Showing posts with label Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC. Show all posts
Showing posts with label Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC. Show all posts

Tuesday, January 17, 2023

Chuyện kể về tấm thẻ của cô Bác sĩ Vivian Le


 

 

















Câu chuyện được bắt đầu vào sáng ngày 23-3-1975


Sau khi chồng và con trai bị chết vì đạn pháo kích của VC đồng thời bị thất lạc đứa con gái trong ngày di tản tại tại bãi biển Chu Lai, chị Buôn quấn quýt chạy khắp nơi để hỏi thăm về đứa con gái của mình… chị đã được một người chạy nạn cho biết:


“Con bé khoảng 9 hay 10 tuổi mặc cái áo xanh, quần đen, cổ có đeo cái thẻ bài của lính là con chị sao? Nó được một người trên ca-nô nhào xuống nước bơi vào vớt nó đưa lên ca-nô ra tầu lớn rồi. Thật là may mắn cho nó!”…


Lệ, đứa con thất lạc của chị Buôn được đưa lên tầu Hải quân với chiếc thẻ bài đeo toòng teng nơi ngực. Người ta thấy có khắc tên: Lê văn Buôn Số quân: … Họ hỏi Lệ. Lệ nói đó là tên ba nó, ba Buôn của nó, bị lọt lại với má và ba đứa em tại bãi biển Chu Lai. Mới đầu Lệ sụt sùi khóc nhưng có người đàn bà ngồi gần bảo nó khóc không ích gì. Nó cắn răng nghe lời bà này, làm theo những gì người ta chỉ bảo. Tiếng nổ làm cho nó ù tai nhưng cái sợ làm nó quên cả. Kể từ lúc quả lựu đạn nổ, nó gần như mê đi cho đến khi có người vớt nó đưa lên ca-nô rồi lên tầu.


Người vớt nó lên ca-nô và đưa nó lên tầu, nhận nó là con nuôi là một Thiếu Uý Hải quân mới ra trường. Sau thời gian huấn luyện dài đằng đẵng, tim anh còn đầy ắp tình người dành cho đồng hương và cả nhân loại. Ước mơ của anh là những chuyến hải hành xa, đi đến chân trời góc biển, đi đến những đô thị lớn hoa lệ, nguy nga, ngợp ánh đèn về đêm và nườm nượp xe cộ, người đi bộ trên hè phố ban ngày.


Anh tên Lê Trọng Nghĩa, 28 tuổi, quê quán ở miệt Thủ dầu Một, ra trường với hạng cao trong số hơn 60 sinh viên tốt nghiệp trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang và hiện là một Sĩ Quan ưu tú của Giang đoàn 240 đóng ở miền Trung. Chiếc tầu Nghĩa và đứa con nuôi là Lệ về đến bến Bạch đằng Sàigòn vào tuần đầu tháng 4-1975, đang lúc Sàigòn lên cơn sốt y như miền Trung mấy tuần trước. Nghĩa đưa Lệ đến gửi vợ một người bạn trong trại Sĩ Quan bến Bạch đằng, lại gửi tiền và nhờ Xuân Hà, tên vợ người bạn, đi mua sắm quần áo và những thứ cần thiết hàng ngày cho Lệ. Xuân Hà nhìn Nghĩa rồi nhìn Lệ và hỏi nhỏ Nghĩa:


“Con bé xin được ở đâu mà xinh quá vậy? Tốn vài tạ gạo nữa là đã ra dáng tiểu thư rồi. Anh lựa hay lắm.”


Nghĩa nghiêm nét mặt bảo Xuân Hà:

“Chị đừng nghĩ vậy. Ba má nó và ba đứa em còn kẹt lại Chu Lai. Chỉ có mình nó được tôi cứu lên tầu. Tôi nhận nó làm con nuôi.”


Xuân Hà tính đùa thêm một câu nhưng thấy mặt Nghĩa lạnh như tiền nên không dám cợt nhả nữa.


Ngày 28-4-1975, Nghĩa lại mang Lệ lên một chiếc tầu Hải Quân HQ thực lớn để chạy sang Guam. Nghĩa con một, cha mẹ Nghĩa đã lớn tuổi muốn sống và chết ở Thủ dầu Một nên không đi mặc dầu trong thời gian ở Sàigòn, Nghĩa đã cải trang về thăm và mời ông bà đi.


Sau 5 tháng ở trong trại tạm cư ở Guam, Nghĩa và Lệ được một nhà thờ bảo trợ đi South Carolina. Từ đây, Nghĩa xin Basic Grant của tiểu bang để vào Đại học học Kỹ sư cơ khí. Ngoài giờ học, Nghĩa đi làm part time cho tiệm Sears ở downtown để lấy tiền chi phí ăn ở cho hai cha con. Nghĩa xin cho Lệ vào học ở trường tiểu học địa phương, có xe bus nhà trường đưa đón mỗi ngày và ăn sáng, ăn trưa miễn phí vì hai cha con Nghĩa chưa có lợi tức. Nghĩa chỉ thêm bài vở cho Lệ mỗi buổi tối sau khi cơm xong. Lệ thông minh nên học rất nhanh. Để giúp ba Nghĩa, nó biết đặt nồi cơm điện, luộc rau, luộc trứng, làm những món giản dị rồi chờ ba Nghĩa về ăn cơm.


Mặc dầu vào ngang thiếu căn bản 4 lớp đầu (học trình Hoa Kỳ), nhưng Lệ đã học xong lớp 5 Việt Nam, Lệ học lại với ba Nghĩa và một cô giáo Mỹ dạy kèm (tutor) tất cả những gì cần thiết chưa được học ở các lớp dưới, nhất là Anh ngữ, vì vậy Lệ tốt nghiệp Trung học lúc mới 17 tuổi với điểm trung bình 4.0, một thành tích vượt mức ngay với học sinh bản xứ.


Nhiều lúc Lệ nhớ ba má, nhớ các em day dứt nhưng nghe ba Nghĩa khuyên, Lệ phải cố quên. Lệ cũng nghĩ và tự nhủ lòng, có khóc, có nhớ ba má và các em cũng không làm được gì, chỉ cản trở việc học. Đã từng ở trong cảnh nghèo của cha mẹ ở Việt Nam, Lệ biết được đi học thế này là một diễm phúc vì vậy Lệ cố gắng và chăm chỉ hết mức. Ba Nghĩa cũng khuyên Lệ, sau này có thể có bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, khi ấy Nghĩa sẽ tìm cách hỏi thăm tìm ra tung tích ba má và các em Lệ. Lệ nghe thế lại tạm yên lòng và hy vọng.


Mùa Thu năm đó, Lệ vào trường Đại học Y khoa South Carolina. Sau 3 năm, Lệ lấy Cử nhân Sinh Vật học với lời khen của Hội đồng Giám Khảo. Lệ chuyển qua học ngành Nhãn Khoa (Opthalmology). Năm 1990, Lệ đậu bằng Bác sĩ Nhãn Khoa hạng tối Ưu với lời ngợi khen của Ban Giám Khảo. Lệ được mời dạy môn Nhãn Khoa cho Sinh viên cùng trường. Lệ hỏi ý kiến ba Nghĩa, sau đó Lệ xin khất cho đến khi trở về từ Việt Nam.


Tốt nghiệp xong, Lệ bàn với ba Nghĩa, lúc này đã có vợ và một đứa con trai 2 tuổi, ba Nghĩa đồng ý, Lệ đi mua vé máy bay về Việt Nam tìm cha mẹ và các em. Sau hơn 10 năm bế quan toả cảng cả nước sắp chết đói, lúc này (từ 1985) chế độ bắt buộc phải mở cửa cho kinh tế thị trường nên cũng dễ dàng cho Lệ đi lại.


Lệ và một người bạn thân về đến Chu Lai vào một buổi chiều mùa Hạ năm 1990 sau khi đã lặn lội đi bằng đủ thứ xe từ Sàigòn ra miền Trung. Sau 15 năm, quang cảnh cũ đã thay đổi nhiều. Có những căn nhà mới mọc lên nhưng cũng có nhiều căn trại cũ biến mất. Chỉ có bãi biển, trông vẫn như trước mặc dù có nhiều hàng quán mọc lên bán thức ăn, thức uống cho du khách. Trại Gia binh ngày nào không còn. Lệ muốn được gặp lại những người hàng xóm của ba má Lệ ngày xưa như vợ chồng bác Sáu, vợ chồng chú Đàm, vợ chồng cô Bé… để hỏi thăm về cha mẹ và các em nhưng đi quanh quanh làng xóm, Lệ không kiếm ra một người quen cũ.


Lệ đeo cái thẻ bài vào cổ như ngày 23-3-1975 ra bãi biển Chu Lai, nhà nào Lệ cũng vào hỏi thăm và cho con cái họ quà bánh Lệ đem từ Hoa Kỳ về, giơ chiếc thẻ bài cho họ coi và hỏi thăm xem có ai biết ba má và các em Lệ không? Nhưng tuyệt nhiên không ai biết. Vốn đã có định kiến, Lệ xin phép chính quyền sở tại, không quên quà cáp cho họ, để mở phòng mạch khám mắt miễn phí cho mọi người. Một Nữ bác sĩ Hoa Kỳ, cô Ruthie O’Brien, bác sĩ gia đình, vốn là bạn thân và cùng ra trường một ngày với Lệ, cùng đi với Lệ về chơi thăm miền Trung Việt Nam, nhân dịp cũng bỏ đồ nghề ra khám bệnh và cho thuốc cùng những lời khuyên hữu ích để phòng ngừa bệnh tật. Các gia đình đến khám mắt và khám tổng quát, nhất là những ông già bà cả đều được hỏi về Trung sĩ Lê văn Buôn, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 1, Sư đoàn 2 Bộ binh vào tháng 3 năm 1975 nhưng không một ai biết. Mỗi buổi chiều khi khám bệnh xong, Lệ và Ruthie thường ra bãi biển Chu Lai ngồi ngắm sóng và ngắm hoàng hôn trên biển, nghe những tiếng rì rào của sóng biển chạy vào bờ rồi lại trườn ra xa. Thấy bạn buồn vì không tìm ra gia đình, Ruthie lựa lời khuyên nhủ và hỏi Lệ có còn muốn đến nơi nào khác để kiếm không? Lệ nghĩ chỉ có hai nơi khác ba má Lệ có thể ở là Nha Trang, quê của ba và Trà Vinh, quê của má. Lệ nói cho Ruthie nghe những nơi Lệ hy vọng nhiều nhất, sau đó Ruthie khuyên Lệ nên đi Nha Trang.


Nha Trang không hứa hẹn nhiều cho việc tìm kiếm vì Lệ đã đến đây gần một tuần, đi khắp nơi hỏi nhưng không ai biết cựu Trung sĩ Lê văn Buôn và vợ con.


Lệ thất vọng hoàn toàn, thầm nghĩ chỉ còn một nơi nữa là Trà Vinh. Nếu tại Trà Vinh cũng không có tung tích thì coi như gia đình Lệ đã bị tiêu tán trong hoặc sau ngày 23-3-1975. Nghĩ đến đó, Lệ cảm thấy buồn muốn khóc. Ba má và các em đi hết chỉ để lại mình con thôi sao, thế thì con có sống cũng mang mối u hoài đau khổ ấy suốt đời! Thà con ở lại nhà chia sẻ những đau khổ với ba má và các em rồi chết chung một huyệt cũng là xong một kiếp người. Lệ buồn khôn tả và khóc mỗi đêm về nhưng không dám cho Ruthie biết.


Một buổi sáng, Lệ cùng Ruthie mướn một chiếc xe hơi với tài xế để đi thăm Hòn Chồng, nơi thắng cảnh đẹp có tiếng của Nha Trang. Thật ra Lệ không còn tâm trí đâu ngoạn cảnh vì “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nhưng để chiều Ruthie, Lệ cho Ruthie đi nơi này nơi kia chụp hình lưu niệm và dọc đường có thể tìm vào các quán ăn ngon, các khách sạn sang trọng mướn phòng ngủ qua đêm. Lẽ ra trong chuyến đi này, Lệ mang theo vị hôn phu là bác sĩ Vĩnh Quang Dũng, chuyên khoa bệnh tiêu hoá, tốt nghiệp trước Lệ 3 năm và hai người quen nhau khi cùng làm việc trong một bệnh viện nhưng Dũng phải đi Á căn Đình dự một Đại Hội Y Khoa toàn cầu về bệnh tiêu hóa, đại diện cho Bộ Y Tế Hoa Kỳ.


Còn vị hôn phu của Ruthie có cha già đang nằm bệnh viện chữa trị bệnh tiểu đường nên anh cũng không thể theo Ruthie đi du lịch Việt Nam được.


Sau khi đã dạo chơi bãi biển hơn hai tiếng đồng hồ, Lệ đề nghị tài xế chở vòng qua con đường phía sau, nơi đây lưa thưa có dăm cái nhà trên bãi cỏ hoang. Phong cảnh quá tiêu sơ và u buồn, không có bóng một đứa trẻ. Lệ và Ruthie bàn với nhau đi xuống cuối con đường rồi trở lại, trở về thành phố Nha Trang.


Mới đi thêm một khoảng ngắn, đột nhiên chiếc xe bốc khói ở máy. Tài xế vội cho xe ngừng lại và kiểm soát máy thấy máy cạn khô không còn một giọt nước. Anh ta hoảng hồn tắt máy và ngơ ngáo đi tìm xung quanh để kiếm nước châm vào máy. Đó đây, ngoài con lộ đắp bằng đất đỏ thì toàn là gò đống và bụi cây mọc lưa thưa, tít tắp xa mới thấy vài mái tranh hiện trên nền trời xanh lơ. Lệ và Ruthie phải ngồi chờ dưới gốc cây cho bớt nắng trong khi bác tài lội bộ đi tìm nước.


Chợt Lệ trông thấy một đám người lố nhố trên một cái gò, cách xa Lệ khoảng 400 mét. Lệ chợt nghĩ hay là họ đào huyệt chôn người chết như hồi còn bé Lệ đã thấy ở Chu Lai nhưng sao không nghe tiếng khóc cũng không thấy quan tài.Trí tò mò thúc đẩy Lệ vào đó coi xem sao. Lệ cũng có ý nghĩ giúp đỡ công việc họ đang làm, nếu họ quá nghèo, cần đến một, vài chục đô-la của Lệ.


Lệ nói cho Ruthie nghe ý nghĩ của mình, bảo Ruthie ngồi đó chờ mình nhưng Ruthie không chịu, đứng lên cùng đi với Lệ. Hai cô gái cứ tưởng gần và ruộng khô, nào ngờ coi vậy nhưng khoảng cách khá xa và có những chỗ nước ngập mắt cá, hai cô phải tháo giầy cầm trên tay để đi.


Khoảng sáu, bảy người vừa đàn ông, đàn bà, thanh niên, thiếu nữ cắm cúi nhìn vào một cái lỗ huyệt đang đào do 4 thanh niên khoẻ mạnh, người cầm xẻng xúc đất đổ vào mê tre, kẻ bê đất đổ lên bờ, để dần dần hiện ra tấm nắp thiên bằng gỗ đen sì một cái quan tài.


Từ xa lội tới, hai cô gái đã bị những cặp mắt tò mò của đám người trên gò nhìn thấy và theo dõi. Khi hai cô tới gần, tất cả đều ngừng tay nhìn chằm chằm như nhìn một hiện tượng lạ.


Họ quá lạ lùng bởi từ xưa đến nay chưa có người ngoại quốc nào ăn mặc đẹp đẽ thế kia – đám người cho rằng cả hai cô là gái Mỹ, Pháp, Anh, Úc chi đó, lại lội ruộng vào cái gò này để coi cải mả.


Phải, họ đang cải mả. Họ đào cốt người thân chết đã lâu năm, bỏ sang một cái tiểu sành, kiếm chỗ thuận tiên, gần gũi hơn đặt xuống.


Lệ mở lời khi nhìn một người đàn bà lam lũ, già yếu, mặt mày nhăn nheo:

“Chào các bác, các chú, các anh, các chị. Cháu là người Việt sống tại Hoa Kỳ về thăm quê hương. Các bác, các chú đang cải táng cho thân nhân, phải không ạ?”


Nghe cô con gái nói tiếng Việt, cả đám người thật ngạc nhiên. Sao cô gái trông như Mỹ này, chỉ khác mớ tóc đen, lại là người Việt, nói tiếng Việt thạo quá. Họ bỏ xẻng cuốc đứng vây xung quanh hai cô gái. Người đàn bà lớn tuổi trả lời:


“Phải, người ở dưới huyệt là chồng tôi, chết từ năm 1975.”


Lệ nghe giọng nói người đàn bà có điều ngờ ngợ nhưng chưa dám tin là mình có thể đúng. Nhân tiện, cứ hỏi thăm xem có ai biết được ba mình không? Lệ chìa tấm thẻ bài đeo trong ngực áo ra cho họ coi, nói:


“Tấm thẻ bài này của ba tôi. Tôi không biết gia đình ông còn sống không và nay ở đâu. Ông tên là Trung sĩ Lê văn Buôn.”


Người đàn bà trân trối nhìn Lệ xong ngập ngừng nói:

“Thế này thực không phải. Xin lỗi…Có phải tấm thẻ bài này của lính Việt Nam Cộng hoà và cô là … Lệ phải không?”


Điều Lệ nghi ngờ đã đúng. Giọng nói người đàn bà và nhìn kỹ từ đầu đến chân, Lệ thấy đúng là má Lệ, không còn sai vào đâu được. Lệ ôm chầm lấy bà khóc rưng rức:


“Má ơi! Con đây, Lệ của má đây. Má còn nhận ra con không?”


Bà Buôn, phải, vì người đàn bà đó chính là vợ goá của Trung sĩ Lê văn Buôn, càng ôm chặt Lệ hơn. Bà rên rỉ:


“Lệ ơi, má đâu có ngờ Trời Phật còn cho gia đình mình ngày hôm nay. Người nằm dưới huyệt kia chính là ba con đó. Quả lựu đạn ngày 23-3 đã giết ba và thằng Chưởng. Còn lại hai đứa đứng kia, thằng Tung, con Bi giờ đã lớn từng đó.”


Lệ quay ra ôm hôn đứa em gái và thằng em trai. Chúng cũng xúc động nhưng không xúc động bằng má Lệ và Lệ vì khi xẩy ra biến cố tan nát gia đình, chúng còn quá nhỏ.


Bà Buôn hỏi Lệ:

“Con đeo tấm thẻ bài này 15 năm nay để đi tìm ba má và các em phải không?”


“Dạ, đúng thế má. Con đi tìm ba má và các em vì con đâu biết ba đã hy sinh ngày hôm đó.”


Ruthie đứng ngó mấy mẹ con ôm nhau cũng xúc động nhưng trong ánh mắt cô đọc thấy những tia sáng hân hoan vô bờ của bạn và của mẹ của bạn. Chuyến đi hoàn toàn thành công quá sức mong mỏi, cô lẩm bẩm.


Bốn thanh niên lại tiếp tục đào. Họ cậy tấm nắp thiên. Bộ xương người đen sì lõng bõng nước. Ruthie nhìn thấy sợ quá phải đứng tránh ra xa. Cô đã quen với xác chết trong các bệnh viện nhưng không phải là bộ xương đã rữa mục này. Lần đầu tiên Lệ nhìn thấy bộ xương cải táng nhưng Lệ không sợ mà Lệ muốn đứng thật gần để nhìn cho rõ hình hài của người cha đã sinh ra mình.


Khi má Lệ hỏi Lệ vì sao biết mà vào đây. Lệ thuật lại từ đầu tới cuối, vì sao xe phải ngưng lại, bác tài xế phải đi kiếm nước đổ vào máy xe để đi tiếp v.v…


Bà Buôn thắp lên mấy cây nhang và hai ngọn nến trong khi mấy người đàn ông đổ rượu trắng ra cái chậu sành và rửa từng khúc xương cho sạch, lấy giấy bản lau khô xong xếp vào một cái tiểu sành mầu đất nung đỏ quạch. Trong số người lo chuyện cải táng, có chú Năm thợ hồ có nhiều kinh nghiệm. Chú vừa làm vừa chỉ dẫn cho mấy anh thanh niên làm. Chú nói:


“Tôi học nghề cải táng từ năm mới 16 tuổi mà năm nay đã 55, coi như 39 năm trong nghề mà tôi chưa thấy một vụ nào lại linh thiêng như Trung sĩ Buôn đây. Nghe cháu Lệ vừa nói thì cháu đã để tâm tìm ba má cháu nhiều năm nhưng không ra tung tích; đến bữa nay hồn thiêng Trung sĩ dun dủi làm cho chiếc xe hơi đang chạy ngon lành bỗng hết nước ở ngay khúc đường này, xe bốc khói xuýt cháy máy và từ đó cháu Lệ mới có cơ hội lặn lội vào cái gò này vì tính tò mò và cũng vì tính thương người, muốn giúp đỡ người nghèo. Vì thế mà Trời Phật không bỏ cháu.”


Bác tài xế đã lặn lội đi xin được một bình nước đổ vào xe. Thay vì hai thanh niên phải khiêng chiếc tiểu sành, giờ này chiếc tiểu sành được bỏ lên xe, mọi người về nghĩa trang gần nơi cư ngụ của gia đình bà Buôn.


Nghe Lệ kể sơ lược từ lúc được ba Nghĩa nuôi vớt lên tầu và được học hành ở Hoa Kỳ, hiện đã là một bác sĩ Nhãn khoa Hoa Kỳ, tiền bạc dư dả, tương lai sáng lạn, bà Buôn quá sung sướng lại khóc. Bà chạnh lòng nghĩ đến người chồng bạc phước đã chẳng được sống thêm để nhìn thấy sự thành công của đứa con gái ông yêu quý nhất đời.


Huyệt mộ cho cái tiểu sành đựng nắm xương của người cha bạc số của bác sĩ Vivian Le đã đào xong, nhỏ và nông nên đào rất nhanh. Lần này nó không nằm trên gò đất chung quanh là sa mạc sỏi đá, cây cỏ hoang vu mà ở trong một nghĩa trang đẹp đẽ bên ngoài thành phố Nha Trang.

 

Khoảng 4 giờ chiều, mọi việc hoàn tất, bà Buôn, Lệ và hai đứa em của Lệ thắp hương, sụp quỳ, vái lậy, khấn khứa. Lệ cố hết sức giữ cho khỏi quá xúc động nhưng khung ảnh trắng đen của cha Lệ trước mặt lúc nào cũng như đang nhìn Lệ âu yếm làm Lệ tràn nước mắt và cái ngày độc địa 23-3-1975, tại bãi biển Chu Lai, lại hiện rõ mồn một như Lệ đang đứng sát bên cha Lệ, bám vào tay ông cho khỏi sóng đánh ra xa.


Nỗi buồn năm xưa dù chưa quên được nhưng hiện tại vẫn là đáng sống. Mẹ con bà Buôn đành phải khép lại trang sử đẫm máu của gia đình và của xóm giềng, thân thuộc để xây dựng ngày mai tươi sáng hơn.


Lệ đã đưa tiền cho má và em đi chợ mua các thức ăn về làm một bữa cơm đãi đằng chòm xóm và những người thân thuộc, trả công hậu hĩ cho những người cải táng hôm đó. Ai cũng tấm tắc khen sao lại có cái thần giao cách cảm đó để mà đến đúng chỗ, đúng lúc, gặp lại mẹ và em và nhìn được hài cốt của cha. Chuyện thực mà khó tin, xẩy ra như trong một giấc mơ.


Nhờ có nghề nghiệp cao và lợi tức vững vàng lại công dân Mỹ của Lệ, hơn hai năm sau bà Buôn và Tung, Bi đã đoàn tụ với Lệ ở Hoa Kỳ.


Bà Buôn lập một bàn thờ, một bên để tấm ảnh cuối cùng của thằng Chưởng khi nó 3 tuổi, một bên treo tấm thẻ bài, ở giữa ban thờ là bát hương, có bài vị và khung ảnh đen trắng của Trung sĩ Lê văn Buôn, người Chiến sĩ kiêu dũng VNCH đã hy sinh vì Tổ quốc, người chồng, người cha thân yêu vẫn luôn luôn như đang mỉm cười với vợ và các con!

  

Bút Xuân Trần Đình Ngọc 

Wednesday, October 1, 2008

Vô Nam: Chuyến Đi Định Mệnh

Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC

Không gian: thành phố Hà Nội. Thời gian: sau Hiệp định chia đôi đất nước năm 1954. Nơi chốn: khu dân cư ở Hàm Long, không cách bao xa với nhà thờ Hàm Long.

Khi tôi đang làm hai quả trứng chiên định ăn cho xong bữa tối thì anh chị Dục về.

Anh Dục vừa bằng tuổi anh Lân tôi, còn chị thì trẻ hơn vài ba tuổi. Anh chị lấy nhau đã lâu nhưng chưa có đứa con nào. Anh Dục làm thư ký vật liệu cho một toà báo Pháp từ khi anh chị bỏ vùng Vẹm vào thành tức khoảng năm 1950. Ăn tiêu chẳng bao nhiêu mà người Pháp trả lương cũng khá nên chị Dục chỉ ở nhà nấu nướng và làm việc vặt, mình anh đi làm cũng dư dả.

Mỗi thứ bảy hoặc chủ nhật, các bà Sơ (Pháp và Việt) từ nhiều dòng tu ở Hà Nội vào các nhà thương Bạch Mai, Saint Paul v.v...săn sóc các thương bệnh binh của quân đội Pháp và quân đội Quốc gia (lúc đó thuộc quyền Quốc trưởng Bảo Đại) thì chị Dục cùng đi với các Sơ thay băng, tắm rửa, cho ăn, cho uống hoặc ngồi chuyện trò cho các thương bệnh binh này có thêm nguồn an ủi vì y tá và các phụ y tá không mướn đủ.

Nhiều nữ sinh Hà Nội đã theo các bà Sơ đi làm công tác thiện nguyện này, không thiếu trường hợp kẻ đi săn sóc lại hạp nhãn với mấy anh thương binh. Thế là sau khi thương tích tạm lành, một đám cưới xẩy ra. Người làng tôi, anh Đạc đi Nhảy Dù quân đội Quốc gia bị thương về nằm Saint Paul rồi cũng lấy một cô. Năm 1954, hai người vào Nam sinh một đàn con ở trong Nam.

Chị Dục vào trong bếp, hỏi tôi:

“Chú Vũ làm cái gì đó?”

“Anh chị mới về? Em đang tính làm vài cái trứng gà au plat ăn với bánh mì cho xong bữa. Em đã vào tiệm phở Hàm Long mà buồn quá, lủi thủi có một mình, lại ra về.”

“Tôi có gà luộc và phở gà. Chú đừng chiên trứng nữa, ngồi ăn với chúng tôi cho vui.”

Trong khi anh Dục đi tắm thì tôi phụ chị hâm nồi nước dùng, chặt con gà sống thiến khá béo, rửa húng cây, thái hành ngò, lá chanh, nấu nước trụng bánh phở vì chị có đủ thứ.

Bia Ô-mền còn lại hai chai lại có nước đá, tôi với anh Dục chén chú chén anh. Thịt gà sống thiến ở Hà Nội lúc đó phải nói rằng tuyệt. Nó là gà rẫy, nuôi bằng cám với bột ngô, thịt rất thơm ngon, gà mái dầu Tây Ninh sau này ở trong Nam cũng ngon nhưng vẫn thua. Những năm đó, khác hẳn với bây giờ ở Hoa Kỳ, gà, vịt, lợn phải béo ăn mới ngon; không ai sợ mỡ. Đình đám ở nhà quê và ngay cả ở thành phố, thợ cỗ thái thịt lợn luộc chỉ có 20% thịt còn toàn là mỡ, ai nấy thưởng thức tận tình bởi cả năm ít được ăn thịt.

Thức ăn ngon nhưng bữa ăn vẫn thế nào! Có lẽ cả hai anh chị Dục và tôi đều nghĩ rằng đây là bữa chót ăn tại Hà Nội và chẳng bao giờ còn ngồi ở Hà Nội mà ăn một bữa cơm như thế này nữa.

Người Quốc gia lúc đó, trong đó có cả người Pháp, hay nói cho rõ hơn là những người không Cộng sản, đã thua và phải đi. Lính Lê dương, lính Pháp trong binh đội Pháp lúc đó, không phải người nào cũng là lính đánh thuê. Rất nhiều người có lý tưởng là phải tận diệt Cộng sản vì Cộng sản gieo rắc đói khổ, dã man, hung tàn và tam vô. Tôi đã nói chuyện với vài người lính Lê Dương. Họ bảo:

“Chúng tôi cũng có lý tưởng chứ. Chúng tôi muốn giúp dân Việt Nam sống yên bình với Dân chủ, Tự do Hạnh phúc, Văn Minh, Tiến bộ. Muốn thế phải diệt trừ Cộng sản mà Hồ chí Minh là lãnh tụ. Nhiều đồng đội của chúng tôi bị bắt, bị tra tấn, chết đi sống lại. Họ dã man vô cùng, không tuân theo một định ước quốc tế nào về tù binh. Họ bán tù binh cho Trung cộng, cho Liên Sô để những nước này khai thác tin tức và hành hạ dã man. Chúng tôi đã biết Cộng sản là thế nào khi họ xâm chiếm Tiệp khắc, Lỗ ma ni, Hung gia Lợi, Ba lan và nhiều nước nhỏ xung quanh Liên Sô... Cộng sản còn tàn độc hơn Phát xít Hitler và quân phiệt Nhật.

Trong bọn chúng tôi cũng có những tên lính làm bậy nhưng chúng hành động vì thiếu thốn sinh lý (quân đội nào chẳng thế). Ngay bọn Việt Cộng cũng có kẻ túng quá hiếp dâm gái quê. Nhưng lính Pháp chúng tôi không bắn bậy người dân bao giờ nhất là không lấy tài vật của ai trong khi quân đội Việt cộng thì bắn bừa bãi, coi sinh mạng người dân như cỏ rác, hơn nữa hễ có dịp là bất cứ tài vật nào chúng cũng lấy hoặc phá cho tan tành.”

Đấy là những lời tố cáo thẳng thắn của các lính Pháp thời gian được đưa sang Việt Nam đánh nhau với Việt Minh từ 1945 đến 1954.

Tôi không biết những luận điệu này các báo Pháp có khai thác không chứ báo chí của người Việt Quốc gia thì không. Chính vì vậy, một đứa trẻ nít cũng chê ngành tuyên truyền chiến tranh chính trị, tâm lý chiến của người Việt Quốc gia. Hai mươi mốt năm ở miền Nam, 80% những người này chỉ cố đào sâu những “Cậu chó, Chú Tư Cầu (Lê Xuyên), Mười đêm ngà ngọc (Mai Thảo), Yêu nhau bằng mồm (Hoàng hải Thuỷ), Vòng tay học trò (Nguyễn thị Hoàng, Một ngày của Nhã (?), Mèo đêm (Thuỵ Vũ), Loan mắt Nhung (Nguyễn thuỵ Long)...” và rất nhiều tiểu thuyết khác (trong đó có cả Kim Dung, văn sĩ Tàu), cũng như những dòng Thơ tình ái làm băng hoại tinh thần thanh niên:

Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi vui với ai?
Hoặc là:

Anh đợi em từ ba mươi năm
Uổng hoa phong nhuỵ hoài trăng rằm!

Vũ hoàng Chương

Người Việt Nam theo Tàu với cái học cử nghiệp, kỹ thuật dốt nát, thuốc men kém cỏi, lý sự cùn (ngày nay vẫn còn y, chỉ quen phét lác một tấc đến trời) tuổi thọ trung bình chỉ được hơn 50, đợi em đến 30 năm là quá nửa đời người, đợi để làm cái gì đây? Nhưng những tư tưởng bá láp đó nhập nhiễm vào đầu óc thanh niên nam nữ, nhất là trong giai đoạn chiến tranh, thật tai hại vô cùng!

Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà đông...
Nhưng xa nhau mà không bảo gì nhau...

Nguyên Sa

Thương thương, nhớ nhớ, mơ mơ màng màng, day dứt (chứ không phải da diết) với những mối tình dang dở, ngụp lặn trong bể dục, bể hiện sinh bất cần đời, nhắm mắt trước chiến cuộc ác liệt mỗi ngày bao nhiêu người trai nằm xuống, những văn sĩ, thi sĩ này (nếu chúng ta có thể gọi họ là văn, thi sĩ) thật đắc tội với đất nước dân tộc. Ngay thời bình, xuất bản những Cậu chó, chú Tư Cầu, Vòng tay học trò, Mười đêm ngà ngọc...cũng còn phải thận trọng vì ảnh hưởng tai hại của chúng cho lớp trẻ con cháu mình.

Đại khái một đoạn văn tiêu biểu của ông Mai Thảo:

“Hơn 11 giờ trưa mình mới mở được mắt ra. Đêm qua nhảy với chàng về khuya quá, hơn hai giờ sáng chàng mới đưa về tới nhà, chàng lại đòi vào nhà, lại uống thêm một chầu nữa, chàng ép mình uống với chàng mặc dầu ở Lệ Uyển mình có uống vài ly rồi. Chàng đòi ngủ lại, thế là hai đứa lại mê đi trong trận bão tình tơi bời hoa lá...lúc ngủ thì đã gần sáng.
Chàng đã dậy và về lúc nào mình ngủ say không biết!
Hôm nay phải mặc cái áo dài nào đây?

Mất miền Nam vì sao? Vì chính những cái đó cũng như hiện tại, Việt gian Cộng sản chỉ muốn Người Việt ở hải ngoại sao lãng chuyện chống Cộng cho chúng nhờ nên chúng rất thích người Việt xem hết cuốn DVD này đến cuốn DVD khác của Thuý Nga Paris, nghe ông MC Ngã ba ông Tạ (danh từ của ông NS Nguyễn văn Chức) thuyết minh về bông lúa đỏ và trực thăng của quân đội Mỹ đang xả đại liên vào đoàn người chạy trốn trên đường.

Từ những sự việc nhìn thấy, ta có thể kết luận rằng rất đông người miền Nam CH khi xưa nay rất dễ tính, dễ quên và dễ chịu nhục, nhất là các ông HO đã mô tả bên trên.

Dễ tính đến nỗi ngày nay, ở hải ngoại vẫn có những cây viết tự nhận là Phê bình Văn học, lôi Cậu chó, Chú Tư Cầu, Vòng tay học trò ra mà tung hô vạn tuế chẳng biết ngượng là gì đến nỗi Truyện ngắn Bóng đè cũng nhào vào khen lấy khen để. Đúng là một bọn mù, nếu không mù thì ăn tiền của Cộng sản viết để ca tụng văn học XHCN thối tha của chúng hoặc để đánh lạc hướng những mũi dùi đang đâm vào mặt bọn chóp bu do những hành động bán biển dâng đất cho Tàu phù của chúng.

Quá truỵ lạc và sa đoạ đến nỗi Việt gian cộng sản bảo thi sĩ Vũ hoàng Chương, con chim đầu đàn của Văn học Nghệ thuật miền Nam trong 21 năm, khi ông trình diện đi tù (cải tạo):

“Thơ văn của anh chỉ để đầu độc quần chúng”

Nhà văn, nhà báo trong vùng Quốc gia (tức miền Nam) trong 21 năm từ 1954 đến 1975, (ngoại trừ vài tờ báo của Quân đội và các Nha Tuyên Uý Phật giáo, Công giáo, Tin Lành) bảy, tám mươi phần trăm đã chẳng đóng góp vào công cuộc chống Cộng cấp bách và cần thiết để sống còn (cho chính bản thân mình và gia đình mình) nhưng chỉ tìm cách bươi móc, vu khống, bôi nhọ chính quyền người QG của mình, có khi ra mặt ủng hộ bọn Cộng sản không hiểu vì ăn tiền của chúng, vì là tay sai của chúng hay bị chúng lừa. Đó là những kẻ “ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng sản” vô liêm sỉ và hèn hạ. Chúng rất dễ dàng vào phe với những kẻ biểu tình phá rối (Ngô bá Thành, ni sư Huỳnh Liên, bọn trốn quân dịch ở chùa Ấn quang cùng CS giả dạng nhà sư Thích trí Quang), chúng rất dễ dàng đâm những nhát dao chí tử vào lưng Quân lực VNCH đang ngày đêm đi truy lùng giặc Cộng bảo vệ an ninh cho chính những nhà văn nhà báo này và dân chúng.

Ba tờ nhật báo ở Sàigòn: Đại dân tộc của Võ long Triều, Tin Sáng của Dân biểu CS nằm vùng Ngô công Đức và Điện tín, DBCS nằm vùng Lý quý Chung chủ trương, là ba tờ báo của Cộng sản. Cộng sản dùng ba tờ này đánh phá chính phủ và QLVNCH tơi bời bằng những thêu dệt, vu khống nhưng những người ngày nay nghèo mạt rệp do VC vào bóc lột đến tận xương tuỷ, thí dụ giới xích lô, ba gác v.v...lại thích đọc những tờ báo CS chửi chính phủ QG như thế! Tên Huỳnh bá Thành (hoạ sĩ Ớt) chuyên vẽ biếm hoạ cho tờ Đại dân tộc chính là một Trung tá công an CS. Y thường vào Hạ Viện VNCH lấy tin, anh em Dân biểu chúng tôi đều nhẵn mặt y nhưng lúc ấy không ai biết y là trung tá công an CS, cơ quan tình báo của tướng Nguyễn khắc Bình và An ninh quân đội của Đỗ Mậu vẫn nằm ngủ chẳng biết gì ngoài việc lĩnh lương và hưởng mọi đặc quyền đặc lợi của miền Nam.

Dân oan ngày nay đi khiếu kiện bị mất nhà, mất đất có thiếu gì những kẻ xưa kia đã giấu diếm cán binh VC trong nhà, nuôi chúng ăn cho béo để chúng đánh lại QLVNCH. Ngày nay chúng trả ơn đích đáng!

Có những tên nhà báo thiên CS hoặc tư thù viết liên tu bất tận rằng anh em ông Ngô đình Diệm gia đình trị, không cần biết đúng hay sai. Họ bị chính những tên CS nằm vùng như Lý quý Chung, Ngô công Đức, Nguyễn đắc Xuân, Phan xuân Huy, Nguyễn văn Binh...cho vào xiếc. Họ tự cầm dao chặt tay chặt chân mình. Việt cộng vào thì họ què cụt và nhiều kẻ phải chết, có khi chết vẫn chưa hiểu ra hậu quả việc mình làm! Nhà báo Chu tử chết vì đạn pháo kích của Việt cộng khi ông đang ở trên con tầu Việt Nam Thương tín trên sông Sàigòn ngày 30-4-75, nhưng khi còn làm báo Sống, ông vẫn viết và để cho những thân hữu của ông là bọn CS nằm vùng hoặc thiên Cộng viết bài đả kích nặng nề chính quyền miền Nam.

Những tạp chí Văn, Sáng tạo của Mai thảo, Thanh tâm Tuyền, Doãn quốc Sỹ, Nguyễn sĩ Tế, Trần thanh Hiệp...ngoài những bài Văn, Thơ phản chiến còn xúi đám thanh niên trốn quân dịch, thơ sầu đời, chán đời, làm thui chột dũng khí của thanh niên đến tuổi tòng quân diệt giặc.

Tên nhạc sĩ Trịnh công Sơn là một tay sai đắc lực cho CS, khỏi cần nêu ra, bạn đọc cũng dư biết những bản nhạc phản chiến y viết cho những ca sĩ ngô nghê vô ý thức hát đêm hát ngày trên đài phát thanh Sàigòn. Anh nhạc sĩ già mất nết họ Phạm cũng có vài bài, nay chán cơm Mỹ thì về lòn trôn CS chơi, kiếm gái nhí, may ra chúng vứt cho cái xương cái xẩu cũng tương tựa tên liếm trôn, bợ dái Nguyễn cẩu Kỳ.

Tóm lại, ở một thời đại mà người Quốc gia miền Nam phải chống nhau với VC sinh tử để sống còn lại đẻ ra một đám nhà văn, nhà thơ no ăn rửng mỡ và thiển cận này chỉ sản xuất ra những đống rác hôi thối, khăm khẳm mùi hôi nách và son phấn của gái nhảy, mùi thuốc phiện, mùi huýt-ki, đem những rác rến hôi thối đó vào trong những bài tuỳ bút, truyện dài, truyện ngắn, thơ (đa phần là thơ vô nghĩa) dựng lên bảo rằng đó là văn chương hiện sinh để đầu độc giới trẻ, cũng không khác bao nhiêu với truyện “Bóng Đè” của Đỗ hoàng Diệu hiện nay ở Hà Nội mà hàng trăm Nhà Văn Bắc Việt hồ hởi hô hoán lên rằng đó là Văn học Nghệ thuật chính hiệu bà lang Trọc!

Thực sự nó chỉ là một đoạn văn khiêu dâm, loạn luân bỉ ổi chưa từng thấy trên Văn đàn quốc tế. Nếu Văn học Nghệ thuật của một quốc gia mà chỉ có bấy nhiêu với những câu khen Hồ tặc và khen đảng gẫy lưỡi từ một em bé thi vào lớp 6 thì ôi thôi, nền văn hoá văn học của quốc gia ấy đã phá sản y như thị trường chứng khoán và trị giá đồng bạc Việt Nam vài tháng nay.

Nửa thập niên 70, mỗi ngày hàng chục, có khi hàng trăm chiếc quan tài phủ cờ vàng chở vào nghĩa trang Quân đội Biên Hoà và Hạnh Thông tây nhưng các văn, thi sĩ này thì vẫn ngụp lặn trong những ao hồ đầy xú uế của dâm ô, thơ văn vô nghĩa và dăm ba câu triết hiện sinh của Nietzche, Camus, Sartre, Sagan v.v... vô cùng sa đoạ trong khi cuộc chiến 1954-1975 là một cuộc chiến sinh tử, một mất một còn với Cộng sản mà bất cứ công dân nào, từ già đến trẻ, từ trí thức đến bình dân thảy đều có trách nhiệm tuỳ theo tuổi tác và chức nghiệp.

Đó cũng là lỗi của ông tướng Trần văn Trung, quá tầm thường về kỹ thuật chiến tranh tâm lý, đã chỉ hưởng tối đa phúc lợi quyền cao chức trọng của miền Nam, của quân đội mà ngốc nghếch ngây ngô như một thằng mán về thành phố, mới nên cớ sự.

Ở miền Nam thì thế, còn miền Bắc thì sao?

Đấy cũng chính là thời kỳ ở ngoài Bắc Việt văn nghệ sĩ (80-90%) đang làm tôi mọi cho Nga-Tàu, đứng đầu là Tố Hữu, Chế lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận. Chúng ta hãy nghe vài câu của Tố Hữu:

Giết giết nữa bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít ta lin bất diệt!

Và:

Thương biết mấy nghe con học nói
Tiếng đầu lòng con gọi Xít ta lin
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười!
Xít ta lin! Xít ta lin! Đời đời cây đại thụ!

Rất sơ sài (bởi loạt bài này đã dài), tôi đã trưng lên hai hình ảnh của Văn học nghệ thuật hai miền Nam-Bắc thời kỳ 54-75.

Một bên là những tên rượu chè, thuốc phiện, gái điếm, dâm ô, sa đoạ, trốn lính... không còn biết trời đâu đất đâu đến nỗi mất cả nước mà vẫn như mơ ngủ, đi trình diện tù cải tạo cũng còn muốn mang theo cái bàn đèn thuốc phiện, sang đến Mỹ còn khoe là tôi viết tuỳ bút không ai bằng! Chẳng biết nhục là gì cũng chẳng biết vì sao mà mất nước?

Bên kia là những tên nô lệ đói rách quì mọp mà liếm trôn Tàu-Nga mất hết nhân cách con người trong khi vẫn hách xì xằng với đồng bào, vẫn trù dập người có tinh thần yêu nước nhưng không cùng thờ Mác-Mao với chúng.

Đó là hình ảnh giới làm VHNT nước ta ở hai miền Nam-Bắc 21 năm mà giới này chính là giới trí thức, cái bộ não của quốc gia. Mất nước như ngày nay với Tàu đỏ cũng đúng thôi!(Mời vào vnfa.com, Thảo luận với Võ văn Kiệt và Góp ý với Bùi Tín, cùng tác giả.)

Cứ xem như hiện tại, có thiếu gì những cấp Tá, Uý trở thành HO, xưa kia đi tù cải tạo gần táng mạng (nhiều kẻ đã bỏ thây nơi rừng thiêng nước độc), được VC tha cho về, được người Mỹ cưu mang cho sang Hoa Kỳ định cư, cả gia đình sung sướng tưởng như được lên Niết bàn. Ấy vậy mà chỉ có mấy năm, no ăn rửng mỡ, có chút tiền già, tiền bệnh (có kẻ khai gian) lại rủ nhau về Việt Nam khúm núm lễ phép chào hỏi và nịnh bợ từ thằng công an, thằng phường trưởng mà đi.

Số HO ấy không ít, có những kẻ đi đi về về cả năm, bảy lần, mười lần, đi về như đi chợ, về làm ăn với Cộng sản. Lẽ dĩ nhiên rừng nào cọp đó, muốn được mọi sự dễ dãi phải đút lót, mời ăn, thưa gửi lễ phép với những thằng VC chỉ đáng tuổi con, tuổi cháu mình.

Một tên trước kia là Trung tá, Lý KV, xuất thân từ trường Đà lạt, về nịnh bợ làm ăn với VC từ khi Mỹ bỏ cấm vận thập niên 90. Có những tên già đem tiền về mua gái trẻ đáng tuổi con, tuổi cháu để dâm dục. Đúng là một bọn vô liêm sỉ, không biết nhục là gì! Đã không biết nhục là gì thì chúng đâu còn nghĩ đến đất nước? Chúng đã quá dễ quên cái thời kỳ phải đi bốc cứt và viên cứt trong trại tù. Tôi nói người Việt, một số đông, dễ tính và dễ quên là vì vậy.
***
Sáng sớm hôm sau, Kim Vân và Ngân Hà đến địa chỉ mới tôi cho thực sớm. Sau bữa cơm tối hôm qua, anh chị Dục và tôi đã dùng xe người quen đến đây khoảng 10 giờ tối vì phải đề phòng e có những bất trắc xẩy ra trước khi lên máy bay thì hỏng hết. Mấy năm rồi ở chung với Pháp mà không lo Pháp bắt sảng (trừ phi đi làm chính trị, vào hội kín chống Pháp) nhưng ở chung với Việt Minh thì phải coi chừng. Chúng muốn bắt mình lúc nào cũng được không vì lí do gì hết, thích bắt là bắt. Coi Phạm Giao, con trai ông Phạm Quỳnh, vợ đẹp mà bị Trần huy Liệu giết tốt. Còn hàng ngàn hàng vạn trường hợp như vậy. Tôi thì Phong và Chủng, câu chuyện quí bạn đọc đã hiểu.

Khoảng 8 giờ sáng, chúng tôi ngồi hai taxi vào phi trường Gia Lâm. Lúc ngồi ở phòng đợi, Kim Vân thì thầm thuật lại cho tôi nghe:

“Hôm qua, khi em ở nhà anh về thì anh Phong đã đi chơi hay đi họp với đồng đội chi đó. Anh Chủng cũng không có đó nên em nói hết cho bố mẹ nghe.

Em nói bố mẹ nên cho anh Phong rõ là em chỉ có thể lấy anh chứ em không đồng ý lấy ai cả và em đã có thai với anh. Bố mẹ bảo bố mẹ đã nói điều đó với anh Phong (chỉ chưa nói là đã có thai) nhưng Phong không chịu. Anh Phong nói em phải lấy Chủng vì Chủng có tương lai lắm. Nếu anh Phong còn gặp anh lảng vảng ở Hà Nội, anh ấy sẽ báo cho bọn an ninh tình báo của đảng (CS) băt nhốt anh ngay, vu cho anh là thông ngôn cho Tây, Việt gian phản động. Em nghe mà rùng mình!

Em cũng nói anh đã xin được 3 chỗ trên máy bay cho hai anh em mình và Ngân Hà. Còn bố mẹ phải ra ga hàng Cỏ xuống Hải Phòng. Lúc đầu Hà nói Hà không đi khi không có bố mẹ nhưng bố bảo con phải đi với Vũ và Kim Vân. Đi với bố mẹ rất nguy hiểm chưa chắc gì đã thoát được xuống Cảng mà con phải vào Nam đi học thêm, đi làm xây dựng sự nghiệp tương lai chứ ở với Việt cộng thì chỉ có đi cào cỏ tát nước, lấy một anh bộ đội nữa là xong, suốt đời ngu dốt, nghèo nàn, thất học.

Bố mẹ khuyên mãi rồi Hà mới bằng lòng cùng em sáng nay đi sang đây. Trước khi đi, em và Hà ôm bố mẹ mà khóc vì chẳng biết có còn gặp lại nhưng bố nói, phải nín ngay và lo đi sớm kẻo anh Phong về hoặc Chủng tới thì hỏng hết mọi việc. Đêm rồi bố mẹ và tụi em đâu có ngủ, chỉ ngồi bàn tính chuyện đi suốt đêm. May là anh Phong đi họp suốt đêm không về.

Bố mẹ ngồi bàn chuyện ra ga hàng Cỏ xuống Cảng. Bố bảo bác Kình đi hụt về cho bố hay đám phụ nữ tuyên vận của Việt cộng đông lắm. Họ tổ chức từng nhóm dàn ra các nhà ga xe lửa. Họ thấy các ông già bà cả như hai bác Kình liền thân mật đến bảo:

- Bố mẹ đi đâu đây? Vào Nam làm gì, bây giờ nước nhà độc lập rồi vào trong Nam để chịu khổ à? Trong ấy đói kém, vất vả lắm, không đủ gạo ăn phải ăn bobo, cám, ngô, khoai thay cơm. Ở lại bác Hồ cho lo mỗi gia đình đầy đủ, cơm gạo dư thừa, trường học cho trẻ nhỏ cho đến sinh viên đại học. Việt Nam sẽ giầu mạnh sung túc hạnh phúc lắm, lúc đó bố mẹ có muốn trở về cũng không được.

Bác Kình cũng nói họ khéo nói lắm, người không cương quyết thì nghe vậy là ở lại, nhưng hai bác quyết đi thì chúng cản cho lỡ chuyến tầu.

Cũng có người đi xe ca. Nếu đi xe ca (xe chuyến) thì phải cố làm sao đến được phần đất của Pháp (khoảng chưa đến Kiến An) thì an toàn. Phần gần phía Hà Nội, tức phần có nhiều Việt cộng thì phải nói dối là có người nhà ở Cảng sắp chết, có khi phải tìm cách hối lộ cho chúng.

Có đoạn phải đi bộ khoảng 100m, sau đó mới lên xe (xe đã đi qua cái cổng có cây chắn) rồi mới lên xe đi tiếp tục. Người nào cũng đánh sóng trong bụng vì chỉ sợ bị chúng bắt sảng, kẹt lại mà hạn 300 ngày ở Cảng Hải Phòng gần hết.

Uỷ Hội quốc tế kiểm soát đình chiến gồm đủ thứ người da đen, da trắng, mặc kaki vàng, đội mũ calô vàng. Đúng ra, họ sẽ làm biên bản mỗi khi có xẩy ra biến cố nhưng vì họ (đa số là lính các nước CS) cũng nể nang VM nên chỉ làm biên bản trường hợp nào có sự níu kéo rõ ràng quá mà thôi.

Có nhiều người đã tránh đi ngang qua những nút chặn bằng cách lội ruộng vòng vào trong làng rồi mới vòng ra lên đường ô-tô. Có người mang sẵn tiền hoặc vàng, nói miệng không được thì bỏ tiền, bỏ vàng ra hối lộ. Bọn cán binh CS chúng ăn tiền như nhái vì chúng đói rách lâu ngày.

Bác Kình bảo hai bác bị chúng cản trở nên phải trở về Hà Nội, hai bác sẽ lừa dịp đi nữa, đi nữa cho kỳ xuống đến Hải Phòng mới thôi.

Nếu bọn Việt cộng không ngăn cản thì 80% dân Bắc Việt vào Nam hết nghĩa là có những làng, những huyện đi không còn một người. Nhưng chúng đã ngăn cản tối đa vì sợ mất mặt với quốc tế. Cách mạng, giải phóng, Dân chủ, Tự do, Hạnh phúc, Ấm no gì mà người dân không một ai muốn ở với “đến cái cột đèn nó cũng muốn đi”. Đó là một điều nhục nhã.”

Kim Vân thì thầm vào tai tôi đại ý như vậy.

Đúng 10 giờ, tất cả hành khách ra sân bay để lên phi cơ. Đó là ba chiếc máy bay Mỹ mỗi chiếc chở khoảng 150 người. Một sĩ quan Mỹ đứng ngay cửa phi cơ gọi tên từng người, có một sĩ quan Việt Nam phụ tá. Chỉ nửa giờ sau hành khách đã lên đầy đủ và thắt giây an toàn. Cánh cửa phi cơ đóng lại và phi cơ chạy vào phi đạo rồi bốc lên nhẹ nhàng. Tôi và Kim Vân ngồi kế cửa sổ nên cố nhìn qua cửa kính xuống phía dưới. “Hà Nội ơi! tạm biệt Hà Nội nhé!” Có cái gì dâng lên chận lấy cổ làm tôi nghẹn ngào.

Kim Vân có lẽ cũng có cảm giác đau đớn như tôi. Vân nắm lấy tay tôi như tìm một sự an ủi.

Tôi không dám nghĩ nhiều đến mẹ tôi e chảy nước mắt. Tôi lại lo không biết ông bà phán Quế có xuống Hải Phòng được không hay bị cán bộ nữ tuyên vận cản lại. Nếu ông bà phán Quế không đi được vào Nam thì Kim Vân và Ngân Hà sẽ buồn lắm, khó nguôi ngoai đi được. Nhưng trong hoàn cảnh này, không làm thế nào hơn được. Tôi, Vân và Hà còn là quá may có máy bay đi, lại không bị Phong và Chủng cản trở vì họ không ngờ. Tôi chắc khi về nhà không thấy Vân và Hà đâu, Phong sẽ cật vấn ông bà phán Quế dữ lắm và khi biết Vân và Hà đã đi rồi thì chắc Phong sẽ điên lên.
***
Hình như có lệnh trên nên ba chiếc máy bay chúng tôi đi đổ người xuống sân bay Nha trang. Nha trang cũng được, tôi nhủ thầm, miễn là ra khỏi miền Bắc. Nha Trang lại đẹp với thành phố nhỏ và hiền hoà, với bãi biển cát trắng phau với hàng dừa nghiêng bóng tuyệt đẹp.

Chính phủ miền Nam, lúc đó là Thủ tướng Ngô đình Diệm, phát mùng mền, quần áo, gạo và tiền cho chúng tôi sống tạm. Mỗi gia đình được một khoảng bằng hai căn nhà trong cái ba-rắc (baraque) lớn, mỗi ba-rắc chứa cả ba, bốn chục gia đình.

Chúng tôi có tiền ra chợ Nguyễn Hoàng mua thức ăn về nấu nướng. Đèn cồn nấu bằng dầu hôi là thông dụng lúc đó. Bát, đũa, nồi, xoong chúng tôi chỉ cần vừa đủ bởi đây chỉ là ở tạm, nơi định cư cuối cùng phải là Sàigòn.

Ba tháng sau, tôi và Vân gặp hai bác Kình ở trong “ba-rắc” F. Bác trai kể chuyện cho chúng tôi nghe:

“Ông bà phán Quế đã lừa được Phong để ra ga hàng Cỏ, mua vé tầu hoả xuống Hải phòng. Nhưng Phong quỉ quái hơn. Anh ta xin được giấy xuống công tác Hải Phòng, vào khu lều của người di cư tạm trú kiếm ra được ông bà phán Quế, cật vấn ông bà phán Quế là Kim Vân và Ngân Hà đang ở đâu? Ông phán Quế bảo: Chắc Vũ, Vân và Hà đã vào đến Sàigòn làm Phong tức cành hông.

Phong muối mặt bắt ông bà phán Quế phải trở về Hà Nội, không cho di cư vào Nam. Ông bà phán Quế trước không đồng ý nói thế nào cũng phải đi theo Vân và Hà vì là con gái yếu đuối. Còn Phong đã trưởng thành, có thể sống một mình được nhưng giằng co mãi mà Phong cứ nằng nặc đòi hai ông bà phải trở về. Phong nói Phúc đã chết, giờ chỉ còn lại bố mẹ và Phong, bố mẹ bằng mọi giá phải về. Phong lên văn phòng Uỷ hội quốc tế di cư 1954 nói với Uỷ Hội gạch tên ông bà phán Quế không phát “vé” xuống tầu há mồm. Uỷ hội trả lời Phong rằng UH không có quyền gì với hai ông bà. Đi hay ở là tuỳ họ. Do níu kéo, cuối cùng ông bà phán Quế phải ở lại.

Kim Vân, tôi và Ngân Hà ở Nha Trang 6 tháng, sau đó chúng tôi lên xe lửa vào Sàigòn.

Một thành phố lớn, đẹp, khang trang và dân tình hiền hoà hiện ra trước mắt chúng tôi. Mới đầu nghe người Sàigòn nói cứ ríu rít như chim, giọng của họ nhẹ hơn giọng người Bắc. Tiền cắc thiếu nên lúc cần thối, kẻ bán người mua cứ việc xé đôi tờ giấy bạc ra trả. Một đồng xé đôi, mỗi nửa là 50 xu. Năm đồng xé đôi thành 2 nửa mỗi nửa hai đồng rưỡi.

Sau 3 tháng có chỗ ở đàng hoàng, tôi kiếm được một công việc làm thư ký cho Nha Nhân Viên Bộ Quốc Phòng, lương tiền cũng đủ sống, mãi đến cuối năm 1956 tôi mới bắt đầu đi học những lớp đêm và hè năm 1959, đậu xong bằng Tú Tài II Toán, tôi chuyển sang nghề dạy Toán Lý Hoá cho các lớp đi thi Trung học đệ nhất cấp. Mùa hè năm 1965, tôi lại chuyển khoa dạy một lần nữa (sau khi đậu Cử nhân Văn chương trường Đại học Văn khoa Sàigòn) là chỉ chuyên dạy Triết cho các lớp thi Tú tài II, Việt văn cho các lớp thi Tú tài I và Anh ngữ cho nhiều lớp cả đệ Nhị và đệ nhất cấp.(vietnamexodus.org Văn học).

Vì di chuyển nhiều, sức yếu không chịu đựng quen, lại lo lắng chuyện gia đình, cha mẹ phải ở lại không có hi vọng gặp lại, Kim Vân vào đến Nha Trang thì bị sẩy thai.

Tôi cũng hỗ trợ cho Vân và Hà đi học buổi tối và cả hai đã đậu Tú Tài I sau 4 năm học tối còn ban ngày thì phải đi bán hàng cho người quen ở chợ Bến Thành để kiếm sống.

Tôi vẫn yêu Hà Nội với những kỷ niệm đẹp nhưng có lẽ Sàigòn mới chính là nơi đã đào tạo nên con người tôi như ngày nay. Sàigòn là một bà mẹ, một ông bố luôn luôn nâng giấc và săn sóc tôi với tất cả lòng trìu mến, yêu thương.Tôi mãi mãi nhớ ơn Sàigòn!

6-2008

Blog Archive