Showing posts with label Bồ Tùng Ma. Show all posts
Showing posts with label Bồ Tùng Ma. Show all posts

Saturday, December 28, 2019

Tái Sinh 

Mới đặt chân đến Mỹ chưa được mười ngày ông Hai đã được ông James tặng một chiếc xe hơi. Ông James dẫn ông Hai băng qua cái sân rất rộng, vào nhà xe, chỉ một chiếc xe màu xám trắng nằm trên bốn bánh gần như không còn một chút hơi:-Ford Mustang 65. Anh chỉ việc bơm bốn cái bánh lên là có thể lái nó đi phom phom.

Quả vậy, sau khi nhờ một người bạn -người đã giới thiệu ông Hai với ông James- lo mọi chuyện về bốn cái bánh xe, ông Hai đã lái xe đi phom phom... trong sân nhà ông James xong nhờ ông James lái nó về nhà mình, vì ông Hai chưa có bằng lái.

Nhà ông Hai thuê cách nhà ông James chừng một mile, thuộc loại rẻ tiền, không có chỗ đậu xe riêng, nên ông Hai hướng dẫn ông James đậu chiếc xe ngoài đường. Sau đó thỉnh thoảng ông vào xe rồ máy, nhìn trước nhìn sau xem thử có cảnh sát không, rồi de tới de lui, rất khoái chí.

Ông James là một cựu Sĩ quan Hải quân. Trong chiến tranh Việt Nam, ông là Hạm trưởng của một Hộ tống hạm (PCE). Ông ta biết ông Hai cũng là Hải quân nên rất khoái. Mới gặp ông Hai, James đã ôn đủ thứ chuyện về Việt Nam, sau cùng nói:

-Anh thích xe hơi không" Nếu anh muốn, tôi biếu cho một chiếc. Xe cũ thôi, nhưng rất ít mile, anh không thể tưởng tượng được trong vòng 20 năm nó chạy chưa tới 120,000 mile. Thằng Cuba ở bên cạnh nhà anh xin mà tôi không cho. Tôi không muốn một vật kỷ niệm quý giá như thế này lọt vào tay nó. Thằng ấy mà có được chiếc xe, sẽ xẻ ra từng mảnh đem về Cuba.

Ông Hai tò mò và thích thú ngắm chiếc xe. Xe kiểu cũ, chớ không hẳn là xe cũ. Thân xe sơn màu xám lợt, màu chiến hạm tiếp vận, trông vẫn còn khá mới. Nệm ghế màu xanh hải quân, không một vết sờn. Ông James khởi động máy và nhấn còi. Tiếng còi xe nghe như tiếng còi tàu, kéo dài lê thê, buồn rười rượi. Ông James cười nói:
-Tôi chế thêm ra đó.

Ông James mở cóp xe, chỉ cho ông Hai các vật dụng ở trong đó:
-Đây là thuyền phao, khi bơm lên, anh có thể an tâm ngồi trong đó mà câu cá, dù cho biển động đến sóng hai, sóng ba. Đây là cần câu. Đây là mồi giả. Đặc biệt xe này có một cái ghế sau rất nhẹ mà anh có thể tháo ra làm ghế ngồi câu. Ghế này cũng do tôi chế ra.

Ông James thở dài nói tiếp:
-Bao nhiêu đồ đạc đã ở cùng ta, chiếm mọi ngõ ngách trong nhà. Chúng không bao giờ phải chết cả nên càng ngày càng nhiều thêm lên. Thú thật những thứ tôi biếu anh là những thứ tôi không cần dùng nữa, nhưng lại không nỡ rời bỏ. Tôi biết anh là người mới qua, cần dùng những thứ này, ít ra cũng trong một thời gian vài năm.

Ông Hai cảm động nhìn ông bạn Mỹ. James đang lấy tay xoa xoa đầu chiếc xe như vuốt ve một đứa bé hay một con vật nuôi. Ông Hai không ngờ ở nơi xa xôi này lại có người có tâm hồn giống mình đến thế. Ngày rời khỏi trại cải tạo ông Hai đã không bỏ lại bất cứ một cái gì: cái lon Guigoz, cái áo trấn thủ làm bằng bao cát chống đạn, đôi đũa tre. . .; những vật dụng đã đồng cam cộng khổ với ông; nhất là cái lon Guigoz, gần như nó có thể làm đủ mọi chuyện: nấu ăn, đun nước, làm gáo múc nước và làm cái bô đi tiểu những lúc bị kẹt...
*
Gia đình ông Hai, gồm hai vợ chồng và đứa con trai, chuẩn bị dọn qua Los Angeles. Ông nói với bà:

-Mình sẽ qua đó bằng xe hơi. Từ Orlando qua đó hơn 2700 mile, đi mất chừng 3 ngày 3 đêm, kể cả nghỉ ngơi dọc đường. James đã chỉ cho tôi cách giải quyết mọi tình huống bất ngờ khi đi đường. Tôi cũng đã đem xe đi tune-up...

Nghe đến đây bà Hai kêu lên:
-Ông có điên không" Dùng một chiếc xe đời 65 để dưa vợ con đi từ Đại Tây Dương qua Thái Bình Dương.

Ông định cãi lại bà như thói quen gia trưởng xưa nay, nhưng rồi nghe bà nói cũng có lý nên ông bỏ ý định dùng chiếc Mustang. Tuy nhiên ông không biết nên để lại chiếc Mustang cho ai. Thằng Cuba thì nhất định ông không giao xe cho nó, ngay cả bán với giá 500 đô như nó đã trả. Ông cũng không muốn giao chiếc xe cho thằng con ông bạn ở ngay cạnh nhà, nó sắp có một công việc làm khá tốt, chẳng bao lâu nó sẽ cho xe vào nghĩa địa xe để mua xe mới. Ông suy nghĩ suốt hai ngày về việc này và cuối cùng mắt ông sáng lên, ông sẽ cho ông Danh chiếc xe. Chắc chắn ông Danh sẽ dùng chiếc xe ít ra cũng 4 năm nữa. Ông Danh đã 61 tuổi, đang ăn tiền bệnh SSI. Ông Danh nhác gan và lẩm cẩm, sợ Sở An Sinh Xã Hội cúp tiền bệnh nếu nghi ông hết bệnh, nên suốt ngày nằm nhà làm như bệnh nặng lắm. Nếu phải đi đâu ông Danh chỉ đi bộ, quấn khăn quanh cổ, ho hen sù sụ như sắp chết đến nơi. Ông vượt biên từ miền Bắc, từng sống trong một xã hội mà người dân hay dò xét nhau, việc này trở thành ấn tượng sâu đậm, nên khi đến Mỹ ông tưởng tất cả mọi người chung quanh đều dò xét ông, xem ông có đáng ăn tiền SSI hay không. Ông Danh rất thích xe hơi, nhưng nghe đồn ai lái xe và sở hữu xe là khỏe mạnh và có lợi tức, không ăn tiền SSI được, nên rất ngại mua xe, nhất là xe tốt. Sau khi nghe ông Hai ngỏ ý muốn cho mình chiếc xe hơi, mắt ông Danh sáng lên nhưng rồi tối ngay lại:

-Mà. . . mà tớ có lái xe được đâu. Từ ngày bị thằng biên phòng cho mấy bá súng vào đầu, mắt tớ không dược bình thường.

Ông Hai bực mình nói:
-Có lấy không" Nếu không, tôi cho người khác.

-Xe thế nào, đời mấy"

-Đời 65.

-Phải chi đời cũ hơn.

-Ngoài nghĩa địa cũng không có xe đời cũ hơn.

-Thế thì tớ nhận.

-Nhưng tôi lấy lại một cái ghế sau.

-Phải, phải. Như thế... tiện cho tớ hơn.
*
Hôm nay là ngày chủ nhật, ông Hai và người con trai đang thu gọn các đồ đạc trong nhà, nghĩa là tính xem nên bỏ đi và nên giữ lại cái gì, để chuẩn bị dọn sang nơi ở mới.

Bao nhiêu đồ đạc tích trữ từ nhiều năm trước chiếm nguyên cả cái nhà để xe, đến nỗi xe phải đậu ngoài đường. Những đồ đạc này phần lớn do bà Hai sắm. Bà là người thích mua sắm hay nói đúng hơn là có bệnh mua sắm. Bà càng có nhiều tiền, bệnh mua sắm của bà càng trầm trọng. Không những bà thích mua sắm áo quần và những đồ đạc lặt vặt khác mà còn thích mua sắm luôn cả những đồ chứa đựng các thứ này như hộp, thùng, tủ và những đồ chứa đựng kỳ cục khác. Đồ mua sắm này giống như thân phận của những cung phi, có khi được dùng đến, có khi bị bỏ quên, để rồi một thời gian sau trở nên cổ lỗ, không được ngó ngàng đến.

Người con trai ông Hai là người chủ chốt trong việc thu gọn nhà cửa lần này. Đã từ lâu anh ta nhất quyết "làm một cuộc cách mạng triệt để" vào những đồ đạc này, nghĩa là loại bỏ không nương tay những "thành phần" mà anh ta cho là không có lợi. Nhưng ông Hai lại không muốn vất bỏ chúng, ông muốn giành chúng cho những người mới đến Mỹ hay giữ chúng trong kho, chớ không nỡ để chúng nằm lăn lóc trong một đống rác hôi thối nào đó. Ông cảm thấy chúng như có linh hồn, lại có cả tình gắn bó với ông sau khi đã ở trong nhà ông một thời gian khá lâu.

Ông bất bình thấy người con vất một cách thô bạo những đồ đạc chứa trong nhà để xe lên chiếc xe truck nhỏ. Ông nói:

-Nhẹ tay một chút được không" Mình có thể đem cho mà.

-Gọi Good Will hai ba lần mà họ cũng không đến nhận, có lẽ họ chê. Ba xem này, cái lon đen thui cột chung với miếng giẻ rách...

-Mày nói sao" Cái lon, cái lon Guigoz, cái áo trấn thủ.

-Ba nói gì vậy"

-Mày đưa mấy thứ đó cho tao, các thứ còn lại mày muốn làm gì thì làm.
Ông giằng lấy cái lon Guigoz và cái áo trấn thủ nơi tay người con trai rồi bỏ đi, không nỡ nhìn những đồ đạc nằm ngổn ngang trên sàn nhà, như không dám nhìn những người thân yêu đang bị tra tấn hay bước lên đoạn đầu đài.

Đêm hôm đó ông nằm cố ru giấc ngủ nhưng không tài nào nhắm mắt được. Ông cố quên những đồ đạc nằm ngổn ngang ngang lúc chiều nhưng chúng cứ hiện ra trước mắt ông. Ông chợt nhớ đến chiếc Mustang 65. Đã từ lâu không liên lạc với ông Danh, ông không biết gì về chiếc xe cũng như chủ của nó. Ông nhớ lại khi ông giao chiếc xe cho ông Danh và ra về trời đang lất phất mưa. Những giọt nước mưa đọng trên hai cái đèn xe long lanh trong ánh nắng vàng vọt của buổi chiều tà, làm ông có cảm tưởng như chiếc xe đang rưng rưng lệ từ biệt ông. Ông nhớ đến chiếc ghế xe mà ông đã tháo ra và mang sang đây. Mấy năm trước mỗi khi đi Santa Monica câu cá, ông vẫn dùng chiếc ghế này. Ngồi trên ghế nhìn từng lớp sóng xô vào bờ từ biển xa, những con hải âu bay lượn trên nền trời xanh biếc, những con tàu màu trắng đục ở xa tít tận chân trời, ông có cảm tưởng như đang ngồi trên chiến hạm tuần tiễu cận duyên và nhớ lại một thời đẹp nhất trong cuộc đời mình. Tất cả đã xa rời, không bao giờ còn trở lại. Nhưng mà chiếc ghế xe, mới chiều nay nó vẫn còn... Ông ngước nhìn đồng hồ treo tường. Đã gần 2 giờ sáng. Ông nhổm dậy, bước qua phòng đứa con trai. Nó vẫn còn đang thức đọc sách.

-Hồi chiều mày có thấy chiếc ghế của ba không"

-Ghế gì"

-Cái ghế ba hay ngồi câu cá đó.

-Có vài thứ con vất trong thùng rác hay bỏ ngoài đường, không chở đi. Mà ba muốn gì vậy" Ba Mẹ đều... lẩm cẩm hết rồi! Đầu hôm mẹ khóc nguyên cả 1 giờ vì con vất cái ví đầm cổ lỗ sĩ của mẹ trong thùng rác.

-Mầy là người rất hời hợt, ngay cả ảnh tao chụp cho mầy hồi nhỏ mầy cũng vứt tùm lum, bây giờ vứt luôn cả vật kỷ niệm của mẹ mầy. Đó là cái ví tao mua tặng mẹ mày.

- Ở xứ Mỹ này mà ba mẹ. .. như vậy thì không bao lâu nhà mình biến thành cái thùng rác.

- Ba mẹ mầy như vậy thì mới có mầy; nếu mẹ mầy cũng hời hợt như mầy thì đã bỏ tao ngay khi tao còn ờ trong trại cải tạo. Còn tao...

-Nhưng cái gì cũng có sự chấm dứt chứ...

Ông không muốn nghe tiếp nữa, quay gót trở về phòng. Ông ngủ một giấc ngủ chập chờn vì mãi suy nghĩ mênh mang. Ông nhớ đến chiếc xe "rớm lệ" khi ông bỏ nó lại Orlando. Ông tưởng tượng chiếc ghế xe đang nằm co quắp trong đống rác hôi thối than trách ông. Ông bùi ngùi nói:

-Phải, cái gì cũng có sự chấm dứt. Cái gì rồi cũng có lúc tàn lụi. Cái gì có rồi cũng sẽ không có; ngay cả vũ trụ, trái đất; ngay cả thân xác tao rồi cũng sẽ đi theo mầy. Tất cả chúng ta sẽ gặp nhau tại một nơi, đó là nơi không-có-gì-cả. Việc gì phải than trách.

-Nhưng tôi chưa tàn lụi. Tôi chỉ mới bị sút vài cây đinh vít, vài con ốc. Ông chỉ việc lấy chiếc kèm vặn lại là xong, là có thể dùng tôi, một loại đồ đạc đã theo ông suốt mười mấy năm dài đăng đẳng, đã chịu đựng biết bao nhiêu thô bạo của ông. Ông còn nhớ không, rất nhiều lần, chỉ vì câu hụt một con cá nhỏ mà ông đã giận dữ ngồi phịch lên người tôi, làm tôi suýt rách nát cả da thịt.

Ông Hai ngồi nhổm dậy. Đồng hồ chỉ 4 giờ 30 sáng. Xe hốt rác sắp đến đem rác đi. Xe của mấy người Mễ đi lượm đồ phế thải cũng sắp tới. Ông Hai đi nhanh ra ngoài đường nhìn dáo dác rồi reo lên một tiếng mừng rỡ. Cái ghế vẫn còn nằm bên vệ đường.

***
Ông Hai nay là một ông già lụ khụ. Bà Hai đã mất. Ông giao ngôi nhà rộng thênh thang lại cho đứa con trai quản lý, ra ở nơi căn phòng mới chế biến từ cái nhà để xe. Việc này do ông tự nguyện sắp xếp, một sự sắp xếp có tình có lý theo nếp sống tự do của Mỹ. Ngôi nhà nay rất rộng vì bao nhiêu đồ đạc cũ đều bị vợ chồng người con trai vất đi hết. Ông Hai chỉ còn giữ lại một vài vật kỷ niệm của vợ ông và chiếc ghế xe.

Ở trong căn phòng nguyên là nhà để xe này, ông Hai có cảm tưởng như mình cũng là một loại đồ đạc sắp bị phế thải. Khi xưa ông cụ thân sinh ra ông ở Việt Nam chắc chắn không có cái cảm tưởng như ông ngày nay. Từ bao giờ, trước khi ông mở mắt chào đời, ông cụ đã ở trong ngôi nhà từ đường, chễm chệ ngồi trên bộ phản gõ kê ngay trước bàn thờ, bên cạnh biết bao nhiêu vật dụng để từ đời này sang đời khác, không ai dám có ý định vất đi vì những vật tổ tiên sắm ra không những là những kỷ vật thiêng liêng mà còn là của cải, chứ không phải chỉ là phương tiện. Ông cụ ở đó cho đến khi nhắm mắt lìa đời với đám con cháu chung quanh. Ông Hai nghĩ đến đây lòng buồn rười rượi.

Ông và những đồ đạc trong căn phòng này chẳng còn bao lâu nữa sẽ đến nơi-không-có-gì-cả, sẽ vĩnh viễn bị quên lãng trong đám cát bụi của trần gian.

Ít khi hai vợ chồng người con trai đến phòng riêng của ông. Ông càng ngày càng ít bạn bè, hầu hết họ đều ra đi về bên kia thế giới trước ông. Người khách vãng lai duy nhất ở đây là đứa cháu nội trai lên năm. Nó chẳng có nhu cầu gì nơi ông cả, nó không cần ông kể chuyện cổ tích vì đã có TV, nó cũng chẳng cần kẹo bánh vì ở xứ Mỹ này đồ ăn uống dư thừa, nhưng nó vẫn cà rà một bên ông.

Ông Hai vẫn còn đi câu cá hay nói đúng hơn là đi nhìn biển. Ít khi ông nhờ vợ chồng người con trai chở đi mà thường hay lủi thủi một mình đáp chuyến xe buýt số 4 đi Santa Monica. Xuống xe ông chỉ cần đi một đoạn đường ngắn là đến nơi.

Một hôm ông Hai cùng đứa cháu nội định băng qua đường để đi về phía biển thì thấy trên một đoạn đường có giăng cờ màu sắc rực rỡ, phía dưới có nhiều chiếc xe mới đủ màu đang đậu. Ông tò mò đi đến xem. Người ta đang quảng cáo xe. Đây là những chiếc Ford Mustang mới tinh đủ màu: xanh hải quân, đỏ, trắng xám... Ông Hai say mê nhìn mấy cái xe. Chúng đều phảng phất bóng dáng của chiếc Mustang 65, nhưng trẻ trung, xinh đẹp và tân kỳ hơn. Chiếc Mustang 65 có thể không còn nữa, có thể đã "chết", đã được nung chảy ra và tái sinh thành những chiếc xe này. Ông nhìn đứa cháu nội đang đứng một bên. Rõ ràng nó phảng phất bóng dáng của ông. Cũng như ông, nó có mớ tóc quăn phía sau ót, hai cái tai to, những ngón chân dài... Ông đang được "nung chảy" ra để trở thành nó. Thì ra là như vậy. Cái gì có sẽ không có, nhưng không phải về một nơi không-có-gì-cả, mà về một nơi nào đó để trở lại hoàn hảo hơn. Không thể nào có sự trường sinh bất tử theo nghĩa thông thường như người ta đã nghĩ. Nếu có sự này cách đây 70 triệu năm thì hôm nay trái đất chỉ toàn là khủng long.

Ông Hai mỉm cười rạng rỡ, cùng đứa cháu đi về phía biển. Hôm nay trời khá lạnh, lại có nhiều gió, những đợt gió từ đâu ngoài biển thỉnh thoảng xô vào người ông như ngầm bảo ông nên trở về, ở đây hôm nay không phải là ngày thích hợp với một người già cả. Nhưng mà ông đang thích biển, ông muốn ra nhìn biển vì biết đâu đây không phải là dịp cuối cùng.

Quả vậy, vài giờ sau đó người ta thấy có ông già ngồi chết bên cạnh một đứa bé đang ngủ say, tay đứa bé cầm cái cần câu, môi ông già vẫn chưa tắt nụ cười. Nếu không quan sát kỹ, khó biết được ai đã chết và ai đang ngủ.

Bồ Tùng Ma

Sunday, May 19, 2019

Mái Nhà Xưa 

Bồ Tùng Ma

Tôi qua Mỹ theo Chương Trình HO đầu năm 1990. Tôi đến đây một mình vì chồng chết trong trại cải tạo và chúng tôi không có con cái. Tội nghiệp ảnh, chúng tôi mới ăn ở với nhau chưa đầy nửa tháng thì ảnh bị tập trung. Nếu cái ngày đen tối ấy trễ hơn chừng nửa tháng, có thể ảnh đã có người nối dõi. Hội USCC, sau này là IOM, thuê cho tôi một cái nhà chứa xe được sửa lại để tá túc. "Cái nhà" này ở gần trường tiểu học Howard thuộc thành phố Glendale, California. Mỗi buổi chiều tôi hay lang thang trên lề của một con đường có trồng hai hàng phượng tím. Những cây phượng tím ra hoa, làm tím cả con đường vắng lặng, tím cả không gian chung quanh và tím cả lòng tôi. Tôi biết đến đây tôi sẽ buồn lắm và cô đơn thêm, nhưng nếu thu mình trong cái nhà chứa xe đó, tôi sẽ chán đến thế nào. Đối với tôi, thà buồn hơn chán. Buồn không làm ai tự tử, nhưng khi chán ta thường không muốn sống.

Một hôm tôi đi lang thang xa hơn thường lệ. Tôi đến gần một ngôi nhà nhỏ kiểu cổ, xinh xắn. Trước nhà trồng toàn một loại hoa hồng màu đỏ thắm. Một bà cụ từ trong nhà bước ra, tay cầm một bình tưới, đến bên những khóm hoa hồng. Bà cụ trông thấy tôi, gật đầu chào. Tôi lễ phép cúi đầu chào lại. Sau khi bước đi vài bước tôi có cảm tưởng như bà cụ đang nhìn theo tôi, nên quay đầu lại. Quả nhiên như vậy. Tôi mỉm cười tiến về phía bà, đưa mắt nhìn bà và lấy tay ra dấu, có ý nói cho tôi xin một đóa hoa hồng. Bà cụ gật đầu. Tôi ngắt một đoá hoa hồng trao cho bà. Bà mỉm cười nhận đoá hoa, đưa lên môi hôn.

Chiều hôm sau, khi đi ngang qua ngôi nhà đó tôi thấy bà cụ đang ngồi trên chiếc ghế mây cạnh mấy khóm hoa. Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ bà. Đó là một bà cụ người Mỹ trắng ngoài 80 tuổi, trông rất đẹp lão và hiền từ. Mặt bà cụ ửng hồng dưới mấy đoá hoa hồng đỏ thắm. Tôi nhớ đến bốn câu thơ rất nổi tiếng của Thôi Hộ mà chồng tôi thường ngâm nga:

Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

(Năm ngoái, ngày hôm nay tại cửa ngõ này,
Mặt người đẹp với hoa đào cùng một màu hồng.
Không biết mặt người đẹp bây giờ ở nơi đâu,
Mà hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ)

Tôi bật cười vì đã ví bà cụ với một cô gái đẹp; nhưng tôi lại nghĩ biết đâu sang năm đi ngang đây tôi sẽ không thấy bà cụ nữa. Bà cụ đã ngoài 80 rồi mà.

"Cô ơi! Biết nói tiếng Anh không"

Nghe tiếng bà cụ, tôi quay lui, đến gần bà:
"Dạ biết. Con từng làm cho một hảng thầu Mỹ ở Việt Nam."

"Cô người Việt Nam hả" Thật là thú vị!"

Bà nói bà không thể nào phân biệt được người Việt Nam với người Tàu, Nhật hay Thái Lan v.v&. Bà mời tôi vào xem căn nhà và khu vườn sau.

"Cái nhà này đã chứa đựng biết bao nhiêu nhiêu kỷ niệm của ông nhà tôi, David Carter. Cô xem đây! Sàn nhà là cả một công trình của ổng trong suốt mấy năm. Ổng lụm cụm cưa gọt từng khúc gỗ, rồi sơn phết và ráp lại thành cái sàn nhà này. Mấy con thú giả phía sau vườn nữa, cô không tưởng tượng nổi đâu, chính ông nhà tôi đã nặn ra đó. Còn cây sồi sau vườn nữa. Hồi chúng tôi còn nằm chung một giường cho đến khi nằm riêng, nó vẫn y như vậy. Ước gì mình sống mãi với nó. Một ngày nào đó mình sẽ bỏ nó mà đi. Với tôi, chuyện ấy chẳng xa xôi gì"

"Bà còn khoẻ quá mà. Cái nhà đẹp ghê, lại sạch sẽ ngăn nắp nữa. Bà tự mình săn sóc hả""

"Tôi tự săn sóc. Thỉnh thoảng cũng có người giúp."

"Bà không sợ con là ăn cướp sao mà dám đưa con vào nhà như thế này." Tôi cười nói.

"Vậy chớ cô không sợ tôi là mụ phù thủy ác độc sao mà dám vào đây." 

Bà cười, hàm răng trắng tinh như hàm răng của một cô gái biết chăm sóc sắc đẹp.

"Ở Mỹ chỉ có trẻ con với người già là dễ thương và không nguy hiểm."Tôi nói đùa.

"Không đâu, thanh niên cũng dễ thương lắm. Cô xem này."

Bà đến kéo cái hộc tủ nhỏ ra nhưng nó đã bị khoá. Bà vào trong phòng ngủ nhưng rồi đi ra:

"Tôi định cho cô xem hình con trai tôi nhưng tìm không ra chìa khoá. Nó mất tích ở Việt Nam. Tôi già cả lẩm cẩm mất rồi. Thời gian trôi qua nhanh thật. Mới là một cô gái, mà nay đã thành một bà già. Tôi thấy bà chị Jennifer của tôi mà sợ quá. Chị ấy nằm một chỗ suốt hai năm như vậy. Cô y tá phải nghiền đồ ăn bơm qua lỗ mũi; hạ bộ chị ấy luôn luôn ướt vì phân và nước tiểu, vài chục phút phải thay một cái tã lót, dù đã có cái quạt nhỏ hong khô từ dưới giường. Hồi xưa chị ấy là một ca sĩ nổi tiếng. Khi chị đứng trên sân khấu hát, chắc không có chàng trai nào tưởng tượng nổi chị sẽ phải bị thay tã lót thường xuyên. Chị mất cách đây 3 năm. Làm sao bây giờ cô" Tôi không muốn giống chị tôi, nhưng tôi còn yêu đời lắm, không muốn chết trẻ đâu. Phải chi đến một lúc nào đó mình quá già và khoẻ mà Chúa gọi mình đi. Cái giây phút đó phải không đau đớn mới được. Nhưng mà tôi cũng không muốn chết đâu, dù bằng cách nào."

"Con nghĩ trong trường hợp bà thì Chúa chưa gọi bà đâu."

"Nhưng Chúa cũng sẽ gọi chứ! Mình sống trên đời biết bao năm, gắn bó với nào là người thân, bạn bè, khung trời rộng, hoa cỏ xanh tươi, căn nhà ấm cúng. Vậy rồi mình rời bỏ tất cả. Thật vô lý quá!"

"Bà hãy nghĩ đến những người sắp chết còn khổ hơn những người như Jennifer; chẳng hạn như những tử tội chờ bị hành hình, họ đau khổ cả tâm hồn lẩn thể xác, nằm trong ngục thấp thỏm, không biết lúc nào ra pháp trường, và khi bị hành hình, bộ không đau đớn sao."

"Họ có tội, còn mình có tội gì đâu."

"Có khi họ bị oan. Còn tử tội chính trị ở một vài nước như nước con, liệu họ có tội thật không. Mà bà là con chiên của Chúa mà, sao lại sợ Chúa gọi""

"Thiên Đàng hay Địa Ngục gì tôi cũng không muốn đến, khi chưa có tin tức chính xác về con tôi."

"Đến một trong hai nơi đó chắc chắn bà biết chính xác."

"Ừ, phải."

Thấy chuyện trò như vậy cũng tạm đủ, tôi xin phép ra về. Bà nói lần sau bà sẽ cho xem ảnh con bà. Tôi cũng hứa sẽ đem hình chồng tôi cho bà xem.

Vì bận chút việc, ba hôm sau tôi mới qua nhà bà, tay cầm theo một tập ảnh. Mới trông thấy tôi, bà đã vào phòng trong đem ra một tập ảnh lớn: 

"Hình nó chụp lúc học mẫu giáo nè. Còn đây là hình chụp lúc tốt nghiệp trung học. Đây là hình chụp lúc đi lính. Đây là hình chụp khi ở Việt Nam. Nó có cả bạn gái Việt Nam nữa đó. Phải chi nó có một đứa con."

Bà trưng ra nhiều hình quá, tôi xem không kịp . Sau cùng bà đưa cho tôi xem một tấm hình con bà mặc quân phục tác chiến, đầu đội mũ lưỡi trai, mang súng trường:

"Đây là hình mới nhất của nó. Có khi nào cô gặp một người như vậy không" Nó tên John Carter, cái tên rất dễ nhớ."

Tôi nhìn John trong hình: cao lớn, khoẻ mạnh, đẹp trai, có hơi ngổ ngáo. Tôi đã gặp biết bao nhiêu quân nhân Mỹ như vậy ở Việt Nam. Hầu như họ đều giống nhau; hầu như họ chỉ là một người được phân ra thành nhiều người, dù đen, trắng, vàng hay đỏ. Tôi nói:

"Thật tình con không nhớ nổi."

"Có khi nào nó lấy vợ, có con rồi ẩn mình ở đâu bên đó không, như một truyện phiêu lưu tôi đã đọc. Có khi nào nó điên điên, khùng khùng trốn trong rừng rậm không" Nó điên khùng hay gì cũng được, miễn là còn sống."

Bà buồn bã nói tiếp:
"Tôi khô nước mắt rồi cô ơi, không khóc được nữa."

Tôi lấy hình Thuận-chồng tôi- ra cho bà xem. Bà nói:

"Họ mặc đồ giống nhau quá hả. Chồng cô đâu""

"Chồng con chết trong trại cải tạo."

"Tôi có nghe nói đến những trại tù đó. Con tôi cũng có thể ở trong những trại như vậy. Cực nhọc, đói khát. À, cô có biết một món ăn gọi là "phở" không" Con tôi viết thư nói nó thích ăn phở lắm. Tôi có đi ăn mấy lần rồi. Hôm nào chúng ta đi ăn nghe. Tôi đãi cô."

Lần thứ ba tôi đến, bà nói:
"Gặp nhau nhiều lần mà tôi quên nói tên tôi cho cô biết. Tên hồi còn con gái của tôi là Julia. Cô tên gì""

"Con tên Oanh"

"Ồ, cái tên hơi khó gọi. Gọi là One được không""

"Dạ được. One, number one." Tôi cười nói.

Sau đó tôi đưa bà qua thăm nơi ở của tôi. Vừa bước chân vào nhà, bà đã nói:
"Đạm bạc quá. Cô có muốn qua ở với tôi không""

"Xin cám ơn bà. Thật tình, con muốn tự do. Dù sao, bà với con cũng là hai người, không phải một."

"Nhưng cô cứ qua nhà tôi chơi, muốn ở lại, ngủ lại bao lâu cũng được."

"Dạ vâng, để hôm nào tiện."

Thế rồi sau đó tôi qua nhà bà thường xuyên. Chúng tôi kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện về gia đình, bạn bè và chuyện Việt Nam trước cũng như sau 30-4-1975. Bà cho biết thân nhân gần nhất của bà hiện nay chỉ còn một người em gái tên là Cindy thua bà 10 tuổi và đứa con trai của bà ấy tên Richard, nhưng rất ít khi họ gặp nhau. Lần gặp nhau mới nhất cách đây chừng hai năm; còn thân nhân của ông cụ thì ở tận Tô Cách Lan, hầu như bặt tin. Tôi cũng nói hoàn cảnh tôi không khác gì bà.

Chúng tôi cùng ăn với nhau, cùng xem TV. Khi mỏi mệt tôi nằm trên sô-pha ngủ một cách tự nhiên thoải mái như trong nhà mình. Trong vòng sáu tháng như vậy, ngoại trừ nhà bà Julia, tôi không hề đi đâu cả.

Một hôm tôi nghe có tiếng xe cứu thương réo inh ỏi. Linh cảm cho tôi biết đang có chuyện chẳng lành xảy ra cho bà Julia. Tôi chạy vội qua nhà bà. Tôi đến nơi vừa lúc người ta dìu bà lên cáng để khiên ra xe cứu thương. Mặt bà nhợt nhạt, miệng há ra, mắt lờ đờ. Tôi đến bên bà nhưng mấy người khiêng cáng ngăn tôi lại. Bà khoát tay ra dấu phản đối rồi chỉ tôi, nói thều thào:

"Người...quen...của...tôi"

Một người khiên cáng nói:
"Chị coi giùm nhà. Liên lạc Glendale Medical Center sau."

Tôi vào nhà bà, thu dọn sơ qua, kiểm soát bếp núc, phòng tắm. Mãi đến chiều tối tôi mới được vào thăm bà. Bà nằm trong bệnh viện nguyên một tuần. Tôi nghỉ việc để săn sóc bà. Tôi làm tại một tiệm móng tay, người chủ ưu tiên cho tôi muốn nghỉ hay làm lúc nào cũng được, miễn là thông báo trước. Đến ngày thứ tám bà được xuất viện nhưng phải ngồi trên xe lăn. Tôi đem theo một ít áo quần và vật dụng qua nhà bà ở. Nhìn bà nằm trên giường, mắt nhắm nghiền, hơi thở mệt nhọc, tôi thấy bà giống mẹ tôi một cách lạ kỳ, giống hồi mẹ tôi nằm trên giường bệnh trước khi mất. Rõ rang bà khác mẹ tôi về vóc dáng, nước da, khuôn mặt...nhưng vẫn có cái gì đó mà tôi không thể đặt tên được, rất giống mẹ tôi. Không biết cái nhìn của tôi có gì khác thường không mà tôi thấy có một số người Mỹ, dù đen, trắng, vàng hay đỏ lại giống một số người Việt nào đó, thí dụ như giống cái liếc nhìn, nụ cười hay tính cách.

Hầu như tôi săn sóc bà từ A đến Z. Tôi dìu bà đi tiểu, đi tiêu, đi tắm rửa. Tôi nấu ăn, giặt quần áo, làm vệ sinh nhà cửa. Có lần bà nói muốn ăn phở. Tôi vội vàng lái xe đi mua một tô phở nhỏ chia làm hai, bà một nửa, tôi một nửa. Bà vừa ăn vừa nói:

"Biết đâu thằng John đang ăn phở bên Việt Nam."

Ăn xong bà viết một chi phiếu đưa cho tôi:
"Con nghỉ làm thì tiền đâu mà tiêu. Cầm cái này đi."

Thấy tờ chi phiếu 300 đô, tôi trả lui cho bà:
"Cám ơn bà. Con không nhận đâu."

Bà lắc đầu bảo tôi phải nhận. Tôi từ chối mãi không được, bèn cầm lấy chi phiếu.

Sau đó vài ngày bà Julia khỏe dần nhưng không ra ngồi ngoài hiên như trước. Tôi đi làm trở lại, nhưng tối nào cũng qua nhà bà ngủ. Vài tháng sau, vào một buổi tối, bỗng nhiên bà cụ nắm tay tôi nói:
"Gọi tao bằng mẹ đi."

Tôi cảm động gọi:
"Mẹ!"

Bà cụ Julia ôm tôi khóc thút thít như một đứa trẻ.

Mùa đông năm đó bà cụ Julia lại bệnh giống y như lần trước và phải nằm bệnh viện. Tôi được biết, có thể má sẽ nằm đây cho đến khi không cần phải nằm nữa, nghĩa là cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Cái gì đến với bà Jennifer trước đây thì nay lại đến với má: Má không thể tự mình ăn uống và tắm rửa được, cô y tá hay tôi phải thường xuyên thay tã lót cho má. Má thều thào nói với tôi:
"Cái đó thật sự đã đến với mẹ."

Tôi rơm rớm nước mắt hỏi:
"Mẹ thấy trong người thế nào""

"Người mẹ như đúc toàn bằng xi-măng, nhưng không đau đớn lắm, có lẽ nhờ thuốc. Dù sao tâm hồn mẹ thanh thản lắm."

"Mẹ có nghĩ ngợi gì không""

"Mẹ nghĩ đến Chúa, nghĩ đến thằng John. Con nói phải, đến một trong hai nơi đó mẹ sẽ biết tin nó chính xác hơn. Nghĩ đến đây mẹ cảm thấy vui. Ôi chao, phải chi con là vợ thằng John thì mẹ sung sướng biết bao nhiêu. Con có muốn làm vợ nó không""

Tôi nói cho má vui lòng:
"Dạ muốn."

"Vậy con ở bên này chờ nó; còn mẹ qua bên kia..." Má vừa nói vừa tháo chiếc nhẫn từ một ngón tay ra đưa cho tôi. "Nếu mẹ có thể giao cái nhà cho con thì mẹ cũng giao.. Giao nhà cho con thì mẹ an tâm hơn nhiều. Nhưng mà không được. Thôi, mẹ cho con chiếc nhẫn này. Đây là chiếc nhẫn mẹ sắm cho John cưới vợ. Thôi, con về ngủ kẻo khuya."

Vì mỏi mệt, tôi về nhà ngủ mê man cho đến khi nghe tiếng chuông cửa reo liên tiếp, sau đó là mấy tiếng gõ cửa lớn. Tôi đến nhòm vào cái "lỗ an toàn" trên cửa. Một thanh niên chừng 25 tuổi đang đứng bên ngoài. Tôi hỏi anh ta là ai, anh ta nói là cháu của bà Julia. Sau khi vào nhà, anh ta tự nhiên đi tới đi lui khắp nhà, nhìn chỗ này một chút, chỗ kia một chút. Cuối cùng anh thanh niên nói:

"Việc của chị đến đây là xong. Chị có thể nghỉ việc. Dì Julia của tôi còn thiếu của chị tiền công gì không" Tôi là Richard Carpenter, cháu gọi Julia bằng dì ruột."

"Anh gặp bà Julia chưa"" Tôi bực mình nhưng vẫn thản nhiên hỏi.

"Dì tôi đã mất lúc 2 giờ sáng hôm nay."

Tôi oà khóc và bảo anh ta lái xe đưa tôi đến bệnh viện.

"Không cần đâu. Đã có bệnh viện và nhà quàng lo. Tôi cũng sẽ lo mọi việc còn lại." Anh thanh niên nói.

Tôi vội vàng lái xe đến bệnh viện. Người ta cho tôi vào gặp má Julia một cách dễ dàng. Lát sau Richard cũng đến. Anh ta yêu cầu tôi đến lấy những áo quần và vật dụng còn để tại nhà má Julia, để anh ta thuê người chuyên môn về vệ sinh dọn dẹp, tẩy uế. Nhìn vẻ mặt Richard tôi lại thấy anh ta giống một người Việt Nam nào đó nơi quê nhà mà tôi không ưa. Tôi hôn má Julia và ra về.

Tôi bỏ ra ba ngày tìm mộ của má Julia nhưng không ai biết cả. Tôi đến ngôi nhà của má Julia tìm Richard nhưng không có anh ta ở đó.

Tôi cảm thấy buồn và chán, muốn rời nơi đây để đi đâu đó thật xa.

Một hôm có người bạn rủ tôi qua Missouri mở tiệm nail.
"Ở bên đó làm nail kiếm ăn dễ lắm."

Tôi nói tôi không có tiền.

Người bạn ngập ngừng một lát rồi nói:
"Chị giao chiếc nhẫn cho tôi, xem như... cầm. Tôi với chị thì sao cũng được, nhưng còn chồng tôi nữa "

Tôi thật thà nói:
"Nó đâu đáng giá bao nhiêu"

"Hột xoàn thiệt mà. Theo tôi nghĩ, nó vừa đủ cho giá sang nửa cái tiệm nail." Chị bạn cũng thật thà nói vậy.

"Đây là vật kỷ niệm của tôi. Tuyệt đối không làm thất lạc. Với bất cứ giá nào, tôi cũng chuộc lại."

Vậy là tôi theo người bạn qua Missouri. Nơi đây thấy có nhiều ngôi nhà kiểu cổ xinh xắn giống như nhà má Julia, tôi càng nhớ má hơn nữa.

Ở Missouri trong vòng 10 năm, chúng tôi lần lượt mở được 8 tiệm nail rải rác khắp tiểu bang và kiếm được một số tiền tương đối lớn. Tôi đã chuộc lại chiếc nhẫn từ lâu và luôn luôn đeo nó trên ngón tay áp út.

Qua năm thứ 11 ở Missouri tôi thấy mình có đủ điều kiện vật chất để an hưởng tuổi đời còn lại. Lúc ấy tôi vừa 46 tuổi. Tôi không có con cái, nên thấy mình không cần phải bon chen cực nhọc làm việc để lo tương lai cho chúng. Tôi nghĩ tôi nên trở về nơi tôi đã từng ở, khi mới vừa chân ướt chân ráo đến Mỹ bằng hai bàn tay trắng, nơi từng có má Julia thương yêu tôi và nhận tôi làm con dâu. Thế nên tôi bán ngôi nhà, cho bạn bè tất cả đồ đạc, sang lại cơ sở làm ăn, bán chiếc xe hơi và trở lại Cali.

Đến đây tôi thuê tạm một căn nhà nhỏ loại single để ở và mua ngay một chiếc xe hơi khác. Chiều nào tôi cũng lái xe đến đậu gần trường tiểu học Howard, rồi lang thang thả bộ trên lề con đường có hai hàng phượng tím. Không có gì thay đổi. Vẫn hai hàng phượng tím buồn, vẫn những ngôi nhà kiểu cổ xinh xắn.

Tôi đi như vậy để được nhìn lại cảnh vật từng lưu lại trong tôi nhiều kỷ niệm với má Julia. Tôi đi tới đi lui và tôi ước gì mua được một ngôi nhà nằm trong khu vực này. Thế rồi chân tôi tiến về phía ngôi nhà của má Julia lúc nào không hay. Ngôi nhà không có một dấu hiệu nào thay đổi, vẫn màu sơn đó, vẫn cây sồi lá xanh ngắt nhô lên ở phía sau, vẫn những khóm hoa hồng màu đỏ thắm. Va... tôi có hoa mắt không, má Julia từ trong nhà bước ra, tay cầm một bình tưới. Má chỉ tưới vài gốc hồng, rồi mệt mỏi, ngồi lên trên chiếc ghế gần đó. Nước mắt rưng rưng, tôi tiến về phía má, đưa hai tay ra, rồi lại bỏ tay xuống và ngắt một đoá hoa hồng trao cho má.

Tôi mơ hồ nghe tiếng nói:
"Sao lại ngắt hoa như thế".

"Con là Oanh đây mà."

"Oanh hả" Tới đây làm gì vậy""

"Con muốn thăm mẹ và hỏi thăm có ai bán nhà gần đây không."

"Nhà ở đây đắt lắm."

"Như cái nhà này thì bao nhiêu""

"Đâu có bán mà nói bao nhiêu"

Tôi lẩm bẩm:
"Má Julia chưa chết và trở thành lú lẩn như thế này. Người ta đã lừa tôi."

Tôi ôm bà cụ, khóc nức nở. Bà cụ cũng ôm lấy tôi:
"Đã lâu rồi ta chưa được ai ôm như vậy. Phải chi ta có một đứa con gái hay con dâu hiếu thảo như thế này. Ta có một thằng con trai đi lính, rồi đào ngũ, bài bạc, hoang đàng. Thật vô phúc."

Ngay lúc đó một người đàn ông từ trong nhà bước ra. Chính là Richard. Anh ta nói:
"Chị muốn mua nhà hả" Mẹ tôi không bán đâu."

Thì ra bà cụ này là dì Cindy, em của má Julia.

"Mẹ tôi nói dì Julia không cho phép bán nhà. Mẹ tôi bây giờ lú lẫn lắm. Tôi không có cách gì thuyết phục mẹ tôi bán được, trừ phi... trừ phi mẹ tôi chết. Cô đợi được không" Tôi nghĩ cũng không lâu" Anh ta lè nhè nói, mặt đỏ gay vì rượu. Anh ta không nhận ra tôi.

Tôi sợ hãi chào anh ta và bà cụ, rồi bước nhanh ra xe.

Tối hôm ấy tôi nằm mơ thấy má Julia. Tôi nói đủ thứ chuyện với má, nào là chuyện chiếc nhẫn má cho, chuyện làm ăn, chuyện mua nhà. Sau cùng tôi hỏi:

"Sao mẹ không cho phép dì Cindy bán nhà cho con""

Má Julia cười nói:
"Mẹ bảo đừng bán cho người khác, chứ không phải đừng bán cho con. Con cứ tới mua đi."

Tôi cho đó chỉ là giấc mơ vớ vẩn nên không đế ý đến.

Một buổi sáng tôi lái xe ngang ngôi nhà của má Julia. Tôi định đi luôn, nhưng rồi như có một mãnh lực nào đó bảo tôi dừng lại. Tôi đã dừng lại và tiến về phía ngôi nhà.

"Tôi đã thuyết phục được mẹ tôi bán nhà" Richard nói, nhìn tôi soi mói, nhưng vẫn không nhận ra tôi.

Thế là sau khi nhờ chồng của một người bạn rành về bất động sản trả giá và lo mọi thủ tục, tôi đã mua được ngôi nhà đó.

"Tôi không ngờ chỉ trả có một tiếng là họ bán liền. Rẻ như cho." Người chồng của bạn tôi nói.

Mấy tháng sau tôi dọn vào. Ngôi nhà hoàn toàn không được sửa sang tu bổ, mười năm trước thế nào thì nay nó cũng y như thế. Tôi kéo cái hộc tủ ra. Những tấm ảnh gia đình bụi bặm mà có lẽ 10 năm nay không có ai xem. Tôi cho sửa sang, tu bổ lại ngôi nhà, nhưng vẫn giữ nguyên kiểu cách ban đầu.

Theo phong tục Việt Nam, tôi lập một bàn thờ, trên đó đặt các tấm hình của ông bà nội tôi, ba má tôi, ông cụ David, má Julia, chồng tôi và John. Tôi phóng lớn một tấm hình của chồng và một tấm hình của John treo trên tường. Ai hỏi hai người đó là ai, tôi đều nói là chồng tôi, đời chồng trước và đời chồng sau. Tôi đã thay thế má Julia làm chủ ngôi nhà.

Nhưng rồi sẽ được bao lâu như vậy. Một ngày nào đó tôi cũng sẽ theo má Julia. Thế nên tôi thường bắc ghế ra ngồi ngoài hiên, mong có người đến ngắt tặng tôi một đoá hoa hồng.

Bồ Tùng Ma
28/12/07
vietbao.com

Friday, February 22, 2019

Số Ở Tù





Tết Bính Tý năm 1996 tôi về Việt Nam. Một trong những ấn tượng  sâu sắc trong tôi là… một bà thầy bói. Khi từ một hội chợ về nhà, thấy các em tôi đang xúm xít chung quanh một bà già, quần áo lôi thôi, mặt mày nhăn nhúm, tôi rất ngạc nhiên. Vừa lúc ấy, tôi nghe tiếng một cô em:

- Bà ơi! Có đông đủ anh em rồi. Bà đoán thử ai là người sướng, ai là người khổ nhất trong nhà.

Bà già không suy nghĩ nhiều, chỉ ngay vào tôi:

- Đây là người khổ nhất. Còn người sướng nhất tui không biết.

Mấy  em tôi cười phá lên.  Cô em gái út nói:

- Ảnh sướng nhất nhà. Chắc bà bói lộn ngược rồi.

Tôi cười, không có ý kiến.

Sau này tôi suy ngẫm, thấy bà ấy nói đúng. Tôi là người chịu nhiều tai ách nhất trong số các anh em. Nói một cách dễ hiểu tôi có số ở tù.  Tôi nói tôi có số ở tù không phải vì tôi ở tù lâu, mà phần nhiều vì những lý do lãng xẹt mà tôi xin kể sau đây.

Lúc 8, 9 tuổi tôi có thằng bạn tên Lê Tấn Khương.  Khương thích chơi với tôi vì tôi học… cao hơn nó.  Nó chỉ học qua loa rồi hành nghề bán cà- rem cây kiêm đánh giày. Tôi thích chơi với Khương vì nó rất trực ngôn.  Nó nói những cái ít ai dám nói, thí dụ “Miệng mi hôi quá”. Nghe nó nói tôi đi đánh răng súc miệng ngay. Nếu người khác nói chưa chắc tôi nghe lời có khi còn  giận, nhưng nghe nó nói tôi không giận vì tôi xem nó như trẻ con, đúng hơn là như cái “máy sửa sai” để tôi sửa. Máy thì không biết nói mỉa, không biết chọc tức, không biết chê bai…

Cô tôi rất dị ứng với Khương, xúi ba tôi đừng cho tôi chơi với nó:

- Sao anh lại cho cháu chơi với thằng Khương.  Con mình mà lại làm bạn với thằng đánh giày, đã vậy mặt mày thằng đó lúc nào cũng như đưa đám.

Ba tôi bỏ ngoài tai những lời cô tôi nói. Tôi biết ông thà để tôi chơi với Khương còn hơn để tôi chơi với đám trẻ mất dạy sau nhà, chuyên phá làng phá xóm và đánh nhau.

“Thần khẩu buộc xác phàm”.

Từ năm 1956 cho đến khi định cư tại Mỹ tôi ở tù tất cả bốn lần, chưa kể những lần tù lặt vặt.

Hồi ông Ngô Đình Diệm mới về chấp chánh tôi thấy rất đông người đi biểu tình ủng hộ ông ấy. Tôi đi theo đám biểu tình…cho vui, nhưng  đi trễ, chỉ bám đuôi đám người phía sau. Bỗng nhiên một toán cảnh sát bao vây chung quanh, bắt đám người đi sau trong đó có tôi. Tất cả bị lùa về một nhà giam thường gọi là bót Con Gà.  Tôi là một trong những người bị hỏi cung đầu tiên.

- Tại răng mi đi biểu tình?

Tôi không trả lời ngay mà nghĩ: “Quái! Không lẽ đây là Việt Minh.”

- Thằng kia, nghe không?

- Dạ nghe. Đả đảo Ngô Đình Diệm!

Tôi nghe một tiếng quát thật lớn và nhận một bạt tai như Trời giáng. Tôi bị nhốt vào cầu tiêu.  Sáng hôm sau ba tôi đến lãnh tôi về.

- Sao con lại đi theo đám biểu tình đả đảo ông Ngô? Con dại quá, không lo học…

Tôi ngắt lời ba tôi:

- Ủa, đám biểu tình phía sau không phải đám phía trước hả ba?

Lần ở tù thứ nhì là “tù hình sự”.  Tôi không nhớ tại sao Lê Tấn Khương vô gia cư, tiếng Mỹ gọi là homeless tức gần như đồng nghĩa với ăn mày.  Một hôm nó gặp tôi, rủ tôi xuống vườn hoa Diên Hồng trước bót Con Gà ngủ. Tôi thấy việc này cũng…vui  nên đi theo nó. Khoảng nửa đêm cảnh sát bố ráp vườn hoa, dẫn giải chúng tôi vào bót. Trong toán cảnh sát có Sáu Cộ, nguyên mật thám  Pháp được “tạm dùng”.  Vì được “tạm dùng” nên Sáu Cộ lấy điểm, hăng lắm, chỉ muốn trói chúng tôi lại. Khi nghe tôi nói: “Tôi là học sinh” Sáu Cộ xáng tôi mấy bạt tai. Sáu Cộ rất ghét học sinh vì anh ta chưa từng cắp sách đến trường sau khi qua lớp bình dân học vụ. Trước 1954, nghề làm mật thám là nghề mà người có học thức ít ai muốn làm, nên Pháp chọn mật thám rất bừa bãi.

Sau một đêm bị nhốt, tôi bị hỏi cung, khai là học sinh Phan Châu Trinh. Rất may, người hỏi cung cũng từng là học sinh nên thả tôi ra.

Tôi vào Hải quân Việt Nam Cộng Hòa năm 1963. Mùa hè năm 1972 tôi là Trưởng phòng Chiến tranh Chính trị Sở Phòng vệ Duyên hải, thuộc Nha Kỹ thuật Bộ Tổng Tham mưu.  Một buổi sáng tôi đang ngồi làm việc trong văn phòng thì Hải quân Thiếu tá Tham Mưu trưởng Võ Hữu Danh  vào gặp tôi, nói một câu rất gọn:

- Anh bị mất tự do.

Tôi tưởng ông ấy nói đùa nên chỉ cười và định tìm một câu gì đó ý nhị để đùa lại thì thấy Thượng Sĩ  Bảy và một Trung sĩ  không nhớ tên, cả hai đều là Hạ sĩ quan an ninh, bước vào bảo tôi đi theo họ. Lúc bấy giờ Thiếu tá Danh không còn ở đó nên tôi không thể hỏi ông ấy thêm điều gì. Tôi biết đây không phải chuyện đùa nên đi theo hai Hạ sĩ quan an ninh.  Họ bảo tôi vào một phòng trống gần đó rồi khóa cửa lại.  

Khuya hôm đó hai Hạ sĩ quan an ninh đưa tôi lên phi trường Đà Nẵng. Tôi ngồi bên cạnh tài xế, Thượng sĩ  Bảy và viên Trung sĩ ngồi phía sau.  Viên Trung sĩ cầm súng gần như chĩa vào tôi, sẵn sàng bắn. Mặt anh ta hầm hầm.  Tôi ngạc nhiên không hiểu sao anh ta thay đổi thái độ nhanh như vậy. Xưa nay tôi vẫn dễ dãi, hòa đồng với cấp dưới, có khi quá “hòa đồng” trong lúc nhậu nhẹt đến nỗi bị cấp trên khiển trách.

Khoảng nửa giờ sau khi Thượng sĩ Bảy làm thủ tục, một chiếc máy bay lăn bánh đến.  Chiếc máy bay không ghi một chữ hay biểu trưng (logo) gì bên ngoài.  Khi bước vào bên trong tôi mới thấy mấy chữ “American Airlines” trên khung cửa phòng lái. Có lẽ khuya quá nên không  có một hành khách nào ngoài ba chúng tôi. Một anh mặc thường phục hình như Tàu Đài Loan, đóng cửa máy bay rồi đi ra phía trước. 

Đến Sài Gòn, tôi bị đưa đến Cục An ninh Quân đội. Một Thượng sĩ đến nhận tôi, đưa tôi đến phòng giam.  Sáng thức dậy tôi mới để ý đến ba ngươi cùng phòng.  Viên Thượng sĩ nhận tôi và cũng là giám thị, Thượng sĩ Thuần, vào phòng giới thiệu về ba người cùng phòng:  Nhà văn Nguyên Vũ (tức Vũ Ngự Chiêu, nay là Sử học gia); anh Nghị, Khóa 20 Võ bị Đà Lạt, Trung úy Biệt động quân; và một thiếu niên. Sau này tôi được biết thêm Nguyên Vũ bị giam về vụ chửi lộn với mấy ông dân biểu, anh Nghị mới bị Việt Cộng thả ra, thiếu niên trẻ là một giao liên Việt Cộng. Anh này chưa tới 18 tuổi, mặt như mặt chồn, thấy mất cảm tình ngay. Tên này suốt ngày cứ than chẳng biết có được thả trước Tết không. Tôi rất bực mình, có lần nói:

- Mi muốn ra trước Tết để tấn công như Tết Mậu Thân hả?

Tôi chẳng quen ai trong số 3 người này.  Lát sau qua khung cửa sổ nhỏ tôi thấy Dương Hùng Cường tức Dê Húc Càng đi ngang qua. Anh Cường ăn mặc rất “thoải mái”, trên người anh lúc đó chỉ có một cái sì-líp. Anh đang bưng đồ ăn đi hâm.  Anh ta nhìn thấy tôi,  cười.  Tôi nghĩ chắc Dương Hùng Cường và Nguyên Vũ cùng một “vụ” nên mới bị nhốt riêng. Cho đến lúc đó tôi vẫn không biết tôi thuộc “vụ” gì.

Sáng hôm sau tôi được gọi lên văn phòng. Một người ngồi vào bàn, lục tìm hồ sơ, rồi nói với tôi:

- Chào Đại úy! Tôi là Phúc. Đại úy có biết vì sao ông bị đưa vào đây không?

Tôi trả lời ngay:

- Tôi không biết. Tôi rất hoang mang về việc này.

- Đại úy có biết Trần Hạnh không?

- Tôi không biết.

- Trần Hạnh là gián điệp Việt Cộng, bị bắt, khai có gặp Đại úy.

- Tôi chưa hề nghe đến cái tên Trần Hạnh, nói chi gặp.

Đại úy Phúc đọc tiếp hồ sơ rồi nói:

- Đại úy cứ an tâm nghỉ ngơi. Sau khi mọi việc sáng tỏ, ông sẽ về đơn vị.  Bây giờ Đại úy có thể trở về phòng.

Trong thời gian này Thượng sĩ Thuần thường vào phòng nói chuyện với chúng tôi, thỉnh thoảng cho chúng tôi biết thêm tin tức về việc giam giữ như nhận đồ ăn, thăm viếng... Thượng sĩ Thuần là người rất dễ chịu, nhưng phụ tá của ông ta, một Hạ sĩ tên Nhất, thì ngược lại, lúc nào cũng nhăn mặt như đang nhức răng. Có lần anh ta mang một cái “cùm” để ngay cửa ra vào, hù chúng tôi. Đó là một chiếc lồng sắt vuông mà người chỉ có thể ngồi trong đó chứ không đứng hay nằm được.

Ở đây chừng một tháng tôi và Nguyên Vũ được dời qua phòng khác, gần bếp hâm đồ ăn. Chúng tôi ở chung với một Đại úy tên Thâm, Chi khu phó và 1 Chuẩn úy không nhớ tên.  Cả hai đều thuộc Tiểu khu Quảng Trị. Đại úy Thâm người thâm trầm ít nói, còn anh Chuẩn úy thì lúc nào cũng giúp chúng tôi đi hâm đồ ăn để được ra ngoài.  Phòng này ban ngày chỉ khép, ban đêm mới khóa. Một hôm tôi ra hâm đồ ăn, gặp một anh trắng trẻo, hơi thấp, mặt tròn như ông địa, tươi rói. Anh ta chào tôi:

- Chào Đại úy!

Tôi ngạc nhiên không hiểu sao anh ta biết cấp bậc tôi.  Tôi chào lại:

- Chào anh!

Lúc vào phòng tôi nghe kể lại anh ta là Việt Cộng gộc. An ninh Quân đội “mượn” anh ta về đây để khai thác tin tức.

Lúc bấy giờ Nguyên Vũ đang viết một truyện dài có tên hình như là “Da Vàng”, nói về mấy anh Việt Minh “răng đen mã tấu” ở ngoài Bắc. Tôi có “đóng góp” với Nguyên Vũ về truyện dài này rằng “Việt Minh ở quê tôi không có ai giống anhViệt Cộng gộc đó cả”. Nguyên Vũ rất thích nói chuyện với tôi vì một lẽ đơn giản là hai sĩ quan cùng phòng, một anh thì âu sầu, ít khi mở miệng; một anh thì suốt ngày chỉ chực đi hâm đồ ăn.

Ở đây thêm 2 tháng, tôi được gọi lên văn phòng để “làm việc”. Đại úy Phúc gặp tôi:

- Chào Đại úy! Chúng tôi chỉ đưa Đại úy vào đây là để tránh cho Đại úy những đáng tiếc xảy ra.

Tôi nghĩ đó là một cách nói của An ninh Quân đội. Tôi cười:

- Trân trọng cám ơn.

Sáng hôm sau bác tôi vào thăm tôi. Tôi biết bị giam cứu để điều tra mà được thăm là sắp về.

Đúng vậy. Ngay trưa hôm đó tôi ra về.

Tôi trình diện Hải quân Trung tá Nguyễn Viết Tân, Chỉ huy trưởng Sở Phòng vệ Duyên hải.  Ông không hề hỏi tôi bất cứ chi tiết gì về việc tôi bị giam giữ 3 tháng 10 ngày. Cũng không ai hỏi tôi việc này.  Chỉ huy trường cho tổ chức một bữa tiệc mừng tôi hồi nguyên, có bia rượu, có thịt bò nướng, có thịt ốc xa cừ do Biệt hải lặn bắt lên.

Chừng nửa tháng sau tôi có lệnh đáo nhậm đơn vị mới ở Năm Căn.  Tôi được nghỉ một tuần trước khi đi. Tôi về nhà nghỉ ngơi và sửa soạn hành trang.

Tôi thấy ba tôi có vẻ như muốn dặn dò hay nói với tôi điều gì đó nhưng không tiện nói ra.  Nhưng rồi cuối cùng ông nói:

- Có biết vì sao bị bắt không?

- Chỉ bắt nhầm thôi.  Họ tưởng con liên lạc với Việt Cộng.

- Không nhầm đâu. Tại ba…

- Ba nói sao?

Ông suy nghĩ một lát rồi cho biết đại khái như sau.

Ba tôi rất quyến luyến họ hàng thân thuộc ở trên quê.  Ông thường lui tới các đám giỗ kỵ. Một hôm sau khi tham dự một đám giỗ tổ chức tại nhà một người thân ở cuối thôn, ông đi ra khu vườn phía sau nhà dạo chơi thì gặp hai người đàn ông từ trong một lùm tre bước  ra:

- Chào chú!

Ông chào lại, định trở vô nhà thì họ giữ ông lại:

- Nếu chú là người khác thì chúng tôi bắt chú. Chỗ này là cơ sở bí mật. Chú đã biết tức là lộ bí mật. Nhưng mà thôi, chúng tôi muốn gặp Nguyễn Tân, con chú.

Ba tôi do dự một lát rồi nói:

- Để tôi hỏi nó.

- Thôi được, chú về hỏi đi. Sẽ có người gặp con chú sau.

Nghe đến đây tôi ngắt lời ba tôi:

- Ba đâu có nói với con việc này.

- Phải. Có nhớ hồi con từ bên kia sông về, đậu xe phía trước, rồi vào nhà không?

- Về nhà, đậu xe trước nhà nhiều lần, con đâu có nhớ.

- Hồi đó có 2 người đàn ông trong nhà, một người thấy con, đi nhanh ra phía sau. Hai người kia đứng dậy rời nhà.

- À, à. Có phải chiều 23 tháng Chạp không? Hôm đưa ông Táo. Đúng, có một người đi nhanh ra phía sau. Người đó hơi thấp, tay xách cái cặp.

- Đúng. Con nhớ giỏi!

- Hồi đó con mặc đồ rằn ri, cùng đi với ba người cũng mặc đồ rằn ri, phải không?

- Đúng. Ba người đó thấy con mặc đồ rằn ri, lại mang súng ống, nên họ sợ.

- Con đâu có để ý bọn họ.

- Trong số bọn người hôm đó có Trần Hạnh.  Hắn bị bắt, khai có đến nhà gặp con.

- Trời đất! Như vậy là “gặp” sao? Mà sao ba biết-Tôi kêu lên.

- Ba bị Sở 1 An Ninh Quân Đội mời lên hỏi.

Tôi suy nghĩ một lát rồi nói:

- Ba đừng lên trên quê nữa nghe ba!

Nghe tôi nói, ba tôi nhìn tôi ngạc nhiên như tôi đang nói một chuyện gì vô lý lắm, cứ như là tôi bảo ông đừng đi dạo phố, đừng đi chơi… Nhưng rồi ông buồn bã nói:

- Ừ, ba không lên trên quê nữa đâu.

Sau này có lần ông nhớ quê, lấy xe mobylette đi lên trên đó nhưng tới Cẩm Lệ ông quay lui.

Tôi đến Sài Gòn trước khi xuống Năm Căn, Vùng 5 Duyên hải.  Tôi ghé nhà Lê Tấn Khương ngủ lại.  Lê Tấn Khương đã vào Sài Gòn từ lâu. Hắn không còn hành nghề bán cà-rem cây nữa, mà bán bắp rang, một loại hàng mới xuất hiện ở Sài Gòn khoảng năm 1956.  Bắp được rang bằng lò điện có lồng kính. Bắp rang bay lên như pháo bông trông rất đẹp mắt.  Sau đó Khương có tiền, mở một tiệm tạp hóa ở Thị Nghè.  Hắn rất mừng khi gặp tôi. Hắn hỏi:

- Du học Mỹ về hả?

- Sao hỏi vậy?

- Thấy trắng trẻo.

-Không, vừa ở tù ra. Trong tù có đi đâu được, có… trụy lạc đâu, nên trắng trẻo, mập mạp.

Hắn cười, nhìn tôi, không tin tôi nói thật. Tôi cũng chẳng muốn cắt nghĩa thêm.

Tôi xuống Năm Căn, làm một chức vụ của sĩ quan mất quyền chỉ huy, Liên đoàn phó PCF, phụ tá anh Nguyễn Duy Khanh, Khóa 12. Trong thời gian ở đây tôi được lên Thiếu tá.  Hồi đó Giang đoàn 25 Xung phong đang hành quân ở Năm Căn. Anh Thuận, Khóa 11, là Chỉ Huy trưởng. Khi anh Thuận đổi đi tôi thay thế anh ấy. Một tuần sau khi tôi làm Chỉ Huy trưởng, đơn vị này trở về Cần Thơ. Lúc bấy giờ Hiệp định Paris vừa ký kết xong. Đường sông từ Năm Căn đến Sài Gòn đầy cờ “Mặt trận Giải phóng” cắm hai bên. Chúng tôi đổ bộ lên bờ nhổ bỏ có đến hàng trăm lá cờ. Chúng tôi cặp cầu tàu, ngay trước Bộ Tư lệnh Vùng 4 Sông ngòi. Trong đám nữ sinh đón chiến sĩ hải quân chiến thắng (?) trở về hậu cứ có bà xã tôi hiện nay.

Giang đoàn 25 Xung Phong là một trong những đơn vị tôi ưa thích nhất. Ở đây tôi được phục vụ dưới quyền các vị Đại niên trưởng như Đô đốc Vũ Đình Đào, Đô đốc Hoàng Cơ Minh, Đô đốc Đặng Cao Thăng, HQ Đại tá Lê Hữu Dõng... Có một số sĩ quan ở đây rất thân với tôi như HQ Trung tá Phan Tứ Hải, HQ Trung tá/Thiếu tá (?) Nguyễn Tạ Quang, HQ Đại úy Nguyễn Trung Tâm, HQ Trung úy Ma Thành Tâm, HQ Trung úy Hùynh Thiện Toàn… Về bạn bè cùng khóa, anh Nguyễn Quang Thái  là người tôi thường xuyên gặp. Có lần tôi hỏi Thái:

- Mầy biết tao ở tù vì tội gì không?

- Ở tù hồi nào, tại đâu?

- Số 8 Nguyễn Bĩnh Khiêm

- Đùa dai.

- Thiệt mà.

Thái cười, đinh ninh tôi đùa. Tôi thấy chẳng cần cắt nghĩa. Mặc dù tôi có nhiều bạn cùng khóa ở  Sở An ninh Hải quân, một bộ phận của Cục An ninh Quân đội, nhưng khi tôi nói về việc tôi từng bị giam giữ ở đây thì hầu như ai cũng ngạc nhiên. Lắm lúc tôi hoang mang không hiểu có thật tôi đã từng bị giam ở Cục An ninh Quân đội không. Tôi cảm thấy việc đó như một giấc mơ.

Sau năm 30-4-1975 tôi ở tù 10 năm. Trong tù tôi ở tù thêm 3 lần. Đó là 3 lần bị cùm trong phòng kín.  Sau 10 năm tôi ra trại, lại ở tù thêm, lý do: Tôi cam đoan với trại sau khi “học tập tốt” sẽ về ở trên quê, sinh quán của tôi, nhưng tôi lại ngoan cố ở Đà Nẵng. Tôi bị nhốt thêm 2 lần, mỗi lần 3 tháng. 

*
Tôi được định cư tại Mỹ theo Chương trình HO (Cựu tù nhân chính trị) đầu năm 1990. Đối với tôi, đây là Thiên Đàng Hạ Giới, vì từ ngày định cư tới nay, trong 28 năm, tôi chẳng ở  tù.

Một hôm trong buổi họp mặt của một Hội Cựu Tù nhân Chính trị, tôi gặp một bạn học cũ lớn tuổi, anh Nguyễn.  Tôi nghe nói anh là một trong những người ở tù cải tạo lâu nhất. Anh cũng ở tù 4 lần như tôi, nhưng không có lần nào dưới 4 năm.  Chuyện trò một hồi anh Nguyễn hỏi:

- Đằng ấy ở những trại nào thế?

- Bốn trại chính: Trại Tịnh Giang (Quảng Ngãi), Trại 2 Tổng Trại 3 (Quảng Ngãi), Trại 3 Tổng Trại 2 (Quảng Nam), Trại Tiên Lãnh (Quảng Nam).

Tôi giả giọng Bắc nói tiếp:

- Mà sao…đằng ấy nói tiếng Bắc đặc sệt thế? Đằng ấy người Quảng Nam mà.

- Tớ bị giam đến mười bảy năm ở vùng thượng du Bắc Việt mà lị.

Tôi cười nói:

- Đằng ấy thua tớ, không bị “Ngụy” giam. Tớ  bị “Ngụy” giam hơn 3 tháng ở Cục An ninh Quân đội.

- Thật à!

Tôi kể mọi chuyện cho Nguyễn nghe. Anh ta đăm chiêu một lát rồi nói:

- Toán Việt Cộng móc nối bạn là tay chân của Trần Tiến Cung, Cụm trưởng Cụm tình báo H32, cơ quan chỉ huy đóng tại Gò Nổi, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Trần Tiến Cung sau này là Thiếu tướng Phó Tổng cục trưởng Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng.

Tôi sực nhớ đến tay Việt Cộng chào tôi trong nhà giam:

- Trần Tiến Cung có bị bắt không?

- Không! Chắc bạn nghĩ đến người chào bạn ở chỗ hâm đồ ăn trong Cục An Ninh hả? Đó có thể là người bạn từng “gặp”. Người xách cặp đi nhanh ra phía sau ấy mà!

Tôi đưa ngón tay cái lên:

- Sao cái chi đằng ấy cũng biết thế. Phải, phải!

Một việc rất kỳ diệu, tôi đã gặp lại Lê Tấn Khương trong một buổi họp mặt đồng hương.  Tôi đi chung quanh phòng tìm một bà chị họ thì thấy ai ngồi ở hàng ghế đầu trông quen quen nhưng không nhớ là ai. Tôi nghĩ mình đã cao tuổi, mắt có thể “trông gà hóa cút”, nhưng sau khi chào cờ, nghe ông hội trưởng đọc một bài diễn văn dài lòng thòng trong khi mọi người đang…lim dim, rồi có tiếng anh điều khiển chương trình mời những vị Mạnh Thường Quân lên sân khấu: “…Xin mời Ông Lê Tấn Khương…” thì tôi tỉnh hẳn …ngủ.  Tôi nhìn lên sân khấu. Rõ ràng là Khương cà-rem cây. Hắn không nhìn ra tôi cho đến khi gặp tôi dưới bục. Hắn ôm chầm lấy tôi. Sau này tôi và hắn gặp nhau thường xuyên. Có lần tôi hỏi hắn:

- Mầy có ở tù lần nào không, tao quên mất!

- Một lần ngủ bụi với mầy đó.

- Không kể những lần tù lặt vặt, tao ở tù tất cả bốn lần.

- Nhiều vậy sao.

- Tao không biết tại sao tao lại ở tù.

- Tao biết - Khương cười nói.

- Biết thế nào?

- Tại mày ngu. 

Bồ Tùng Ma

Blog Archive