Showing posts with label Lê Quang Sinh. Show all posts
Showing posts with label Lê Quang Sinh. Show all posts

Monday, January 30, 2023

Người Đi Qua Nhà Tôi

Một ngày như mọi ngày... Từ sáng sớm hơi sương còn lãng đãng trong không gian tĩnh lặng, một bóng người lầm lủi lê chân từng bước, từng bước khập khểnh đi ngang qua sân trước nhà tôi. Từ cửa sổ thư phòng nhìn ra ngoài, hình bóng một người đàn ông trạc tuổi lục tuần ẩn hiện sau hàng cây cảnh trước sân nhà. Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, dù nắng mưa hay rét mướt, người đàn ông này vẫn xuất hiện với cây gậy trên tay chống đỡ tấm hình hài gầy guộc, tật nguyền, vẫn chiếc nón lưỡi trai che đầu mưa nắng, vẫn chiếc áo khoác xanh cũ kỷ phai màu và cái túi xách nhỏ mang vai. Thoạt đầu tôi cứ tưởng ông ta là một người vô gia cư hay một người hành khất lang thang trên con đường vô định...

Hỏi ra mới biết ông ta là một người tù cải tạo qua định cư tại Hoa Kỳ dưới dạng tị nạn chính trị sau khi vượt biên qua ngả Thái Lan. Ông đi một mình để lại vợ con ở quê nhà. Qua Mỹ ông bắt đầu làm việc kiếm sống. Nhưng không may ông bị tai nạn lao động gãy một chân nên từ đó không kiếm được việc làm. Ông sống với sự trợ cấp của chính phủ. Nơi ở của ông là một căn phòng nhỏ thuê lại của chủ nhà. Ông sống cô đơn không người thân, không bạn bè, thậm chí ông không có đến một phương tiện gì để giải trí như TV, Radio... Cuộc sống của ông là những chuỗi ngày thầm lặng bên lề xã hội. Mặc dù tật nguyền ốm yếu, ông cũng tự lo lấy đời sống qua ba việc rất đỗi bình thường: đi chợ mua thức ăn nấu sẵn, tự giặt giũ quần áo và tối đến là lên giường ngủ. Vợ ông ở Sài Gòn đã đi lấy chồng và không còn liên lạc với ông nữa. Ông cũng không có đủ khả năng để bảo lãnh hai đứa con qua Mỹ, đành âm thầm sống một mình trong cô đơn giữa một xã hội văn minh vốn có sẵn nhiều phương tiện kỹ thuật tân tiến.

Đã mấy năm nay, mỗi sáng sớm tôi vẫn thấy ông đi ngang qua nhà tôi, một mình lủi thủi lê bước chân khập khểnh, tay tựa trên chiếc gậy mong manh như thân xác gầy gò, xanh xao không còn sinh lực của ông. Ông bước đi chậm rãi, luôn luôn cúi mặt xuống đất không nhìn lên trời, có lẽ ông không muốn nhìn thấy cảnh đời bon chen xuôi ngược để cho cõi lòng mình được yên bình thanh thản. Hình như chiếc mũ lưỡi trai chụp trên đầu cũng đồng tình với ông, nó che khuất tầm nhìn lên của ông. Sáng sớm ông đi và đến xế trưa ông mới trở về. Ông sống nơi phồn hoa đô hội mà cầm bằng như ở chốn lâm tuyền. Ông chỉ biết một con đường từ nhà ông đến chợ và trở về. Đôi khi mỏi mệt ông dừng chân trước sân nhà tôi để ngắm những bông hoa cây cảnh trong vườn. Ông chiêm ngưỡng thật lâu những cánh hoa màu đỏ thắm của cây lựu nở rộ vào mùa xuân. Có thể màu đỏ thắm của hoa lựu làm ông nhớ lại màu hoa phượng vĩ trước sân trường ghi dấu ấn những kỷ niệm êm đềm của thời dĩ vãng, thời học sinh thơ mộng xa xưa...

Mùa Đông năm nay ở Dallas thời tiết khá lạnh không như những năm trước đây và kéo dài rất lâu. Ban đêm hàn thử biểu xuống 25 – 28 độ F, ban ngày lên chút đỉnh đến 30 – 40 độ F. Ngồi trong xe còn phải mở máy nóng. Thế nhưng ông vẫn mặc chiếc áo mỏng với chiếc quần kaki cũ kỷ và vẫn bình thản đi đi về về bất chấp cái lạnh buốt xương. Ông phải đi để mua thức ăn hàng ngày đã nấu sẵn ở chợ; ông không biết làm bếp, và bà chủ nhà không cho ông sử dụng tủ lạnh để trữ thức ăn. Hoàn cảnh của ông thật bi đát. Cảm thông cảnh ngộ của ông, tôi đem tặng ông chiếc áo khoác bằng nĩ và một cái khăn choàng giúp ông đỡ lạnh. Ông vui vẻ nói lời cám ơn.

Viết đến đây tôi nhớ đến câu chuyện xảy ra bên Trung Quốc nói về tình cảm của con người với nhau. Ngày xưa đời Tam Quốc, nơi vườn đào, ba người bạn cùng thề sống chết có nhau, đó là Lưu Bị, Quan Vân Trường và Trương Phi. Khi Quan Vân Trường bị lầm kế của Lữ Mông là tướng Đông Ngô và bị giết chết, Trương Phi vì nóng nảy bị thuộc hạ là Phạm Cương, Trương Đạt đâm chết trong lúc say rượu rồi cắt đầu đem dâng cho Đông Ngô, còn Lưu Bị vì nóng lòng báo thù cho hai em, bị kế hỏa công của Lục Tốn đốt 700 dặm trại, tổn thất nặng, phải lui về Bạch Đế thành mang bệnh mà chết. Trong thơ có câu:

Nguyện thề sanh tử bạn hiền,
Lưu, Quan, Trương nợ đào viên nặng thề”.

Thế rồi tự nhiên tôi liên tưởng đến câu chuyện ngày xưa kể về hai nhân vật điển hình nói về sự giàu có và nghèo hèn: Lưu Bình và Dương Lễ. Lưu Bình vốn là con nhà giàu có, còn Dương Lễ thì xuất thân trong chốn bần hàn. Nhưng Lưu Bình đối đãi với Dương Lễ rất thân tình mật thiết, xuất tiền nuôi Dương Lễ lo trau dồi đèn sách. Đến khoa thi cả hai cùng lên đường ứng thí. Dương Lễ được chấm đậu bổ ra làm quan. Lưu Bình thi rớt trở về. Vì ỷ mình giàu có, không chăm học hành, Bình vẫn thi rớt luôn. Bình lại có tính hào phóng, ăn tiêu phung phí tiền của không tiếc tay. Gặp khi loạn lạc, tài sản bị mất hết, quá sa sút. Lưu Bình bèn tìm đến để nhờ Dương Lễ giúp đỡ. Tuy ra làm quan Dương Lễ vẫn nhớ đến người bạn cũ, nay nghe Lưu Bình đến lấy làm mừng rỡ. Nhưng Dương Lễ vốn biết tính bạn hay chơi bời lêu lổng, chẳng chịu học hành, kịp nghĩ lại muốn tìm cách khéo léo khuyên bạn. Dương Lễ liền giả vờ lãnh đạm, tiếp rước Lưu Bình một cách lơ là. Cho lính lệ mời Lưu Bình ra ở nhà ngoài, dọn toàn là cơm hẩm với những món ăn xoàng, lại cho uống nước lã. Nghĩ tủi thân và giận người bạn vong ân bội nghĩa, Bình liền bỏ ra về. Về dọc đường Bình gặp một người đàn bà còn trẻ và đẹp hỏi han gợi chuyện. Bình bèn đem những gì buồn tủi kể hết cho nàng nghe. Nghe xong, nàng tỏ ý muốn giúp đỡ tiền bạc cho Bình ăn học. Nàng cho biết nếu Lưu Bình chịu nghe lời nàng, cố gắng trau dồi kinh sử, đạt được chữ công danh làm cho người bạn vong ân bội nghĩa Dương Lễ sáng mắt ra, chừng ấy nàng sẽ xin theo chàng suốt đời sửa túi nâng khăn. Lưu Bình đang cơn bơ vơ, nghèo túng, đành ưng chịu. Sau đó Lưu Bình ngày đêm mài miệt học hành, một phút không rời sách vở. Ít lâu sau, gặp kỳ thi, Lưu Bình liền ra ứng thí. Lưu Bình đã thi đỗ nhưng khi về nhà thì người đàn bà kia bỏ đi mất tăm dạng. Bình vô cùng đau đớn vì yên chí thi đỗ sẽ làm vừa ý người đẹp và có dịp rửa được mối hờn xưa. Trong dịp này, Dương Lễ vội cho người mang lễ vật đến chúc mừng và khẩn khoản mời Lưu Bình đến chơi. Ban đầu Lưu Bình định từ chối không nhận lễ mừng và quyết không bao giờ bước chân đến dinh của Dương Lễ nữa. Nhưng Lưu Bình lại muốn xem Dương Lễ còn giở trò gì nên cũng gắng gượng đến thăm Dương Lễ. Lưu Bình nghĩ thầm sẽ tìm ra những lời cay cú nặng nề mắng vào mặt tên phản bạn kia mới hả tức ngày trước. Khi Lưu Bình đến, Dương Lễ đã vui mừng ra tiếp rước một cách nồng hậu rồi lại cho người thiếp ra chào Lưu Bình. Bấy giờ Lưu Bình mới tỉnh ngộ: Thì ra người đàn bà đẹp đến giúp Lưu Bình tiền bạc và dùng lời lẽ khuyến khích Lưu Bình ăn học bấy lâu nay chính là nàng Châu Long, hầu thiếp của Dương Lễ. Thế là tình bạn tâm giao càng thêm mật thiết. Về sau, để nói về tình bạn gắn bó người ta thường dùng truyện Lưu Bình Dương Lễ để dẫn giải. Có câu:

Dù cho vật đổi sao dời,
Lưu Bình Dương Lễ đời đời thâm giao.

Mùa Đông rồi cũng qua đi qua đi, mùa Xuân lại đến. Những cây cảnh trước nhà tôi đã cùng với tiết Xuân đâm hoa nở nhụy. Cây lựu đã nở rộ những chùm hoa đỏ rực tươi thắm như mời gọi khách qua đường dừng chân chiêm ngưỡng. Nhưng mùa Xuân năm nay, từ cửa sổ thư phòng nhìn ra vườn, tôi không còn thấy bóng dáng người đàn ông đi ngang qua nhà tôi nữa.

Lê Quang Sinh

Thursday, March 22, 2018

Cậu Bé và Người Nhặt Rác



Ngày 13 tháng 3 năm 1991, gia đình chúng tôi qua định cư tại Sacramento, thủ phủ Cali, Hoa Kỳ dưới diện HO sau 8 năm tù gọi là cải tạo dưới chế độ Cộng sản.

Năm 1994, chúng tôi cùng Nhà thơ Nguyễn Phúc Sông Hương, bút hiệu Thái Luân, và Nhà thơ Nguyễn Lý Tưởng thành lập Hội Thơ Tài Tử VNHN, và tôi được đề nghị làm Trưởng Ban Điều Hành cho đến nay đã được 24 năm.

Sau khi thành lập hội thơ, chúng tôi nghĩ đến sự phát triển hội bằng cách in một tập thơ mang tên CỤM HOA TÌNH YÊU để giới thiệu cùng độc giả và tổ chức các buổi ra mắt sách tại Hoa Kỳ và các nước khác trên thế giới. Dù sao vấn đề tài chánh vẫn là một yếu tố quan  trọng đã thúc đẩy tôi phải tìm cách làm sao có ngân quỹ để trang trải cho các chuyến đi xa. Thế là trong một buổi "trà dư tửu hậu", có người bạn vui góp ý là tôi muốn đi làm nghề nhặt rác trong khu cư xá không, lương mỗi tháng 700 đô tiền mặt. Cơ hội đến là tôi đồng ý ngay. Thế là từ một sĩ quan cấp tá tôi trở thành một người lao công giống như anh chàng trong bản nhạc "Người Phu Quét Đường". Và rồi người nhặt rác VN đã gặp cậu bé Mỹ trong bài thơ " Cậu Bé và Người Nhặt Rác" mà tôi hân hạnh được giới thiệu cùng quý độc giả hôm nay.

Sau khi lập hồ sơ nhận việc, tôi bắt đầu hành nghề. Sáng sớm tinh sương lúc 6 giờ tôi đã phải  bắt đầu công việc. Một tay xách cái thùng đựng rác, một tay cầm cái kẹp nhặt rác. Khu vực đầu tiên phải dọn dẹp là vườn trẻ với bãi cỏ xanh và các phương tiện vui chơi cho trẻ em như xích đu, trèo cao tuột dốc v.v...  Sau đó phải đi loanh quanh trên các con đường trong khu cư xá, sân trước nhà, bải cỏ để nhặt rác rưới bỏ vào xô rồi đem đổ vào các thùng  Connex đặt gần đó.

Khu cư xá khá rộng  phải mất nhiều giờ mới làm xong công việc. Nhất là về mùa Đông lá vàng rơi từ các cây cao tỏa bóng mát, nên cần  thời gian cào lại từng đống rồi bỏ vào bao nylon lớn. Về mùa Hè nóng bức, lao động một hồi là mồ hôi nhễ nhại, tôi ngồi dưới bóng mát để nghỉ xã hơi.

Công việc nhặt rác này không có gì vất vả nặng nhọc, nhưng so sánh với các nghề khác như chạy bàn, bán báo, hoặc dọn dẹp làm sạch sẽ văn phòng, nhà vệ sinh trong bệnh viện hay các trường đại học, hoặc thợ điện, thợ hàn, thợ tiện, thì nó là cái nghề thấp nhất trong xã hội mà đồng lương chỉ có 700 đô một tháng.

Hoa Kỳ là một đất nước tự do, không phân biệt màu da, giàu nghèo, không phân biệt lao động trí óc và lao động chân tay, nghề nào cũng cao quý. Sĩ quan QLVNCH từ cấp úy đến cấp tá, cấp tướng khi di tản đến Hoa Kỳ đều có thể làm bất cứ nghề gì trong giai đoạn đầu mới đặt chân trên xứ lạ quê người để kiếm sống. Dần dà họ đã trở thành những thương gia giàu có, những triệu phú, tỷ phú, khoa học gia, bác sĩ, kỷ sư, tiến sĩ...

Cái nghề nhặt rác không mang lại chức tước, danh vọng hay tiền tài, nhưng nó đã đem lại cho chúng tôi một kỷ niệm đẹp nhất trong đời, đó là câu chuyện mà tôi xin kể hầu quí vị sau đây.

Một buổi trưa mùa Hè, trời nóng như thiêu đốt, tôi dừng chân nghĩ mát dưới bóng cây trước sân nhà của một căn chung cư. Bất ngờ một em bé khoảng 4 tuổi, tên Mc Kee từ hiên nhà chạy ra, ôm lấy chân tôi và nói: "I love you". Rồi nhanh nhẹn bé lấy cái xô và cây gắp đi loanh quanh khu nhà gần đó nhặt rác bỏ vào xô. Cảm giác của tôi lúc đó thật bàng hoàng xúc động. Cậu bé mới tí tuổi mà đã biểu lộ được một cử chỉ đẹp, một tấm lòng yêu tha nhân quá tuyệt vời, như một thiên thần nhỏ bé mang lại tình yêu cho người trần thế.

Cảm kích trước hành động dễ thương của bé Mc Kee, tôi đã viết nên bài thơ "Cậu Bé và Người Nhặt Rác", và dịch ra tiếng Anh "The Little Boy and The Groundsman" đề tặng cháu bé và ba me của cháu. Tôi cũng đã tặng bài thơ này cho bà quản lý khu chung cư tôi làm việc. Bài thơ như sau.

Cậu Bé và Người Nhặt Rác

Thương về bé Mc Kee 

Cơn nắng hạ chói chang/ Như thiêu như đốt/ Người nhặt rác âm thầm/ Từng bước từng bước một/ Kéo lê đôi giày mòn mỏi/ Như quá khứ gặm nhấm đời anh/ Trong chiến tranh, lao tù, bất hạnh.

Cơn giá buốt mùa Đông/ Cắt da xé thịt/ Người nhặt rác âm thầm/ Từng cử động chắc nịch/ Vung đôi bàn tay chai cứng/ Anh nhặt không ngừng.

Từ sáng sớm tinh sương/ Thiên hạ đang yên giấc/ Người nhặt rác âm thầm/ Từng bước từng bước một/ Lướt nhẹ qua những con đường/ Đầy xác lá vàng rơi rụng/ Cùng mãnh hồn anh vỡ vụn tan thương.


Rồi một ngày như mọi ngày/ Dưới nắng trưa hè gay gắt/ Người nhặt rác lau mồ hôi trán/ Đứng lặng nhìn trời suy tư miên man/ Bất ngờ một cậu bé/ Từ hiên nhà chạy ra/ Ôm lấy chân người nhặt rác/ Ngước nhìn lên đôi mắt sáng trong/ Hồn nhiên em nói: Cháu yêu ông - I love you/ Rồi đôi chân nhỏ bé/ Thoăn  thoắt trên thảm cỏ/ Bé nhặt rác bỏ vào xô/ Người nhặt rác bàng hoàng xúc động/ Nghe như từ trời tiếng hát yêu thương/ Xóa tan bao mệt mỏi chán chường.

Cao đẹp thay tình yêu của bé/ Tình yêu không đổi trao/ Tình yêu không vụ lợi/ Tình yêu không lý luận/ Tình yêu bình an cho người/ Ôi! Tình yêu tuyệt vời!

. . .


Viết đến đây tôi nhớ lại một bài báo của tờ Việt Báo mà tôi đã cất giữ từ mười mấy năm nay trong tủ sách dưới nhan đề "Đời Nhặt Rác" trong mục Thư Saigon, xin ghi lại như sau.
 
Bạn,

Chuyện kể với bạn trong lá thư này là chuyện về những người nhặt rác ở thành phố Huế. Theo báo Giáo Dục Thời Đại, hễ đi đến bất kỳ bãi rác nào lúc chập choạng tối trong thành phố, phóng viên báo này đều nhận thấy có rất nhiều người đang dùng que đào bới rồi nhặt rác. Những người nhặt rác là những người nghèo khổ. Báo GDTĐ viết về tình cảnh của những người kiếm sống bằng công việc nhặt rác ở Huế qua đoạn ký sự sau đây.

Bãi rác nằm ở đường Tùng Thiên Vương (Tp Huế) chỉ là một bãi nhỏ nhưng cũng có từ bốn đến năm người tham gia nhặt rác ở đây mỗi tối. Dưới ánh đèn vàng hiu hắt và những hạt mưa bụi bay bay, những người này cần mẫn dùng que gạt đi gạt lại đống rác rưởi hôi thối mong tìm được cho mình một thứ rác có thể sữ dụng được để đem bán lại. Dụng cụ lao động của họ khá đơn sơ và không an toàn chút nào. Mỗi người có một chiếc đèn pha trên đầu, một bao tải móc sau lưng cùng với một cái que dùng bới rác... Chẳng có một phương tiện nào bảo hiểm trên con người họ, dù chỉ là chiếc bao tay hay đôi ủng cao. "Kiếm cả buổi tối chưa chắc đủ ăn thì làm sao tụi tôi có tiền mua đồ bảo hiểm hở anh?". Câu trả lời của người có vẻ lớn tuổi nhất trong số những người ở đó khiến phóng viên lúng túng trong chốc lát. Rồi như không chú ý đến sự có mặt của tôi, họ vẫn tiếp tục làm việc.

"Nghề nhặt rác này vất vả và tủi hổ lắm anh ạ. Cứ nghĩ đến việc gặp người quen là mình đã lo ngại rồi, còn nếu lỡ gặp thì chỉ có việc độn thổ đi cho khuất mắt". Anh lớn tuổi nhất trong đám tâm sự nhưng vẫn không chịu cho tôi biết tên. Khi anh quay đi, Tèo - cậu bé nhỏ nhất trong số người nhặt rác thì thầm vào tai phóng viên: "Chú ấy có vợ con rồi nên không chịu nói thật tên và địa chỉ mô mà anh hỏi".

Tại một bải rác khác ở cuối đường Chế Lan Viên, trong khi các công nhân của Công ty Vệ sinh Môi trường đang tiến hành công việc của mình thì vẫn có mặt ba người nhặt rác. "Trung bình một đêm nhặt rác cũng kiếm được từ  bảy đến mười ngàn đồng. Nếu gặp đêm vở bở thì cao hơn. Nhưng cũng có nhiều đêm cúi đến cong lưng cũng chỉ kiếm được một đĩa cơm bụi". Hoàng, một cậu bé thường xuyên nhặt rác ở bãi rác Phú Thượng (Phú Vang) cho phóng viên biết. Hai nỗi lo lớn nhất của người nhặt rác là tai nạn và không nhặt được rác. Tai nạn là chuyện thường xuyên xãy ra. Trong bất cứ bãi rác nào cũng ẩn chứa vô vàn nguy hiểm.

Phóng viên báo Giáo Dục Thời Đại viết tiếp: "Hình ảnh mà phóng viên nhìn thấy được vào buổi sáng ở đường Nguyễn Tri Phương làm tôi nhớ mãi. Có ba bé gái với ba bao tải đựng rác sau lưng đứng lặng nhìn các bạn đồng tuổi mình đang nô đùa trong sân trường với ánh mắt buồn bã. Không biết các người có trách nhiệm sẽ nghĩ gì khi nhìn thấy cảnh tượng này, và cũng không biết tương lai của những em bé nhặt rác hôm ấy sẽ đi về đâu?".

*
Chúng tôi viết lại câu chuyện nhặt rác ở VN kể trên để chúng ta có một khái niệm về tình hình kinh tế và đời sống của người dân hai nước. Đành rằng không thể so sánh một nước lớn với một nước nhỏ, nhưng cái nghề nhặt rác là cái nghề tận cùng của xã hội dù văn minh hay nghèo khó, mà nó cũng không mang lại được cái hạnh phúc nhỏ bé nhất cho con người ở nước mình.

Trở lại câu chuyện nhặt rác ở xứ Mỹ làm đề tài cho bài viết hôm nay. Với số tiền 700 đô kiếm được một tháng, chúng tôi đã sữ dụng để phát triển Hội Thơ Tài Tử VNHN trong giai đoạn đầu tài chánh còn eo hẹp. 

Tháng 9 năm 1995, chúng tôi in một thi tập mang tên Cụm Hoa Tình Yêu I-95, gồm 17 tác giả ở Hoa Kỳ và VN. Tập thơ này được giới thiệu lần đầu tiên ở thành phố New Yersey với 250 khán thính giả tham dự do sự tổ chức của Thi sĩ Nguyễn Thanh Huy, Thi sĩ Trần Trung Đạo, và ông Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt  New Jersey, cùng với sự trình bày thư họa, tranh ảnh  của Thi họa sĩ Vũ Hối đến từ Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. 

Năm 1996 hội xuất bản thi tập CHTY 2-96 với 45 tác giả; những năm  kế tiếp số tác giả tăng lên nhiều hơn. 

Mười năm sau, 2005 số thi hữu góp mặt lên đến 500 người gồm từ các nước Tunisia, Congo, Pháp, Úc, Canada, Hungary, Ukraine, Nhật Bản, Đức Quốc, Peru, Hòa Lan, Thụy Sĩ, Na Uy, Hoa Kỳ, và Việt Nam. Nhà văn Tống Diên (hậu duệ Nhà văn Bình Nguyên  Lộc) đã viết bài "Mười Năm Người Với Ta" nói về sự phát triển nhanh chóng của Hội Thơ Tài Tử VNHN đăng trên báo chí ở Cali và Paris lấy tài liệu trong các thi tập CHTY xuất bản từ năm 1995 đến năm 2005 và ông đã kết luận : "Chính tại nơi đây mà hàng trăm người đã hồi tưởng quá khứ, kể lại quá khứ của mình, nghe quá khứ của bạn bè,  trau dồi quá khứ với người khác. Duyên văn nghệ tạo hội ngộ văn nghệ để qua đó con người văn nghệ tìm đến với nhau cũng như tìm lại chính bản thân mình".

Với số tiền nhỏ bé gom góp được từ công việc nhặt rác, chúng tôi đã gầy dựng hội thơ lúc ban đầu hầu làm bàn đạp tiến đến những bước khả quan hơn như đi đến các nước Đức, Pháp, Thụy sĩ, Na Uy, Hòa Lan, Belgique, và các thành phố lớn ở Hoa Kỳ: Hoa Thịnh Đốn, Sacramento, Westminster, Orlando  để tổ chức các buổi ra mắt thi tập CHTY, thi tập tam ngữ Anh-Pháp-Việt "Flowers of Love" với sự đóng góp thơ, văn, nhạc, họa của các nhà thơ, nhà văn, thi họa sĩ, tiến sĩ, bác sĩ, kỷ sư, thương gia, chính trị gia, mục sư, thượng tọa, sĩ quan QLVNCH từ cấp úy đến cấp tướng, tá như Thiếu Tướng Tôn Thất Xứng-Canada, Đại tá Lê Khắc Lý -Cali, Tiến sĩ Lê Mộng Nguyên -Hàn  Lâm Viện Pháp, Thi sĩ Hàn Lâm viện Pháp, Ali Smaoui -Tunisia, Tiến sĩ Thierry Sinda -Congo, Giáo sư Be Herrera -Hoa Kỳ, Thi họa sĩ Minh Châu Thái Hạc Oanh-Paris, Tiến sĩ Phạm Trọng Chánh -Paris, Kỷ sư Quyện Tâm -Paris, Thi họa sĩ Vương Thu Thủy -Paris, Thi văn sĩ Duyên Hùng -Lyon, Thi họa sĩ-Thư họa Vũ Hối -Hoa Thịnh Đốn, Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng -Cali, Bác sĩ Bùi Quang Dũng -Orlando, Thương gia Phan Long - Orlando, Mục sư Nguyễn Huệ Nhật -Berlin, Thượng Tọa Thích Giác Lượng -Cali, và nhiều nhà thơ nổi tiếng khác như Trần Vấn Lệ -Cali, Cao Mỵ Nhân -Cali, Tràm Cà Mâu -Cali, Lê Phạm Lê -Cali, Phạm Thiên Thư  -Saigon, Thế  Phong -Saigon,  Lưu Hoài -Saigon, dịch giả Truyện Kiều qua Anh-Pháp ngữ.  Ngoài ra một số bài thơ trích từ thi tập CHTY đã được các nhạc sĩ Võ Tá Hân, Hoàng Gia Thành, Nguyễn Hữu Tân phổ thành ca khúc.

Từ một sĩ quan cấp tá QLVNCH, tôi đã trở thành người nhặt rác ở Mỹ. Nhưng nhờ một nghề nghiệp khiêm nhượng trong một xã hội văn minh giàu có mà tôi đã học được một bài học quý giá trong đời, đó là Tình yêu mang đến từ một cậu bé người Mỹ làm xúc động tâm hồn khiến tôi viết nên bài thơ "Cậu Bé và Người Nhặt Rác" thương tặng bé Mc Kee đáng yêu.

     Xin cám ơn bé Mc Kee.
     Xin cám ơn Tình yêu bình an cho Người.

Garland, Tháng Giêng 2018

Lê Quang Sinh

Blog Archive