Showing posts with label Chu Kim Long. Show all posts
Showing posts with label Chu Kim Long. Show all posts

Tuesday, April 11, 2023

Đổi đời

Chu Kim Long

8 tháng 4, 2023
Hình minh hoạ

Từ ngày quân Pháp “đóng đồn” tại ngã ba thị trấn Thứa, những con đê từ các làng đi xuống huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương và tỉnh Bắc Ninh thường bị “đắp mô gài mìn”. Chiến tranh đã lan rộng khắp nơi, Mặt trận Việt Minh được đảng Cộng sản Liên Sô và Trung Hoa yểm trợ nên ngày một lớn mạnh, cộng với bàn tay sắt máu biến những làng “xôi đậu” thành vùng “giải phóng” và những vùng đã “giải phóng” thành căn cứ địa, rồi từ đó mở ra những trận đánh công đồn đả viện khắp vùng châu thổ sông Hồng.

Những người dân ven biên thị trấn Thứa tỉnh Bắc Ninh sống sót sau nạn đói Ất Dậu năm 1945 lo lắng về cuộc sống “một cổ hai tròng” mà họ sẽ phải gánh chịu. Mặt trận Việt Minh cũng biết tổ chức của họ chưa cài cắm được nhiều cán bộ nòng cốt vào trong quần chúng nên thường tổ chức những đội văn công về những thôn làng xôi đậu, quát loa từ những cánh đồng trong đêm khuya để tuyên truyền, đôi khi cho du kích bắt cóc, thủ tiêu người bị nghi ngờ chống phá Mặt trận để cảnh cáo.

Là con cháu của những người bị phát vãng từ Nam Định đến “Ấp Chanh”, một vùng “đất chiêm khê mùa thối” vì đức tin từ thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Nhưng, từ khi Mặt trận Việt Minh nổi lên, “Ấp Chanh” đã nằm trong khu vực “xôi đậu”, nên gia tộc ông Chánh và một số gia đình đã di cư về miền ven biên thị trấn Thứa, lập lên “trại Thứa”. Là một làng tân lập cách huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương khoảng tám cây số, ông Chánh hăng say trong các công việc của dân làng nên từ thời trai trẻ ông đã làm lý trưởng, và là chánh tổng khi huyện đang rơi vào tình trạng “xôi đậu”.

Năm 1951 đồn Thứa bị tràn ngập, Việt Minh tiến vào làng, ông Chánh và thanh niên làng băng qua các cánh đồng vắng trốn thoát trong đêm tối. Hơn một tuần sau khi đồn Thứa thất thủ, quân Pháp mở cuộc hành quân bình định rồi chiếm làng lập thành “đồn Thứa mới”, biến ngôi nhà thờ thành pháo đài phòng thủ với lũy tre già bao quanh làng làm hàng rào thiên nhiên bảo vệ đồn, đẩy dân làng ra khu đất bỏ hoang, cạnh khu vực “đồn Thứa cũ” hoang tàn đổ nát.

Theo năm tháng, hoạt động của các đảng phái quốc gia ngày một phân hóa, trong khi Mặt trận Việt Minh trở thành một tổ chức có tầm vóc chính trị trên diễn đàn thế giới, có lực lượng quân sự lớn mạnh để đối đầu với thực dân Pháp. Thập niên năm mươi, sinh hoạt chính trường và kinh tế nước Pháp khủng hoảng, sự suy thoái kéo theo chiến trường Đông Dương ngày một thất thế, đẩy cuộc chiến tại Việt Nam phải kết thúc với bản Hiệp định Geneve năm 1954 giữa thực dân Pháp và Việt Minh – chia đôi nước Việt. Làn sóng người từ khắp nơi chạy ra tỉnh để di cư vào miền Nam như một trận cuồng phong nổi lên ở miền Bắc kể từ trung tuần Tháng Năm 1954, trong đó có gia đình ông Chánh.
Người dân Miền Bắc lũ lượt vào Nam sau Hiệp định Geneve 1954. Ảnh Wikipedia

Nhận thấy đời mình đã thất bại trong những năm sinh sống tại miền Bắc. Nên ông Chánh đã quyết định sinh sống ở vùng ngoại ô Sài Gòn để tạo cơ hội cho các con ăn học. Sau những năm tháng cần cù và vất vả xây dựng lại cuộc sống mới, ông hài lòng khi thấy kết quả và tương lai của các con – người con trưởng là giáo sư, và hai ba người con kế tuần tự bước vào giảng đường đại học. Ông cảm thấy vui, quên đi những thất bại trong tuổi thanh niên, dù mái tóc ông đã bạc màu. 

Nhưng, đến năm 1960, niềm vui, hạnh phúc của ông Chánh cũng như của nhiều gia đình khác không còn trọn vẹn nữa, “Mặt trận Giải Phóng Miền Nam” đã được hình thành, mở ra những trận tấn kích ngày một khốc liệt. Những cố gắng và hy vọng của ông Chánh lại một lần nữa bị những người Việt Cộng giật sập, đạp đổ trong máu và nước mắt. Những người con mà ông nuôi hy vọng sẽ là những cột trụ để đưa gia đình ra khỏi cảnh “con trâu đi trước cái cày theo sau” đã lần lượt lên đường nhập ngũ theo lệnh Tổng động viên khi tiếng súng Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 của Việt Cộng còn nổ dòn quanh vùng ngoại ô Sài Gòn. Tất cả đã tan theo khói lửa chiến tranh. Từ đó, đời sống của gia đình ông Chánh trở lên vắng lặng hơn xưa.

Cuộc chiến kết thúc với bản Hiệp định Paris 1973 – hợp thức hóa những mật ước đã được Chính quyền Mỹ và khối Cộng sản thỏa thuận, dẫn đến trận đại hồng thủy 30 Tháng Tư 1975, xóa sạch chế độ Việt Nam Cộng Hòa và một nhà nước do đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo với danh xưng Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được hình thành. Cuộc chiến kết thúc trong máu và nước mắt của quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, đánh dấu kỷ nguyên mới của tình hữu nghị giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng. Dư luận thế giới xôn xao về chuyện người Mỹ đã mở được cánh cổng mà đảng Cộng sản Trung Hoa đóng kín hàng thập niên, và ngỡ ngàng trước sự sụp đổ mau chóng của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Bộ đội Bắc Việt trên đường phố Sài Gòn 1975

Căn nhà hai tầng đã trở lên yên tĩnh như một ngôi nhà nguyện nhỏ từ ngày các con ông Chánh bị đi tù. Cánh cửa chỉ hé mở cho thoáng. Trời đã quá trưa, cả nhà vừa ăn cơm xong, ông Chánh sửa soạn “nghỉ trưa”. Từ căn phòng lầu một, cô con gái ông nhìn qua cửa sổ thấy một người đầu đội nón cối, đeo kính đen, mặc áo sơ mi màu cứt ngựa, quần dài đen, chân đi dép Bình Trị Thiên, vai đeo ba lô, tay xách giỏ cói đi tới đi lui trên con đường phía trước nhà, nhìn dáo dác như đang tìm kiếm nhà ai trong khu phố. Cô thấy lạ và nghĩ đến những người anh đang bị tù. Cô nghĩ vẩn vơ… chẳng lẽ người bộ đội này báo tin… rồi cô đi xuống báo cho thầy mẹ cô về người bộ đội đi tới đi lui phía trước nhà.

– Tại sao người bộ đội này cứ đi tới đi lui trước dãy phố và cứ nhìn dáo dác vào nhà mình – cô nói.

– Kệ người ta, bây giờ ở đâu mà chẳng có họ, con đi ra khép cánh cửa lại – ông Chánh bảo cô con gái.

– Hay con ra hỏi xem ông ấy kiếm ai ? Chẳng lẽ mấy anh con….. bà Chánh nói rồi ngưng giữa chừng kèm theo tiếng thở dài.

– Bà chỉ vẽ chuyện, lo những chuyện không đáng lo, lo mãi cũng thế thôi. Đến đâu tính đến đó, tính toán cả đời mà có được đâu – ông Chánh nói nhỏ và chậm dãi.

Cô con gái đi tới cửa, giơ tay định khép cánh cửa lại thì cũng là lúc người mặc áo bộ đội đeo kiếng đen bước tới trước cửa nhà ông Chánh. Người đàn ông tuổi trung niên bỏ cái giỏ cói xuống vỉa hè, mồ hôi trán chảy dài trên gò má da đen sạm gầy guộc, lấy cái nón cối ra khỏi đầu làm cái quạt, ông vừa quạt vừa nói: “ Tôi ở ngoài Bắc vào, tôi muốn tìm nhà ông Chánh, nghe nói gia đình ông ở khu phố này. Nếu chị biết, xin chỉ giúp”.

– Ông ở ngoài Bắc làm sao ông quen biết ông Chánh? – cô con gái hỏi.

– Ông Chánh là bác tôi, mẹ tôi là em ruột ông – người mặc áo bộ đội trả lời.

Từ trong nhà, ông bà Chánh vẫn nghe được những lời đối đáp của hai người. Khi ông Chánh vừa bước ra tới phòng khách thì người khách lạ vội đẩy cánh cửa mở toang ra, bước thật nhanh vào trong nhà ôm lấy ông mà khóc, ông vừa khóc nức nở vừa kể lể nỗi niềm thương nhớ khi gặp lại được người bác sau mấy chục năm xa vắng. Sự thương nhớ, mừng rỡ khiến ông khóc lớn tiếng như một đứa trẻ con đang khóc về một chuyện gì đó. Tiếng khóc của ông làm cho cả nhà ông Chánh bàng hoàng, xúc động. Sau khi buông hai tay trên vai người bác ra, ông nói: “Cháu là Tư đây, hai bác có nhận ra cháu không? Căn nhà bác cao lớn quá, cháu không nhận ra, cháu tưởng….”. Người cháu nói nửa chừng, bỏ lửng, rồi quay ra hỏi thăm người chị họ mà ông vừa gặp ở trước cửa nhà, giọng nói sụt sùi với những giọt nước mắt trên hai gò má gầy guộc, đen sạm, làm hai gò má nhô cao lên.

Ông Chánh bảo người cháu ngồi xuống ghế trong lúc cô con gái đem bình trà và mấy cái tách để trên bàn.

– Cháu vừa nói, cháu tưởng, cháu tưởng gì?- Ông Chánh hỏi.

– Bao năm nay, nhà nước nói những người di cư phải đi cạo mủ cây cao su, sống nghèo khổ và chết dần mòn bên gốc cao su. Cháu những tưởng – người cháu ngập ngừng giây lát, rồi nói: “Bây giờ cháu đã hiểu!”

– Thôi, quên chuyện ấy đi. Cháu ra cửa đem túi xách quần áo vào nhà, tắm táp cho mát rồi ăn cơm, nghỉ ngơi cho khỏe lại – ông Chánh nói.

– Vâng, cháu chỉ có cái túi đeo vai và cái giỏ cói – người cháu trả lời.

Để tách nước trà xuống mặt bàn, ông Chánh bảo người cháu:

– Đi đường mệt mỏi, ăn cơm rồi ngủ một giấc lấy lại sức, chiều qua thăm cậu Hiện em mẹ cháu, và cô xã Viện, cách đây mấy căn, còn muốn thăm ai nữa thì tính sau.
Cầu Long Biên, Hà Nội. Hình minh hoạ

Rồi ông quay qua bảo cô con gái: “Con lấy mấy bộ đồ còn tốt của các anh con đưa cho em nó thay. Coi cái nào còn tốt và vừa thì lấy. Bỏ mấy cái áo quần bộ đội, dép râu vào lại túi xách, đưa cho em cái nón nỉ của thày để có đi đâu ra ngoài thì đội cho khỏi nắng”. Cô con gái hiểu ý cha nên nói:

– Em ra cửa lấy đồ của em vào, đem lên phòng ngủ ở lầu hai, rồi đi tắm và ăn cơm kẻo đói, trễ quá rồi.

– Gặp lại hai bác, em hết mệt và không thấy đói. Ở trên “tầu hỏa” em đã ăn mấy củ khoai luộc và miếng cơm nắm rồi. Thôi, chiều tối em mới ăn.

Người cháu để cái túi đeo vai và cái giỏ cói ở trên nền nhà, cạnh cái ghế đang ngồi. Ông cúi xuống lấy mấy lon sữa đặc để lên bàn, trong lúc ông bà Chánh và cô con gái nhìn với vẻ mặt ngỡ ngàng. Cô con gái ông Chánh nói:

– Em đem theo mấy hộp sữa đặc vào đây làm gì cho vất vả! Tách xách nách mang cho khổ. Khi cần, mấy tiệm tạp hóa ở đầu dãy phố họ bán thiếu gì.

Nghe người chị họ nói vậy, người em nói:

– Vậy là mới “giải phóng” nên nhà nước chưa đưa vào “chế độ” đấy. Cái gì rồi cũng phải có tem phiếu cả chị ạ. Em không có gì biếu hai bác, em chỉ có mấy lon gạo nếp và mấy lon sữa đặc, em để dành đem vào biếu hai bác. Cái gì cũng có “cơ chế” cả, chế độ hộ khẩu tem phiếu rồi cũng sẽ giống như ngoài Bắc thôi chị ạ.

Nghe người cháu nói đến chuyện “tem phiếu” và cả mấy tháng mới có được mấy lon sữa bò và vài lon gạo nếp làm bà Chánh rớm nước mắt – bà nhớ đến mấy người con đang ở tù, nên hỏi người cháu:

– Cháu sống ở ngoài ấy mà mấy tháng mới mua được vài lon gạo nếp và vài hộp sữa đặc. Vậy đồ ăn thì sao? Những gia đình người bị tù, sau vụ cải cách ruộng đất hồi đó, có được tem phiếu không?

– Dạ, thịt cá, cái gì cũng theo tem phiếu cả. Thịt, cá, miếng nào ngon, con nào tươi thì cũng ít khi đến tay người không ở trong đảng đoàn, bất cứ thứ gì cũng vậy. Riêng những gia đình bị đấu tố trong vụ cải cách ruộng đất hồi đó, thì cơm không có mà ăn, họ tước sạch, làm gì mà còn được nhà nước phát tem phiếu nữa. Nếu đã bị ở tù thì khổ lắm, khoai sắn không có mà ăn. Có những năm, nhà nào cũng phải ăn độn, chứ đâu có gạo mà ăn quanh năm, ngoại trừ các cán bộ ở cấp đảng đoàn.

Vừa nói dứt câu, thấy bác trai hơi cúi đầu xuống và thở dài, còn bác gái rơm rớm nước mắt – người cháu ngồi im như tượng đá vì biết mình đã lỡ lời, làm hai bác nhớ đến những người con đang bị tù “cải tạo”. Một lát sau, như để cho cơn xúc động lắng xuống, người cháu nói:

– Cháu xin hai bác và chị tha lỗi, cháu đã vô ý khi nói chuyện, khơi đến chuyện đau buồn của gia đình mình.

– Không sao, cha mẹ buồn thương, nhớ con cái là chuyện bình thường. Cả nước như vậy chứ đâu riêng hai bác. Cháu đừng áy náy gì cả. Thôi, cháu đi tắm cho đỡ mệt. Hai bác cũng cần nghỉ ngơi một chút – bà Chánh nói.*
Cảnh đấu tố trong một cuộc “cải cách ruộng đất” ở Miền Bắc năm 1955

Nhìn tấm ảnh người bác lúc còn trai trẻ treo trên tường trong lúc cả nhà đang ăn cơm chiều, người cháu nói: “Chúa đã ban ơn cho hai bác, cậu Hiện và cả nhà mình vào Nam, chứ ngày ấy nếu hai bác và cậu ở lại thì bây giờ chúng cháu cũng chẳng dám nhìn mặt các anh chị và các con cậu Hiện nữa”. Cô con gái ông Chánh sinh ở miền Nam nghe vậy hỏi: “Sao vậy?”

– Năm “cải cách” ấy. Họ gài cho con cháu, người nhà, phải đấu tố những người có “chức việc” như bác hay cậu Hiện, địa chủ hay phú nông. Ủy ban về làng đấu tố theo chỉ tiêu đã ấn định, nếu không cường hào thì là địa chủ, còn không có thì đôn phú nông lên thành địa chủ. Cụ Lý Đô đã bị người cháu ruột đấu tố. Ngày đó kinh khủng lắm – Ông nói, rồi thở dài.

– Có ai từ chối không? – Con gái ông Chánh hỏi.

– Không khai báo là bao che, họ khép tội và cắt hết mọi “chế độ” luôn. Chúng em vẫn tạ ơn Chúa là gia đình hai bác và cậu Hiện đã đi di cư nên con cháu thoát được. Sau, họ cũng đã sửa sai đôi chút, nhưng ai chết thì đã chết rồi, ai đấu tố ai thì đã xong rồi. Tình thế này, nhà ta đừng đi xa thành phố, đừng đi kinh tế mới nơi đồng không mông quạnh, nguy hiểm lắm. Cứ khất lần, không sao đâu. Em nói riêng trong nhà mình nghe thôi chị nhé.

Nghe người cháu kể, ông Chánh nói:

– Thôi, ăn cơm đi cháu, Chúa hằng lo liệu. Khi về lại Bắc cho hai bác thăm hỏi mọi người. Cháu ăn tự nhiên đi, mải chuyện để đồ ăn nguội lạnh hết. Nghỉ ngơi một hai bữa rồi bác bảo anh cháu đưa lên Sài Gòn chơi cho biết, trước khi về Bắc lại.

Người cháu mồ côi cha từ thuở nhỏ, tìm lại được người bác sau mấy chục năm phân ly Nam Bắc chỉ muốn loanh quanh ở nhà để trò chuyện. Nhưng ông Chánh thương cháu, muốn cho cháu đi thăm thành phố Sài Gòn trước khi về lại miền Bắc. Ông Chánh bảo người con trai áp út còn sót lại trong gia đình: “Đưa em lên Sài Gòn chơi và mua cho em một vài món đồ”.

Tuy không gặp nhau từ thuở nhỏ. Nhưng, dường như cùng một huyết thống, nên người con trai ông Chánh đã mau mắn thu xếp đưa em đi loanh quanh trên các đường phố Sài Gòn. Cảnh vật Sài Gòn làm người em ngạc nhiên như người ở miền núi chưa từng đặt chân tới thành phố, khiến ông nói với người anh họ: “Vậy mà ở Bắc, nhà đài nói…” rồi ông ngưng lại, dáo dác nhìn quanh như sợ ai đó đã nghe được.

Tại một đường phố Sài Gòn thập niên 1980

Trước ngày người cháu về Bắc. Trong lúc ăn cơm chiều, ông Chánh hỏi người cháu cần cái gì thì hai bác cho. Không ngần ngại, người cháu nói: “Cháu xin hai bác cái xe đạp, còn các thứ khác anh Chính đã mua cho cháu rồi”. Nước mắt doanh tròng, nghẹn ngào nói: “Cháu không biết đến bao giờ mới có dịp vào thăm lại hai bác và các anh chị. Xin hai bác và các anh chị hiểu cho cháu. Cháu xin cám ơn hai bác và các anh chị đã thương yêu và lo cho cháu”.

– Hoàn cảnh của hai bác bây giờ không còn được như trước đây. Cháu cũng đã biết, vật đổi sao rời, các anh đang sống trên núi trên rừng. Vì vậy bác cũng không còn dư dả gì mà cho con cho cháu như xưa. Thôi được đến đâu hay tới đó. Cháu thích cái xe nào thì lấy, nghỉ ngơi cho khỏe để sáng mai về gặp lại vợ con – Ông Chánh nói với người cháu, rồi vào phòng nằm nghỉ.

Giọng nói sụt sùi, nước mắt lăn trên gò má khi người cháu nghẹn ngào nói những lời tạ từ để về lại miền Bắc. Cột đèn “xanh đỏ” báo hiệu cho xe chạy đã đổi từ màu đỏ qua màu xanh. Những chiếc xe vút nhanh theo giòng xe đang chạy trên đường đông như ngày trẩy hội. Mọi người hối hả, chạy bạt mạng, chạy đua với thời gian để kiếm miếng ăn trong một xã hội mới – Xã Hội Chủ Nghĩa. Người anh lái chiếc Honda mắt nhìn về phía trước, rồi quẹo trái một hai con đường và rẽ phải để đi tới nhà ga xe lửa với nét mặt buồn thiu của người em họ đang ngồi phía sau trên đường đến ga xe lửa để về lại miền Bắc sau mấy chục năm xa cách, đổi đời.

Saturday, September 19, 2020

Khu Chung Cư

Chu Kim Long
Khu chung cư.(hình minh họa - www.stonesthrowapts.com

***
Vào thập niên tám mươi, sau khi tham dự lễ ra trường của một thân hữu tại San Leandro. Trên đường về, người em họ tôi ghé thăm gia đình người bạn, nên tình cờ tôi có dịp quen biết mấy anh em bạn của người em họ. Và, duyên phận đưa đẩy, sau nhiều năm tháng, tôi đã kết hôn với cô em kế của người anh lớn trong gia đình bạn người em họ tôi. “Nhà tôi” có một anh trai, một em trai và hai người em gái – tất cả đều là thuyền nhân. Sau ngày đặt chân tới Hoa Kỳ, ba người lớn tuổi vừa đi học vừa đi làm, còn hai cô em nhỏ làm bán thời gian cho chương trình “student work study” sau giờ học. Tất cả quây quần, và đùm bọc lẫn nhau, sống trong căn apartment tại Alameda county. 

Thời gian trôi qua với những cố gắng không ngưng nghỉ - tất cả đã ổn định đời sống sau khi hoàn tất được chương trình tại các College và đại học, có được những công việc thích hợp với khả năng và nghành nghề của mỗi người. Và từ đó, mỗi cá nhân như những cánh chim sải cánh tung bay trên bầu trời tự do, với những kiến thức thâu đạt được từ một nền giáo dục khoa học và sáng tạo, làm hành trang để hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ.

Sau những năm tháng chờ đợi, hồ sơ bảo lãnh của người con cả cho cha mẹ vợ tôi qua Hoa Kỳ đoàn tụ đã được chấp thuận. Ngày đoàn tụ vui như ngày tết, anh em bên vợ tôi tổ chức tiệc mừng, vì đã đạt được ước nguyện mong chờ qua bao nhiêu năm tháng, trong thời gian đó, người em trai “nhà tôi” sau những năm tháng miệt mài trong giảng đường, đã quyết định sống đời tận hiến để phục vụ tha nhân, và hai trong ba chị em gái đã lập gia đình trước ngày bố mẹ vợ tôi được đoàn tụ với con cái, trong đó có “nhà tôi”.

Sau khi tới Hoa Kỳ, hai ông bà ở chung với người con trai cả khoảng một năm hơn. Nhà có ba phòng, tương đối đầy đủ tiện nghi trong một khu vực an ninh, rất yên tĩnh. Có lẽ, đời sống và tình hàng xóm láng giềng tại Việt Nam đã ăn sâu vào tâm khảm mỗi người, nhất là những người cao niên. Nên, khi người con trai và con dâu đi làm, căn nhà trở lên thanh vắng khiến hai ông bà cảm thấy lạc lõng trong một khu xóm không có tiếng người. Do đó, mỗi khi bố mẹ vợ tôi gọi cho tôi nhờ chở đi thăm người này hoặc người bạn kia thì tôi đã nhận lời ngay, để làm cho tinh thần ông bà cảm thấy khuây khỏa một phần nào.

Ngày này qua tháng khác, mỗi sáng, hai vợ chồng người con như những con chim lìa tổ đi kiếm mồi, nên dù sống trong căn nhà đầy đủ tiện nghi, nhưng thiếu tiếng người làm cho bố mẹ vợ tôi cảm thấy đời sống trở lên tù túng, ngột ngạt. Một hôm, được nghỉ một ngày giữa tuần, hai vợ chồng tôi lên thăm ông bà – hé tấm màn gió đượ treo phía trước phòng khách, thấy chúng tôi, bố vợ tôi vừa mở cánh cửa thì bà mẹ vợ tôi đã nói: “Ở đây ăn trưa nhé, ăn cho vui, nhà chẳng có ai”. Nhiều lần, trong sinh hoạt gia đình, bố vợ tôi thường nói: “ở Mỹ sướng thật, ngày đêm không lo bị công an, cảnh sát rình mò, muốn ăn gì, muốn cái gì cũng có, thật là cơ hội tốt cho những người trẻ tuổi muốn tiến thân. Chỉ có những người già như bố mẹ - tiếng Anh tiếng Mỹ không biết, ù ù cạ cạc, giống như bị giam lỏng trong bốn bức tường ”. Nghe như vậy, con cháu lại góp chuyện làm vui để an ủi ông bà.........

Những lần vợ chồng tôi tới thăm vào ngày thường trong tuần, chỉ có hai ông bà ở nhà - qua những câu chuyện, tôi biết bố mẹ vợ tôi muốn có một đời sống thoải mái, có bạn bè lui tới uống trà, nhâm nhi vài chung rượu, bàn chuyện thiên hạ sự, không câu nệ giờ giấc sáng chiều và phiền hà tới đời sống của con cái. Nên sau những ngày tháng làm quen với các sinh hoạt của xã hội bản xứ, ông bà thường đi đến thăm bạn bè bằng xe bus, và khi được hưởng phúc lợi qua các chương trình an sinh xã hội dành cho người cao niên, thì hai ông bà đã muốn có một cuộc sống riêng tư. Đã nhiều lần bố vợ tôi hỏi ý kiến tôi, sau khi người con trai cả trong gia đình không đồng ý cho ông bà dọn ra với lý do: “làm cho thiên hạ đàm tiếu về cách ăn ở, hiếu nghĩa của con cái”. Để dung hòa, làm cho vấn đề cởi mở đôi chút, tôi thường đề nghị bố mẹ vợ tôi giải thích cho anh chị Hai hiểu. Tôi nói với ông “dâu là con rể là khách” nên con không có ý kiến gì về việc bố mẹ ở chung với anh chị Hai hay dọn ra. Nghe tôi lặp lại câu trả lời giống nhau mỗi khi bố vợ tôi đề cập tới, thì lần nào bố vợ tôi cũng nói: “Có mấy anh con rể mà anh nào cũng tránh trách nhiệm, bố đã giải thích nhiều rồi, nhưng anh chị Hai vẫn không chịu hiểu. Các anh chị phải hiểu là không có bố mẹ nào muốn làm phiền đến đời sống của con cái, và bố mẹ cũng cần có một cuộc sống riêng tư chứ. Đâu có phải là ở chung mới là có hiếu, có nghĩa, tại sao lại sợ dư luận thiên hạ đàm tiếu, chê cười – ai cười thì hở mười cái răng, có gì mà sợ. Chịu hay không, bố mẹ cũng sẽ dọn ra, đã có người lo chuyện này rồi, bố hỏi là hỏi vậy thôi”. Ông nói xong, rồi cười và hỏi lại tôi:” Anh thấy có đúng không?”.

Qua những những ngày tháng và trong sinh hoạt gia đình, tôi nhận thấy quan niệm của bố mẹ vợ tôi rất thực tế, nhưng là rể, lại ở vai em, nên tôi chỉ đề cập và có ý kiến một cách gián tiếp qua những câu chuyện với anh chị em của vợ tôi về đời sống của những bậc cao niên đang sống nơi xứ người. Kết cuộc, việc gì đến sẽ đến – tất cả các con của bố mẹ vợ tôi đã mỗi người một tay sắp xếp lại căn apartment cho tiện nghi và sạch sẽ để bố mẹ vợ tôi sẽ dọn tới ở.

Khu chung cư cách khu phố tôi đang sinh sống khoảng bốn dặm, là một trong những khu chung cư có nhiều sắc dân thiểu số khác nhau. Những dãy nhà một tầng lầu được xây cất gần khúc cuối con đường Seven trees trên một khu đất hình tam giác, nằm giữa ba con đường có xe chạy suốt ngày đêm – đây là một trong các khu chung cư có giá cho mướn tương đối thấp so với giá thị trường, và đa số những người mướn là những gia đình gốc người Nam Mỹ, có lợi tức thấp và làm nghề lao động chân tay. Phần còn lại là những gia đình các sắc dân khác, có chương trình Housing hoặc Low Income bảo trợ.

Khu chung cư gồm những dãy nhà một phòng, hai hay ba phòng ngủ trên lầu hoặc ở dưới đất, được xây cất xen kẽ nhau. Đây là nơi cư ngụ của nhiều sắc dân thiểu số khác nhau. Những sinh họat thường nhật trong khu chung cư phản ảnh những phong tục và văn hóa của từng sắc dân. Qua cánh cổng đóng mở tự động để ra vào chun g cư, có những cụ ông hay cụ bà đi bộ hay chống gậy đi tới đi lui cho dãn gân cốt, cũng như lời và nhạc của những bản tình ca với những lời ca mang nhạc điệu Mễ Tây Cơ, hay các thể điệu và lời ca của những ngôn ngữ khác nhau được phát ra từ các dãy nhà trong khu chung cư. Mỗi cuối tuần, thường có những tiếng nói cười huyên náo, những lời ca, điệu nhạc kích động của các tiệc mừng sinh nhật từ một hai khu đất trống đầu dãy nhà, làm những người mới tới thăm thân nhân, hay bạn bè, cảm thấy như đang đi vào một nơi không an toàn. Nhưng thực ra, đó chỉ là những tập quán vui chơi bình thường của những gia đình gốc Nam Mỹ, mà những lời ca tiếng đàn cùng những lời nói, tiếng cười, đôi khi huyên náo hơn các sắc dân khác.

Cách chung cư khoảng một phần tư dặm là một khu shoping bình dân và một dải đất hẹp với những đồ phế thải của những người vô gia cư bỏ lại, sau những đêm dựng lều ngủ tạm phía sau cái nhà kho cũ - căn nhà đã được biến cải thành một tiệm sửa xe , trên vách tường có những hình vẽ và chữ viết nghuệch ngoạc, được vẽ hay viết một cách vội vàng lén lút vào những đêm khuya.

Tôi lái xe tới lui khu chung cư Arlacia này đã nhiều năm. Mỗi cuối tuần vợ chồng chúng tôi đến đón bố mẹ vợ chúng tôi đi tham dự thánh lễ Chúa nhật và những khi có việc cần. Nên đã quen thuộc phần lớn các sinh họat của cư dân khu chung cư, cũng như quen biết nhiều bà con, gia đình hàng xóm láng giềng của bố mẹ vợ tôi. Và từ ngày bố vợ tôi bị bịnh tiểu đường nặng, bị sỉu bất thường nhiều lần, thì chúng tôi tới lui nhiều hơn trước.

Những gia đình người Việt sống rải rác trong khu chung cư, tuy không quen biết nhau trước khi dọn tới khu chung cư. Nhưng đời sống trong khu chung cư giữa người Việt với nhau đã làm cho tình hàng xóm láng giềng của người Việt Nam như sống lại trong khu chung cư này. Phần lớn các gia đình người Việt cư ngụ trong khu chung cư này là những người công nhân của các hãng xưởng, họ đã cư ngụ ở đây từ năm này qua năm khác, trong đó có gia đình các cụ cao niên người Việt đang an dưỡng tuổi già qua các chương trình an sinh xã hội và các gia đình có lợi tức thấp hoặc qua Mỹ theo diện HO.

Các sinh họạt thường nhật của bà con người Việt với nhau rất thân tình và trầm lặng, đã tạo lên những khác biệt so với những sinh hoạt ồn ào đa dạng của các sắc dân khác. Cuộc sống của các gia đình người Việt như một mẫu mực sẵn có của một nền văn hóa truyền thống, cũng đã thành một tập quán tốt trong các sinh hoạt ở khu chung cư, dù hoàn cảnh của mỗi gia đình khác nhau. Những sinh hoạt tương thân tương ái lẫn nhau giống như một cộng đoàn nho nhỏ thân thương, họ sống trong khu chung cư đa sắc tộc mà tình hàng xóm láng giềng giống như một làng xóm nho nhỏ ở miền ngoại ô Sài Gòn trước đây. Họ thăm hỏi, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong những chuyện vui, chuyện buồn, an ủi nhau khi gặp khó khăn, bịnh họan, mời chào, biếu và chỉ bảo nhau nấu nướng những món ăn mới lạ. Như những cánh chim rời tổ, cất cánh tung bay mỗi sớm mai - những người trẻ tuổi đến trường, người lớn đến các hãng xưởng công tư làm việc mỗi ngày, còn các cụ già ngồi bên nhau kể chuyện xưa, thăm hỏi nhau bên tách trà, hay rủ nhau đi bách bộ quanh quẩn bên các con lộ chạy chung quanh trong khu chung cư, vài ba cụ bà tay cầm cây gậy gắp những lon nhôm trong các bồn chứa vật liệu phế thải nằm cách biệt với các dãy nhà ở, chừng hai ba chục bước chân. Có một hai lần tôi hỏi một vài cụ bà: Sao cụ không nghỉ ngơi, bới chải làm gì cho khổ, lại sinh bịnh tật?

- Rảnh rỗi, đi tới đi lui cho khỏe đôi chân, tiện thể lượm mấy cái lon nhôm, bán được đồng nào hay đồng đó, để dành, rồi gởi về cho mấy đứa cháu nội mồ côi ở Việt Nam. Tôi có khăn vải để che mũi miệng nên không dễ gì bị lây bịnh đâu – một cụ bà trả lời, trong số hai ba cụ cùng đi chung, vừa đi vừa nói chuyện với nhau.

Sống trong khu chung cư với những người đồng cảnh ngộ, bên những cụ cao niên, lại được tham gia các sinh hoạt đạo đời với những người một cội nguồn làm bố mẹ vợ tôi vui hẳn lên, ông và bà không còn than phiền bị tù túng. Mỗi lần hai vợ chồng tôi ghé thăm đều gặp những ông bà hay các cụ cao niên đang ngồi uống trà, bàn chuyện đời, đôi khi đang cùng nhau gói bánh hoặc chỉ bảo nhau làm món ăn này, món ăn kia với tiếng nói cười dòn dã. Từ ngày được sống với tình hàng xóm láng giềng, bố mẹ vợ tôi đã cảm thấy có những năm tháng sống ở nước Mỹ rất an vui, hạnh phúc, nên bà mẹ vợ tôi thường khoe với con cháu: “các ông bà ở đây tốt với bố mẹ lắm, ở đây vui lắm, y như ở Việt Nam mình ngày xưa vậy”.

Như các cơ phận một chiếc xe hơi cũ, dù bảo trì tốt, đúng kỳ hạn đôi khi vẫn bị nằm đường bất thường. Thân thể của người cao niên theo ngày tháng trở lên già nua, yếu dần. Vì vậy khi bố vợ tôi qua tuổi “thất thập cổ lai hi” được năm bảy năm, ông đã bị xỉu bất thường. Qua các thử nghiệm, bác sỹ gia đình cho biết ông đã bị mắc bịnh tiểu đường nặng - cơ thể không còn sản xuất đủ Insulin để điều hòa đường lượng trong máu.

Căn bịnh đã làm mẹ vợ tôi trở thành một điều dưỡng viên bận rộn suốt ngày đêm trong việc săn sóc cho chồng. Mấy người con thì ở xa khu chung cư, nên trong một lần khẩn cấp đầu tiên, điện thoại báo bố vợ tôi bị xỉu, chúng tôi chạy tới thì cũng đã mất 10 phút, mặc dù vợ chồng chúng tôi ở gần khu chung cư nhất. Do đó tôi đã dặn mẹ vợ tôi: “Mỗi khi bố xỉu thì gọi 911 ngay, rồi kêu bà con lối xóm tới giúp, và nhờ gọi cho con cái, chứ đừng lo gọi con cho cái rồi chờ các con tới thì quá trễ”. Vì vậy, những lần nhận được điện thoại báo tin bố vợ tôi bị xỉu, khi chạy tới nơi chúng tôi đã thấy nhiều bà con đồng hương Việt cũng như bà con gốc người Nam Mỹ đang phụ giúp, và xe cứu thương đang chớp đèn ở phía trước nhà đậu xe. Nhờ tình đồng hương, tình nghĩa láng giềng sớm tối có nhau nên bố vợ tôi đã được cứu chữa kịp thời nhiều lần. Nếu chỉ có một mình bà mẹ vợ tôi thì bố vợ tôi chắc đã đi theo tiên tổ từ lâu rồi. Nhiều lần tôi tự nhủ - có trải qua hoạn nạn lúc thân cô thế cô mới thấy tình đồng bào, tình lối xóm tối sớm có nhau là trân quý.

Vì cơ thể không sản xuất đủ Insulin để điều hoà đường lượng, nên mỗi ngày với sự phụ giúp của mẹ vợ tôi, bố vợ tôi phải đo đường lượng năm lần ở đầu ngón tay, và căn cứ theo chỉ số đường lượng mỗi lần đo mà chích số lượng Insulin theo bản biểu đồ của bác sĩ đã hướng dẫn, uống thêm các loại thuốc theo toa bác sĩ trị bịnh như Metformin, và thuốc của các bác sĩ chuyên khoa tim phổi.....như Amlodipine Besylate, Atorvastatin hay Lovastatin...... cũng như ăn uống theo chế độ dinh dưỡng mà bác sĩ đã hướng dẫn. Là y tá trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa, nên dù cao tuổi – một ngày năm lần, bố vợ tôi một tay kéo da vùng bụng, quanh cái rốn, môt tay cầm ống chích rất thành thạo. Chích xong, ông thường cười khà khà, nói:

- Đời chỉ thế mà thôi ! rồi ông hỏi: “phải không bà? ”. Nhưng cũng có những ngày ông ngồi lặng thinh sau khi chích xong mũi Insulin – có lẽ, ông đang suy tư mông lung về một vấn đề gì.

Có lần tôi qua thăm, gặp lúc ông vừa chích xong, bà mẹ vợ tôi nói:

- Hôm nay bố giỏi lắm, nhắc chích và uống thuốc là làm ngay. Đường lượng mấy bữa nay ổn định, bố ăn ngủ tốt, mẹ cũng mừng.

- Hôm nào mà tôi chẳng giỏi – bố vợ tôi nói, rồi ông cười.

Nghe bố vợ tôi nói vậy, bà mẹ vợ tôi lại nói:“Có lẽ bịnh nó hành bố hay sao con ạ, có những ngày nhắc bố đo đường để chích và uống thuốc, bố không chịu, bố la mẹ, nói bà lắm chuyện, lúc nào bà cũng đường đường, chích chích. Tôi không chích xem có chết thằng tây nào không. Mẹ phải lặng thinh, nhưng rồi sau đó bố cũng đo, cũng chích”. Mẹ vợ tôi nói xong, nhìn bố vợ tôi và cả hai cùng mỉm cười.

- Bà lại nói xấu tôi, nói xấu chồng con không tốt. Sao trước đây bà không nói, bây giờ mới nói – nói xong, ông cười mỉm.

- Con hỏi thăm thì tôi kể chuyện, chứ đâu có nói xấu ông đâu, lo cho ông không hết, có gì mà nói xấu ông, ừ ông giỏi, hôm nay giỏi lắm – bà mẹ vợ tôi vừa nói vừa cười.

Nghe những lời đối đáp qua lại, tôi chợt nghĩ đến tình nghĩa thủy chung trong tuổi già của bố mẹ vợ tôi. Tuy không là những lời nói và cử chỉ của thời thanh xuân. Nhưng phảng phất hình ảnh một tình yêu đã viên mãn trong đời sống hôn nhân, với những năm tháng hạnh phúc cũng như thăng trầm xa xưa mà ông bà thường kể lại cho con cháu nghe. Dù cho cả hai ông bà đang trải qua những ngày tháng về chiều với những vất vả và hy sinh của bà, để săn sóc đêm ngày cho căn bịnh tiểu đường trầm kha của ông.

Bịnh tiểu đường rất nguy hiểm, bịnh này sinh ra nhiều biến chứng liên quan đến tim, phổi, mắt, gan và ngoại diện như nổi lên những “mụn thịt” tương tự như “mụn cóc” trên mặt và cánh tay. Khi những “mụn thịt” nổi lên, bác sỹ chuyên khoa về Da sẽ dùng tia Laser để “bắn” làm nó biến mất......Do đó, bịnh nhân tiểu đường không chỉ đi bác sĩ gia đình và bác sĩ chuyên môn về bịnh tiểu đường mà còn phải đi kèm với các bác sĩ chuyên khoa khác nhau, tùy theo tình trạng bệnh lý mà bác sĩ chuyên trị bịnh tiểu đường sẽ giới thiệu đi gặp các bác sĩ chuyên khoa khác nhau.

Khi đường lượng xuống bất thường dưới 70 làm bịnh nhân té xỉu, nểu không phát giác, cấp cứu kịp thời thì có thể đi theo ông bà, tổ tiên một cách lẹ làng. Do đó, khi bị tiểu đường nặng như bố vợ tôi, bác sĩ thường nhắc nhở đừng bao giờ để bịnh nhân ở nhà một mình. Còn nếu đường lượng cao trên mức trung bình 120, chẳng hạn 150 hay cao hơn nữa thì sẽ làm biến chứng gây suy yếu các cơ quan lục phủ ngũ tạng, rồi theo năm tháng tiến tới giai đoạn phải lọc máu hàng tuần, đi đứng khó khăn, phải ngồi xe lăn, và căn bịnh sẽ trở lên bất trị theo thời gian. Do đó, muốn duy trì đường lượng ở mức không cao hơn chỉ số 120 quá nhiều, đòi hỏi người săn sóc phải lưu tâm không chỉ đến chích, uống thuốc đúng giờ đúng liều lượng, mà còn để ý tới món ăn thích hợp, cũng như uống thêm sữa Insure loại dành riêng cho người bị tiểu đường, và tuyệt đối không được uống rượu, ăn mặn cũng như ăn ngọt. Ngoài ra, một đôi lần trong đêm phải tỉnh giấc, kiểm soát hơi thở người bịnh có bình thường không. Vì đôi khi đường lượng xuống qúa thấp trong lúc ngủ, người bịnh đang thở dốc, cần cấp cứu mà người ngủ bên cạnh ngủ say không biết, hoặc tưởng lầm là tiếng ngáy, và khi phát giác ra thì đã quá muộn. Vì vậy, nếu trong gia đình có một người bị bịnh tiểu đường nặng, lại cao tuổi thì sự chăm sóc tương đối vất vả, nhất là không thể bỏ bịnh nhân ở nhà một mình để đi đây đi đó được. Qua bao nhiêu năm tháng bố vợ tôi bị tiểu đường, và qua sự chăm sóc đêm ngày của mẹ vợ tôi. Tôi cảm nhận được những hy sinh và nhẫn nại mà mẹ vợ tôi đã và đang dành cho người bạn đường trong tuổi xế chiều thật đáng quý.

Với kinh nghiệm của những lần bị xỉu và những mách bảo của bạn bè. Nên, đã lâu nay, trong phòng vệ sinh, trong phòng ngủ, nơi phòng khách, bàn ăn, chỗ nào trong nhà bố mẹ vợ tôi cũng có lon Coke hay kẹo dễ tan để cấp cứu kịp thời khi thấy triệu chứng đường lượng sụt giảm bất thường. Đó là những lúc thấy vẻ mặt bịnh nhân khác thường, mắt hoa lên, lờ đờ như mắt cá ươn, mồ hôi xuất ra và tay chân đờ đẫn, hai đầu gối rung nhẹ. Nếu chậm trễ, bịnh nhân sẽ té xỉu cấp kỳ như những tuần lễ đầu tiên khi bố vợ tôi mắc chứng bịnh tiểu đường, vì trước đây không ai trong gia đình có kinh nghiệm về căn bịnh quái ác này.

Đọc các toa thuốc trị bịnh của các bác sỹ, tôi vẫn thường nghĩ đến sự may mắn của bố vợ tôi đang sống và được điều trị tại Hoa Kỳ với đầy đủ phương tiện y khoa tân tiến, một hệ thống an sinh, và chương trình SSI rất tốt dành cho các bậc cao niên. Vì với tình trạng thuốc giả và cuộc sống khó khăn hiện nay ở Việt Nam, làm sao tránh được mua phải thuốc giả và làm sao có đủ tiền mà chi trả cho bao nhiêu bác sỹ chữa trị các biến chứng liên quan đến bịnh tiểu đường - nếu bố vợ tôi đang sinh sống ở Việt Nam với tính trạng bịnh tật như hiện nay!

Cuối tuần vừa qua, sau khi mua xong mấy thứ lặt vặt ở tiệm Home Depot gần khu vực chung cư, thuận đường, tôi ghé vào khu chung cư và vô tình gặp mấy cụ ông cũng như vài ba cụ bà thường hay đi lượm lon lade, chai nhựa đang ngồi chuyện trò với bố mẹ vợ tôi. Sau lời chào thăm xã giao, tôi hỏi: Hôm nay mấy bà, mấy cụ đi bộ để tập thể dục chưa?

- Chúng tôi vừa đi xong. Trên đường ai về nhà nấy, chúng tôi ghé thăm ông bà chút xíu – một bà trả lời.

Hướng về mẹ vợ tôi, một cụ ông nói:

- Bà nhà đây thì phải chăm sóc ông, nên ngày cũng như đêm chẳng bỏ ông mà đi đâu được. Nuôi người bịnh tiểu đường thì vất vả lắm, đường lượng nó lên xuống bất tử, phải kiên nhẫn chịu đựng và hy sinh. Các con có hiếu lắm cũng chỉ chạy qua chạy lại thôi. Sống ở Mỹ thì con cái ai cũng phải đi làm, chồng ca sáng, vợ ca chiều, lại còn bận rộn đưa đón con cái đi học hàng ngày nữa. Chúng tôi cũng hiểu biết như thế, nên chúng tôi vẫn dặn bà cụ: Khi cần gì cứ ới to lên một tiếng, mọi người nghe được sẽ chạy qua ngay, mình người Việt với nhau cả, không giúp nhau thì giúp ai. Bữa nay, nghe nói ông mới đi tái khám về, nên chúng tôi ghé vô hỏi thăm xem có gì lạ không.

Ngồi nghe các cụ, các ông bà nói chuyện về bịnh tật của tuổi già và kể chuyện về con chuyện cháu ở Việt Nam với bố mẹ vợ tôi, rồi hẹn nhau cuối tuần đi thăm một hai đồng hương cư ngụ trong khu chung cư vừa chuyển từ bịnh viện về Casanar Nursing Home ở đường Ochard. Tôi cảm nhận được tình nghĩa của các vị cao niên trong khu chung cư. Dù tuổi già, sức yếu, nhưng tình yêu thương gia đình và tình yêu tha nhân vẫn thật nồng nàn, nhất là khi nghe tôi ngỏ lời cám ơn về những tình nghĩa mà các cụ, các ông bà đã không quản ngại ngày đêm để giúp đỡ bố mẹ vợ tôi trong những lúc vui lúc buồn, thì tất cả đều căn dặn tôi cứ yên tâm, vì “khu chung cư này là một khu xóm Việt Nam nho nhỏ mà”.

Rời khỏi khu chung cư, trên đường lái xe về nhà, tâm trí tôi suy nghĩ miên man đến những nghĩa cử mang tinh thần bác ái, tình đồng bào của bà con người Việt đang sống trong khu chung cư, và nhớ đến câu nói của ông bà Cúc khi đến thăm bố mẹ vợ tôi nói với tôi khi tôi cám ơn ông bà: “mình thăm hỏi nhau, mình giúp nhau chỉ là một nghĩa cử bác ái nho nhỏ, hy sinh một chút, cho đi một chút, làm cho tâm hồn mình thêm thanh thản, hạnh phúc, mà cũng là để đáp lại công ơn của biết bao nhiêu người vô danh đã giúp mình xưa nay”.

Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt của các quốc gia trên khắp thế giới. Vì vậy, đời sống của các cư dân trong khu chung cư trở lên vắng lặng hơn xưa. Khi có công chuyện phải ra khỏi nhà, mọi người giữ khoảng cách khi gặp nhau, và cất tiếng chào ngắn gọn qua cái khẩu trang, ngay cả con cái như chúng tôi – mỗi khi đến thăm cũng mang khẩu trang và đứng cách nhau khoảng hai mét. Trong thời gian này bố mẹ vợ tôi cũng như bà con trong khu chung cư đã dùng điện thoại nhiều hơn xưa để thăm hỏi sức khỏe lẫn nhau. Ai cũng ước mong cơn đại dịch qua mau để được gặp lại nhau như những năm tháng trước đây.

Tuy là một trong những khu chung cư bình dân – nơi những người thường dân và neo đơn cư ngụ. Nhưng lại là nơi có những tâm hồn cao thượng. Với tuổi già sức yếu, nhưng vẫn chan chứa tình người, tình đồng hương. Những câu chuyện và những sinh hoạt thân thương tựa như một cộng đoàn nho nhỏ trong khu chung cư, theo tháng năm đã đi vào trong tâm trí của tôi, và là những hình ảnh sống động tôi thường bắt gặp, mỗi khi tôi lui tới khu chung cư.

Monday, January 21, 2019

Hương Xuân Man Mác Đó Đây




Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết
Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa Xuân”
Chu Kim Long

Tiếng bà xã tôi gọi từ chiếc xe gỗ được đóng để làm khung cho cái bếp ga lưu động trong khu vườn sau nhà, trong lúc tôi đang bận rộn tìm cách che những chậu bông kiểng cho qua những đêm Đông buốt giá, chờ đón Xuân sang.



- Điện thoại trong nhà reo kìa, anh vô coi xem ai gọi. Em đang bận chiên mấy con cá, anh coi, có phải ông bà ngọai gọi không?



- Ờ, để anh che xong chậu bông này đã – tôi nói.



- Anh vô ngay đi, ai đó đã gọi đi gọi lại hai ba lần rồi – cô nàng thúc dục tôi.



- Chắc lại quảng cáo chứ gì – nói vậy, nhưng tôi cũng bỏ ngang công việc vườn tược, rảo bước chân đi vào nhà.



Mấy năm nay, ông thân sinh nhà tôi ngày một yếu dần bởi chứng bịnh tiểu đường. Ở tuổi gần chín mươi, căn bịnh lại không chỉ quan yếu đến Thận mà còn liên hệ và tác hại đến mắt, phổi, tim, gan. Những năm gần đây, cơ thể ông không sản sinh chất Insulin để điều hòa đường lượng được nữa, nên ông cụ phải đo đường lượng và chích Insulin năm lần một ngày. Căn cứ vào mức đường lượng khi đo mà chích Insulin theo bản hướng dẫn của bác sĩ.



Có lẽ trước đây là y tá trong ngành Quân y, qúa quen thuộc với kim chích, nên ông chích “rất chuyên nghiệp”. Tôi là người nhát chích, nên mỗi khi sang thăm, thấy ông một tay véo da gần cái rốn lên, một tay lụi cái kim tự chích lấy, tôi phải ngoảnh mặt đi nơi khác. Nhưng ông cụ cứ tỉnh bơ, còn cười hà hà nói: Đời chỉ có thế mà thôi.



Hình như đức tin tôn giáo và tuổi đời làm ông không cảm thấy sợ cái chết nữa, tôi chưa bao giờ nghe thấy ông than thở về cái bịnh tật ông đang mắc phải. Đã mấy lần ông bị xỉu, phải gọi 911 cấp cứu vì đường lượng xuống bất thường dưới 70. Các con cái thì ở các thành phố hơi xa, chỉ có chúng tôi là tương đối ở gần khu chung cư – khoảng mười phút lái xe. Do đó, nhà tôi thường lo lắng mỗi khi nghe tiếng chuông điện thọai reo.



Tôi cũng thường nói cho vui với bà mẹ vợ rằng: Bây giờ bà ngọai là nữ điều dưỡng viên đó, ngoài việc theo dõi đường lượng, chích và uống thuốc, ông ngọai còn cần những thức ăn thích hợp mà bác sĩ đã hướng dẫn. Cố giảm bớt tối đa mắm muối, mỡ và đường nghe bà ngọai. Khi cần cấp cứu khẩn cấp, bấm 911 ngay, rồi hãy gọi cho con cháu sau.



- Ừ, mẹ cũng biết như vậy, từ sáng đến tối, đêm ngủ cũng không an tâm, lâu lâu lại thức giấc nghe ngóng xem bố còn thở bình thường không, lo cho bố còn bận và mệt hơn trông coi con nít. Nhưng Chúa ban cho mẹ còn sức khoẻ, mẹ còn lo được. Hơn nữa bà con lối xóm Việt Nam đây thương yêu bố mẹ lắm, mẹ chỉ ới một tiếng là các ông bà chạy đến giúp ngay, ai cũng có lòng – bà mẹ vợ tôi nói.



Tình yêu thương là lẽ thường tình phải có giữa con người và con người, huống chi là con cháu  ruột thịt. Tôi hiểu được sự lo lắng của nhà tôi, nhất là khi có tiếng điện thoại reo nhiều lần và mùa Xuân lại sắp về, Tết Nguyên đán đang cận kề – ai mà không ước muốn gia đình an vui, trong những ngày tháng chuẩn bị đón mừng năm mới.



Bước đến bàn máy điện toán, hai cái điện thọai: một để bàn, một cái là điện thoại cầm tay, cả hai đều có một hai cái “Missed Call”. Nhưng không phải của bên ông bà ngoại mà là của người bạn cựu tù Trương Kỉnh Thành năm xưa của tôi.



Tôi bước ra sân sau nói cho nhà tôi hay để cô nàng an tâm.



- Cám ơn ông xã. Tết nhất đến nơi rồi, chắc các ông cựu tù lại muốn anh đến họp mặt chứ gì. Anh gọi lại cho bạn  đi, vậy là họ đã gọi cho anh mấy lần rồi đó.



- Ờ, che xong mấy chậu kiểng rồi anh sẽ gọi ngay – tôi trả lời nàng.



Tôi trở vào nhà sau khi làm xong mấy việc lặt vặt trong khu vườn sau nhà, tôi gọi lại và hỏi thăm Thành – người bạn tù năm xưa.



- Thành hả? Có gì lạ không? Còn đi làm hay nghỉ rồi? Gia đình an vui cả chứ?



- Không có gì lạ, tôi vẫn đi làm dù đã qúa tuổi hưu, còn khoẻ mạnh, nhà trường lại cần, con cái cũng lớn hết rồi nên tôi vẫn đi làm cho khuây khỏa, hơn nữa công việc cũng nhàn hạ. Ông đi đâu mà tôi gọi hoài không gặp.



- Ờ, thì cũng loanh quanh với nhà cửa vườn tược thôi. Không gặp, cứ để lại lời nhắn, tôi sẽ gọi lại ngay – tôi trả lời Thành.



- Vậy trước tết Nguyên đán hay sau tết ông có bận rộn hay có trở ngại gì không? Đã lâu rồi, mấy “ thằng tù lười “ mình không gặp nhau. Nên mấy anh em nói tôi gọi ông, xem nên họp mặt trước hay sau tết. Bọn mình tết nhất phải gặp nhau, chúc tuổi nhau rồi ôn lại chuyện cũ chuyện mới chứ. Dưới Nam Cali những “thằng tù lười “ Cổ Tấn Anh Dũng, Vũ Đình Thọ, Trần Chương Lương, Phạm Huyên... đông hơn bọn mình, năm nào cũng họp mặt đón Xuân và còn gặp gỡ hàn huyên bất kỳ khi nào có những “ thằng tù lười “ từ các nơi khác về thăm Little Saigòn. Bọn mình ít người hơn nhưng cũng phải gặp nhau chứ. Khi nào có dịp, bọn mình xuống Nam Cali thăm mấy ông lười đó nhé - Thành nói.



- Ừ, tôi sao cũng được, họp mặt Tết ở nhà ông đi, trước hay sau tết tùy ông và anh em, đồ ăn nước uống như thế nào hay cần cái gì cứ gọi cho tôi – tôi trả lời Thành.



- Vậy là xong, có gì tôi sẽ gọi lại báo cho ông. Bây giờ tôi phải đi công chuyện. Thành nói bye, rồi gác máy.



Thành là một bạn cựu tù trong đoàn “500 thằng tù lười” – cái tên mà gã thủ trưởng trại tù Cây Cày A -  Năm Quân gọi để miệt thị anh em chúng tôi. Nhưng chúng tôi lại hãnh diện sống và lao động đúng như cái tên hắn gọi.



Thời cùng sống khổ sai trong trại tù cộng sản đã là những sợi dây vô hình nối kết anh em cựu tù, dù kẻ ở nơi này, đứa ở nơi kia dù nhiều anh cựu tù nay đã có cháu nội cháu ngoại.



Tại miền Bắc Cali, Thành là người nhiệt tình trong các sinh họat, từ các sinh hoạt Cộng đồng đến các chương trình đấu tranh cho dân chủ tại quê nhà, hoặc các chương trình yểm trợ Thương phế binh Việt nam Cộng Hòa....



Nhìn vóc dáng Thành, ai cũng nghĩ Thành còn ở tuổi trung niên. Thành bộc trực, nhưng rất yêu đời với những tiếng cười dòn và sảng khoái. Tóc ngắn, quân phục, giầy bốt đúng quân phong quân kỷ, tiếng hô dõng dạc, những bước chân và cách đánh tay còn đúng chóc cơ bản thao diễn, khi Thành điều khiển toán quốc quân kỳ của Lực lượng cựu sinh viên sĩ quan Thủ Đức miền Bắc Cali trong các sinh hoạt Cộng đồng, làm nhiều người khen ngợi.



Những cú điện thoại mời gọi anh em cựu tù họp mặt đón Xuân của người bạn tù Trương Kỉnh Thành, cũng như tin tức các sinh họạt sửa soạn mừng Xuân đó đây của các hội đoàn, của các cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản tại hải ngoại, làm tôi nhớ lại đêm giao thừa đón Xuân tại trại tù Bàu Cỏ, Tây Ninh, miền biên giới Việt Campuchia năm 1979 cùng Thành và những “thằng tù lười.”



*

Chiều tối ba mươi tết năm ấy, không khí trại tù Bàu Cỏ thê lương, ảm đạm.


Từ cả tuần trước tết, anh em tù đồn đoán thủ trưởng Mười Nhàn đã khăn gói cùng với những bộ đồ mộc bằng gỗ Cẩm lai, gỗ gõ.... mỹ thuật, do các tổ mộc, tổ tiện làm lâu nay, về Bắc ăn tết.



Chín giờ tối  thủ phó Tư Lùn bất ngờ vào trại kêu các đội trưởng tập họp anh em. Sau đôi ba lời chúc tết theo bài bản thuộc lòng từ ban Tuyên giáo đảng, như Vẹt, người thủ phó gốc miền Nam mà anh em tù vẫn gọi là chú Tư vì đã lớn tuổi, lại trở về đúng với bản chất và cung cách xuề xòa kiểu ông già nông dân miền Nam. 



- Tết nhứt sao buồn “góa” vậy, ca lên cho dzui  tụi bây – tiếng người thủ phó, giọng khàn đục, vang lên trong sân đêm ba mươi tết.



- Nhạc “ giàng “ được hông chú Tư? Một anh tù bắt chước giọng miền Nam hỏi.



- Giàng bạc gì cũng được ráo trọi, ca lên cho dzui. Tết nhứt mà sao tụi bây buồn góa dzậy? Ngồi hay đứng vòng tròn đi, có đàn trống gì hông? Cho tui mượn cái ghế ngồi đi, đứng lâu hổng chịu nổi, già rồi! – người thủ phó tương đối hiền hơn Mười Nhàn nói và cười mỉm.



Bầu không khí chợt như vỡ oà, tiếng chân bước nhanh của vài anh về lán lấy cây Guitar tự chế, tiếng anh khác nói để tôi về lấy cây Sáo. Tiếng nhắc nhau ai có trà không để tôi đi nấu nước... Rồi đêm văn nghệ có một không hai trong đời tù vang vọng lên trong đêm giao thừa, khiến nhiều viên công an thường được gọi là anh đội khi đi canh gác tù, vào trại đứng nghe.



Những bản nhạc Xuân nổi tiếng trước năm 1975 lần lượt được các anh em tù cùng với tiếng đàn, tiếng sáo thay nhau ca hát say sưa, làm vơi đi sự buồn phiền của cái tết trong tù, và viên thủ phó cũng như công an quên mất họ là cai tù đang nghe những bản nhạc vàng mừng Xuân do người tù ca hát. Bản nhạc Ly rượu mừng được mọi người hợp ca, rồi tiếp nối với những ca khúc: Xuân này con không về, Đồn vắng chiều Xuân, Phiên gác đêm Xuân, Xuân và tuổi trẻ, Đón Xuân này nhớ Xuân xưa, Xuân miền Nam, Điệp khúc mùa Xuân, Cô gái Xuân....vv....



Người thủ phó gốc miền Nam gật gù, nhấc ly trà uống, nói thản nhiên sau mỗi bài ca tiếng đàn: Nhạc hay góa, nghe mà mê luôn... tụi bây ca hay gúa, đâu thua gì ai... Cứ vậy mà đêm ca hát đã qua giờ giao thừa từ lâu. Trước khi kết thúc, viên thủ phó còn nói như dặn dò: Thôi khuya rồi, đi ngủ tụi bây, mơi khỏi lao động.



Tôi và các bạn tù đi về lán ngủ mà cảm thấy vui, khi thấy viên thủ phó và cả những viên công an một phần nào đã nhận thấy những cái hay, cái tinh túy của những mùa Xuân Miền Nam trước năm 1975.


*

Nhiều năm sau này, dù đã thành cựu tù Hát Ô tại Mỹ, với chúng tôi, buổi hát nhạc vàng đón giao thừa trong trại tù cộng sản năm ấy đã thành một kỷ niệm khó quên.


An cư tại miền Bắc Cali lâu nay, tôi thường có thói quen dong chơi các khu chợ tết cuối năm, dù không có dự tính nhất định mua sắm thứ gì. Cuối năm vừa qua, tôi đang rảo bước trong chợ hoa, khu Lion Shopping, đường Tully, San Jose, chợt có người bước tới đối diện với tôi, đứng lại, hỏi:



- Xin lỗi có phải ông là ông Hoàng, trước đây ở Tổng Thanh Tra không?



- Phải, nhưng sao ông biết tên tôi – tôi hỏi lại.



- Tôi là Bán, tài xế đại đội quân xa hạng nhẹ biệt phái cho Tổng Thanh Tra trước 1975 đây. Ông không nhận ra tôi sao? Thấy ông chỉ trắng hơn thôi, chứ thấy không có gì thay đổi khác lạ, nên tôi nhận ra ông ngay. Sau khi tan hàng, tôi về lục tỉnh sống với mẹ già nhưng cực khổ qúa, lại bị rình rập đêm ngày, dù mình chỉ là anh hạ sĩ quèn thôi. Chịu không nổi, nhân có ghe lưới bạn của người em, nên ba mẹ con dắt díu nhau trốn đi. May mà thóat nạn. Hiện nay tôi đang làm ở chợ 99 Milpitas.



Anh nói một hơi thật dài kèm theo nụ cười tươi. Tôi mời anh vào quán uống cà phê và ăn trưa, hàn huyên tâm sự. Từ đó, đôi khi anh điện thọai hoặc đến thăm tôi để cho vơi “nỗi buồn viễn xứ “ – anh nói. Tôi cảm động khi nghĩ đến những chân tình của anh. Cách đây mấy tuần anh điện thoại nói chợ thiếu người nên phải làm bù đầu, năm nay có lẽ không có giờ đi chợ tết và ghé mời tôi đi uống cà phê.



Năm nay, mấy tuần lễ cận kề ngày tết, nhiều hội đồng hương và các đoàn thể ái hữu tổ chức tất niên với số người tham dự thật đông vui. Ngoài chương trình văn nghệ xen kẽ với tiệc mừng thì những chuyện bên lề về các sinh hoạt Hội Xuân, Hội Tết của các cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, tại địa phương này hay nơi khác được bàn luận thật hào hứng.



Trong không khí tất niên mà tôi vừa được tham dự, nhiều người ngỏ ý thán phục tinh thần bảo tồn và phát huy văn hóa Việt Nam, cũng như thiện chí và tài năng của các anh chị thuộc Tổng hội sinh viên Việt Nam miền Nam California. Sự hy sinh trong tinh thần đoàn kết, với những học hỏi và sưu tầm sâu sa về nền văn hóa Việt Nam, cộng với óc sáng tạo tuyệt vời của các anh chị sinh viên, qua các tiết mục mang đậm nét đặc thù của nền văn hóa Việt, về nội dung cũng như trang phục và tổ chức. Mỗi năm mỗi sáng tạo mới lạ, và hay hơn, như : Ông táo về trời, Thi Hương, Thi Hội, Thi Đình, Hội chùa Hương, Đánh cờ người, Vinh qui bái to, Đám cưới đầu Xuân... mỗi năm mang một chủ đề và ý nghĩa khác nhau.



Người bạn trung niên ngồi cạnh tôi nhắc nhớ đến chủ đề những năm vừa qua: Xuân Thanh Bình, Xuân Thịnh vương và năm nay Hướng về cội nguồn... Anh và các bạn kể lại cũng như khen ngợi nhiều chương trình công phu, cảnh trí và trình diễn điêu luyện, nên năm nào cũng thu hút hàng ngàn khách du Xuân, vừa thích thú vừa cảm phục, trong đó có nhiều người thuộc các sắc dân khác và các cấp lãnh đạo trong guồng máy công quyền.



Tôi nghe thấy nhiều người mong ước ở mỗi địa phương có cộng đồng Việt Nam, nên khuyến khích và cổ võ cho những sinh họat tương tự như của các anh chị sinh viên Việt Nam miền Nam Cali, tạo cho giới trẻ có địa bàn sinh hoạt để những người trẻ có thiện chí, tài năng và bản lãnh được tôi luyện về lãnh đạo, tương lai họ sẽ tham gia vào các hoạt động chính trường liên bang, tiểu bang, địa phương cũng như lãnh đạo Cộng đồng. Từ đó trợ lực, tiếp sức cho anh em bên quê nhà viết lên trang sử mới cho con dân nước Việt, cũng như giúp cho Cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại ngày một thăng tiến.



Coi trên màn hình, đọc trên các nhật báo và trang mạng những bài viết, hình ảnh người Việt hải ngoại, rồi cảnh chợ Tết khắp nơi, rồi cầm trên tay những tờ báo xuân mừng năm mới của báo chí Việt ngữ hải ngoại, chắc hẳn trong tâm tư mỗi người Việt cũng như  tôi đều cảm thấy bồi hồi, tin tưởng hơn, vui hơn với mùa xuân đang tới.

Blog Archive