Showing posts with label HỒ TRƯỜNG AN. Show all posts
Showing posts with label HỒ TRƯỜNG AN. Show all posts

Tuesday, July 9, 2024

GẢ THIẾP VỀ VƯỜN

HỒ TRƯỜNG AN

Me mong gả thiếvề vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh
Ca dao

Bà Phán Hoành bảo con gái:
- Không phải má ép uổng con, nhưng má thấy thằng Ba Thoại hiền lành lại con nhà khá giả, có của ăn của để nên má mới tính gả con cho nó.

Cô Hai Phụng Cơ e dè:
- Con không muốn cãi má, nhưng lấy chồng miệt đó con ngại lắm. Má ơi đừng gả con xa, chim kêu vượn hú biết nhà má đâu! Nội nghe ba tiếng U Minh Thượng là con rùng rợn rồi!

Ngọn đèn đặt trên chiếc bàn dài giữa cặp trường kỷ chạm nai, khỉ, chim, sóc, chùm nho bỗng kêu một tiếng tách, tóe bông đèn rực rỡ như chùm pháo bông. Bà Ký Banh trấn an:

- Cháu đừng lo, Ông bà Hội đồng Huờn, ba má thằng Toại giàu sụ, có toà cao lẫm lớn, dãy dọc nhà ngang. Dinh cơ họ rộng minh mông, đầy cây cao bóng mát. Ổng bả tuy ở miệt khi ho cò gáy nhưng biết cách ăn ở theo người tỉnh thành, nuôi nhiều tôi trai tớ gái. Cháu mà về làm dâu nhà họ, cháu khỏi làm động tới móng tay, sẽ có ba con tớ gái hầu hạ. Một đứa lo việc chải đầu rửa mặt, một đứa lo việc bếp nước, một đứa để cháu sai vặt. Con vợ thằng Hai Tường sao thì cháu cũng được như vậy.

Cô Hai Phụng Cơ liếc xéo bà Ký Banh. Bà nầy có tật ít xít ra nhiều. Vận sự nào mà lọt qua miệng bả cũng được bả nhơn lên gấp rưỡi, gấp đôi sự thiệt. Ðó là vận sự thường. Còn đối với việc làm mai làm mối, làm áp-phe để sanh lợi biết đâu bả chẳng nhơn lên gấp ba gấp bốn, một nhúm gạo bả nấu thành nguyên nồi cháo, nghe tiếng pháo bả sẽ hô tiếng pháo thần công cũng không chừng. Chèn ơi, lúc kể về cái bề thế giàu sang quí phái của ông bà Hội đồng Huờn, mặt bà Ký Banh như mê đi. Bà Phán Hoành ngồi giảo tai ra nghe, miệng nín khe nhưng cặp mắt long lanh háo hức, coi không giống ai.

Cô Hai Phụng Cơ là bạn cô Tư Nguyệt Yếng, con gái của bà Ký Banh. Cô nầy có người chị con nhà bác tên Hai Nguyệt Thanh lấy con trai lớn của ông bà Hội đồng Huờn là Hai Tường. Song thân cô Hai Nguyệt Thanh là ông bà Phủ Bảnh chẳng những có tước trọng quyền cao mà lại là bực đại điền chủ ở Vĩnh Long, có 200 mẫu ruộng tốt ở miệt An Hương, Mỹ An. Khi cô Hai Nguyệt Thanh về làm dâu ông bà Hội đồng Huờn thì ông bà Phủ Bảnh cho cô hai đứa tớ gái là con Xiêm, con Lài theo hầu.

Theo lẽ thường, khi sanh con đầu lòng, con gái phải về nhà cha mẹ, xổ bầu, tịnh dưỡng cho tới khi cứng cáp mới về lại nhà chồng. Cô Hai Nguyệt Thanh vừa về tới nhà tía má mình, véo von với lũ em liền:

- Chèn ơi, được về đây, tao tưởng chừng ở chín tầng địa ngục trồi lên dương gian. Bởi tao lụy ảnh nên tao mới chịu về U Minh Thượng chớ xứ gì mà đầy rừng tràm, nước đỏ au, đất phèn khô khao khô khốc, trồng chuối còn chưa được, nói chi tới trồng cam, quít, ổi, mận... Hãy day qua bên nầy thì gặp rừng tràm; day bên nọ thì gặp sóc Thổ; ngó về bên kia là đồng đầy cỏ lác, cỏ năng; ngước qua đàng trước gặp đám điều lộn hột; ngoái lại đàng sau là thấy ao, bàu, lung, vũng, đám sậy, rừng lau…

Về tới Vĩnh Long, cô Hai Nguyệt Thanh ăn hàng để báo thù những ngày thèm lạt ở chốn khỉ ho cò gáy. Cô ăn quít đường, cam hồng mật, đu đủ, xoài, mận, ổi xá lỵ…Cô ăn ốc gạo, thịt heo quay, thịt vịt quay…Nhưng hôm cô Hai Phụng Cơ theo cô Tư Nguyệt Yếng tới thăm ông bà Phủ Bảnh, được mời ăn cơm, mới rõ được phần trù phú của quê chồng cô Hai Nguyệt Thanh. Vừa ngồi vào mâm, cô Hai Nguyệt Thanh đã trề môi nhún mỏ, ỏng ẹo chê bai:

- Xời ơi, con cá lóc xứ Vãng mình sao mà ốm o đèo đẹt! Tôm trứng cỡ ngón tay thì nhiều mà tôm càng cỡ cườm tay thì ít nên mắc như vàng. Xứ sở của chồng tui bị thiệt hại về trái cây nhưng được xôm về tôm cá. Tôm càng dưới đó rẻ rề, mỗi lần ăn tôm, lấy gạch ra cầu cả chén. Cá lóc, cá bông bự bằng bắp chơn, trứng lớn cả ngón trỏ…Còn loại cá lụn vụn như cá chốt, cá rói, cá linh ai mà thèm ăn! Thứ đó chỉ dùng làm phân bón rẫy. Từ hôm về đây, bà con có thấy tui đi ăn cá nướng trui, bún tôm nướng, chạo. suông bao giờ chưa? Mấy món đó, chị bếp của tía má chồng tui làm hà rầm, ăn tới ngán ngược…

Cô Hai Nguyệt Thanh vừa sanh xong thì tuần lễ sau Hai Tường và Ba Thoại đi đò máy rồi đi xe đò lên thăm ở chơi nhà ông bà Phủ Bảnh vài ngày. Cô Hai Phụng Cơ tháp tùng cô Tư Nguyệt Yếng đến đó chơi nên cô lọt vào mắt xanh chàng công tử miệt vườn Ba Thoại.

Hai Tường trắng trẻo, cao lớn, đẹp trai, ăn nói mềm mỏng duyên dáng, cô Hai Nguyệt Thanh vui lòng về làm dâu chốn khỉ ho cò gáy cũng phải. Còn Ba Thoại tuy cao lớn như anh, mặt mũi không có gì đáng chê trách, nhưng sắc diện lầm lì, cặp mắt soi mói, nhìn ai là như muốn xoáy vào da thịt, tim gan đương sự. Vừa mới chạm mặt chàng ta, cô Hai Phụng Cơ đã nghĩ thầm: «Cái thứ tẩm ngẩm tầm ngầm như tên nầy dám làm chuyện động trời động đất lắm đa. Xời ơi, cái miệng thằng chả khi cười coi sao mà nham nhở! Tui có giành trâu cướp ruộng hắn đâu mà hắn cứ nhìn tui gườm gườm như muốn ăn tươi nuốt sống vậy cà! »

Ba Thoại muốn ăn tươi nuốt sống cô Hai Phụng Cơ thiệt. Chàng nhờ chị dâu mình cậy bà Ký Banh làm mai cô Hai Phụng Cơ cho chàng sau khi viết thơ về tỏ tường trong đục cho cha mẹ hay.

° ° °
Cô Hai Phụng Cơ lấy chồng mà lòng bất mãn lắm. Không phải cô chê Ba Toại xấu trai hay dị dị, nhưng khi nghĩ đến cảnh đi làm dâu tại vùng cực nam đất nước, chốn đĩa vắt muỗi mòng, trên có rừng cọp, dưới có sấu mà tay chơn cô bủn rủn, hồn phách cô bàng hoàng.

Ðám cưới được tổ chức tại nhà hương hoả của ông bà Cai Tổng Viên, anh ruột của bà Hội đồng Huờn, thuộc quận Cái Răng, tỉnh Cần Thơ. Cô dâu chú rể ở đó chơi một tháng hoặc đi Sài gòn, Vũng Tàu tùy ý rồi mới trở về U Minh Thượng.

Trước ngày vu qui, cô Hai Phụng Cơ khóc với cô Tư Nguyệt Yếng:
- Tao lấy chồng mà lòng lạnh ngắt. Trời đất thánh thần ơi, rồi đây về U Minh Thượng nếu tao không bị muỗi tha xác thì cũng bị đĩa hút hết máu, sống sao cho nổi để về thăm mẹ cha, chòm xóm cùng bạn bè xứ Vãng nầy?

Bà Ký Banh bảo bà Phán Hoành:
- Rồi đây con Hai của chị sẽ ăn nên làm ra. Từ của cải ruộng đất của chồng, nó sẽ làm ra cơ nghiệp đồ sộ cho chị coi. Hôm tui tới nhà chị làm mai thì thấy ngọn đèn trổ bông chói loà. Ðiềm hên đó đa chị!

Cô Hai Nguyệt Thanh bảo cô Tư Nguyệt Yếng và cô Hai Phụng Cơ:
- Má chị có lần đi xuống U Minh Thượng dự đám tang của bà mợ dâu, có dịp viếng nhà ông bà Hội đồng Huờn. Bả thấy gia cảnh của họ rỡ ràng nên muốn gả chị cho anh Tường, không cậy ai mai mối. Khi trở về đất Vãng, bả rủ chị tới thăm cậu của chị, rồi tổ chức cho anh Tường gặp chị. Vừa gặp chị, cả hai bị tiếng sét ái tình long trời lở đất, dội ngực thốn tim. Bởi đó chị mới chịu về cái xứ quê mùa hẻo lánh đó làm dâu.

Ai cũng nói vô thì cô Hai Phụng Cơ làm sao lộn nài bẻ ống tháo ra đây? Vào thập niên 30, các cô gái đều phải chịu cảnh cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Vả lại Ba Thoại chẳng những có ăn học mà còn dễ coi, vóc mình liền lạc, tay chơn cứng cáp, phải thế trượng phu, cho nên cô đành ngâm hai câu:

Ra đi là sự đánh liều,
Mưa mai nào biết nắng chiều nào hay

Cô Hai Phụng Cơ đi lấy chồng thì cảnh nhà ông bà Phán Hoành lạnh ngắt. Bởi tánh cô bãi buôi vui vẻ, ưa nói véo von, ưa cười giòn khấm khứu, ca hát lảnh lót nên cảnh nhà ấm áp, vắng cô là vắng tất cả sinh động. Cây khế ngọt trổ bông tím quanh năm ngoài bến nước từ đó vắng bóng cô chiều chiều ra hóng mát hoặc thêu thùa. Có chàng trai chiều chiều chèo tam bản dọc trên sông Long Hồ, khi qua đó thường ngâm nga:

Trèo lên cây khế mà rung
Khế rớt đùng đùng không biết khế ai!
Khế của ông Phán chẳng sai
Khế vừa có trái, cô Hai đi lấy chồng…

Hôm đám cưới, cô Hai Phụng Cơ mặt mày ủ ê bất mãn. Lũ chị em cô cậu, lũ chị em bạn dì, lũ chị em chú bác với cô kẻ thì lấy chồng cùng tỉnh, người thi lấy chồng Sài gòn, Mỹ Tho, Cần Thơ, Sa Ðéc…ai cũng được hưởng ánh sáng thị thành, ai cũng có dịp khoe thú ăn chơi, những chuyện giao du của mình với xã hội…Riêng cô phải lấy chồng xa mút tí tè. Ðã vậy khi xe nhà trai tới thì trời bắt đầu mưa lâm râm, tới lúc ông bà mai lên cặp đèn sáp chạm rồng phụng thì bên ngoài mưa như cầm tĩn mà đổ. Tuy nhiên hai ngọn đèn cháy đều, sáng phừng như hai búp sen bằng lửa.

Trên đường về Cái Răng qua bắc Cần Thơ, tới nhà ông bà Cai Tổng Viên, trời vẫn mưa lai rai. Trước khi ra xe để về Vĩnh Long, bà Ký Banh vịn vai cô Hai Phụng Cơ, cười ngỏn ngoẻn:

- Ðám cưới mà gặp mưa là điềm tốt đó đa cháu. Lại nữa, khi bác trai và bác lên cặp đèn, thì ngọn đèn cháy đều và sáng quắc. Thêm một điềm tốt nữa, cháu có thấy không?

Cô Hai Phụng Cơ miệng thì dạ dạ nhưng cặp mắt kín đáo liếc xéo bà mai, tại bà thày lay mà tui xa xứ, tại bà ham đầu heo bự mà tui lìa quê.

Cô Hai Phụng Cơ hai tuần sau, từ Vũng Tàu gởi thơ cho cô Tư Nguyệt Yếng:

Ô Cấp, ngày….
Bớ con Nguyệt Yếng,

Chồng tao dắt tao đi Ô Cấp, ở khách sạn để hưởng tuần trăng mật. Sau đó ảnh sẽ đưa tao qua Long Hải ở chơi thêm một tuần nữa. Tụi tao sẽ leo núi Bồng Lai, viếng am cốc..

Giờ đây tụi tao tắm biển đã đời, ăn sò huyết, cua biển, ghẹ, nghêu, chem chép, ăn đủ món cá…Tao thức thiệt khuya, dậy thiệt trể, đêm ngắm trăng biển, ngày nghe nhạc phi lao. Tao phải nói rằng tao hạnh phúc. Chồng tao cưng tao lắm Yếng à. Trung tuần tháng tới tao sẽ theo chồng về chốn U Minh Thượng xa lắc tí tè. «Có chồng thiếp phải theo chồng. Nắng mưa thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam ». Có tình yêu của chồng, tao thấy cuộc đời nơi quê hương mới không còn ghê gớm như tao đã nghĩ trước kia. Rồi đây mầy và tao mỗi người mỗi ngả, hướng rẽ càng dang xa. Tao chỉ biết cầu cho mầy hạnh phúc viên mãn, cầu luôn cho trăm năm sau, hạnh phúc của tao vẫn tròn trịa như bây giờ, không sứt mẻ, không trầy trụa, Yếng à.

Tao tạm dừng bút. Hẹn khi về tới U Minh Thượng sẽ gởi thơ tiếp. Nhớ cầu Trời Phật phò hộ cho hai đứa mình nghen mậy.

Bạn mầy,
Trần thị Phụng Cơ

Bà Ký Banh nhân một hôm đến nhà bà Phán Hoành ăn giỗ, cười bảo bạn:
- Con gái đứa nào cũng như đứa nấy, hễ đi lấy chồng xa là mặt mày ủ dột, oán ghét ông bà mai cắc cớ trớ trêu xô tụi nó ra khỏi nhà cha mẹ. Ðó, chị coi đó, con Hai bây giờ cơm ngon canh ngọt với chồng, nó viết thơ về tháo trút tâm sự với con gái tui mà tâm sự nào cũng hân hoan ráo trọi.

° ° °
Cô Hai Phụng Cơ vừa đút đầu vô nhà chồng ở U Minh Thượng là gặp cái không khí nghiêm trọng rồi. Ông bà Hội đồng Huờn mặt như tráng một lớp thép mỏng nguội ngắt. Hai Tường tuy cười mà nụ cười kềm hãm không để lộ nguyên hàm như hồi chàng đến thăm ông bà Phủ Bảnh. Còn cô Hai Nguyệt Thanh chưa chi đã đổi gương mặt nhí nhảnh hồn nhiên thành vẻ mặt trịch thượng của bậc kẻ cả, thấy mà ngứa gan.

Dinh cơ của ông bà Hội đồng Huờn cách chợ làng khoảng năm cây số. Chợ nầy có nhiều gian hàng lợp lá của người Tàu, có tiệm mì, hủ tiếu, có tiệm chạp-phô tiệm vải. Từ nhà họ, khách bộ hành có thể vượt qua đám điều lộn hột hoang dã, vượt qua bãi lau sậy, qua cánh đồng cỏ năng để đến sóc Thổ của người Miên rồi đến xóm Cây Da của người Việt dọc theo dòng kinh đào. Từ vàm kinh đào giáp với lòng rạch song song với rừng tràm, du khách có thể vượt sáu cây số là tới chợ Chắc Băng, nơi thị tứ sầm uất.

Nhà ông Hội đồng gồm ba căn hai chái, nóc lợp ngói âm dương, nền đá da qui cao tới ngực, ở hàng ba thì lót gạch men trắng vẽ bông xanh, bên trong lót gạch trắng chen gạch đỏ. Bên trái ngôi nhà từ ngoài ngó vô là sân lót gạch tàu, kế đó là lẫm lúa gồm ba căn, vách bổ kho, mái lợp ngói móc. Lẫm lúa cũng có hai chái. Chái bên trái dành để nông cụ, chái bên mặt để cối xay lúa và cối giã gạo. Trong sân nhà có cây mù u tàn rậm, che bóng mát một vùng. Sân trước bày hòn non bộ, mấy chậu cau kiểng, tóc tiên, kim quít. Phía sau nhà là cây da xà cũng để lấy bóng mát. Trong vườn, ông Hội đồng Huờn cho trồng dừa Tam Quan, cau xiêm, mãng cầu xiêm. Ông cũng đang thử trồng chuối nhưng vì đất còn nhiều phèn nên chuối còi cọc lắm. Chung quanh khuôn viên nhà, ông cho đào mương, mỗi hướng có chiếc cầu tre bắc qua bên kia đường đê của đám ruộng. Dọc theo mương, ông trồng làm hàng rào bên ngoài, trồng cây xương rồng và cây độc trụ bọc bên trong.

Vợ chồng Hai Tường chiếm căn phòng ở chái bên trái, có cửa sổ trổ ra sân gạch tàu và lẫm lúa. Vợ chồng Ba Thoại chiếm căn phòng ở chái bên mặt, có cửa sổ ngó ra mương nước thả dây ấu xanh tươi,

Cô Hai Phụng Cơ từ nhỏ tới lớn chỉ lo ăn học. Tư tưởng tự do lãng mạn nơi mấy cuốn tiểu thuyết từ năm nầy qua năm nọ chui vô óc cô rồi mắc kẹt luôn trong đó. Song nó chưa có dịp ngo ngoe vẫy vùng. Bởi lẽ cô chưa va chạm với đời nhiều nên cô còn nhút nhát. Bởi lẽ ba má cô giáo dục cô theo lối xưa nên cái tánh quật khởi của cô chưa có dịp cháy phừng. Về nhà chồng, cô chẳng biết nấu nướng chi ngoài các món cá kho, thịt kho, vài món canh, món xào thông thường. Trong khi đó, cô Hai Nguyệt Thanh là con ông Phủ, địa vị bên cô ta trội hơn bên chồng nên cô được thung dung tự tại, làm bếp hụ hợ, thêu may cầm chừng. Cô Hai Nguyệt Thanh ngoài con Lài, con Xiêm là hai tớ gái cô mang theo, cô còn được bà má chồng cho thêm con Kim Heng lai Miên để cô sai vặt. Trong khi đó, cô Hai Phụng Cơ chẳng mang theo tớ gái nào, mà bà Hội đồng Huờn cũng chẳng nghĩ tới việc mướn cho cô một mụ nào để phụ bếp, để coi sóc nhà cửa giúp cô. Từ khi cưới cô cho Ba Thoại, bà Hội đồng Huờn cho mụ bếp Năm Cánh nghỉ việc. Con Lài, con Xiêm tuy có phụ cô việc bếp núc, việc coi sóc nhà cửa, nhưng tụi nó không phải là đầy tớ của cô nên cô không dám sai bảo tụi nó nhiều hay cằn nhằn rầy la chi cả.

Một hôm, cô Hai Phụng Cơ nấu cơm gạo mới. Cô vô ý đổ nhiều nước và đợi cơm sôi ba dạo mới chắt nước. Cô Hai Nguyệt Thanh khi mở nắp vung ra liền cười bảo bà Hội đồng Huờn:

- Mèn ơi, con tưởng đâu hôm nay thím Ba khuấy bánh đúc chớ!

Bà Hội đồng Huờn xáng cho cô Hai Phụng Cơ một cái nhìn nháng lửa:
- Xời ơi, ai coi con dâu út của tui! Nó nấu cơm chẹt nhẹt, nhão nhừ làm như ai nhai cơm rồi nhổ phẹt vô nồi vậy!

Khoảng đời làm dâu ba năm của cô Hai Phụng Cơ tốn biết bao là nước mắt. Nhưng trời bù đắp là Ba Thoại yêu thương cô rất mực, thường che chở cho cô nên cô cũng nguôi ngoai phần nào. Lại nữa cô Hai Nguyệt Thanh chỉ đẻ một mụn con gái rồi nán một thời gian dài. Còn cô Hai Phụng Cơ đẻ liên tiếp hai đứa con trai. Nhờ sanh đẻ, máu huyết thay đổi, cô Hai Phụng Cơ phốp pháp và trắng phau phau.

Ít lâu sau, ông bà Hội đồng Huờn cất nhà cho vợ chồng Ba Thoại ở xóm Cây Da để cả hai trông nom sở ruộng ba mươi mẫu, loại ruộng gò. Nhà của họ cũng ba căn hai chái, vách bổ kho nhưng mái lợp ngói móc, nền lót gạch tàu. Chung quanh khuôn viên là hàng rào đóng bằng cây tràm khô dầy bịt.

Ngay khi về nhà mới, cô Hai Phụng Cơ ỏn ẻn với chồng:
- Em thiệt không ngờ mình cưng em nên khi thì òn ỉ, khi thì làm trận làm thượng với ba má để giờ đây vợ chồng mình có giang sơn một cõi. Có vậy em mới tìm lại đời sống riêng cho em, cho anh…

Trong lúc bồng bột vì sung sướng, Ba Thoại ôm vợ hun trơ hun trất:
- Em càng ngày càng mơn mởn nuột nà, nhìn hoài không chán, nhìn suốt tháng cũng chưa bưa. Hễ chỗ nào em vui là anh vui. Ba mươi mẫu ruộng nầy là của chú Tư anh để lại cho anh chớ không phải của ba má anh đâu.

Về ở xóm Cây Da, cô Hai Phụng Cơ sắm chiếc ghe hầu, mui sơn xanh da trời, mũi ghe chạm trổ, khung cửa khoang cũng chạm trổ. Hễ buồn buồn, cô kêu bạn chèo ghe đưa mẹ con cô ra chợ Chắc Băng ăn mì, cháo, hoành thánh, nem nướng đã đời. Ðôi khi cô cùng chồng đi viếng các sở rẫy của người Triều Châu, mua bông bí đem về luộc chấm nước cá kho hay chấm mắm nục, mắm nêm. Có lần đi ngang Cầu Ðúc Cái Xình mua dưa hấu về ăn Tết, gặp trái ruột hường lợt, cô xắt ra để nấu canh tôm thịt rồi rắc tiêu, hành, ngò gai. Rừng tràm bên kia dòng rạch đầy dây choại, hễ khi ăn chay cô sai con Tím qua bên đó hái đọt choại nõn mềm về luộc. Khoai lang ở đây rẻ rề, cô sai bà vú Dần mài khoai ra nhào với nước rồi vắt nước cốt lược qua lớp vải the mỏng. Bột trong nước cốt lắng xuống, cô chỉ cần gạn bỏ nước trong rồi đem bột ướt phơi khô. Thứ bột nầy khuấy nước sôi, trong văn vắt, có màu nâu tím lợt, pha với đường phèn là trở thành một môn thuốc giải nhiệt thần sầu, chẳng những ngon miệng mà còn trị được chứng mụn nhọt, đổ ghèn…

Cô Hai Phụng Cơ khi về xóm Cây Da, đẻ lần thứ ba con tiểu tỳ song sanh, ba năm sau cô rặn thêm một con oắt tì nữ. Còn bên U Minh Thượng, cô Hai Nguyệt Thanh đẻ thêm một đứa con gái đèo đẹt nữa rồi nín luôn.

Cô Hai Phụng Cơ biết địa vị của mình trong gia đình chồng đã vững lắm rồi. Cô ngoả nguê trong hạnh phúc với người chồng lúc nào cũng một lòng một dạ yêu cô. Nhưng cô vẫn còn vài điều bất mãn. Trước hết là cuộc đất ở xóm Cây Da khô khao, đất chỉ có thể làm rẫy chớ không thể lập vườn. Ở đây chỉ có cây da, cây gừa, cầy bình bát sống được. Nhìn quanh quất cô chỉ thấy rừng tràm dầy bịt, còn là đồng chua, đất khô nứt, hoa đũa bếp nở rộ khi mùa mưa lướt thướt kéo về. Chợ Chắc Băng thì xa, rồi đây hai đứa con trai cô phải rời xóm Cây Da ra ngoài học, sáng đi chiều về bằng tam bản, thiệt không tiện chút nào. Thêm nữa, cái sóc Thổ gồm toàn là người Miên khiến cô ngại lắm. Người Miên vốn giỏi bùa chú, thư ếm. Biết đâu họ thấy vợ chồng cô giàu có sẽ thư ếm cho cả hai điên khùng hoặc đỏan mạng để đoạt của.

Bà Hội đồng Huờn tuy thương yêu hai thằng cháu nội nhưng vẫn không hề thông cảm với nàng dâu út. Bà tức ấm ách vì từ khi về xóm Cây Da, cô Hai Phụng Cơ tìm cách đuổi hết tôi trai tớ gái bà đưa đến. Từ chị bếp, cô tớ sai vặt, chị vú, các anh lực điền đều là người quen biết của cô Hai Phụng Cơ, của bà Phán Hoành đưa về. Bà Hội đồng Huờn ghim mối bất mãn trong bụng nên lâu lâu bà giả đò đến xóm Cây Da để thanh tra và quan sát nếp sống của vợ chồng Ba Thoại. Bà lấy cớ ở cuối xóm có ông thầy thuốc Miên giỏi tài trị phong thấp bằng ngải và lá thuốc cứu nên lâu lâu bà cần đến xóm Cây Da vài ngày, truớc trị bịnh, sau để tiện đường ra chợ Chắc Băn nhờ ông Bang Xạch Hui ở tiệm thuốc Khương Kiện Ðường coi mạch hốt thuốc ích khí bổ thần cho bà.

Cứ mỗi lần bà Hội đồng Huờn cùng con ở tên Thia tới nhà là cô Hai Phụng Cơ như cá mắc cạn. Cô quay mòng phục dịch mẹ chồng, không dám nhõng nhẽo với chồng. Bà Hội đồng Huờn đụng đâu là chê đó:

- Nè vợ thằng Ba, đây là chỗ tạm, mầy sắm chi chén kiểu dĩa kiểu nhiều dữ vậy? Còn đồ chứa nước mưa, mầy chỉ cần sắm hai chiếc mái dầm là đủ rồi, ai coi nó đã sắm hai chiếc mái dầm rồi còn đến thêm lu bầu, rồi khạp, rồi bồn, rồi ảng…Nhà ông Thiên Hộ, nhà ông Vạn Hộ chưa chắc xuê xoang bằng nhà nầy. Chèn ơi, cái sân thì nhỏ, để dành phơi lúa chớ, sao mầy trưng bày bùm sụm, cau kiểng, mít kiểng làm chi? Theo mép rào mà mầy không biết trồng bông đũa bếp là mầy quê lắm…Nhà nầy sao mà không phép tắc gì hết! Tôi trai hễ rảnh là nhậu nhẹt, tớ gái bạ đâu nằm đó, rồi tụm năm tụm bảy ngồi lê đôi mách, không thèm lý tới việc nhà…

Rồi vào một lần thăm viếng của bà Hội đồng Huờn, cô Hai Phụng Cơ bắt đầu phản kháng. Cô thấy mẹ chồng cô cư xử vượt quá giới hạn hơi xa. Hễ tức nước vỡ bờ, già néo thì đứt dây, cho nên cô đợi dịp trả đũa.

Trưa hôm đó, sau một chầu chỉnh lý nàng dâu, bà Hội đồng nằm trên võng đong đưa thiu thiu dỗ giấc. Trong khi đó cô Hai Phụng Cơ ngồi trên chiếc divan cẩm lai, cắt chiếc quần đáy giữa bằng cẩm nhung trắng. Cô liếc xéo về phía mẹ chồng. Xời ơi, người gì mà khuôn mặt lưỡi cày, cặp môi củ ấu, đôi chơn mày xiên xiên, cái bên mặt dấu sắc, cái bên phải dấu huyền. Mặt mày như vậy hèn gì tánh tình khó khăn! Tui vốn nghiệp dầy đức mỏn, phước cạn nghiệp sâu nên mới nhào vô làm dâu mụ mẹ chồng khó tánh hay chấp nhặt chấp thưa như bà thái hậu Ðịch Thiên Kim…Tui phải làm sao cho bả từ đây nể mặt tui, lần lần tránh xa tui, để tui thở khoan khoái, ợ ngáp tự do, duỗi co mặc ý…

Cô Hai Phụng Cơ vừa thấy thằng Khương đi ngang qua liền hét lên:
- Khương, tại sao bà nội mầy vừa ngủ mầy làm lộp cộp lạc cạc vậy? Ðồ bất hiếu, không sợ trời đánh hay sao chớ?

Bà Hội đồng Huờn giật mình choàng dậy thì cô Hai Phụng Cơ bồi liền:
- Ðời nay con cháu gì kỳ quái! Bà nội tụi nó già cả giấc ngủ càng lúc càng ngắn, bữa ăn càng lúc càng vơi, vậy mà khi bả mới dỗ giấc là tụi nó chạy rần rần, khua động rầm rĩ thì bực già cả làm sao ngủ ngon được!

Bà Hội đồng Huờn thở dài, đưa võng qua lại, mắt khép mà miệng lầu bầu. Cô Hai Phụng Cơ xuống bếp kiếm cái dĩa nhôm rồi trở lên chiếc divan cẩm lai. Vừa khi nghe mẹ chồng ngáy se sẽ, cô lấy chiếc kép đập vô dĩa nhôm, và dù không thấy thằng Ninh ở đâu, cô cũng la oai oải:

- Thánh thần thiên địa ơi! Mầy làm giống gì vậy Ninh? Bà nội mầy vừa ngon giấc kia cà, bộ mầy đui hay sao mà cứ làm ầm ầm loảng xoảng, bưng đầu nhức óc vậy Ninh? Mầy gan quá mà, mầy không sợ lưỡi búa Thiên Lôi mà!

Bà Hội đồng Huờn choàng tỉnh dậy, giựt mình thảng thốt, cô Hai Phụng Cơ giả nhơn giả nghĩa:

- Xin má cứ ngủ ngon giấc. Bởi hai thằng cháu khỉ khọn rắn mắt cứ chạỳ giỡn làm đồ đạc rớt bể tùm lum không cho má ngủ suông sẻ nên con phải la rầy tụi nó.

Bà Hội đồng Huờn lại tiếp tục dỗ giấc. Vừa nghe bà ngáy như cưa cây, như thụt ống bễ lò rèn, cô Hai Phụng Cơ ré lên:

- Tiên nhơn tổ đường ơi, diều tới kia cà! Bây đâu? Mau đuổi diều mau coi nào. Tụi nó bay qua sân thế nào cũng xớt gà con ăn thịt. Ê! Ế! Diều! Diều! Ê! Ế! Bay chỗ khác chơi!

Bà mẹ chồng lồm cồm ngồì dậy, nguýt nàng dâu một cái nháng lửa rồi đứng dậy phủi đít bước ra hàng ba.

° ° °
Dòng lịch sử chảy qua biết bao khúc quanh biến động. Từ khi ra riêng ở xóm Cây Da, cô Hai Phụng Cơ cứ òn ỉ chồng mua vé quốc trái và gởi tiền vào Ðông Dương ngân hàng. Riêng cô, cô lo sắm vàng, sắm hột xoàn và gởi cho má cô giữ.

Trước năm 1945, nào Nhựt đảo chánh Tây, nào giặc Ðàng Thổ dậy lên giết chóc người Việt, nào bọn Việt Minh đêm bắt hào phú trong làng đem đi thủ tiêu...Riêng ở xóm Cây Da, nhờ ngài lục cụ và mẹ sóc hiền đức, tu hành tinh tấn nên dân Ðàng Thổ không nổi lên làm giặc. Tuy vậy cô Hai Phụng Cơ vẫn sợ lắm, cô òn ỉ chồng bán ba chục mẫu ruộng cho ông bà Bang Biện Hanh rồi dọn về Vĩnh Long mở tiệm bán đồ tạp hoá nhập cảng từ bên Tây.

Năm 1945 khi Việt Minh lên nắm chánh quyền, vợ chồng Ba Thoại bị bọn Quốc gia Tự vệ cuộc bắt tống giam về tội giao du với Tây. May nhờ có Ba Tốt, chồng Tư Nguyệt Yếng vốn có công trạng với Việt Minh, ra tay can thiệp nên cả hai chỉ bị cạo đầu và giam hai tuần lễ rồi được thả ra.

Riêng ông Hội đồng Huờn thì bị bọn Việt Minh bắt đem thủ tiêu. May cho Hai Tường nhờ theo ghe lúa đem bán cho chành ở Cái Răng nên thoát nạn. Cô Hai Nguyệt Thanh tom góp của cải rồi cùng hai con chèo ghe than len lỏi đến chợ Vàm Xáng, Hoả Lựu rồi đi đò máy về Cái Răng. Sau đó, vợ chồng Hai Tường lên Lèo làm ăn, mở hãng xuất nhập cảng, công việc buôn bán càng lúc càng phát đạt.

Khi Tây trở lại, Ba Tốt phải bỏ nhà vào khu Tám. Ðể nhớ ơn cứu mạng, cô Hai Phụng Cơ giúp vốn cho Tư Nguyệt Yếng mở một tiệm chạp phô bán đồ nhậu kèm với món cháo cá giò heo đối diện với miễu Quốc Công.

Khương, Ninh vừa lớn thì tỉnh Vĩnh Long đã mở trường Cao Tiểu. Cả hai trúng tuyển vào năm đệ nhứt. Cô Hai Nguyệt Thanh cũng cho hai đứa con gái mình là Nguyệt Hiên, Nguyệt Phố về ở với ông bà Phủ Bảnh. Nguyệt Hiên học sau Khương, Ninh một năm, còn Nguyệt Phố học chung trường Long Hồ với ba cô con gái của Ba Thoại là Phụng Kiều, Phụng Các, Phụng Song.

Trước khi người Thổ dậy giặc khắp Hậu Giang thì bà Hội đồng Huờn bị té, mang chứng bán thân bất toại. Chính cô Hai Phụng Cơ đến U Minh Thượng săn sóc mẹ chồng. Chính cô huấn luyện con Thìn trong việc chăm nom bà trước khi cô trở về xóm Cây Da. Sau khi bà chết đi, tình bạn giũa cô và cô Hai Nguyệt Thanh nẩy nở chơn thành. Rồi đó, những cơn gia biến đã thắt chặt thâm tình của hai chị em bạn dâu thêm chặt chẽ.

Thù giết tía chồng, thù bị sung công ruộng đất, thù bị cạo đầu xâm chàm vào tâm khảm cô Hai Phụng Cơ. Tuy thương yêu, biết ơn cô Tư Nguyệt Yếng nhưng cô vẫn không làm sao có cảm tình nổi với phe kháng chiến mà cô biết rằng cùng một phồn một lũ với bọn Việt Minh cộng sản. Cô Tư Nguyệt Yếng từ chỗ có chồng vào bưng kháng chiến, đâm ra có cảm tình với Việt Minh và chịu đứng ra truyền nọc cộng sản khắp nơi. Chói tai gai mắt cho cô Hai Phụng Cơ biết bao khi cô thấy Ba Thế Phụng, em trai cô, đi cưới Năm Huỳnh Mai, em gái Ba Tốt. Cả hai vợ chồng nầy hễ gặp Tư Nguyệt Yếng là xúm vô nói xấu Tây, ngắt véo địa chủ, xỉa xói cái xa hoa của những người giàu có như vợ chồng cô. Xời ơi, nói vậy mà nghe được! Nhà giàu sang cũng có kẻ tốt người xấu, người nghèo hèn cũng có kẻ hiền lương người trật búa chớ bộ! Cái bọn Việt Minh dưới mắt cô Hai Phụng Cơ là bọn ăn cướp cạn, vừa sát nhơn vừa điêu ngôn xảo ngữ để tự phong thánh phong thần. Tía má chồng cô tuy nghiêm khắc nhưng đối đãi với tá điền tá thổ vẫn có lòng nhơn đạo. Còn nhà nước Bảo Hộ theo cô thấy chẳng có chỗ nào đáng chê trách hết. Thời họ, dân Nam kỳ dù nghèo mạt rệp trên mâm cơm cũng có món canh, món mặn, món xào. Từ khi có vụ chống Pháp, bề sinh sống bắt đầu khó khăn, mua gì cũng mắc. Cô Hai Phụng Cơ vốn không ưa chánh trị nên cô không để ý gì đến thời sự. Cô nhìn những người ái quốc qua những tên Việt Minh đã cạo đầu còn mắng nhiếc bêu xấu cô đủ điều. Tụi khốn nạn đó sẵn dao bén còn cạo đôi chơn mày lá liễu của cô trụi lủi.

Hiện giờ cộng sản, Việt Minh ở đâu không thấy, cô chỉ thấy vợ chồng Ba Thể Phụng, cô Tư Nguyệt Yếng và lũ bạn cô Tư xúm lại bàn tán mấy cuốn tiểu thuyết đề cao kháng chiến của Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, Liên Chớp, Dương Tử Giang, cô Hai Phụng Cơ hầm lắm, đợi dịp chỉnh lý cái thứ ăn no rồi bày đặt ủng hộ bọn siêu mưu làm loạn kia.

Hôm đó nhà ông bà Phủ Bảnh có đám giỗ. Vợ chồng cô Hai Phụng Cơ, Ba Thể Phụng được mời tới dự tiệc. Cô Tư Nguyệt Yếng là con cháu trong nhà nên có mặt từ hôm bữa giỗ tiên qua bữa giỗ chánh. Từ khi con gái út của bà Phủ Bảnh là cô Út Ngọc Dung si tình một thanh niên khuynh cộng thì Tư Nguyệt Yếng thường theo vợ chồng Ba Thể Phụng đến rủ rê cô mỗi tháng đóng nguyệt liễm cho trạm y tế của phe kháng chiến ở Cái Ngang. Họ còn giới thiệu cô Út bọn công tác thành, bọn nội ứng mà cô Tư Nguyệt Yếng gọi bằng cái tên mỹ miều dũng cảm: "Những kẻ chiến đấu trong lòng địch" để cô Út mở rộng tầm hoạt động.

Sau bửa tiệc thịnh soạn, cô Út Ngọc Dung mời vợ chồng Ba Thể Phụng, cô Tư Nguyệt Yếng và cá cô bạn đồng tâm đồng chí ra nhà mát, giáp mé sông Cái Cá để dùng trà bánh. Cô Hai Phụng Cơ liếc xéo về phía họ rồi cất giọng rổn rảng hỏi bà Phủ Bảnh:

- Thưa bác, mấy năm nay bác có góp được lúa ở mấy sở ruộng miệt Tam Bình, chợ Thầy Phó không?

Bà Phủ Bảnh xụ mặt:
- Có được hột nào đâu, cháu! Hồi năm 45, hai bác nhờ ông bà khuất mày khuất mặt phò hộ nên trốn khỏi cuộc lùng bắt của bọn quỉ vương đó, kể là may lắm rồi. Giờ đây mình vác thây vô vùng đó để góp lúa thì có khác nào dưng thây vào miệng cọp, miệng chằn tinh cháu ơi!

Giọng cô Hai Phụng Cơ rổn rảng một thì giọng bà Phủ Bảnh rổn rảng mười. Giọng bà rót vào tai đám thanh niên rõ mồn một. Bà Phủ Bảnh tuyệt nhiên chưa rõ sự kết ước của cô gái út mình với chàng thanh niên khuynh cộng. Bà chỉ thấy cô trưởng nữ mình là cô Hai Nguyệt Thanh đã bao phen bị trầy vi tróc vẩy vì bọn Việt Minh, cùng sự điêu đứng của vợ chồng bà hồi năm 1945, cho nên bà hung hăng khạc từng tràng từng lọn lời ác, lời thô:

- Ai sao kệ mồ tổ họ, chớ riêng bác, bác thích Tây ở xứ mình hoài. Tụi Tây mà xuống tàu về nước, những kẻ chết trước là vợ chồng bác đó cháu. Hai bác làm sao sống nổi với bọn đầu trâu mặt ngựa Việt Minh đó!

Cô Hai Phụng Cơ cười hăng hắc, ôm chầm lấy bà Phủ Bảnh:
- Thiệt tình, sao bác nói hạp ý cháu quá!

° ° °
Nhiều đêm nằm gác tay lên trán để suy nghĩ nỗi nọ đường kia, cô Hai Phụng Cơ mới thấy dù đời sống thị thành hạp với óc cầu tiến và tánh ham hoạt động của cô, nhưng tâm hồn cô đã mọc rễ vào vùng đất U Minh Thượng, xóm Cây Da, chợ Chắc Băng khó mà bứt ra. Ðành rằng đất phèn khô khan, trồng lúa thì được mà lập vườn phải đợi vài chục năm nữa, nhưng đó là cuộc đất hứa hẹn vì nhà nước bắt đầu đào thêm rạch, khơi thêm ngòi mới. Chất phèn trong đất mỗi mùa mưa, theo nước mưa trôi xuôi ra biển mỗi lúc một nhiều. Trong những chuyến đi thăm bà con bên chồng ở miệt Hóc Hoả, Hoả Lựu, vịnh Chèo, vịnh Trà Bay, cô Hai Phụng Cơ thấy đất cát vùng đó bắt đầu trồng được chuối, mãng cầu xiêm, dừa, cau, khó...Những vùng đó nào có xa xôi gì với quê chồng cô, vậy thì cái ngày U Minh Thượng lập thành vườn chắc cũng không mấy lâu. Nhưng Việt Minh đã xô đẩy vợ chồng cô Hai Nguyệt Thanh và vợ chồng cô khỏi cuộc đất hứa hẹn đó. Sau hiệp định Genève, cô dò dẫm về thăm quê chồng thì nghe rằng trước khi tập kết ra bắc, Việt Minh gài bọn nằm vùng rất đông. Chúng đã nửa đêm tới nhà bắt thầy Tư Thạnh con ông Bang Biện Hanh đem đi thủ tiêu. Chúng còn liệng lựu đạn vào đám tiệc của Xã trưởng Thọ. Cảnh sát hương thôn yếu quá, không dám vô sâu trong lán trong bưng nên bọn nằm vùng vẫn tiếp tục lộng hành.

Ðường về quê chồng đối với cô Hai Phụng Cơ kể như mất lối. Thuở ở xóm Cây Da tuy cô siêng năng lo việc tề gia nội trợ nhưng không quá nô lệ vào thời giờ như khi ra thị thành buôn bán. Ðối với cô, nó là thiên đường vì vợ chồng cô đã sống đời tự lập, đã nếm mùi hạnh phúc lứa đôi ở đó. Hai thằng con cô không hề giữ lại một chút gì về quãng đời thơ ấu của chúng nơi quê cũ. Thằng Khương thi đậu tú tài liền ghi tên học Y khoa, còn thằng Ninh thì học Dược. Thằng anh đãi bôi:

- Con ráng kiếm tiền để về già chuộc lại ruộng vườn xưa, sửa lại mái nhà hương hoả. Từ đây tới đó, tình hình thời cuộc sẽ đổi khác, má tin đi!

Thằng em cũng nói xạo:
- Hễ lúc nào đầu óc căng thẳng, con đọc truyện đồng quê của Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam là đầu óc con mát rười rượi. Kiếm nhiều tiền, con sẽ mua vườn ở ven đô hay vùng phụ cận tỉnh nhà, con sẽ nhường cho má sắp đặt khuôn viên giống như nhà cửa, khuôn viên ở xóm Cây Da.

Ôi, tất cả còn là lời hứa, còn là dự định, bao giờ mới thực hiện được đây? Cô Hai Phụng Cơ dẫu sao cũng bằng bụng lắm. Cô nghĩ con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Cô chẳng có cái tài gì đặc biệt để cho các con giống, cô chỉ có niềm yêu đất quê. Tụi nó mà biết noi theo chí hướng và tấm lòng tha thiết với cố hương thì tụi nó sẽ tạo được một cơ nghiệp, một giang san cho con cháu sau nầy.

Con Phụng Kiều thi đậu xong trung học đệ nhứt cấp thì chọn học ban A. Nó thường khoe với cả nhà:
- Chèn ơi, thầy Toản dạy toán lý hoá ăn nói đậm đà, có duyên ác!

Con Phụng Song chõ mỏ:
- Em biết mà, thẩy là người Bắc kỳ.

Con Phụng Kiều trợn mắt nhìn em, táp liền:
- Bắc kỳ rồi sao? Bộ Bắc kỳ không có quyền hát hay, nói giỏi hay sao? Tao thử hỏi mầy: ca sĩ hát tân nhạc xứ mình, người Bắc nhiều hay người Nam nhiều? Trong mấy cuộc họp, ai lên phát biểu ý kiến hay? Tao thấy người Nam mình hát vọng cổ thì mùi, còn hát tân nhạc thì lạt nhách. Hễ vô hội họp thì người Nam mình ngồi thù lù một đống, quan bảy cũng ừ, quan tư cũng gật...

Cô Hai Phụng Cơ hoảng kinh nhìn cô trưởng nữ. Coi vèo nầy, con nha đầu kia mê trai Bắc kỳ rồi. Cái thứ Bắc kỳ vô đây ở nhờ mà luôn coi mình là khách. Họ ăn vú sữa, xoài, tôm càng, cá chái mà miệng cứ luôn luôn ca tụng đào, mơ, mắm rươi, cá chép...Cô nhứt định rồi, không cho nó kết hôn với kẻ khác xứ. Ai chê cô kỳ thị Bắc Nam cô chịu, chớ cô nhứt định chọn rể nếu không là người sông Hậu thì cũng là người sông Tiền, biết rành tập tục miền Nam, biết thưởng thức cải lương, vọng cổ, biết nhậu rượu đế với thịt chuột, dơi, rắn, lươn...Nhưng rồi con Phụng Kiều của cô tuy khen thầy Toản nói giỏi, hát tân nhạc hay mà nó lại chọn thằng sinh viên Bắc kỳ học trường Nông lâm súc. Thằng nầy tuy khôi ngô nhưng ít nói, giọng thùng thiếc bể nên hát tân nhạc rất dở. Cô Hai Phụng Cơ bực mình lắm vì bọn Tư Nguyệt Yếng, Ba Thể Phụng cứ theo eo sèo chì chiết.

Sự chia rẽ Bắc Nam càng lúc càng phai lợt dần trong tâm tưởng hai bên, Bắc cũng như Nam. Ðó là lúc vợ chồng cô ghiền nghe ngâm thơ Tao Ðàn, mê trà mạn sen, ưa ăn bánh cuốn, phở, bánh tôm chiên, bánh cốm, bánh xu xê...Nhìn thằng rể Bắc kỳ ăn thử một múi sầu riêng mà nhợn tới nhợn lui, cô Hai Phụng Cơ thông cảm:

- Cũng có nhiều người Nam không ăn được sầu riêng vì chê hôi, để má gọt xoài cát, đu đủ cho con ăn.

Tía má chàng rể Bắc kỳ vốn hấp thụ nho phong nên cư xử đứng đắn, ăn nói mực thước khiến trước mặt họ, cô Hai Phụng Cơ cảm thấy mình quê mùa kém cỏi. Dù họ không có chỗ nào đáng chê trách, nhưng cô vẫn kiếm chuyện để hạ họ xuống ngang hàng thì cô mới bằng bụng. Bởi đó, trong bức thư gởi cho vợ chồng Hai Tường, cô viết: "Ông suôi bà suôi của tụi em mặt mày chim bỉm. Xời ơi, theo người Nam mình, suôi gia gọi nhau bằng anh chị. Ðằng nầy họ gọi tụi em bằng ông bà..Xí, cái thứ trôi sông lạc chợ vô tới quê người mà không chịu nhập giang tùy tục, cứ ăn nói kiểu cách, nghi lể rườm rà thấy phát ghét!"

Con Phụng Kiều tuy được làm kỹ sư phu nhơn nhưng cô Hai Phụng Cơ coi con gái mình như Chiêu Quân cống Hồ. Cô chỉ còn cậy trông vô sự hiểu biết của hai đứa kế. Nhưng ông bà ông vải ơi, trái tim con người vốn dại dột. Nghe con Phụng Các mở miệng ra là khoe dân Nam mình thế nầy, dân Nam mình thế nọ, ai có dè nó lên Sài gòn gặp một thằng Bình Ðịnh là lậm liền. Nó ỏn ẻn khoe với con Phụng Song:

- Ảnh sanh trưởng tại làng Tây Sơn, quê hương của vua Quang Trung Nguyễn Huệ đó đa. Ảnh còn biết võ nữa. Em còn nhớ câu: "Ai về Bình Ðịnh mà coi. Ðờn bà cũng biết múa roi đi qườn" không?

Cô Hai Phụng Cơ sẳn lòng chiêm ngưỡng vua Quang Trung cùng chiến công hiển hách của vị anh hùng ấy. Cô cũng rất ái mộ văn tài của nhà văn Võ Phiến. Nhưng nếu hoàng đế Quang Trung có tái sanh, ông Võ Phiến có chưa vợ mà đi hỏi con Phụng Các, chắc cô cũng hoang mang lắm. Làm sao cô ưa nổi cái quê hương nghèo nàn cùng cách phát âm bù chả bù chẹt của một vùng trên dải đất Trung kỳ?

Phụng Các và gã sinh viên Bình Ðịnh kia vừa tốt nghiệp xong thì được bổ đi dạy ở Bình Dương. Có thêm thằng rể không phải là dân Nam kỳ quốc, lại chỉ là nhà mô phạm lương ba cọc ba đồng, cô Hai Phụng Cơ bất mãn ra mặt.

Trong chiến tranh, vùng kiểm soát của phe quốc gia sau chiến dịch Phụng Hoàng càng lúc càng thu hẹp. Cô Hai Phụng Cơ hết mong lập vườn ở ven đô hay các vùng phụ cận tỉnh Vĩnh Long vì vùng nào cũng có đánh nhau, có lộn xộn. Tuy bị cuốn theo mệnh nước nổi trôi, cô Hai Phụng Cơ vẫn hy vọng mong manh, hy vọng vô căn cứ. Nhiều đêm nhớ về U Minh Thượng, cô trằn trọc với nỗi u hoài khó hiểu trong khi chồng cô, Ba Thoại, ngủ ngáy pheo pheo bên cạnh. Từ lâu sống ở đô thị, tiếp xúc với thị dân miền Nam, với người Bắc trung lưu, nghe cách phát âm ráo rẻ của người Sài gòn, cô Hai Phụng Cơ nhớ tha thiết giọng nói quê mùa đả đớt của dân Hậu giang. Họ không phát âm đúng được những tiếng khởi đầu bằng chữ r và bằng chữ kh. Ôi làm sao cô quên câu "con cá gô bỏ vô gổ nhảy nghe gột ghẹt" và câu "phia phia ăn phai cho phẻ" của các anh nông dân, của các chị thương hồ? Vậy mà khi ra đồng làm ruộng hoặc lúc chèo ghe nới sông rộng, họ "mùi" sáu câu vọng cổ, vần và chữ được phát âm trúng phóc, nghe giống Út Trà Ôn, Hữu Phước thất kinh. Ôi Hậu Giang! Ôi quê xưa xa lắc! Có nhiều lúc cô tưởng chừng nó lọt ra ngoài giấc mộng qui khứ lai từ của cô khiến cô đau thắt ruột gan.

° ° °
Sau 30.4.75, đứa con trai lớn của cô Hai Phụng Cơ đi học tập năm năm rồi được thả về sống nhờ tiền cấp dưỡng của thằng cháu đích tôn của cô gởi về. Thằng thứ nhì nhờ vợ có quốc tịch Pháp nên được qua Pháp theo chính sách hồi hương. Con Phụng Song nhờ làm chiêu đãi viên hàng không nên bay qua đảo Guam trước ngày 30.4.75. Vợ chồng con Phụng Kiều liều thân vượt biển, trên chuyến hải hành phải thủy táng thằng con bốn tuổi vì thiếu nước. Sau đó gia đình nó định cư bên Úc. Vợ chồng con Phụng Các may mắn vượt biên êm xuôi qua Nam Dương rồi lập nghiệp ở Hoa kỳ. Con Phụng Song làm giấy tờ bảo lãnh cho cha mẹ qua Mỹ. Ba Thoại bắt đầu lẩn thẩn, ưa moi đống rác, lượm chai lọ, đồ phế thải chất đầy góc nhà. Còn cô Hai Phụng Cơ mạnh dạn mở tiệm bán sách báo, kèm thêm bánh mì nên sống rất vững.

Phụng Song làm quen được một chàng bác sĩ, dắt về nhà giới thiệu với cha mẹ:
- Nam kỳ chánh cống đó ba má.

Cô Hai Phụng Cơ bằng bụng lắm, lòng phơi phới. Chàng rể nầy chào đời ở Ô Môn thuộc Cần Thơ. Chàng có kiến thức sâu rộng về miền phù sa sông Cửu. Cô Hai Phụng Cơ có nhiều dịp kể cho chàng ta nghe về quê hương của chồng mình. Từ đó chàng lân la tới nhà cha mẹ vợ tương lai, chàng khuyến khích Ba Thoại viết hồi ký cho nên chồng cô có việc làm để giải trí. Cô Hai Phụng Cơ tưởng như ông trời vừa lì xì cho mình một đứa con mới, hồn quê lúc nào cũng sáng vằng vặc như bóng trăng rằm trong tâm tưởng. Cô gọi điện thoại qua Washington DC để báo cho anh chồng chị dâu, giọng háo hức:

- Anh chị ơi, con út của em tìm được thằng nầy thuộc gốc gác Nam kỳ để trao thân gởi phận rồi. Nam kỳ muôn năm!

Cô gọi điện thoại qua Pháp để báo tin cho đứa con trai thứ nhì bằng giọng đắc thắng:

- Con Phụng Song em con từ bấy lâu nay bưng rổ may đi nửa vòng trái đất mới tìm được một chàng dõng tướng Nam kỳ. Con nên mừng cho em con!

Cô gọi cho Phụng Các ở Texas, cho Phụng Kiều ở Sydney, khoe bằng giọng sôi nổi nồng nàn:

- Chèn ơi, Phật Trời nhận lời cầu xin của má nên mới lì xì cho má thằng rể bác sĩ sản sanh ở Ô Môn, tâm hồn mát rượi như giòng sông Bassac. Ai dè con Phụng Song có phước phận dường ấy. Biết đâu nay mai cộng sản bị tiêu diệt, nó sẽ về làm dâu đất Ô Môn. Từ Ô Môn đi U Minh Thượng bằng đò máy chỉ chừng một ngày là cùng.

Những khi chàng rể Nam kỳ tới chơi, cô đãi hết bánh tầm bì chan nước cốt dừa tới món suông, chạo tôm, gỏi gà...Cô mua tôm đông lạnh bự cỡ cườm tay để làm tôm bùn, cô mua cá hồi để thế cá lóc làm bún nước lèo...

Cha mẹ chàng rể tương lai ở chung với người anh kế chàng ta tận tiểu bang Ohio. Cô Hai Phụng Cơ kèo nài để được gặp ông bà suôi cho biết. Chàng rể cứ ừ hử cầm chừng, thái độ không mấy sốt sắng.

Thế rồi một hôm, Phụng Song mặt mày chù ụ, tiết lộ với má:

- Má à, ảnh thú thiệt với con rồi. Ba má ảnh là Bắc kỳ. Ba ảnh vốn là nhơn viên nhà dây thép vô Nam năm 1935. Thuở đó, lưu dân Bắc kỳ chỉ có mấy ông làm việc nhà dây thép và dân cạo mủ cao su. Má ảnh vô Nam một lượt với chồng. Bởi ảnh biết con kén chồng gốc Nam kỳ nên ảnh giấu giếm cội nguồn của ảnh. Mà cũng bởi sanh trong Nam nên ảnh nói tiếng Nam, ăn giá sống, húp nước dừa rồn rột không kém chi người Nam hết, do đó con mới lầm. Nhưng mà con thương ảnh lắm, xa ảnh chắc con chết...

Cô Hai Phụng Cơ hơi cau mày. Thiệt ra cô đã bớt kỳ thị Bắc Nam từ lâu. Cô chỉ muốn có chàng rể Nam kỳ để huấn luyện lũ cháu ngoại cô yêu miền Nam sâu sắc đậm đà hơn vậy thôi. Thôi duyên nợ biết sao mà lường được! Số các con gái cô là gặp duyên thiên lý, cô làm sao cưỡng lại ý trời? Vả lại mẹ nào mà nỡ ngăn cản nhơn duyên tốt lành của con? Cho nên, cô Hai Phụng Cơ sau phút do dự, hăng hái bảo:

- Ối, chánh quán mà nhằm nhò chi con! Chỉ có sanh quán là đáng kể! Như thẳng đây, sanh ở Ô Môn, học trung học Cần Thơ, đại học ở Sài gòn. Từ thuở nhỏ tới lớn nó hít thở không khí miền Nam, uống nước sông miền Nam, ăn cơm gạo, bột bún cùng con cá lá rau miền Nam, như vậy nó là người miền Nam rồi. Ðứa nào dám lôi nó về phe người Bắc là phải bước qua xác chết của mụ vợ Ba Thoại nầy. Thôi thì má cũng đành hô: "Bắc kỳ muôn năm" cho nó gọn!


Monday, February 16, 2015

ĐÔI DÒNG CẢM NGHĨ SAU KHI ĐỌC QUYỂN “GIẶC THẦY CHÙA” CỦA ĐẶNG VĂN NHÂM

Hồ Trường An

“Giặc thầy chùa” là một quyển điều tra, biên khảo của nhà văn Đặng Văn Nhâm nhằm đặt lại vấn đề hiện trạng tôn giáo và tâm linh của kiều bào chúng ta ở hải ngoại. Cũng có thể đây là một bản cáo trạng đen, một bản tường trình gai góc để mở cho kiều bào chúng ta nói chung, Phật tử VN nói riêng, nhìn thấu suốt thực trạng của những kẻ núp bóng cửa Thiền để mưu lợi, để chà đạp ý nghĩa thiêng liêng của Phật Giáo (PG) qua đủ trò gian dối, tham dâm, lường gạt vô cùng bỉ ổi. Rất có thể nhiều độc giả thiếu ý thức hay bị mê hoặc bởi lũ ác tăng gian ni, hoặc quá cuồng tín một cách mù quáng cho rằng tác giả Đặng Văn Nhâm cố tình chà đạp và đánh phá PG VN ở hải ngoại, hoặc làm lũng đoạn sự hòa hợp giữa các chư tăng vốn như nước với sữa.

Tôi xin thưa ngay, Đặng Văn Nhâm là kẻ thiết tha với tương lai và viễn ảnh của PG. Mục đích của anh khi viết quyển “giặc thầy chùa” là cốt bài trừ những tệ đoan trong hàng ngũ tăng ni để họ dựng lại một thứ PG căn cứ trên nền tảng Trí Tuệ và Từ Bi theo bổn hoài của thập phương chư Phật. Có thể là anh dùng thuốc sát trùng quá dung lượng, lau chùi vết bẩn quá mạnh tay, cốt dọn sạch sẽ cửa Thiền để cho PT được nhìn ánh đạo vàng rạng rỡ hơn và nhìn bằng một thứ ý thức trong sáng tuyệt vời.

Nói rộng ra, dù có đập tơi bời hoa lá một số tăng ni, vốn là tay sai bọn CStrà trộn vào hàng ngũ QG chúng ta, hay một số tăng ni làm ô uế cửa Thiền, nhưng Đặng Văn Nhâm chẳng những không phỉ báng PG mà còn tha thiết với sự vững mạnh và sự trường tồn của PG trong tương lai. Đả kích ác tăng và gian ni ở trong tác phẩm “giặc thầy chùa” tác giả đã không chà đạp PG , đã không vét cạn sự sùng mộ cuả Phật tử đối với con đường mà Phật đã đốt đuốc soi sáng, mà anh còn làm công việc tẩy uế, sát trùng, dọn sạch con đường hành hương để Phật tử vững lòng tiến bước.

Chúng ta đã từng thấy có một số cây bút viết về Phật pháp trên tạp chí Hoa Sen ở Nam California do thượng tọa Pháp Châu làm chủ nhiệm. Những cây bút này công kích tệ trạng trong Thiên Chúa Giáo (TCG) , nhưng đồng thời là phỉ báng đạo Thiên Chúa một cách ác ý, ác tâm, dùng lời báng bổ của kẻ vô thần, nhưng nổi tiếng ở Âu Mỹ để chứng minh lập luận của họ. Những kẻ phỉ báng một tôn giáo lớn như TCG với cái nhìn tiêu cực, một chiều, phiến diện như thế, chúng ta không thể nào đối thoại với họ được.

Nhưng với tác giả Đặng Văn Nhâm trong “giặc thầy chùa” chúng ta có cảm tưởng mình có thể đối thoại với anh. Anh có một sở tri rộng rãi (connaissance étendue) về đạo Phật. Anh hiểu thế nào là giới luật, thế nào là tà đạo, thế nào là ngôi tăng bảo đúng nghĩa trong Tam Bảo. Và thú vị quá, anh còn nắm bắt được cốt tủy PG đặt trên nền tảng tinh thần Bát Nhã (tinh thần bất nhị mà người Pháp gọi là: Le non-deux, le non-dualisme). Cái tinh thần then chốt đó, bọn tăng ni ở hải ngoại phần đông (99%) không nắm bắt được.

Viết quyển “giặc thầy chùa”, tóm lại tác giả đầy thiện chí, không hề vẩn đục một chút ác ý của kẻ vô thần (athée) hay tên phạm thánh (blasphémateur). Tác giả Đặng Văn Nhâm nêu rõ nguyên nhân nào, động cơ chính yếu nào thúc đẩy anh viết quyển “giặc thầy chùa”:  Tất cả mọi loài vật trên mặt điạ cầu này chỉ biết sống trong tình trạng hiện hữu với một ký ức về quá khứ giới hạn rất ngắn ngủi. Hầu hết loài vật chỉ nhận thức được những gì chợt xảy đến và so sánh điều đó bằng những kinh nghiệm trong quá khứ mà thôi. Thí dụ như con chím đã bị bắn hụt một lần, hễ thấy cành cây cong là sợ. “Kinh cung chi điểu”!

Ngược lại, con người còn biết cố thử tiên liệu xem điều gì sắp xảy ra trong tương lai. Năng khiếu thích nghi với tương lai của loài người dường như đã phát sinh từ thời kỳ đồ đá (néolithique), khi con người bắt đầu biết canh tác. Từ đó, con người từ bỏ việc hái quả và săn bắn, là hai nguồn thực vật bấp bênh, để lo việc canh nông. Việc này đòi hỏi con người phải biết suy nghĩ, tiên đoán thời tiết, tính toán kết quả mùa màng trong tương lai. Dĩ nhiên những suy tư và tiên liệu về tương lai đều có tính cách chủ quan, thành tựu tùy theo trí thông minh của từng người. Nhưng nếu đã là người, lại biết nghĩ đến tương lai, nhất thiết phải nhớ nằm lòng câu: “Ăn cây nào rào cây nấy”. Một người trồng cây ăn trái không bao giờ bứng cả gốc cây lên để bán, hay xịt thuốc khai quang lên vườn cây của mình.

Cũng một cách như thế, những ông sư, bà vãi không nên để cho lòng tham danh lợi sai xử quá đáng, tranh cướp chùa chiền lẫn của nhau, không nên tỏ ra kiêu căng xấc láo, ăn nói mất dạy với cả những Phật tử đáng tuổi ông, bà, cha, mẹ. Nhất là chớ nên hành động phá hoại gia cang của tín đồ PT, hãm hiếp nữ đệ tử, bày trò mê tín dị đoan, giở thủ đoạn buôn thần bán Phật, làm tình ngay trong chốn Thiền môn. Như thế là bôi bẩn Phật pháp, hủy hoại uy danh của PG, tức là không biết nghĩ đến tương lai, là tự tay đập bể nồi cơm của mình, và tạo khó khăn cho các thế hệ hậu sinh.

Tôi vốn chỉ là một người bình thường như muôn triệu con người khác, bây giờ tôi viết quyển sách này chẳng phải để chỉ trích một số cá nhân gian tăng, ác ni, và một số PT ngu muội, ngày nay đang bôi bẩn và phá hoại Phật pháp. Tôi viết quyển sách này nhắm vào tương lai cao cả của PGVN, mong ước chấn hưng đạo này, và để cho các thế hệ tương lai khỏi bước vào vết xe đã đổ!...  (trg. 19, 20).

Bọn tăng ni phá giới thường lấy câu “trọng Phật kính tăng” để làm lá bùa che đậy hành vi đốn mạt của họ. Nhưng tác giả đã đặt lại vấn đề về ngôi Tam Bảo, một trong 3 ngôi cao qúi là Phật, Pháp, và Tăng. Những kẻ mượn áo cà sa để mưu lợi, để quyến rũ phụ nữ trong cuộc cẩu hợp, gian dâm, hoặc xây dựng các dịch vụ thương mãi bịp bợm có phải là tăng \, ni đúng nghĩa, hay chỉ là phường trộm cướp trá hình? Bọn chúng có xứng đáng ở ngôi Tam Bảo không?

Đặng Văn Nhâm nói có sách mách có chứng: “Trong xã hội, nếu giới côn đồ đã dùng vũ khí và hình thức bạo động, giết chóc, để trấn lột tài sản, làm giàu, thì ngược lại giới tăng ni tu hành bịp bợm, biết rõ tâm lý quần chúng, giở trò đóng kịch. Họ núp dưới bóng Phật, lợi dụng tấm áo cà sa, mượn lời từ bi, bác ái của Phật, dùng những hình thức dụ dỗ, trấn lột êm đềm như: quyên góp tiền bạc để xây chùa lập thất, ấn tống kinh kệ, đúc chuông, đắp tượng Phật, tổ chức bán thực phẩm chay, tổ chức du ngoạn danh lam thắng cảnh thế giới, tổ chức đại nhạc hội ca vũ kịch, kêu gọi bá tánh cho vay tiền không lời (để bỏ vào ngân hàng lấy lời!), tậu mãi bất động sản, mua khách sạn cải trang làm nhà dưỡng lão, mua bán đất cát, điền thổ, ngăn các trú phòng trong chùa ra làm nhiều phòng nhỏ chẳng khác nào phòng ngủ, để cho khách thập phương mướn làm trại nghỉ hè bày đặt ra trò coi bói, bốc thuốc, chữa bệnh, thư ếm bùa ngải, làm bùa trừ tà ma, qủy quái... Ngoài ra, giới tăng ni còn bày ra giá biểu cho mỗi cuộc cúng tế, ma chay, cầu hồn và trốn sâu lậu thuế. Tóm lại, không một hình thức kinh tài đê tiện, dù hạ cấp đến đâu, giới tăng ni bất chính vẫn không từ nan.

Nên biết, trước đây cả hàng ngàn năm chính đức Phật đã phải gọi bọn tăng ni bịp bợm, tu hành bất chính, như đã kể trên là: Những tên cướp lợi hại nhứt! Xin trích dẫn một đoạn trong Tạng kinh, bộ Anguttaranikãya chakkanipãta, bài kinh Rattisutta, gồm những câu như sau: “Những tỳ khưu chỉ lo làm giàu bằng cách bòn rút của bá tánh là đống rác thúi, là tên cướp lợi hại nhứt, vì tướng cướp thật còn bị nhà chức trách truy tầm, trái lại tỳ khưu phá giới vẫn sống thong thả, được người cúng dường vật thực ngon ngọt, y phục, thuốc men, chỗ ở tốt đẹp với tất cả tấm lòng cung kính. Nếu khi dâng cúng mà các thầy không dùng, người thí chủ thấy mình rất buồn. Đã được người cho mà còn lạy lục, yêu cầu, thật là tên cướp lợi hại nhứt. Đức thế tôn gọi bọn này là Mahãcora ( tên cướp vĩ đại).” [Ghi chú thêm: Trong Tạng Luật Mahãvibhanga, đoạn I, cũng có ghi lời Phật dạy tương tự].

Mặt khác, ta còn thấy đại đa số tăng, ni trong giới tu hành PG từ trong quá trình lịch sử dân tộc và lịch sử đạo phápđều xuất thân từ giới cùng đinhnghèo khổ, nếu gặp thời kỳ chiến tranh thì còn có thêm hạng tứ thời thất nghiệp, trốn quân dịch, lính đào ngũ, bọn “trốn việc quan đi ở chùa!...” (trg. 95, 96)

Để nhấn mạnh về vấn đề phá giới của bọn tăng ni ở hải ngoại, tác giả Đặng Văn Nhâm đã mượn lời đức Đạt Lai Lạt Ma ở mục “Đức Đạt Lai Lạt Ma nói gì về mối tương quan thầy chùa/đệ tử ?” như sau: Dù vậy, ta vẫn phải bình tĩnh, lấy công tâm mà nhận định:

Lỗi tại ai? Thầy chùa hay nữ PT?

Dĩ nhiên, xét một cách tổng quát, cả thầy chùa lẫn nữ PT đều chịu liên đới trách nhiệm, vì đã cùng nhau can dự vào tội gian dâm giữa chốn Phật đường. Nhưng muốn cho rõ ràng hơn, ta hãy lóng tai nghe lời phân tách của đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng. Xin tóm tắt sau đây:

- “Một phần lỗi thuộc về nữ PT. Vì họ đã dại dột coi các ông thầy như thần thánh, lầm tưởng mọi hành động của ông thầy đều cao thượng, nên đã tỏ ra tuân phục, cưng chiều các thầy quá đáng, làm hư hỏng họ... Điều quan trọng là đừng nên vội vàng coi ai là thầy của mình. Vì đó là mối quan hệ rất quan trọng. Phải đợi một thời gian dài, có khi cần đến 10 năm hay lâu hơn thế nữa, để quan sát cách xử sự, cách giảng dạy, khả năng tu hành của kẻ ấy cho thật chính xác. Trong thời gian đó ta chỉ nên coi họ như một người bạn thiện trí thức mà thôi.

Không nên tin cậy gì nơi họ hết thảy! Nếu PT thấy ông thầy nào hành động bất xứng, không hợp đạo lý, có quyền phê bình ngay những hành động đó. Trong sách Phật đã dạy rất rõTa chỉ nên theo học những người thầy có tư cách đàng hoàng. Kẻ nào bất xứng, nói những điều trái đạo lý, hành động gian tà, người PT phải xa lánh ngay.


Trong Mật Tông Du Gìa Tối Thượng, đã nói rất rõ: Thầy dạy điều gì trái với Phật pháp, chớ có theo, mà phải phê bình, chỉ trích ngay... Tóm lại người PT có trách nhiệm không để bị lôi cuốn vào con đường tội lỗi!”

Về phía tăng sĩ, đức Đạt Lai Lạt Ma cũng nói, tóm tắt như sau: Về phía người thầy, họ phải chịu trách nhiệm về những hành xử của mình. Nếu người thầy mà để cho PT quyến rũ vào con đường bất chính, thì người đó đã tỏ ra thiếu nội lực, thiếu nhân cách của kẻ tu hành. Trong khi rao giảng Phật pháp, nhân danh một kẻ tu hành, chính ông thầy lại phạm những lỗi lầm mà ông ta thường khuyên kẻ khác nên tránh, tức là ông ta đã phản bội công việc mình làm. Thực là một điều đáng xấu hổ...” ( trích lời trao đổi giữa đức Đạt Lai Lạt Ma với tiến sĩ tâm lý học Jack Engler, và GS tâm lý Jean Shinoda Bolen, trg. 554,555).

Quyển “giặc thầy chùa” không thuần túy là một bản tường trình, một cáo trạng hay một thiên phóng sự. Nó vượt cao hơn những yếu tố đó. Nó cũng là một thiên tiểu luận về Phật pháp, dù sơ sài, nhưng được xây dựng trên những vấn đề xương sống, những căn bản chính yếu, và nhất là cái cốt tủy tinh hoa của PG. Tác giả trình bày sáng sủa, đơn giản để người đọc ở mức độ sơ cơ có thể nắm bắt trọn vẹn những điều anh đã giãi bày. Như thế chứng tỏ anh có trình độ khá cao về Phật học, để khỏi bị bọn tăng ni ở hải ngoại lấy le, lòe đời, lừa bịp được anh.

Qua cáo trạng của anh, đã cho chúng ta mới biết vì sao cách dạy Thiền của Thích Nhất Hạnh đã làm cho nam đệ tử ông ta là Thanh Hương bị chứng hoạt tinh và làm cho Thích Nữ Trí Tánh điên loạn cho tới chết. Đặng Văn Nhâm đã nắm bắt được cái trình độ hiểu biết giáo lý Phật học của Nhất Hạnh ra sao, phương pháp dạy Thiền hổ lốn của ông ta thế nào, khi ông ta xưng mình thuộc dòng Thiền Lâm Tế:

- “...Thiền sư Lâm Tế, hiệu Nghĩa Huyền, người tỉnh Hà Nam, đã được thiền sư Hoàng Bích truyền tâm pháp. Lâm Tế có một nhân cách ngang tàng có thể sánh với Bồ Đề Đạt Ma... Tư tưởng thiền Lâm Tế đặt nặng trên nguyên lý “vô tâm” và “chúng sinh với Phật không khác”. Lâm Tế có nhiều phương pháp giáo hóa rất đặc biệt, như: Tam cú, tam huyền, tam yếu, tứ chiếu dụng, và tứ tân chủ. Đặc biệt nhất là phép dùng bổng yết (gậy đánh và tiếng hét), một cách đánh thức sự giác ngộ.

Căn cứ trên những chủ yếu kể trên của thiền Lâm Tế, ta thấy ngayThiền cuả Nhất Hạnh chỉ là một thứ thiền ba rọi, chẳng khác gì lối tập Yoga của mấy người Ấn Độ!

Thêm một chứng minh nữa về trình độ thiền học của Nhất Hạnh. Viết về tương lai văn hoá, Nhất Hạnh cho rằng mai sau VĂN sẽ là GIÁC. Có lẽ ông ta đã nhầm lẫn giữa BẢN THỂ và HIỆN TƯỢNG (noumène et phénomène). BẢN THỂ thuộc về TÁNH (être, essence, noumène). HIỆN TƯỢNG thuộc về TƯỚNG (état, phénomène). Một đàng còn nằm trong dạng thức trừu tượng, vô hình. Một đàng đã hiển lộ, hữu hình. Điều này chứng tỏ Nhất Hạnh đã không biết rằng VĂN HÓA là cái gì còn nằm trong vòng khái niệm, tức vẫn còn là HIỆN TƯỢNG. Còn GIÁC là cái gì đã lọt ra khỏi khái niệm, trở thành BẢN THỂ, là CHÂN TÂM, là BỒ ĐỀ...

Quan niệm về văn hoá như Nhất Hạnh vậy là sai lầm! Viết về Duy Thức học, Nhất Hạnh cóp nhặt lung tung, và viết lem nhem chằng đụp, kiểu giật gấu vá vai, không mạch lạc. Người đọc thấy quyển Duy Thức Học của Nhất Hạnh còn thua xa quyển “nỗi đau lòng mẹ” của BS Nguyễn Thanh Giản.

Viết về Thiền, Nhất Hạnh đã xuất bản quyển “Đường vào Thiền học”. Không cần phải đọc, chỉ cần liếc qua cái tựa nghèo nàn đó ta cũng đã nhận ra cái dốt và chân tướng bịp của tác giả rồi. Thiền làm gì có “đường xá” nào mà vào với ra? Một khi đã có đường vào, tất có tới có lui, có qua có lại, tức là những động tác đối đãi. Trong khi đó, Thiền vốn tối kỵ sự đối đãi. Thiền căn cứ trên tinh thần bất nhị (le non-deux, le non-dualisme).

Tu Thiền mà tâm ta còn trụ chấp là còn bị trói buộc vào cuộc đời. Chí như trụ chấp vào việc chân chính cũng chưa phải là đã giải thoát. Vì ta vẫn chưa gạt bỏ được hai niệm đúng/sai, còn bị vướng mắc trong cái lưới vô hình của sự đối đãi. Kinh Phật Bảo Đàn dạy: “Vô niệm giả, ư niệm nhi ly niệm. Vô tướng giả, ư tướng như ly tướng” (không niệm có nghĩa là trong niệm mà không chấp niệm. vô tướng nghĩa là trong tướng nhưng không chấp tướng).

Đó là lý Bát Nhã, cốt tủy của Thiền Đại Thừa. Với trình độ sơ cơ như Nhất Hạnh làm sao thâm nhập nổi, để mà viết sách! Tóm lại, ta nên nhớ rằng: Thiền vốn nằm sẵn trong ta. Khi ta còn mê còn chìm đắm trong cơn đại mộng của cuộc đời, thì chưa có Thiền. Chỉ khi nào ta thức tỉnh, lúc đó ta mới chứng ngộ được Thiền!

Đến đây, thiết tưởng tôi cần phải lưu ý những người tập “ thiền” với Nhất hạnh một điều cực kỳ quan trọng này: “Thiền là thiền, Yoga là Yoga”. Nếu tập yoga, người ta có thể tập cả bầy như các lớp tập thể dục dưỡng sinh. Nhưng Thiền khác hẳn: Lấy TÂM làm gốc. Mục tiêu chuyên chú huấn luyện tinh thần, tư tưởng, giải thoát tâm linh. Trong Thiền, vai trò hướng dẫn của người thầy đối vơí học trò phải toàn diện, rất trực tiếp, và hết sức kiên trì trên căn bản tâm cảm sâu xa, đầy lòng từ ái, chẳng khác nào như sự dìu dắt của người mẹ đối với đứa con còn trứng nước.

Như vậy, muốn đạt ngộ trong khuôn khổ “tâm truyền tâm”, các bạn không không thể tập Thiền kiểu “hội chợ” như nhất Hạnh đã làm. Thử hỏi, trong đời này mấy ai đã đạt ngộ? Huống chi Nhất Hạnh đã chứng ngộ gì đâu mà hòng có được cái “TÂM” nào để trao chuyền cho bạn. Nếu không chỉ là trò đóng kịch với cái tâm bịp bợm, để làm tiền. Ấy là chưa kể đến đại tội đã phạm đủ ngũ đại giới, tức đã bị mất giới thể, thì giới đâu nữa mà truyền cho ai?!” (trg. 287, 288, 289).

Để định nghĩa giáo lý nhà Phật cho đúng đắn, Đặng Văn Nhâm đã viết mục “Phật giáo có phải là một triết lý không?” Xin đọc: “Về mặt tôn giáo, Như Điển càng tỏ ra ấu trĩ và sai lầm thảm hại hơn. Ngay từ đầu, khi viện dẫn câu “bất lễ quân vương, bất lễ phụ mẫu”, Như Điển đã cho là “TRIẾT LÝ CỦA PHẬT GIÁO”. Thực không thể nào tha thứ được!

Là một tăng sĩ PG mà cho đến tận giờ phút này Như Điển vẫn không biết được rằng PG vốn chẳng có một cái thứ gì gọi là “triết lý” (philosophy) hết thảy! Mà “philosophy” là gì?- Phân tách danh từ này ta thấy có 2 chữ: PHILOS = sự thương yêu; và SOPHY = trí tuệ. Vậy, PHILOSOPHY có nghĩa làyêu thương bằng trí tuệ.

Ngoài ra, cũng có người định nghĩa “triết lý” là môn học tìm hiểu nguyên lý của vạn vật, hoặc phương pháp lý luận để tìm hiểu rốt ráo nguyên tố hiểu biết sự thật. Nếu hiểu triết học như một hệ thống trí thức luận đem lại lời giải đáp đầy đủ cho câu hỏi: “Đời sống là gì?”, thì PG hoàn toàn không phải vậy.

Theo Webster’s Dictionary, PG không phải là một triết học vì PG không phải chỉ là sự yêu chuộng trí tuệ, lòng ham thích thúc đẩy đi tìm trí tuệ. Theo William Durrant, trong “The history of Philosophy”, trang 2, PG cũng không phải là một lối giải thích căn cứ trên lý thuyết, cái không bao giờ được biết (như trong siêu hình học) hay cái được biết không rành mạch (như trong triết học luân lý hay chính trị).

Trong Đại Thừa Tuyệt Đối Luận, Nguyệt Khê Pháp Sư đã viết: “PG chẳng phải là triết học”. Là tín đồ PG, chúng ta đã nhiều lần nói rõ.Mục đích của triết học là cầu tri kiến, mà mục đích của Phật pháp là “lìa tri kiến”Việc làm cuả triết học là nơi lời nói; còn Phật pháp là ở chỗ “lìa lời nói”.

[ Dẫn chứng thêm của Đặng Văn Nhâm: Sau khi thuyết pháp xong, Thích Ca liền phủ định công việc thuyết pháp của mình. Ngài nói:“Ta đã ròng rã 49 năm thuyết pháp, nhưng chưa từng nói một lời nào!”. Sau đó Lục Tổ Huệ Năng nói cũng không khác: “Nếu ta nói có Pháp cho ngươi, đó là ta đã dối ngươi rồi vậy!”.

Như thế, ta phải hiểu những lời nói, hay văn tự giảng pháp khi vào được cảnh giới chân như rồi thì văn tự và ngôn ngữ đã trở thành “giải thoát tướng”, vì không muốn cho chúng sinh sa vào lầm lạc:nhận ngón tay chỉ mặt trăng là... mặt trăng!].

Triết học thì dùng lý trí để làm con đường đi đến chân lý; còn Phật pháp thì lại cho rằng lý trí là “sở tri chướng” và bài xích nó là vọng tưởng.

Các triết gia Tây phương thì cầu nơi lý trí, ỷ lại vào lý trí; còn nhà Phật thì lại đi phá trụ lý trí, phủ định lý trí. Cho nên có thể bảo rằng hai bên nghịch lẫn nhau. Bản thân của triết học là thuộc về tương đối luận, chưa đạt đến cảnh giới tuyệt đối, thường bị sự hạn chế của thời gian, không gian, nên nội dung của triết học thường tùy theo thời đại mà thay đổi, thật chẳng một ai dám công nhận triết học là triết lý tuyệt đối.

Phật pháp thì khác. Phật pháp là sự chân thực tuyệt đối, siêu việt thời gian, không gian, nên trải qua muôn đời chẳng hề thay đổi...

Theo tôi, nói cách khác cho dễ hiểu, triết học chỉ đặc biệt chú trọng đến sự hiểu biết, thuộc về trí tuệ; mà không quan tâm đến phần thực hành. Trong khi đó PG lại đặc biệt quan tâm đến việc thực hành và chứng ngộ. Vậy tất nhiên PG không phải là một triết lý!

Do đó, một kẻ học Phật, dù mới nhập môn, cũng phải biết ngay Như Lai không phải là một triết gia như: Socrate, Descarte, Hegel, Schopenhauer, Henri Bergson, William James, Albert Einstein hay Karl Marx... Như Lai cũng không phải là đấng tiên tri Mohammed, giáo chủ của đạo hồi, hay là đức Chúa Trời Jésus Christ v.v…

Tóm lại, Phật Giáo không phải là một triết học (philosophy) cũng không phải là một tôn giáo (religion), không phải là một học thuyết, hay một chủ nghĩa (doctrine), càng không phải là khoa học luân lý (éthic); và Phật Tổ Như Lai chỉ là đấng”vô thượng y vương” chữa được các loại “khổ bệnh nan y” cho nhân loại, hoặc ngài là “người chỉ đường” cho dân gian bước vào “chánh đạo”, để tiến tới “Niết Bàn”. Những lời bày đường chỉ lối, dạy dỗ của Như Lai để cho hậu thế, chỉ nên gọi là những “di ngôn của Phật Tổ”.

Chú ý: Những chữ “Phật Giáo” tôi dùng trong bài này, chữ “GIÁOcó nghĩaLời giáo huấn, lời dạy, chứ không phải tôn giáo![Muốn chứng minh tường tận PG không phải là một tôn giáo, cần phải viết riêng một quyển sách. Điều đó ra ngoài chủ đề của sách này!]. (trg. 435, 436, 437).

Như thế chúng ta gặt hái thêm một căn bản hiểu biết: Về bên Thiền Tông, muốn có đốn ngộ (santori immédiat), hành giả không nên suy luận về Niết Bàn. Niết Bàn là một vũ trụ bao la không ngằn mé , trí óc ta thì bé tẻo teo như trái dưa chuột.

Làm sao chúng ta đo được một bầu trời, huống chi cái trí vô biên của Phật? Càng suy luận chúng ta càng gặp nhiều sai hỏng và rớt qua tà đạo. Chúng ta phải dùng chính tư duy trong Bát Chánh Đạo, tức là tư duy những chặng đường mà đức Phật soi sáng: Bố thí, giữ giới, trì niệm, tinh tấn để trong cõi Thiền đầu óc được rỗng rang, vọng niệm tiêu tan, chân tâm hiển lộ. Giây phút mà chân tâm hiển lộ là giây phút mà trực giác thù thắng bùng lên, hoát ngộ. Lúc đó cái tri kiến của ta sẽ vô biên như tri kiến Phật và nhập vào tri kiến Phật. Thiền chỉ nhằm mục đích vun quén cái trực giác thù thắng ấy, chứ không phải vun quén cái suy luận về cái Niết Bàn mà chúng ta cho rằng là đối tượng để suy niệm. Niết Bàn dùng làm đối tượng thì là Niết Bàn ở ngoài ta, nhưng thực ra nó ở sẵn nơi ta, cần chi suy luận vô ích.

Còn vấn đề tu chứng, trong mục “ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng”, Đặng Văn Nhâm, thêm một lần nữa đã ý thức một cách trong sáng diệu kỳ về chuyện hành trì, tu tập. Xin đọc: “Trong phạm vi chữ “HIẾU”, đạo Nho chẳng khác nào PG, cũng đều dạy môn sinh và đệ tử phải ghi khắc, tôn thờ công ơn cha mẹ.
Trong bài nêu trên của Như Điển, ông sư này tỏ ý kích bác giới nhà Nho bằng những câu nguyên văn sau đây: “Vì vậy nên đã có không hiếm những nhà Nho chê trách đạo Phật và đặc biệt là những tăng sĩ bất hiếu với phụ mẫuVì lẽ tóc râu là những vật mà cha mẹ sinh ra, ta không dưỡng nuôi chúng thì chớ. Ở đây các vị tu hành đều cạo râu, cạo tóc. Lại chẳng lạy cha mẹ khi đã khoác áo nhà tu. Như thế không phải là bất hiếu chăng?

Nếu nhìn theo cái nhìn của thế gian thì đúng vậy; nhưng nhìn theo cái nhìn của người xuất thế gian thì không đúng...”

Trước hết, không cần để ý, ta cũng thấy ngay trong câu đầu Như Điển đã cố tình dùng chữ vu khoát cáo buộc Nho gia “chê trách đạo Phật” bất hiếu với phụ mẫu. Nói như thế tức Như Điển muốn ngầm cho mọi người biết hành động “bất lễ phụ mẫu” của Như Điển là do chủ trương và đường lối của đạo Phật, chứ không phải do sở nguyện hay bản chất cá nhân của ông ta. Đó là một “sảo thuật” núp bóng tượng Phật rất khéo của Như Điển. Nhưng không ngờ sảo thuật đó đã đưa đến hậu quả ngược, chứng minh cách hết sức hùng hồn cho người đọc thấy rằng: Sư Như Điển đã chẳng biết tí gì về những hành động hiếu thảo của đức Phật đối với vua cha lúc ngài tạ thế. Như Điển cũng mù tịt luôn cả những lời Phật ngôn về đạo hiếu, và chuyện con quạ mà tôi vừa kể trên.

Nếu Như Điển đã biết trước những điều đó, chắc chắn ông ta không bao giờ dám hạ bút viết mấy chữ “Nho gia chê trách đạo Phật và đặc biệt là các tăng sĩ bất hiếu với phụ mẫu”.

Trong vấn đề này sau khi đã biết đạo Nho và đạo Phật đều coi trọng chữ HIẾU, thiết tưởng ta phải tách rời đạo Phật ra khỏi những hành động của cá nhân tăng sĩ. Như Điển cũng như tất cả những người hiện đang quấn cà sa trên cổ nên biết rằng họ không phải là đạo Phật. Họ càng không bao giờ nên đồng hoá cá nhân của họ với đạo Phật, và cho rằng đạo Phật tức là họ. Người PT cũng cần phải sáng suốt nhận định phân biệt minh bạch như thế, để ngăn ngừa bọn giả dạng tu hành làm ô uế PG.

Bây giờ trở lại vấn đề Như Điển cho rằng nhà Nho chê trách các tăng sĩ bất hiếu với cha mẹ. Lời đó có đúng không? Thực ra những ai đã biết chút đỉnh về Nho học, hay chỉ cần đọc qua câu: “thân thể phát phu thụ ư phụ mẫu bất cảm hủy thương” (thân thể, râu tóc là của cha mẹ sinh ra, không nên hủy hoại) và câu: “Bất hiếu hữu tam: Vô hậu vi đại” (bất hiếu có 3 điều: lớn nhất là không con thừa tự), tất phải hiểu đó là chủ trương của Nho gia, và các môn đệ ở nơi cửa Khổng sân Trình, hoàn toàn không nhắm chỉ trích riêng những kẻ tu hành theo PG, vì giới luật của nhà chùa phải cạo trọc đầu, và không được lấy vợ, không có con.

Trong suốt quá trình văn hoá dài hàng nghìn năm của dân tộc VN chuyện này chưa bao giờ được đặt thành vấn đề.Vì từ hàng nghìn năm qua, dân tộc VN vốn có truyền thống “tam giáo đồng môn”.
Nhiều chùa còn thờ cả 3 ông Phật, Lão, Khổng. Nhiều vị cao tăng rất uyên thâm Nho học. Ngược lại, ta cũng đã thấy nhiều nhà Nho rất làu thông kinh kệ. Trong lịch sử văn hoá cuả dân tộc VN ta có thể tìm thấy rất nhiều Nho gia, sau một thời gian đem tài trí và khả năng ra phục vụ quân vương và đất nước, đến khi về già đã qui ẩn trong câu kinh tiếng kệ, hoặc theo gót của Lão, Trang...

Nhưng Như Điển còn cố vớt vát bằng câu: “Vì một người đi tu có thể làm siêu thăng cho nhiều đời cha mẹ” cho nên sự xuất gia cao qúi là dường ấy!”

Viết đến đây, thực sự tôi đã không khỏi vò đầu bứt tóc kêu trời. Tôi không ngờ nhà sư này, đã lên tới chức thượng toạ, mà còn không biết rằng trong PG: “AI TU NẤY CHỨNG”, cũng như “AI ĂN NẤY NO, AI ĐI NẤY TỚI”. Tức chẳng có một kẻ đi tu nào, dù đã chứng ngộ, huống chi loại tu hành bịp bợm (kiểu Như Điển) vẫn không thể làm siêu thăng cho nhiều đời cha mẹ được!” (trg. 441, 442, 443).

Tôi vốn không mấy quan tâm những hành vi điếm nhục cuả tăng ni ở hải ngoại. Tôi cũng không thích đọc những chuyện phá giới công khai hay bí mật của họ. Ở “giặc thầy chùa”, tôi chỉ thích lấy ra những kiến thức về PG của Đặng Văn Nhâm. Và tôi rất thích thú tìm được một người bạn, hoặc hơn nữa một người anh, có thể đối thoại với mình, có thể chia sẻ với tôi giáo lý mà đức Thế Tôn đã cầm đuốc soi đường. Còn công việc tẩy uế, sát trùng trong đám giặc thầy chùa là công việc của riêng anh, thiết nghĩ rất hữu ích, nhưng vẫn không phải là cái mục đích tìm hiểu của tôi. Và tiện đây, tôi cũng cần bày tỏ sự mến mộ những bài thơ chua của Trạng Phét cuả Hồ Công Tâm, mà Đặng Văn Nhâm đã đưa vào quyển sách.

Như thế, quyển “giặc thầy chùa” là một cuốn sách phổ thông. Ai muốn tìm hiểu một vài điều then chốt trong Phật pháp thì nó sẽ cung cấp những gì bổ ích cho sở tri của đương sự. Ai tha thiết với vấn đề làm sạch PG, chấn hưng PG, thì bản tường trình hành vi về đốn mạt của tăng ni mượn cửa chùa làm trung tâm dịch vụ kinh tài hay làm kỹ viện dâm phòng, trong sách sẽ cung cấp cho đương sự rất nhiều tài liệu quí giá.

Tôi còn nhớ trong quyển “Le Pavillon des Femmes” của nữ sĩ Pearl Buck, có đoạn nói về bà phu nhân họ Vũ đọc cuốn dâm thư “Kim Bình Mai”. Bà Vũ có năng khiếu đọc sách rất bén nhạy và uyển chuyển tuyệt vời. Theo bà, ai thích cảnh giao hoan dâm dật trong phòng khuê, cuốn sách đã có sẵn nhiều pha cụp lạc, có thể kích thích nhục cảm cho đương sự. Ai muốn tìm hiểu xã hội thối nát trong giới tham quan ô lại, quyển sách cũng có luôn!

Ở “Le Pavillon des Femmes” độc giả có thể tìm cái tồi tệ lẫn cái tốt đẹp của văn chương. Nhưng ở “giặc thầy chùa”, Đặng Văn Nhâm, qua cách tấn công các ác ni, dâm ni, gian tăng, dâm tăng, và qua cách trình bày kiến thức về Phật pháp đều làm sáng tỏ hai khía cạnh tích cực, nói lên cái niềm thiết tha về đạo đức và sự mến chuộng đạo hạnh của tác giả.

Hiển Vân Các, cuối Xuân 2002
HỒ TRƯỜNG AN

Blog Archive