Showing posts with label Năng Khiếu. Show all posts
Showing posts with label Năng Khiếu. Show all posts

Friday, January 3, 2020

Niềm Vui Mới

Năng Khiếu

Bà Kim sang Mỹ gần hai năm. Chưa đến bảy mươi, mà nhìn vẻ mặt bà khắc khổ, từng trải nhưng không mất đi nét thanh tú, bà nói năng lịch thiệp và hiểu biết của một người có học.

Hơn mười năm trước, bà Kim lo cho Hương là con gái út đi du học tại Mỹ, học xong Hương xin được giấy phép đi làm, tuy số điểm tốt nghiệp cao, mà tìm mãi mới được việc. Sau đó cô lập gia đình và bảo lãnh mẹ qua định cư. Khi mẹ có quốc tịch cô sẽ financial sponsor (bảo trợ tài chánh) để mẹ bảo lãnh cho anh chị cô mau hơn. Bà Kim còn hai người con ở Việt Nam, Thưởng lớn nhất, là giáo sư trường Đại Học Bách Khoa Phú Thọ. Hường là con gái kế, cô lấy chồng cũng ở gần nhà nên thường bế con về gửi bà ngoại. Bà Kim ở với con trai, con dâu cùng hai đứa cháu nội, trong căn nhá khá lớn ngoài mặt đường gần Ngã Tư Bảy Hiền.

Bà Kim đến California vào một chiều hè ấm áp, ngồi đợi ở phi trường LAX ngắm nhìn thiên hạ tấp nập qua lại một lúc thì thấy Hương tới, đón bà về nhà ở thành phố Fountain Valley. Gặp ngày thứ bảy cuối tuần, bà con bạn bè được tin kéo đến hỏi thăm, chúc mừng thật đông vui. Ngày hôm sau con rể và con gái chở bà đi thăm anh chị sui và vài nơi quen biết. Phố xá ở đây sạch sẽ đẹp đẽ, chứ không lộn xộn như khu Tân Bình nhà bà ở xóm cũ.

Mấy ngày vui đoàn tụ qua mau, mọi người ai vào việc nấy. Ở nhà còn có bà và thằng cháu ngoại bảy tuổi, đi học về là cắm đầu cắm cổ vào chiếc iPad, bà bảo nó coi chừng hại mắt, nó nghỉ được một lúc, rồi lại chứng nào tật nấy. Cháu bà chỉ hiểu chứ không nói được tiếng Việt, thành ra trong đối thoại hai bà cháu, nó nói tiếng Mỹ còn bà nói tiếng Việt. Bà nghĩ cứ bắt nó nghe tiếng Việt kẻo nó quên, rồi nhắc mẹ nó đưa đi học đọc, học viết sau. Nhìn nó bà lại nhớ mấy đứa cháu bên Việt Nam quá chừng, lúc nào cũng líu lo quanh bà.

Con rể bà là kỹ sư hóa học làm trong hãng thuốc tây ở Irvine, con gái làm trong phòng xét nghiệm (Laboratory) tại bệnh viện UCI nên rất bận rộn, cô phải mướn người mỗi ngày hai ba tiếng đồng hồ, đến nấu ăn và dọn dẹp, bà cảm thấy như người thừa thãi, như kẻ ăn bám. Bà hết đi ra lại đi vào, bật T.V xem thì buồn ngủ, nằm xuống lại không ngủ được, ngồi lên thì ngủ gà ngủ gật, đụng vào cái gì con gái cũng sợ không quen sẽ đổ vỡ, rồi hư hỏng, nó nói với bà: “Má không phải nghĩ ngợi gì, cứ hưởng tuổi già đi!” bà nghĩ tuổi già ở cái nơi lạ lẫm như người vừa câm vừa điếc này, có gì mà hưởng.

Buổi sáng thức dậy sớm co ro bên cửa sổ, nhìn ra đường thấy từng cặp đi bộ qua nhà, nắm tay nhau chầm chậm khập khiễng trong gió lạnh, bà Kim thấy buồn buồn. Ở không mãi cũng chán, bà tính nhờ người quen, kiếm xem có việc gì hạp với khả năng để làm cho quên ngày tháng. Nhưng từ ngày đến Mỹ tuổi của bà được liệt vào hạng “Senior”: Bà đi chứng nhận giấy tờ, được giảm giá. Theo con cháu vào tiệm All you can eat buffet, được bớt giá. Đi xe bus giảm nửa giá….Nên chữ “già” cứ ám ảnh bà, sắp bước vào tuổi “Cổ Lai Hy” bà chỉ còn ngồi chờ ngày kiệt quệ, để phải đưa vào nhà dưỡng lão, sống chung với những khuôn mặt già nua ngơ ngác? Bà đã vào đó một hai lần thăm người quen, cứ nghĩ đến là sợ hãi.

Bà mặc cảm cùng mình, khi những người già về hưu tại đất nước này, họ đã làm việc suốt đời, bây giờ được hưởng những phúc lợi của xã hội. Còn bà vì là con mới bảo lãnh, không đóng góp được gì, lại chưa có quốc tịch, nên chẳng được trợ cấp chi. Cũng may chính phủ cho được cái Medical, đi khám bệnh tổng quát, kết quả bà bị cao máu cao mỡ, bác sĩ khuyên phải tập thể dục và ăn kiêng. Từ đó bà thường đi bách bộ quanh công viên gần nhà, vào mỗi buổi sáng hoặc nắng chiều sắp tàn. Đọc sách, báo để biết cách ăn cho đúng, ngủ cho đủ giấc. Lên Facebook, liên lạc với các bạn ở Việt Nam, xem hình con cháu cho bớt nhớ thương. Dần dà bà quen được vài người bạn già quanh xóm, cuộc sống của họ cũng lặng lẽ buồn, hắt hiu như lá vàng mùa thu… Nuôi nấng con cái nên người, học thành tài, chúng như những con chim đủ lông đủ cánh, xây tổ ấm riêng không sống chung với cha mẹ nữa. Họ bảo ở Mỹ là như vậy.

Không như ở Việt Nam, tục lệ người con trai trưởng hoặc út, có trách nhiệm với cha mẹ vẫn còn. Gia đình ba thế hệ sống chung, có ông bà trong nhà, đôi vợ chồng trẻ yên trí đi làm. Người già có thú vui chăm sóc nhà cửa. Khi cháu chắt lần lượt ra đời, thì ông bà nội hoặc ngoại trở thành người giữ cháu, có kinh nghiệm nuôi nấng dậy dỗ hữu hiệu hơn. Khi những đứa cháu lớn lên, buổi sáng bà dẫn cháu đến trường, buổi chiều đón cháu về. Nhờ vậy mà bà có cơ hội giúp đỡ con cháu không cảm thấy mình vô dụng. Trong nhà lúc nào cũng có tiếng trẻ thơ rộn rã, có hơi ấm và sức sống chan hòa, tuổi già bớt cô đơn. Bây giờ đối với bà chỉ còn là dĩ vãng đã qua.

Thời tiết giao mùa bà bị bệnh, nằm trên giường trong ngôi nhà vắng lạnh, nhìn qua cửa sổ bầu trời cũng vắng lặng. Bà Kim cảm thấy lòng buồn quay quắt nhớ về Việt Nam, nhớ người chồng hiền lành tử tế, yêu vợ thương con. Ông đã mất tích trong một lần vượt biên, cùng nhiều người trên chuyến tàu định mệnh, phát xuất từ Rạch Giá. Không một ai biết điều gì đã xảy ra cho con tàu? Vì không còn ai sống sót! Những người thân ở hải ngoại, đã gửi email đến Cao Ủy Tỵ Nạn ở Geneva, Red Cross tại nhiều nơi…. Vẫn không thấy hồi âm. Bà trở thành góa phụ không khăn tang, không vật vã một lần khi hạ huyệt. Nhưng bà đã âm thầm khóc thương ông, hơn hai mươi năm nay. Nỗi đau cứ âm ỉ đốt cháy lòng bà. Bà không biết là hận ai? Trách ai? Cái ngày đau thương sau 30 tháng tư năm Ất Mão ấy, đất nước ngưng tiếng súng, tưởng là chấm dứt cảnh chết chóc, nhưng người chết còn nhiều hơn thời loạn, chết đủ cách, chết vì bắt bớ, tù đày bị trả thù. Vì đi “kinh tế mới” chết đói, chết khát. Vượt biên chết trong rừng, chết ngoài biển…. Như câu thơ: “Trước kia chinh chiến còn xum họp, nay đã hòa bình phải biệt ly”.

Con gái thấy bà buồn, cô liên lạc được mấy người quen của mẹ từ hồi còn ở Việt Nam, cô chở bà đến thăm và trò truyện cho vui. Những người bạn đó ở trong khu người già, xung quanh toàn các cụ trông còn phong độ lắm, có những cặp vợ chồng già liêu xiêu dắt dìu nhau, thật hạnh phúc. Về nhà cô kể lại cho chồng nghe, con rể thấy bà Kim gặp lại những người bạn cũ có phần vui hơn, anh ta bàn với vợ nộp đơn xin cho mẹ một căn trong khu Senior apartment, phải chờ hơi lâu, nhưng con rể nói, đợi khi mẹ có quốc tịch là vừa. Bà nghe vậy thì buồn dữ lắm.

Rồi một hôm, có người bạn rủ bà Kim đến tham dự buổi họp mặt, Liên Trường Trung Học của một tỉnh nhỏ miền Cao Nguyên xưa. Một người bạn giới thiệu với bà:

-Đây là bạn Lynda, một người hoạt động rất tích cực trong các chùa…

Lúc ra về Lynda hỏi bà: “Chủ nhật Kim có muốn lên chùa chơi không? Trên chùa Điều Ngự có Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng Phật Giáo, mở nhiều lớp học miễn phí như: Lớp Thiền, lớp Anh ngữ trung cấp, Anh ngữ thực dụng, lớp hướng dẫn thi quốc tịch v..v...”

Nghe có lớp Anh văn, và lớp học thi quốc tịch, bà Kim đồng ý ngay. Bà cũng có chút vốn liếng Anh ngữ, nhưng lâu quá không có dịp dùng đến nên quên. Người bạn nói rằng: “Ngôn ngữ địa phương là chìa khóa, mở tất cả các cánh cửa hòa nhập nơi đất khách quê người, từ chối nó, là tự giam mình vào thế giới riêng”. Bà nói: “Đúng, tôi phải đến lớp để học, chứ từ ngày qua đây, thỉnh thoảng đi bộ bên đường gặp người bản xứ đi ngược chiều, tôi chỉ chào được tiếng ‘Hi’! Rồi đi luôn”.

Thế rồi bà Kim lên chùa, trước nhất là để lạy Phật, để được gặp những người bạn cùng ý nguyện, cùng tìm một điều gì đó trong cuộc sống. Con đường đi đến đạo Phật, là đường đi của những người đặc biệt, có trí tuệ siêu phàm, xuất chúng, có khả năng cứu nhân độ thế. Nhưng cũng là con đường của những người yếu đuối như bà, những người gặp chuyện buồn không thể giải tỏa. Là một Phật Tử với phương pháp thiền định, có thể giúp bà xua tan nỗi muộn phiền, tìm ra chân lý của đời sống, tránh được phiền não khổ đau. Kiên nhẫn tu tập để nuôi dưỡng “thân tâm an lạc” trong cuộc sống và sự bình an vốn có như khi còn ở quê nhà!

Sau nữa là bà quyết định đi học Anh văn, và theo học lớp hướng dẫn quốc tịch, để khi nào đủ ngày tháng thì bà nộp đơn thi. Từ nhà bà đến chùa Điều ngự không xa lắm, bà đến trước mười lăm phút để điền đơn, ghi danh, địa chỉ và số phone. Xin học lớp thiền vào ngày thứ ba. Hai lớp Anh ngữ, lớp sáng thứ tư do cô Vân Bằng phụ trách và sáng thứ sáu do cô Tư Hiền phụ trách, từ 9:30 AM đến 11:30 PM. Sau đó bà ở lại học lớp quốc tịch từ 12: 30 tới 1:30 chiều. Các cô là những giáo sư có kinh nghiệm dạy ESL đã nghỉ hưu, nhưng vì có tấm lòng yêu thương tha nhân. Các cô đã hy sinh thời giờ, công sức dạy thiện nguyện, trước là giúp ích cho cộng đồng xã hội, sau là niềm vui tuổi về chiều.

Trước 1975, hai cô là giáo sư Anh văn dạy nhiều trường nổi tiếng tại Saigon và ở Hội Việt Mỹ, nằm trên đường Mạc Đĩnh Chi xưa. Các cô đã may mắn, thoát khỏi làn sóng đỏ tràn vào từ miền Bắc. Là người “Di tản buồn” năm 1975, cũng có những khó khăn buổi ban đầu nơi đất nước Hợp Chủng Quốc này, nhưng các cô đã vượt qua, để tiếp tục nghề gõ đầu trẻ. Cho đến bây giờ mấy chục năm sau vẫn yêu nghề, vẫn nặng tình với những người học trò “quá đát” đầu đã hai thứ tóc. Cũng có vài người trung niên, thì cũng mới ở Việt nam qua, “tiếng Anh tiếng u” còn ấm ớ, lại phải đi làm, nên bữa học bữa nghỉ, vậy mà các cô kiên nhẫn chỉ bảo từng ly từng tí, dạy đi dạy lại, không gõ đầu, khẻ tay, mà sáng nào đi dạy cũng mang theo hộp bánh hoặc bịch chip, để đến giờ “ra chơi” cả cô lẫn trò vừa ăn vừa tâm sự. Để tỏ lòng quý mến các cô, có người còn hái trái cây trong vườn nhà, nào: nhãn, mận, ổi… biếu cô giáo ăn lấy thảo.

Hợp ca bài You Are My Sunshine

Cô Tư Hiền có tài sáng tác và ngâm thơ rất hay, đã được nhiều giải thưởng. Nên giờ nghỉ, cô mời ai có tài ca hát, ngâm thơ thì lên góp vui. Một chị ngồi đầu bàn, thân hình tròn trịa, tánh tình vui vẻ, thân thiện, hay thắc mắc hỏi đủ mọi chuyện trong lớp cũng như ngoài đời, các cô đều vui vẻ giảng giải. Ngồi giữa lớp là một chị dáng người nhỏ nhắn, tóc cắt ngắn ôm sát khuôn mặt tròn, cài thêm chiếc cặp tóc có gắn nơ, nhìn đàng sau tưởng 18 nhưng đàng trước, chị đã qua tuổi “Lục thập nhi nhĩ thuận” mà hay pha trò, làm cả lớp cười ầm, khiến không khí lớp học luôn thoải mái và dễ chịu, nên dù mưa gió lạnh lẽo, mọi người cũng mến cô nhớ bạn cắp sách đi học đông đủ. Lớp có khoảng hơn hai chục người, phần nhiều ở các vùng lân cận, nhưng cũng có người ở Long Beach, Anaheim, lái xe mất nửa tiếng, có người đi hai chuyến xe bus và đi bộ thêm 15 phút mới đến nơi…..

Lớp cô Vân Bằng vào sáng thứ tư là đông nhất. Lúc nào cô cũng vui vẻ nên nhìn trẻ hơn cả mười tuổi. Gương mặt luôn toát ra nét nhân hậu, cô ân cần như người chị cả trong gia đình. Cô hay nói về thuyết nhân quả và khuyên mọi người nên “ở hiền sẽ gặp lành”. Cô thương yêu và gần gũi với tất cả học trò đủ mọi trình độ, mọi hoàn cảnh, nhờ vậy mới dạy được những học trò có bộ óc đang lão hóa, học trước quên sau.

Cô còn cẩn thận in các bài học và bài tập, trên những tờ pelure fort, để phát cho từng người. Cô dạy về địa lý và lịch sử nước Mỹ, là quê hương thứ hai mà chúng ta phải biết ơn, và có nghĩa vụ bảo vệ đất nước đã cưu mang mình. Sở dĩ nước Mỹ mới lập quốc hơn hai trăm năm, mà đứng đầu thế giới về mọi mặt, quân sự, cũng như khoa học kỹ thuật. Vì họ có chính sách giáo dục phổ thông, mọi công dân đều được đến trường từ lúc nhỏ. Luôn tạo điều kiện cho những ai muốn đi học, không phân biệt gìa trẻ hay sắc tộc. Nếu người có lợi tức thấp, mà muốn vào Đại Học, chính phủ có chương trình tài trợ (Financial Aid). Hoặc muốn tiếp tục học lên cao, chính phủ sẽ cho mượn tiền không tính lời, cho đến khi ra trường, có việc làm mới phải trả tiền đã mượn. Vì vậy mà nền giáo dục Mỹ đã đào tạo ra biết bao nhân tài.

Bên cạnh những hỗ trợ của chính phủ, còn có những tấm lòng của các mạnh thường quân, và những thầy cô “Volunteer” rất đáng quý.

Như trong chiều chủ nhật ngày 29.9.2019, tại nhà hàng Seafood World thành phố Westminster, kỷ niệm đệ nhất chu niên ngày thành lập Trung Tâm. Trong bài diễn văn khai mạc, giáo sư Vân Bằng Giám đốc Trung Tâm đã nói, cách đây một năm, Hòa Thượng Thích Viên Lý và Hòa Thượng Thích Viên Huy (trụ trì) chùa Điều Ngự đã nhờ giáo sư thành lập Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng Phật Giáo Điều Ngự (TTSHCĐPGĐN). Để mở các lớp Anh ngữ và thi quốc tịch. Từ đó đã giúp cho nhiều người Việt Nam không phân biệt tôn giáo, trước kia khi mới định cư, đã lao vào công việc để kiếm tiền trang trải cuộc sống và lo cho con cái, đành bỏ chuyện học hành sang một bên. Khi tuổi về hưu mới nghĩ đến mình, tìm đến lớp để học, thì có nhiều trở ngại, như trí nhớ chậm chạp, sức khỏe yếu kém, tai lãng, mắt kèm nhèm. Tuy nhiên tiếng lành đồn nhanh, từ khi có các lớp “học chùa” không tốn tiền lại nhập học dễ dàng, không phải thi xếp lớp, không cần giấy tờ chứng nhận income. Đau ốm thì nghỉ, khỏe thì đi học trở lại, nên lớp học ngày nào cũng có thêm học viên mới. Có những người “chậm chân” ở Việt Nam mới qua, không có một chữ tiếng Anh lận lưng, thì đã có lớp “vỡ lòng” dạy từ năm Vowels (nguyên âm) a,e,i,o,u. Hai mươi mốt Consonants (phụ âm) b,c,d,f,g,h,j,k,I,m,n,p,q,r,s,t,v,w,x,v,z. Dạy đếm từ number one (số một) đến one hundred (100). Học thuộc bảy ngày trong tuần, mười hai tháng trong năm…Ngoài các lớp Anh văn, Trung Tâm còn có các lớp: Dạy sử dụng Computer, iPhone, iPad, lớp Yoga, lớp Khí Công Thiền, các lớp Thể Dục Nhịp Điệu, lớp Vẽ và Cắm Hoa, lớp Thanh Nhạc và Đàn Guitar. Để phục vụ những nhu cầu thực tiễn, về cả trí dục lẫn thể dục….

Dần dần số học viên tăng trên hai trăm người, nên Trung tâm SHCĐPGĐN đã thuê dài hạn tại Boy & Girls Club-Westminster, gần chùa Điều Ngự, cùng đường Chestnut St. thêm phòng học lớn để làm nơi dạy về nghệ thuật hội họa và một phòng Gym cho các lớp thể dục, năm ngày một tuần, từ 9:30 sáng tới 1:30 chiều mỗi ngày. Từ đó bà Kim và các bạn được học trong không khí ấm cúng hơn.

Trong dịp này, Giáo sư Vân Bằng cũng cám ơn, sự nhiệt tình phục vụ vô vị lợi của Ban Điều Hành, Ban Giảng Huấn và quý thầy cô thiện nguyện. Giáo sư cũng không quên cảm tạ những tấm lòng vàng của những nhà bảo trợ cho Trung Tâm, trong đó có người cháu của ông Chánh Án Nguyễn Trọng Nho. Ông là phu quân của giáo sư Vân Bằng, là người đã hỗ trợ tích cực nhất, đã đóng góp vật chất cũng như tinh thần, với lòng yêu thương và nhân ái bao la.

Ngày còn ở Việt nam, bà Kim không tưởng tượng được rằng ở bên Mỹ lại có những người năm, sáu, bảy chục tuổi mà còn được cắp sách đến lớp, vì ngoài việc nâng cao kiến thức, nó còn tập cho đầu óc hoạt động, tránh bị bệnh Alzheimer. Không khí trong lớp học quan trọng đối với tâm lý người lớn tuổi, sẽ làm họ cảm thấy trẻ trung hơn, quen biết thêm bạn mới, mà cái tình bạn học dù tuổi nào nó cũng chân thật và trong sáng.

Bà thích nhất là giờ đàm thoại (Conversation) cô giáo vừa luyện cho nói đúng giọng, vừa tập cho mọi người ăn nói mạnh dạn trước đám đông. Với vốn ngữ vựng và văn phạm sẵn có, bà Kim chỉ để ý cách dùng từ vào câu của người Mỹ, rất đơn giản, gọn nhẹ, không rườm rà dài dòng như lâu nay bà học bên Việt Nam. Cái giọng nặng “accent” của bà cũng bớt nhiều.

Nhớ buổi học hôm ấy cô tập cho mỗi người tự đứng lên và giới thiệu về mình: Tên họ, có gia đình hay độc thân? Đang sống tại thành phố nào? ..... Và “Each person’s feelings” (Cảm nghĩ của mỗi người). Đến lượt bà Kim. Ôi! Đúng là dịp để bà thố lộ hết những gì đang chất chứa trong lòng, nào là bà nhớ quê hương, nhớ nhà cửa, nhớ con cháu, nhớ bạn bè, hàng xóm láng giềng, nhớ từng con đường đông đúc xe cộ, chen lấn bụi mù trời. Bà nghẹn ngào tiếp: “Tôi rất nhớ và thương nước Việt Nam của tôi. Nhưng tôi không trở về nữa … Vì tôi đến nước Mỹ này là giấc mơ, mà bao nhiêu người sống tại Việt Nam hiện giờ, đang mơ ước”. Bà nói một hơi, chữ đúng chữ sai, không đầu không đuôi. Nói xong bà như trút hết nỗi lòng nặng trĩu, chia sẻ cùng mọi người, bà cảm thấy nhẹ nhàng hơn, cả lớp cùng cười, bà cũng cười vô tư như một đứa trẻ con. Nhưng cô giáo khuyên: “Don’t remember the past, live for the present” (Đừng nhớ về quá khứ, hãy sống cho hiện tại). Bà Kim đã nghe lời cô giáo, bà chú tâm vào việc học, bà không vắng mặt buổi nào. Về nhà bà luyện tập cho thuần thục đề tài mới, bà nghĩ ra những câu mình muốn nói, để hôm sau nói đúng hơn. Khi tập nói bà hình dung đến những người bạn trong lớp đang lắng nghe, và sẵn sàng cảm thông với bà. Sự hiện diện của những người bạn ấy đã xoa dịu nỗi buồn trong lòng bà, Hay chính nhờ việc học, đã kéo bà về thực tế, không cho trí óc bà nghĩ ngợi lung tung về quá khứ, về quê hương đau khổ.

Vào ngày Thanksgiving, Trung Tâm cũng tổ chức buổi picnic ngoài Mile Square Park, cũng có tiệc gà tây và mashed potatoes, trái cây, bánh ngọt….Vui nữa là ngày họp mặt trong các dịp lễ lớn, được các cô tập hát để bà cùng các bạn, già trẻ lên sân khấu trình diễn, làm mọi người như sống lại thưở còn ngồi trên ghế nhà trường xa xưa. Hình như chính nhờ sự giao tiếp này đã đem lại cho bà niềm vui mới và hơi ấm tình người, điều mà bà đang ao ước trong tận cùng của tâm hồn. Bà nhớ câu Phật học: “Bởi ta không thể thay đổi hoàn cảnh xung quanh, nên ta đành phải sửa đổi chính mình. Đối diện tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ”.

Năng Khiếu

Saturday, November 9, 2019

Chị Hai Của Tôi

Năng Khiếu

Ba tôi mất sớm, để lại cho mẹ một đàn con côi cút. Được bốn năm, thì đất nước xảy ra cơn chính biến. Những tháng ngày đen tối, mẹ tôi vất vả, xoay sở buôn bán bấp bênh, trong một xã hội không an bình. Anh Tư tôi bàn với mẹ tìm đường vượt biên.

Anh Tư và em út, ra đi vào đầu thập niên 1980. Được cô tôi nhanh chân làm “người di tản buồn” năm 1975, bảo trợ hai anh em từ trại tỵ nạn Thái Lan vào Pennsylvania. Mười năm sau anh Tư bảo lãnh mẹ tôi qua đoàn tụ, được hai năm thì gia đình chị Hai Nhàn định cư diện HO.24, tại California nắng ấm, mẹ tôi ở với chị từ ngày đó. Rồi lần lượt người trước rước người sau, chúng tôi đến Hoa Kỳ theo diện O.D.P. để được quây quần bên mẹ.

*
Hiệp Định Genève ngày 20/7/1954 chia đôi đất nước. Ba mẹ tôi vai đeo tay nải, lưng cõng chị Nhàn theo hàng triệu người miền Bắc di cư, xuống tàu há mồm vào Nam. Ba tôi tiếp tục nghề “gõ đầu trẻ” một thời gian, rồi nhập ngũ theo lệnh động viên của chính phủ VNCH. Tôi không nhớ năm nào, chỉ biết ba tôi thuyên chuyển đến nhiều nơi khác nhau. Chị em chúng tôi được sinh ra ở những nơi ba đến làm việc, đứa thì ở Biên Hòa, đứa Bình Dương. Có đứa ở Kontum, thuở thiếu thời mộc mạc như cánh lan rừng. Đứa thì ở Pleiku, thành phố đầy lính, người dân luôn sống trong không khí của tiền đồn, của lửa đạn và chiến tranh. Tại phố núi này ba tôi bị thương, chuyển từ nhà thương Quân Đoàn II về Bệnh Viện Cộng Hòa, mẹ tôi đi theo để nuôi ba. Được hai tháng, thì Tết Mậu Thân 1968, thừa lúc mọi người nghỉ Tết không đề phòng, Cộng Sản đã bất ngờ tấn công những nơi xung yếu và quan trọng của quân lực VNCH. Nhà tôi nằm ngay tầm giao tranh, cháy thành tro. May mà chị Hai Nhàn dắt chúng tôi chạy thoát. Ba được giải ngũ. Mẹ trở lại Pleiku, đem chúng tôi vào Sai gòn và dừng chân tại đây luôn.

Ba mẹ tôi có mười người con, chết một còn chín, sáu gái ba trai. Sau mẹ, chị Nhàn là người tôi yêu quý nhất. Mẹ tôi kể, Ba chọn tên Nhàn cho chị, để vần với tên An của mẹ. Chị Nhàn là cả, nhưng theo người miền Nam, chúng tôi gọi là chị Hai. Tôi là con thứ năm, có nước da ngăm ngăm, nên được gọi là Năm Đen.

Chị Hai hơn tôi tám tuổi, ngày ấy càng lớn trông chị càng xinh đẹp, với đôi mắt đen và mái tóc dài thả ngang vai. Vì ba tôi là nhà giáo, nên ba luôn quan tâm vấn đề học vấn cho con cái. Chị Hai Nhàn ở vào cái thời mà con gái phải chịu ảnh hưởng Nho Giáo “Tam Tòng Tứ Đức” và lập gia đình ở lứa tuổi đôi mươi, nên mười bảy, mười tám tuổi, chị đã có nhiều đám mai mối dạm hỏi, vì tính nết đoan trang và siêng năng. Nhưng ba tôi vẫn cho chị được phép cắp sách đến trường, không phải đi “gánh vác” sớm như các bạn cùng trang lứa.

Sau này dù chị em chúng tôi đều đã có gia đình riêng. Nhưng những năm tháng gian nan vất vưởng, chị em đùm bọc nhau để sống, mẹ cũng lao đao vì cuộc mưu sinh, đã thành vết ký ức in hằn trong tôi.

Ngày ba tôi mất, chị Nhàn hai mươi, em út mới hai tuổi. Chị thương mẹ vô cùng, chị bỏ học để đi làm và sát cánh bên mẹ lo toan mọi bề. Đêm đêm nhìn mẹ ngồi lặng lẽ trước hình ba trên bàn thờ, không gian như chùng xuống, chị Hai đến bên mẹ an ủi trò chuyện, ôm đôi vai gầy, cầm bàn tay khẳng khiu của mẹ, chị hứa không đi lấy chồng để ở bên mẹ suốt đời.

Năm đó mẹ tôi mới bốn mươi hai, có một bác bạn thân của ba, vợ chết từ ngoài Bắc, chỉ có ba bố con di cư vào Nam. Bác nói với mẹ tôi rằng: “Tôi với anh nhà là chỗ thân tình, không may anh ấy đã ra đi. Tôi muốn được ghé vai gánh bớt gánh nặng cho chị”. Mẹ tôi nghĩ đến cảnh con anh, con tôi, con chúng ta. Lành ít, dữ nhiều, nên mẹ cảm ơn bác, rồi ở vậy nuôi đàn con mồ côi cho đến hết đời.

Chị Hai tôi tốt nghiệp, khóa Tu Nghiệp Công Chức tại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Năm 1970 chị trúng tuyển vào làm thư ký Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa, nằm trên đường Alexandre de Rhodes Saigon, gần nhà thờ Đức Bà, nên sáng nào trước khi vào làm việc, chị cũng ghé nhà thờ viếng Mình Thánh Chúa và cầu nguyện. Chị cần kiệm, không chưng diện, lãnh được bao nhiêu tiền đưa hết cho mẹ. Hàng tháng Bộ NG bán cho nhân viên, một bao gạo 50 ký theo tiêu chuẩn chính phủ, chị ràng sau xe Honda Dame chở về, để mẹ nuôi các em. Bốn đứa bé nhất: Giáo 9 tuổi, Hường 7 tuổi, Vy 5 tuổi, Út Trí 3 tuổi, đó là lứa tuổi mà các em cần sự dạy dỗ, giám sát của người lớn, mà mẹ thì mải buôn bán đầu tắt mặt tối từ sáng sớm tới chiều muộn mới về, chỉ có chị em chúng tôi thay nhau, đứa lớn coi đứa bé, nên các em quấn quýt bên chị.

Ngoài những lúc đi làm, chị dành thời giờ chăm sóc các em, chị ngồi cặm cụi may cho từng đứa, từ chiếc áo, chiếc quần mới, để ngày cuối tuần, chị dẫn các em đến công viên chạy tung tăng, hoặc vào sở thú cho các em xem voi xem khỉ, rồi ôm các em vào lòng mà ứa nước mắt. Ngày Tết Trung Thu, chị chở ba em nhỏ đến nơi chị làm việc, để lãnh bánh Trung Thu, mà Bộ NG dành cho con em của nhân viên. Ngày lễ nghỉ, chị hay đổ bánh xèo cho chúng tôi ăn, đó là món bánh vừa rẻ vừa ngon mà chúng tôi rất thích. Nên chúng tôi còn gọi là chị Hai bánh xèo.

Vì nhà tôi ở Bảy Hiền sau chợ Tân bình, nên thuận tiện việc học hành cho các em, chỉ được một hai người lên đai học, còn lại đều tốt nghiệp cấp ba. Đó là vốn liếng quý giá cho các em bước chân vào đời. Chúng tôi thật may mắn được làm em của chị. Nhưng tiếng lành đồn xa, vừa mãn tang ba đã có hai ba đám ngỏ lời, cũng là chỗ người làng quen biết. Họ rỉ rón với mẹ: “Tôi thấy cháu vừa được người được nết, nên muốn kết tình thông gia với bà ?...”.

Mẹ trả lời: “Cảm ơn bà đã để ý đến con tôi, để tôi dò ý cháu xem”.

Nhưng chị đều từ chối, không nhận lời. Vì còn trách nhiệm với đàn em…

Rồi một hôm, cậu Năm em họ của mẹ, biết chị Hai tôi đang làm việc tại Bộ NG, trong Nha Nghiên Cứu Sưu Tầm, phụ trách việc gửi đến các nơi cần thiết, những cuốn sách “Ngoại Giao Kỷ Yếu”. Có tựa đề: “Hiệp Định về Chấm Dứt Chiến Tranh, Lập Lại Hòa Bình ở Việt Nam” (Ký tại Paris ngày 27-01-1973) nên cậu đã dẫn một người bạn là sĩ quan an ninh, đang làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu, đến nhờ chị dẫn vào ông Giám Đốc, xin cuốn sách đó. Cuộc gặp lần ấy đã kết thành duyên phận giữa chị Hai tôi và anh Rể. Vì từ đó anh theo cậu đến nhà tôi, để tìm hiểu chị, mà những đứa em nhỏ bé, đứa thì ôm vai đứa bá cổ, như người anh đi xa mới về. Vài tháng sau bố anh đến, nói chuyện với mẹ tôi thật lâu. Để đêm về, tôi thấy chị hay trở mình, đôi lúc thở dài. Rồi mẹ khuyên chị: “Thân con gái chỉ có một thời! Anh em thì ‘kiến giả nhất phận’. Mai sau các em khôn lớn, chúng phải lo bổn phận gia đình. Về già con vò võ một mình cô đơn”. Và chị đã vâng lời mẹ

Sau này, nói về cuốn sách “Ngoại Giao Kỷ Yếu” mà anh chị quen nhau, đối với chị buồn nhiều hơn vui.

Tại sao? Chị Hai giải thích: Cuốn sách “Hiệp Định Ba Lê, là một Hiệp Định không có lợi cho miền Nam. Vào giai đoạn ấy các bên tham chiến và Hoa Kỳ, đều muốn mưu tìm một giải pháp hòa bình. Tuy nhiên, Sau năm năm trời thương thuyết (1968 tới 1973), nhằm chấm dứt chiến tranh. Buộc các bên ngưng bắn, để Mỹ rút về nước trong danh dự. Nhưng thực chất Cộng Sản Việt Nam đã không thi hành nghiêm chỉnh, không thực hiện những điều khoản đã thỏa thuận. Chỉ vài tháng sau khi Hiệp Định Paris 27-01-1973 được ký kết, CS Bắc Việt đã vi phạm, xua quân tấn công Việt Nam Cộng Hòa.

Vì chủ trương thay đổi chiến lược của chính phủ Hoa Kỳ và quyền lợi riêng tư, mà Mỹ đã không giữ lời hứa, là sẽ phản ứng mạnh mẽ, nếu Bắc Việt vi phạm Hiệp Định. Mỹ cũng không giúp VNCH chống đỡ những cuộc tấn công từ miền Bắc. Không tiếp tục viện trợ vũ khí, đạn dược. Để rồi miền Nam thiếu súng đạn, thiếu tất cả mọi thứ. Trong khi miền Bắc được tiếp tế bởi Liên Xô và Trung Cộng. Sự chênh lệch về phương diện quân sự, là điểm khởi đầu dẫn tới sự cáo chung của miền Nam, đưa đến thảm họa năm 1975”. Gieo bao đau thương cho dân lành. Trong đó có gia đình chị Hai tôi.

*
Chị Hai tôi tên là Nhàn, nhưng chị lại vất vả lắm, chị cứ mải miết ở nhà nuôi các em. Khi bạn bè cùng tuổi đã tay dắt, tay bồng, chị mới lập gia đình. Giáng sinh năm 1973, chị tôi lên xe hoa theo chồng. Bước chân đi mà nước mắt lưng tròng, chị quay lại dặn dò:

“Em ơi! Em ở lại nhà, Vườn dâu em đốn mẹ già em thương. Mẹ già một nắng hai sương, Chị đi một bước trăm đường xót xa…” (NB)

Chẳng bao lâu đất nước đổi chủ. Anh rể phải đi tù, như những người sĩ quan VNCH khác. Chị lại bồng con đi thăm nuôi chồng trong tù “cải tạo”. Bươn chải trong xã hội mới. Nhưng chị luôn an phận và chấp nhận, để làm tròn bổn phận dâu con trong một gia đình “Tứ đại đồng đường” sống chung một mái nhà “đi thưa về trình”, mà vẫn đầm ấm yên vui.

“Gái có công thì chồng chẳng phụ”. Sau sáu năm tù đày, anh rể tôi được thả về, anh rất yêu thương quý mến chị. Nên khi sang đến Mỹ, anh cùng với chị thay chúng tôi phụng dưỡng mẹ già. Vì thời trẻ mẹ tôi vất vả lo cho đàn con, đã làm ảnh hưởng đến sức khỏe về già. Nhưng nhờ anh chị chăm sóc chu đáo, mẹ được an vui bên con cháu trong tuổi hạc.

Bảy gia đình ở Cali và hai gia đình bên Texas, thành đại gia đình kể cả dâu rể cháu chắt, năm, sáu chục người. Mỗi dịp lễ, cửa nhà anh chị lại rộng mở, đón chúng tôi qui tụ về đầy đủ bên mẹ. Chị Hai tôi là đầu tàu, lại ở Mỹ gần 30 năm, nên quá quen thuộc với những ngày lễ truyền thống, từ New year, Thanksgiving đến Christmas…. Chị tỉ mỉ gói từng món quà nhỏ, bánh kẹo hay đồ chơi, rồi đặt ra những trò giải trí, có thưởng, khiến không khí đêm giáng sinh rộn rã tiếng nói cười. Ngày Mother’s Day, hay Tết chúng tôi tụ họp chúc mừng mẹ, trong niềm vui đoàn tụ, quây quần bên bàn ăn, thưởng thức những món Việt Nam tự tay chị Hai nấu như: Phở gà, hủ tíu Nam Vang, dê giả cầy… Chị đã để hết tâm sức vào làm với cả tấm lòng yêu thương, nên rất ngon. Chúng tôi cứ áy náy, nhà mình đông quá làm chị Hai cực. Nhưng chị nói: “Một năm có vài ngày lễ, các em về đầy đủ, thấy mẹ vui là chị mừng. Hãy trân quý những giây phút đoàn viên này”.

Đặc biệt những đứa cháu lớn lên tại Mỹ, cứ mong đến ngày Thanksgiving để được ăn gà tây bác Hai nướng. Có năm chị tính đổi món khác, nhưng các cháu phản đối, rồi nhao nhao lên nói: -Con thích ăn Turkey bác Hai nướng. Con thích nhân nhồi trong con gà hơn…. Mà thật, năm nào con gà nướng của chị cũng được con cháu, chiếu cố tận tình, chỉ chừa lại bộ xương. Hôm nào đầy đủ mặt “bá quan văn võ”, lễ tạ ơn chị phải nướng hai con gà mới đủ.

Tôi còn nhớ năm 2014, mùa lễ Thanksgiving đầu tiên mới qua Mỹ. Ông xã tôi vừa xin được việc assembler trong hãng điện tử vài tháng, cũng được tặng một con gà tây 19 lbs, như mọi người. Ổng khệ nệ bưng con gà bự tổ chảng về nhà, loay hoay với con gà mãi, không biết phải làm sao? Tôi bèn gọi điện thoại hỏi chị Hai, thì may quá chị cười rồi bảo: “Còn hai ngày nữa mới tới ngày lễ, trước nhất em bỏ nó vào ngăn đá. Sáng sớm mai lấy ra ‘xả đá’, ngày mốt mang qua đây, chị sẽ chỉ cho em cách chế biến thành món thật ngon mà em chưa từng được ăn”.

Đúng ngày lễ tôi đem con gà đến. Chị bảo tôi ngâm trong nước lạnh, cho đến khi thịt thật mềm.Thấy chị rinh con gà nặng chịch mà ái ngại, tôi vụng về đỡ lấy tính làm, nhưng coi bộ được phục vụ mọi người là niềm vui của chị, tôi đành làm “thợ vịn”. Vừa làm chị vừa chỉ cho tôi hết những bí quyết và kinh nghiệm mà chị đã nướng con “gà gô” này nhiều lần.

Chị bảo tôi lấy sẵn một chén muối và năm trái chanh. Rồi chị xát muối vào thân con gà chà thật kỹ, xong xả nước âm ấm, làm như vậy nhiều lần cho hết chỗ muối. Sau đó tiếp tục xát chanh khắp thân gà, nhất là ở (nách) bên dưới cánh, chị dùng ngón tay kỳ cọ như tắm cho em bé, tôi thấy ghét nổi lều bều trên mặt nước đen ngòm, như người ở dơ lâu ngày không tắm. Xát chanh xả nước lạnh nhiều lần như vậy, khi nào ra nước trong mới được. Chị nói: “Da gà tây dầy lắm không sợ rách. Thân nó lớn bằng một con heo sữa, mà không bao giờ được tắm như heo, nên gà tây sau khi nhổ lông, ghét tích lũy nhiều ngày để lại mùi hôi rình. Tôi tính như vậy là chị rửa hết gần một tiếng đồng hồ, thật công phu.

Trong khi chị Hai kỳ cọ, massage cho con gà, thì tôi bóc hành lột tỏi, rồi thái mỏng được một chén nhỏ. Xé gói gia vị có tên BAG’N SEASON- Original Chicken để sẵn. Kế đến múc ba muỗng gia vị trong lọ, có tên Perfect Pinch-Original Chicken, thêm hai muỗng soup nước mắm, một lon Cocorico, một lon nước soup gà. Cho hết các thứ hỗn hợp Đông, Tây này vào một tô lớn quậy đều, sẽ tạo nên một sự hòa hợp hương vị thơm ngon.

Đợi con gà ráo nước. Chị đặt nằm ngửa tênh hênh trên một cái khay, xối hết tô nước hỗn hợp lên con gà. Sau đó khoảng mười lăm phút, lại múc nước dưới khay rưới từ ức xuống, cho tới quá trưa gà thấm đều. Chị mở oven lên 350 độ F, rồi đặt con gà vào lò cho đến khi nóng chảy mỡ, thì múc nước juices từ con gà tiết ra dội lại khắp con gà, vớt hành tỏi bỏ lên ức gà cho thơm, khoảng 30-40 phút rưới một lần. Cho đến khi gà vàng đều, kéo khay ra khỏi lò lật úp gà xuống để nướng phía lưng.

Phần tôi được chị phân công làm nhân nhồi trong bụng con gà. Tôi quay lạp xưởng cho chảy mỡ, rồi bỏ hành hương thái mỏng vào phi cho thơm, cho tôm khô đã ngâm sẵn vào, sau đó cho giò lụa thái hột lựu đảo đều, thêm chút nước mắm. Khi xôi vừa chín tới, liền trộn nhân vào, ghế nhiều lần cho ngấm đều, thành xôi thập cẩm.

Sau cùng chị mang gà ra lần cuối, lật ngửa con gà để nhồi nhân vào bụng, ém chặt lại, đút lò nướng tiếp, cho đến khi con gà thành màu vàng nâu rất đẹp. Chị nói gà đã chín rồi, hai chị em khiêng gà ra khỏi lò. Như vậy là chị nướng một con gà khoảng năm tiếng đồng hồ.

Chị đặt con gà vào khay mới, múc hết nước ở khay cũ ra tô, để dùng làm nước sốt, ăn với khoai tây nướng, hoặc bắp hộp trộn cheese. Con gà tây nóng hổi hấp dẫn được đặt chễm chệ trên bàn, giữa các món ăn của mọi người đóng góp. Nào là: Khoai tây nghiền trắng, cạnh Salads xanh, carrots đỏ, bánh mì vàng óng bơ. Còn thêm mấy món Việt Nam, chả giò, nem nướng…. Để phòng ai không ăn quen thức ăn Mỹ. Nhưng đắt hàng nhất là miếng ức gà, chị ướp sao mà ngon, mà bùi như miếng gan heo, không còn hôi mùi gà tây.

Buổi tối Thanksgiving hôm ấy thật ấm cúng bên mẹ, chúng tôi nói lên lòng biết ơn. Nhờ Anh Tư bảo lãnh đợt đầu cho ba người. Còn ba đứa sau mẹ đậu quốc tịch, anh chị Hai bỏ thời giờ đi làm giấy tờ, tôi là đứa con cuối cùng đến Mỹ trong chín đứa con của mẹ. Đối với tôi bữa tiệc “Tạ ơn” đầu tiên trên đất nước Hoa Kỳ, Thật ý nghĩa và sâu sắc, từ món gà tây đút lò, chị Hai đã tỉ mỉ chỉ bảo, làm em nhớ lại những ngày chúng em còn thơ dại, đã được chị chăm sóc dậy dỗ. Trong hoàn cảnh ấy khiến tôi xúc động đến trào nước mắt.

Tạ ơn Thiên Chúa đã cho chúng con đến được xứ sở này. Cảm ơn ba mẹ, đã sinh ra, nuôi nấng dạy dỗ chúng con nên người. Cảm ơn anh chị em đã cùng tôi lớn lên trong gia đình đông đúc. Cảm ơn anh chị Hai đã cho chúng em sống chung, những ngày tháng còn ngỡ ngàng mới định cư. Cảm ơn anh rể đã san sẻ tình thương của anh cho chúng em, ngay từ những ngày đầu tiên anh mới quen chị. Đến nhà để tìm hiểu gia cảnh, mà anh đã giang tay ôm hết những đứa em bé nhỏ, côi cút của chị vào lòng và thương yêu như ruột thịt, anh đã đánh trúng vào tâm lý của chị Hai, đã làm chị của em cảm động, để rồi cùng anh nắm tay dìu dắt chúng em cho tới ngày nay.

Cảm ơn đất Nước Hoa Kỳ đã cưu mang gia đình tôi, từ những ngày cơ cực, cùng hàng triệu người Việt tỵ Nạn, để được sống tự do, được học hỏi, để có công ăn việc làm ổn định. Cảm ơn những người bạn làm cùng sở, và những người bản xứ chung quanh, đã đối xử tử tế với tôi.

Lễ Thanksgiving năm nay mẹ tôi không còn nữa. Mẹ đã bỏ chúng con ra đi thanh thản, an nhiên tự tại, trong ngôi nhà ấm cúng tại thành phố Westminster, trong vòng tay hiếu thảo của anh chị Hai và bên tiếng khóc tiếc thương, của đàn con cháu đông đúc nơi xứ người.

Chị Hai ơi! Em xin thay mặt tất cả các anh chị em, cám ơn chị với trăm ngàn lời, nói sao cho vừa. Chúng em luôn thương yêu chị thật nhiều. Chắc trên thiên đàng, mẹ rất hài lòng với người con gái lớn của mẹ. Xin mẹ cầu cùng Chúa, phù hộ cho chị em chúng con nhiều hơn.

Năng Khiếu.

Thursday, September 26, 2019

Tâm Tình Bạn Già


Năng Khiếu
Cuối hạ mà nắng Cali vẫn gay gắt. Tưới xong đám cỏ trước nhà, ông Tài bước vào nhà tránh nắng. Ngồi chưa nóng chỗ đã nghe tiếng chuông reo. Lững thững ra xem ai, thì ra ông Bảy Roi. Mời bạn vào phòng khách, ông Tài mừng lắm.

Bên ly nước táo mát lạnh bổ dưỡng cho người già, hai ông tán gẫu, thì thào đủ thứ chuyện trên trời, dưới đất, lại quay qua bàn chuyện thời sư, thể thao bóng đá. Như một điều thú vị của tuổi về chiều.

Ông Tài than thở: “Năm nay là năm Kỷ Hợi, năm tuổi của tui, xui quá trời! Bệnh rề rề hoài!”

Ông Bảy Roi đặt ly nước xuống bàn trả lời:
-“Người ta nói bệnh tật thường đi đôi với tuổi già, chẳng phải hên xui gì đâu! Theo tôi thấy tuổi gì mà đến Mỹ, cũng thành tuổi con trâu đi cày! Mà cho dù máy móc sài một thời gian dài cũng hư hỏng. Còn con người sáu bảy chục năm trời làm sao không “hỏng hóc”. Nên già thì bệnh hoạn là vậy”.

Ông Tài và ông Bảy Roi là đôi bạn già thâm niên, thân nhau từ ngày còn mài đũng quần trên ghế nhà trường. Sau Tết Mậu Thân, theo lệnh tổng động viên, hai chàng sinh viên cùng “xếp bút nghiên theo việc đao binh”. Cho đến ngày tan hàng, cả hai bị lừa vào tù “cải tạo”, kẻ Bắc người Nam.
  
Sau thời gian tốt nghiệp “đại học cải tạo”. Ông Tài được thả từ Gia Rây cuối năm 1980, về quê ở một xứ đạo, huyện Hốc Môn. Còn ông Bảy Roi gần Tết 1982 mới lếch thếch về từ núi rừng Việt Bắc, xa lắc xa lơ. Tìm đến nhà ở sau chợ Tân Bình vào một buổi chiều ảm đạm. Đón ông là ba đứa con thơ trên đầu còn đội tấm khăn tang, vì mẹ chúng mới qua đời hai tháng trước, sau một cơn bệnh ngặt nghèo. Ông Bảy Roi dắt đàn con về Hốc Môn nương nhờ cha mẹ. Hai ông  gặp lại nhau trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, càng thương nhau hơn.

Sau hơn mười năm, sống dưới nền “kinh tế xã hội chủ nghĩa”, đầu tắt mặt tối vẫn không đủ sống. Nhờ cái bằng “ra trại” là một tờ pelure mỏng dính vàng khè, có đóng mộc và ký tên của trưởng trại tù “cải tạo”. Ông Tài đem được một vợ ba con sang Hoa Kỳ định cư diện HO 22.  Cũng vậy một năm sau gia đình ông Bảy Roi, một bố và ba con, hai gái một trai diện HO 24.

Sang đến xứ Mỹ, ở tuổi “Tri Thiện Mệnh”, hai ông lại còng lưng đi làm với đồng lương căn bản, cho đến tuổi 65, thì chính phủ xác nhận cho quyền được nghỉ hưu, được lãnh một khoản tiền đủ sống, không mặc cảm là mình phải ăn bám xã hội hoặc con cái, như những người già ở Việt Nam.

“Tha hương ngộ cố tri” cùng quê hương xứ sở, lại hạp nhau. Giờ đây hai ông đã qua “thất thập” mắt mờ tai lãng, tóc “hai lai”. Hôm nay vợ con ông Tài đi vắng, hai ông tha hồ tố khổ. Một ông bị vợ chê. Một ông mồ côi vợ, cũng rổ rá cạp lại hai ba lần, nhưng trớt guớt. Hai ông hai hoàn cảnh khác nhau, mà tâm trạng lại giống nhau, thật là tri âm tri kỷ.

Ông Tài nói: “Từ ngày sống ở Mỹ, chức “gia trưởng” của tui đâm ra xuống cấp. Luật lệ kỳ cục, cái gì cũng ưu tiên cho phụ nữ “Lady first”. Bởi vậy các bà qua đây khoái chí, đì cánh đàn ông không ngóc đầu lên được. Ông coi! Bả cứ kêu ca phàn nàn vì tiếng ngáy cù… cưa… như kéo gỗ bên tai, tôi phải từ giã chiếc giường êm ái, để chuyển ra sofa ngoài phòng family room dỗ giấc qua đêm. Đã thế có lúc còn nhìn mặt tôi chê: “Người gì vừa già vừa xấu, ăn mặc lè phè”. Theo quy luật lão hóa, mấy bả cũng đâu trẻ trung gì, nhờ vào nghệ thuật trang điểm, với kem nền, phấn sáp che giấu vết chân chim, nâng  hai cái má xệ xuống đến cằm, chứ “Người tốt vì lụa, lúa tốt vì phân,  bóc trần ai cũng như ai” phải không ông?”.

Nghe vậy, ông Bảy Roi cười ha… hả! Mà rằng: “Thôi thì “đất lề quê thói” một sự nhịn là chín sự lành! Ráng vun đắp cái hạnh phúc gừng cay muối mặn cuối đời cho xong “Vợ giận thì chồng bớt lời. Cơm sôi bớt lửa.…”. Rồi hạ giọng ngậm ngùi: “Ông còn có bả mà nhất với nhì, chứ tui đây ngó trước nhìn sau cũng chỉ “mình ên”, chẳng có khuôn mặt dễ ghét nào mà lườm với nguýt. Phải chi hồi đó tui được về sớm hơn vài tháng, thì vợ tui đâu có chết. Nhiều lúc dạy bảo con mà nó không nghe lời, tủi cái thân ‘gà trồng nuôi con’ lắm ông ơi!”.

Trong lúc ông Bảy Roi đang nhớ tới người vợ mà ông thương yêu hết lòng, đã bỏ cha con ông đi “bán muối” ở thế giới bên kia. Thì ông Tài lại nhắc đến những năm tháng tù đày, đói xanh mặt thắt lòng, làm ảnh hưởng sức khỏe suốt đời.

Bù lại gia đình hai ông qua Mỹ bằng những vé máy bay một chiều, do cơ quan Di Dân Quốc Tế Hoa Kỳ IOM (International Orgnization for Migration) bảo trợ, cho ký vay nợ trước. Sáu tháng sau khi định cư, có công ăn việc làm ổn định thì trả góp hàng tháng.

*
Phần lớn người Việt định cư tại Mỹ, thường tập trung ở các tiểu bang có khí hậu ấm áp giống như quê nhà, trong đó có tiểu bang California.

Được sống tại tiểu bang Cali là điều may mắn, lại còn ở Quận Cam thì thật tuyệt vời. Gia đình  ông Bảy Roi được Hội Thánh Tin Lành bảo trợ về thành phố Garden Grove. Còn ông Tài nhờ có người em bảo trợ về thành phố Westminster (Orange County). Tại đây người Việt tập trung sinh sống và làm ăn đông đúc. Nổi bật nhất là khu Little Saigon, còn được mệnh danh là “Thủ đô của người Việt tỵ nạn”.

Thỉnh thoảng hai ông rủ nhau đến trước khu Thương Xá Phước Lộc Thọ, ngồi nhâm nhi ly cà phê ngắm người tấp nập qua lại trên Đại lộ Bolsa, còn gọi là Đại Lộ Trần Hưng Đạo, là con đường sầm uất nhất vì có nhiều khu thương mại lớn, mua bán trao đổi hoàn toàn bằng tiếng Việt. Tiệm ăn, chợ búa bán đầy đủ thức ăn Việt Nam. Con đường nhỏ nằm phía bên phải Phước Lộc Thọ, được đặt tên là SAIGON tuy không dài lắm, nhưng nó nằm ngay giao điểm của ngã tư BOLSA – SAIGON trên bản đồ của thành phố Westminster. Nên mỗi lần có dịp đến đây, người người cảm nhận như đang  đứng giữa Saigon năm xưa, đã từng được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Đông” cho vơi bớt nỗi nhớ về cố hương.

Tại đây phố xá cũng có những con đường ngang dọc, chợ chiều, chợ đêm. Cuối tuần các con ông Bảy Roi thay phiên chở bố đến phố Bolsa vừa để gặp bạn bè, và thưởng thức những món mà bố ưa thích. Thế nên ông Tài hay nói với ông Bảy Roi rằng, bây giờ bạn đã qua rồi một thời gian khổ!

Thật vậy, hai cô con gái ông Bảy Roi, nay đã là những người vợ đảm đang. Người con trai út đã trở thành một trung niên chững chạc. Chúng cũng gánh trên vai trách nhiệm và bổn phận gia đình “Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ”. Chúng đã hiểu thế nào là sự hy sinh của bố khi xưa, đã lặng lẽ nuốt nỗi đau, sau bao năm xa cách. Vừa mới thoát khỏi ngục tù Cộng Sản, thì ngày về nhận một tin đau buồn là người vợ thủy chung, đã ra đi không kịp lời trăn trối. Cho đến khi đem các con sang đất khách quê người, trong muôn vàn khó khăn, ông đã dồn hết tâm huyết sức lực dưỡng dục chúng nên người.

Bây giờ các con mỗi đứa một cơ ngơi riêng, chúng năn nỉ ông đến sống chung, nhưng ông Bảy Roi không muốn phiền con cái, ông đã chọn cho mình căn phòng trong Seniors Apartment. Ban ngày ông đến đón các cháu đi học về, rồi chăm nom coi sóc, ngoài vườn thì ông trồng cây tưới cỏ cho các con. Vốn gốc nhà nông nên ông khéo cấy, khéo trồng, giàn mướp, giàn bầu nặng trĩu quả, ông mang biếu bạn bè ăn lấy thảo, như một niềm vui cuối đời.

Tuy không sống chung nhưng các con luôn quan tâm, biết bố mê bóng đá, liền mua Cable cho ông coi đủ các trận đấu trên toàn thế giới, để bố sống lạc quan, yêu đời hơn. Khi nào có đội bóng Mỹ, nam cũng như nữ đấu với các nước khác, hai ông hẹn bạn bè tập trung đến để theo dõi, cổ vũ, hồi hộp rồi vui mừng la lên sung sướng khi đội Mỹ thắng, buồn thiu khi đội Mỹ thua.

Còn ông Tài, không được các con thương chiều như bạn. Vì còn đủ vợ đủ chồng ít lệ thuộc vào con cái, nhưng bi quan hơn. Ở Mỹ vậy mà đã  28 năm, hơn một phần tư thế kỷ. Ông đã cần cù làm lụng, tham công tiếc việc quên cả nghỉ ngơi. Nên đến tuổi hưu, thì bệnh hoạn, đau lưng nhức khớp.

Dù sao ông cũng tạo dựng cho bản thân và gia đình một cuộc sống sung túc. Con cái học hành thành công, có công ăn việc làm ổn định, tương lai đầy triển vọng. Con cháu ông, thế hệ tiếp nối lớn lên tại Mỹ, chúng như cây bén rễ đâm hoa kết trái, tạo dựng một cuộc sống vững bền, tương lai sẽ đóng góp tài năng, vật lực cho quê hương đã cưu mang mình.
                                                *
Nhớ lại hồi ông Tài mới định cư tại Mỹ, ông bị trầm uất. Vì tự ti mặc cảm, thân phận mình từng là người lính của một quân đội đã bị bức tử trong uất ức. Nước Mỹ vì quyền lợi riêng tư, trong chiến lược toàn cầu và sự sắp xếp trên bàn cờ thế giới đã an bài. Bỏ rơi đồng minh nhược tiểu VNCH “Đứt gánh giữa đường” trong đơn độc, để rồi bị tù tội… bị hành hạ… Ông không muốn nhớ những chuyện đã quên. Mà tuổi đời thì chồng chất, lòng mãi vương vấn lẫn lộn hiện tại với quá khứ.

Thế rồi, cái ngày kinh hoàng trong lịch sử Hoa Kỳ. Biến cố 9/11 đã làm ông Tài thức tỉnh, để hiểu biết hơn về chính mình trong hiện hữu.

Ông Tài còn nhớ như in, buổi sáng hôm ấy ngày 11 tháng 9 năm 2001. Ông thức dậy vào lúc 6:30 như thường lệ, để sửa soạn chở con đi học, rồi mới quay về ăn sáng và đi làm. lúc đi ngang chiếc TV kê ngoài phòng khách mẹ vợ ông đang ngồi coi tin tức, ông Tài đã không tin vào mắt mình khi trên màn hình hiện ra thảm cảnh, tòa tháp đôi bị đánh sập bởi  bọn khủng bố không còn tính người, đã đồng loạt cướp máy bay lao vào. Cú va chạm tạo thành một quả cầu lửa khổng lồ giữa không trung. Rồi từ từ sụp xuống, khói đen cuồn cuộn, bụi tro bay ngập trời, hòa lẫn với tiếng còi hụ inh ỏi, hàng trăm lính cứu hỏa là những người có mặt đầu tiên tại hiện trường, xông vào cứu người để rồi đã hy sinh vì nhiệm vụ.

Nhìn cảnh sụp đổ Trung Tâm Thương Mại Thế Giới, biểu tượng sức mạnh tuyệt đối và văn minh của Hoa Kỳ. Ông Tài sửng sốt bàng hoàng đau nhói trong tim.

Vì tiểu bang New York đi trước Cali ba tiếng đồng hồ, lúc lái xe đi làm, ông Tài mở radio theo dõi tin tức, được biết. Một nhóm không tặc gần như cùng một lúc cướp bốn máy bay hành khách, hiệu Boeing đang trên đường bay nội địa. Hai chiếc máy bay lần lượt đâm vào tòa tháp đôi. Chiếc  thứ ba đâm vào tổng hành dinh của Bộ Quốc Phòng tại Ngũ Giác Đài ở Virginia. Chiếc thứ tư nhắm mục tiêu khác ở thủ đô Washington, nhưng đã bị các hành khách trên máy bay, tìm cách kháng cự lại những tên không tặc, nên máy bay rơi xuống một cánh đồng gần Shanksville thuộc Quận Somerset.

Nghe tới đây, tim ông như ngừng đập, tuy ở xa không bị nguy hiểm, nhưng ông nhận ra rằng quê hương thứ hai cũng muôn vàn dấu yêu trong lòng mình. Ông thâm cảm nỗi đau của những gia đình mất người thân, như chính mình. Với lời khấn nguyện thầm kín, “Xin Thượng Đế phù trợ và ban ơn lành cho dân tộc và đất nước Mỹ thân yêu.”

Ông Tài còn nhớ, ngay sau biến cố đó, lòng yêu nước của người dân Mỹ nổi lên, bằng chứng là rất nhiều xe chạy ngoài đường, gắn cờ Mỹ một cách hãnh diện. Ông Bảy Roi cũng đau lòng không kém, khi thấy nước Mỹ bị khủng bố bất ngờ như vậy, ông nói với ông Tài rằng, tuy nước Mỹ không phải nơi mình sinh ra, nhưng sống ở đây thì hãy xem như quê hương thứ hai, phải có nghĩa vụ với ân nhân mình.  Những đứa con các ông thì rủ nhau đi hiến máu. Nhiều chương trình văn nghệ gây quỹ, hay Hồng Thập Tự tổ chức quyên góp, hai ông đều tham dự và tích cực đóng góp, để yểm trợ các nạn nhân.

Một lần nữa kỷ niệm 18 năm, ngày xảy ra cuộc tấn công khủng bố lại về. Năm nay vào thứ tư ngày 11 tháng 9, các buổi lễ tưởng niệm chú trọng vào việc nhớ tới những nạn nhân, ở Ngũ Giác Đài, và ở cánh đồng Pennsylvania.

Tại đài tưởng niệm ở New York hàng năm các gia đình có thân nhân thiệt mạng, đã tập trung tại đây để nghe đọc tên những người tử nạn, với buổi lễ trang nghiêm đầy xúc động, bắt đầu bằng các hồi chuông, đổ vào lúc 8 giờ 46 phút sáng, thời khắc phi cơ bị không tặc đâm vào tòa tháp, góc phía Bắc của Trung Tâm Thương Mại Thế giới. Sau nhiều năm đến đây dự lễ tưởng niệm, các gia đình cùng cảnh ngộ đã quen nhau, có những nụ cười theo dòng nước mắt đầy xúc động, họ cùng nắm tay và tự nhủ sẽ “Không bao giờ quên”.

“God Bless America”.
Hai ông bạn tâm giao nói với nhau rằng, nước Mỹ là  “Ngôi nhà ngọt ngào” nơi mà hầu hết những ai tìm đến nương tựa. Bất kể giầu, nghèo, không phân biệt sắc dân hay chủng tộc, đều nhận được những ưu đãi như nhau, không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Yêu thương đền đáp lại thương yêu. Cho đến bây giờ hai ông minh định rằng mình đã yêu nước Mỹ với cả trái tim.

Năng Khiếu

Saturday, August 31, 2019

Tôi Đi “Sửa Mắt”

Năng Khiếu

Mấy tháng nay tôi phải treo bút ngưng viết vì lý do đi “sửa mắt”. Chắc các bạn đang nghĩ là tôi cắt mí trên, hút mỡ mí dưới, cho trẻ hơn. Không phải vậy đâu, tôi đi mổ cườm khô (Cataract).

Sau những ngày tháng nghỉ dưỡng, thị giác của tôi đã ổn định, nhìn đời đẹp và rõ hơn. Nhờ vậy mà tôi có cảm hứng viết bài này, để chia sẻ kinh nghiệm với bạn nào lần đầu giải phẫu mắt như tôi, cho bớt sợ một chút nha!

Người ta thường nói, “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”, rồi còn bình thơ, “Người khôn con mắt dịu hiền. Người dại con mắt láo liên nhìn đời”.

Riêng đối với tôi, đôi mắt còn là “cửa chính của cuộc sống”. Vì theo y học trong các bộ phận hình thức bên ngoài trên cơ thể, đôi mắt là đặc biệt hơn cả, nó phải làm việc với cường độ cao nhất. Như tôi đã tận dụng hai con mắt cho công việc quá nhiều. Chỉ xin kể từ ngày 30/4/1975 khi đất nước đổi đời.

Sau bao ngày lang thang ngoài chợ trời, tôi quay qua “chăm chú mắt” vào nghề may quần tây cũ nhưng còn tốt, loại vải nhập cảng như “Giec-say len Angle, Oxford, Soi viot…” của “chế độ cũ” để lại, may lộn trái thành quần mới, bán cho người “Xã Hội Chủ Nghĩa” ưa hàng ngoại.

Đến khi ông xã tôi tốt nghiệp “Đại học cải tạo” ra trường. Đầu năm 1981 tôi lại làm nghề dệt mền chỉ nhuộm mầu xanh, đỏ, dùng mành kéo thành hình con công, con phượng rất đẹp, “hai mắt đổ dồn lại một” để xỏ sợi chỉ nhỏ xíu qua go, qua thoi. Nhưng dệt gia công tại nhà rẻ rề, dệt ngày dệt đêm mới đủ sống.

Năm 1994 đến Mỹ, trẻ chưa qua già đã tới, mắt bắt đầu đeo kính, lại cặm cụi với cái nghiệp may vá. Thức khuya dậy sớm may cho đến khi tiệm khai phá sản. Đang lúc thất nghiệp, có người bạn giới thiệu đến may và sửa đồ (Alteration) ở tiệm dry clean, làm được năm sáu năm, ảnh hưởng hóa chất, bị nhuốm bệnh xuýt chết, phải “bỏ của chạy lấy người”.

Đến tuổi nghỉ hưu, người ta gọi là “tuổi vàng”. Nào ngờ “Gối mỏi chân chồn” được hưởng an nhàn không phải bon chen trong cuộc sống, mắt lại kéo mây mùa thu. Thêm nữa, sống giữa thời đại @! Internet nối kết toàn cầu qua những thiết bị điện tử tối tân. Đừng nói gì khuyên con bảo cháu, mà cả ông lẫn bà, lúc nào cũng “dán mắt” vào màn hình lớn, màn hình nhỏ. Cũng Text messages, cũng Email, coi phim, xem YouTube, Facebook, Google… Lại còn tật mê Game Candy Crush… Hầu quên đi bệnh tật, mà tờ lịch trên tường ghi ngày hẹn bác sĩ, gần hết các tháng trong năm.

Rồi một hôm, tôi đến phòng mạch bác sĩ nhãn khoa khám định kỳ, vì mắt cứ cồm cộm, mờ mờ, như có mấy con bọ bay lảng vảng trước mắt. Sau khi được bác sĩ đích thân đo mắt, để cắt kiếng mới, điều chỉnh lại độ, thêm thuốc nhỏ mắt; Tầm nhìn của tôi rõ hơn. 

Một năm sau tôi đến bác sĩ Dũng ở đường Bolsa khám mắt lại. Ông nói : “Mắt bác bị cườm khô “còn non” đục thủy tinh thể nhẹ, chưa phải mổ, nhưng phải theo dõi tiến triển của bệnh để điều trị”. Hẹn sáu tháng sau gặp lại.

Đúng hẹn tôi trở lại, được các cô y tá chụp hình đủ chiều, trong các máy tối tân. Tôi phải che từng mắt một, để đọc mấy hàng chữ lớn, chữ nhỏ, trên màn hình trong suốt như tấm gương, mà cũng trật lất. Kết quả sau khi bác sĩ đo và khám mắt cho tôi, ông đề nghị lấy hẹn bắn tia laser chặn cườm khô (Cataract), không để chuyển qua cườm nước. Thực sự trước kia tôi cũng không để ý tìm hiểu các bệnh liên quan đến mắt, bây giờ nghe bác sĩ nói cũng hơi run.

Cô y tá cho tôi cái hẹn để làm Laser mắt trái trước. Vài tháng sau tôi đến khám mắt lại và lấy hẹn làm laser mắt phải .

Tôi đến đúng giờ hẹn, trước khi gặp bác sĩ, cô y tá dẫn đi chụp hình mắt. Rồi cô đưa vào phòng khám ngồi trên chiếc ghế có điều chỉnh cao thấp, khi đã nhỏ thuốc và chuẩn bị sẵn sàng bác sĩ đẩy máy đến trước mặt tôi, ông ngồi vào ghế đối diện, đầu tôi được để vào vị trí chính xác không thể nhúc nhích, để máy có thể rọi đúng mắt, ông bảo tôi mở mắt lớn, nhìn thẳng vào tai trái của ông. Tôi cảm thấy như ông chụp vào mắt một cái vòng vừa khít, những tia sáng vàng xanh, chạy quanh trong ánh đèn sáng rực làm chói mắt, rồi tôi nghe “tách tách”, thì ra bác sĩ vừa bắn tia Laser cho tôi xong. Không thấy đau đớn gì, chỉ như con ngươi bị vật lạ búng nhẹ vào.

Sau đó bác sĩ viết cho tôi toa thuốc nhỏ mắt chống viêm. Nội trong ngày tôi sinh hoạt bình thường không phải kiêng cữ gì. Khi làm laser xong cả hai mắt tôi nhìn rất rõ, chỉ phải đeo kiếng khi đọc chữ nhỏ xíu.

*
Được khoảng ba, bốn năm. Mắt tôi lại mờ dần vì “khói đời” và nỗi buồn cườm khô (Cataract) ám ảnh. Tôi phải đến bác sĩ để đo mắt, cắt kiếng, sửa lại một số rối loạn về khúc xạ (refraction) như cận thị viễn thị.

Lần khám mắt đầu năm 2019, Khi tôi bước qua ngưỡng “thất thập”, bác sĩ Dũng phán: “Mắt của bác cườm khô đã “chín mùi” cần phải mổ”.

Thú thật nghe chữ mổ mắt là tôi đã thấy sợ, ví như phải mổ bộ phận khác trong người nếu có biến chứng, thì còn mong cứu vãn, chứ mổ mắt mà rủi ro có bề gì thì mù lòa suốt quãng đời còn lại trong tăm tối, làm sao mà trở lại bàn phím để tâm sự với các bạn. Lại còn vương mang duyên nợ với chữ nghĩa nữa chứ! Biệt tích trong mục VVNM mãi cũng nhớ. Nên tôi xin bác sĩ có cách gì chữa trị mà không phải mổ, nhưng bác sĩ nói: “Cataract không chữa bằng thuốc uống được, cách chữa duy nhất là phải giải phẫu. Rồi ông nhấn mạnh: “Nếu bác còn chần chừ, để lâu thủy tinh thể (lens) có thể đặc quá (dense hard nuclei) cứng và nâu, sẽ gây trở ngại lúc mổ lấy thủy tinh thể ra”.

Tuy được nghe bác sĩ giải thích sơ, nhưng tôi không yên tâm, bèn về nhà tìm tài liệu nói về cườm khô (Cataract) đọc cho biết. Nhân đây tôi xin chia sẻ với các bạn:

Theo gốc Hy Lạp và La Tinh, Cataract có nghĩa là đổ xuống, giống như một thác nước, thủy tinh thể mắt (lens, cristallin /French) đổi qua màu trắng như một màng trắng buông xuống, chặn ánh sáng vào mắt, khác với “cườm nước”, hay glaucoma. Do nghĩa gốc glaucoma là màu xanh vert (xanh lá cây, green) cũng có nghĩa là đục, đờ đẫn (dull sheen) là cái nhìn không thần sắc của người mù mắt.

Mấy ngàn năm trước thời La-Hy, người ta chưa phân biệt cataract và glaucoma. Bịnh glaucoma do áp xuất các chất dịch trong tròng mắt quá cao. Cả hai loại cườm đều có thể hiện diện trong mắt, cataract to quá trong một số trường hợp có thể gây ra glaucoma, cũng như giải phẫu chữa glaucoma có thể gây biến chứng ra cataract. Nên gặp bác sĩ hỏi xem, ngoài vấn đề cườm khô mình có bịnh cườm nước hay bịnh gì khác không?

Trong bịnh cườm khô (cataract) có một vết đục trong thủy tinh thể của mắt (lens). Như trong một máy chụp hình, nhìn vào phía trước, chúng ta thấy một thấu kính (camera lens) để cho ánh sáng đi vào phía sau và ánh sáng in hình lên phim hoặc trên màng phim tiếp nhận. Mắt chúng ta cũng tương tự như một cái máy chụp hình, ánh sáng cũng đi qua một bộ phận như một cái thấu kính, bộ phận đó là thủy tinh thể (lens).

Lúc cườm khô mới xuất hiện, người bịnh thường không thấy thay đổi gì trong khả năng mình trông thấy. Nhưng từ từ theo thời gian, vết đục càng ngày càng ảnh hưởng tới thủy tinh thể mắt, làm cho người bịnh biết mắt mờ đi (blurred vision) hình thể sự vật bị méo mó, người bịnh thấy xốn mắt, khó chịu lúc nhiều ánh sáng và dễ bị chóa mắt lúc nhìn vào một ngọn đèn (glare). Cataract không chữa bằng thuốc uống được. Cách duy nhất là giải phẫu, bằng cách lấy thủy tinh thể đã vẩn đục ra khỏi vỏ (capsule) chứa đựng nó và thay thế vào đó một kính nhân tạo bằng plastic (silicone hay acrylic) (intraocular lens, IOL).

*
Tôi đã hiểu và không phân vân nữa vì nghĩ đến trường hợp của mẹ tôi, cụ sợ mổ mắt mà chút nữa phải mù lòa vào tuổi 90.

Số là năm 1994 lúc đó mẹ tôi 66 tuổi, bác sĩ nhãn khoa cho biết mẹ bị cườm khô cả hai mắt, nhưng ông mổ cho mẹ tôi một bên mắt bị cườm nặng trước. Vào thời đó bác sĩ giải phẫu bằng cách rạch những đường mổ nhỏ trong mắt bằng dao phẫu thuật, nên thời gian kéo dài gần một tiếng, gây mê lâu quá, lúc về nhà mẹ bị chóng mặt muốn ói, rồi nằm cả ngày không ăn uống gì, mẹ tôi sợ quá, nên mẹ chỉ mổ có một mắt rồi trốn luôn. Đến năm mẹ tôi 88 tuổi, mắt mẹ gần như bị lòa, đi khám bác sĩ thì được biết một bên mắt mổ thì nhìn thấy mờ mờ, còn bên không mổ thì hoàn toàn mù. Mẹ tôi không còn coi T.V. được và nhìn con cháu đứa nọ sọ đứa kia, tội nghiệp mẹ lắm!

Tôi đến gặp bác sĩ Dũng, trình bày tình trạng mắt của mẹ tôi như vậy bác sĩ có chữa được không? Ông nói tôi đưa mẹ đến để ông khám rồi sẽ quyết định.

Mẹ tôi đã được bác sĩ Dũng nhận lời mổ cả hai mắt cho mẹ, ông giải thích cho tôi biết là một bên mắt mẹ mổ trước kia bị vết sẹo kéo mờ, mắt còn lại thì hoàn toàn không nhìn thấy gì. Ông sẽ mổ cho mẹ chừng 15 phút, nhờ kỹ thuật laser tiên tiến hỗ trợ, với độ chính xác tuyệt vời, mổ đục thủy tinh thể là một trong những phẫu thuật thành công và thông thường nhất tại Hoa Kỳ. Hiện nay các bác sĩ thường dùng kỹ thuật Phacoemulsification, nghĩa là “nhũ tương hóa thủy tinh thể” (bác sĩ dùng dụng cụ siêu âm để phá vỡ thủy tinh thể thành từng mảng nhỏ và hút ra ngoài, trước khi để thấu kính nhân tạo vào trong vỏ của thủy tinh thể) .

Nhưng tôi vẫn lo lắng vì mẹ tôi bị suyễn kinh niên, nên hay ho bất chợt. Phổi lại yếu, đêm phải cần thiết bị trợ thở oxy, không biết có trở ngại gì không? Tôi thầm cầu nguyện cho mẹ. Vậy mà tạ ơn Chúa, cám ơn bác sĩ Dũng thật tài giỏi, sau phẫu thuật, mẹ tôi đã nhìn thấy trở lại được cả hai mắt. Tuy không rõ như lúc còn trẻ, nhưng những ngày cuối đời được hạnh phúc nhìn đủ mặt con cháu, và chúng tôi chăm sóc mẹ cũng đỡ vất vả.

Mổ Cataract mắt trái:

Bác sĩ Dũng hẹn ngày để mổ mắt bên trái của tôi trước vì cườm nặng hơn. Địa điểm là “Newport Bay Surgery Center” ở thành phố Newport Beach. Trước khi mổ ông cho toa để mua hai loại thuốc nhỏ mắt. Tôi cũng nhận được một bao thơ điền đầy đủ chi tiết, cùng những lời dặn trước khi giải phẫu, phải nhịn ăn từ 12 giờ đêm. Giải phẫu lúc 10:30 AM tôi phải có mặt trước một tiếng rưỡi, để ký giấy tờ và hoàn tất mọi thủ tục.

Đúng 9:00 AM tôi có mặt. Trong lúc ngồi chờ tôi được ngắm cảnh đẹp của biển qua cửa kính. Trung tâm giải phẫu này nằm bên bờ biển hình vòng cung, Đối diện là bãi đậu của những chiếc du thuyền sang trọng, đang neo thành từng hàng nhấp nhô bập bềnh trên sóng nước. Bên cửa kính lớn trong suốt, tôi có cảm tưởng như mình đang đứng trên con tàu lướt sóng ra khơi.

Giật mình tỉnh mộng khi nghe cô y tá gọi tên, rồi dẫn tôi vào phòng bên, đến trước bàn làm việc, cô mở hồ sơ hỏi tên họ, ngày sanh tháng đẻ của tôi lần nữa cho chắc ăn. Tôi được đưa vào ngồi ở chiếc ghế bên trong tấm màn che, cô dặn tôi thay quần áo để mặc chiếc áo khoác dài của nhà thương cột dây sau lưng, và nằm lên chiếc giường có bánh xe đẩy.

Một cô y tá khác đến, giới thiệu tên mình là Julie và đắp cho tôi tấm drap dầy màu trắng được hấp nóng, tôi cảm nhận được sự ấm áp của tình người trong buổi sáng mùa xuân. Cô nhỏ thuốc cho tôi nhiều lần để tròng mắt nở ra, tôi có cảm tưởng như mắt tràn ngập những nước. Cô cài vào cổ tay một cái vòng bằng giấy cứng, ghi sẵn tên tôi và ngày sanh, rồi cầm tay tìm mạch gắn vào chiếc kim lớn, để truyền nước biển và chích thuốc mê. Sau đó cô lấy bút đánh dấu X trên trán bên mắt trái của tôi để bác sĩ khỏi mổ lộn.

Bác sĩ Dũng bước vào xem hồ sơ, thấy mặt tôi có vẻ căng thẳng ông trấn an: “ Bác đừng lo, tôi sẽ làm tốt nhất cho mắt của bác”

Vì là lần đầu giải phẫu mắt, nên tôi rất hồi hộp và lo lắng. Nhưng nghe lời an ủi của bác sĩ Dũng, một người nổi tiếng chữa trị mắt rất giỏi ở vùng Little Saigon, nên cũng hơi an tâm. Thời gian chuẩn bị kéo dài cả tiếng đồng hồ, nhưng bác sĩ mổ chỉ độ 15 phút là xong. Có bốn người cùng mổ mắt với tôi buổi sáng hôm đó đều an toàn ra về.

Mổ xong con mắt trái tôi có thể nhìn xa rất rõ. Nhưng nếu tôi che mắt trái, thì mắt phải trông mù mờ, nên tầm nhìn không cân bằng, mọi vật chênh vênh méo mó. Nhìn vào màn hình computer lâu thì bị chảy nước mắt, đeo kính cũ vào thì chóng mặt, chỉ thỉnh thoảng mở email check rồi vội đóng máy lại.

Đi tái khám, tôi nói với bác sĩ về tình trạng mắt của tôi. Ông nói không sao, mắt mổ của tôi rất tốt. Cứ tiếp tục nhỏ ngày bốn lần cho ba loại thuốc, trong đó có một là trụ sinh, chờ mắt trái bình phục, sẽ mổ mắt phải, rồi đo lại và cắt kiếng mới, sẽ ổn định ngay.

Mổ Cataract mắt phải:

Ngày chờ đợi đã đến, tôi cũng lấy hẹn để gặp bác sĩ trước, rồi được các cô y tá lần lượt chăm sóc, cũng giống như mổ mắt trái tôi đã kể ở trên.

Bác sĩ Dũng rất khéo tay, lần này cũng mổ nhanh và nhẹ nhàng, tôi không thấy đau tí nào, dù cảm nhận được tiếng di động của bàn tay bác sĩ, khi làm thủ thuật mổ mắt cho tôi. Xin cám ơn bác sĩ.

Tôi được đẩy ra phòng hồi sức. Tỉnh dậy, tôi thấy bà y tá người Nhật vui vẻ hỏi tôi vài câu, rồi gỡ kim chuyền nước biển ở tay và những miếng keo gắn vào người tôi để theo dõi nhịp tim. Bà dặn tôi những điều cần thiết, như về nhà không nên tắm gội ngay để tránh nước vào mắt, không được xách nặng, không nấu nướng và xem TV nhiều… Rồi bà tặng tôi cặp kính râm to và đen thui, dặn tôi đeo khi ra nắng để bảo vệ mắt.

Sáng hôm sau tái khám, bác sĩ cho biết mắt tôi rất tốt, ông dặn tôi phải tiếp tục nhỏ ba thứ thuốc tất cả là mười hai lần một ngày để tránh nhiễm trùng. Vậy là tôi đã được mổ Cataract xong hai mắt, tôi thật vui mừng, không ngờ với tuổi này mà mình còn có thể nhìn rõ mọi vật dù ở xa. Đợi khoảng một tháng sau đó, tôi đến bác sĩ đo mắt và làm cặp kiếng mới. Bây giờ tôi có thể ngồi gõ phím mà không sợ chóng mặt.

Tôi khám phá ra rằng, nếu lấy tay che từng mắt, bên mắt trái bác sĩ gắn thấu kính nhìn xa, mắt phải thì gắn thấu kính nhìn gần, để tôi có thể sinh hoạt bình thường mà không cần đeo kính. Chỉ khi đọc chữ nhỏ tôi mới đeo kính để mắt đỡ mỏi và thấy rõ hơn. Mỗi khi ra ngoài trời nắng, nếu quên đeo kính râm, lúc trở vào nhà, mắt tôi tối thui, một lúc mới nhìn lại được.

Điều đáng buồn là tôi không còn lạm dụng con mắt như xưa được nữa, tôi chỉ có thể ngồi trước màn hình chừng hai ba tiếng là phải nghỉ, nếu không sẽ có cảm tưởng như đuôi mắt ươn ướt, khó chịu. Đó là vài yếu điểm, còn lại rất tốt. Hiện giờ tôi chỉ nhỏ ngày hai lần, loại thuốc có tên: “Restasis 0.05% Eye Emulsionall”, cho khỏi khô mắt.

Các bạn “cao niên” của tôi ơi! Nhớ đi khám mắt thường xuyên nhé! Ngay khi thị lực của các bạn còn rõ, giúp khám phá sớm dấu hiệu đục thủy tinh thể (Cataract) hoặc các bệnh khác về mắt. Nếu phát hiện kịp thời có thể cứu được thị giác của mình tốt hơn. Bây giờ tôi nhìn rõ hơn nhờ thấu kính nhân tạo. Vậy là tôi không cắt mí bên ngoài, nhưng chữa con ngươi bên trong, nên tôi lấy tựa đề là “Sửa Mắt” cho có vẻ thẩm mỹ hơn và tránh chữ mổ mắt cho bớt sợ.

Xin cám ơn nước Mỹ, với nền y khoa tân tiến nhất thế giới, đã giúp cho những người già chúng tôi bảo vệ được thị giác, là một trong ngũ quan quý giá nhất của con người. Nhờ đó mà cuộc sống thêm phần vui vẻ và hạnh phúc.

Năng Khiếu

Wednesday, April 17, 2019

Cựu Bộ đội Hồi chánh định cư Diện H.O.

Năng Khiếu 

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 cộng sản thôn tính toàn cõi Việt Nam. Giở trò dối gạt dân, quân miền Nam. Tháng 5/1975 họ kêu gọi các sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa ra trình diện, để đi tù với cái tên “Học tập cải tạo”. Cấp úy thì đem đồ dùng cho mười ngày, cấp tá trở lên thì một tháng. Nhưng thực tế ít nhất cũng vài ba năm, trung bình 6-7 năm hoặc từ 15… 20 năm. Có người đi mút mùa, chết không có ngày về. Còn miền Bắc thì sao? Có bị lừa không? Sau đây tôi xin ghi lại theo lời kể của một sĩ quan cộng sản chiêu hồi năm 1970.

*

Cuối năm 1977 tôi được chuyển từ trại tù “cải tạo” Thành Ông Năm về Gia Ray Long Khánh. Một hôm bố tôi đi thăm và cho biết, tôi có một người anh rể con bà bác là cựu trung úy bộ đội đã hồi chánh, tên là Lê Văn Bá đang bị “học tập” với tôi tại khu B trại Gia Rây này, anh ở tổ nuôi heo.

Trại nuôi heo nằm bên ngoài trại tù ở, nên phải đợi đến lúc đi lao động tôi mới hỏi thăm và gặp được anh. Dáng người anh gầy gầy, vẻ mặt khắc khổ nhưng hiền lành chứ không “ mã tấu răng hô” nên vừa gặp, tôi đã có thiện cảm với anh ngay. Tuy vậy, dẫu là anh em đôi con cô con cậu, nhưng khi tiếp xúc với anh vẫn như còn bức tường vô hình chắn ngang, nên tôi luôn thận trọng. Vì tôi có nghe một số các thành viên Việt cộng, được hưởng quy chế chiêu hồi, sau đó cộng tác với ngành an ninh quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Nên sau ngày 30/4/1975 đều bị chế độ mới trừng phạt, có người bị xử tử, một số bị bắt đưa vào các trại tù “cải tạo”, trong số ít những người chiêu hồi này, một thời gian sau biến chất trở thành những điềm chỉ viên cho bọn quản giáo. Nhưng cũng có người chiêu hồi thật tâm dù ở hoàn cảnh nào sống cũng rất tử tế.

Rồi từ đó thỉnh thoảng tôi mới gặp anh, chỉ đôi ba câu hỏi thăm sức khỏe, anh ghé vào tai tôi nói nhỏ:
- Chú biết không? Cái đám cai tù ở đây chúng nó chia làm hai phe, Nam, Bắc ganh tị nhau khiếp lắm, chửi bới nhau hoài vì giành ăn. Anh được phe trong Nam thương hại, cũng bị vạ lây nên bị kỷ luật, may mà không bị đem ra Bắc nhốt. Vì có thằng quản giáo nó biết anh là chiêu hồi mà ở ngoài Bắc có học chín tháng sơ cấp về thú y, nên nó đề nghị cho anh làm tổ trưởng nuôi heo. Anh phụ trách chăm khoảng bốn năm chục con heo nái, cả hàng trăm con heo thịt, cực lắm. Nuôi bằng thực phẩm lấy ở Thủ Đức về.

Sau sáu năm lao động cật lực, tôi tốt nghiệp “Học tập cải tạo” thì ra trường. Anh cũng được thả sau tôi một năm, về quê vợ ở xứ Bạch Lâm Gia Kiệm, tại đó anh đã trải qua một cuộc sống khó khăn, như nhiều người lúc bấy giờ, còn tôi ở Hốc Môn nên ít có dịp gặp nhau.

Mãi đến đầu thập niên 1990, anh về Saigon nộp giấy tờ đi xuất cảnh diện HO. Tiện dịp anh hay ghé vào nhà thăm tôi. Anh rất lo trường hợp cựu tù nhân chiêu hồi như anh, sợ lúc phỏng vấn phái đoàn Mỹ sẽ đánh rớt, nên tuy bổn đạo mới nhưng anh rất sốt sắng cầu nguyện, xin ơn Chúa quan phòng. Cuối cùng Chúa đã nhận lời.

Gia đình anh được định cư tại Mỹ tháng tư năm 1994  theo diện HO 23. Nhờ có người bà con bên vợ bảo trợ về Riverside, một thành phố cổ nằm cạnh bờ sông Santa Ana, là cái nôi của kỹ nghệ trồng cam ở California. Gia đình anh cũng được hưởng mọi đặc ân của chính phủ Hoa Kỳ, đầy đủ như các gia đình cựu tù nhân Việt Nam Cộng Hòa. Được Hội USCC giúp đỡ một ít hiện kim, và thiện nguyện viên chở đi làm giấy tờ, từ đó họ gọi anh là Ba Le, đổi mới từ tên tuổi đến con người, mà trước kia anh đã từng  một thời phải đội nón cối, đi dép râu. Anh xin được việc làm trong hãng điện tử, chị thì làm trong hãng may.

Sáu đứa con anh vừa đi học vừa đi làm, chúng như những chồi non đang vươn lên, khi có cơ hội tốt là mau chóng thành công.

Tuy gia đình đông con, nhưng anh đã giáo dục con cái bằng đời sống gương mẫu, siêng năng đạo đức, ôn hòa và chính trực. Anh được nhiều người yêu mến tin tưởng, bầu làm chủ tịch trong một cộng đoàn giáo xứ người Việt Nam.

Bây giờ anh chị lớn tuổi, đã qua những ngày cơ cực. Các con được học hành đến nơi đến chốn, có cơ ngơi riêng biệt “Nhìn lên thì không bằng ai, nhìn xuống thì không ai bằng mình”. Anh mãn nguyện nói như vậy.

Sau hơn hai mươi năm sống tại Mỹ, nhìn về quê nhà anh không khỏi chạnh lòng, nên hay bày tỏ nỗi bất mãn cộng sản. Những bài viết trên online anh thường phê phán nhà cầm quyền cộng sản phi nhân. Để đạt được mục đích cuồng vọng xâm lăng, cố chiếm cho được miền Nam bằng thân xác hàng triệu sinh linh. Rồi anh sưu tầm những tin tức mà hiện nay cộng sản Việt Nam giấu diếm. Vạch trần âm mưu bán nước, hại dân của những quan chức tham ô, để gửi thư email đến cho nhiều người.

Anh Ba Lê cũng không quên nhắc đến chương trình chiêu hồi của chính phủ VNCH (được Mỹ yểm trợ) để khuyến khích bộ đội Bắc Việt và các thành phần “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, quay về với chính phủ VNCH.

Được thành lập vào ngày 17 tháng 4 năm 1963, tính cho đến tháng Tư năm 1975 đã giúp cho gần 200,000 cán binh Việt cộng ra hồi chánh. Cũng như anh may mắn nhờ chiêu hồi, đã tìm được con đường quay về với chính nghĩa quốc gia, làm lại cuộc đời.

Anh Ba Lê so sánh sự khác biệt giữa chính sách nhân đạo của thế giới tự do, với chiêu bài cộng sản “Thà giết lầm còn hơn bỏ sót”, nên khi chiếm được miền Nam, cộng sản đã ra tay trả thù tàn ác với những người sĩ quan quân lực VNCH, dù đã buông súng đầu hàng vô điều kiện. Trong khi anh, một người sĩ quan bộ đội cộng sản đã từng theo lệnh Bắc Bộ Phủ Hà Nội, vi phạm Hiệp Định Genève, xâm lấn miền Nam, quấy phá sự thanh bình của một miền đất tự do no ấm. Anh đã từng là một “khủng bố lén lút” theo lịnh đảng giết hại đồng bào, đã tiếp tay làm chết biết bao quân nhân Mỹ và đồng minh. Vậy mà giờ đây chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ vẫn mở rộng vòng tay đón nhận anh và gia đình.

“Khách đến nhà không trà thì rượu” vì thế trà vào lời ra, anh hay kể cho chúng tôi nghe trong niềm  xúc động nhạt nhòa, về một giai đoạn cùng khổ, do tà thuyết và chủ nghĩa cộng sản du nhập vào tàn phá đất nước, mà tất cả người Việt từ Bắc chí Nam phải gánh chịu.

Thấy anh Ba Lê đang thao thao kể chuyện, bà xã tôi mạn phép xen vào:
- Thế cấp bậc cuối cùng của anh là trung úy, vậy lúc ở ngoài Bắc anh được đào tạo từ trường sĩ quan nào?

Anh thật thà:
-  Đâu có đào tạo hay huấn luyện trường lớp mẹ gì!.!. Chỉ đi lính lâu năm thì lên lon thôi!

Chúng tôi chưa hết ngạc nhiên, thì anh tiếp:
- Hồi tôi đang “Cải tạo” ở trại Gia Rây, có biết một tên trung úy Việt cộng, lúc ấy đang làm quản giáo. Hắn ta người miền Nam đi theo cách mạng từ năm 12-13 tuổi, hắn không biết một chữ nhất, chỉ biết ký tên mình là Nam thôi!

Theo như lời anh kể phần nhiều các chính ủy, cán bộ …Thường ít học, chỉ “sống lâu lên lão làng”. Sĩ quan, binh lính… không được huấn luyện kỹ lưỡng ở các quân trường như quân đội VNCH, chỉ được dạy sơ xài cách sử dụng vũ khí. Thủ trưởng cấp sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn,đại đội có khi vừa đi vừa huấn luyện, ngay trên đường mòn HCM để vào miền Nam “đánh nhau” theo chiến thuật biển người, đó là lối nướng quân tàn bạo nhất.

Nghe anh Ba Lê nói, tôi không khỏi buồn, vì bao nhiêu năm chúng tôi uổng phí thời gian, tiêu hao tuổi đời, để phải “học tập” từ những con người thất học như tên Nam.

*

Anh Ba Lê quê ở Nghệ An Hà Tĩnh. Năm 1960 chưa học hết lớp 10 anh phải nghỉ học ở nhà phụ làm ruộng, như mọi người trong làng. Cha mẹ không có tiền cho con đi học tiếp, dù rất thương con. Anh là thứ năm trong số tám anh em.

Đầu năm 1962  anh được “trúng tuyển nghĩa vụ quân sự” (đó là xảo ngôn để lùa đám thanh niên miền Bắc xâm lăng miền Nam) thật ra anh cũng chẳng muốn nhận cái vinh hạnh “trúng tuyển” ấy.  Nhưng chỉ sợ sổ gạo bị cúp cả nhà đói meo! Rồi anh được bổ xung vào đại đội 3 tiểu đoàn 1 làm công tác vận chuyển súng đạn đến biên giới Lào.

Cuối năm 1964 đại đội anh được học “khẩn trương” ở Cửa Lò ba tháng để đi B (là mật khẩu của mặt trận miền Nam). Trước khi đi mỗi người lãnh hai bộ quần áo kaki, màu cứt ngựa rộng thùng thình, hai bộ bà ba đen, một cái mũ phớt, họ bảo cho hợp với lực lượng “Mặt Trận Giải Phóng” trong Nam. Xe khởi hành từ thành phố Vinh lúc một hai giờ đêm bí mật như đi ăn trộm, không đi đường chính mà đi đường vành đai. Chạy suốt đêm qua Thanh Hóa vào tới Quảng Bình, khi đến chân đèo “ngàn lẻ một” gần làng Tha Hoa, huyện Gio Linh, từ đó đơn vị anh bắt đầu lội bộ lần theo đường mòn HCM đầy gian khổ, trèo non lội suối bất kể ngày đêm, mỗi người trên lưng đeo 30 ký lô súng đạn, mà chỉ có ba ống gạo, một ký muối và mươi viên thuốc trị sốt rét. Cái dây thắt lưng quanh bụng, móc đầy những đồ chiến lược: Vải ny-lông che mưa, băng bông phòng bị thương, một con dao găm cùn nội hóa, một đôi dép lốp, một cây rút quai dép ….
Hồi ở Hà Nội nghe cái tên Trường Sơn thật hùng vĩ, họ cho bọn anh xem ảnh ai cũng say mê  cảnh đẹp thiên nhiên. Nhưng thực tế ở đây cây cối xanh bạt ngàn, mà chẳng bới đâu ra cọng rau lúc đói. Núi đồi trùng điệp nhưng nấm thì rất độc, nhiều người ăn xong lăn đùng ra chết. Những dòng suối chảy êm ả, mà nước không đun sôi, uống vào bụng trương lên như trống làng. Mưa thì dai dẳng đen trời, thối đất. Đêm đêm nhìn cảnh màn trời chiếu đất, những cái võng vải treo tòng teng, im lìm trong cái tăng (tent) mỏng manh che chắn gió bão. Sáng hôm sau có người bạn nằm cạnh anh, ngủ luôn không dậy, vì sốt rét cả tuần mà tìm không có trạm nào còn viên thuốc ký ninh. Những con đường chập chùng không tên, cũng như bao con người có tên tuổi, nhưng nằm xuống thành nấm mồ vô danh.

Trong chốn rừng sâu núi thẳm này cái chết đến dễ dàng, chết vì đói vì rét, hoặc chỉ một mũi tên tẩm độc của biệt kích thượng. Lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, có khi nấu xong bữa cơm, che không kỹ để khói bay lên, máy bay đến giáng cho một trận mưa bom, chết vô số kể. Bọn anh hào hứng lúc đi, nhưng chỉ mới qua được hai ba trạm đã thấy nản, thằng nào thằng nấy bất mãn đầy bụng cái đám lãnh đạo Hà Nội vô trách nhiệm.

Đi bộ liên tục dọc theo phía Tây Trường Sơn, hơn một tháng thì đến Tây thừa Thiên, giáp đất Lào, gặp ngôi làng người dân tộc, thì dừng chân. Đơn vị anh được lệnh bổ xung vào mặt trận Tây Đô (đó là ám hiệu). Bọn anh được sát nhập vào đại đội 17 bộ đội chánh quy đã có sẵn từ lâu, thuộc phân khu Thừa Thiên Huế. Lớ ngớ như Mán trong rừng, cả đám chẳng được biết sự gì ngoài biệt danh là G2, họ nói để lỡ bị bắt thì quân đội miền Nam không truy tìm ra địa điểm.

Rồi từ đó được liên lạc về nhà, mỗi lá thư bọn anh phải bỏ hai phong bì, phong bì bên ngoài để địa chỉ khống hòm thư ở Hà Nội, dành cho bọn đi B. Phong bì bên trong để địa chỉ quê nhà mình, địa chỉ người gửi là G2, lúc bóc ra người ta sẽ kiểm tra rồi dán tem gửi về cho gia đình. Mà mình không được nói linh tinh lộ ra điều gì, là người ta vứt đi ngay không đến tay người nhận đâu! Người nhà trả lời thư cũng vậy.

Thế nên ở Ngoài Bắc cha mẹ đâu có biết, con em mình đi B đói khát khổ sở như thế nào? Những người lãnh đạo ngoài Hà nội đã lợi dụng lòng cả tin của mọi người, để biến họ thành công cụ, thỏa mãn cái giấc mơ của HCM, con đường mòn lót bằng xương, bằng máu của những người vượt Trường Sơn, mà Trung ương đảng lại đem con bỏ chợ, chỉ cung cấp vũ khí và ít lương thực cầm hơi. Đi đến đâu thì phải tự lực cánh sinh, tự túc kiếm sống, không chừa biện pháp cưỡng bức dân chúng cung cấp lương thực, như một đoàn quân “thảo khấu”.

Vì thế những ngày đóng trên rừng giáp Lào, bọn anh nhờ được người dân tộc, chỉ cho cách đốt rừng, phát rẫy, trồng ngô, trồng sắn mới có cái ăn, để đủ sức canh gác con đường mòn mang tên “bác”. Lúc đó đơn vị anh được lệnh ém quân, không được bắn súng lớn, hay liên thanh, chỉ bắn loại cạc-bin, để cho đối phương không phát hiện ra.

Đầu năm 1996,  đơn vị anh được lệnh xuất đầu lộ diện. Mặt trận lúc ấy bọn anh phụ trách nó mỏng lắm, ngay chỗ eo nhỏ nhất của nước Việt Nam, bề ngang chỉ độ 40 cây số. Đi từ rừng mất mấy tiếng là tuột xuống biển. Anh còn nhớ đi qua những ngôi làng, có từng dãy nhà ba gian hai chái, vườn rau ao cá, dân cư sống sung túc, thoải mái, anh rất ngạc nhiên, không thấy Mỹ ngụy kìm kẹp chỗ nào? Như lời tuyên truyền.

Ban ngày thì bọn anh trốn trên rừng, khi bóng đêm bao phủ vạn vật,  thì mò xuống mục tiêu để đắp mô cản đường, giật xập cầu, đặt mìn trên lộ, làm nổ banh nhiều chuyến xe đò, có cả đàn bà và trẻ con, gây bao đau thương tang tóc, như những hung thần trong bóng tối. Bọn anh cứ đi theo anh chính trị viên, anh ta đi chậm thì theo chậm, đi nhanh thì chạy nhanh, không được hỏi con đường mình đang đi tên gì. Chỉ làm theo mệnh lệnh, có đêm đi tấn công, pháo kích các đồn biên phòng. Nay bót này, mai đồn khác, để đánh lạc hướng, không đủ sức đối mặt thì như kẻ cắn trộm, đánh nhanh rút lẹ. Có những đêm bị đối phương phản công vừa chết vừa bị thương, không kịp chạy về rừng, mệt mỏi và đói khát, bọn anh đánh liều gõ cửa nhà dân xin trú ngụ, nhưng họ không hề có chút cảm tình gì với các anh bộ đội “cụ Hồ”, vừa mở cửa thấy mình thì sợ hãi, rồi khẩn khoản:
- Lạy các ông đi ngay cho, các ông đi đến đâu, là cả khu đó tan nát tơi bời! Rồi vội vàng đóng xập cửa lại.

Xem ra dưới con mắt của người dân, họ không mấy thiện cảm với cái hình ảnh, các anh hùng mang “sứ mệnh đi giải phóng”, mà Hà Nội đã tô vẽ cho bọn anh trước khi lên đường. Anh tự hỏi có phải đây là những đồng bào đang chờ mình vào giải phóng, hay ngược lại khi so sánh cuộc sống thiếu thốn của dân chúng miền Bắc, vốn đã đói rách lầm than, mà cha mẹ, anh em của mình và hàng trăm hàng nghìn người dân phải thắt lưng buộc bụng, để đóng góp tiếp tế cho một cuộc chiến tranh xâm lăng.

*

Một cú sốc, khiến anh Ba Lê tìm đường hồi chánh.

Tết Mậu Thân năm 1968. Cộng sản đã lợi dụng lệnh ngưng bắn trong Hội Nghị Liên Hiệp: Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Sản Hà Nội với “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” . Giữa giây phút thiêng liêng nhất của ngày đầu năm, đã tấn công bất ngờ những nơi đồn trú xung yếu và quan trọng của Quân Lực VNCH. Bất hạnh cho người dân miền Nam trong ngày tết truyền thống, chưa kịp đoàn viên gia đình, thì tiếng súng cộng quân đã rền vang thay cho tiếng pháo giao thừa.

Trong cuộc tổng tấn công này, việt cộng đã bị đẩy lui. Các địa điểm như Saigon-Chợ Lớn cầm cự được tám chín ngày, còn các nơi khác chỉ một hai ngày hay vài tiếng đồng hồ. Nhưng đặc biệt ở Huế, Việt cộng đã chiếm hữu được 25 ngày, bởi vì họ dồn toàn lực lượng chính quy Bắc Việt đã dày dạn chiến trường, được chuẩn bị kỹ lưỡng, thông đồng với bọn chỉ điểm trước khi phát động tấn công. Thừa lúc quân đội VNCH nghỉ Tết không đề phòng, để đột ngột công phá tối đa.

Anh Ba Lê kể rằng, trung đội anh cũng nhận lệnh tham dự tấn công cổ thành Huế vào giữa đêm ba mươi, từ phía Tây Bắc dưới sự hỗ trợ của các tiểu đoàn đặc công. Nhờ yếu tố bất ngờ đơn vị anh nhanh chóng chiếm được một vùng trong thành. Nhưng “quân giải phóng” đi tới đâu dân bỏ chạy tới đó,  họ không kịp mang theo gạo, thịt, bánh, mứt dự trữ ngày Tết. Thế là đạo quân “chiến thắng” đói kinh niên, được no nê trước khi chết. Bọn anh sáng mắt lên với những kho lương thực, mà cả đời chưa bao giờ thấy, rồi hè nhau thồ bằng  xe đạp, hoặc xe “cải tiến” để khuân hết “của ăn của để”  lên rừng.

Chú biết không? Nhìn cảnh này anh thầm nghĩ: “Đây có phải là vùng đất đang chờ được giải phóng không? Nhìn lại bản thân mình, anh thấy một tình cảnh trái ngược, chính mình bây giờ đang cướp lấy miếng ăn, từ những con người tưởng là cùng khổ. Có phải là cay đắng lắm không?”

Đâu được hơn một tuần, thì quân tiếp viện của quân lực VNCH từ Quảng Trị đến, đụng trận Việt cộng chịu không thấu chết hơn một nửa. Tuy lúc đó đa số cộng quân chiếm được các mục tiêu, nhưng vì hết súng đạn, đành thúc thủ, như trung đội anh còn 9-10 đứa và một khẩu pháo làm cảnh.

Đến ngày thứ mười bọn anh đang đánh nhau lại được lệnh rút lui, nghe rút anh mừng lắm, vì biết mình còn được sống, nhưng lại bảo rút theo đường cũ, trong lòng anh cũng nghi nghi. Ngày hôm sau trung đội anh được lệnh khiêng khẩu pháo đi lên rừng, rồi lại khiêng xuống thành Huế. Những thân thể gầy đét, suy nhược vì những ngày kham khổ vượt Trường Sơn, phải thay đổi nhau khiêng cái đế pháo tháo rời nặng chịch, muốn gục xuống. Hai thằng khác khiêng nòng súng, tay vịn cái đòn đang chĩu trên vai, tay chống gậy cho vững kẻo trượt chân. Vậy mà bọn anh theo mệnh lệnh cứ luẩn quẩn lên xuống mãi con đường chết tiệt, lết tới lết lui, mục đích để dân chúng nhìn thấy mà đồn rằng, bộ đội còn nhiều súng lớn. Lúc lên rừng anh suy nghĩ, thì ra đơn vị mình là đánh nghi binh chứ không phải rút lui về đường cũ.

Vì hầu hết đoàn quân nó rút qua những con đường bí mật, còn đơn vị anh thì nó bắt mình đi trên lộ chính. Qua làng Quế Chử, bọn anh tính ghé vào nghỉ chân, nhưng rồi lại dắt nhau lội ruộng theo đường chiến lược. Tự nhiên ở đâu có con chó đen to lắm nó theo anh, rồi nó đi trước, mình cứ vậy mà theo con chó gần hai chục cây số, nó đưa bọn anh qua một chiếc cầu, về đến sát rừng dẫn tuột xuống con suối. Mấy thằng lính nói: -“Anh Bá ơi để tôi trói con chó này về tới rừng mình làm thịt”. Nhưng anh bảo: “Tao không nhất trí cái đó, đứa nào ăn thì làm”. Sau súng bắn rát quá chó chạy biến mất, anh linh tính oan hồn của những thằng bạn mới chết, nhập vào nó dẫn đường cho bọn anh.

Leo lên đến rừng quay nhìn lại, quân đội VNCH đông như kiến, Con đường chính hồi nãy bị pháo từ rừng bắn xuống. Pháo binh của VNCH bắn lên, chặn đường đi, nếu không nhờ con chó dẫn đường, thì bao nhiêu súng nó châu vào bọn anh chết banh xác hết.

Đang đi gặp toán bộ đội trinh sát nó còn hỏi:
Các anh đi đường nào lên đây?  Có ghé vào làng Quế Chử gặp đơn vị của Mỹ đóng tại đó không?

Anh trả lời: – Bọn tao đâu có ghé vào làng đâu mà gặp!

Sau này anh suy nghĩ, vậy là tụi nó tính hết rồi. Nếu mình không nhanh trí thì đơn vị mình làm con tốt thí trên bàn cờ. Hôm đấy lên đến rừng, tụi lính hì hục đào hầm tránh bom, chứ nếu bắt con chó đen, mải làm thịt thì cũng chết hết. Vì đêm đó máy bay thả trái sáng đầy  một vùng trời,  B52 nó dập tơi bời ngay mục tiêu, cái hầm bên cạnh anh, cách mấy thước chết không còn một mống.

Khoảng ngày thứ hai mươi, Việt Cộng đã kiệt sức và hết đạn, cố gắng giao tranh thêm vài ngày  nữa, thì rút lui hoàn toàn. Vì chết rất nhiều, không như báo cáo láo, trong các cuộc chiến mà đảng cộng sản thường phát động, ta chiến thắng vẻ vang. Mà sự thực là: “Địch chết ba ta chết ráo”. Tàn quân trốn lên rừng, những chiến lợi phẩm lấy được của dân đem chất ở ven rừng, bị quân đội VNCH phản kích tịch thu hết, nên từ đó những thằng sống sót lại phải chống chỏi với cái bụng đói rã, còn được tí gạo nào thì  bọn bộ đội ở Bắc mới vào nó ăn hết. Bọn anh  phải mót lại những búp măng gầy ăn qua ngày, muối cũng không có mà chấm, phải kiếm lá rừng ăn thay. Bị bệnh kiết lỵ chết thêm một mớ nữa.

Thật tình anh và nhiều đồng đội chán nản lắm rồi.  Ngay từ lúc xâm nhập sâu vào vùng đất trù phú, đã mở mắt ra để biết mình lầm, nhưng không thằng nào dám mở miệng. Hàng ngày cứ nghe tiếng máy bay ù…ù…quen thuộc, rồi tiếng người cất lên oang oang như tiếng sấm trốc đầu: “Hỡi các anh cán binh cộng sản. Miền Nam chúng tôi không cần các anh giải phóng, tại sao các anh phải chịu đựng vất vả đói khát làm gì, các anh hãy hồi chánh trở về với chính nghĩa quốc gia, chúng tôi sẵn sàng đón tiếp các anh em…. “ Rồi những tờ giấy thông hành, được thả xuống bay rợp trời, nhưng bọn anh chỉ đứng xa mà nhìn, vì tuyệt đối không ai được lưu trữ, hoặc lén đọc, sẽ bị qui kết vào tội tư tưởng phản động.

*

Nói về diễn tiến hồi chánh, anh Ba Lê kể:

– Anh còn nhớ như in vào khoảng hai giờ, một đêm mưa tầm tã tháng 6/1970. Đơn vị anh được lệnh tấn công một cái đồn trên cao điểm 820, nằm trong lòng Trường sơn. Bao vây, rồi lùa lên xung phong, vẫn theo lối đánh thí mạng, đánh xối xả, dù biết rằng đang lao vào chỗ chết.

Anh cay cú tiếp: “Chú mày biết không? Trong chiến tranh một trong những vấn đề đặt lên hàng đầu là phương tiện, vũ khí và lực lượng phải tương quan, thì người lãnh đạo sáng suốt mới nghĩ đến, xua quân vào đánh đấm”. Đàng này tấn công  mà chỉ biết đối phương trên khái quát, không cân sức. Rốt cuộc đơn vị anh tan nát ngay từ phút đầu, chưa tiến đến mục tiêu, pháo binh của địch đã nã trước mình, rồi máy bay tới quạt lia lịa, nhiều người trúng thương, máu me cùng mình, mạnh ai nấy chạy bạt mạng dưới làn mưa đạn.

Trong tình cảnh này, anh quyết định rời hàng ngũ, âm thầm một mình ra đi, dù biết đi như vầy là một sống hai chết. Ngày thứ nhất nhìn qua đồi bên kia nhắm hướng, nhưng bom bỏ nhiều quá không đi được. Ngày thứ hai may quá không thấy máy bay quần thảo, anh liều trốn qua bên kia đồi, đang mò mẫm tìm đường, anh  giật mình sợ hãi khi gặp toán tiền tiêu (tiền sát) của Việt Nam Cộng Hòa. Họ hờm súng ra hiệu cho anh bỏ hai tay xuống. Anh trình bày xin chiêu hồi. Một người xáp vào khám xét, ngoài những thứ “gia bảo cụ Hồ” để lại, họ lôi ra một khẩu súng ngắn trong túi quần. Rồi dẫn anh lên đồn, đó là tiểu đoàn 1 trung đoàn 2, sư đoàn 2 Bộ binh. Anh được đối đãi tử tế như khách. Ngồi chờ chưa đến nửa ngày thì có máy bay chở anh về căn cứ trung đoàn ở Quảng Trị. Hai ngày sau anh được đưa về Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1. Tại đây anh đã thành thật khai báo về bản thân và những gì mình biết.

Vài ngày sau anh được chuyển về Trung Tâm Chiêu Hồi Trung Ương ở Thị Nghè Saigon. Anh được học một lớp chính huấn khoảng 1 – 2 tháng. Sau đó được nhận vào làm công tác võ trang tuyên truyền, dưới quyền của ông Võ Đại Tôn. Mục đích kể lại sự thực mắt thấy tai nghe về những dã tâm của cộng sản. Lúc đó ông Hồ văn Châm làm Bộ trưởng Bộ Chiêu Hồi. Tại đây anh được chính quyền cho thụ hưởng đầy đủ quyền công dân, giúp đỡ hội nhập trọn vẹn vào cộng đồng dân tộc và hướng dẫn cho anh hòa nhập vào nếp sống mới tại miền đất tự do.

Nhờ người quen mai mối anh Ba Lê đã lập gia đình với người chị họ của tôi (đạo Công Giáo). Anh được rửa tội vào mùa lễ Phục Sinh ngày 16 tháng 4 năm 1971 tại nhà thờ Tân Châu. Anh sống những ngày bình yên bên vợ con, cho đến ngày mất miền Nam. Sau 30/4/1975,  anh ra trình diện ở Bộ Xây Dựng Nông Thôn. Nhà cầm quyền mới nhốt anh tại nhà tù Biên Hòa một thời gian, rồi đưa anh đi “cải tạo” ở trại Gia Rây.

Bây giờ mỗi lần nhớ đến những kỷ niệm kinh hoàng về cuộc chiến tranh tương tàn, như vẫn còn in đậm trong ký ức của anh Ba Lê. Anh nghiệm ra rằng, có trải qua những ngày tháng thiếu thốn đói nghèo ở miền Bắc, có lê gót trên đường mòn HCM, để chống chỏi với thời tiết khắc nghiệt, với bệnh tật và tranh dành từng miếng ăn. Có đánh đổi xương máu trên rừng Trường Sơn, theo đoàn quân cộng sản không phải để “giải phóng” mà là phá hoại miền Nam, mới biết ơn chính phủ VNCH đã bắc nhịp cầu thông cảm, cứu giúp những cán binh cộng sản muốn hối cải quay về.

Để như trường hợp gia đình anh Ba Lê hiện nay, may mắn được đất nước Hoa Kỳ, chấp thuận cho tị nạn, thoát khỏi chế độ độc tài cộng sản Việt Nam. Đặc biệt là con cháu của anh có cơ hội sống và học hành tại một nơi có nền giáo dục tốt nhất và nhiều cơ hội tiến thân, công ăn việc làm vững chắc. Để chúng có dịp góp tay xây dựng và tri ân đất nước đã cưu mang mình. 

16/04/2019
Năng Khiếu

Blog Archive