Trên hai thập niên quả có ba người nổi tiếng về nước là tướng Nguyễn Cao Kỳ, nhạc sĩ Phạm Duy và tiến sĩ văn chương Trần Văn Khê với luận án La Musique Traditionnelle du Việt Nam (Âm Nhạc Cổ Truyền Việt Nam). Các vị này hy vọng khi chết được chôn nơi quê cha đất tổ. Hai ông Phạm Duy và Trần Văn Khê được toại nguyện vì cả hai ông đều tham gia công tác văn nghệ trong những ngày đầu cuộc chiến tranh Việt- Pháp. Tướng Nguyễn Cao Kỳ không được chôn ở Sơn Tây như ông mong ước khi còn sống mà được chôn ở quê hương thứ hai của ông.
Người cầm quyền trị quốc như thế nào mà dân chúng lúc nào cũng ngóng bên ngoài để tìm cơ hội thuận tiện rời khỏi xứ? Ngay cả người cầm quyền và gia đình họ cũng có thái độ tương tự. Vậy con thuyền Việt Nam sẽ đi về đâu? Quo vadis?
>  
PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

Saturday, October 24, 2015

Về vài địa danh mang tên thảo mộc.

Ở Việt Nam có rất nhiều địa danh mang tên thảo mộc. Trong khuôn khổ bài viết nầy chúng tôi chỉ đề cập đến Gò Vấp, Củ Chi, Trảng Bàng, Giồng Trôm, Thốt Nốt và Bạc Liêu mà thôi.

GÒ VẤP
Trước năm 1975 Gò Vấp là một quận của tỉnh Gia Định gồm có 8 xã. Quận lỵ Gò Vấp cách Sài Gòn 10km. Đó là nơi có nhiều thành quách (An Nhơn, Hạnh Thông Tây), vườn rau cải (Hạnh Thông Tây), ruộng rau muống (Xóm Mới), vườn dừa (An Phú Đông, Bình Triệu), vườn sầu riêng, măng cụt (Nhị Bình), vườn bưởi (Thạnh Lộc) với hai xã đông dân cư và phồn thịnh về kinh tế và thương mại gần Sài Gòn: Bình Hòa và Thạnh Mỹ Tây.

Sau năm 1975 Gò Vấp là một quận trong thành phố. Diện tích Gò Vấp bấy giờ thu hẹp chỉ còn 20 km2. Các xã Bình Hòa, Thạnh Mỹ Tây trở thành quận Bình Thạnh, Nhị Bình, Thạnh Lộc, An Phú Đông sát nhập vào quận Hóc Môn. 

Gò Vấp là quận đông dân cư. Đó là nơi có nhiều giáo đường và chùa chiền. Viện Mồ Côi và bịnh viện Cộng Hòa nằm trong quận nầy. Sau năm 1954 Gò Vấp nổi tiếng về việc sản xuất pháo (Xóm Mới).

Địa danh Gò Vấp do tên của cây vấp mà ra. Tên khoa học của cây vấp là Mesua coromandelina, Mesua ferrea, Mesua nagassanium... thuộc gia đình Clusiaceae hay Guttiferae. Loại thảo mộc nầy có nhiều ở Ấn Độ, Sri Lanka và các quốc gia Đông Nam Á. Người Ấn Độ gọi là nagkesa; tiếng Phạn (Sanskrit): nagakesara; Khmer: bos neak. Người Anh gọi là cobra saffron vì theo tiếng Phạn naga có nghĩa là con rắn và chữ saffron gợi lên màu vàng của cây vấp. Tiếng anh cũng gọi cây vấp là iron wood tree hay Ceylon ironwood (thiết mộc Tích Lan).

Cây vấp cao từ 15 - 20m. Gỗ màu vàng rất cứng, ngâm duới nước không bị rã mục. Lá cây vấp nhọn, thon, dài trông rất đẹp. Lá non màu đỏ bầm. Hoa to, màu trắng bốn cánh với nhụy vàng. Hoa có hương thơm. Trái có hột dùng để lấy dầu.

Gỗ cây vấp dùng để làm nhà, ngạch đường rầy xe lửa rất tốt. Dầu lấy từ hột cây vấp dùng để thắp đèn. Cây vấp là quốc mộc ở Sri Lanka (đảo Ceylon: Tích Lan), nơi cây vấp được gọi là nahar.

Người ta dùng hoa, rễ và hột cây vấp để làm thuốc trị bịnh. Hoa được dùng để trị táo bón, đau bụng, phong hủi, ho, sốt, bất lực sinh lý. 

Dầu dùng để trị các chứng bệnh ngoài da, trị ghẻ, tê thấp. Dầu cây vấp có nhiều ác xít béo: ác xít stearic. oleic, linoleic và arachidic. Hoa khô dùng để trị bịnh trĩ, kiết lỵ. 

Hoa tươi trị ngứa, kinh nguyệt, khát nước quá độ (tiêu khát; tiểu đường), ra mồ hôi. 

Rễ dùng để trị rắn cắn. Lõi cây vấp có nhiều xanthones: euxanthones, mesuaxanthones A, mesuaferrone B. Nhụy hoa có hai bioflavonoids: mesuaferrone A và mesuaferrone B và ác xít mesuanic. Vỏ có ferruol B và triterpenoid gutiferol.

CỦ CHI
Trước năm 1954 Củ Chi là một quận trong tỉnh Gia Định. Sau năm 1954 quận nầy nằm trong tỉnh Bình Dương một thời gian ngắn. Khi tỉnh Hậu Nghĩa được thành lập, Củ Chi nằm trong tỉnh tân lập nầy. Trước năm 1975 Củ Chi có 14 xã.

Sau năm 1975 Củ Chi là một quận ngoại thành của thành phố. Quận Củ Chi nằm cách Sài Gòn 40 km. Diện tích quận Củ Chi lối 435 km2. Đa số dân đều sống bằng nghề nông và đan thúng rổ, làm vật dụng bằng mây. Củ Chi được biết đến nhiều trong chiến tranh vừa qua. Vùng nầy nằm trong vùng Tam Giác Sắt. Bộ tư lệnh Sư Đoàn 25 đóng tại đây. Sau năm 1975 tân chế độ gọi Củ Chi là Đất Thép Thành Đồng và biến Địa Đạo Củ Chi thành vùng du lịch.

Củ Chi là sinh quán của Trần Minh Tiết, Chánh Án Tối Cao Pháp Viện VNCH.

Địa danh Củ Chi phát xuất từ tên gọi của cây củ chi tức mã tiền. Cây củ chi hay mã tiền được tìm thấy nhiều ở Nam Á và Đông Nam Á. Tên khoa học của nó là Strychnos nux-vomica thuộc gia đình Loganiaceae. Người Anh gọi là poison nut (vì độc chất của mã tiền), quaker buttons, snake-wood, nux-vomica, strychnine tree. Người Ấn Độ có nhiều kinh nghiệm về việc dùng mã tiền (củ chi) làm thuốc. Họ gọi mã tiền (củ chi) là kuchala. Người Trung Hoa gọi là ma qian zi. 

Cây củ chi cao đến 25 m. Lá bầu như trầu. Trên lá có nhiều gân lá song song với rìa lá. Hoa nhỏ màu trắng ngà kết thành chùm. Trái tròn màu vàng cam khi chín. Gỗ trắng và cứng.

Củ chi nổi tiếng vì độc chất của nó. Nhưng độc chất đó cũng được nghiên cứu kỹ lưởng để dùng vào việc chữa trị bệnh. Nó có alkaloid strychnine rất độc. Vỏ có brucine và nhiều hợp chất độc khác. Nói chung cây củ chi có nhiều độc chất. Nhưng dùng ở liều lượng đúng, nó trở thành thuốc trị đau bụng, gây nôn, táo bón, mất ngủ, bịnh tim, thần kinh, tinh thần hồi hộp bất an, kinh nguyệt không điều hòa, bịnh hô hấp của người già, viêm vành tai ngoài gây ngứa ngáy khó chịu.

Trong y học dân gian người ta xem mã tiền như thuốc bổ tạo sự thèm ăn. Hiện nay ở Trung Hoa người ta nghiên cứu xem củ chi có thể dùng vào việc chữa trị ung thư gan hữu hiệu hay không.

TRẢNG BÀNG
Tràng Bàng là một quận trong tỉnh Tây Ninh gồm có 7 xã. Quận nầy nằm cách Sài Gòn 50 km về phía tây bắc. Quận Trảng Bàng rộng lối 340 km2. Trảng Bàng nổi tiếng với bánh canh giò heo ăn với bánh tráng phơi sương (không cần nhúng nước), rau rừng và nước mắm pha chế đặc biệt của người miền đông Nam Ky. 

Năm 1972 một bức ảnh chụp một em bé trần truồng chạy ngoài quốc lộ ở Trảng Bàng sau một cuộc dội bom napalm trong một làng trong quận Trảng Bàng được giải thưởng Putlitzer.

Trảng Bàng là sinh quán của giáo sư Nguyễn Ngọc An, người sáng lập hai trường Minh Đức (Trảng Bàng) và Tân Dân (Hóc Môn). có một thời ông là tổng trưởng bộ Thông Tin và Chiêu Hồi.

Theo từ nguyên thì Trảng (savanna) là một vùng đất trống có nhiều cỏ và cây cùng một loại mọc lưa thưa. Bàng là cây bàng, một loại thảo mộc được tìm thấy nhiều ở Nam Á, Đông Nam Á, Nam Hoa, các hải đảo Thái Bình Dương và biển Caribbean.

Tên khoa học của cây bàng là Terminalia molucca (còn nhiều tên khác) thuộc gia đình Combretaceae. Chữ molucca trong tên khoa học cho thấy nguồn gốc Molucca, Indonesia, của loại thảo mộc nầy hay ít ra nó cũng có nhiều trên đảo nầy. Người Anh gọi cây bàng là umbrella tree (vì bóng mát rộng lớn của nó), tropical almond (hạnh nhiệt đới) như người Tây Ban Nha gọi almondro de la India (hạnh Ấn Độ) Người Miến Điện gọi là badan và Khmer là pareang prang.

Cây bàng cao đến 25 m, có nhiều nhánh nên cho bóng mát rộng lớn. Lá bàng to, dày và láng. Vào mùa thu lá chuyển sang màu vàng rồi đỏ rất đẹp trước khi rụng. Trái bàng khá to, cơm dày ăn được. Hột có nhiều dầu và có mùi dễ chịu. Hột được ăn sống hay rang chín. Lá hay hoa cây bàng đều đẹp. Lá tươi hay khô đều được dùng làm thuốc nhuộm. Màu xanh chuyển sang màu vàng khi cho phèn chua và sulfate sắt vào. 

Gỗ cây bàng rất cứng và đẹp. Nó được dùng để cất nhà hay làm đồ mộc. Trồng cây bàng để có bóng mát, có nhiều gỗ, thanh lọc không khí, chống xâm thực ngoài bờ biển và tạo phong cảnh đẹp.

Lá, gỗ, vỏ, hột cây bàng đều được dùng làm thuốc. Sự dồi dào tannins của lá, vỏ làm cho cây bàng hữu dụng trong việc trị chứng tiêu chảy, kiết lỵ và đau nhức. Hột được dùng làm thuốc trị huyết tiện (hematuria). Ở Ấn Độ người ta dùng lá bàng trị tê thấp. Kết hợp với thuốc xức để trị ghẻ, phong hủi và các chứng bịnh về da.
Trái bàng có ác xít tannic. Tannin của lá và vỏ cây bàng có punicalagin chống oxy hóa. Những thí nghiệm gần đây vào chuột cho thấy hoạt chất lấy từ lá bàng có tác dụng bảo vệ gan.

Ngoài cây bàng vừa nói qua còn có cây bàng nước mang tên khoa học Terminalia belerica (còn nhiều tên khác) thuộc gia đình Combretaceae. Đó là một loại thảo mộc miền nhiệt đới và khí hậu đại dương như cây bàng Terminalia molucca. Người Anh gọi cây bàng nước là belliric myrobalan (người Miến Điện gọi cây bàng là Balan); người Ấn Độ gọi là Bibitaki. Tiếng Sanskrit (Phạn) gọi cây bàng nước là Vibhitaki, có nghĩa là không sợ bị bịnh. Tên gọi nầy cho thấy tính năng trị liệu cao của cây bàng nước. 

Cây bàng nước có sistosterols, ác xít gallic, ellagic, chebulagic, galloyl glucose và đường. Hột có ác xít oxalic, protein. Vỏ có nhiều tannins.
Trái bàng nước nhuận trường, cầm máu, trị đau cuống họng, ho, đau mắt, bịnh ngoài da, phong hủi, thủy thũng, tiêu chảy, kiết lỵ, làm cho tóc đen. Nó kháng trùng, kháng ung thư và bảo vệ gan chống nhiễm độc chất.

GIÒNG TRÔM
Trước năm 1975 Giòng Trôm là một quận của tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) với 15 xã. Sau 1975 nó vẫn là một quận của Bến Tre với diện tích lối 310 km2. Quận lỵ Giòng Trôm nằm trên bắc vĩ tuyến 10 độ 15' và đông kinh tuyến 106 độ 05'.
Giòng Trôm là một quận nông nghiệp. 

Đó là quận sinh quán của Cử Trị tức Phan Văn Trị (1830 - 1910), người đả kích Tôn Thọ Tường hợp tác với người Pháp vào thế kỷ XIX; tướng Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định trong hai cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua. 

Tân chế độ luôn nhắc và tự hào về cuộc Đồng Khời Bến Tre xuất phát từ Cù Lao Bảo và Cù Lao Minh trong quận Giòng Trôm vào ngày 17-01-1960 mở đầu cho cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ hai (1960-1975).

Ở Nam Ky có rất nhiều địa danh có chữ Giòng như Giòng Ông Tố, Giòng Gạch, Giòng Ông Khuê v.v.  Giòng là vùng đất cao ít nước, Trôm là cây trôm. Có hai loại cây trôm:

1- Trôm hôi Sterculia foetida.
2- Trôm nhựa Sterculia hypochra.

Cả hai loại trôm nầy đều thuộc gia đình Sterculiaceae như cây cola, cây lười ươi hay gia đình Malvaceae như bông vải, cây gòn.

Thảo mộc thuộc gia đình Sterculiaceae đều có mùi hôi khó chịu. Theo tiếng La Tinh Stercus có nghĩa là "phân". Chử foetida trong tên khoa học của cây trôm hôi phản ảnh mùi hôi của nó. Người Anh gọi cây trôm hôi là Java olive ((ô-liu Java), Skunk tree (cây chồn hôi). Người Lào gọi là som hong.

Cây trôm hôi được tìm thấy nhiều ở Indonesia, Mã Lai, Phi Luật Tân, Việt Nam, Ấn Độ. Ở Hoa Kỳ nó được tìm thấy ở Hawaii, Arizona. 

Cây trôm cao từ 15-25 m. Lá dày, dài và láng rất đẹp, cùng một cuống có 5 lá tụ lại thành hình ngôi sao. Hoa đỏ rất đẹp. Trái có vỏ dày. Bốn năm trái tụ lại tạo thành hình ngôi sao đỏ khi chín. Khi lớp vỏ cứng bên ngoài vỡ ra, bên trong có nhiều hột màu đen nhạt. Hột rất chắc và có nhiều dầu. Người ta dùng dầu trôm để thắp đèn. Hột trôm rang dùng để ăn. Gỗ trôm không cứng chắc nên không có giá trị trong ngành mộc. Nhưng cây trôm cho bóng mát và tạo cảnh đẹp cho vùng khí hậu nhiệt đới và bán nhiệt đới.
Hột trái trôm có ác xít sterculic, oleic, myristic, palmitic, tristerculin, tristearin, ác xít béo và glycerides. Hột trái trôm nhuận trường. 

Dầu trôm màu vàng nhạt có thể dùng như dầu ô-liu trong nấu nướng hay dùng để thắp đèn. Ở Cambodia người ta dùng dầu cây trôm làm mỹ phẩm. Bánh dầu dùng để trị ghẻ ngứa.

Cây trôm nhựa Stercularia hypochra có nhiều ở những vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới trên thế giới. Người Khmer gọi là Tlon. Tỉnh Biên Hòa là nơi có nhiều cây trôm nhựa. Hoa trôm nhựa màu vàng và có lông mịn. Trái hình trứng. Nhiều trái tụ lại thành hình ngôi sao như cây trôm hôi. Trái có vỏ ngoài rất cứng. Hột đen nhạt rất chắc. Hột có nhiều dầu. 

Thân cây trôm nhựa có nhiều nhựa. Khi dùng dao băm vào thân cây, nhựa tuôn ra. Nhựa đó là Gummis sterculiae hydrochae màu vàng nhạt dễ hòa tan trong nước. Khi ra không khí nhựa chuyển sang màu đen. 

Theo kinh nghiệm dân gian người ta dùng nhựa nầy để ăn cho mát cơ thể và để trị chứng tiêu chảy. 

Ở Phi Châu người ta dùng nhựa để trị tiêu chảy. Nó hữu dụng trong ngành nhuộm.

THỐT NỐT
Trước năm 1975 Thốt Nốt là một quận của tỉnh An Giang (tên cũ: Long Xuyên). Quận Thốt Nốt gồm có 9 xã. Đó là một trong những vùng nông nghiệp trù phú bên châu thổ sông Cửu Long. Thốt Nốt là quận tương đối "thái bình" trong cuộc chiến tranh vừa qua. Thốt Nốt có nhiều tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Về vị trí địa lý đó là trục giao thông bằng đường thủy quan trọng nối liền các tỉnh An Giang – Phong Dinh (Cần Thơ) – Châu Đốc – Kiến Phong. 

Sau năm 1975 Thốt Nốt là một huyện trong tỉnh Cần Thơ. Huyện nầy cũng có 9 xã như trước.

Thốt Nốt âm từ chữ Thnot của người Khmer chỉ một loài thảo mộc giống như cây dừa. Nhựa của cây nầy được dùng để làm ra đường "thốt nốt" khác với đường mía. Tên khoa học của cây thốt nốt là Borassus flabellifer thuộc gia đình Palmae (lá cọ) hay Arecaceae (dừa, cau). 

Tên gọi của người Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha về thốt nốt luôn có chữ Palmyra. Palmyra là tên một thành phố cổ ở Syria gần thủ đô Damascus. Trong Thánh Kinh Do Thái thành Palmyra được biết dưới tên Tadmor. Có phải chăng cây thốt nốt xuất phát từ Palmyra, Syria?
Hay Phi Châu như tên gọi African fan palm của người Anh?

Cây thốt nốt được tìm thấy nhiều ở Ấn Độ, Sri Lanka, Mã Lai, Indonesia, New Guinea, Miến Điện, Thái Lan, Cambodia. Có thể cây thốt nốt ở Đông Nam Á gốc Ấn Độ, nơi cây thốt nốt được gọi là TALTAR. Ở Miến Điện, Thái Lan âm Tan của chữ TAL (âm đầu của chữ taltar) được tìm thấy như tanabin (Miến) và tan-yai (Thái). Ở Mã Lai và Indonesia nơi ảnh hưởng ngôn ngữ và văn hóa của Ấn Độ rất đậm nét âm TAR (âm sau cùng của chữ taltar) được tìm thấy trong tên gọi LONTAR.

Ở Ấn Độ và Sri Lanka có nhiều đồn điền thốt nốt. Thốt nốt được xem là thiên thanh mộc vì có công dụng đa dạng. Người Việt Nam biết đến cây thốt nốt khi tiếp xúc với người Khmer vào thế kỷ XVII và XVIII.

Cây thốt nốt cao từ 20 - 25 m. Cây hao hao giống cây dừa. Tàu lá cũng hao hao giống tàu lá dừa. Tàu lá dài đến 2 - 3 m. Trái thốt nốt nhỏ chớ không to như trái dừa. Khi còn non nó có 3 cạnh vì mỗi trái có ba hột bên trong. Khi lớn trái có hình bầu dục. Cơm và hột trái thốt nốt đều ăn ngon.

Khác với cây dừa, cây thốt nốt chịu nắng hạn rất tốt. Cây có nhiều công dụng trong đời sống cư dân miền nhiệt đới và bán nhiệt đới như cây dừa vậy. Gỗ cứng màu đen đỏ, dùng làm nhà hay hàng rào. Miến Điện là quốc gia xuất cảng gỗ thôt nốt nổi tiếng. Lá thốt nốt dùng để lợp nhà, đan thúng rổ, nón, quạt hay chầm làm áo mưa. Ngày xưa người Indonesia và Khmer dùng lá thốt nốt làm giấy để khắc chữ viết để lưu văn kiện và tài liệu.

Nhựa cây thốt nốt dùng để làm đường hay cho lên men để làm ra rượu arrack hay làm giấm. Trung bình một cây thốt nốt có thể cho 350 trái mỗi năm. Mỗi cây cho 4 - 5 lít nhựa mỗi ngày suốt 200 ngày trong năm. 

Tàu lá phơi khô dùng để làm củi nấu nướng. Tàu lá có nhiều sợi. Người ta chẻ tàu lá tươi để làm dây cột hay bện thành dây thừng to và bền chắc.

Đường thốt nốt bổ hơn đường mía vì có nhiều glucose, sucrose, chất béo, chất sắt, chất vôi, phosphorus và sinh tố B.

Cây thốt nốt non dùng để trị kiết lỵ, làm rau. Rễ rất nhuận tiểu, lợi cho bộ hô hấp và khả năng diệt lãi trong đường ruột. Người ta đốt mo bông lấy tro để chữa bệnh gan và sưng lá lách. Vỏ cây thốt nốt sắc nước dùng để súc miệng. Nhựa lấy từ hoa thốt nốt rất bổ, nhuận tiểu, kháng khuẩn, tiêu đàm. Đường thốt nốt dùng để chữa viêm da.

Người Việt Nam trồng dừa nhưng không trồng thốt nốt và dùng đường mía chớ không dùng đường thốt nốt. Người viết bài nầy dành cho độc giả quyền suy luận để tìm hiểu cái tại sao của tiền nhân khi ở địa danh Thốt Nốt không có cây thốt nốt.

BẠC LIÊU
Bạc Liêu nằm về phía đông nam Nam Bộ cách Sài Gòn 280 cây số về phía nam. Vùng đất nầy hình thành trên bản đồ hành chánh vào năm 1735 do công lao của Mạc Thiên Tích. Vào thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn, Bạc Liêu là một huyện của trấn Hà Tiên (Hà Trấn). Năm 1833 Hà Trấn được đổi thành tỉnh Hà Tiên. 

Dưới thời Pháp thuộc Bạc Liêu là một trong 21 tỉnh ở Nam Kỳ. Tỉnh Bạc Liêu có các quận: Giá Rai, Cà Mau, Thới Bình, Quản Long, Tân Bang, Năm Căn Đông và Tây, Vĩnh Châu. Năm 1956 quận Giá Rai sát nhập vào tỉnh Ba Xuyên (tên cũ: Sóc Trăng). Các quận còn lại nằm trong tỉnh An Xuyên.

Sau năm 1975 tỉnh An Xuyên được đổi thành tỉnh Minh Hải. Năm 1996 tỉnh Minh Hải được chia ra làm hai tỉnh:

1- Tỉnh Bạc Liêu (Bắc)
2- Tỉnh Cà Mau (Nam)

Tỉnh Bạc Liêu có 6 huyện: Đông Hải, Giá Rai, Hòa Bình, Hồng Dân, Phước Long, Vĩnh Lợi. diện tích lối 2.500 km2. Đó là một tỉnh trù phú về lúa gạo, ngư sản. Bạc Liêu là nơi có nhiều người Việt gốc Hoa và người Khmer Krom sinh sống. Đó là chiếc nôi của Vọng Cổ Hoài Lang, là sinh quán của Công Tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy (1900-1973) nổi tiếng hào sảng nhất nước thời thuộc địa.

Bạc Liêu nước chảy lờ đờ
Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu
.
 
Bạc Liêu âm từ tiếng Khmer Po-Loeuth có nghĩa là cây da to lớn. Tên khoa học của cây da là Ficus indica hay Ficus benghalensis cho thấy xuất xứ Ấn Độ và vùng Bengal của cây da.

Đó là một loại thảo mộc miền nhiệt đới và khí hậu đại dương được tìm thấy nhiều ở Ấn Độ, Sri Lanka, Pakistan, các nước Đông Nam Á, hải đảo Thái Bình Dương v.v...  

Cây da cao lối 25m, có nhiều nhánh nên cho bóng mát rất tốt. Gốc cây rất to. Ngoài rễ dưới đất nó còn có nhiều rễ treo trên cành và đâm thẳng xuống đất để trở thành một thân cây nhỏ khác. Những cây da cổ thụ ở Sri Lanka hay Ấn Độ có nhiều cây nhỏ bao quanh như một đám rừng vậy. Cây da cổ thụ ở Sri Lanka có 350 thân cây lớn với 3.000 cây thân nhỏ! 

Trong Vườn Bách Thảo Quốc Gia Kolkata ở Ấn Độ có cây da 300 tuổi và cho bóng mát trên một châu vi 1.000m. Cây da là quốc mộc của Ấn Độ. Lá cây da to, láng và dày. Trái tròn khi chín chuyển sang màu đỏ giống như trái sung. Cây da rất cần nước nên nó không thể mọc ở những vùng đất khô hạn.

Người Ấn Độ gọi cây da là bargad, banya. Nhiều nơi khác ở Ấn Độ gọi cây da là Vada. Tiếng Sanskrit gọi là bahupada. Có phải chăng chữ ĐA mà người Việt Nam gọi là âm cuối cùng của chữ VADA hay BAHUPADA? 

Người Anh gọi cây da là Banyan tree, Indian banya tree xuất phát từ chữ banya của Ấn Độ mà ra. Chữ banya không có nghĩa là cây cối gì cả mà có nghĩa là cửa tiệm hay thương nhân. Vì ngày xưa người Ấn Độ mở cửa tiệm dưới bóng mát của cây da để buôn bán. Ở nước ta có quán bà Bầu dưới gốc cây da nên trước năm 1954 ở Sài Gòn - Chợ Lớn có đường Da Bà Bầu(quán của bà Bầu dưới tàng cây da. Người Nam Ky gọi là CÂY DA chớ không phải CÂY ĐA).

Y thư Ayurveda của Ấn Độ trân quí cây da. Lá, rễ, trái, rễ treo, nhựa cây da đều được dùng làm thuốc cầm máu trị xuất huyết, trĩ, binh về mật, đau âm hộ, ho, sốt, lở loét, ói mửa, viêm, phong hủi. Nhựa được xem là bổ dưỡng, kích dục, giảm viêm, trị lâm lậu. 

Rễ được dùng để trị giang mai, bịnh về mật, kiết lỵ, tiêu chảy, viêm gan. Lá cây da lông tức lá tì bà dùng để trị ho và thủy thũng.

Ở Việt Nam dước gốc cây da thường có một cái miếu nhỏ thờ Thần. Từ đó có câu:

Thần cây da,
Ma cây gạo,
Cú cáo cây đề
Cây da cậy Thần
Thần cậy cây da
.
 
Trong văn chương Việt Nam người ta thường mượn hình ảnh cây da đầu làng, cây da bến nước, cây da đầu đình để gợi tình hoài hương. Ca dao Việt Nam nói nhiều về cây da như: 

Cây da cũ, con én rũ, cây da tàn,
Bao nhiêu lá rụng, em thương chàng bấy nhiêu.
Trăm năm dẫu lỗi hẹn hò
Cây da bến cũ con đò khác đưa.
Cây da bến cộ còn lưa,
Con đò đã thác năm xưa tẻ rồi.
 
Trong chuyện cổ tích có chuyện Cây Da với Thằng Cuội tạo nguồn cảm hứng cho Lê Thương phổ nhạc. Vào thế kỷ XVIII Phạm Đình Hổ tức Chiêu Hổ (chiêu: cậu ấm, cậu chiêu, con của các tiến sĩ ngày xưa) cũng dựa vào cảm hứng nầy khi viết:

Khi nào trong thả lên cung nguyệt,
Cho cả cành đa với củ đa.
 
Dùng tên thảo mộc để đặt địa danh cho thấy tiền nhân chúng ta ý thức được tầm quan trọng của cây cỏ trong đời sống. Sự gia tăng dân số, nhu cầu xây dựng nhà cửa, các công trình lợi ích công cộng, việc phá rừng khai thác gỗ, làm củi, hầm than hay nới rộng diện tích canh tác, chiến tranh, bột hóa học khai hoang hủy hoại một số thảo mộc đáng kể trong nước. Các địa danh ghi trên không còn mang ý nghĩa ban đầu của chúng. Chiến tranh ma túy trên thế giới đua cây coca Erythroxylum coca, cây thẩu Papaver somniferum và cần sa Cannabis sativa vào nguy cơ tuyệt chủng. 

Nếu Jean Jacques Rousseau còn sống, ông vẫn giữ câu nói của ông:

"Tout est bien sortant de la main de l'auteur des choses. Tout dégénère entre les mains de l'homme."

Thảo mộc là sản phẩm Thiên tạo. Á phiện, cần sa, cocain là sản phẩm Nhân tạo.

Phạm Đình Lân. F.A.B.I.

Blog Archive