Showing posts with label Vann Phan. Show all posts
Showing posts with label Vann Phan. Show all posts

Saturday, April 27, 2019

Thế giới ngày càng tồi tệ hơn sau cái chết của Việt Nam Cộng Hòa

 Vann Phan/ Quyền Làm Người


Người dân miền Nam Việt Nam di tản sau ngày 30 Tháng Tư, 1975. (Hình: Flickr manhhai)
Sau khi Thế Chiến Thứ Hai (1939-1945) kết thúc hồi tiền bán thế kỷ 20, phần còn lại của thế kỷ này có sáu sự kiện được coi là nổi bật nhất.
Đó là việc Cộng Sản Trung Hoa đánh đuổi Trung Hoa Dân Quốc ra đảo Đài Loan và chiếm quyền cai trị tại Hoa Lục (1949), cuộc Chiến Tranh Triều Tiên (1950-53), cuộc Chiến Tranh Đông Dương (1946-1954), cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1960-1975), Sài Gòn thất thủ trước cuộc tấn công của các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt (1975), và sự tan rã của Khối Cộng Sản Đông Âu (1989) kéo theo sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết (1991).
Khác với năm sự kiện kia trong hậu bán thế kỷ 20, cái chết của Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, đã dẫn đến những hậu quả khốc liệt và dai dẳng, chẳng những kéo dài sang những thập niên đầu của thế kỷ 21 mà sẽ còn tiếp diễn trong nhiều thập niên tới nữa.
Niềm tin vào công lý và hòa bình hầu như tan vỡ
Thật không thể nào kể hết những hậu quả tồi tệ gây ra cho dân tộc Việt Nam cũng như dân chúng Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới yêu chuộng tự do, dân chủ sau cái chết của Việt Nam Cộng Hòa, một nền Cộng Hòa non trẻ nhưng vẫn là một tấm gương sáng tại vùng Đông Nam Á. Bất kể sự thể chính phủ và nhân dân miền Nam Việt Nam thời đó cứ liên tục bị các lực lượng thù địch từ khối Cộng Sản Quốc Tế và từ những quốc gia tự do, dân chủ lầm mê không ngớt đánh phá và rủa sả cho đến khi quốc gia đáng thương này bị xóa tên trên bản đồ thế giới.
Hậu quả trước tiên và trầm trọng nhất của việc để cho Cộng Sản quốc tế ngang nhiên xóa sổ một quốc gia có chủ quyền và từng được hơn 50 nước – tức là hơn 2 phần 3 tổng số thành viên tổ chức Liên Hiệp Quốc thời đó – công nhận là một đòn nặng giáng vào lẽ công bằng và nền đạo lý thế giới.
Đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại khi cái Ác nghiễm nhiên thắng cái Thiện giữa tiếng reo hò đồng lõa chẳng những của phe phản chiến tại Mỹ và dân đòi hỏi hòa bình với bất cứ giá nào tại miền Nam Việt Nam mà còn của đám thiên tả quốc tế, cầm đầu là Thủ Tướng Olof Palme của Thụy Điển. Ông là người chuyên đề cao “chính nghĩa” của Cộng Sản Bắc Việt trong cuộc chiến tranh xâm chiếm Miền Nam Tự Do, đồng thời ra sức miệt thị cuộc chiến đấu bảo vệ tự do, dân chủ của Việt Nam Cộng Hòa, trong khi rõ ràng là những kẻ Ác trong hai trận Thế Giới Đại Chiến và Chiến Tranh Triều Tiên trước đó đều đã bị cái Thiện đánh bại.
Sau Việt Nam Cộng Hòa, niềm tin vào công lý và hòa bình hầu như tan vỡ, và tiền lệ Ác thắng Thiện từ cuộc Chiến Tranh Việt Nam năm xưa đang trở thành thông lệ của thế giới ngày nay, với những “người hùng” mới trong chốn giang hồ, như Vladimir Putin của Nga, Tập Cận Bình của Trung Cộng, Kim Jong Un của Bắc Hàn, Ayatollah Khamenei của Iran, Recep Tayyiv Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ, và gần đây nhất là Nicolás Maduro của Venezuela.
Một khi Ác đã thắng Thiện, nền đạo lý của thế giới cứ thế mà liên tiếp suy đồi, tiêu biểu là niềm tin vào tôn giáo cũng như số tín đồ đi nhà thờ hoặc đi chùa dần dà suy giảm, nhất là những tôn giáo có giáo luật khắt khe như Công Giáo La Mã khi các vị chủ chiên phải chứng kiến cảnh giáo dân ngày càng đòi hỏi quyền tự do thoát khỏi các giáo điều nghiêm ngặt, trong khi một số các tu sĩ nay muốn xin hoàn tục để có thể lấy vợ.
Ngày nay, tiếp theo sau sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa, tổ chức Liên Hiệp Quốc, ra đời từ sau Thế Chiến Hai với mục đích duy trì trật tự thế giới, bảo vệ nhân quyền và ngăn ngừa các nước lớn khỏi thôn tính các quốc gia nhỏ yếu, đành bất lực. Liên Hiệp Quốc chỉ biết đứng nhìn trật tự thế giới bị đảo lộn, nhân quyền bị vi phạm khắp nơi, và các nước mạnh tha hồ sáp nhập lãnh thổ của các nước yếu mà thế giới vẫn tỉnh bơ chẳng nói năng gì, từ bán đảo Crimea ở Ukraine qua đồi Golan Heights ở Syria cho đến các hải đảo thưa người trên Biển Đông (South China Sea).
Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, một thế giới đang hớn hở vì việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam bỗng bàng hoàng khi phải chứng kiến cảnh hàng triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi để lánh nạn Cộng Sản – một chế độ cai trị mà cộng đồng quốc tế lúc bấy giờ vẫn lầm tưởng là sẽ đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho toàn thể nhân dân Việt Nam.
Theo đó hàng trăm nghìn thuyền nhân (boat people) đã bỏ mạng trên đường vượt biển qua Thái Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Indonesia, và Singapore, trong khi một số nhỏ hơn gồm các bộ nhân cũng đã chết vì bị truy đuổi hoặc kiệt sức trên đường vượt biên giới Việt Nam để qua Cambodia và Lào trên đường tới Thái Lan.
Làn sóng thuyền nhân Việt Nam vượt biển tìm tự do trong các thập niên 1970, 80 và 90 đã tạo nên một cuộc khủng hoảng nhân đạo không tiền khoáng hậu trong lịch sử của Liên Hiệp Quốc, với việc Phủ Cao Ủy Ty Nạn của tổ chức này đã phải vất vả huy động tài nguyên để cứu trợ dân ty nạn và tìm kiếm các đệ tam quốc gia chịu đón nhận những con dân Việt Nam đã đánh mất quê hương đến tái định cư.

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, một thế giới đang hớn hở vì việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam bỗng bàng hoàng khi phải chứng kiến cảnh hàng triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi để lánh nạn Cộng Sản. (Hình: Flickr manhhai)
Miếng mồi ngon của chủ nghĩa vật chất
Đối với nước Mỹ, kẻ đã chọn nhân dân miền Nam Việt Nam làm bạn đồng minh trong nỗ lực ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản quốc tế, để rồi sau đó bỏ rơi nửa chừng các chiến hữu của mình vào tay kẻ thù chung, hậu quả của việc đánh mất miền Nam Việt Nam cũng thê thảm không kém.
Trước hết, phong trào phản chiến tại Mỹ và phong trào híp-pi (hippie) đòi tự do tuyệt đối chống các giá trị truyền thống, cùng với cuộc cách mạng tình dục (sex revolution) nằm trong hệ tư tưởng mà các nhà nghiên cứu gọi là “ý thức hệ thập niên 1960” (“1960s ideology”) từng làm rung chuyển tận gốc rễ các xã hội bảo thủ tại nhiều quốc gia Tây phương, đã được hà hơi, tiếp sức bởi chiến thắng của phe Cộng Sản tại Việt Nam.
Hậu quả của ý thức hệ mới này là đại đa số dân chúng tại các quốc gia Tây phương đều dần dà trở thành miếng mồi ngon của chủ nghĩa vật chất (materialism), với khuynh hướng thủ đắc và hưởng thụ các khoái lạc vật chất thay vì xả thân cho các lý tưởng, trong đó có lòng yêu nước (patriotism) từng là vốn quý của các nhà lập quốc Mỹ (founding fathers) trong sự nghiệp đánh đuổi thực dân Anh để giành độc lập cho Mỹ Quốc hồi hạ bán thế kỷ 18.
Sau Việt Nam, nước Mỹ thụt lùi mãi trên võ đài thế giới, và lần lượt để mất Mozambique (Tháng Sáu, 1975) rồi Angola (Tháng Mười Một, 1975) vào tay phe Cộng Sản, Iran (Vương Quốc Ba Tư) vào tay phe Hồi Giáo chính thống triệt để chống Mỹ (Tháng Giêng, 1979), và Nicaragua vào tay phiến quân cánh tả được Cộng Sản ủng hộ (Tháng Bảy, 1979).
Nhưng thảm bại đau đớn nhất vẫn là sự suy thoái của ảnh hưởng Mỹ tại Á Châu-Thái Bình Dương, trong đó phải kể đến việc đồng ninh Phi Luật Tân bất ngờ yêu cầu Mỹ đóng cửa Căn Cứ Không Quân Clark (Clark Air Base) hồi năm 1991 và Quân Cảng Subic (Subic Bay) hồi năm 1992.
Và kế đó là việc Trung Cộng liên tục lấn chiếm các hải đảo và bãi đá tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông (mà quốc tế gọi là South China Sea) từ năm 1988 (lúc Trung Cộng đánh chiếm nhóm đảo Gạc Ma, tức Johnson South Reef, của Cộng Sản Việt Nam) để thiết lập các pháo đài kiên cố trên vùng biển này, có diện tích bao trùm ba phần tư Biển Đông, với mục đích bành trướng lãnh thổ và khống chế con đường hàng hải quốc tế từ Tây Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương.
Trung Cộng làm được điều này vì sau khi chính quyền Nixon-Kissinger, dưới áp lực của Quốc Hội Mỹ do đảng Dân Chủ nắm quyền, đã để mất quần đảo Hoàng Sa mà Việt Nam Cộng Hòa đang sở hữu vào tay Trung Cộng hồi Tháng Giêng, 1974, trước khi nước Mỹ chính thức bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa vào tay các lực lượng Cộng Sản quốc tế, trong đó chủ yếu là Trung Cộng, hồi Tháng Tư, 1975.
Hoa Kỳ nịnh nọt kẻ thù cũ của mình
Ăn năn thì đã muộn rồi, Hoa Kỳ dưới thời Tổng Thống Barack Obama (2009-2017) đã phát động một chính sách Á Châu-Thái Bình Dương mới, gọi là Chuyển Trục Về Á Châu (Pivot to Asia), gia tăng sự hiện diện quân sự của Mỹ nhằm ngăn chặn ảnh hưởng chính trị, kinh tế và quân sự ngày một nguy hiểm hơn của Trung Cộng tại Tây Thái Bình Dương, đặc biệt là vùng Đông Nam Á.
Chính sách mới của Mỹ từ sau cuộc Chiến Tranh Việt Nam đặc biệt chú trọng tới hai nước Phi Luật Tân, một đồng minh lỏng lẻo của Mỹ (sau khi Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa khiến Phi Luật Tân mất tin tưởng vào việc liên minh gắn bó với Mỹ) và Cộng Sản Việt Nam, kẻ cựu thù của Mỹ trong chiến tranh, nước đang thay thế Việt Nam Cộng Hòa cũ để duy trì chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang bị các nước Phi Luật Tân, Đài Loan, Mã Lai Á, Indonesia, Brunei, và nhất là Trung Cộng, tranh chấp quyết liệt.
Đối với Phi Luật Tân, vào năm 2014. Mỹ đã dụ dỗ và ký được Thỏa Hiệp Tăng Cường Cộng Tác Quốc Phòng (Enhanced Defense Cooperation Agreement) với họ, cho phép Mỹ thiết lập các căn cứ quân sự mới tại quốc gia Đông Nam Á này, sau khi đã bị hất cẳng ra khỏi các căn cứ hải và không quân tại Phi Luật Tân hồi đầu thập niên 1990.
Đối với Cộng Sản Việt Nam, Mỹ lại càng ráo riết ve vãn gấp bội để nước này trở thành một đối tác chiến lược quan trọng trong vai trò chận đứng sức mạnh quân sự ngày một to lớn của Trung Cộng trên Biển Đông, mặc dù Hoa Kỳ thừa biết rằng Cộng Sản Việt Nam, trước sau như một, vẫn là đệ tử ruột của Bắc kinh vì họ cùng chung ý thức hệ Cộng Sản.
Thật tội nghiệp cho Hoa Kỳ dưới các chính quyền Barack Obama và Donald Trump khi cường quốc này có những hành động gần như nịnh nọt kẻ thù cũ của mình chỉ để được cái vinh dự tặng không cho Cộng Sản Việt Nam các tàu tuần duyên dùng trong lực lượng Cảnh Sát Biển. Không chỉ vậy, còn để họ cho phép Hạm Đội Thái Bình Dương của Mỹ (U.S. Pacific Fleet) đưa tàu chiến, kể cả hàng không mẫu hạm, đến cập cảng Vịnh Cam Ranh cho đỡ nhớ nhung “thuở tung hoành hống hách những ngày xưa” chứ chẳng có hy vọng gì lôi kéo được nước chủ nhà theo chế độ cộng sản này về phía mình để chống Trung Cộng cả.
Lẽ ra thì ngày nay Hoa Kỳ không cần phải làm thế nếu họ đã không phạm một sai lầm chiến lược cực kỳ tai hại, đó là bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa vào tay Cộng Sản hồi năm 1975.

Hoa Kỳ phạm một sai lầm chiến lược cực kỳ tai hại, đó là bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa vào tay Cộng Sản hồi năm 1975. (Hình: Flickr manhhai)
Thế giới đang ngày càng bất an hơn
Một sự kiện tiêu biểu cho niềm ân hận sâu xa của dân tộc Mỹ khi trót lỡ để mất tiền đồn Việt Nam Cộng Hòa chống Trung Cộng cách nay nửa thế kỷ vào tay Cộng Sản là việc Thượng Viện California vừa thông qua Nghị Quyết SCR 7 “Black April-Tưởng Niệm Tháng Tư Đen” do Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Tom Umberg, là đồng tác giả cùng với Dân Biểu Dân Chủ Tom Daly và Dân Biểu Cộng Hòa Tyler Diệp, đệ trình bằng ty số phiếu tuyệt đối 36/0.
Thông cáo báo chí của văn phòng Thượng Nghị Sĩ Tom Umberg cho biết Nghị Quyết SCR 7 mang nội dung tưởng niệm 44 năm ngày Sài Gòn thất thủ và quy định Tháng Tư, 2019, là “Black April-Tưởng Niệm Tháng Tư Đen,” một thời điểm đặc biệt để người dân California tưởng nhớ về vô số sinh mạng đã nằm xuống trong thời kỳ Chiến Tranh Việt Nam, hướng đến công lý, tự do và nhân quyền cho nhân dân Việt Nam.
Dịp này, Thượng Nghị Sĩ Umberg tuyên bố: “Điều quan trọng là chúng ta không bao giờ quên thảm kịch ‘Black April-Tháng Tư Đen’ và nhận thức được mối quan tâm hàng đầu hiện nay của những người Mỹ gốc Việt là nhân quyền, tự do tôn giáo, dân chủ, và đấu tranh chống lại nguy cơ đất nước Việt Nam bị ngoại bang xâm lược.”
Cách đây mấy năm, nhân tưởng niệm 41 năm ngày Việt Nam Cộng Hòa, biểu tượng của nền tự do, dân chủ và tính nhân bản của con người, sụp đổ trước đoàn quân xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt, một số tác giả cho rằng thế giới đang ngày càng bất an hơn, thế giới còn gian dối hơn, nham hiểm hơn, phản phúc hơn, vô liêm sỉ hơn, vô thần hơn, ham mê vật chất hơn, và vô đạo đức hơn.
Một lý do đơn giản là sự phản bội “vĩ đại” của thế giới – không riêng gì Hoa Kỳ là nước triệt để theo thực dụng chủ nghĩa – đối với Việt Nam Cộng Hòa đã là nguồn cảm hứng vô song cho cái Ác tiến lên giữa lúc cái Thiện đang ngày càng co rúm lại trên đường rơi xuống vực thẳm của hư không.
Tình trạng tồi tệ này của thế giới ngày nay đang được nhận thấy rõ ràng với sự ra đời của tổ chức khủng bố ISIS thuộc Nhà Nước Hồi Giáo (Islamic Caliphate), các hoạt động thủ đắc võ khí nguyên tử, gây bất an và tạo mầm mống xung đột tại vùng Trung Đông của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran.
Việc Liên Bang Nga của Vladimir Putin ngang nhiên đưa quân vào uy hiếp thủ đô Tbilisi của Georgia để yểm trợ cho tỉnh South Ossetia ly khai khỏi nước này, việc Liên Bang Nga cưỡng chiếm và sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraine đồng thời đưa nhân sự và vũ khí vào yểm trợ cho vùng Donbass (Đông Ukraine) ly khai.
Hành động ngang ngược của Trung Cộng từ việc bành trướng lãnh thổ trên Biển Đông và hiếp đáp các quốc gia nghèo trong sáng kiến Vành Đai và Con Đường (Belt and Road Initiative) cho tới hành động do thám để phá hoại an ninh thế giới của tập đoàn viễn thông Hoa Vi (Huawei), kế hoạch phát triển bất hợp pháp võ khí nguyên tử và hỏa tiễn đạn đạo của Bắc Hàn nhằm đe dọa an ninh của Nam Hàn, Nhật Bản và cả Hoa Kỳ.
Cuộc thanh trừng và đàn áp không nương tay phe đối lập và nhóm người Kurds thiểu số trong nước của chính quyền Tayyiv Erdogan tại Thổ Nhĩ Kỳ, hành động bỏ đói và đàn áp dân chúng của chính quyền Nicolás Maduro tại Venezuela, và ngay cả tình trạng chia rẽ vì bè phái chưa từng thấy trong lịch sử của nước Mỹ trước và sau cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ hồi năm 2016, dẫn đến việc tỷ phú Donald Trump trở thành vị tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ.
Thay lời kết
Tình trạng tồi tệ này của thế giới ngày nay phát sinh từ thái độ hèn nhát và hùa theo “công lý kẻ chiến thắng” (“victor’s justice”) của quốc tế trước cái Ác sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay quân Cộng Sản, khởi đầu từ sự thể cộng đồng thế giới đã dửng dưng đứng nhìn Cộng Sản Bắc Việt trắng trợn xé bỏ Hiệp Định Paris 1973 lập lại hòa bình tại Việt Nam (Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Viet Nam).
Việc này có chữ ký của bốn thành phần lâm chiến là Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và có sự bảo đảm của các cường quốc trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc – khi họ xua quân đánh chiếm Miền Nam Việt Nam, làm tan vỡ niềm tin của nhân loại vào công lý và hòa bình và mở rộng cánh cửa cho kẻ mạnh dùng những phương tiện tàn ác để hà hiếp kẻ yếu trong tương lai.
Cái gì là nguyên nhân gây ra tình trạng bi thảm này của thế giới ngày nay? Xin thưa: đó là chủ nghĩa vật chất (materialism), kẻ hiện đang thay thế Ông Trời ngự trị thế gian này: Đồng tiền là Tiên, là Phật…
Chủ nghĩa vật chất đã có từ lâu chứ chẳng mới lạ gì, được nhìn thấy rõ nét qua cuộc cách mạng khoa học và kỹ nghệ cùng công cuộc phát triển thương mại quốc tế từ hồi thế kỷ 18 tại các nước Tây phương.
Điều này dẫn đến chủ nghĩa thực dân và chế độ thuộc địa tại Phi Châu, Nam Mỹ, và Á Châu, tạo cơ hội cho liệt cường Âu Mỹ xúm lại xâu xé nước Trung Hoa cổ hủ hồi thế kỷ 19, giúp quân đội Thiên Hoàng của Đế Quốc Nhật tấn công và chiếm đóng các quốc gia vùng Đông Bắc và Đông Nam Á và quân đội Đức Quốc Xã tiến hành cuộc xâm lược các quốc gia Âu Châu và Bắc Phi, châm ngòi cho Thế Chiến Thứ Hai (1939-1945).
Và chủ nghĩa vật chất ngày càng phát triển không có gì cưỡng nổi nhờ sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa Cộng Sản, để rồi trở thành cùng đích của hai chủ nghĩa đối nghịch nhau đó.
Các biến cố như sự ra đời của “ý thức hệ thập niên 1960” cổ võ cho nếp sống tự do buông thả và hưởng thụ của giới trẻ thế giới, tâm trạng sống cuồng, sống vội của con người trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, chiến lược đầu tư tiền bạc vào các quốc gia Cộng Sản như Trung Quốc và Việt Nam té ra chỉ tạo thêm nanh vuốt cho các chế độ độc tài, phi nhân đó thay vì thúc đẩy họ tiến lên con đường dân chủ hóa. Và đặc biệt là sự trỗi dậy đáng sợ về mặt kinh tế, khoa học-kỹ thuật và quân sự của Trung Quốc, tất cả chỉ là hậu quả của một thế giới say mê chủ nghĩa vật chất.
Khi nước Mỹ dưới thời các Tổng Thống Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama ngoảnh mặt làm ngơ hoặc âm thầm khuyến khích để cho các công ty thương mại Mỹ bán đứt những kỹ thuật tân tiến và vô giá của họ cho Trung Cộng nhằm đổi lấy mối lợi được xâm nhập vào thị trường khổng lồ hàng tỷ người tại Hoa Lục thì chuyện này là do chủ nghịa vật chất xúi giục.
Khi các quốc gia như Tích Lan (Sri Lanka), Djibouti, Thổ Nhĩ Kỳ hay Ý tham gia vào sáng kiến Vành Đai và Con Đường của Trung Cộng thì cũng là do chủ nghĩa vật chất thôi thúc, và khi một số nước, kể cả các đồng minh của Mỹ, sẵn sàng đánh đổi an ninh quốc gia để có được kỹ thuật viễn thông 5G do tập đoàn Hoa Vi cung cấp thì đó cũng chính là vì họ bị chủ nghĩa vật chất sai khiến.
Trông người lại ngẫm đến ta. Bốn mươi bốn năm sau ngày Việt Nam Cộng Hòa bị thôn tính, chính quyền Cộng Sản Việt Nam ngày càng tham nhũng, bóc lột dân chúng nhiều hơn, và còn tùy thuộc kinh tế nặng nề hơn vào các đồng chí của họ tại Bắc Kinh, thậm chí đang mang thân phận của một con cá bé bỏng, tội nghiệp, ra sức dẫy dụa một cách tuyệt vọng trên chiếc thớt thịt tanh hôi của Trung Cộng.
Bao giờ đến lượt Hoa Kỳ đây giữa bối cảnh chính siêu cường này đang bị phân hóa đến cùng cực trong khi giới tư bản đỏ cùng các gián điệp của Trung Cộng đang nỗ lực xâm nhập vào guồng máy kinh tế và quốc phòng đầy những kẽ hở của Mỹ? Tất cả cũng chỉ vì chủ nghĩa vật chất mà ra.
Vann Phan

Tuesday, November 21, 2017

41 năm sau ngày Sài Gòn sụp đổ: Một thế giới đã mất hết thơ ngây 


Vann Phan

Ngay sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh và Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng quân Cộng Sản Bắc Việt vào trưa ngày Thứ Tư, 30 Tháng Tư năm 1975, báo Pacific Star and Stripes của Quân Lực Mỹ tại Thái Bình Dương, số ra ngày 1 Tháng Năm năm đó, đã chạy hàng tít lớn “It’s Over,” nghĩa là “Xong Rồi,” để thông báo cho quốc tế biết rằng, cuộc Chiến Tranh Việt Nam mà từ lâu cả thế giới đều sốt ruột mong chờ cho nó kết thúc, với phần thắng, dĩ nhiên, thuộc về phe Cộng Sản và phần bại là Miền Nam Tự Do phải cam chịu. 

Ai cũng hiểu rằng câu “It’s Over” ở đây bao hàm một cái thở phào nhẹ nhõm của chính phủ và dân tộc Mỹ, những kẻ, từ bên này bờ Thái Bình Dương, đã trót can dự vào cuộc xung đột võ trang tàn hại đó ở bên kia bờ Thái Bình Dương và giờ đây đang sốt ruột mong muốn cho cuộc chiến tranh kết thúc theo kiểu nào cũng được, miễn là người Mỹ có thể vĩnh viễn phủi tay ra đi mà thôi. 

Nhưng cuộc chiến tranh đó chẳng bao giờ được coi là đã kết thúc, cho dù đối với dân tộc Việt Nam bên này hay bên kia bờ sông Bến Hải cũng như đối với toàn thể nhân loại, bởi vì những hệ lụy của cuộc chiến tranh đó vẫn còn tiếp tục ám ảnh thế giới hơn bốn thập niên sau ngày khói lửa chính thức chấm dứt trên các chiến trường Ðông Nam Á, hay ít ra là cũng cho tới khi nào mà chủ nghĩa cộng sản thôi ngự trị tại Việt Nam và Trung Quốc.

Mỗi khi phải tìm về quá khứ tức là con người, không nhiều thì ít, đã mất hết hy vọng và tin tưởng vào tương lai. Thật vậy, mặc dù Miền Nam Tự Do không phải là “cái rốn của vũ trụ,” nhưng, lạ lùng thay, chính những đổi thay về hướng đen tối tại Miền Nam Việt Nam hồi Tháng Tư năm 1975 – mà một số người đã không hề quá cường điệu khi gọi đó là “Tháng Tư Ðen” – đã làm cho không những dân tộc Việt Nam mà cả cộng đồng thế giới cùng mất hết cái thơ ngây từ dạo đó.

Việt Nam: Niềm ray rứt khôn nguôi của lương tâm nhân loại
Bốn mươi mốt năm sau khi Sài Gòn sụp đổ và Miền Nam Tự Do rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt (1975-2016), cả người Việt quốc nội lẫn người Việt hải ngoại dường như đang cùng mang một tâm trạng chung là chán ngán và lo sợ trước viễn ảnh đất nước Việt Nam ngày càng tiến dần tới chỗ bị Trung Cộng nuốt chửng qua tiến trình đồng hóa kiểu mới, nham hiểm hơn và tàn độc hơn cả trăm, nghìn lần chính sách đồng hóa cổ thời do các thái thú Trung Hoa thực hiện trong những lần Bắc thuộc xảy ra trước và sau khi Vua Ngô Quyền khai sáng kỷ nguyên độc lập cho đất nước vào năm 939.

Truyền thông báo chí Việt Nam, dù là lề phải hay lề trái, từ mấy năm qua, đã không ngớt báo động rằng, kể từ khi xâm nhập được vào vùng cao nguyên Miền Trung Việt Nam qua dự án bô-xít hồi năm 2013, Trung Cộng ngày càng chiếm dụng thêm đất đai, các khu gia cư và các cơ sở kinh doanh, kỹ nghệ của Việt Nam để cài người của họ vào mai phục sẵn qua phương thức thuê đất canh tác từ 50 năm trở lên và thầu các công trình tại những tỉnh, thành lớn, trong đó có Hà Tĩnh, Ðà Nẵng, và Bình Dương, trong khi thành phố Hải Phòng thì dẫy đầy công nhân Trung Cộng tới làm việc cho các công ty của họ, khiến công nhân Việt Nam tại đây không còn có việc làm mà phải đi nơi khác để kiếm sống. Trước đó, Ðông Ðô Ðại Phố, khu trung tâm thương mại vĩ đại của người Tàu giữa lòng thành phố Bình Dương, với trường Ðại Học Quốc Tế Miền Ðông, bệnh viện quốc tế, khu thể thao, trung tâm hội nghị và tiệc cưới, sân golf và các trung tâm thương mại, giải trí… đã hình thành và phát triển một khu vực dành riêng cho cộng đồng người Hoa. Hồi Tháng Sáu năm 2014, đặc khu kinh tế Formosa ở Vũng Áng, Hà Tĩnh, đã đột ngột gởi thư lên chính quyền trung ương Hà Nội để đòi trở thành đặc khu tự trị, tách khỏi Việt Nam, với nhiều quyền hạn vượt ra ngoài khuôn khổ luật pháp bình thường. Các quan sát viên tin rằng, với phương thức “bán nước từng phần” như thế, Ðảng Cộng Sản Việt Nam chẳng cần gì phải ra tay công khai bán nước đại quy mô một lần, để rồi phải mang tiếng xấu với lịch sử, mà đất nước Việt Nam, sau cùng, cũng nằm gọn lỏn trong vòng tay cai trị của Trung Cộng.

Một số người Nhật đến làm ăn và sinh sống tại Việt Nam có nhận xét rằng kế hoạch “tích tiểu thành đại” của Trung Cộng gồm nhiều hành động nhỏ: từ việc thâu tóm và biến các công ty Việt Nam thành công ty Trung Cộng và tăng cường sự hiện diện của người Hoa tại Việt Nam cho tới việc đẩy mạnh đầu tư lớn trên khắp đất nước, đặc biệt là khu vực từ Quảng Trị đến Thừa Thiên Huế. Nói khác đi, dưới con mắt của các quan sát viên ngoại quốc, việc Trung Cộng chiếm trọn Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian, và có thể họ sẽ không cần tới một cuộc chiến tranh thôn tính trên quy mô lớn nữa nếu chính quyền Cộng Sản Việt Nam không kịp thời thay đổi đường lối và sách lược đối phó với Trung Cộng trong nay mai.

Mối đại họa cho dân tộc Việt Nam là, cho tới lúc này, không có bất cứ ai trên thế giới nhìn thấy viễn tượng Ðảng Cộng Sản Việt Nam sẽ thay đổi chính sách cứ ôm cứng lấy Ðảng Cộng Sản Trung Quốc mà sống như hiện nay cả.

Nỗi niềm sau mấy mươi năm:
Dù không bi quan, những con người Việt Nam nào còn ấp ủ trong lòng mình tinh thần dân tộc và tình yêu quê hương, đất nước vẫn không khỏi chán nản, thất vọng khi thấy cái ngày mà những người cộng sản Việt Nam bị tước quyền cai trị đất nước – mà họ đã giành được kể từ vụ “cướp chính quyền” tại Hà Nội và Huế vào năm 1945 – có vẻ như vẫn còn quá xa vời nếu không có một phép lạ nào xảy tới. Ðó là bởi vì Ðảng Cộng Sản Việt Nam – luôn được Ðảng Cộng Sản Trung Quốc hà hơi, tiếp sức và được bảo vệ tối đa bằng các lực lượng quân đội và công an suốt đời tận trung với Ðảng – sẽ vì quyền lợi riêng của tập thể họ mà không bao giờ chịu rời bỏ quyền hành để nhường chính quyền lại cho một thể chế tự do, dân chủ mà gần 100 triệu người Việt Nam cả ở quốc nội lẫn ở hải ngoại đang trông chờ, cho dù siêu cường Hoa Kỳ và các đồng minh lớn, như Liên Âu, Nhật Bản, Ấn Ðộ và Úc Ðại Lợi, có đổ ra bao nhiêu sức lực và tiền của để chiêu dụ, níu kéo, và mua chuộc Cộng Sản Việt Nam, và cho dù 100 triệu người Việt Nam khắp nơi trên thế giới có khuyên bảo, khuyến khích, la ó, và nguyền rủa họ bằng thứ ngôn từ nào đi nữa.

Phải nói rằng cả Hoa Kỳ, các lực lượng kháng chiến chống Cộng, dân chúng trong nước, cộng đồng người Việt hải ngoại, và những gì còn lại của Thế Giới Tự Do sau cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1960-1975)… đã làm tất cả mọi sự có thể được để dạy dỗ, đánh phá, tuyên truyền phản đối, rải truyền đơn, viết blog tố cáo các chính sách sai lầm và phi nhân bản của nhà cầm quyền Hà Nội, và ngay cả bỏ tiền của và khí tài ra mua chuộc để chính quyền Hà Nội chịu rời bỏ Trung Cộng mà theo về với chính nghĩa tự do, dân chủ hầu mong cứu vãn Việt Nam khỏi rơi xuống hố sâu mất nước vào tay quân Ðại Hán Trung Hoa, nhưng kết quả, cho tới nay, vẫn chỉ là con số không.

Qua mấy đời tổng thống, Hoa Kỳ đã áp dụng các biện pháp mềm dẻo và khôn khéo tối đa của một siêu cường thế giới, như thừa nhận ngoại giao, trao đổi buôn bán, viện trợ nhân đạo, tài chánh và kỹ thuật, đưa sinh viên Việt Nam qua Mỹ học hành, tập trận chung giữa hai nước, cho Cộng Sản Việt Nam vào WTO, và còn cho họ gia nhập TPP nữa. Các chiến sĩ kháng chiến chống Cộng, dù cô đơn trong cuộc chiến phục quốc, cũng đã làm hết sức mình trong sứ mạng có tính “đội đá vá trời” là lật đổ chế độ Cộng Sản bạo tàn trên quê hương bằng vũ lực, qua gương hy sinh của những Hoàng Cơ Minh, Trần Văn Bá, Võ Ðại Tôn hoặc Lý Tống. Các nhà tranh đấu đòi tự do, dân chủ, các “dân oan khiếu kiện,” và cả khối trí thức, sinh viên, học sinh trong nước cũng đều đã làm hết sức mình để, nếu không lật đổ được chế độ cộng sản thì cũng làm cho nó phải thay đổi theo trào lưu đa nguyên, đa đảng của thế giới, nhưng rồi hầu như tất cả vẫn không làm gì được Ðảng Cộng Sản tại Hà Nội, để rồi các chiến sĩ đó, kẻ thì bị giết hại, kẻ bị tù đày, kẻ bị du đãng đánh tới tấp hoặc gia đình bị cô lập kinh tế, và kẻ thì bị đẩy ra nước ngoài để khỏi tranh đấu nữa…

Dù lúc rời xa quê hương, nhiều người trong các cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại vẫn mang theo tánh độc tôn, anh hùng cá nhân, phân hóa và chia rẽ như lúc chưa mất nước, họ cũng đã làm hết sức mình để chống đánh chế độ Cộng Sản tại Hà Nội qua rất nhiều cuộc biểu tình, hội thảo, đấu tranh, qua biết bao nhiêu liên minh và phong trào, nhưng những Nguyễn Ngọc Huy, Nguyễn Chí Thiện, Việt Dzũng, và Nguyễn Ngọc Bích đều đã lần lượt về cõi vĩnh hằng trước khi có thể nhìn thấy được một Việt Nam không Cộng Sản.

Những biến cố trước đây và mới đây nhất trong cuộc tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải quyết liệt giữa quan thầy Bắc Kinh và đệ tử Hà Nội, với cao điểm là vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Cộng xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên Biển Ðông – mà thế giới gọi là Biển Nam Hoa (South China Sea) – hồi Tháng Năm năm 2014, lẽ ra đã là nhát búa tối hậu giáng vào Thỏa Hiệp Thành Ðô bán nước cho Tàu năm 1990 và là cỗ xe thần diệu đưa Cộng Sản Việt Nam “thoát Trung” khỏi cần ngoái cổ lại, nhưng rồi mọi chuyện lại vẫn đâu vào đấy. Ðảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục khấu đầu nhận lấy phương châm 16 Chữ Vàng và tinh thần Bốn Tốt mà Thiên Tử Tập Cận Bình đã từ Trung Nam Hải đích thân mang qua Hà Nội để kẻ chư hầu đem treo trên Bắc Bộ Phủ, còn cao trọng hơn mấy lần trước nữa.

Một biến chuyển khá ngoạn mục là những nỗ lực mới nhất của Phi Luật Tân, Nhật Bản và Ấn Ðộ trong kế hoạch lôi kéo Cộng Sản Việt Nam rời khỏi quỹ đạo Cộng Sản Trung Quốc. Nhưng cũng như Hoa Kỳ sau bao nhiêu năm trầy trật, cả Nhật Bản và Ấn Ðộ đều chỉ thấy mình bị mất mồi, mất của mà vẫn không “câu” được gì ráo trọi, trong khi Phi Luật Tân, dù đã ráng sức nâng mối quan hệ với nước láng giềng phía Tây của họ lên tới mức “chiến lược,” vẫn không rủ được Hà Nội đứng chung đơn trong vụ kiện Trung Cộng xâm lấn lãnh hải tại Biển Ðông, khiến ngày ngày các thủy thủ Phi Luật Tân vẫn phải lặng lẽ chơi bóng chuyền một mình giữa chốn Trường Sa gió lộng sau một lần duy nhất các thủy thủ Việt Nam làm màu, vượt sóng qua chơi vài “sét” với họ nơi đây.

Vật đổi, sao dời:
Sau năm 1975, vì cứ tưởng chế độ Cộng Sản tại Việt Nam không thể nào lại tệ hại đến như vậy, ít có ai dám nghĩ rằng 21 năm tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa chính là thời kỳ vàng son nhất trong lịch sử Việt Nam trước khi mất nước vào tay Trung Cộng. Nhưng nay, 41 năm đã trôi qua, lịch sử đang chứng minh rằng rất ít hoặc không bao giờ có hy vọng Việt Nam tìm lại được thời đại vàng son cũ.

Việt Nam Cộng Hòa là biểu tượng cho một nền văn minh và văn hóa rực rỡ. So với tiêu chuẩn thời bấy giờ và so với các nước đồng minh cũng như láng giềng không bị các cuộc xung đột vũ trang tàn phá trên quy mô khủng khiếp thời đó, như Ðại Hàn Dân Quốc (Nam Hàn), Phi Luật Tân, Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan), Thái Lan, Tân Gia Ba (Singapore), Mã Lai Á, Nam Dương (Indonesia), Brunei, Lào, Căm-Bốt và Miến Ðiện (Myanmar), Việt Nam Cộng Hòa hồi đó chẳng hề thua kém ai và có khi còn hơn hẳn một số các nước kể trên. Nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa thời Ðệ Nhất Cộng Hòa vẫn được coi là khuôn mẫu của các nước mới phát triển trên thế giới sau Thế Chiến Thứ Hai. Nền giáo dục và y tế của Việt Nam Cộng Hòa được coi là đầy tính nhân bản và có phẩm chất cao, trong khi các lãnh vực văn hóa, văn chương, nghệ thuật, thể thao, và âm nhạc của Miền Nam Tự Do đều phát triển vượt bực, giúp Việt Nam Cộng Hòa đạt được nhiều thành tích rực rỡ và giành được nhiều giải thưởng quốc tế giá trị thời bấy giờ.

Tuy nhiên, những công trình kiến trúc nguy nga và tráng lệ kia tại các thành phố của Miền Nam Tự Do cũ, tức là từ Ðông Hà xuống tới Cà Mau, và ngay cả những nét đẹp thị thành tại nhiều đô thị và thủ phủ do người Pháp để lại sau khi chế độ thực dân Pháp cáo chung vào giữa thập niên 1950, cũng đã hoặc bị xuống cấp hoặc bị thay đổi rất nhiều để phục vụ cho nhãn quan mới của người cộng sản Việt Nam cũng như lòng ham muốn vay tiền từ giới tư bản ngoại quốc để xây dựng các công trình mới tại Việt Nam đặng có thể ăn chặn bớt tiền từ các công trình đó mà làm giàu. Cả đến thôn quê Việt Nam ngày nay, suốt từ Nam chí Bắc, đều cũng đã thay đổi rất nhiều, hậu quả của những vụ chính quyền “cướp đất của dân oan” để xây dựng các công trình mới đặng các quan chức cộng sản có thể nương theo đó mà xén bớt ngân quỹ hoặc chia chác hoa hồng với các công ty thầu xây dựng, nhất là các hãng thầu Trung Quốc vốn nổi tiếng chuyên dùng đòn hối lộ các quan chức Việt Nam để cướp hợp đồng từ tay các nhà thầu quốc tế khác chưa quen thói gian manh như họ.

Những kế hoạch xóa bỏ các công trình kiến trúc cũ cùng việc đốn hạ các cây cổ thụ đã có từ thời Pháp thuộc hoặc thời Quốc Gia Việt Nam và thời Việt Nam Cộng Hòa tại Hà Nội cũng như Sài Gòn chỉ làm lộ rõ một điều là những người cộng sản tại Hà Nội rất sợ cái quá khứ vàng son đó của dân tộc Việt Nam khi họ nhận chân rằng đất nước Việt Nam dưới quyền cai trị của họ đang ngày càng tệ hại hơn và mắc nợ quốc tế nhiều hơn để cho các thế hệ mai sau tha hồ trả nợ, chứ không còn ấm no và hạnh phúc như ngày xưa nữa, kể cả dưới thời Pháp thuộc, đừng nói gì đến thời Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa. Mới đây nhất, chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã ra lệnh bỏ đi môn lịch sử tại các cấp học đường từ tiểu, trung cho tới đại học, chứng tỏ với thế giới rằng họ rất sợ chuyện tổ tiên đã cả gan chống đánh giặc Tàu để giữ vững dải giang sơn gấm vóc của quê hương từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mau, mà nay họ đang bán đi dần dần cho Trung Cộng qua chính sách “mãi quốc cầu vinh” mà người dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Ðộc Lập-Tự Do-Hạnh Phúc, chẳng có chút quyền lực nào để cấm cản.

Ðất nước và con người Việt Nam trước và sau 1975:
Ðiều mỉa mai của lịch sử là cả hai nền Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975 đều bị báo chí thiên tả và các nhà viết sử của Mỹ và một số nước Tây Phương coi là độc tài, tức là thời Ðệ Nhất Cộng Hòa thì độc tài gia đình trị, còn thời Ðệ Nhị Cộng Hòa thì độc tài quân phiệt. Nhưng thử hỏi cái “gia đình trị” của chế độ Ngô Ðình Diệm và “quân phiệt” của chế độ Nguyễn Văn Thiệu có tàn độc như chế độ độc tài đảng trị của Cộng Sản Việt nam bây giờ hay không? Ngay cả chế độ Ngô Ðình Diệm thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, từng bị coi là “độc tài gia đình trị” và kỳ thị Phật Giáo, nhưng cái “gia đình” gồm vài ba người trí thức đó không thể nào tham nhũng và gây tác hại bằng cả triệu đảng viên Cộng Sản Việt Nam ma mãnh ngày nay, trong khi hành động kỳ thị đó đã không có tính triệt hạ Phật Giáo tới mức độ gớm ghê như bộ máy tuyên truyền thời đó của Cộng Sản, toa rập cùng cơ quan CIA của Mỹ, đã kích động và giật dây dân chúng để Hoa Kỳ có lý do tổ chức đảo chánh và sát hại hai anh em Tổng Thống Diệm, và để Cộng Sản dễ dàng làm suy yếu chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trong kế hoạch thôn tính Miền Nam Việt Nam của họ.

Lịch sử thế giới ngày nay đã chứng minh những vụ lật đổ các thể chế, dù có độc tài và tàn ác đến đâu đi nữa, như các chế độ Muammar Gaddafi ở Libya, Ben Ali ở Tunisia, và Hosni Mubarak ở Ai Cập – chưa kể tới Bashar al-Assad của Syria – trong cuộc cách mạng “Mùa Xuân Ả Rập” tại các nước Hồi Giáo ở Bắc Phi (2010-2011), cũng đều dẫn tới hỗn loạn và bất an. Ngay cả việc lật đổ nhà độc tài, tàn bạo Saddam Hussein của Iraq (2003) cũng chỉ đưa đất nước này đến chỗ phân hóa và suy sụp mà thôi. Dưới ánh sáng lịch sử soi rọi, chính việc loại bỏ một lãnh tụ tương đối tài ba và đức độ như Tổng Thống Ngô Ðình Diệm trong cuộc đảo chánh – vẫn được gọi là cách mạng – do phe quân nhân tại Miền Nam Việt Nam và chính quyền Mỹ thời Tổng Thống John F. Kennedy tổ chức hồi Tháng Mười Một năm 1963, đã đưa Việt Nam Cộng Hòa đến những hỗn loạn chính trị và, sau cùng, là việc Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975.

Bốn mươi mốt năm sau ngày Cộng Sản đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa và thống nhất đất nước, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tức Cộng Sản Việt Nam, nom chẳng giống ai khi cả hai lãnh vực trọng yếu trong cuộc sống của người dân, là y tế và xã hội, hầu như nằm trong tay của Mỹ hoặc Tây Âu, với hằng nghìn tổ chức cứu trợ và từ thiện của người Việt hải ngoại từ Mỹ, Úc và các nước Âu Châu đổ về Việt Nam để chăm lo cứu lụt, cứu đói và chữa bệnh cho dân chúng từ Nam chí Bắc, trong khi chính quyền Cộng Sản Việt Nam thì khỏe re, chỉ ngồi không chia của. 

Phải biết rằng Việt Nam là một nước rất giàu tài nguyên khi đem so với các quốc gia khác tại Á Châu, như Trung Quốc, Ấn Ðộ, Thái Lan, Miến Ðiện, Nhật Bản, Nam Hàn và Ðài Loan. Ðây là điều mà một sinh viên Nhật đến Việt Nam du học đã phải kêu lên cho thế giới biết để ngầm chê trách giới lãnh đạo hiện nay của đất nước cộng sản này chỉ biết lo bán tài nguyên đất nước để bỏ túi thay vì lo cho dân, đồng thời tiếc giùm cho dân tộc Việt Nam là quốc gia có tài nguyên lớn như thế mà ngày càng tụt hậu – để cho đàn ông Việt Nam phải bán sức lao động tại nước ngoài và phụ nữ Việt Nam phải đi ở đợ hoặc làm nô lệ tình dục khắp thế giới – so với các quốc gia khác tại Á Châu, ít tài nguyên hơn, nhưng lại giàu mạnh hơn Việt Nam rất nhiều.

Trước năm 1975, cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam đều thực hiện các cuộc cải cách ruộng đất với mục đích tái phân phối quyền sở hữu đất đai cho nông dân sao cho công bằng và hợp lý hơn so với thời phong kiến và thực dân cũ. Thời đó, Việt Nam Cộng Hòa đã tổ chức hai đợt cải cách ruộng đất quy mô, lần đầu là công cuộc Cải Cách Ðiền Ðịa vào năm 1956 dưới thời Ðệ Nhất Cộng Hòa (của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm) và lần sau là chương rìnhNgười Cày Có Ruộng dưới thời Ðệ Nhị Cộng Hòa (của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu) vào năm 1970. Ngoài hai đợt đó ra, hồi năm 1958 (dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm), còn có các chương trình trợ giúp nông dân và bảo vệ an ninh lãnh thổ chống quân cộng sản xâm nhập, gọi là kế hoạch Dinh Ðiền và Khu Trù Mật nữa. Nhìn chung, các chương trình Cải Cách Ðiền Ðịa, Khu Trù Mật, Dinh Ðiền và Người Cày Có Ruộng tại Miền Nam Việt Nam đều thành công rực rỡ nhờ vào viện trợ kinh tế dồi dào của Hoa Kỳ. Ngược lại, chính sách Cải Cách Ruộng Ðất, từ năm 1953 tới 1956, của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tức Cộng Sản Bắc Việt, do Hồ Chí Minh và Trường Chinh chỉ đạo và được rập khuôn theo mô thức của Trung Cộng, tuy thành công về mặt lấy ruộng của địa chủ phát cho nông dân nhưng luôn bị coi là phi nhân bản và tàn ác, bởi vì hằng trăm nghìn địa chủ, phú hào và chủ đất đã bị đem ra đấu tố và giết tróc dã man (trong đó có hơn 172,000 người bị giết và hơn 123,000 người bị kết tội oan uổng, theo các số liệu sưu tập được) để thực hiện cho bằng được chủ trương gọi là “công bằng xã hội” mà chủ nghĩa Cộng Sản quốc tế luôn nêu cao.

Về mặt tham nhũng, chắc chắn Việt Nam Cộng Hòa trước đây thua xa Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam ngày nay. Bằng cớ là, thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, sau khi quân đảo chính do Mỹ giật dây tiến vào Dinh Gia Long, chỗ ở chính thức của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm lúc Dinh Ðộc Lập đang được trùng tu, họ chỉ thấy nhà lãnh đạo Việt Nam có mỗi một chiếc giường gỗ để nằm, với một ít kinh, sách Công Giáo trên đầu giường mà thôi. 

Hai thập niên sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra đi vì Sài Gòn sụp đổ, chính quyền Cộng Sản Việt Nam mới khám phá thấy vị tổng thống Việt Nam Cộng Hòa này đã không kịp mang theo cái biệt thự nhỏ xíu của ông – chưa bằng cái dinh phường đội trưởng của Cộng Sản Việt Nam ngày nay – ở Ninh Thuận, là nơi quê quán của vị cố tổng thống. Ngay cả cái tin Tổng Thống Thiệu, lúc rời khỏi Việt Nam trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, đã kịp thời mang theo 16 tấn vàng ra ngoại quốc cũng chỉ là tin do Cộng Sản bịa đặt ra mà thôi. Sự thật là vị bộ trưởng kinh tế của Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hảo, đã niêm phong số vàng này lại tại Ngân Hàng Quốc Gia để dùng làm cống lễ các quan thầy Việt Cộng sắp sửa chiến thắng bước vào Dinh Ðộc Lập mà nhận sự đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh cùng chính quyền Miền Nam Việt Nam, để rồi sau đó số vàng này bị mau lẹ tẩu tán vào tay các lãnh tụ Bắc Bộ Phủ, những kẻ chùi mép khéo đến nỗi, cho đến nay, không ai có thể tìm đâu ra tông tích số vàng đó nữa. 

Các mẩu chuyện về mớ tài sản kếch xù của cựu Thủ Tướng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng hoặc chiếc ngai nạm vàng bên trong ngôi biệt thự của cựu Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh tại Hà Nội là chuyện có thật 100 phần trăm, chứ không phải là giả sử tiểu thuyết đâu. Còn nhiều, nhiều tỉ dụ nữa liên quan tới mức độ tham nhũng tày trời của giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam ngày nay mà bút mực không thể nào tả xiết được.

Thêm một điều cần phải so sánh nữa là nếp sống văn minh của dân chúng Miền Nam Việt Nam cách nay bốn thập niên so với nếp sống “văn minh” của dân chúng Cộng Sản Việt Nam ngày nay thì thật chẳng giống ai. Chỉ nhắc lại sơ sơ thôi, trong nước thì dân Việt Nam vẫn bị quốc tế chê bai về tình trạng thiếu văn minh qua nếp sống hằng ngày, cụ thể là những vụ tai tiếng lớn liên quan tới việc tranh cướp hàng hóa và thức ăn. Trong các năm 2008 và 2010, dân Hà Nội đã chen nhau dập liễu, vùi hoa và cướp cây cảnh trong các lễ hội Hoa Anh Ðào do người Nhật tổ chức tại thủ đô Việt Nam. Vào năm 2013, một công ty Hòa Lan có nhà máy tại Hà Nội đã phải bỏ ngang việc chiêu đãi thức ăn miễn phí cho cư dân thủ đô Hà Nội sau khi dân chúng xông vào giành giật và cướp phá dữ quá. Tiếp đó, cũng trong năm 2013, xảy ra vụ dân chúng thành phố mang tên bác tràn vào tranh cướp hàng khuyến mãi của một công ty Ðại Hàn và giành giật những suất ăn bao bụng với giá khuyến mãi 100,000 đồng tại một cửa hàng ăn, làm nhà hàng phải đóng cửa sớm. Vụ tai tiếng mới đây nhất lại xảy ra tại đất Hà Nội nghìn năm văn vật khi hằng nghìn khách vui chân giẫm nát cả một vườn hoa đang chờ đón Xuân về trong một công viên tại thủ đô nhân dịp đón Giao Thừa dương lịch và mừng Năm Mới 2016.

Trong mấy năm trở lại đây, ngay tại thủ đô Hà Nội, xuất hiện các cửa hàng ăn mà chủ tiệm liên tiếp chửi rủa, mạt sát khách hàng mỗi khi, vì quá ham ăn, họ lỡ làm phật lòng chủ nhân. Ðó là những tiệm ăn mà dân địa phương gọi là “bún mắng, cháo chửi, ốc lắm mồm,” nơi các thực khách ngày đêm bị nguyền rủa bằng những thứ ngôn ngữ “mất dạy” nhất nhưng, vì quá đói, khách vẫn cứ nín thinh mà gục mặt xuống ăn. Tình trạng ngày một tệ hại đến nỗi chính báo chí Việt Nam đã khui ra vụ này, và một số tờ báo đã không ngần ngại loan báo cho dân chúng biết những địa chỉ “bún mắng, cháo chửi, ốc lắm mồm” nức tiếng Hà Thành hoa lệ kia. Ðiều hiển nhiên là dân chúng Miền Nam Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa không thể nào có được những hành động thô tục và thiếu văn minh như vậy ngay tại quê nhà của mình để cho người ngoại quốc phải khinh khi, bởi vì một lẽ đơn giản là dân Miền Nam Việt Nam lúc đó đâu có được các bậc thầy “khả kính” Trung Quốc dạy dỗ cho nếp sống văn minh như bây giờ.

Ở ngoại quốc, những người mang quốc tịch Cộng Sản Việt Nam cũng để lộ nhiều thói hư, tật xấu quá mức. Tại nhiều nơi, dân Nhật đã cắm những tấm biển cấm dân Việt Nam lân la tới gần, vì họ bị tình nghi là quân trộm cắp hàng hóa tại các tiệm buôn, trong khi các nhân viên Vietnam Airlines thì chuyên môn “chôm” hàng siêu thị để chở lậu về nước bán lại cho các con buôn tại quê nhà. Nước bạn Thái Lan cũng đang cấm cửa các du khách Việt Nam đến một số điểm du lịch của họ, vì họ cũng sợ người mình ăn cắp đồ của họ và có những hành vi, cử chỉ thiếu văn minh, y hệt như bậc thầy Trung Quốc của Cộng Sản Việt Nam vậy. Mới hồi đầu năm nay, báo chí thế giới loan tin có hai khách du lịch Việt Nam đã bị bắt tại Chiang Mai, ở miền Bắc Thái Lan, và bị buộc tội bẻ khóa xông vào nhà để đánh cắp 500,000 Mỹ kim từ chiếc tủ sắt của một cửa hàng tại khu du lịch này.

Sau cùng, như lịch sử đã chứng minh, rõ ràng là hầu hết các mục tiêu của cuộc cách mạng vô sản, do Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo, với thâm ý lấy của nhà giàu đem chia cho người nghèo để công bằng hóa xã hội, đều thất bại. Ðiều bi thảm nhất là cái hố cách biệt giữa người giàu (tư sản đỏ cùng tư sản mới phất) và người nghèo (người của chế độ cũ và đám dân sống không có ô dù hoặc viện trợ từ hải ngoại) ngày càng được khơi rộng thêm ra, khiến sự chênh lệch giữa giàu và nghèo ngày nay lớn lao hơn bao giờ hết trong lịch sử trên 4,000 năm của dân tộc. Chính vì sự cách biệt giàu-nghèo quá độ này, đã phát sinh nhiều tệ nạn xã hội nghiêm trọng, trong đó phải kể đến nạn cướp của, giết người, nạn mại dâm (mà giới người mẫu và hoa hậu ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng) cùng nạn buôn người làm nô lệ tình dục và lao động khổ sai sang các nước lân bang. Và, gần đây nhất, là thảm trạng một số thanh niên phải đi bắt chó kiếm ăn, để rồi bị dân chúng tự ý đứng ra đại diện pháp luật để trừng trị bằng cách đánh, giết thảm thương.

Không ai có thể tưởng tượng được rằng, ngày nay, trong khi đại đa số dân chúng Việt Nam đang sống trong bần cùng cơ cực và thiếu thốn sự chăm sóc về giáo dục và y tế từ phía nhà nước, một số không ít các đại gia Việt Nam người nào cũng có hàng chục chiếc xe hơi riêng, cỡ Mercedes Benz và Rolls-Royce, rồi còn sắm luôn cả trực thăng riêng đậu chơi trên nóc nhà mình nữa. Ngày nay, con cháu của giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam và của lớp tư sản mới phất cứ xoành xoạch đi du học Mỹ hay Âu Châu và Úc Châu (những chỗ họ từng chê bai, phỉ nhổ năm xưa) như đi chợ, không cứ phải qua các tiêu chuẩn gạn lọc cam go, như phải học hết sức giỏi mới được đi du học, hồi thời Việt Nam Cộng Hòa.

Với một đất nước tan hoang như thế về mọi mặt, từ đạo đức làm người, văn hóa, xã hội, và luật pháp cho tới giáo dục, y tế, và kinh tế, ít ai dám tin rằng Việt Nam sẽ có thể đứng vững được mãi trước kế hoạch xâm lấn và thôn tính tàn độc của Trung Cộng, y như lời ca báo động của ca, nhạc sĩ Việt Khang từ trong nước: “Giờ đây, Việt Nam còn hay đã mất/Mà giặc Tàu ngang dọc trên quê hương ta?” (Việt Nam Tôi Ðâu? Việt Khang)

Chiến thắng của Cộng Sản trong Chiến Tranh Việt Nam làm thế giới mất hết cái thơ ngây

Sự thất bại của Việt Nam Cộng Hòa và chiến thắng sau cùng của người cộng sản tại Miền Nam Việt Nam trong cái ngày 30 Tháng Tư năm 1975 đó chính là điểm khởi đầu cho sự suy thoái, hay đúng hơn là sự tụt dốc, của nền văn minh nhân loại, tức là những gì vẫn được coi là Chân, Thiện, Mỹ của thế giới loài người. Lý do dẫn đến sự thể này là, sau cùng, những kẻ làm ác (Cộng Sản Bắc Việt và Trung Cộng) đã không hề bị trừng phạt mà lại còn được tưởng thưởng hậu hĩnh, với Cộng Sản Bắc Việt chiếm được Miền Nam Việt Nam, vùng đất giàu tài nguyên và hải sản nhất Ðông Nam Á, và Trung Cộng lấy được Quần Ðảo Hoàng Sa để làm bàn đạp tiến xuống phía Nam mà lấn chiếm cả Quần Ðảo Trường Sa, và cuối cùng là nuốt chửng luôn toàn bộ Biển Nam Hoa, tức Biển Ðông, trước nỗi hậm hực mà chẳng làm gì được ai của các cường quốc tại Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương, huống hồ các quốc gia nhỏ bé với nền tài chánh thiếu trước, hụt sau trong vùng.

Hậu quả khốc liệt này, mới đầu, ít có người nhận thấy, bởi vì phải nói rằng hầu hết cộng đồng thế giới thời đó, gồm cả những quốc gia cộng sản lẫn những nước tự do, dân chủ ở Tây Phương, đều cảm thấy nhẹ nhõm khi cuộc Chiến Tranh Việt Nam đầy hận thù và chết chóc, tang thương, sau cùng, đã kết thúc một cách nhanh chóng bất ngờ với phần thắng nghiêng về các “lực lượng giải phóng” của người cộng sản mà vào thời điểm đó đang được dư luận từ phía bên này bức màn sắt, tức là Thế Giới Tự Do, vì u mê mà đem lòng ngưỡng mộ và kỳ vọng chỉ vì chiếc mặt nạ trên bộ mặt của những người Cộng Sản Việt Nam chưa được gỡ xuống.

Nhưng dần dà, với những biến động lớn từ Việt Nam sau khi phe cộng sản đã nắm trọn quyền kiểm soát trên cả hai miền Nam-Bắc – từ vụ chính quyền Cộng Sản không chịu chấm dứt hận thù mà ra lệnh bắt giam và đày ải tất cả những viên chức, sĩ quan cũ của Việt Nam Cộng Hòa vào các trại lao động khổ sai cùng hành động triệt hạ không nương tay giới tư sản tại Miền Nam Việt Nam để thâu tóm của cải vào tay giới tư sản đỏ, và việc cả triệu “bộ nhân” và “thuyền nhân” Việt Nam đã đồng loạt bỏ nước ra đi tìm tự do tại các nước dân chủ, tự do trên thế giới trong suốt hai thập niên 1970 và 1980, cho đến những vụ thẳng tay đàn áp tôn giáo và vi phạm nhân quyền hết sức thô bạo tại Việt Nam suốt hơn bốn thập niên- đã làm cho cộng đồng thế giới phải kinh hoàng và cảm thấy mình có tội rất lớn đối với dân chúng Việt Nam. Chính cái sai lầm và ngu muội chết người của thế giới trong nỗ lực đánh phá Việt Nam Cộng Hòa (mà lúc ấy họ cho là xấu xa) và yểm trợ Cộng Sản Bắc Việt (mà lúc ấy họ cho là biểu tượng của lý tưởng giải phóng con người đầy cao đẹp), đã khiến cho lá cờ đỏ của người Cộng Sản Việt Nam, sau cùng, có dịp ngự trị trên cả hai miền Nam-Bắc.

Qua cuộc Chiến Tranh Việt Nam, Hoa Kỳ và phần còn lại của Thế Giới Tự Do đã phạm hai lỗi lầm tày trời: thứ nhất là phản bội người bạn đồng minh thân thiết của mình trong giờ phút nguy nan; và thứ nhì là để mất Miền Nam Việt Nam, và sau này là toàn thể Việt Nam, vào tay người cộng sản Việt Nam khiến, sau cùng, Việt Nam bị Trung Cộng thôn tính và toàn thể Biển Nam Hoa, tức là Biển Ðông, trở thành chiếc hồ nước riêng của Trung Cộng – ny như Ðịa Trung Hải, có thời, từng là cái hồ nước riêng của hai đế quốc Anh và Pháp vậy. Lịch sử coi lỗi lầm thứ nhất của Hoa Kỳ và Thế Giới Tự Do lúc bấy giờ là một điều vô đạo đức – nếu không nói là một tội ác – trong khi lỗi lầm thứ nhì là sự sai lầm chết người về chiến lược tương đương với sự dốt nát. Không ai có thể chối cãi rằng hai lỗi lầm to lớn này của Hoa Kỳ và Thế Giới Tự Do thời Chiến Tranh Việt Nam đã mở toang cánh cửa của thế giới cho cái Ác thắng cái Thiện.

Mấy thập niên sau khi Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay Cộng Sản, Hoa Kỳ đã “lãnh đủ” mọi hậu quả của hai lỗi lầm đó, từ việc Hoa Kỳ bị các đồng minh mới ở Afghanistan và Iraq phản bội trắng trợn – khi lính Mỹ đến giúp họ thường bị những kẻ vô ơn trong các quân đội đó bắn giết thẳng tay mỗi khi có dịp – và bị khi dễ dưới đôi mắt của đồng minh chí cốt Israel và đồng minh lâu đời Ả Rập Saudi tại Trung Ðông cho đến việc Hoa Kỳ ngày càng mất dần thế đứng tại Thái Bình Dương bởi vì không chịu giúp Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ Quần Ðảo Hoàng Sa hồi thế kỷ trước, để rồi đến thế kỷ này thì Biển Nam Hoa hoàn toàn lọt vào tay Trung Cộng qua sách lược “tằm ăn dâu” mà con cháu Tôn Tử triệt để áp dụng trước sự lúng túng và bất lực “thấy thương” của nước Mỹ, từ vị tổng tư lệnh quân đội cho tới các vị tư lệnh hạm đội.

(Ðiều mỉa mai là, trong cuộc di tản sau cùng của các viên chức Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa khỏi Sài Gòn vào hai ngày 29 và 30 Tháng Tư năm 1975 qua chiến dịch mang biệt danh Frequent Wind, Hoa Kỳ đã phải huy động tối đa các lực lượng Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến tại Tây Thái Bình Dương đến bảo vệ an ninh, kể cả các phản lực chiến đấu cơ siêu thanh tối tân F-14 Tomcat lần đầu tiên được mang ra sử dụng hồi đó, không hẳn là để đề phòng các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt tấn công – bởi vì cả 2 phía Hoa Kỳ và Cộng Sản Bắc Việt đã dàn xếp với nhau để cho cuộc di tản diễn ra suôn sẻ đặng quân Mỹ sớm ra đi cho khuất mắt – nhưng là để phòng hờ trường hợp các lực lượng còn lại của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bất ngờ quay súng bắn vào quân Mỹ sau khi họ nhận thức được sự bội phản trắng trợn của người bạn đồng minh Hoa Kỳ. Nhưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì thừa biết sự phản bội của đồng minh Hoa Kỳ bắt nguồn từ Quốc Hội Mỹ chứ không phải từ các chiến binh từng sát cánh với họ trên mọi chiến trường gai lửa trước đây, đã bình thản để cho cuộc di tản được hoàn tất, rồi một mình ở lại chốn gian nguy, kẻ thì từ thủ, kẻ thì tự sát, kẻ thì chiến đấu cho tới khi hết đạn mới liệng súng chạy đi, cho vẹn tình, vẹn nghĩa với anh linh của trên 58,000 chiến binh Hoa Kỳ đã bỏ mình vì Tự Do tại Việt Nam. Phải biết rằng người Mỹ rất coi trọng khả năng chiến đấu và lòng gan dạ của các chiến sĩ Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Ðộng Quân Việt Nam Cộng Hòa, bởi vì chính các sĩ quan cố vấn Mỹ đã phải cố gắng tối đa mới có thể theo kịp các chiến sĩ mà họ có nhiệm vụ cố vấn trong cuộc chiến, sao cho khỏi bị chê là yếu bóng vía hoặc nhát đòn. Vì thế, nếu các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa cũng chơi cái đòn “phản bội đồng minh” ngay tại Sài Gòn vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến y như các chính trị gia Mỹ đã làm tại Washington thì cái giá mà người Mỹ phải trả để có thể rời bỏ Việt Nam chắc chắn sẽ còn lớn lao hơn nữa chứ không phải chỉ có bấy nhiêu đâu. Lịch sử cho thấy rằng, từ sau kinh nghiệm Việt Nam, Quân Lực Mỹ chưa hề tìm được các chiến sĩ đồng minh nào từ mọi góc biển, chân trời vừa thiện chiến vừa thủy chung như người chiến binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày nay, nếu Quân Lực Mỹ được có cơ hội “vai kề vai” với các chiến hữu ngày xưa của mình tại Ðông Nam Á, thì chuyện bảo vệ quyền tự do hàng hải quốc tế trên Biển Nam Hoa, tức Biển Ðông, đâu có chi là lấp biển, vá trời.)

Từ sau biến cố 30 Tháng Tư năm 1975, ngày Sài Gòn sụp đổ vào tay quân Cộng Sản trở đi, không ai có thể chối cãi sự thật rành rành rằng thế giới loài người đã đánh mất hết cái thơ ngây của mình, bởi một lẽ dễ hiểu là, trong Chiến Tranh Việt Nam, thế giới đã về hùa theo nữ minh tinh phản chiến Mỹ Jane Fonda mà coi những người Cộng Sản Việt Nam chính là “lương tâm của nhân loại” và rằng “họ đang được lãnh đạo bằng cùng một tinh thần từng hướng dẫn Tướng Washington và chính khách Jefferson” cho nên khi cái “lương tâm” đó, sau cùng, sụp đổ đi (theo như những gì thế giới đang tận mắt chứng kiến tại Cộng Sản Việt Nam ngày nay) thì cái thơ ngây kia cũng mất đi luôn.

Khi thơ ngây đã mất: Thế giới suy đồi và loạn lạc sau Việt Nam Cộng Hòa
Khi con người không còn cái thơ ngây, tức là đã mất đi cái căn bản đạo đức hiền lành của thuở mới chào đời – mà triết gia Mạnh Tử (372-289 Trước Công Nguyên) của Trung Hoa tóm gọn là “nhân chi sơ, tính bản thiện” – gia đình và xã hội sẽ bất an và rối loạn vì con người chỉ muốn làm việc ác để sống còn và thủ lợi theo quy luật của tự nhiên “cạnh tranh để sinh tồn.” Trong khi Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập (1776) của Hoa Kỳ được Hồ Chí Minh sao chép để đưa vào Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của phe Việt Minh ở Việt Nam hồi năm 1945, phần lớn nội dung các bản Hiến Pháp của Phi Luật Tân từ 1935 tới 1987 đều dựa vào tinh thần của Hiến Pháp Hoa Kỳ (1789), bởi vì cả hai văn kiện này được coi là biểu hiện của nền tự do, dân chủ cao đẹp nhất của nhân loại thời bấy giờ. Tuy nhiên, một trong hai văn kiện lịch sử đó của Mỹ Quốc, tức là bản Hiến Pháp Hoa Kỳ cùng với các Tu Chính Án kèm theo, hiện đang bị coi là lỗi thời và cần phải được sửa đổi vì đã được làm ra từ cái thuở mà các nhà lập quốc Hoa Kỳ hãy còn thơ ngây, tức là lúc mà, thay vì làm tổng thống suốt đời, quốc phụ Washignton chỉ xin được làm tổng thống có 2 nhiệm kỳ để làm gương cho hậu thế, và khi mà phần lớn các chính trị gia Mỹ thời đó không coi chính trị là một cái nghề để kiếm ăn (từ đó dùng mọi mánh khóe chính trị để bám ghế suốt đời) mà coi đó là một sự hiến thân cho đất nước. Các giá trị trong xã hội Hoa Kỳ ngày nay, ngoại trừ khoa học và kỹ thuật, nói chung, đều suy đồi so với ngày xưa (the good old days) chỉ vì người Mỹ ngày càng đa văn hóa hơn, khôn lanh hơn, say mê vật chất hơn, gian ác hơn, biết luồn lách và biết chui vào các chỗ hở của pháp luật nhiều hơn, tới độ giá trị của câu ngạn ngữ “honesty is the best policy” (“thành thật là phương châm hay nhất”) hiện đang bị người Mỹ thuộc thế hệ bây giờ nghi ngờ.

Với chiến thắng sau cùng của những người cộng sản nổi tiếng tàn bạo tại Miền Nam Việt Nam, cũng như các chiến thắng của họ tại Căm-Bốt trước đó và tại Lào sau đó, cùng sự yếu thế rõ rệt của “Ðế Quốc” Mỹ, tay “sen đầm quốc tế” sừng sỏ một thời, phe Cộng Sản quốc tế liên tiếp đạt thêm các chiến thắng khác tại Mozambique (Tháng Sáu năm 1975) và Angola (Tháng Mười Một năm 1975) khi hai quốc gia Phi Châu này hớn hở tuyên bố trở thành các nước cộng sản ngay sau khi họ được Bồ Ðào Nha trao trả độc lập. Trong khi dân chúng tại Cộng Sản Cuba ngày đêm không ngớt ca tụng chiến thắng vĩ đại của người anh em Cộng Sản Việt Nam, đến nỗi ai cũng ao ước phải chi mình ngủ một đêm đến sáng mà được trở thành người Việt Nam bằng xương, bằng thịt thì sướng biết mấy, chính quyền Khmer Ðỏ, tức những người cộng sản cầm quyền tại Căm Bốt sau khi chính quyền Cộng Hòa Khmer bị xóa sổ, đã thừa thắng xông lên mà giết một hơi trên 2 triệu người Căm-Bốt chỉ trong vòng vài năm sau khi họ chiếm được thủ đô Phnom Penh vào ngày 17 Tháng Tư năm 1975. Chiến thắng lớn của cộng sản quốc tế tại Việt Nam hồi năm 1975 và sự suy yếu và nhu nhược thấy rõ của các chính quyền Mỹ về sau cũng đã khích lệ những người Hồi Giáo chính thống Iran, có khuynh hướng chống Mỹ và thân cộng sản, nổi lên lật đổ Vua Mohammad Reza Shah Pahlavi của Vương Quốc Ba Tư và lập nên nước Cộng Hòa Hồi Giáo Iran vào ngày 1 Tháng Tư năm 1979, để rồi tới ngày 4 Tháng Mười Một năm đó, chính quyền mới tại Iran cho người tấn công trực diện vào Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Tehran, đốt phá tòa nhà và bắt giữ trên 60 con tin Mỹ, tạo nên cuộc khủng hoảng con tin tại Iran kéo dài gần ba năm mới kết thúc sau khi toàn bộ các con tin Mỹ được phóng thích vào ngày 20 Tháng Giêng năm 1981, ngày tuyên tệ nhậm chức của tân Tổng Thống Mỹ Ronald Reagan vào thời đó.

Nhưng nghiêm trọng hơn hết vẫn là sự nổi dậy của Trung Cộng sau chiến thắng của Cộng Sản Bắc Việt, luôn được coi là cánh tay nối dài của Trung Cộng ở Á Châu, tại Miền Nam Việt Nam hồi năm 1975. Ngày nay, với kế hoạch bành trướng lãnh thổ tối đa qua phía Ðông và xuống phía Nam, Trung Cộng đang đưa lực lượng quân sự hùng hậu của mình tới uy hiếp Quần Ðảo Senkaku của Nhật tại Biển Hoa Ðông, lấn chiếm các cùng biên giới trên bộ của Việt Nam tại Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc và Cao Ðiểm 1509, tức Núi Ðất hay Lão Sơn (1980-1984), đánh chiếm các bãi đá Gạc Ma (Mischief Reef), Len Ðao (Landsdown Reef) và Cô Lin (Collins Reef) của Việt Nam (1988) rồi tiến sang phía Ðông đánh chiếm bãi đá Vành Khăn (Mischief Reef) của Phi Luật Tân (1995) và khởi sự uy hiếp đảo cạn Scarborough Shoal – mà Trung Quốc gọi là Hoàng Nham – cùng các bãi đá lân cận của Phi Luật Tân trên Biển Ðông (2012). Trong suốt hai năm 2015 và 2016, Trung Quốc liên tục củng cố tiềm năng quân sự trên các đảo mà họ đã chiếm của Việt Nam và Phi Luật Tân tại Hoàng Sa và Trường Sa bằng cách nới rộng diện tích các hòn đảo, bồi đắp các bãi cạn thành đảo nhân tạo, đồng thời xây thêm phi đạo dùng cho các phản lực cơ chiến đấu, rồi bố trí hỏa tiễn phòng không trên các đảo này để chuẩn bị lập một vùng cấm bay (tức vùng nhận dạng phòng không, ADIZ) trên Biển Ðông trong tương lai. Ngược dòng lịch sử, hồi Tháng Giêng năm 1974, khi thấy Hoa Kỳ đã rút quân ra khỏi Miền Nam Việt Nam trên đường bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa cho Cộng Sản Bắc Việt thôn tính, Trung Cộng cũng đã, thừa nước đục thả câu, đưa hạm đội tới đánh chiếm đảo Hoàng Sa (Pattle Island) và các đảo lân cận trong Quần Ðảo Hoàng Sa (Paracel Islands) của Việt Nam Cộng Hòa, trong khi các chiến hạm Mỹ thuộc Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương lạnh lùng đứng nhìn như thể họ chưa bao giờ là đồng minh chí cốt của Việt Nam Cộng Hòa vậy.

Cuộc Chiến Tranh Việt Nam còn cho thấy, trong cuộc chiến này, chỉ có những nước tôn trọng nhân quyền cỡ Mỹ mới đi truy tố các tội ác chiến tranh của quân mình, tỉ như vụ truy tố Trung Úy William Calley trong vụ tàn sát thường dân Việt Nam ở Mỹ Lai hồi năm 1967, trong khi những vụ Việt Cộng pháo kích sát hại học sinh tại Cai Lậy (1973) hoặc vụ quân Cộng Sản Bắc Việt bắn giết bừa bãi người dân chạy loạn trên Ðại Lộ Kinh Hoàng ở Quảng Trị (1972) và Quốc lộ 7 B ở Tuy Hòa (1974) thì cả thế giới đều im thin thít, không ai nói một tiếng lên án cái tàn bạo của quân cộng sản. Rút kinh nghiệm từ cuộc Chiến Tranh Việt Nam, hồi năm 2015-2016. không quân Nga cứ oanh tạc xối xả vào các tay súng Hồi Giáo lẫn thường dân vô tội, cho nên mặc dù họ mới khởi sự đánh ISIS có vài ba tháng thôi mà họ đã hiên ngang ca khúc khải hoàn, trong khi Mỹ và Ðồng Minh, vì không dám đụng tới thường dân, liên tục oanh tạc suốt hai năm trời nhưng chẳng làm cho phe Nhà Nước Hồi Giáo phải nao núng.

Giờ đây, 41 năm sau khi Sài Gòn, biểu tượng của nền tự do, dân chủ và tính nhân bản của con người, sụp đổ trước đoàn quân xâm lược bạo tàn của Cộng Sản Bắc Việt, thế giới đang ngày càng bất an hơn, gian dối hơn, nham hiểm hơn, phản phúc hơn, vô liêm sỉ hơn, vô thần hơn, ham mê vật chất hơn, và vô đạo đức hơn, bởi vì một lý do đơn giản là sự phản bội “vĩ đại” của thế giới – chứ không riêng gì Hoa Kỳ là nước triệt để theo thực dụng chủ nghĩa – đối với Việt Nam Cộng Hòa đã là nguồn cảm hứng vô song cho cái Ác tiến lên giữa lúc cái Thiện đang ngày càng co rúm lại trên con đường rơi xuống vực thẳm của hư không.

Thế giới bất an hơn:
Niềm vui của nhân loại chẳng tồn tại được bao lâu khi hay tin chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ tại Liên Xô và Ðông Âu, bởi vì, trên thực tế, chủ nghĩa cộng sản vẫn còn đó tại bốn nước, là Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba, với những người cộng sản Trung Quốc, Bắc Hàn và Việt Nam ngày nay nguy hiểm hơn nhiều và có sức “đề kháng” mãnh liệt hơn nhiều trước các “bài thuốc” tự do, dân chủ. Một lý do dễ hiểu là chủ nghĩa cộng sản thời Chiến Tranh Lạnh tuy mạnh về “gạo” mà lại không bạo về “tiền,” trong khi chủ nghĩa cộng sản thời nay tại Trung Quốc và Việt Nam, nhờ có tư bản Tây Phương ham lợi mà bôm tiền vào bất chấp “tiền đồ tổ quốc,” nay đang dùng chính đồng tiền của tư bản để mua chuộc, thao túng và làm suy yếu hầu hết các chính phủ tự do, dân chủ nói chung và một số không nhỏ người Việt tị nạn cộng sản tại hải ngoại. Thêm vào đó, hãy cứ xem mức độ chạy đua võ trang leo thang khủng khiếp từ Bắc Hàn, Nam Hàn, Nhật Bản, Ðài Loan cho tới Việt Nam, Indonesia, Mã Lai Á, Ấn Ðộ, Pakistan, Trung Ðông, Iran, và Israel cho đến Âu Châu và Ukraine, chưa kể ba quốc gia đầu sỏ thế giới hiện nay là Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc, thì đủ biết nhân loại đang sống trong tình trạng bất an đến mức nào. Kinh nghiệm cho thấy, vì Việt Nam Cộng Hòa thiếu võ khí tự vệ sau khi Hoa Kỳ dần dà cắt viện trợ quân sự sau Hiệp Ðịnh Paris 1973 trong khi Cộng Sản Bắc Việt vẫn tiếp tục nhận được viện trợ quân sự dồi dào của Liên Xô và Trung Cộng nên Việt Nam Cộng Hòa mới bại trận.

Thế giới gian dối hơn:
Chưa bao giờ mà con người trên khắp thế giới lại ăn gian, nói dối như ngày nay. Dối gian tràn ngập khắp nơi, từ Bắc Kinh, Thiên An Môn, Hồng Kông, Hà Nội và Bình Nhưỡng cho tới Tehran, Crimea, Ðông Ukraine và Damascus, những nơi mà tội ác luôn được che giấu, với những biện pháp trừng phạt kẻ ác luôn bị hai thành viên nòng cốt trong Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, là Nga và Trung Cộng, cấu kết nhau mà dùng quyền phủ quyết xóa bỏ, khiến cho những cuộc xung đột và tranh chấp quyết liệt như tại Ukraine và Biển Ðông không thể nào được giải quyết bằng sự đồng thuận của quốc tế. Cứ nhìn tình trạng hàng hóa giả, thiếu phẩm chất và độc hại tràn lan trên thị trường quốc tế hiện nay thì đủ biết con người bây giờ chẳng còn muốn làm ăn chân chính như xưa nữa. Một lần nữa, “honesty” chẳng phải là “the best policy” như con người xưa nay vẫn được dạy bảo, cho nên hễ ai thành thật thì người đó hoặc quốc gia đó chỉ có nước ngồi chờ tai họa kéo đến mà thôi.

Thế giới nham hiểm hơn:

Các quốc gia ngày càng sản xuất ra những con người nham hiểm, như những kẻ dùng thế mạnh của mình để xâm lấn lãnh thổ và biển đảo của các quốc gia nhỏ yếu hơn, hoặc dùng chiêu bài trữ nước làm đập thủy diện trên thượng nguồn những dòng trường giang để làm áp lực với những nước ở hạ nguồn nhằm bắt bí và buộc họ phải chìu theo ý muốn của mình. Ðó là trường hợp Trung Cộng đang dần dà lấn chiếm hết Biển Nam Hoa, tức Biển Ðông, đồng thời ngăn dòng chảy của Sông Mekong – mà Trung Cộng gọi là Sông Lan Thương – để làm áp lực chính trị đối với các nước láng giềng, từ Miến Ðiện, Lào cho tới Thái Lan, Căm Bốt, và nhất là Việt Nam. Những đòn nham hiểm để chiếm đất của Nga tại Georgia (2008) và Ukraine (2024) cũng như của Trung Cộng tại Tây Tạng từ 1950 đến nay coi như không có một thế lực nào trên thế giới ngăn chặn được.

Thế giới phản phúc hơn:
Sau sự phản bội giữa đồng minh với đồng minh trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam trong hai thập niên 1960 và 1970 của thế kỷ trước, con người dường như ngày càng phản phúc hơn, cụ thể là việc Trung Cộng đã “ăn cháo, đá bát” khi dùng những miếng võ hiểm hóc và những đòn chí tử trên mọi lãnh vực để đánh lại ân nhân Mỹ quốc, kẻ đã từng hy sinh luôn đồng minh Việt Nam Cộng Hòa và lờ đi chuyện đầu tư kinh tế vào Nga thời hậu Liên Xô để dắt đưa Trung Quốc vào chỗ hùng cường như ngày nay. Nhiều nước Âu Châu, sau Thế Chiến Thứ Hai, cũng đã quên ơn Mỹ quốc đã giúp họ phục hồi, qua Kế Hoạch Marshall (1948-51), khỏi những tàn phá của chiến tranh mà tiến tới chỗ thịnh vượng để hùa theo Cộng Sản Bắc Việt mà chống Mỹ trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam trước đây. Các ví dụ gần đây nhất cón bao gồm việc các nước Âu Châu đã về phe với Trung Cộng trong ý đồ loại bỏ đồng đô-la Mỹ ra khỏi vị thế thứ tiền tệ giao dịch chính của thế giới, cụ thể hơn là bất chấp lời khuyên can của Hoa Kỳ mà đua nhau gia nhập Ngân Hàng Ðầu Tư Hạ Tầng Á Châu, gọi tắt là AIIB, do Trung Quốc chủ trì cũng chỉ với mục đích làm suy yếu nước bạn đồng minh Mỹ lâu đời của họ (mà không biết rằng, rồi đây, họ sẽ sống với ai?)

Thế giới vô liêm sỉ hơn:
Chưa hết, thế giới ngày nay còn vô liêm sỉ hơn thế giới ngày xưa nữa, khi, chỉ vì mãnh lực của đồng tiền, các công ty và xí nghiệp từ Hoa Kỳ đến Âu Châu đã đua nhau đem tiền đầu tư vào Trung Cộng, biến quốc gia này từ nền kinh tế thứ mười mấy của thế giới trở thành nền kinh tế thứ nhì của thế giới, với triển vọng sẽ vượt luôn cả nền kinh tế Hoa Kỳ để chiếm lĩnh địa vị Số Một thế giới. 

Những vụ nhịn nhục của các cường quốc Tây Phương trước những hành động phi pháp và đe dọa an ninh thế giới của Bắc Hàn (thử bom nguyên tử và hỏa tiễn tầm xa), Syria (sử dụng vũ khí hóa học) và Iran (bí mật chế tạo võ khí nguyên tử) từ cả chục năm nay cũng cho thấy cái vô liêm sỉ của nhiều quốc gia khi cứ giả điếc, làm ngơ trước những vi phạm luật lệ quốc tế của các nước thuộc loại ma quỷ kia chỉ để trục lợi. Ðó là chưa kể đến cái vô liêm sỉ của giới cầm quyền tại các nước cộng sản ngày nay trên thế giới khi họ vẫn cứ khư khư ca tụng và bám víu vào một chủ nghĩa mà họ thừa biết là vừa vô nhân đạo vừa lỗi thời chỉ vì mục đích muốn củng cố quyền lực để tiếp tục cai trị và tham nhũng trên đầu, trên cổ của người đồng chủng mãi mãi.

Thế giới vô thần hơn:
Mối lo lắng lớn lao nhất của các vị Giáo Hoàng thời nay tại Tòa Thánh Vatican vẫn là tình trạng nhân loại đang ngày càng vô thần hơn, bởi vì cái Ác luôn thắng cái Thiện trong sự vắng bóng một cách lạnh lùng của Thiên Chúa, Ðấng quyền năng mà theo kinh điển thì luôn thưởng, phạt công minh. Ngay tại nước Mỹ giàu có nhất thế giới hiện nay, số tín đồ bỏ đạo và không chịu đi nhà thờ cũng ngày càng gia tăng, và ảnh hưởng của Ki-tô Giáo nơi đây đang ngày càng sụt giảm, đến độ những câu thề, những lời nguyện truyền thống hướng đến Chúa Ki-tô từ thời lập quốc đến nay cũng đang dần dà bị xóa bỏ trước những vụ kiện do những kẻ vô thần khởi xướng, khiến người ta đâm ra lo lắng vì chưa biết câu “In God We Trust” được in khắc trên đồng bạc của Mỹ có còn tồn tại được thêm nữa hay không. Những cuộc giết tróc lạnh lùng của quân khủng bố, dù thuộc tôn giáo nào đi nữa, cũng nói lên một điều là loài người ngày nay chẳng hề biết kính sợ Thượng Ðế hoặc lo sợ bị quả báo, bởi vì họ không hề tin tưởng vào sự hiện hữu của Ðấng Tối Cao, mặc dù có thể họ vẫn nhân danh tôn giáo mỗi khi ra tay hành động.

Thế giới ham mê vật chất hơn:
Khỏi cần phải nói, chưa thời đại nào trong lịch sử hằng chục nghìn năm của nhân loại mà con người lại ham mê vật chất nhiều như bây giờ. Bởi vì chủ nghĩa vật chất (materialism) vốn là cùng đích của cả tư bản lẫn cộng sản, hai chủ nghĩa kình địch nhau quyết liệt từ thế kỷ 19 tới bây giờ, con người thời nay tôn sùng vật chất là điều cũng dễ hiểu thôi. Chưa bao giờ mà đồng tiền lại ngự trị thế gian một cách vững chãi như ngày nay, bằng chứng là bất cứ cường quốc nào, dù tàn ác đến đâu, hễ có tiền tung ra viện trợ cho nước khác là tức khắc được các nước nghèo đói này nghe theo răm rắp, bảo gì làm nấy, làm quấy cứ khen hay. 

Ðiều lý thú là khi Hoa Kỳ, kẻ tôn sùng vật chất hạng nhất, nhì thế giới, đem chủ nghĩa vật chất ra để mồi nhử Cộng Sản Trung Hoa những mong quốc gia này sẽ trở thành ham mê vật chất phồn hoa mà từ bỏ chủ nghĩa cộng sản nghèo đói, ai dè Trung Cộng lại tương kế, tựu kế, kết hợp cái độc tài đảng trị của Cộng Sản vào chủ nghĩa vật chất của tư bản Tây Phương để tạo nên một nước Cộng Sản vừa giàu có về tiền bạc mà cũng vừa hùng mạnh về quân sự trên đường chinh phục thế giới, với tham vọng đánh sập cả siêu cường Hoa Kỳ lẫn các cường quốc cấp miền, như Nhật Bản và Ấn Ðộ.

Thế giới vô đạo đức hơn:
Sau hết, thế giới đang ngày càng vô đạo đức hơn, hậu quả trực tiếp của sự thể cộng đồng nhân loại không còn tin tưởng vào sự hiện hữu của Thượng Ðế cùng quyền năng thưởng, phạt công minh của Ðấng Tối Cao cũng như vào thuyết luân hồi và nhân quả (của Phật Giáo) nữa. Vì con người trong thời đại này chỉ ưa chuộng cái bề ngoài hoa mỹ để gạt gẫm nhau mà thôi, cho nên cái phần đạo đức thâm sâu trong trái tim và bộ óc của con người không hề có cơ hội phát huy. Ðâu còn đạo đức gì khi thế giới ngày nay chỉ là chốn cạnh tranh khốc liệt trên nguyên tắc mạnh được, yếu thua. Ðâu còn đạo đức gì nữa khi, trong thế giới ngày nay, người hiền lành đồng nghĩa với kẻ ngu muội và quân gian ác luôn được tôn vinh là kẻ chiến thắng hoặc nhà chinh phục. Không riêng gì tại Cộng Sản Việt Nam ngày nay, nơi nhân tâm đang ly tán, thế đạo đang suy vi, mà tai nhiều quốc gia khác trên thế giới, kể cà những nước giàu mạnh, con người đang ngày càng xa rời Thượng Ðế và chỉ biết lấy vật chất làm thước đo giá trị của con người.

Thay lời kết

Việt Nam Cộng Hòa từng là miền đất đầy những tang tóc, điêu linh của thế giới khi nơi đây diễn ra cuộc chiến tranh khốc liệt giữa phe Cộng Sản Quốc Tế và Thế Giới Tự Do kéo dài suốt hai thập niên, từ 1954 tới 1975, cũng bằng tuổi thọ của quốc gia dân chủ non trẻ này tại Ðông Nam Á. Nhưng Việt Nam Cộng Hòa cũng có thể được coi là miền đất chan hòa hạnh phúc của hơn 20 triệu dân chúng Miền Nam Tự Do giữa cảnh đổ nát, điêu tàn của cuộc chiến tranh khốc liệt, bởi lẽ đây cũng chính là thành lũy cuối cùng của tự do, dân chủ, của nền pháp trị, của trí tuệ và đạo đức làm người tại Á Châu mà mãi về sau, khi Việt Nam Cộng Hòa đã bị xóa sổ, dân tộc Việt Nam và cộng đồng thế giới mới dần dà nhận rõ trong niềm tiếc nuối muộn màng.

Trước Việt Nam Cộng Hòa, dường như lúc nào Thiện cũng thắng Ác, từ Thế Chiến Thứ Nhất (1914-1918), và Thế Chiến Thứ Hai (1939-1945) cho tới Chiến Tranh Triều Tiên (1950-1953) khi phe chủ chiến gây tàn phá, chết choc cho những quốc gia nạn nhân của cường quyền đều bị trừng phạt và bại trận, hay ít ra cũng phải tháo lui như trường hợp của Bắc Hàn và Trung Cộng trong cuộc Chiến Tranh Triều Tiên. Nhưng khi cái Ác khởi sự thắng cái Thiện tại Miền Nam Việt Nam – luôn cả tại Căm Bốt và Lào – thì cái Ác đã thừa thắng xông lên và chiến thằng hầu như khắp nơi trên thế giới, từ Angola và Tehran cho tới Damascus và Bình Nhưỡng, chưa kể các tội ác không bị trừng phạt của quân khủng bố khắp nơi, từ al-Qaeda cho tới Daesh (ISIS/ISIL). 

Nói cách khác, sau khi cuộc Chiến Tranh Việt Nam kết thúc một cách trớ trêu để cho dân chúng Miền Nam Việt Nam hiền hòa phải nằm dưới gông cùm cộng sản, niềm tin tưởng vào sự thưởng, phạt công minh của Ông Trời cũng như vào thuyết luân hồi và nhân quả của Nhà Phật đã bị xói mòn đến tận gốc rễ, và đồng thời sự kiện đó cũng chứng minh rằng ý niệm “Không có Thượng Ðế” hoặc “Thượng Ðế đã chết” của các triết gia vô thần, từ Ludwig Feuerbach (1804-1872), Karl Marx (1818-1883), Friedereich Engels (11820-1895), và Friedrich Nietzsche (1844-1900) cho tới Jean-Paul Sartre (1905-1980), là chân lý, kéo theo sự sụp đổ của Chân, Thiện, Mỹ, là các tiêu chuẩn cao đẹp mà loài người cần có để bám víu vào mà tồn tại và thăng hoa.

Nếu một Ðấng Tối Cao chuyên cầm cân, nẩy mực của vũ trụ này không hiện hữu hoặc thôi hiện hữu và luật luân hồi và nhân quả không có giá trị, thì thế giới này, với sự lan tràn của chủ nghĩa vật chất, sẽ dần dà rơi vào vực thẳm tối tăm khi cộng đồng nhân loại đành bất lực nhìn những nước hung ác cùng những phe nhóm tàn bạo tha hồ phanh thây, xẻ thịt những nước và nhóm người yếu kém hơn để tranh sống và tranh sướng theo quy luật tiến hóa tự nhiên, cạnh tranh để sinh tồn và mạnh được, yếu thua dành cho muôn loài trong vũ trụ – như Charles Darwin (1809-1882) từng xác định trong Darwinism) – mà không đếm xỉa gì tới đạo lý hoặc luật pháp khi không một thế lực trần tục nào có thể cản ngăn họ.

Vann Phan

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm...867&zoneid=271

Nguồn:buonvuidoilinh.wordpress.com/2016/10/24/41-nam-sau-ngay-sai-gon-sup-do-mot-the-gioi-da-mat-het-tho-ngay/

Wednesday, March 9, 2016

Sau 40 Năm.....Hoa Kỳ và Ðồng Minh mất luôn Biển Nam Hoa

Vann Phan

Hoa Kỳ, quốc gia nằm ở phía Đông Thái Bình Dương - chứ không phải Cộng Sản Trung Hoa - với tiềm lực quân sự chế ngự toàn thể đại dương này, vẫn thường được coi là cường quốc Thái Bình Dương bởi lẽ Hạm Ðội Thứ 7 trực thuộc Hạm Ðội Thái Bình Dương có tổng hành dinh đóng tại Yokosuka trên đảo Honsu của Nhật Bản và có cả thảy 3 hàng không mẫu hạm, hằng nghìn máy bay cùng hằng trăm chiến hạm cũng như tiềm thủy đĩnh đủ cỡ, đủ loại, đang là lực lượng hùng mạnh vô địch trải rộng khắp miền, từ Guam tới Okinawa và từ Singapore cho tới Sydney.

Nhưng vị thế đó rồi đây sẽ không còn nữa khi Cộng Sản Trung Hoa, gọi cho gọn là Trung Cộng, đang ngày càng bành trướng thế lực trên biển (và có thể là cả trên bộ nếu một mai Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Cộng chiếu theo bản “Thỏa Thuận Thành Ðô” đầy bí ẩn được ký kết giữa hai Ðảng Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam hồi năm 1990), đặc biệt là tại hai Quần Ðảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Nam Hoa (South China Sea), nơi lực lượng hải quân Trung Cộng đang đối đầu quyết liệt với lực lượng hải quân của hai quốc gia Ðông Nam Á nhỏ bé hơn họ nhiều, là Cộng Sản Việt Nam, nước gọi Biển Nam Hoa theo cách riêng của họ là Biển Ðông, và Phi Luật Tân, nước gọi vùng biển này là Biển Tây (West Philippine Sea), căn cứ vào vị trí địa lý của vùng biển đó đối với đảo quốc này.

* Thế yếu hiện nay của các nước Việt Nam, Phi Luật Tân, Mỹ, Ấn Ðộ và Nhật Bản

Trong mấy năm trở lại đây, cả Hoa Kỳ lẫn Nhật Bản và Ấn Ðộ đều ráo riết ve vãn Cộng Sản Việt Nam, lộ liễu nhất là trong và sau cuộc khủng hoảng bang giao giữa hai nước cộng sản “anh em” kia, do việc Trung Cộng bất thình lình đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào sâu bên trong hải phận (lãnh hải) Việt Nam trên Biển Nam Hoa để dò tìm dầu khí, với ý đồ không giấu diếm là muốn đặt Cộng Sản Việt Nam vào tình thế đã rồi là toàn bộ, hay ít ra cũng là hầu hết, Biển Nam Hoa đã thuộc chủ quyền của Trung Cộng, nếu như Cộng Sản Việt Nam và thế giới không có phản ứng gì.

Thật ra, những quốc gia tự do, dân chủ đó nỗ lực ve vãn - và có khi còn tỏ ra chiều chuộng thái quá - quốc gia Cộng Sản tại Ðông Nam Á này chẳng phải vì họ yêu thương gì lắm dân tộc Việt Nam hoặc cái Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang cai trị đất nước đáng thương đó mà chẳng qua là vì Cộng Sản Việt Nam, nước có cảng nước sâu Cam Ranh tốt hơn cả Rio de Janeiro của Brazil, đang giữ một vị thế chiến lược cực kỳ quan trọng, nếu không nói là quan trọng nhất, tại phía Tây Thái Bình Dương, bởi vì Biển Nam Hoa ngoài khơi Việt Nam là thủy lộ huyết mạch từ Thái Bình Dương thông qua Ấn Ðộ Dương của các nước có kỹ nghệ phát triển và có nền kinh tế lớn trong vùng, như Nhật Bản, Nam Hàn, Ðài Loan, Ấn Ðộ và Hoa Kỳ. Nếu Biển Nam Hoa lọt vào tay một cường quốc hùng mạnh và tham tàn như Trung Cộng thì coi như không riêng gì Việt Nam và Phi Luật Tân mà tất cả các nước nêu trên, luôn cả Thái Lan, Mã Lai Á, Singapore, Indonesia, Brunei và Úc Ðại Lợi, cũng khốn đốn lây.

Bề ngoài, có vẻ như cuộc tranh chấp chủ quyền trên Biển Nam Hoa vẫn đang diễn tiến chứ chưa ngã ngũ, nghĩa là cả Trung Cộng lẫn Cộng Sản Việt Nam và Phi Luật Tân, cùng với các quốc gia ở phía Nam vùng biển này, là Mã Lai Á, Indonesia và Brunei, không ai thật sự nắm quyền kiểm soát hết Biển Nam Hoa. Tuy nhiên, trên thực tế, Trung Cộng đang làm chủ vùng biển đó, cho dù Hoa Kỳ và thế giới, trong đó có Ấn Ðộ và Nhật Bản, có muốn hay không, chỉ vì một lẽ đơn giản là, trong thế giới ngày nay, khi Liên Hiệp Quốc chỉ là một tổ chức bù nhìn của các cường quốc, nguyên tắc mạnh được, yếu thua theo tiến trình đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên trong Thuyết Tiến Hóa của Charles Darwin (Evolutionism/Darwinism) mới là yếu tố quyết định sự sống còn của một giống người hay của cả nhân loại - chứ không riêng gì loài động vật - đặc biệt là các nước nhược tiểu như Cộng Sản Việt Nam trước nanh vuốt của các quốc gia hùng mạnh và tham tàn như Trung Cộng. Vả lại, Cộng Sản Việt Nam, vì bị Trung Cộng kèm kẹp trong vòng ảnh hưởng của họ, chưa hề có được một cường quốc quân sự nào cam kết bảo vệ bằng một hiệp ước phòng thủ chung, như trường hợp Nhật Bản và Phi Luật Tân là hai quốc gia cũng đang đối đầu với Trung Cộng trong vấn đề chủ quyền biển đảo nhưng lại đang được Hoa Kỳ cam kết bảo vệ.

Qua bao cuộc thử thách trên thế giới từ cuối thế kỷ trước cho tới nay, đặc biệt là trong các biến cố tại Georgia, Iran, Syria và Ukraine (Crimea), Hoa Kỳ, siêu cường duy nhất của thế giới, viện cớ tiền bạc và tài nguyên đang cạn kiệt dần, đã chẳng dại gì mà hy sinh quyền lợi của mình để giúp đỡ kẻ cô thế chống lại cường quyền, mong tiếp tục giữ vững biệt danh “tay sen- đầm quốc tế” do phe Cộng Sản gán ghép cho Washington từ thời Chiến Tranh Lạnh đến nay.

Vả lại, Trung Cộng từng tuyên bố công khai và thẳng thừng rằng họ sẽ hành động một mình (vì họ quá mạnh khiến cả siêu cường Hoa Kỳ cũng chùn bước) chứ không chấp hành bất cứ phán quyết nào, dù có lợi hay có hại cho họ, của các tòa án quốc tế trong vấn đề tranh chấp tại Biển Nam Hoa, trong đó có Tòa Án Luật Biển Quốc Tế (International Tribunal for the Law of the Sea) và Tòa Án Trọng Tài Thường Trực (Permanent Court of Arbitration), đừng nói chi tới Bộ Quy Tắc Ứng Xử tại Biển Ðông (Declaration on the Conduct of Parties, DOC/South China Sea Code of Conduct) từng được các nước trong Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN) và Cộng Sản Trung Hoa thỏa thuận.

Vì Hải Quân Trung Cộng hiện đang là lực lực mạnh nhất trên Biển Nam Hoa ngày nay, cho nên họ cứ tự tiện ra vào nơi đây như chỗ không người, muốn đưa giàn khoan dầu tới đâu thì cứ tới, muốn nới rộng đảo nào hay bãi đá nào tại Hoàng Sa và Trường Sa thì cứ làm, và muốn vẽ bản đồ lãnh thổ của họ bao trùm tới đâu trên Biển Nam Hoa thì cũng cứ tùy ý muốn của họ, như trường hợp cái bản đồ gồm 9 đoạn đứt khúc (nine - dotted line) của vùng biển này do họ công bố, mà Cộng Sản Việt Nam ưa gọi một cách nôm na là “Ðường Lưỡi Bò” sau khi Hà Nội đã thất bại trong việc ngăn chặn sức liếm láp cực kỳ khó chịu của cái lưỡi bò đó. (1)

Hoa Kỳ, và cả Ấn Ðộ cũng như Nhật Bản, các cường quốc khác của thế giới có quyền lợi hàng hải trên Biển Nam Hoa, rất bực tức và lo ngại, nhưng chẳng làm gì được Trung Cộng trong lúc này, và có thể là cả trong tương lai dài lâu nữa.

* Nguyên do khiến các cường quốc Hoa Kỳ, Ấn Ðộ và Nhật Bản đành bất lực nhìn Trung Cộng chiếm hết Biển Nam Hoa

Các lý do quân sự, chính trị và kinh tế đã đưa đẩy 2 cường quốc Hoa Kỳ và Nhật Bản ở Thái Bình Dương và cường quốc Ấn Ðộ ở Ấn Ðộ Dương bó tay nhìn Cộng Sản Trung Hoa nuốt trọn Biển Nam Hoa, chận đường các thương thuyền và tàu chiến Hoa Kỳ và Nhật Bản đi từ Thái Bình Dương qua Ấn Ðộ Dương và ngược lại, buộc Ấn Ðộ phải điều chỉnh hoặc hủy bỏ chính sách “Hướng Ðông” (“Look East”) có từ hồi 1991 qua bốn đời Thủ Tướng: P.V. Narasimha Rao, Atal Bihari Vajpayee, Manmohan Singh, và Narendra Modi.

Không hiểu Cộng Sản Việt Nam nghĩ sao chứ Hoa Kỳ khá lo buồn khi nhìn đảo Phú Lâm (Woody Island), đảo lớn nhất trong Quần Ðảo Hoàng Sa từng bị quân Trung Cộng đánh chiếm của Việt Nam Cộng Hòa hồi Tháng Giêng năm 1974, trở thành một căn cứ quân sự quy mô, với một phi trường có khả năng tiếp nhận các chiến đấu cơ phản lực và một quân cảng hoàn chỉnh, nơi trú đóng của 4,000 hải quân và thủy quân lục chiến Trung Cộng. Người Mỹ biết rằng đây chính là một “hàng không mẫu hạm không thể đánh chìm” của hải quân Trung Cộng một khi chiến tranh xảy ra tại Ðông Nam Á giữa Trung Cộng và các lực lượng muốn duy trì tự do hàng hải trên Biển Nam Hoa.

Ðến Tháng Giêng năm 2015, Hoa Kỳ lại lo lắng nhìn Bãi Ðá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) ở quần đảo Trường Sa, mà Trung Cộng từng chiếm cứ khỏi tay Cộng Sản Việt Nam hồi năm 1988, nay đã được Trung Cộng biến thành một căn cứ quân sự. Trước đó, hình ảnh từ vệ tinh do thám Mỹ chụp được cho thấy Trung Cộng đã ra sức hút cát đại dương và tô bồi thêm cho đảo Gạc Ma (Johnson South Reef), cũng từng bị Trung Cộng cướp khỏi tay Cộng Sản Việt Nam trước đây để biến thành đảo riêng của họ, rồi nối dài thêm phi đạo của một phi trường mà họ mới dựng lên nơi đây thành một sân bay quân sự có thể dùng cho các chiến đấu cơ phản lực.

Nếu Hoa Kỳ không để cho Trung Cộng cưỡng chiếm Quần Ðảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa hồi năm 1974 trong thế kỷ trước thì Trung Cộng đã không có một đầu cầu thiết yếu để xua quân đánh chiếm luôn nhiều đảo và bãi đá khác trên quần đảo Trường Sa ở phía Nam của Hoàng Sa. Về lỗi lầm tày trời này thì cặp bài trùng Richard Nixon và Henry Kissinger, tổng thống và ngoại trưởng Mỹ hồi thập niên 1970, trước hơn ai hết, phải hứng chịu mọi trách nhiệm trước lịch sử. (2)

Nhật Bản cũng lo buồn không kém Hoa Kỳ khi thấy Trung Cộng bành trướng tiềm năng quân sự tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nơi Hải Quân Nhật Bản từng chiếm đóng và trấn giữ suốt thời gian Nhật Bản hất cẳng Pháp để nắm quyền cai trị ba nước Việt-Miên-Lào trên bán đảo Ðông Dương thuộc Pháp. Với kinh nghiệm tại Biển Hoa Ðông (East China Sea) ở phía Ðông Trung Cộng và phía Tây Nhật Bản, nơi Trung Cộng từng thiết lập một Vùng Cấm Bay (No-Fly Zone/Air Defense Identification Zone), không cho phép phi cơ dân sự và quân sự của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Hàn và các nước khác bay qua, Nhật Bản biết rằng, rồi đây, tàu thuyền và phi cơ của họ cũng sẽ không được phép đi ngang qua Biển Nam Hoa một khi Trung Cộng quyết tâm áp đặt một Vùng Cấm Bay tương tự giữa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nơi họ đang có các căn cứ quân sự, mà bản doanh có thể được đặt trên chiếc “hàng không mẫu hạm không thể đánh chìm,” tức là trên đảo Phú Lâm trong Quần Ðảo Hoàng Sa hoặc có thể là trên một số hòn đảo và bãi đá khác tại Quần Ðảo Trưởng Sa nữa. (3)

Phần mình, Ấn Ðộ đang ưu tư, lo lắng đứng nhìn thời thế thay đổi tại Biển Nam Hoa khi Trung Cộng dần dà chiếm đóng hết đảo này tới đảo khác trên hai Quần Ðảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không có một sức mạnh nào cản nổi, bởi vì cả Cộng Sản Việt Nam và Phi Luật Tân đều không đủ sức mạnh - hoặc thiếu quyết tâm, như trong trường hợp rất đáng nghi ngờ của Cộng Sản Việt Nam - để kiềm chế hoặc ngăn chặn sức bành trướng quân sự của Trung Cộng trong vùng, trong khi Hoa Kỳ, cho tới nay, chỉ nói mà không làm, nên Trung Cộng chẳng hề nao núng.

Là một cường quốc lớn tại Á Châu, Ấn Ðộ cảm thấy cần thiết phải có tự do lưu thông hàng hải tại Biển Nam Hoa để tàu thuyền và phi cơ của họ có thể an toàn đi lại từ Ấn Ðộ Dương sang Thái Bình Dương và ngược lại thông qua eo biển Malacca, nằm giữa bán đảo Mã Lai Á và đảo Sumatra của Indonesia. Ngay cả việc dò tìm dầu khí của các công ty dầu Ấn Ðộ tại thềm lục địa của Việt Nam cũng sẽ không thể thực hiện được một khi Trung Cộng đã chiếm trọn Biển Nam Hoa và lên tiếng đòi chủ quyền trên tất cả các giếng dầu phong phú trong vùng biển này.

Nguồn tin thông tấn xã AFP hôm 27 Tháng Giêng năm 2015 cho hay Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama và Thủ Tướng Ấn Ðộ Narendra Modi đã lên tiếng kêu gọi các quốc gia trên thế giới bảo đảm “an ninh hàng hải và hàng không trong khu vực, đặc biệt tại Biển Ðông (tức Biển Nam Hoa)” qua một thông cáo chung nhân dịp nhà lãnh đạo Mỹ kết thúc chuyến viếng thăm Ấn Ðộ. 

Trước đó, vào ngày 25 Tháng Giêng, cùng lên tiếng trong một bản tuyên bố nhan đề “Tầm Nhìn Chiến Lược Chung cho Vùng Á-Châu-Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương” (“Joint Strategic Vision for the Asia-Pacific and Indian Ocean”), Tổng Thống Obama đã cùng với Thủ Tướng Modi xác định rằng hai quốc gia Mỹ và Ấn rất quan ngại về “những căng thẳng chung quanh các cuộc tranh chấp lãnh hải” tại Biển Nam Hoa. 

Ngày 28 Tháng Giêng năm 2015, các ngoại trưởng thuộc Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN) nhóm họp tại Mã Lai Á đã cùng nhau bày tỏ sự lo ngại về chuyện Trung Cộng liên tục đòi chủ quyền tại nhiều khu vực trong Biển Nam Hoa, đặt các quốc Ðông Nam Á vào thế phải đối mặt với tham vọng bá quyền nước lớn của Trung Cộng trong khi không có nước nào trong vùng đủ sức đối đầu về quân sự với nước láng giềng phương Bắc khổng lồ đó. (4)

* Vì đâu nên nỗi?

Sự thể này có nhiều nguyên do, trong đó có các nguyên do sau:

1. Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, để mất quần đảo Hoàng Sa vào tay Trung Cộng

Việc Hoa Kỳ bỏ cuộc nửa chừng, để cho Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt (1975) và kèm theo đó là việc Hoa Kỳ, chỉ một năm trước đó, đã làm ngơ không can thiệp để cho Trung Cộng chiến mất quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa (trong trận Hải Chiến Hoàng Sa giữa Hải Quân Trung Cộng và Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 19 Tháng Giêng năm 1974), là sai lầm chiến lược lớn lao nhất của Hoa Kỳ trong thế kỷ trước, (5) mặc dù Hoa Kỳ vẫn được tiếng là kẻ đã chiến thắng cuộc Chiến Tranh Lạnh (1945-1991) trong tư cách là cường quốc lãnh đạo Thế Giới Tự Do và nghiễm nhiên trở thành siêu cường Số 1 của thế giới sau sự sụp đổ của Cộng Sản Ðông Âu và sự tan rã của Liên Xô, tức Liên Bang Xô Viết. Có điều, Trung Cộng cùng 2 chư hầu của họ tại Á Châu, là Việt Nam và Bắc Hàn, cũng như Cộng Sản Cuba thân Liên Xô ở Tây Bán Cầu, đã không sụp đổ theo đúng các đánh giá khôn ngoan nhất mà loài người có thể đưa ra trong thế kỷ trước.

Có thể lúc bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa hồi năm 1973-1975, các chính trị gia Mỹ, nhất là Quốc Hội Mỹ (là kẻ nắm hầu bao trong mọi cuộc chiến), chỉ có mục đích thiển cận là nhằm tiết kiệm mỗi năm chừng nửa triệu Mỹ kim tiền viện trợ - Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của Việt Nam Cộng Hòa cũng chỉ cần có thế đặng giữ vững Miền Nam Việt Nam - để dành số tiền đó lo cho phúc lợi của dân chúng Mỹ trong nước. Ðâu có ai biết rằng, vì để mất Việt Nam Cộng Hòa trong thế kỷ trước, qua thế kỷ này Hoa Kỳ đã phải chi ra mỗi năm hàng chục tỉ Mỹ kim để chống đỡ những ngón đòn của Trung Cộng trên khắp các mặt trận toàn cầu, đặc biệt là tại Biển Nam Hoa, thủy lộ sinh tử của Mỹ và các nước đồng minh từ Thái Bình Dương qua Ấn Ðộ Dương.

Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa, chiếc tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự Do, đã trở thành sự sụp đổ của chiếc tiền đồn của Hoa Kỳ và các nước đồng minh Á Châu của Mỹ, như Nhật Bản, Ấn Ðộ, Nam Hàn và Phi Luật Tân, trước tham vọng bá quyền của Trung Cộng tại Á Châu. Một Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại, với hải, lục không quân tinh nhuệ và với một đội quân được các chuyên gia quân sự đánh giá là hùng mạnh vào hàng thứ 7 trên thế giới trước năm 1975 mà còn được bảo vệ bằng một hiệp ước an ninh chung với Hoa Kỳ, sẽ làm Trung Cộng nản lòng trong bất cứ tham vọng bá quyền nào của họ, ít nhất là tại Ðông Nam Á và Biển Nam Hoa, đừng nói gì tới chuyện thách thức vị thế bá chủ của Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương.

Cần phải nói thêm rằng, ngoại trừ Israel - với cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái giàu mạnh và rất có thế lực tại Hoa Kỳ - Việt Nam Cộng Hòa là đồng minh tốt nhất và đáng tin cậy nhất của Hoa Kỳ trong suốt dòng lịch sử nếu đem so với các đồng minh khác trên toàn thế giới, như Afghanistan và Iraq chẳng hạn, là những kẻ sẵn sàng xả súng bắn vào người bạn đồng minh Hoa Kỳ cho dù họ chưa hề bị bỏ bỏ rơi ngang xương như trường hợp của Miền Nam Việt Nam cách nay 4 thập niên.

Với những bộ óc khá ưu việt - cỡ bộ óc của các Giáo Sư Bửu Hội và Nguyễn Xuân Vinh thuộc thế hệ trước cũng như của nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, mẹ đẻ loại bom ép nhiệt thermobaric, và Tiến Sĩ Nguyễn Ðịnh, cha đẻ loại vũ khí bắn tia Free Electron Laser, của Hoa Kỳ thuộc thế hệ hiện nay - và với tiềm năng dầu khí dồi dào tại thềm lục địa Miền Nam Việt Nam, thế giới không thể loại bỏ khả năng Việt Nam Cộng Hòa trở thành một cường quốc nguyên tử (vì lẽ sinh tồn tự nhiên của một nước nhỏ bên cạnh một nước láng giềng to lớn và hung ác), cho dù cường quốc này có thể cũng sẽ phải ẩn thân trong vòng bí mật như Israel. Ðó thật sự là cơn ác mộng của Trung Cộng, kẻ chưa hề biết sợ mà từ bỏ chủ trương bá quyền Ðại Hán. 

Và dĩ nhiên, hồi thế kỷ trước, một khi Trung Cộng thấy Hoa Kỳ quyết tấm giữ vững Miền Nam Tự Do để bảo vệ sườn phía Tây của Thái Bình Dương thì họ không bao giờ dám đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa như họ đã làm hồi năm 1974, chỉ 1 năm trước ngày Sái Gòn sụp đổ vào tay Cộng Sản Bắc Việt. Còn chuyện đảo Gạc Ma và Bãi Ðá Chữ Thập - do Cộng Sản Việt Nam quản lý sau khi Việt Nam Cộng Hòa cáo chung - bị Trung Cộng đánh chiếm hồi năm 1988 thì chuyện đó sẽ không làm sao xảy ra được nếu Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

2. Hoa Kỳ giúp Trung Cộng phát triển kinh tế mong trục lợi từ một thị trường béo bở

Một lỗi lầm chiến lược trầm trọng vào bậc nhất khác của Hoa Kỳ trong thế kỷ trước di hại tới thế kỷ sau là Hoa Kỳ đã giúp Trung Cộng phát triển kinh tế những mong trục lợi từ một thị trường béo bở như thị trường đông cả tỉ người trên lục địa Trung Hoa, thay vì giúp Nga chấn hưng kinh tế sau khi Liên Xô tan rã.

Sự tồn tại dai dẳng và không thể nào đảo ngược lại được của chế độ độc tài Cộng Sản tại Trung Hoa - qua sự thất bại thảm thương và cay đắng của các phong trào đòi tự do, dân chủ tại Thiên An Môn (1989) và Hồng Kông (2014) - cho thấy Hoa Kỳ, với chính sách “Trợ Tàu, diệt Nga” thời Chiến Tranh Lạnh, đã tự ý tạo ra cho chính mình một kẻ thù mới hùng mạnh và nham hiểm bội phần so với kẻ thù cũ Liên Xô. Giờ đây, Trung Cộng đã trở thành đối thủ sinh tử của Hoa Kỳ, kẻ đang “tranh bá, đồ vương” với Hoa Kỳ trên khắp các mặt trận có quy mô thế giới.

Rõ ràng là nhờ sự hỗ trợ đắc lực của Hoa Kỳ, thông qua việc chuyển nhượng khoa học, kỹ thuật không chút e dè của các công ty Mỹ lúc nào cũng tối mặt trước lợi nhuận thu vào bất kể quốc gia hưng vong, nền kinh tế Trung Cộng, chẳng bao lâu nữa sẽ (thật sự) vượt qua Hoa Kỳ để tiến lên vị thế hàng đầu thế giới vẫn do Hoa Kỳ nắm giữ từ sau Thế Chiến 2 đến nay. Có thể nói rằng, khi giúp Trung Cộng mở mang kinh tế (kéo theo kỹ thuật tân tiến), Hoa Kỳ đã vô tình giúp Trung Cộng khả năng mua sắm được hàng không mẫu hạm Liêu Ninh cùng các tiềm thủy đĩnh nguyên tử và chế tạo được các chiến đấu cơ tàng hình thế hệ thứ 5 cỡ Chengdu J-20 and Shenyang J-31, chẳng thua thua kém gì các siêu máy bay chiến đấu F-22 Raptors và F-35 Joint Strike Fighters Lightning II của Hoa Kỳ. (6)

Hồi Tháng Giêng năm 2015, trong một bài viết trên tạp chí The National Interest nhan đề “The Foreign Policy Essay: Why China Will Become a Global Military Power,” tức “Luận Về Chính Sách Ngoại Giao: Vì Sao Trung Cộng Sẽ Trở Thành Cường Quốc Quân Sự Của Thế Giới,” Oriana Skylar Mastro, giáo sư môn nghiên cứu an ninh tại trường Edmund A. Walsh School of Foreign Service thuộc Ðại Học Georgetown University, cho rằng sớm muộn gì rồi quốc tế cũng phải chấp nhận sự thể Trung Cộng là một cường quốc quân sự của thế giới.

Nguồn tin Tân Hoa Xã hồi cuối Tháng Mười Một năm 2014 từng cho hay “Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khẳng định thời đại Mỹ là siêu cường duy nhất thế giới sắp kết thúc, Bắc Kinh quyết tâm cạnh tranh sánh tầm ảnh hưởng với Washington tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.” Ðiều này cho thấy việc Trung Cộng lăm le thôn tính nhược tiểu Việt Nam chỉ nằm trong mục tiêu ban đầu của họ mà thôi, trong khi mục tiêu tối hậu của quân Ðại Hán là làm sao có thể thôn tính luôn cả siêu cường Hoa Kỳ.

Theo lời tiên đoán của đại văn hào Nga Aleksandr Solzhenitsyn (1918-2008), tác giả The Gulag Archipelago, tức quần đảo Gulag, từng sống lưu vong tại Mỹ năm 1974 nhưng sau đó chán ngán xã hội Mỹ chỉ biết chăm chú hưởng thụ vật chất mà xao lãng mặt tinh thần nên đã quay trở lại Nga năm 1994, Hoa Kỳ sẽ sụp đổ từ bên trong chứ không cần phải bị ai đánh từ bên ngoài, bởi vỉ đây là một siêu cường đầy những lỗ hổng, với cả hai đảng chính trị lớn chỉ biết lo cho quyền lợi của đảng mình (chẳng khác gì Cộng Sản, nhưng vẫn còn khá hơn), với “lục phủ, ngũ tạng” đều rệu rã, và với lòng hận thù chủng tộc sâu sắc tới độ nền pháp trị dữ dằn kiểu Mỹ vẫn không kiềm chế nổi.

Trung Cộng có thể sẽ không đối đầu với Hoa Kỳ qua một cuộc chiến tranh nguyên tử theo kiểu Bắc Hàn từng hăm dọa Mỹ, nhưng rõ ràng là họ đang dùng ngón đòn vật chất, mà tiền bạc là chính, để “mua đứt” các cơ sở kinh tế của Mỹ và gây ảnh hưởng lên các nhà lãnh đạo siêu cường này bằng cách tài trợ các chuyến đi du lịch đầy thú vui và lắm khoái lạc để sau này bắt bí, buộc “người tiêu thụ” các thú vui đó phải điều chỉnh chính sách quốc gia sao cho có lợi cho Trung Cộng.

Từ cả chục năm nay, Trung Cộng đã thực hiện không biết bao nhiêu là cuộc tấn công trên mạng (cyber attacks) trong khuôn khổ cuộc chiến tranh điện toán (cyberwarfare) vào các cơ sở kinh tế, kỹ nghệ và quân sự của Mỹ nhằm đánh cắp khoa học, kỹ thuật cùng các thông tin thương mại, đồng thời sử dụng các chiêu thức tuy cổ điển nhưng hữu hiệu, trong đó có cả khổ nhục kế và mỹ nhân kế, với mục đích làm suy yếu giới lãnh đạo Mỹ lúc nào cũng ham vui và cần tiền để vận động bầu cử, song song với việc ráo riết cạnh tranh nhằm triệt hạ ảnh hường của Hoa Kỳ trên khắp thế giới, rõ rệt nhất là tại các nước Phi Châu và Nam Mỹ.

Cần biết rằng bản chất của người Mỹ là thực tiễn và ham thich tiền bạc nên họ rất dễ sa vào các bẫy sập của Trung Cộng. Cũng nên biết rằng, từ năm 1949, lúc cộng sản chiếm quyền tại Hoa Lục, cho đến nay, chính sách ngoại giao Ðại Hán của Cộng Sản Trung Hoa rất nhất quán và hầu như không hề thay đổi, dù là dưới thời Mao Trạch Ðông hay Ðặng Tiểu Bình hay Hồ Cẩm Ðào trước kia hoặc Tập Cận Bình ngày nay.

Trong khi đó, cũng trong khoảng thời gian kể trên, chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đã thiếu tình liên tục và có khi còn mâu thuẫn nhau trầm trọng, dưới đời 12 vị tổng thống, là Harry Truman, Dwight Eisenhower, John Kennedy, Lyndon Johnson, Richard Nixon, Gerald Ford, Jimmy Carter, Ronald Reagan, George W.H. Bush, Bill Clinton, George W. Bush, và Barck Obama.

3. Hoa Kỳ quá tự tin vào sức thu hút của chủ nghĩa tư bản và nền tự do, dân chủ

Một lỗi lầm lớn lao nữa của Hoa Kỳ là sự thể Chú Sam quá tự tin vào sức thu hút của chủ nghĩa tư bản và nền tự do, dân chủ của thế giới bên ngoài các xã hội độc tài, đảng trị tại Cộng Sản Trung Hoa, Cộng Sản Việt Nam, Cộng Sản Bắc Hàn và Cộng Sản Cuba. Khi giới thiệu chủ nghĩa tư bản vào Trung Cộng và Việt Nam, Hoa Kỳ cứ làm như là chủ nghĩa tư bản hay ho tới độ sẽ cảm hóa được dân chúng tại đây và làm say mê Bộ Chính Trị của các đảng Cộng Sản đang cai trị tại Bắc Kinh và Hà Nội tới mức họ sẽ bỏ phăng đi đường lối cộng sản mà chạy theo chế độ tự do, dân chủ do Hoa Kỳ bày vẽ. Sự thật thì cả hai đảng Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam đều tương kế, tựu kế, cứ việc ngửa tay lấy tiền của từ “bọn tư bản” để rồi nỗ lực nuôi nấng và củng cố đảng cộng sản của mình cho ngày càng thêm bền vững.

Một ví dụ sống động là tấm gương do cựu đại sứ Mỹ tại Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Michael W. Michalak (2007-2011) để lại. Ông Michalak rất hãnh diện về nhiệm kỳ của ông ở Việt Nam, bởi lẽ chính trong thời gian này mà số du học sinh Việt Nam sang Mỹ du học đạt tới một đỉnh cao mới, với số lượng du học sinh Việt Nam tại Mỹ vào cuối nhiệm kỳ của ông tăng gấp đôi so với lúc ông vừa mới nhậm chức cách đó 4 năm. Cũng như bao chiến lược gia tài ba trên đất Mỹ, vị đại sứ cứ tin rằng hễ giáo dục được càng nhiều con em các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bao nhiêu theo lối Mỹ thì triển vọng các nhà lãnh đạo tương lai của Việt Nam từ bỏ chế độ độc tài, đảng trị hiện nay để chuyển sang chế độ tự do, dân chủ kiểu Mỹ càng tươi sáng hơn bấy nhiêu. Sự thật thì kết quả đã trái ngược hoàn toàn, bởi vì con cháu các lãnh tụ cộng sản được gởi đi du học tại Mỹ, khi nối ngôi cha ông của họ, đã không đưa đất nước đi theo chế độ tự do, dân chủ kiểu Mỹ - để chỉ có thể cai trị tối đa là 8 hay 10 năm giữa những lời phê phán và chỉ trích gay gắt trong một xã hội có tự do ngôn luận - mà họ đã ra sức trói buộc Việt Nam trong chế độ cộng sản độc tài để họ được quyền cai trị suốt đời mà không ai dám hé môi phản đối, cho dù đất nước đang có nguy cơ mất vào tay Trung Cộng nếu Việt Nam không chịu thay đổi thể chế chính trị. (7)

Tương tự như thế, đã có hằng nghìn trí thức và chuyên gia Trung Cộng, một số không nhỏ là con cháu các đảng viên gạo cội trong Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, từng du học Hoa Kỳ từ cuối thập niên 1970 tới nay, nhưng chưa hề có ai, khi leo lên tới vị trí lãnh đạo trong guồng máy cai trị của Bắc Kinh, nghĩ tới chuyện từ bỏ chế độ độc tài, độc đảng do phe cộng sản nắm giữ mà đi theo con đường đa nguyên, đa đảng để tạo cơ hội cho các đảng phái khác thay họ mà lên cầm quyền. (8)

* Thay lời kết

Trong những ngày tháng này, những người Quốc Gia của Việt Nam Cộng Hòa cũ còn ở trong nước hoặc đang ở hải ngoại sắp sửa tưởng niệm 40 năm ngày mất nước, tức tưởng niệm 40 năm biến cố Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975, một biến cố mà mới đầu ai cũng tưởng như chỉ là nỗi bất hạnh riêng của 20 triệu đồng bào Miền Nam Việt Nam nhưng không ngờ lại là nỗi đau chung của cả một dân tộc gồm 90 triệu người đang phải sống dưới một chế độ chính trị bất công, bạo tàn và tồi tệ chưa từng thấy mà đành bất lực, không có cách nào dứt bỏ đi được, cứ y như là một thứ nghiệp báo phải mang vào thân mãi tới khi nào ông Trời ngó lại và cho thoát đi thì mới dứt được kiếp lầm than, hay nói như Nguyễn Du: 

“Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời xa...”

Sau bao nhiêu tháng, năm sống cuộc đời lưu vong trên “đất khách” mà nay đã là quê hương mới của mình, người Việt tha hương có thể đã thấm thía với sự thật là hầu như cái ác đang thắng cái thiện trên khắp thế giới, chứ không riêng gì ở Việt Nam. Ðối với những ai còn vọng tưởng tới một tương lai xán lạn cho tổ quốc Việt Nam về sau, những người đó cần lưu ý ít nhất là 2 điều này:

1. Khác với trường hợp nước Nga của ông Vladimir Putin qua vụ Ukraine, đối tượng mà Hoa Kỳ và các quốc gia Liên Âu tha hồ cấm vận kinh tế và chính trị, thế giới không thể nào cấm vận hoặc trừng phạt kinh tế và chính trị để ngăn chặn tham vọng bành trướng Ðại Hán của Cộng Sản Trung Hoa, cho dù nước này có hung ác đối với các nước nhược tiểu (cỡ Tây Tạng, Tân Cương hoặc Việt Nam) đến cách mấy đi nữa và lại còn đang rình rập để chờ cơ hội thâu tóm cả Hoa Kỳ, bởi vì quyền lợi kinh tế, tức là quyền lợi vật chất, của các nước tự do, dân chủ trên thế giới - nhất là Mỹ - tại Cộng Sản Trung Hoa đã quá chằng chịt và quá lớn lao tới độ không thể dứt ra được nếu họ không muốn chính mình cũng bị “hụt ăn.”

Hơn nữa, thật khó cho các nền kinh tế hạng nhì, hạng ba của thế giới lại đi cấm vận nền kinh tế hàng đầu thế giới, một vị thế mà, chẳng sớm thì muộn, Trung Cộng sẽ giành được, bởi vì các công ty tại Mỹ và Âu Châu, vì thiếu tiền, vẫn cứ tiếp tục “bán mình” cho các nhà đầu tư Trung Cộng mà không hề biết lo cho tương lai của “tổ quốc” mình khi các kỹ thuật tân tiến do họ nắm giữ lọt vào tay một đối thủ nham hiểm. (9) Mà chừng nào Ðảng Cộng Sản Trung Hoa còn thì các Ðảng Cộng Sản Việt Nam và Bắc Hàn vẫn tồn tại, và đó là chân lý bất di, bất dịch, cho dù sông có thể cạn, núi có thể mòn. Phải biết rằng, trong cuộc giằng co, nếu có, giữa Trung Cộng và Cộng Sản Việt Nam, thời gian luôn đứng về phía Trung Cộng chứ không phải về phía Cộng Sản Việt Nam, hay nói nôm na là “hễ ai dài hơi hơn thì người đó sống.” Mà rõ ràng là Trung Cộng lúc nào cũng dài hơi hơn. (10)

2. Căn cứ vào quyết tâm không chịu rời bỏ chủ nghĩa Cộng Sản của các nhà lãnh đạo tại Hà Nội để Việt Nam có thể tách rời khỏi ảnh hưởng của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc cùng những lời tuyên bố và hành động của các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam trong và sau biến cố giàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm lãnh hải Việt Nam hồi Tháng Năm năm 2014 khi họ chỉ coi đây là “chuyện nhỏ,” nên hiểu rằng Cộng Sản Việt Nam sẽ không bao giờ ngã về phía Mỹ, Nhật Bản và Ấn Ðộ để hy vọng có thể giữ gìn độc lập và toàn vẹn lãnh thổ như mọi người ngày đêm vẫn cứ tơ tưởng. (11) Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ấn Ðộ cũng không cần phải cho tiền, tặng vũ khí cho Cộng Sản Việt Nam chống đánh Cộng Sản Trung Hoa làm chi cho uổng công và hao của.
Các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam lúc nào cũng ỡm ờ và lập lờ trong vấn đề chống hay theo Trung Cộng - phần thì nhằm đánh lừa cộng đồng quốc tế để được o bế và cho không món này, món nọ, phần thì để xoa dịu đồng bào trong nước cho bớt đi sức đòi hỏi và chống đối - dù trong bối cảnh cảnh tổ quốc lâm nguy, làm cho các nhà lãnh đạo thế giới từ Barack Obama (cùng John Kerry) cho đến Shinzo Abe và Narendra Modi phải lăng xăng, lính quýnh, và làm cho toàn thể dân tộc Việt Nam bị trị cứ phải mừng hụt hoài. Thật là: “Người khôn ăn nói nửa chừng...” đúng y như câu ca dao thâm thúy của Việt Nam tự nghìn xưa từng nói vậy.

Hiệu đính và gửi 14/01/2016
Vann Phan


______________
Ghi chú:

(1) Hoa Kỳ, và cả Nhật Bản cũng như Ấn Ðộ, đang ở trong một vị thế rất lúng túng khi muốn ngăn chặn Trung Cộng xâm chiếm toàn bộ Biển Nam Hoa, bởi vì nếu muốn làm như thế thì hai nước ở phía Tây và phía Ðông quay mặt vào vùng biển này, tức Cộng Sản Việt Nam và Phi Luật Tân, phải ở cùng chiến tuyến với họ. Trong khi đó, trên thục tế, Mỹ, Nhật và Ấn chỉ có được Phi Luật Tân, nước có một quân đội chẳng mạnh mẽ gì, là đồng minh quân sự trong khi Cộng Sản Việt Nam, từ trước tới nay, chưa hề là đồng minh của Mỹ, Nhật hay Ấn, ngoài điều may mắn duy nhất là Cộng Sản Việt Nam ngày nay đã thôi không còn coi Hoa Kỳ là “kẻ thù của nhân dân ta” nữa, mặc dù Hoa Kỳ từ trước tới nay vẫn vậy, chứ có khác gì đâu.

Tình trạng này càng làm tăng thêm giá trị vô song của Việt Nam Cộng Hòa xưa cũ đối với Hoa Kỳ và các đồng minh Á Châu-Thái Bình Dương của họ. Nhưng chính Hoa Kỳ, chứ chẳng ai khác, đã tự mình để mất đi “quân cờ” Việt Nam Cộng Hòa từ hồi 1975 đến nay rồi, giờ đây Hoa Kỳ lấy cái gì mà đánh đấm nữa trên ván bài “chuyển trục về Á Châu” (“Pivot/Rebalancing to Asia”) của mình?

(2) Không gì trớ trêu hơn là sự thể, chỉ sau hơn 2 thập niên khi Liên Bang Xô Viết và Cộng Sản Ðông Âu sụp đổ - kéo theo sự sụp đổ của “liên minh ma quỷ Nga-Hoa” và nước Nga dân chủ dưới quyền Tổng Thống Boris Yeltsin đang trên đường trở thành một “đồng minh” của Mỹ và các nước dân chủ, tự do khác, nước Nga ngày nay của Tổng Thống Vladimir Putin, với lề lối cai trị chẳng khác gì của một tổng bí thư đảng cộng sản, đang biến Hoa Kỳ trở lại thành kẻ thù của mình, đồng thời còn quyết tâm phục hồi cái “liên minh ma quỷ Nga-Hoa” trước đây - qua việc Nga chấp nhận bán khí đốt và vũ khí tối tấn - cỡ máy bay chiến đấu SU-35 và hỏa tiễn phòng không S-400 cho Trung Cộng mà không còn sợ sệt gì cho an ninh biên giới của mình nữa- để chống lại Hoa Kỳ và Âu Châu. Chiến lược “Trợ Tàu, diệt Nga” của Tổng Thống Nixon và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Kissinger nhằm đánh sụp cái “liên minh ma quỷ Nga- Hoa” nay đã trở thành công dã tràng xe cát.

(3) Hơn bất cứ nước nào khác trên thế giới, Nhật Bản, chứ không phải Cộng Sản Việt Nam, rất có nguy cơ bị Trung Cộng đánh trước nay mai vì mối thù truyền kiếp giữa 2 cường quốc Á Châu này, nhất là vì cái nhục mà nước Trung Hoa vào thời trước khi cộng sản nắm quyền tại lục địa (1949) phải hứng chịu dưới bàn tay quân phiệt Nhật, từ vụ Quân Ðội Thiên Hoàng Nhật tấn công vào Lư Cầu Kiều cho tới vụ tàn sát hằng chục nghìn dân Trung Hoa ở Nam Kinh (The Nanking Massacre) - mà thế giới vẫn ưa gọi là Vụ Cưỡng Hiếp Nam Kinh (The Rape of Nanking)- trong 2 năm 1937 và 1938.

Giới lãnh đạo Trung Cộng đã không giấu giếm ý đồ muốn rửa hận bằng một trận huyết chiến máu chảy thành sông, xương chất thành núi với Nhật Bản, chỉ ngặt một điều là Chú Sam hiện vẫn còn hùng mạnh và đang có hiệp ước an ninh chung với xứ Phù Tang nên Trung Cộng đành nghiến răng kèn kẹt mà nuốt giận. Nếu một mai Hoa Kỳ suy yếu và co cụm lại thì Nhật Bản sẽ biết tay Trung Cộng ngay.

Ngày 22 Tháng Chạp năm 2014, thông tấn xã Kyodo của Nhật loan tin Trung Cộng đang ráo riết xây dựng một căn cứ quân sự lớn ngoài khơi tỉnh Chiết Giang gần quần đảo Diaoyu Dao (Ðiếu Ngư) - mà Nhật gọi là quần đảo Senkaku- nơi Trung Cộng và Nhật Bản vẫn tranh chấp chủ quyền dằng dai. Nguồn tin thông tấn xã AFP hôm 29 Tháng Giêng năm 2015 cho hay Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc đã khởi đầu một loạt các cuộc tập tận trên bộ, trên không và trên biển nhằm “cải thiện khả năng chiến đấu” của các lực lượng võ trang của họ để giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh cục bộ (local wars).” Rõ ràng là Trung Cộng đang ráo riết chuẩn bị cho một cuộc đối đầu quân sự quyết liệt với Nhật Bản trong vùng Biển Hoa Ðông, chưa cần tính tới các nước nhỏ trong vùng Biển Nam Hoa.

(4) Một bài báo của Michelle Flor Cruz trên tờ International Business Times, ngày 29 Tháng Giêng năm 2015, cho biết Hoa Kỳ tuyên bố cần đến sự trợ giúp của các máy bay tuần thám Nhật trên Biển Nam Hoa nhằm theo dõi cuộc tranh chấp lãnh hải đang gây căng thẳng giữa Trung Cộng và các quốc gia Ðông Nam Á. Hoa Kỳ, Ấn Ðộ, Nhật Bản và các quốc gia Ðông Nam Á ngày nay càng lo lắng về chủ nghĩa bành trướng bá quyền của Trung Cộng tại Biển Nam Hoa chừng nào thì việc Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa vào tay cộng sản hồi thập niên 1970 trong thế kỷ trước càng trở nên một lỗi lầm chiến lược tày trời của Quốc Hội Hoa Kỳ thời đó.

(5) Theo tài liệu “Hải Chiến Hoàng Sa” của Wikipedia tiếng Việt, hồi năm 1970, Ðô Ðốc Elmo Zumwalt, tham mưu trưởng Hải Quân Hoa Kỳ, đã họp báo tuyên bố tại Guam rằng Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong chiến lược triển khai các hải đảo tiền đồn của Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ. Theo nhận định của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa thì đây là sự kiện trao đổi giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, và là nguy cơ cho Việt Nam Cộng Hòa trong việc bảo vệ Hoàng Sa. Nếu vậy, việc Hoa Kỳ làm ngơ cho Trung Cộng chiếm Hoàng Sa là chủ trương đã có từ lâu (1970) của (Hải Quân) Hoa Kỳ - nhằm tránh những cuộc đụng độ không cần thiết giữa lực lượng Mỹ và lực lượng các quốc gia đang lăm le tranh đoạt những hòn đảo và bãi đá thuộc Quần Ðảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó, ngoài Việt Nam Cộng Hòa, còn có Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) và Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) trong số các nước khác - chứ không phải là cuộc trao đổi quyền lợi giữa Nixon và Chu Ân Lai sau này, bởi vì chính sách “ngoại giao bóng bàn” giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng chỉ khởi sự từ hồi Tháng Tư năm 1971, và 1 năm sau đó, tức Tháng Hai năm 1972, mới diễn ra cuộc viếng thăm lịch sử (nhưng tai hại) của Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon đến Bắc Kinh.

(6) Theo Thông Tấn Xã Australian Associated Press, Edward Snowden, cựu nhân viên Cơ Quan NSA của Mỹ, đã tiết lộ với tạp chí Ðức Der Spiegel rằng Trung Cộng đã đánh cắp được bản vẽ máy bay F-35 Lightning II từ công ty Lockheed Martin, nhà thầu chế tạo phi cơ này, hồi năm 2007, rồi dùng các chi tiết lấy được đó để chế tạo ra các chiếc Chengdu J-20 và Shenyang J-31.

(7) Tại cuộc hội thảo về “Quan Hệ Việt Nam-Hoa Kỳ: 20 năm thành công hơn nữa” (“Vietnam-United States: 20 more successful years”) do Học Viện Ngoại Giao Việt Nam, Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Trị Quốc Tế của Hoa Kỳ và Ðại Học Portland của Hoa Kỳ phối hợp tổ chức ở Hà Nội vào ngày 26 Tháng Giêng năm 2015, Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Cộng Sản Việt Nam, ông Ted Osius, có tuyên bố rằng “Hoa Kỳ mong muốn giúp Việt Nam trở thành một quốc gia lớn mạnh, giàu có và độc lập.” Hai nhân vật khác cũng lạc quan không kém về mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là Murray Hiabert và Phương Nguyễn thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Trị Quốc Tế, đồng tác giả bài báo nhan đề “An Assertive China Opens the Door to Closer US-Vietnam Naval Ties,” tức “Một Nước Trung Hoa Hùng Hổ Ðưa Ðến Mối Quan Hệ Hải Quân Mỹ-Việt,” cho rằng nhờ Trung Cộng quá hung dữ nên Cộng Sản Việt Nam phải hợp tác quân sự với Hoa Kỳ.

Cũng nhờ lạc quan, hồi năm ngoái, Hoa Kỳ đã bãi bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, mở đường cho các nhà buôn vũ khí Mỹ bán ra các máy bay, chiến hạm và súng ống tân tiến cho kẻ thù cũ của mình tại Ðông Nam Á mà không chút e dè rằng đây có thể là một con dao 2 lưỡi nếu nghĩ tới các bí mật về vũ khí của Hoa Kỳ từng được sang tay cho Trung Cộng qua ngã 2 đồng minh thân thiết của Mỹ (thời Chiến Tranh Lạnh) nhưng cũng có quan hệ này nọ với Trung Cộng, là Pakistan và Ðài Loan (Trung Hoa Dân Quốc xưa).

(8) Trái với tính toán của các chiến lược gia lỗi lạc của Hoa Kỳ trong mưu đồ cung cấp một nền giáo dục siêu đẳng để thâu tóm tinh hoa quốc tế, một số không nhỏ các khoa học gia ưu hạng gốc Trung Hoa, từng được đào tạo chuyên môn hoàn hảo tại các học viện kỹ thuật lừng lẫy của Hoa Kỳ, đã chọn con đường về nước cũ để phục vụ nhằm sớm đưa đất nước họ tiến lên địa vị siêu cường trên thế giới, bởi vì, bên trong mỗi một người Trung Hoa, luôn tiềm ẩn giấc mộng Ðại Hán, coi Trung Hoa là trung tâm hội tụ những gì là tinh hoa của thế giới.

Việc các khoa học gia Mỹ gốc Trung Quốc ưa đánh cắp các bí mật của Mỹ trong lãnh vực kinh tế (trường hợp ông Kexue Huang hồi năm 2011) và quân sự (trường hợp của kỹ sư Chi Mak hồi năm 2005) để trao cho Trung Cộng và sự thể một số tướng lãnh đồng minh Ðài Loan của Mỹ đánh cắp bí mật quân sự và vũ khí rồi giao cho Trung Cộng (trường hợp các Tướng La Hiền Triết hồi năm 2011 và Hứa Nãi Quyền hồi năm 2015) đã chứng minh rằng người Trung Hoa có tinh thần dân tộc (Ðại Hán) cao hơn bất cứ giống người nào khác trên thế giới.

(9) Từ đầu thế kỷ 21 tới nay, Hoa Kỳ luôn tránh né chuyện đụng độ với Trung Cộng vì quyền lợi kinh tế chằng chịt của các tập đoàn tư bản Mỹ (chuyên giật dây các nhà lãnh đạo ở Washington) cũng có mà vì tâm lý “dại gì lại đem chén kiểu đổi chén sành” cũng có.

Hồi Tháng Tư năm 2001, lúc Tổng Thống George W. Bush mới lên cầm quyền, vị tổng thống thuộc loại “cao-bồi Texas” này cũng không dám dùng hải và không quân phong tỏa đảo Hải Nam (như người ta cứ tưởng thế) để lấy lại chiếc máy bay thám thính đã bị Trung Cộng cưỡng ép hạ cánh xuống đảo này vì bị coi là đã xâm phạm không phận Trung Cộng trong một chuyến bay do thám. Trung Cộng bắt được chiếc phi cơ đó, một chiếc EP-3E ARIES II, và đã lấy đi nhiều bí mật quân sự cũng như tháo gỡ một số máy móc kỹ thuật trên chiếc phi cơ trước khi đem trả “cái xác không hồn” này về cho Mỹ.

Cũng thế, trong vụ Iran tịch thu chiếc máy bay drone của Hoa Kỳ, một chiếc RQ-170 Sentinel, lạc đường bay qua biên giới nước này, hồi Tháng Chạp năm 2011, thời Tổng Thống Barack Obama, Mỹ đâu có dám hành quân lấy lại chiếc máy bay này. Iran đã kéo chiếc máy bay đó về một nơi thanh vắng và mời các chuyên gia quân sự háo hức của Nga và Trung Cộng đến phanh thây, xẻ thịt chiếc máy bay để ăn cắp kỹ thuật, rồi mỗi nước từ đó chế tạo ra những chiếc drone giống hệt như chiếc máy bay đáng thương đó của Mỹ.
Giới lãnh đạo đa mưu, túc trí Bắc Kinh, chứ không phải Mạc Tư Khoa, đã ngồi quan sát rất kỹ phản ứng của Hoa Kỳ qua 2 vụ này để có thể đi các nước cờ kế tiếp. Các quốc gia Trung Cộng, Nga và Iran - không chừng còn có cả Bắc Hàn nữa - những kẻ ưa thách thức Hoa Kỳ, đều bắt mạch thấy Hoa Kỳ bây giờ cũng vẫn chỉ là một “con cọp giấy,” coi bộ còn tệ hơn thời Chiến Tranh Lạnh ngày nào nữa, bởi vì ngày nay quyền lợi to lớn của các đại công ty Mỹ luôn trói tay các chính quyền liên tiếp ở Washington không cho đụng tới Trung Cộng, trong khi các khoản chiến phí khổng lồ lại làm cho Mỹ phải nghĩ đi, nghĩ lại, nếu không nói là ngán ngẩm, trước viễn tượng phải lâm chiến với các nước khác như Nga hoặc Iran hoặc Bắc Hàn.

(10) Ðiều mỉa mai là sự tồn tại của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam chỉ dựa vào cái “không biết” và cái “biết” của chính người dân Việt Nam. Trước năm 1975, vì “không biết” chủ nghĩa Cộng Sản là tồi tệ, đa số dân chúng ở Việt Nam - kéo theo giới phản chiến tại Mỹ và các nước Âu Châu - đã đi theo hoặc hùa theo Cộng Sản để dẫn đến chiến thắng cuối cùng của họ tại Miền Nam Tự Do vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975.

Sau năm 1975, chính vì “biết” rằng Cộng Sản Việt Nam sẽ tồn tại lâu dài nếu họ cứ bám riết theo đàn anh Trung Cộng, một số người Việt Nam, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, bằng cách này hay cách khác, vẫn tiếp tục ủng hộ chính quyền Hà Nội. Tuy nhiên, điều này sẽ không còn đứng vững được nữa một khi nền kinh tế Trung Cộng sụp đổ - kéo theo xuống vực sâu giấc mộng tranh bá, đồ vương của Trung Cộng - theo như sự tính toán của một số kinh tế gia quốc tế hiện nay.

(11) Nếu Cộng Sản Việt Nam chịu từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản để đi theo con đường dân chủ đa nguyên, đa đảng thì Việt Nam sẽ không cần gì đến Trung Cộng. Nhưng nếu Cộng Sản Việt Nam vẫn cứ khư khư giữ lấy chế độ độc tài, đảng trị Cộng Sản (như họ đang làm hiện nay) thì đương nhiên là họ phải bám riết theo Trung Cộng để được che chở mà sống còn, thay vì chạy theo Mỹ để rồi cứ bị siêu cường này áp lực phải chuyển sang con đường tự do, dân chủ phóng khoáng mà họ cho là hay nhất (như họ đã từng làm đối với Miền Nam Việt Nam thời Ðệ Nhất Cộng Hòa dưới quyền của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, để rồi Việt Nam Cộng Hòa suy yếu rồi mất luôn vào tay Cộng Sản).

Blog Archive