Showing posts with label Trương Ngọc Anh. Show all posts
Showing posts with label Trương Ngọc Anh. Show all posts

Tuesday, July 12, 2022

Chuyện Trong Khu Thử Y Phục Nữ

Khi mua sắm quần áo vào mùa lễ, quí vị phụ nữ có khó tánh giống tôi? Mỗi món đồ lựa chọn thật kỹ lưỡng và phải thử trước, ngắm sau thật vừa ý mới ưng mua, như vậy đỡ cái nạn về nhà bận không vừa phải mất công đem đổi.

Nhớ lần đó, tôi ghé một tiệm bán quần áo rất lớn, thuộc loại tiệm vừa túi tiền, dĩ nhiên phải tìm kiếm thật lâu, đẩy từng cái móc áo móc quần, lật nhãn coi size, trước khi lấy ra, xong tà tà ôm đống quần áo còn thơm phức mùi vải mới vào phòng thử đồ, chọn một phòng trống để thử từng cái cho thật thỏa lòng.

Nhân chuyện thử đồ, tôi xin kể hầu quí vị VVNM một câu chuyện bất ngờ, xảy ra trong khu vực thử quần áo phụ nữ.

Hôm đó, tiệm hơi vắng khách. Tôi chọn được vài chiếc áo đầm hè thật xinh, vì bán trái mùa nên giá rất vừa túi tiền. Ôm vô phòng thử, sau khi nhân viên phụ trách khu vực thử đồ kiểm soát xong, đưa cho tôi miếng thẻ nhựa nhỏ, ghi số bao nhiêu áo quần.

Đang đi trong hành lang của phòng thử quần áo có đèn đuốc sáng trưng nhưng vắng vẻ, chỉ thấy bóng một cô gái tóc dài đang ngắm nghía trước ba tấm kiếng nhìn đủ ba chiều. Khuôn mặt, dáng vẻ là người Á Đông, rất xinh đẹp, tóc mây dài, thân hình tròn trịa, làn da ngâm ngâm màu bánh mật nhìn rất mịn màng. Cô ta đang uốn éo trong chiếc aó đầm hè, thấy tôi vào, cô chận, vén tóc lên, đưa lưng nhờ kéo dây kéo phía sau lên dùm. Đây là chuyện bình thường trong khu vực thử quần áo phụ nữ, vì có nhiều kiểu đầm bó sát, xệ lưng, dây kéo hơi khó kéo tuốt lên trên, phải cần người giúp. Hành lang chỗ thử đồ hẹp té, cô ta lại đứng chàng ràng ngay giữa, mình đụng mặt thì phải cười một cái, do đó cô nhờ kéo dây lưng thì mình cũng làm dùm chớ có gì mà từ chối. Trong lúc kéo dây kéo lên, tôi thấy trên lưng trần của cô ta có hình xâm khỏa thân phần trên một cô gái tóc dài, cài cái hoa sứ đỏ Hawaii trên vành tai, nhìn thì biết ngay là cô.

Tôi khen:
- Hình xâm là cô hả, đẹp lắm.

Cô ta cười, bảo tôi kéo dây kéo xuống hết thì thấy nguyên hình xâm. Tôi có hơi tò mò, vả lại nghĩ rằng cùng là phụ nữ với nhau, có gì đâu mà mắc cỡ lôi thôi, muốn nhìn thấy toàn thể hình coi sao ...thì ...trời thần ơi muốn bỏ chạy ...vì nửa thân dưới hình xâm là lồ lộ ...đàn ông khỏa thân!

Đập ngay vào mắt!

Tôi giật mình, nhưng ráng bình tĩnh kéo dây kéo lên đàng hoàng cho cô ta, khen hình đẹp lắm, rồi bỏ đi một nước!

Đôi mắt cô ta nhìn tôi sáng rở, rõ ràng là cô dụng ý dụ cho tôi nhìn thấy hình xâm đó!

Các bạn thử nghĩ về trường hợp nầy mà xem, người đứng thử quần áo trong khu dành cho phụ nữ, mà có cái hình kỳ cục như vậy?

Lúc đó tôi có cảm giác hơi sợ, ngó quanh hành lang có cả chục phòng thử đồ mà vắng tanh, chỉ có mình tôi và cô ta! Vì sợ nên có nghĩ rằng mình có thể thưa với người manager là khách hàng nầy không được vào phòng thử quần áo của phụ nữ. Rồi lại nghĩ, chỉ là cái hình xâm trên người thôi mà. Đành nhịn.

Về nhà vẫn còn ấm ức, tôi lên mạng internet đưa câu chuyện ra mấy người bạn, hỏi thử xem nếu có ai gặp phải trường hợp nầy, sẽ phản ứng ra sao?

Một người bạn cho ý kiến

-Nếu em là manager... chị tới nói như vậy thì em nói thế nào hè...

Phòng này là cho Women, nếu she women, thì she xài được, còn chuyện tattoo, cái đó trên body her, làm gì được hè. Không biết em nói có đúng không. Nói chứ, tụi ở đây, sao thích xâm mình quá huh, chưa kể tới chuyện đau, mà còn có cơ hội để nhiễm bịnh AIDS (HIV) nữa.

Tôi biết những người đã có xâm hình trên thân thể thì không được hiến máu, dù cho họ có tình nguyện. Có thể là vì người ta sợ vụ lây nhiểm bịnh HIV như người bạn vừa nói, nếu người xâm đã dùng kim đó cho người bị nhiễm trùng? Nhiều chỗ xâm nói chỉ xài kim cho một người, nhưng lấy gì bảo đảm?

Một cô bạn gái khác hỏi cho kỹ lại, tánh cô vốn tỉ mỉ:

-Nói chính xác... cô ta có thể là "đàn ông qua giải phẫu chuyển hệ thành đàn bà" phải không chị? Nhiều cuộc giải phẫu chuyển hệ cho nam thì có thay đổi giới tính, nhưng có người chỉ độn ngực, không chuyển đổi phần giới tính, có thể bởi vì nhiều lý do, lý do tài chính là chính.

-Theo tôi nghĩ thì vậy. Cái hình xâm trên lưng cô ta lạ quá, chuyện nầy xẩy ra mới đây thôi hà. Hiện nay phong trào xâm hình trên thân thể là chuyện rất bình thường. Người ta xâm hình thì thường xâm bông hoa chim bướm, nhìn thấy đẹp mắt, đàn ông có người thích xâm hình thú hung dữ chớ có ai là phụ nữ mà xâm hình lõa thể bán nam bán nữ kỳ vậy nà?!.
 
Một anh bạn khác kể thêm:

- Hôm cuốí tuần tôi với bà xã đi ăn ở một nhà hàng. Vì nhà hàng bán thức ăn theo lối "buffet, all you can eat steak" nên ăn uống tự do thả cửa mờ. Steak họ nướng rất ngon ngoài ra còn có bake salmon, gà tây, pot-roasted, tôm...rất nhiều món ăn phụ nên thiên hạ vào đây đa số là "thể thao gia" cho bắp thịt bụng. Hihihi nhìn những "shumo" hai tay bưng bốn đĩa vừa đi vừa ca "...lối xưa anh về, hành lang chật quá..." thì các bạn tưởng tượng được thức ăn ngon đến cỡ nào hen. Tôi cũng trên bước đường nhập họ "shumo".

Huuummm!!! Bữa đó thấy một chàng còn trẻ nhưng đeo một cái khoen hình móng ngựa ngay trên mũi, cái khoen đó vòng từ lỗ mũi này sang lỗ mũi bên kia và ở hai đầu là hai hòn bi bự cở cái đầu đũa. Hình ảnh người đàn ông với cái khoen trên mũi lạ quá! Chưa hết! Lại thêm một cặp chị gái ngồi ăn ở bàn đối diện với chúng tôi lâu lâu lại nhìn nhau cười cười rùi "kiss...kiss..." Má ui!

Câu chuyện kể của anh bạn làm tôi nhớ lại cô ta có vẻ rất khoái, khi để tôi nhìn thấy hình xâm kỳ cục đó. Vấn đề những người gặp trường hợp cần phải cải giống, cũng không có gì chê trách cả, nhưng chuyện không đẹp là họ muốn khoe cho người khác nhìn thấy, hay biết rằng họ là vậy, mới đáng nói.

Bạn khác góp ý:

-Có thể trong số những người muốn chuyển đổi giới tính, có một số người tâm lý không bình thường. Điểm chung khá phổ biến ở họ là họ luôn muốn "phô trương" và "thi đua" với người thuộc phái tính mà họ muốn chuyển đổi thành. Tôi nói chỉ một số thôi, không vơ đũa cả nắm. Lý do là có những trường hợp mà xem là dị tật lúc bé, hoặc tình trạng đặc biệt cần phải xét nghiệm và theo dõi tâm lý để đi đến quyết định cho người đó thuộc về giới tính nào cho phù hợp giữa sinh lý và tâm lý. Trường hợp chuyển đổi cho đúng giới tính theo đúng tâm lý và trị liệu dị tật thì những người này họ không có biểu hiệu kỳ quái.

Quá trình phẫu thuật chuyển đổi giới tính, tôi cũng từng đọc qua. Những người chuyển đổi giới tính rất đau đớn lúc giải phẩu vì không được gây mê và sau khi phẫu thuật họ phải dùng thuốc bổ xung kích thích tố (hormone). Tác dụng phụ của việc bổ xung để thay đổi giới tính có cho nhiều hung hiểm, là nguyên nhân của nhiều chứng bệnh nguy hiểm bao gồm cả cancer và đột tử. Theo thống kê mà tôi từng đọc qua thì thấy tội nghiệp họ lắm, tuổi thọ bị giảm từ 15 - 20 năm là ít, ngoài ra tâm lý, tánh khí cũng bất thường. Họ có thể cảm nhận ra được sự bất thường nhưng họ không thể tự chủ, kết quả thường dễ bị trầm cảm và đi đến tự sát rất nhiều.

Vài cô bạn khác cho ý kiến:

- Sự tự do giới tính bây giờ là chuyện bình thường, ai muốn làm đàn ông đàn bà thì cứ làm, không nên phê bình, mình sống thì để người khác sống. Trong sở làm của tôi cũng có một người gay, mà là người rất tốt.

- Hồi xưa em có cô bạn là lesbian. Vì là bạn nên em không thấy có sự khác biệt, cũng không để ý chuyện nầy nữa, mà còn mong nó có được người thương. Nhỏ bạn nầy tội nghiệp lắm, lúc học chung nó rất cô đon, con trai thì lánh xa, còn đám con gái thì không dám chơi với nó, chắc sợ mang tiếng lesbian? Còn người chuyển hệ thì em chưa gặp, nên không có ý kiến gì. Với lại theo em nghĩ chuyện đó cũng tốt thôi, nếu họ muốn có đời sống dễ chịu hơn. Mấy năm trước trên báo chí tin tức có nói vụ cậu nhỏ gay, thích mặc đồ con gái, lúc đi party quen với một người bạn trai. Lúc người bạn trai khám phá người bạn mình tưởng là gái chính thật con trai, nó đã set up giết cậu gay một cách rất thảm khốc. Đọc bài nầy em khóc nhiều. Nó đâu muốn vậy, nó chỉ muốn có bạn trai như mọi người thôi, sao giết nó tàn nhẫn? Có điều em nhận ra là lúc đầu chắc vì sợ người ta biết nên họ thường cố gắng che dấu, nhưng tới lúc bạn bè biết rõ ra thì nhận thấy đây là những ngườì bạn tốt nhất trong số các bạn.

Chuyện tôi gặp thì đúng là người nầy không được bình thường về tâm lý. Hay là họ muốn thử xem người bình thường sẽ phản ứng ra sao khi nhìn thấy họ như vậy ?

Thử nhắm vào tôi là người chết nhát, thì tôi chỉ có thể bỏ đi mà thôi, tuy rằng vẫn đủ bình tỉnh mà không tỏ vẻ ghê sợ gì cả, còn khen hình đẹp nữa mà, phản ứng tự nhiên nên giựt mình vì nghĩ ngay trong đầu mình rằng ...đây là đàn ông, trong phòng thử đồ của phụ nữ! mà chung quanh tôi lúc đó vắng tanh chỉ có mình tôi và cô ta, một người lạ hơi bất thường.

Tôi nhớ năm ngoái, dịp cộng đồng người Việt nam tại Tiểu Saigon tổ chức diễn hành mừng Tết âm lịch, nghe nói có một số đoàn thể rút lui phần diễn hành của họ, vì lý do ban tổ chức đã nhận cho một nhóm người đồng tính diễn hành. Câu chuyện nầy cũng đã gây một số dư luận, kẻ lên án chống đối, người bảo ai cũng là con người bình đẵng như nhau. Riêng cá nhân tôi không chống đối những người nầy. Họ có quyền làm người và bình đẳng như tất cả mọi người. Nếu họ có sự khác biệt cũng không phải tự họ mong muốn mà họ sanh ra như vậy.

Một băng rôn của những người đồng tính diễn hành có câu nầy: "chúng tôi thương yêu nhau 17 năm, còn bạn thì sao?".

Tôi cũng đã xem qua nhiều tài liệu, ngay cả phim ảnh trên YouTube về vấn đề đổỉ giống nói trên, và lòng rất là cảm thương cho họ. Theo tôi nghĩ những người nầy đáng thương vì họ đâu muốn sanh ra như vậy. Thử nghĩ nếu tôi có một đứa con hay cháu trong gia đình không bình thường như người khác, tôi cũng sẽ hết mực yêu thưong và không coi việc đó là quan trọng tới phải tạo ra sự khác biệt trong cách cư xử. Chuyện tôi đã gặp có gây sự bất ngờ nhưng tôi vẫn giữ đủ bình tỉnh để không xẫy ra chuyện gì đáng tiếc. Nghĩ lại chắc cô ta chỉ muốn chia sẻ hình xâm chứ không có ý gì khác.

Thế giới bao la, và rất nhiều những chuyện ngoài tầm tay nhân loại. Những sửa chữa hư tổn nhờ vào bàn tay y học giúp rất nhiều người bị dị tật. Khoa học càng ngày càng tiến bộ, hy vọng sẽ khôi phục lại được những bất thường và mang lại đời sống bình thường cho những trường hợp ngoài mong muốn. Nhiều người vẫn chưa chấp nhận chuyện nầy nên môĩ tiểu bang mới ra những luật để bảo vệ quyền bình đẳng của con người, vì ai cũng được quyền sống theo ý mình.

Lần sau trong phòng thử đồ nếu có cô gái đẹp như tiên nào nhờ kéo dây kéo mà có hình xâm như vậy, không chừng tôi sẽ hỏi "ai xâm cho cô mà đẹp sắc sảo linh động vậy?

Một hình xâm thật là ngộ dễ gì được thấy lần thứ hai.

Ngọc Anh

Wednesday, May 19, 2021

Một Mảnh Đời

19/05/2021
Trương Ngọc Anh

Vậy mà không hiểu tại sao, hồ sơ bảo lãnh của má cũng đi trót lọt, và bây giờ tui đang ở Mỹ. Mấy người kia họ nói “Người ta được đi Mỹ thì cười, còn mầy được đi Mỹ sao mầy lại khóc?"

***
Tui thích uống trà vào buổi tối. Loại trà Móc Câu hương thơm tinh khiết tới nỗi phải chờ hơn tiếng đồng hồ sau bữa ăn, khi miệng không còn mùi đồ ăn nữa, mới thưởng thức mùi hương nhẹ nhàng của sen ướp trong trà.

Trà tui pha trong chiếc ly cao, hình dáng thanh mảnh, có vẽ những bông thược dược màu xanh, xòe những cánh cũng mỏng manh. Những cánh bông úp vào nhau như thì thầm trò chuyện, những cánh cong xòe ra ngoài như vẫy tay chào. Cũng có những búp non ửng màu hồng của bình minh rất tươi. Bên trong ly là một cái ly nhỏ, có những lỗ tròn, để đựng trà, với cái nắp cũng vẽ bông hoa rất ngộ.

Tui uống trà khó tánh. Nước phải thật sôi, tráng tách trước cho nóng, chế nửa ly nước sôi, rồi mới bỏ một nhúm trà vô ly nhỏ, đậy nắp để giữ nóng. Trà tui thích pha vừa vừa, không quá đậm, cũng không quá lợt. Vì vậy tui phải canh chừng, không để trà ngâm lâu hơn một phút. Nhiều người nói trà phải uống đậm mới ngon, vị ngon của trà từ vị đắng và vị chát để lại trên đầu lưỡi. Tui không thích vị đắng, đặc biệt với loại trà Móc Câu này, pha đậm quá sẽ mất đi mùi hương rất đỗi dịu dàng của sen ướp trong lá trà.

Tui quen sống cô độc từ thuở nhỏ, có lẽ vì thiếu tình thương của Ba và Má.

Nói thiếu tình thương cũng không thực sự đúng, Tui vẫn có rất nhiều tình thương từ ông bà Ngoại, và bà con họ hàng từ hai bên Nội, Ngoại.

Ông bà Ngoại nuôi tui từ khi mới đẻ. Mới một tháng là Má đã mang tôi về nhà Ngoại, để cho Ngoại nuôi, để Má theo Ba đi tùm lum chỗ nào ai mà biết. Hồi đó Ba làm lính đánh giặc.

Tui chưa thấy ai thương chồng tới nỗi bỏ con cái mình như Má tui.

Mà có phải Má bỏ chỉ một mình tui đâu. Má bỏ cả bầy sáu đứa con.

Khi Bà Ngoại mất, tui đau lòng lắm. Má với Ba ở Mỹ về thọ tang. Lúc đó tui cũng đã hơn ba mươi tuổi, chớ có còn nhỏ nhít gì đâu. Nhưng từ thuở 5, 6 tuổi, tui đã bị mang tiếng “con khùng” nên lớn lên, rồi già chát, cái đầu có lưa thưa tóc bạc của tui vẫn nhỏ xíu như thuở mới 10 tuổi thôi hà. Tui nhớ hôm đó tui khóc nhiều, thương Ngoại, nghĩ tới nỗi cô độc khi trên đời không còn Ngoại để thương “con khùng”.

Má về, đòi đem tui đi qua Mỹ ở với Má và Ba, vì Ngoại chết rồi, không ai lo cho tui.

Tui đâu cần ai lo, từ nhỏ tui chỉ biết có Ngoại thôi mà.

Tui khóc, kể lể: “Má đâu có nuôi con, má đâu có thương con, chỉ có Ngoại thương con thôi”.

Má nói Má không nuôi nhưng má vẫn gởi tiền về đầy đủ cho Ngoại lo mà.

Má hiểu làm sao khi “con khùng” suy nghĩ, tiền của Má gởi về đâu có mang tình thương của Má về cho con cái. Đẻ đứa nào, má quăng đứa đó cho Ngoại nuôi. Chị tui vừa mới sanh hai tuần, Má đã giao Ngoại, để đi theo Ba.

Ngoại nhận lãnh đứa cháu đỏ hỏn non nớt như cọng cỏ non dưới ánh mặt trời. Rồi Má đẻ tui, Má cũng thảy cho Ngoại, rồi đi mất tiêu.

Hồi 3, 4 tuổi gì đó, Ngoại kể, tui thường xuyên bị nhức đầu. Tối ngày hở ra là tui ôm đầu khóc:

“Ngoại ơi, đầu con đau”. Tui khóc nhiều lắm, ngủ không được, Ngoại nói.

Khi cậu Mười lo lắng, nhắc với Ngoại đem tui đi bác sĩ thì đã hơi muộn. Bác sĩ khám phá tui bị bịnh đau màng óc. Ngoại phải đem tui vô nhà thương để mổ, đầu tui bị cạo trọc lóc.

Nhưng vì tui nhỏ quá, nhà thương không dám mổ. Họ cho thuốc để trị.

May sao, tui bớt lần. Nhưng có cái gì đó không ổn trong bộ óc nhỏ xíu.

Tui không thích đi học.

Vô lớp, tui không thể nào tập trung vào những chữ Thầy Cô dạy. Đám bạn bè độc ác bắt đầu gọi tui là “con khùng”.

Tui trốn học, lang thang cho tới giờ tan trường mới đi về nhà. Tui sợ tụi nó quá.

Khi Ngoại biết thì Ngoại không cho tui đi học nữa vì sợ bạn bè chọc làm tui buồn. Từ đó trở đi tui không biết chữ, mà cũng không cần biết chữ, vì đi học cứ bị kêu “con khùng” hoài làm sao ưa.

Tui thù trường học từ đó.

Ngoại tui cứ phải qua nhà hàng xóm mắng vốn ba má tụi nó:

“Nó khùng mà nó có qua nhà mầy ngồi trên bàn thờ nhà mầy không? Nó khùng mà nó có đốt nhà mầy không?"

Đó là những lời Ngoại kể, chớ tui có nhớ gì đâu.

Càng ngày tui càng sợ những đứa hàng xóm cùng tuổi. Với lại, tụi nó cũng không thèm chơi với “con khùng”. Rồi má sanh thêm em kế, rồi em kế, rồi em kế nữa. Má cũng thảy con cho Ngoại nuôi. Sáu đứa, Ngoại chăn không nổi. Ngoại đâu rượt nổi bầy cháu phá phách, mỗi năm Ngoại mỗi già. Vậy là Ngoại đem ba đứa em tôi sang nhờ bà Nội tiếp nuôi dưỡng mấy cháu. Chị em lại phải chia hai, xa cách nhau.

Nhà Ngoại khá giả, nên ăn uống thoải mái. Ở nhà Ngoại, bữa ăn nào cũng thừa mứa cơm canh, đồ ăn.

Lâu lâu tui cũng được Ngoại đưa qua thăm Nội vài ngày, để chị em gặp nhau. Tui không thích nhà Nội như nhà Ngoại. Mỗi lần tới chơi tui hay bị đói vì nhà Nội cũng giàu mà sao bữa ăn Nội dọn ra mỗi món ăn đều có chút xíu, trong những chén dĩa cũng nhỏ xíu. Tui không dám gắp đồ ăn, cũng không dám bới cơm. Gia đình Nội người Huế. Sau này lớn lên tui mới biết đó là cách sống trưởng giả của người Huế. Tui không thương Nội nhiều như thương Ngoại vì ít gần gũi.

Má tui chắc không bao giờ nghe những lời Ngoại tui nói “Con không có cha có mẹ ở gần, ai cũng chửi mắng, cũng ăn hiếp được”.

Chắc tui thành “con khùng” cũng vì bị tụi con nít hàng xóm chế giễu.

Ngoại thương tui lắm. Cứ nhớ tới Ngoại là tui khóc không ngăn được. Không có tình thương của bà Ngoại với ông Ngoại, chắc tui không phải là “con khùng” mà tui đã chết từ lâu rồi. Má làm sao hiểu, tui thèm khát hai tiếng “Má ơi”.

Hồi đó Má với Ba đã qua Mỹ sống rồi.

Ngoại chết, tui sống bơ vơ với mấy Chú Thím và ông Ngoại. Dù Chú Thím thương yêu đùm bọc, dù còn có ông Ngoại, tui cũng buồn lắm. Chị với mấy đứa em tui lớn lên, lấy vợ lấy chồng. Ở chung với em trai một lúc, tui bị vợ nó ăn hiếp, chắc tại nó thấy tui “khùng”!

Có bữa tui đi chơi vòng vòng về trễ, vợ nó liệng chén đá bát. Thôi thì tui mua cái nồi nhỏ, mỗi ngày tự đi chợ nấu cơm nấu canh ăn một mình để khỏi làm phiền ai. Mười năm sau đó Má về Việt Nam hoàn tất giấy tờ để đem tui qua Mỹ.

Tui không muốn đi chút nào.

Ở Việt Nam, tui còn có ông Ngoại. Ông Ngoại già lắm rồi. Dù mấy đứa cháu tui cũng chăm lo cho Ngoại, nhưng biết có lo đầy đủ không? Tui vẫn nấu cơm nước cho Ngoại mỗi ngày từ khi bà Ngoại mất. Ông Ngoại già yếu lắm rồi, đi phải chống gậy, tai không nghe rõ nữa.

Năm nay tui bốn mươi lăm tuổi, nghe chị tui nhắc chớ tui đâu biết đếm số gì đâu. Trong gia đình, chị em ai cũng thương tui vì biết tui bịnh mà.

Chị tui đã có hai đứa con vô đại học rồi, em kế tui cũng đã có ba đứa con, em trai em gái đều đã có vợ có chồng, chỉ còn có tui vẫn là “con khùng”.

Ngày Má từ Mỹ về, dắt tui đi phỏng vấn, tui mong sao giấy tờ bị xù, để tui được ở lại với ông Ngoại. Tui trả lời rất khùng như họ hỏi thủ đô của nước Việt Nam tên là gì, tui trả lời là Sài Gòn, họ hỏi thủ đô nước Mỹ là gì, tui nói: “Tui hỏng biết, làm sao tui biết khi tui chưa ở Mỹ? Mà thủ đô là cái gì?" Họ tách rời Má với tui khi phỏng vấn nên tui tha hồ quậy hồ sơ. Khi họ hỏi 100 đồng trừ 3 đồng thì còn lại là bao nhiêu, tôi lẩm nhẩm, rồi trả lời “Tui hỏng biết”.

Họ gởi tui qua bịnh viện Chợ Quán để khám, lý do trí thông minh của tui không được bình thường. Đi Chợ Quán thì đi, tui đâu có muốn đi Mỹ. Ở Chợ Quán họ cũng quay tui hầm bà lằng sắn cấu. Họ hỏi tới biên giới nước Thái nước Miên gì gì đó nữa, tui chớ có biết, nhưng khi họ hỏi một đồng tiền đô la Mỹ bằng bao nhiêu đồng tiền Việt Nam thì tui sùng lắm, trả lời bằng một bao bố tiền Việt chớ nhiêu.

Vậy mà không hiểu tại sao, hồ sơ bảo lãnh của má cũng đi trót lọt, và bây giờ tui đang ở Mỹ. Mấy người kia họ nói “Người ta được đi Mỹ thì cười, còn mầy được đi Mỹ sao mầy lại khóc?"

Tui nhớ Ngoại quá, nhớ ông Ngoại còn sống lẫn bà Ngoại đã mất.

Bây giờ tui đang sống với Ba Má, có đầy đủ tình thương tui đã từng thèm thuồng ao ước từ hồi còn nhỏ, mà sao tui cứ khóc hoài.

Ở đây buồn quá hà. Tui muốn trở về Việt Nam, nơi đó tui còn có ông Ngoại để nấu cơm cho Ngoại ăn, tui còn được đốt cây nhang trên mả bà Ngoại, tui còn được chạy lên, chạy xuống chỗ này chỗ kia. Ở đó tui không đi lạc, còn ở đây tui như ở trong nhà tù.

Lâu lâu tui gọi điện thoại về Việt Nam để nói chuyện với ông Ngoại. Ngoại ưa hỏi:

”Con vui không, ở với ba má sướng quá hả con?”

Tui nói “Dạ, con vui lắm, Ngoại.”

Tui nói vậy trong điện thoại, nhưng nước mắt chảy ròng ròng, Ngoại đâu có thấy.

Tui nhớ bà Ngoại quá trời. Nhớ hồi đó Ngoại cứ kể đi kể lại nhiều chuyện hồi nhỏ, để tui đừng có quên, vì Ngoại nói dây thần kinh của tui bị yếu, sợ ngày nào đó tui không nhớ tui là ai….

Ngoại kể lúc tui còn nhỏ ưa bịnh lắm. Sau khi chữa xong bịnh đau màng óc, tui yếu lắm. Cả nửa người bên phải của tui gần như bị liệt, cầm cái gì rớt bể cái đó. Ngoại đã đút cho tui từng muỗng cơm, tắm rửa cho tới khi tui 12 tuổi. Tới giờ hai bàn tay của tui cũng bên nhỏ bên lớn, chân tui đi cũng còn hơi cà lết, nửa bên đít cũng hơi teo. Tui chỉ mới biết cầm đũa ăn một mình khoảng từ mười năm nay thôi. Tại lớn rồi, hỏng lẽ đi đâu chơi, có ăn uống, mà không biết cầm đũa ăn sợ người ta cười.

Tui cũng có vài bạn lúc còn nhỏ, mấy đứa hàng xóm đó. Tụi nó đi đâu có rủ tui đi theo cũng cực lắm vì tui ngồi hay bị té. Chắc cái gì đó trục trặc trong đầu nên tui không ngồi vững được. Tay chân tui có nhiều vết sẹo vì té ngã. Nhiều khi bị té chảy máu, tui chun lên lầu trốn Ngoại. Ngoại thương, không bao giờ đánh đòn. Khi tui lì quá, phá phách quá, hay nhõng nhẽo quá, Ngoại réo ông Ngoại “Nó lì quá, ông oánh nó vài roi cho tui”.

Vậy mà khi nghe tiếng tôi ré lên khóc là Ngoại quính quáng chạy ra la: “Sao ông oánh nó?”

Ông Ngoại lắc đầu: ”Thì bà biểu …”

Lớn lên, từ từ bạn bè tui đều xa lánh.

Cũng phải mà, đứa có chồng, đứa đi học, đi làm ăn xa, đi xuất ngoại. Chỉ có tui là không ai thèm cưới. Bi giờ tui chỉ có mấy bà bạn già năm, sáu chục tuổi. Hồi Ngoại còn sống, Ngoại cũng ưa nói với tui: "Thôi con, lấy chồng làm chi, cực khổ lắm!" Tui nghĩ chắc Ngoại nói đúng, tui không thích lấy chồng đâu, sống như vầy sướng hơn.

Ở đây tui buồn quá!

Má gởi tui theo học chương trình của những người lớn có bịnh chậm phát triển.

Má không dám cho tui về Việt Nam chơi, chắc Má sợ tui “đào ngũ” luôn. Hôm nào tui nói chuyện với ông Ngoại, xong điện thoại, tui ưa nằm khóc vì nhớ Ngoại.

Bà Ngoại chết đã mười năm rồi.

Ngày chôn bà Ngoại, ông Ngoại đòi làm hai bia mộ, một cái cho Bà, một cái cho Ông, đặt kề bên. Phải chừa một lỗ nhỏ, vừa đủ chỗ để chôn cái bình tro của ông Ngoại khi Ông chết; thiêu xác, phải chôn bình tro này sát bên cái hòm của bà Ngoại.

Tui nhớ hồi bà Ngoại còn sống, bà ưa nói với ông “Tui muốn chết trước ông, để ông coi sóc mồ mả của tui”.

Bà chết, Ông cũng như héo hắt chết theo.

Không có tui, ai lo cơm nước cho Ngoại bằng tui! Tui cũng biết đi chợ, biết nấu cơm mà. Mấy đứa cháu nó ham vui, có nhớ gì tới ông Ngoại già không. Tui lại khóc.

Mai mốt rành đường đi nước bước, tui sẽ mua vé máy bay, bay về với ông Ngoại.

Tui nghĩ là tôi sẽ làm, Má chờ coi, Má đừng hòng nhốt tui như nhốt tù.

Sao Má không cứ sống với Ba, như hồi đó, tui còn nhỏ. Có Ngoại mà, tui đâu có thiếu tình thương.

Ly trà đã nguội ngắt, nhưng mùi hương sen vẫn còn thoang thoảng bay trong không khí như dẫn đường tui về với Ngoại.

Trương Ngọc Anh

Monday, March 23, 2020

Chinese Virus, đại dịch thế giới



Vào đúng ngày 16 tháng 3, 2020 Tổng Thống Mỹ Donald Trump “Twitt”, gọi đích danh đại dịch dưới tên gọi mỹ miều của WHO, “cô vy” (Covid-19) là “Chinese Virus”.

Và một người khác đã trả lời Tổng Thống: “You’re right, it is 100% the Chinese Virus and we need to hold them accountable for hiding it from the world for months” (TT nói chính xác 100%, chúng ta cần phải phô bày sự thật này mà họ (China) đã cố tình che dấu, lừa dối thế giới cả mấy tháng nay, “Đại dịch Tàu Cộng”). 

Còn một người Việt Nam khác dưới tên Mich Long thì hỷ hả bình luận trên trang FaceBook: “Hahaha, sao tui “Yêu” ông Tổng Thống này quá xá.

Kể từ hôm nay chúng ta thống nhất gọi con Virus Corona (VC) là con Chinese Virus, viết tắt là “cv” trên mọi phương diện truyền thông, báo chí để đả phá luận điệu láo lếu, xuyên tạc, mất dạy, điếm đàng của bọn tàu cộng”.

Đại dịch Chinese Virus phát xuất từ thành phố lớn ở Trung cộng tên là Wuhan (Vũ Hán), nổi danh với nhiều danh lam thắng cảnh, thu hút đông đảo khách du lịch hằng năm, trong số có di tích Hoàng Hạc Lâu với Thôi Hiệu, Lý Bạch, Đỗ Phủ trong thi phú Trung Hoa thời hoàng kim. Ngày nay những lãng mạn, đẹp đẽ, đã mất đi từ lâu rồi, khi cộng sản vô thần bao trùm Trung Hoa lục địa, biến thành Trung Cộng lỗ mãng, tham lam và độc ác với ý muốn làm “trùm” thế giới. 

Ngày 13 tháng 3, 2020, Tổng Thống Mỹ Donald Trump mở cuộc họp báo, trình bày trước dân chúng Hoa Kỳ, chính thức tuyên bố tình trạng khẩn cấp của đại dịch Wuhan tại nước Mỹ. Trước đó mấy ngày, Tổng Thống Trump đã mở ra ngân khoản 50 tỉ đô la cho ủy ban chống đại dịch Chinese Virus, chỉ định phó Tổng Thống Mike Pence cầm đầu, được Tổng Thống trao quyền điều hành trong chiến dịch này. 

Gia đình chúng tôi bình chân như vại, không lo lắng gì nhiều, mặc dù vẫn theo dỏi tin tức hằng ngày trên đài truyền hình, tin thế giới đang lên cơn sốt Virus Wuhan và nhanh chóng hơn trên những trang mạng xã hội như Face Book, Google…biết có hơn trăm ngàn người nhiễm bịnh hầu hết tại Wuhan và con số người chết được đưa ra từ chính quyền Trung Cộng lên tới con số hơn 4 ngàn (Con số này không biết có bao nhiêu phần trăm là sự thật vì người ta đã quay được những làn khói trắng ngùn ngụt ngày đêm từ các lò thiêu xác bốc lên ở Wuhan) . 

Nhưng sau ngày 13 tháng 3 (đúng là con số hắc ám thứ sáu 13), sau khi Tổng Thống tuyên bố quốc gia trong tình trạng khẩn cấp, và con gái đi chợ về ghé qua rước hai đứa con, cho hay các chợ đang hết sạch thức ăn nước uống, và nhất là giấy vệ sinh, xà bông rửa tay, những hóa chất diệt trùng dùng trong nhà. Tôi nghĩ, chắc mình phải đi chợ rồi, đợi nước đến chân mới nhảy thì có cuốc đất trồng trọt cũng không kịp có cái ăn. Ít ra cũng có thể dự trữ đủ thức ăn cho gia đình khoảng 1 tháng nếu tình trạng xấu hơn xảy ra. Còn lâu hơn nữa thì sẽ nhờ tới chính phủ. Ở nước Mỹ dân không bị đói đâu, kinh nghiệm những lần thiên tai bảo lụt và sự cứu trợ đầy đủ và nhiệt tình của chính phủ.

May mà hai hôm trước, do nhà hết gạo, tôi chạy ra chợ Costco mua, thì thấy họ dán giấy hạn chế mỗi hội viên chỉ được mua mỗi thứ 2 phần. Như vậy là khá nhiều rồi, và ai cũng có phần. Cứ mỗi loại gạo 2 phần thì tôi cũng vác về dược 200 cân gạo (mỗi bao 50 cân), hai loại mua được 4 bao. Số gạo này dự trữ luôn cho gia đình con gái, vì nhà nó cũng vừa hết gạo và không mua được gạo nữa, hai đứa cháu ngoại và má nó dù sinh đẻ trên đất Mỹ nhưng rất thích ăn cơm như bà ngoại. Với mấy cháu, chỉ cần chan nước tương lên cơm là đủ ngon rồi, cũng như tôi ngày còn nhỏ, có dề cơm cháy má chan cho chút mỡ nước và tốp mỡ vừa mới phi xong là ngon cả ngày. Hết gạo Thái Lan thì ta ăn gạo nội địa nước Mỹ, trồng từ những cánh đồng lúa mênh mông ở tiểu bang Lousianna, còn ê hề trên kệ Costco. 

Giấy vệ sinh thì không lo, vì ở nhà dùng cầu Nhựt không cần giấy (Cầu có gắn thêm bộ phận vòi xịt nước dùng vệ sinh riêng gọi là Bidet). Nước uống cũng không lo, vì nhà tôi dùng nước lọc bình, chỉ cần có cái lọc tha hồ có nước sạch uống, hay dùng nấu nướng. Nước chảy ra từ vòi trong nhà cũng sạch, kỷ lưỡng chút thì nấu sôi lên để nguội mà uống, có khó gì?. 

Trở lại hôm 13, chiều tối tôi liền chạy ra chợ Wal-Mart. Ở vùng này chợ mở cửa 24/24. Vừa ra khỏi xe thì bà đậu xe kế bên vừa mở cửa. Bà nói: 

-Giấy vệ sinh không còn nữa. 

Trông bà có vẻ rất lo lắng. Tôi nhận ra dân bản xứ họ rầu vấn đề giấy vệ sinh còn hơn thức ăn. Vô trong chợ, thấy rất đông người, tôi cũng hơi giựt mình. Nhưng tuy đông, tuy ai nấy đều có vẻ hối hả, nhưng dân bản xứ không có chuyện chen lấn hay giành giựt, trái lại còn nhường nhau.

Nhìn chung, quang cảnh trong chợ có vẻ sắp khan hiếm thực phẩm rồi, nhiều quầy trống trơn hàng hóa!. Không còn thức ăn trên khu thực phẩm khô, quầy thịt được nhân viên chợ liên tiếp đem ra sắp lên kệ và khách hàng gom cho lên xe cũng thiệt lẹ, nhưng không ai tranh giành và thấy họ nhường nhau. Như ông khách kia lấy ra 1 bịch phô mai bào, ông lấy thêm 1 bịch đưa cho tôi mặc dù tôi chỉ đứng nhìn. Tôi cám ơn và hỏi: 

-Phô mai có giữ trong tủ đông đá được không, thưa ông?. Thì ông cười, gật đầu: 

-Oh, yes. (Được chứ). 

Nhà có hai đứa cháu nhỏ nên tôi cầm bịch phô mai. Tôi lấy được 2 bịch bột để làm bánh mì gần như là món cuối cùng còn lại trên kệ, nhưng kiếm không ra men làm bánh (yeast). Thấy bà khách đi tới lui kiếm gì đó, tôi chào, hỏi bà có thấy men không? Bà cười nói:

-Tôi đang kiếm đây. 

Thì một bà khác đứng gần đó chợt nói: 

-Thấy rồi, ở đây nè.

Rồi bà trèo lên kệ thấp, moi ra được 5 keo men kẹt tuốt phía sau nên còn đó, đưa bà kia 2 keo, đưa tôi 2 keo, bà giữ lại 1 cho mình. Tôi nói, bà lấy 2 keo đi, thì bà lắc đầu, nói chỉ cần 1 thôi, Tôi nói vậy để lại 1 keo thì bà nói nên lấy luôn cả 2, men này giữ được tới cuối năm 2021 lận. Có lẻ bà nghĩ tôi cần nhiều hơn bà. Vậy lấy. 

Thật là người tốt. Rồi ba người chúng tôi đứng tán chuyện làm bánh mì một lát mới chia tay, tiếp tục sang quầy khác mua thức ăn nào còn lại. Giấy vệ sinh và những loại hóa chất làm vệ sinh nhà cửa hết trơn, may mà ở nhà tôi vẫn còn nửa thùng hóa chất lau chùi tẩy trùng “H1N1 Flu Virus”, vì loại này thường mua thùng lớn, khi xài thì pha loãng ra. Mai này thế nào cũng sẽ có sản xuất loại tẩy trùng dưới tên “Chinese Virus”

Chắc có nguồn tin các trường học sẽ đóng cửa làm nhiều người lo mua thêm thức ăn cho trẻ con.

Về nhà tôi chia thức ăn, thịt, cá ra từng phần nhỏ, cất hết vào tủ đông đá. Đồ hộp, đồ khô, gạo mắm muối, mì gói, mì Ý, bột, men làm bánh …coi lại cũng khá đủ cho cỡ hai tháng luôn. Rau cải trái cây có lẽ sẽ không khan hiếm đâu, vì chợ địa phương thường bán những thức ăn họ tự làm ra tại chỗ, tự trồng trọt rau cải, mua cá từng ngày tươi rói từ dân chài của tiểu bang Texas bán trong chợ…Nhãn hiệu chợ này (H.E.B.) chắc không có chợ nào địch lại họ về giá rẻ và tươi ngon. Cho nên hồi chúng tôi mới dọn qua đây, đi chợ địa phương tôi đã tự nghĩ tiểu bang này giống như một quốc gia trong quốc gia, vì họ tự lực cánh sinh, từ những trang trại, cánh đồng mênh mông tới chợ búa hàng hóa, cho tới nhà hàng đều có những thương hiệu riêng của tiểu bang lớn nhứt nước Mỹ. 

Ngày hôm sau con gái gởi tin nhắn qua điện thoại cho tôi hay trường tiểu học sẽ đóng cửa cho tới ngày 21 tháng 3, hoặc lâu hơn, chưa biết chắc chắn. Như vậy bà ngoại sẽ thêm nhiều thời gian hơn với các cháu vì ba má các cháu phải đi làm. Không sao, càng vui hơn tuổi về hưu tẻ ngắt. 

Ngày đầu tiên nghỉ học tiếp liền theo sau lịch nghỉ 2 tuần mùa xuân vừa qua, hai cháu theo ba tới gõ cửa nhà bà ngoại sáng sớm lắm. Mỗi đứa đeo theo cái túi sách đầy nhóc đồ chơi. Bà cháu suốt ngày nấu nướng, ăn và chơi. Đi ra sân trước, vườn sau chăm sóc cây cảnh, hay vòng quanh khu nhà sau khi điểm tâm, bà cháu dung dăng dung dẻ thoải mái ngắm bông hoa hàng xóm đang đón mùa xuân đua nở cũng vui, nhiều nhất là đỗ quyên đủ màu sắc trắng, hồng, cam, tím, được trồng trước sân, hay vòng quanh mấy cây cổ thụ rực rỡ. 

Hai nhóc thì nói chuyện y chang “Má dạy”: Mình rửa tay sạch, không sờ lên mặt, không ho vào mặt người khác, không đứng gần người lạ…thì mình “Okay”, và chúng cứ vô tư chơi đùa không biết gì tới đại dịch tàu cộng Wuhan. Khi có các cháu ở nhà, tôi tránh không vặn tin tức, để chúng không bị lây sự lo lắng của người lớn, không cần thiết. 

Sau đó, đến ngày 15 tháng ba thì tin tức cho hay ở tiểu bang California chính phủ sẽ khoanh từng vùng cấm túc, kiểu như giới nghiêm 24/24 trong thời gian 3 tuần lễ, bắt đầu từ nửa đêm 15 tháng ba, áp dụng trên những thành phố nằm phía Bắc California như: những địa hạt ở vùng vịnh San Francisco bao gồm San Francisco, Santa Clara, San Marin, San Mateo, San Jose, Contra Costa, Alameda. Alviso, Campbell, Coyote, Cupertino, Gilroy, Holy City, Los Altos, Los Gatos, Milpitas, Morgan Hill, Mount Hamilton, Mountain View, Palo Alto, Redwood Estates, Saratoga, Stanford, Sunnyvale.

Tiểu bang California có nhiều người bị nhiễm bịnh rồi, có cả người đã chết nữa, cho nên vùng có đông dân, nhất là người Á Châu, họ giới nghiêm là đúng. 

Đồng thời cũng có tin vui là thuốc chủng ngừa (Vaccine) bịnh dịch Chinese Virus bắt đầu thí nghiệm lâm sàng trên 45 người đầu tiên, từ ngày 15 tháng ba, tại nhà thương Kaiser Permanente, Seatle, tiểu bang Washington, là nơi bịnh dịch phát tán nhiều nhất và đã giết chết hơn 40 người, đa số là người già sống trong viện dưỡng lão. Nhiều công ty dược cũng ráo riết tìm cách chế tạo thuốc chủng đại dịch cùng với nhiều tình nguyện viên trợ giúp. Tin mừng cho nước Mỹ nói riêng và nhân loại nói chung, trước đại dịch xuất phát từ Vũ Hán, Trung Cộng. 

Mấy hôm ở nhà bà ngoại, bà dạy cho hai cháu cách dùng “Bidet” khi đi vệ sinh. Mấy nhỏ học lẹ làng và thích lắm. Cháu gái thỏ thẻ “Bà ngoại phải mua cái này cho má con”. Mắc cười ghê, cháu nó không biết là má cháu đã mua liền 2 cái trên mạng Amazon ngay từ bữa giấy vệ sinh khan hiếm.

Hôm nghe tin mấy thành phố ở Bắc California giới nghiêm, tôi cũng tìm hiểu vụ giới nghiêm quá sức mới mẻ trên đất Mỹ, xem nó có giống chút nào tình trạng cấm túc, hay thiết quân lực ở VN thời chiến tranh mà tôi cùng gia đình đã trải qua nhiều năm, kể từ khi cộng sản bắc việt mưu toan vượt vĩ tuyến 17 tấn công miền Nam, và sau đó phá tan hiệp định Paris đã ký kết 4 phe vào năm 1973. 

Ở Mỹ, giới nghiêm có nghĩa là yêu cầu dân chúng ở trong nhà, hạn chế tối đa ra đường bằng mọi phương tiện, ngoại trừ trường hợp cần thiết như thăm viếng người bịnh, có hẹn hay cần tới gặp bác sĩ, đi chợ mua thức ăn, đổ xăng, đi làm, đi nhà băng…những điều cần thiết để sống. Những trường học, trung tâm mua bán, rạp hát, thể thao tạm thời dẹp hết; nhà hàng, quán cà phê… được yêu cầu chỉ mua đem về chớ không ngồi lại cà kê dăm ba chuyện. Cây xăng, chợ búa, nhà băng, cơ quan công quyền cần thiết vẫn làm việc. Dân chúng trong khu giới nghiêm có thể đi bộ tập thể dục quanh hàng xóm, dắt chó đi bộ, chỉ được yêu cầu đừng ghé tụ lại tán chuyện với người qua đường. 

Tóm lại, nhà ai nấy ở, đèn ai nấy rạng trong thời gian giới nghiêm. 

Như vậy giới nghiêm cũng như kỳ nghỉ tại nhà. Chợ búa, đường xá sẽ vắng hơn bình thường, nhưng không có nghĩa là khan hiếm nhu yếu phẩm. 

Mấy cháu nói: 

-Bà ngoại ơi, khi mùa hè tới, nắng nóng thì bịnh dịch này sẽ tan biến, má con nói vậy.

Rồi cháu cười hồn nhiên tung tăng dưới ánh nắng, tin tuyệt đối những gì má nói. 

Hy vọng như vậy nha cháu. 

Trong khi tại nước Mỹ, chính phủ lo cho từng người dân được an toàn, nhìn về bên kia trái đất thương cho dân mình không biết sẽ ra sao khi thế giới đại dịch. Là người quốc gia chống cộng, tìm đường vượt biên, sống chết không màng, dân tỵ nạn cộng sản quá chán ghét chế độ đó, mà Việt Nam cộng sản ngày nay tự coi họ là chư hầu của Trung cộng, đã mở cửa biên giới phía Bắc cho người Tàu cộng tràn vào đất nước chúng ta, mang theo biết bao nhiêu là mầm bịnh của đại dịch Vũ Hán, lây lan khắp nơi không kể gì tới sinh mạng của người dân Việt. 

Thế giới đang rúng động đại dịch Chinese Virus (Wuhan) nhiều ngành nghề bị ảnh hưởng chung, mà ngành du lịch thiệt hại nặng nề nhất. Không xách valy lên đường được thì chúng ta du lịch tại nhà qua màn ảnh truyền hình, trên máy điện toán, trên điện thoại…cũng vui và an toàn. 

Cám ơn những nhà khoa học, vi trùng học, những bác sĩ, y tá, những tài xế lái xe suốt ngày đêm chuyên chở thực phẩm, nhu yếu phẩm hoạt động tích cực trong thời gian đại dịch. 

Cám ơn những tiến bộ của khoa học mà nhờ đó, đời sống ngắn ngủi của con người có thể có được những niềm vui và hy vọng, dù rằng bị “Giới nghiêm, cấm túc, hay thiết quân lực”* trong thời gian thế giới đại dịch Chinese Virus cũng không sao hết.

Dịch ơi là dịch, mi mau mau biến đi!!!

Trương Ngọc Anh

*Thiết quân Lực: Áp đặt quyền lực của cảnh sát hay quân đội trong trường hợp khẩn cấp.

*Cấm túc: Chỉ thời gian chỉ định không được làm gì hết, phải ở yên một chỗ

*Giới nghiêm: Nghiêm cấm bằng mệnh lệnh quân sự về việc đi lại, tụ họp, v.v. trong những khu vực và thời gian nhất định.

Thursday, February 13, 2020

Tết, Nhớ Mùa Nước Nổi


***
Má tui nói:

-Trước Tết cúng Ông Ngoại, sau Tết cúng Bà ngoại, nhớ nghen tụi bây.

Như vậy năm nào trước Tết và sau Tết nhà tui cũng có mấy đám giỗ. Hồi đó, những việc cúng quẩy mỗi năm do Ba Má làm, thêm ba ngày Tết không bao giờ thiếu sót.

Trước Tết cả tuần lễ, Má lo làm dưa giá, củ hành chua. Có lúc má làm mứt cà chua nữa, mỗi trái cà tròn vo, xẻ dọc 4 khía rồi ép dẹp xuống, lấy hết hột ra, ngâm nước vôi, để ráo, sên đường, phơi mấy nắng cho khô, làm thành món mứt cà rất độc đáo đẹp mắt, dùng đãi khách, và ăn Tết mà sau này tui không thấy ở đâu có bán.

Ngày ba mươi Tết theo thông lệ hằng năm, lúc Ba còn sống và sau khi Ba đã lên bàn thờ ngồi, Má tôi vẫn tiếp tục nấu mâm cơm cúng rước Ông Bà về nhà chơi ba ngày Tết cùng con cháu. Tuy nhiên, Má bỏ luôn không còn cúng Giao Thừa, vì buồn, vì từ trưóc tới sau, chỉ có “Ba tụi bây làm”. 

Trong thời gian ba ngày Tết, ngày ba bữa cơm sáng, trưa, và chiều, tụi tui sẽ tiếp má dọn bàn thờ, múc từng món ăn đã nấu dùng cúng và ăn những ngày Tết, cùng với bộ 4 chén cơm đầy, 4 đôi đũa, 4 cái muỗng. Như vậy, từ xửa từ xưa, thức ăn đều phải dùng muỗng đũa riêng, còn tô canh, dĩa rau cải xào, hay cà ri gà, thịt kho trứng đều phải có sẵn muỗng lớn để múc. Thậm chí nước mắm chấm cũng phải đủ 4 cái chén nhỏ. Còn 4 ly trà, thì cứ một lát phải rót thêm trà, và châm đủ 3 lần. Tụi tui dù có đói rã họng cũng phải chờ sau khi cúng xong, nhang tàn rồi mới được phép ăn.

Thức ăn trong ba ngày Tết là phần Má làm, toàn những món như bánh tét, thịt kho dưa giá, khổ qua dồn thịt hầm, cari gà, con gà luộc còn nguyên đầu, đồ xào rau cải, nấu từ hôm ba mươi để cúng đúng giờ trưa rước Ông Bà về. Sau đó những thức ăn này được hâm nóng, hay chiên lại như bánh tét, bánh tổ, ăn ngon nhưng ngán muốn chết. Mùng một Tết, Má dọn mâm chay để cúng. Qua mùng 2 và mùng 3 sẽ dọn cúng thức ăn mặn. Mùng Ba là ngày cúng đưa Ông Bà đi. Tất cả những thức ăn còn dư sau Tết, Má sẽ dồn chung, nấu lại, biến thành nồi “xà bần”, tuy màu sắc không còn đẹp đẽ nhưng có vị rất ngon, nhứt là khi Má nấu nồi cháo trắng ăn với “xà bần” thì ngon tới mát Trời ông Địa. Bây giờ tui vẫn bắt chước Má làm món “xà bần”này để ăn.

Không biết những gia đình khác cúng kiếng ra sao, nhưng ở nhà tui thì những món ăn năm nào cũng giống nhau. 

Lúc Ba còn sống, phần việc chuẩn bị Tết của Ba mỗi năm đều làm rất trịnh trọng, bắt đầu từ những ngày cận Tết. Lúc đó nhà có một bầy con gái, tay thì yếu, chân thì mềm, tuổi vẫn còn quá nhỏ, cho nên Ba Má làm hết, tụi tui chỉ tiếp chút chút khi cần, thì giờ còn lại chạy chơi. Còn nhỏ mà, chưa biết lo toan, ăn chưa no lo chưa tới mà, nên thực sự tui cũng không biết có khi nào Ba Má nhức đầu lo chạy tiền để gia đình ăn Tết không, chỉ nhớ là Tết năm nào Ba cũng cặm cụi đánh bóng lư hương, chưn đèn. Có năm Ba còn quét vôi tường trong nhà cho mới, ôm về mấy trái dưa hấu thật tròn trỉnh, rồi vẽ mấy chữ Tàu trên giấy đỏ, đặt trịnh trọng trên bàn thờ với bộ lư, cặp đèn cầy sáng choang. Bình bông chưng cành mai đầy nụ, Ba biết cách ép sao cho mai bung cánh vào Giao Thừa, hay mùng một Tết mới hên. Trong nhà và ở cửa ra vô phải có vài chậu bông vạn thọ vàng và mồng gà đỏ. Ba tui thích chưng bông hoa cho tươi nhà.

Tui nhớ có năm, Ba chở tui với chị Ba trên chiếc Vespa, chạy tuốt tới rừng mai trên đường ra Vũng Tàu, chặt mấy nhánh mai đem về chăm chút mừng Tết. Tui nhớ Ba ngâm nhánh mai trong nước lạnh để hãm nụ, tới Giao Thừa mới ngâm vô nước nóng để nụ mai nở nên nhà tui năm nào trên bàn thờ cũng có nhánh mai vàng rất đẹp. Chưn nhang, với cặp đèn cầy đỏ từ trưa ba mươi qua tới mùng 3 Tết không bao giờ dứt những cọng khói nhang ẻo lã bay lên, và ánh lửa chập chờn của cặp đèn cầy. Khi thắp nhang Ba hay Má thường chú ý coi, nếu tàn nhang cong vòng thì tốt lắm, chứng tỏ Ông Bà rất vui vẻ về cùng con cháu. Cặp dưa hấu ba mua lựa chọn rất kỹ, để khi xẻ ra màu dưa bên trong thật đỏ tươi, mới đem lại may mắn trong năm cho gia đình.

Cúng đưa ông Táo có dĩa kẹo thèo lèo cứt chuột và nhang đèn, là chuyện Ba làm.

Cúng Giao Thừa để đón năm mới, cũng là chuyện Ba làm, rất trang nghiêm.

Chiếc bàn nhỏ được đặt ngoài sân, chưng bình bông vạn thọ, ly nước, trái dừa tươi đã vạt mặt, dĩa trái cây, dĩa mứt, và 2 cây mía thật bằng nhau, cột hai đầu cho dính lại, đặt trước bàn thờ.

Cúng Giao Thừa xong, Ba đốt phong pháo. Khi tiếng pháo bắt đầu nổ đì đùng từ xóm trong ra tới mấy dãy cư xá thì Má đã thay quần áo mới, cùng Ba đi bộ qua bên Chùa gần nhà, trên đường Lục Tỉnh, để hái lộc đầu năm. Tụi tui muốn tới Chùa hay ở nhà Ba Má không bắt buộc. Thường thường chỉ có mấy đứa nhỏ chạy theo Ba Má, còn lớn hơn như hai bà chị và tui thì thích ở nhà cắn hột dưa, hay ra trước cửa coi bà con đốt pháo vui lắm. Điều đặc biệt là cả nhà đều thay quần áo mới từ giờ Giao Thừa trở đi, coi như chuyện phải làm. Mặc quần áo mới, khi ngủ, thơm mùi vải, tui thích lắm.

Sau giờ Giao Thừa, bà chị thứ ba thường cất cao giọng oanh vàng những bài hát mừng Xuân như …Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng, Xuân đến rồi đây nào ai biết không, mang những hoài mong đi vào ngày tháng, bao nhiêu mơ ước đến khi mùa Xuân sang…(Cánh Thiệp Đầu Xuân của Minh Kỳ&Lê Dinh), Má tui rất thích, còn Ba cười mím chi lắng nghe. Tụi tui thì sau khi cất kỹ tiền lì xì của Ba Má, khoái nhứt túm tụm nhau ngồi trước cái máy truyền hình đen trắng nhỏ xíu coi cải lương hay mấy chưong trình Tân Nhạc mừng Xuân rất hay.

Không biết gia đình khác ăn Tết ra sao, chứ nhà tui, vì Ba Má là người Minh Hương, cho nên có vài tục lệ phải theo, như lời Ba dặn, là mấy ngày Tết không được gây gỗ, không nấu nướng, thức ăn nhiều món đã nấu từ ngày ba mươi, không giặt quần áo, không được quét nhà từ trong ra ngoài, mà phải quét từ cửa vô trong nhà, và cứ dồn rác vô góc, không bỏ rác trong 3 ngày đầu năm. Vì vậy mà ở góc nhà đầy vỏ hột dưa tụi tui cắn lách chách suốt ngày cho tới miệng đỏ như vỏ dưa. 

Ngày mùng 1 Tết sướng nhất, không phải rửa chén đâu nha, Má làm hết, sướng gì đâu, miễn là mấy chị em đừng gây gỗ để bị đòn, bị quở xui cả năm, còn thì chỉ có ăn và chơi. Đúng là “Còn Cha gót đỏ như son”. Vui nhứt lúc Ba xẻ trái dưa hấu để đoán hên xui, cả nhà xúm quanh hồi hộp. Trái dưa này để trên bàn, còn hai trái đặt trên bàn thờ có dán hai miếng giấy đỏ mấy chữ Tàu như Cung Chúc Tân Xuân, Cung Hỷ Phát Tài… tự tay Ba vẽ thì cứ để y đó, cho tới sau khi đưa Ông Bà đi vào mùng ba mới xẻ ra. Trong ngày đầu năm này, thường thường Ba Má dẫn cả nhà vô Sở Thú coi cọp, coi khỉ, cho voi ăn mía…và chụp hình với bông hoa đang nở đẹp. Mùng hai, mùng ba mấy chị lớn có quyền đi chơi với bạn bè, đi coi hát bóng…còn mấy đứa nhỏ hơn thì theo Ba Má đi chúc Tết bà con để được nhiều tiền lì xì.

Sau này, Ba mất rồi, tuy Má vẫn cúng kiếng đầy đủ, nhưng những ngày Tết nhà tui không còn vui nữa. 

***
Để bù lại những nỗi buồn, tui thích ngồi nghe má kể chuyện đời xưa, thời má còn nhỏ, 5-6 tuổi. Thời gian quay ngược gần thế kỷ, trời đất ơi, sao mà như chớp mắt.

Năm nay Má tui 95 tuổi, sống trên đất Mỹ từ năm 1975, coi truyền hình và nghe tin tức trên mấy đài phát thanh hàng ngày. Tổng Thống nhiệm kỳ nào Má cũng biết rõ tên, còn có ý kiến khen ông này chê ông kia… nhắc con cái coi ông nào ra ứng cử mà có lập trường chống cộng thì bầu nghen. Tuy là vậy mà chuyện Mỹ thì nhớ ít, chỉ biết ơn cưu mang và tiếc cho ba không được phước này; ngoài ra, trí nhớ về chuyện xưa quá rõ. 

Thuở đó, chưa có Ba “đi nhẹ vào đời” Má, chưa có tụi tui quẩn quanh bên Má từ nhỏ cho tới già. Mặc dù mỗi năm, Má vẫn nhắc, tụi bây nhớ, cúng Ông Ngoại trước Tết, cúng Bà Ngoại sau Tết nghen, nhớ chưa???, tụi tui vẫn dạ…dạ… má, vậy mà cho tới tận bây giờ, tui vẫn còn hỏi Má, Cúng Ông Ngoại trước hay cúng Bà Ngoại trước Tết vậy Má, thử ngẫm nghĩ ai đã bắt đầu lẫn, hay mấy chị em tui đã già khú hết rồi.

Nghe má kể chuyện đời xưa, quay ngược thời gian, vui lắm, cái thời mà…

Làng quê của má hả, nó là làng Mỹ Đức, tỉnh Châu Đốc đó. Dù Má được sanh ra trên ghe thương hồ, sống trên sông nước 4 năm, nhưng quê má vẫn là Mỹ Đức, nơi Má lớn lên.

Làng quê má không có bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông gì hết, mà chỉ có mùa nước nổi, mùa cá linh, mùa làm mắm, mùa nắng với mùa mưa. Đở cái ở làng quê má hồi đó cây cối còn nhiều lắm toàn là cổ thụ. Mấy tên gọi cây sao, cây gõ, Má chỉ biết hai loại cây đó thôi, còn những loại khác má không biết.

Má nói: sau này nghe Ba tụi bây nói là những loại cây quí.

Trong làng có cái Đình, trước Đình có lớn nhỏ cở 20 cây loại này. Có cây lớn lắm, bốn người lớn ôm mới giáp; còn cây nhỏ nhứt cũng vừa một người ôm. Lạ nhứt có mấy cây lớn, cở bốn người ôm đó, dưới gốc lại lõm rất sâu vô tạo thành cái hốc, như ăn khuyết vô tới nửa gốc cây, vậy mà cây vẫn sum sê đầy cành lá, che mát rộng tới sân Đình. Lúc má cở 6-7 tuổi, chơi cút bắt chơi trốn tìm, thường chun vô hốc cây đó trốn. Về sau ông Từ giữ Đình không cho tụi con nít trốn trong hốc cây nữa. Trong làng, dân quê xài nồi đất, cà ràng, hỏa lò đều làm bằng đất sét dễ bể nên khi bị bể hết dùng được đều đem bỏ vô hốc cây. Về sau, có ai không biết, cất lên cái miểu nhỏ xíu, để bình nhang thờ gì đó, nghe người lớn nói thờ Thần, mà trong Đình đã có thờ Thần rồi nên má lại nghe có người nói Thần có khi ở trên những cây cổ thụ lớn như vậy, cũng có người nói quỉ ma cũng trốn trên mấy cây cổ thụ. Thiệt tình, không biết tin ai? Tối tối ở miếu này cũng có người tới đốt nhang lập loè, con nít sợ hết dám chơi gần.

Năm Má hết bịnh, làng có xây được một trường học, kế bên cái bót, cách nhà 2 căn, nên ông Ngoại cho má với người chị kế đi học, còn chị Ba, chị Tư không muốn học nên không biết chữ. Cái bót này thường thấy mấy người lính Pháp ngủ đêm lại, bót xây kiên cố, có cửa sắt vây quanh.

Trường học có 3 căn dùng để học, còn 1 căn dành cho Thầy Nhứt ở. Mỗi căn có một thầy dạy cả hai lớp, trường có từ lớp năm tới lớp nhứt. Học xong lớp nhứt thì thi bằng Tiểu học, khi thi phải lên Châu Đốc mới có phòng thi. Học trò lớp nhứt phải biết rành tiếng Pháp. Có bằng Tiểu Học là có thể làm cô giáo. Trong trường Má học giỏi lắm, được mấy Thầy thương, muốn Má theo nghề giáo. Ông Ngoại cũng muốn như vậy, nhưng má chỉ thích nghề mua bán mà thôi.

Quê Má, cở tháng Tám âm Lịch là mùa nước lên. Có người kêu nước lên, có người kêu nước nổi, sao cũng được. Căn nhà đầu tiên Ông Ngoại cất sau khi bỏ ghe thương hồ, ở tạm thôi, dựa bờ sông, thấp hơn đường lộ. Mùa nước nổi năm đó nước tràn vô nhà, cao tới cổ Má, nên Ông Bà ngoại cực quá trời, luôn canh chừng, kê ván chất đồ cao hơn mực nước. Trong nhà Ông Ngoại dựng cây tre cao, hể mực nước lên tới đâu, Ngoại vạch ngang làm dấu tới đó để coi mỗi năm mực nước lên cao thấp ra sao. Nhờ có chuẩn bị, nên mấy năm sau đở cực hơn.

Lúc lên bờ sinh sống để chữa bịnh cho Má, Ông Bà Ngoại chỉ tính ở tạm thôi, rồi sẽ trở về cuộc sống thương hồ. Nhưng mấy đứa con lớn lên, rồi đi học, nên Ông Bà quyết định ở luôn làng Mỹ Đức. Sau khi để dành được đủ tiền, Ông Ngoại mới tìm đất cất nhà chỗ cao, có móng đúc xi măng, cột, sàn làm bằng cây gõ, gỗ mun. Ông Ngoại có người bạn thân làm cây trong núi Thất Sơn (Núi Cấm) gởi cho bộ sườn nhà bằng gỗ quí, mừng lắm.

Năm sau, nước lại lên cao, Ông Ngoại phải dời đồ hàng xén lên chiếc ghe lườn với chiếc xuồng ba lá, còn cả nhà ở trong nhà cứ kê ván lên cao theo nước nổi. Gạo, mắm, muối, đều được dự trữ sẵn không sợ ướt. Mỗi năm nước lên như vậy mà Má không thấy nghe nói có ai chết hết, cá thì lội đầy sông vì nước từ trong đồng tràn vô làng. Nước nổi có màu đục lờ, chảy mau nhưng không có sóng, ông Ngoại nói toàn phù sa chớ bình thường nước trong vắt. Lục bình, rau muống theo nước nổi trôi đầy sông, tràn bờ. Khi nước lên như vậy tràn ngập đường lộ nên người làng đi lại bằng tàu, hay ghe, xuồng. Thuở đó, có hai chuyến tàu, chuyến lên Châu Đốc, chuyến xuống Long Xuyên. Tới gần cuối năm đó lúc nước xuống, người làng kêu là “nước dựt”, thì chị Ba của Má lấy chồng, gã về Long Xuyên, lúc mới 16 tuổi. 

Khi chị Ba theo chồng, Má khóc nhiều lắm, vì chị là người chăm nom săn sóc cho Má từ nhỏ. Chị Ba giỏi chuyện nhà tiếp Bà Ngoại rất nhiều. Tội nghiệp, chị xinh đẹp, lấy chồng nhà giàu mà phải làm dâu quá cực khổ, sanh được 2 đứa con thì mất, lúc đó mới 35 tuổi.

Sau khi chị Ba gã đi, Ông Bà ngoại không bán hàng xén nữa mà chuyển qua bán trái cây và các thứ đậu đen, đậu xanh, đậu đỏ theo mùa. Kế đó anh Hai của má có vợ, dọn qua Xóm Chài ngang chợ Cần Thơ, mua bán trầu thì gởi trầu về Mỹ Đức cho Ông Bà Ngoại bán lại.

Mùa nước nổi năm đó, ông Ngoại chở trầu đi bán bằng ghe lườn có mui che nắng che mưa. Má được theo chơi, phải bận thêm áo mưa lá buông với nón lá. Hồi đó, nón lá đan bằng tre với lá buông, nặng chịch chớ không nhẹ như nón lá sau này. Tháng tám cũng là mùa tôm. Họ câu tôm bán rẻ lắm, một thùng thiết đầy tôm chỉ có 2 cắc (loại thùng đựng dầu hôi sau khi hết, họ xài cho chuyện khác như đong đo tôm cá), mỗi cắc là 10 đồng xu. Cả mười năm sau vẫn còn giá đó. Ông Ngoại chở 2 giỏ trầu (gọi là muôn hai), mỗi muôn có 120 bó trầu, đi bán ở chợ Cả Dầu. Ở đây, họ nhóm chợ bằng xuồng đông vui. Thời đó người dân quê ăn trầu nhiều lắm nên nghề này làm ăn được. Trên ghe Ngoại chất theo gạo, muối, cà ràng, chảo đất với 1-2 bó củi.

Ngày trước, vụ đếm trầu Má còn nhớ như sau:

-Chục trầu là 12 lá

-1 trăm là 12 chục

-10 trăm là 1 thiên

-10 thiên là 1 muôn 

-1 bội là 6 thiên

-1 giỏ là muôn hai

Vụ đếm trầu này tui nghe muốn điên cái đầu! Má nói, má Tư bây (Dì Tư chúng tôi gọi là Má) tuy dốt mà tính nhẩm đếm trầu không bao giờ sai.

Má được đi theo ông Ngoại bán trầu lần đó, thấy mấy người nghèo thiệt nghèo chèo xuồng cắt lá sen bán cho mấy ghe trầu để họ dùng gói trầu, mỗi bó 1 xu. Dọc đường bán trầu, Ông ngoại chọn mấy cây cao còn nhô lên cái ngọn, cột ghe lại để nấu cơm cho hai cha con ăn, Ông rang nguyên hai thùng tôm bằng cái chảo đất rất lớn đem theo ghe, rãi muối hột, phải rang mấy lần mới hết tôm. Số tôm rang này ăn chơi, bỏ đầu, chớ không ăn với cơm, ăn tới phát ngán, còn dư mới đem về vì ở nhà cũng có đầy cá tôm. Tôm càng thì ông Ngoại nướng, chấm muối ớt ngon lắm.

Mùa nước nổi dân quê nuôi vịt rất nhiều, khỏi cho ăn vì nước lên, trùn quấn cục trên đất, vịt tha hồ mà ăn. Má sợ trùn lắm, cho nên không thích ăn thịt vịt mùa này. Chắc vì Má sợ trùn mà đám con gái tụi tui đứa nào cũng sợ giống Má. Vùng nước lên, nhà nhà người ta không đóng cửa nên ghe xuồng buôn bán cũng dễ, cứ nghe kêu thì tấp vào ngay cửa. Má nhớ có lần xuồng ghé nhà đó, thắp đèn mù u leo lét, thấy bà già lưng khòm cụp xuống, ngồi ăn trầu với trái đủng đỉnh, mấy lá trầu xanh thì héo queo. Má biết trái đủng đỉnh, mọc thành chùm như trái cau, ruột cũng giống ruột trái cau, trái nhỏ cỡ ngón chưn cái của ông Ngoại. Ông Ngoại thấy tội nghiệp nên không bán mà cho bà mấy bó trầu để dành ăn. Bà mừng lắm, lính quính cho lại hai cha con cả đống mía, mấy buồng chuối sứ, ổi. Ngon nhứt là mía ngập nước nên rất ngọt và thơm mùi rượu. Nghe bà nói trái đủng đỉnh này ăn rất say, mới ăn thì bị xây xẩm mặt mày, ăn riết rồi quen, nó chát lắm, chát hơn cau. Bà nói nhà nghèo quá, giăng câu chỉ đủ tiền mua gạo mua muối thôi, lấy tiền đâu mua trầu với cau, nên phải ăn trái đủng đỉnh thế trái cau. Tội nghiệp bà ghiền trầu, thấy bà ôm trầu ông Ngoại cho như của quí. Bà còn nói trầu này Bà để ngoài một mớ ăn thôi, còn lại bà rang rồi để vô hũ ăn lần. Má nghe nói trầu rang thì lạ quá, muốn hỏi nhưng không dám vì Bà Ngoại hay dạy khi người lớn đang nói chuyện con nít không được xen vô, không lễ phép. Rồi nghe ông Ngoại hỏi:

-Trầu rang là sao? Bà nói:

-Bắt chảo nóng lên, để vài lá vô, trở qua trở lại cho nó hơi giòn thì sắp trầu vô hũ, lớp trầu, lớp lá chuối, trên cùng là lá sen, niền kín liền, trầu giòn ăn thơm và ngon lắm.

Lúc về, ông Ngoại nói với Má:

-Tội nghiệp bà ghiền trầu, đâu ai ăn trái đủng đỉnh thế cau, chết đó!.

Má nói trầu nhai chung với vôi và cau, trộn thành chất nước màu đỏ lòm, nhìn thấy ghê lắm nên má không dám thử. Sau này ở Cần Thơ, Má có vựa trầu, tới nhà người ta định giá trầu, được mời cũng phải biết ăn trầu nên Má có tập ăn để xã giao thôi. Bà Ngoại cũng biết ăn trầu, nhưng rất ít, Sau khi ông Ngoại mất, bà Ngoại ăn trầu liền miệng. Má hỏi thì bà nói ông chết Ngoại buồn lắm, ăn trầu say đở buồn!.

Những lời này Má nhớ tới giờ. Ăn trầu thì say, say quên buồn, nhưng ở Mỹ đâu có trầu mà ăn.

Nước đang lên nên ghe chèo trên mặt đường lộ bình thường xe chạy, ghe băng ra ruộng, chung quanh nước minh mông không thấy lúa. Má đi theo ông Ngoại lần đó, nhìn xa xa mới thấy một cái nhà, nước ngập gần tới nóc, lô nhô lên mặt nước, toàn ghe xuồng qua lại êm ả. Má nói đi theo ông Ngoại vui lắm, lo tát nước nên má không buồn ngủ gì hết, cứ tưởng tượng như ngày hội hoa đăng trong sách đọc. Mặt nước nhiều ghe xuồng, tới tối treo đèn sáng, họ câu tôm câu cá, ơi ới gọi nhau nói chuyện thân tình. Thỉnh thoảng Ông Ngoại ghé vô căn nhà trên đường đi, thấy nhà không có ai, còn lu hũ trống trơn thì ông Ngoại đổ vô ít gạo cho, Má nhìn ông Ngoại giống như ông tiên trên trời xuống ban gạo cho người nghèo. 

Bán hết trầu, ông Ngoại mua cho Má 2 gói củ co, trái ấu luộc với 1 xâu sen gương ăn chơi.

Ông Ngoại chỉ cho Má đi có một lần đó thôi mà má nhớ cả đời, vui quá chừng chèo ghe bán trầu mùa nước nổi. Mấy lần sau ông ngoại đi một mình không cho má theo nữa vì sợ có mưa ướt Má sẽ bị bịnh. 

Má nói, mùa nước nổi, mấy cây điên điển cũng nổi lên theo, trổ bông màu vàng hực, màu nghệ đó, dòm mút mắt ở hai bên bờ sông, tươi vô cùng. Bông lục bình màu tím trôi trên sông nước từng dề lớn, nước lớn trôi mau, nước ròng trôi chậm, cảnh trí nên thơ, đẹp quá chừng. Những ghe xuồng trên sông, đối đáp nhau, hò hát, không có đờn có trống gì đâu mà hay quá. Chị Ba của má không biết chữ, vậy mà chị hò hay lắm, trai gái xóm làng cũng ít ai biết chữ mà cũng biết hò đối đáp rất vui. Nhà có cái xuồng ba lá cho chị em chèo chung quanh chơi. Thuở xưa đâu có máy chụp hình, máy quay phim gì, nếu có thì những hình ảnh này bây giờ đẹp biết bao nhiêu.

Làng quê mùa nào cũng đẹp, nhưng với Má, mùa nước nổi đẹp nhứt, ngắm ghe xuồng chèo qua lại, nghe mê những tiếng hò đối đáp trong trẻo, ấm lòng. Thỉnh thoảng mới có một chiếc tàu lớn ngang qua, dợn chút sóng rồi thôi. Chiều chiều có gió hiu hiu thổi mát, ngồi sau sàn nước dưới gốc cây gáo mát mẻ, thò chưn khuấy nước, hay vói tay hái trái gáo ăn. Trái gáo ăn ngon, khi chín có vị chua chua ngọt ngọt như trái cà na, khi còn xanh thì chát ngầm. Mùa lúa trổ bông thơm phứt, mùa nhãn còn thơm hơn nữa. Mùa sen nở, thơm bát ngát trời. Rồi mùa nước lên, cá đầy sông, những cảnh trí này làm sao Má quên được. Dân làng hiền lành không có trộm cướp, người dân có nghèo, nhưng không thấy ai đói. Bây giờ điên điển không còn một cây, nghe nói phải mua từ bên Thái Lan chở qua. 

Năm 2000 từ Mỹ má về Việt Nam thăm lại làng Mỹ Đức, thấy sao đồng ruộng khô cằn quá, sông cạn queo có thấy rất nhiều lỗ dưới đáy, Má hỏi lỗ gì vậy thì họ nói sông cạn hết nước, họ đào lỗ để có nước mưa đọng lại mà xài. Thấy thương. Còn nước uống thì sao? họ nói trong làng có đào cái giếng, để lấy nước uống. Bây giờ người ta chở nước từ Châu Đốc về bán, phải mua nên xài kỹ lắm. Trời ơi! đâu rồi ruộng đồng minh mông nước, tôm cá đầy sông như thuở của Má.

Chung quanh Đình không còn cây cổ thụ nào hết. Má gặp lại người bạn gái thuở đó, bây giờ già khọm nhìn không ra, cũng may còn cắt tóc bum bê nên má nhớ, hai người bạn cũ gặp nhau mừng quá trời.

Bà bạn của Má kể:

-Bây giờ ở đây nhiều người nghèo đói lắm, sau năm 75 ăn cơm trộn bắp trộn khoai đủ thứ. Cái Chùa gần Đình cũng bị “những người mới” tới phá bỏ, nghĩa địa phía sau Đình cũng bị “họ” dẹp hết để chiếm đất!.

Bà con của Má cũng phải hốt cốt người thân đem về Cần Thơ chôn hay đem vô Chùa cho có hương khói.

Má kể tới đây thì buồn, nên tôi nhắc má sắp Tết rồi. Năm nay má muốn tụi con tụ lại nhà Má ăn Tết thì tụi con chuẩn bị nấu nướng. Để con lãnh phần làm bánh tét nghe Má. Con cũng nhớ rồi, trước Tết cúng Ông Ngoại, sau Tết cúng Bà Ngoại há Má.

Nhà tui cũng có trồng được mấy cây điên điển, mà mấy nó chỉ có bông năm đầu tiên, hai năm nay toàn lá sum sê mà không có bông, chắc nhớ mùa nước nổi như Má, còn tui thì nhớ Cúng Ông Ngoại trước Tết, cúng Bà Ngoại sau Tết./.

Trương Ngọc Anh

Saturday, August 31, 2019

Chuyện Má Kể

Trương Ngọc Anh 

Chúng tôi có 8 chị em, 7 trai một gái, í không phải, là 7 gái và 1 ông con trai duy nhứt mà mấy chị em tôi đặt là “Cục dzàng” của Ba Má. Ba tôi bị cộng sản thảm sát năm Mậu Thân khói lửa ở Sài Gòn. Năm đó, nhỏ Thúy vừa mới ba tuổi, chưa biết nó là út, còn đeo vú má, nếu không, tôi nghĩ với thời gian 2-3 năm có thêm 1 đứa thì đà “sản xuất” đó chị em tôi còn có ít nhứt chục mười hai. Tội nghiệp nhỏ Út bất đắc dĩ, nó nói: “Em không nhớ mặt Ba, nên em phải coi hình Ba hoài, em thương Ba lắm.”

Nhỏ này giống Ba nhứt.

Năm Ba chết, nhỏ út Thúy mới bi bô nói chuyện, nó thường ganh tị với đứa cháu trai nhỏ, tên Paul là con của chị Hai, mới 1 tuổi thường được Ba ẵm mỗi khi đi làm về, hay đặt ngồi phía trước Ba trên chiếc xe mô-tô phóng vòng quanh cư xá Phú Lâm A, rồi chạy tuốt ra xa cảng Phú Lâm, khu đài ra-da của lính Mỹ gần đó mấy vòng cho mát.

Ba tôi người gốc Triều Châu, Ông Bà Nội và bà con bên Nội đã sinh sống ở Việt Nam mấy đời. Tuy theo Tây phương trong kiến thức học vấn, nhưng vẫn nệ cổ ở chuyện phải có con trai nối dõi tông đường. Tiếc thay, “Cục dzàng” của Ba Má không có con trai, chỉ có 2 cô công chúa xinh đẹp, coi như dòng họ Trương đứt đoạn rồi Ba ơi. Ba ở trên Trời cũng đừng buồn, vì đám cháu chắt và chắt nữa của Ba Má có nhiều con trai lắm, phá dàn trời mây như tiểu Tôn Ngộ Không, tuy không mang họ Trương, nhưng cũng có dòng máu của Ba chảy trong huyết quản.

Má tôi, rất được dòng họ bên chồng tôn trọng và kính nể, vì má đã thờ chồng một lòng chung thủy suốt đời, nuôi 8 đứa con, gánh trên đôi vai gầy guộc biết bao nhiêu là khổ cực trần ai, khi cây cột chánh trong nhà bị gãy ngã.

Đôi khi ngồi buồn buồn, nhớ Má, nhớ Ba, nhớ mấy chị em đang sống ở xa, tôi mở album coi lại hình xưa, nhận ra vào năm 1975, khi Má cùng bầy con 8 đứa, đều được sum hợp ở Mỹ, trong hình Má lúc đó vẫn còn quá trẻ. Ngó lại tuổi xuân của Má mà đau lòng. Năm 75 và sau đó, Má còn sung sức, khoẻ mạnh, nên má làm việc không biết mệt trong một hãng may mền vải, may màn cửa sổ của một công ty ở thành phố Reno, tiểu bang Nevada, và sau này ở thành phố Los Angeles, tiểu bang California.

Trong hãng may ở Reno có ông thợ sửa máy may người Mỹ, to lớn, còn phong độ lắm. Ngày trước 75 ông đã từng là phi công trong Không Quân Hoa Kỳ, đánh giặc ở Việt Nam. Chúng tôi 4 đứa cũng làm việc trong hãng may này, vì cần tiền trang trải những chi phí nhà ở, cơm ăn khi chính phủ Mỹ không có một trợ cấp nào cho người tị nạn cộng sản lúc đó ngoài việc giới thiệu việc làm cho người trưởng thành, giúp đỡ thủ tục cho đám em nhỏ trở lại trường học, cho nên, phận tôi, đang là cô sinh viên trường Luật tràn trề mơ ước, trở thành cô thợ may và may rất giỏi như Má. Thuở đó, tiền lương giờ rất thấp, tôi nhớ đâu chỉ hơn 1 đô la mỗi giờ làm việc. Nhưng có thêm giờ làm ngày cuối tuần, giờ phụ trội, nếu chịu khó, và may giỏi (trả tiền thêm theo số lượng mình may nhiều hơn số căn bản) nên cũng kiếm được kha khá, tuy cảm thấy rất buồn vì không có cơ hội đi học lại.

Trở lại chuyện ông thợ sửa máy. Mấy chị em để ý, ổng hay xách thùng đồ nghề, rề rà gần chỗ má làm việc. Mới đầu tưởng máy may của Má bị hư, sau mới biết ổng rề rề theo Má vì lý do khác. Tụi tôi cũng có ý đốc xúi Má, vì lúc đó Má còn trẻ, lại đẹp nữa. Nhưng Má tôi thì chỉ có “Ba tụi bây” là người đàn ông duy nhứt trong đời Má.

Hình xưa coi lại, má mặc áo choàng dài, tóc uốn cong cong, đứng tươi cười trên bãi tuyết trắng trước sân nhà, như má đang nhìn Ba. Má đẹp như vậy thảo nào ông phi công Mỹ oai hùng ngày xưa si mê quanh quẩn suốt ngày gần chỗ má may đồ.

Má tôi tuổi con trâu, năm nay tính theo tuổi ta cũng đã 95. Má già và yếu lắm, đi đứng rất chậm chạp từng bước một, ra ngoài đi chơi phải ngồi xe lăn. Má nhẹ hều, chiếc xe lăn cũng nhẹ hửng nên đẩy má là chuyện dễ òm. Chị Hai thường dành việc này, là vì hai chân của chế cũng yếu, khi đẩy xe chế tựa luôn vào, nhứt cử lưỡng tiện nên tụi tôi để chế làm.

Ngày xưa, đọc sách báo thường thấy chữ “Ốm như xác ve”, bây giờ tôi mới hiểu ốm như vậy ra sao! Má nhẹ hều vì ốm lắm, chỉ còn da bọc xương nhăn nheo già cỗi như lớp vỏ ngoài của mấy cây cổ thụ. Tối tối, thoa dầu và bóp chân cho Má khi má than đau nhức, tôi bóp chạm tới phần xương bên trong. Như vậy thì có bớt được đau nhức gì, đành chịu thôi, dán thuốc dán cho Má, thấy như cầm hơi. Má ốm vì má ăn ít lắm, ngày vài muỗng cơm, chút xíu thức ăn rồi thì má đẩy ra, nói “Má no rồi”. Bắt má ráng ăn thêm thì má nói “Bao tử má nhỏ lắm”. Tội nghiệp chị Hai, đem thuốc uống để ăn ngon cho má, nhỏ bảy thì cứ mỗi 4 hay 6 tuần lên nhà vô nước biển cho Má suốt đêm, nhờ đó mà Má khoẻ hơn một chút, ăn ngon thêm một chút. Nhưng thân thể Má vẫn như cái xác ve mà tôi thường nhìn thấy đeo bám vào mấy chiếc lá mùa hè.

Những ngày ở bên Má, tôi thấy má ngủ rất nhiều, ngoài lúc coi phim trên tivi và ăn cũng như uống thuốc. Má già ốm và yếu như vậy, mà tánh tình vẫn cứ quật cường như khi còn trẻ, tự tắm một mình, ăn xong tự lần mò rửa chén, dĩa, ly tách má dùng, không để con cái làm. Chuyện này không thể nói Má được, và tôi nghĩ chỉ cần theo dõi Má, dẹp hết những chướng ngại trên con đường đi của Má để Má đừng vấp té, vặn nước ấm pha sẵn cho Má, Má tắm xong thì liền lập tức nhào vô, tắt nước cho má, vì má không nhớ bên nào là nóng bên nào lạnh. Khi tắm Má nhứt định là phải đóng cửa lại. Có lần tôi chọc Má: “Có con thấy má thôi, má mắc cỡ gì, Má tắm phải để cửa mở, có gì…”, thì má lắc đầu: “Má quen rồi, phải đóng cửa khi tắm”.

Thiệt tình, Má tưởng má còn là cô tiểu thơ.

Tôi nghiệm ra một điều, thói quen của người già rất khó bỏ, và càng lớn tuổi, người già càng ôm chầm chầm quá khứ. Má thường hay hỏi: “Thằng Long có cơm ăn không?”

Trời đất ơi! vợ của thằng “Cục dzàng” đó mới nấu nồi cơm, xào dĩa đậu đũa tỏi thơm lừng, ram tôm thịt lên màu đỏ au bắt mắt, kèm theo dĩa rau dền luộc màu xanh tươi ngon lành nữa kìa.

Tụi nó đang ăn dưới lầu.

Má nhớ chuyện gì đâu!

Ngay cả lúc Ba đột ngột qua đời, chị em chúng tôi cũng được ăn uống ngon lành, chưa bao giờ bị đói cả, nhờ Má đã gánh vác hết những khổ cực trần ai để nuôi bầy con, rất giỏi kiếm tiền dù chỉ là túm quần áo may sẵn bán ngoài chợ, lúc nào chúng tôi cũng có cơm ăn no, chưa từng mặc áo quần rách hay vá, thằng “Cục dzàng” còn được má gởi vô trường nội trú Đắc Lộ, tiền trường rất mắc, để cho nó không theo bạn bè mà hư đốn tuổi trẻ. Hay Má nhớ thuở trào Tây, lúc má còn con gái chạy giặc nhiều lần, hết giặc Tây tới Việt Minh ruồng bố, có bữa đói bữa no???

Hôm nghe Má hỏi thằng “Cục Dzàng” của Má có cơm ăn không, tôi ngồi bên má, hỏi Má những chuyện xưa để gợi trí nhớ cho má. Tôi hỏi Má về loại vải may quần sa ten màu đen, bóng loáng, mịn màng như lụa, mềm mại rất đẹp, mặc với áo bà ba, là hàng Mỹ A xuất phát từ làng quê má ở. Má nói, thời Má, mấy cô gái quê lục tỉnh có được chiếc quần Mỹ A là thích lắm, nó rất bền, đẹp, càng giặt càng chắc tốt, màu đen càng bóng ngời ngời. Mỹ A là loại vải của người Chà Và làm ra chớ không phải của người Việt, đặc biệt chỉ có ở Tân Châu Hồng Ngự (Châu Đốc). Họ dệt, nhuộm đen và bán cho người Việt mình chớ họ không có mặc, má nói, hình như họ nhuộm bằng trái “mặc nưa”?

Rồi má kể tiếp, chuyện ghe thương hồ.

Má sanh ra ở làng Mỹ Đức, cách chợ tỉnh Châu Đốc khoảng 8 cây số, xuống khoảng 11 cây số là Cả Dầu. Gia đình Má có 7 anh em, anh trai đầu, 6 em gái. Ba Má cưới nhau xong thì ra riêng. Trước đó ông ngoại làm nghề nông, còn gia đình bên bà ngoại mua bán, gốc Tiều (Triều Châu). Sau khi sống chung, Bà ngoại không thích làm ruộng dù bên ông ngoại là chủ điền, nên ông ngoại mua chiếc ghe chài lớn để gia đình sống và làm ăn, vì vậy anh trai của má sanh trên bờ, các con gái đều sanh dưới ghe ngoại trừ em gái út sanh trên bờ lúc ông ngoại cất nhà. Trên ghe chài này mui ghe lót ván, và làm thành một từng rộng ở trên lót mái lá, như vậy là ghe có hai từng. Ở phía dưới ghe chia hai, phần trước chứa đồ hàng xén đủ thứ để bán, từ cà ròn, gạo, nước mắm, đường, muối, than đước, bánh kẹo, cho tới cây kim, sợi chỉ. Phía trong là chỗ gia đình ở. Từng trên dành cho hai người làm công ngủ, công việc của họ là chèo, chống ghe. Đàn ông ở từng trên, đàn bà ở từng dưới. Hai bên ghe có 2 cái bè, chứa những vật nặng để bán như lu, khạp, hũ, nồi, cà ràng (một loại bếp có đáy chứa tro và than đỏ)… tất cả đều bằng đất sét nung. 

Gia đình má buôn bán theo con nước, nước lớn chèo đi, nước ròng đậu lại để ngủ. Cứ tiện đâu thì đậu đó, không có bến nhứt định. Phía sau ghe có cầu vệ sinh, ông ngoại còn làm thêm cái chuồng nhỏ nuôi heo, vài con gà để ăn khi cần.

Gia đình ông bà ngoại với 6 người con sống trên ghe chài như vậy tới 14 năm, đời sống thanh bình yên ổn. Ông ngoại nói bán thứ gì cũng có lời, phần nhiều bán chịu, tới mùa người ta mới trả tiền. Người dân quê thiệt thà, không gian xảo, tin cậy nhau, nghề buôn bán không cực khổ như nghề làm ruộng. Ông ngoại bà ngoại thương yêu nhau, cuộc sống trên ghe chài nhàn nhã, cá tôm đầy sông. Siêng thì đặt giỏ phủ ít lá cây bẻ hai bên bờ rồi cột dây, buổi sáng để dưới nước, chiều kéo lên cả giỏ đầy cá tôm. Nếu bận rộn mua bán thì kêu ghe lườn chài của người Chà Và lại mua cá.

Nói về người Chà Và Châu Giang ở Kinh Đào, Má kể:

-Họ thường làm nghề lưới cá. Con kinh này do dân đào thành là quê nội của má, nước thông thương từ sông vô kinh để xài và tưới ruộng, cây vườn nên gọi là Kinh Đào.

Nhà bên nội có cây cầu ván bắc ngang sông có một xóm nhà của người Chà, tới chợ Châu Đốc rất gần. Dân làng của má gọi họ là người Chà Và. Họ chuyên bán lúa, trồng cây thuốc và cây sapoche trái nhỏ màu nâu, sau này lên Saigon thấy có bán. Họ cũng trồng một loại cây trái lạ, tên là trái lồng mứt. Người Chà Và không ăn thịt heo, bò. Nhà nghèo thì chài lưới chớ họ không biết câu cá, nôm cá như người mình. Đó là những lườn chèo mà ông ngoại hay gọi mua vì ông ngoại thích ăn cá lớn. Lườn chèo giống như chiếc xuồng ba lá, dài hơn một chút, cao hơn nên có thể đứng chèo.

-Đó là lườn chèo, còn xuồng ba lá ra sao hả má? Tôi hỏi.

Má nói: 

-Má có hỏi ông ngoại, ông nói là xuồng chỉ đóng có 3 miếng ván lớn nên kêu là xuồng ba lá. 

Nhờ Má nhớ trước, quên sau, mà tôi có được chút ít hiểu biết thêm về đời sống thương hồ trên ghe chài suốt 14 năm của ông bà ngoại, cậu hai, má ba, má tư, má năm, má tôi thứ sáu, má bảy và Út (mấy dì chúng tôi đều gọi là má).

Má nghỉ lấy hơi, uống ngụm nước, tôi ép má ăn được 1 cái bánh làm bằng 5 loại đậu, má nói ngon. Rồi má kể tiếp, coi như Má tôi đã quên phứt vụ lo lắng thằng “Cục dzàng” của má không có cơm ăn.

Má nói, hồi nhỏ má đau bịnh liên miên cho tới 4 tuổi. Trời đất, Má nhớ chuyện cũ tới 90 năm xưa. Tôi ngồi im, không dám nói xen một câu để Má không bị ngắt dòng suy tưởng. Ông Ngoại kể thầy thuốc chạy hết, thấy Má gần chết rồi nên không chữa nữa. Lúc đó là dưới trào Pháp. Người Pháp họ dán giấy cùng khắp, nói đang có bịnh dịch, ai chết đâu thì rải vôi chôn ngay chỗ đó, không được chở qua chỗ khác, nếu bắt được sẽ ở tù. Ông ngoại rất lo lắng, nghĩ không biết con gái chết ngày nào. Nếu con chết phải chôn ngay bãi theo lịnh nhà nước, khi nước lên sẽ trôi mất xác hay sao, nên ông ngoại quyết định liền là phải lên bờ cất nhà, con gái có chết thì chôn trên đất.

Thuở đó ở Châu Đốc đã có nhà thương, nhưng dân làng quê má chỉ trị thuốc Ta, không tin vào thuốc Tây. Bịnh thì cắt lá sả, lá bưởi, lá bồ bồ để xông hơi, mua đồng xu trà cảm uống, tiêu chảy thì hái lá ổi non ăn, còn nặng nữa thì hốt thuốc Nam, thuốc Bắc. Thầy thuốc Nam không biết bắt mạch như thầy thuốc Bắc. Ông ngoại mua cả thuốc Nam lẫn thuốc Bắc để chữa bịnh cho con gái. Thuốc Bắc đắng lắm nên má rất sợ, thấy chén thuốc là khóc ngất tới khan cổ, bà ngoại phải dỗ bằng cà na ngọt để ngậm sau khi uống thuốc, về sau má không chịu uống nữa vì sợ đắng, bà ngoại phải dùng chiếc đũa cán ngang miệng mới đổ được thuốc vào họng đứa nhỏ 4 tuổi. Má nhớ còn kinh hồn. Bà ngoại thì ngồi khóc sau khi cán thuốc cho con.

Má nhớ lại chuyện ông ngoại cất nhà.

Ông ngoại xin được miếng đất ở gần Đình Mỹ Đức để cất nhà. Đình là chỗ để dân làng thờ phượng những ông Quan tốt đã chết, Vua cho cất Đình để thờ, phù hộ cho dân làng. Ở quê má, Đình gần gũi hơn Chùa.

Ông ngoại lại nghe người trong làng nói nhà gần đình thì làm ăn không khá, mà gia đình làm nghề mua bán cũng phải tin nên đành kiếm miếng đất khác, xa Đình để cất nhà. Thời may, có một người dân làng, kêu ông ngoại cứ cất nhà đối diện nhà ông, muốn cất bao lớn thì cất nên ông ngoại mừng lắm. Thuở đó, khi cất nhà cứ hô một tiếng, sẽ có trai tráng trong làng tới phụ. người thì chần lá dừa nước để lợp mái, kẻ thì đốn tre, cưa cọc, đóng, chẻ dây lạt, tước lá, dựng lên một mái nhà ấm cúng cho cả gia đình ở.

Ông ngoại kêu người bán chiếc ghe thương hồ, có vốn mở tiệm hàng xén ngay nhà để tiếp tục nghề mua bán, lần này cho hàng xóm trong làng. Ông ngoại qua chợ Xà Tỏn, nhờ hàng xóm chỉ tìm thầy thuốc giỏi chữa bịnh cho má là thầy thuốc Bắc trị bịnh ban rất nổi tiếng không lấy tiền, ai hết bịnh cho gì cũng được.

Sáng sớm hôm đó, ông ngoại cõng má trên lưng vô kinh đón xe tới Châu Đốc, từ Châu Đốc chuyển qua xe khác vô Xà Tỏn, rồi đi bộ rất xa mới tới nhà thầy thuốc. Má nói lúc đó mới 4 tuổi mà má vẫn còn nhớ tới bây giờ. Khi tới nơi thì người nhà nói Thầy đã lên núi hái thuốc rồi, vậy là hai cha con ngồi chờ. Má nhớ nhà ông Thầy thuốc khá lớn, cột gỗ mun đen bóng, phía trước nhà có hàng ba, để bộ ván gõ. Ông ngoại tháo cái khăn sọc rằn quấn đầu, lau bộ ván cho sạch trước khi đặt con gái nằm lên, rồi ông đi vòng vòng ngắm sân trước vườn sau, người nhà thầy thuốc nói vườn sau trồng toàn cây thuốc. Rồi Thầy về, bắt mạch, nói Má đau cả hai ban đen và ban trắng (tôi không biết đau ban là bịnh gì?). Thầy hốt cho 40 thang thuốc vì ông ngoại cho biết nhà ở Mỹ Đức, khá xa.
.
Chuyến về hơi trễ, không có xe nên chặng đường từ Châu Đốc về nhà ở Mỹ Đức ông ngoại phải đi bộ. Thời đó không có xe cộ nhiều, sụp mặt trời là tối thui, làng quê lúc đó chưa có điện, ngang qua những khu mồ mả đom đóm bay đầy.

Ông ngoại đi đâu cũng cầm theo cây thước bản để phòng thân và trị ma (Chuyện này sẽ kể sau). Cây thước bản này làm bằng lõi cây rất rắn chắc, được người bạn làm cây trên núi Cấm đem về cho. Ông ngoại cột một đầu cây 40 thang thuốc, đầu kia ông ngoại cột cái khăn rằn thành võng, cho con gái nằm, rồi ông gánh. Đứa nhỏ 4 tuổi bịnh lâu năm thì chắc nhẹ hều như mấy thang thuốc. Trời tối mịt giơ bàn tay không thấy, hai cha con mới về tới nhà. Bà ngoại chờ sẵn, lấy ngay nửa thang thuốc sắc cho con gái uống. Mỗi thang thuốc chia làm 2 uống hai lần trong ngày, ròng rã 40 ngày. Sau đó ông ngoại còn đi hốt thuốc thêm 2 lần, và lần cuối là thuốc tiêu thì má hết bịnh. Người trong làng ai cũng nói thuốc tiên, con nhỏ đã hấp hối rồi mà còn cứu sống được, ông thầy thuốc đó quá giỏi, nên má mới còn sống tới bây giờ, đã 95 tuổi thọ.

Má cười, thấy má hồng hào hơn.

Vì đứa con gái bị bịnh, mà ông bà ngoại phải từ bỏ cuộc sống thương hồ nhàn nhã trên sông để lên bờ và sống luôn cho tới khi lìa đời ở làng Mỹ Đức.

Nói về cậu Hai, người anh cả của má, má nhớ lại. Về sau cậu Hai lập gia đình, qua chợ Cần Thơ vựa trầu, và gởi trầu về Mỹ Đức cho bà ngoại bán lại. Dân làng quê thuở đó ai cũng ăn trầu nên lá trầu bán rất được giá. Lúc má 12- 13 tuổi, ngày đi học, chiều về phụ bà ngoại cột trầu, gói trầu, được trả công đàng hoàng dù làm ở nhà hay làm mướn cho hàng xóm. Số tiền làm ra má đưa cho bà ngoại giữ giùm, khi đủ thì bà ngoại mua cho chiếc quần Mỹ A. 

Hỏi Má có nhớ gì về người Chà Và ở Tân Châu không, má nói:

-Họ sống riêng biệt thành làng, không sống chung với người Việt. Dù ở ven sông hay trên đất liền, họ cũng cất nhà theo kiểu nhà sàn, với những cửa sổ rất nhỏ. Đàn bà con gái ít khi nào được thấy mặt mũi của họ. Má nói khi họ kêu ghe chài, hay người bán gánh để mua đồ cần, thường là phụ nữ, họ chỉ thò cánh tay trắng muốt mịn màng như bông bưởi ra để trả tiền và lấy đồ. Hỏi, họ có biết nói tiếng Việt không, thì má nói có chớ, họ nói tiếng Việt cũng khá lắm, nhưng họ nói chuyện với nhau bằng tiếng của họ. Má biết phong tục của họ là ăn bốc chớ không dùng đũa như người mình, và không ăn thịt bò, thịt heo, mà họ tin tưởng là ở kiếp trước đó là cha mẹ, là ông bà của họ. Ai mà ăn thịt người trong gia đình, má giải thích đơn sơ như vậy.

Kể chuyện một lúc thì má đói bụng, nhờ vậy mà má ăn hết cả dĩa thức ăn tôi làm cho má, thêm mấy miếng mít vàng giòn ngọt lịm. Tôi nhắc má, đừng kiêng cữ gì nữa, má thèm gì thì cứ ăn. Má nói má làm vậy mà. Trời, Má dễ thương như đứa con nít, kể chuyện xong thì ăn, rồi ngủ khò. 

Mọi năm, tôi đều mong tới tháng tám, để leo máy bay qua California, có dịp gặp Má, mấy chị em, các cháu trong đại gia đình và gặp bạn bè văn chương; được hít thở mùi muối biển mát mẻ, đi câu, ngắm trăng sao nếu may mắn nhằm dịp trăng tròn.

Năm ngoái, mấy chị em, con cháu hùn nhau mướn một căn ca bin rất rộng, đủ chỗ cho đại gia đình ở trong thời gian 4 ngày trên vùng núi Arrowhead, rất thoả thuê vui vẻ. Năm nay mấy chị em mướn căn cabin nhỏ hơn trên vùng núi cao hơn 7 ngàn dặm Big Bear Lake, chỉ có Má và 8 chị em, cùng cô em dâu ở chơi 4 ngày. Không có đám con nít, nên mấy chị em tha hồ đi chơi không bận bịu. Lúc khăn gói cho má, tôi nhét thêm mấy cái tã dành cho người lớn, phòng khi má bịnh, thì có xài cho tiện vào ban đêm. Chăm người già như chăm đứa con nít, phải dỗ ngon dỗ ngọt khi ăn uống, lúc tắm rửa và nếu thường xuyên nói chuyện thì trí nhớ sẽ tốt hơn. Tôi chỉ có thời gian quá ít ỏi bên má. Bình thường có mấy chị em trong nhà thay phiên nhau lo cho má. Suốt thời gian đi chơi, má ăn ngon, ngủ được, và rất vui khi chúng tôi quây quần bên má, kéo má ra ngoài sân hay ra phòng khách để chụp hình. Trong đám con của má có một đứa thứ bảy là y tá, cho nên rất an tâm giao phó trách nhiệm cho em.

Vào ngày thứ hai ở Big Bear, em út Thúy đã lái xe suốt 11 tiếng đồng hồ từ vùng núi cao hơn 10 ngàn bộ ở hồ Tahoe, chiều tối và suốt đêm xuyên núi đồi quanh co, đường đi nguy hiểm, tới rạng sáng nhỏ Út Thúy bất ngờ xuất hiện ở cửa cabin cùng đứa con gái nhỏ, đến chơi với Má và gia đình được hai ngày, như vậy lần này hình ảnh gia đình chúng tôi có đủ mặt 8 chị em, bên cạnh má tôi. Những lần trước, những năm trước, và trước nữa, họp mặt gia đình, có mặt đứa này cũng thiếu đứa kia cho nên bọn tôi cứ phải ráp hình cho đủ 8 đứa, lần này không cần “photoshop” gì hết, luôn có đủ 8 chị em bên Má. Thấy má vui lắm, cười toét miệng khi chúng tôi làm trò khỉ, đạo diễn cho Má chụp hình với thằng “Cục dzàng”.

Tôi biết, Ba tôi đâu đó, đang nhìn xuống và cười cùng chúng tôi. Má của chúng tôi sẽ sống lâu trăm tuổi mới gặp lại ba tôi. Ba chờ hơi lâu nha Ba.

Lần sau má con tụ họp, chắc tôi sẽ hỏi để nghe má kể chuyện tình của Ba Má lúc má là cô gái vựa trầu ở Cần Thơ, ba là một chàng Cảnh Sát trẻ tuổi, rất đẹp trai, và… họ gặp nhau.

Trương Ngọc Anh

Blog Archive