Showing posts with label Trương Văn Út. Show all posts
Showing posts with label Trương Văn Út. Show all posts

Friday, April 2, 2021

CHỮ “TÍN”

Mũ Đỏ Trương văn Út, danh hiệu truyền tin Út Bạch Lan.

LTS: Cựu Đại Úy Trương văn Út, cựu SVSQ Khoá 22/TVBQGVN. Ông là ĐĐT Đại đội 5, Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù/ Lực Lượng Đặc Biệt.

Sau ÐÐ5 Biệt Cách Nhẩy Dù cải tuyển thành Đại Đội 2 Trinh Sát Nhảy Dù/SĐND, được các cựu SVSQ/Khoá 22/TVB Quốc Gia VN gọi là “Lão Ngoan Đồng”. Ông vượt thoát khỏi trại tù CS (Long Giao). Mấy năm trời sống lanh quanh thành phố Saigon, trước khi vượt biên (1982) đến trại tị nạn Mã Lai. Ông hiện định cư tại Houston, Texas .

***
Tôi chỉ có một bà chị dâu duy nhất. Chị kết hôn với người anh thứ ba của chúng tôi nên tôi gọi là Chị Ba. Tên của chị là Trần Sâu Lầy. Nghe qua cái tên thì biết ngay Chị là người Việt gốc Hoa. Chị sinh quán ở xã Cây Dừa, Quận Cai Lậy, Mỹ Tho, xuất thân Sư Phạm Sài Gòn, làm cô giáo ngay tại nơi sinh trưởng của mình.

Anh của tôi là Trương văn Nhì (Khoá 15 Võ Bị Đà Lạt (VBĐL) phục vụ tại Trung Đoàn 12/ SĐ 7 Bộ Binh...

Theo lời kể, gia đình ông sở ông sơ của chị, thuộc dòng dõi Minh Hương bên Tàu, chạy tỵ nạn nhà Thanh sang lập nghiệp ở Cà Mau cùng thời với Mạc Thiên Tứ, Mạc Cữu....Cho đến đời Ông Cố, ông Nội vẫn còn ôm giấc mộng "Phản Thanh Phục Minh"...và đến đời thân phụ thì di chuyển về Cây Dừa, tỉnh Cai Lậy và chị được sinh ra nơi đây...

-Năm 1975... Anh của tôi đi tù caỉ tạo CS. Chị bị cho nghĩ việc vì vợ sĩ quan “Ngụy”... Chị chuyển sang nghề may vá, tần tảo nuôi ba đứa con còn nhỏ dại.

Khi tôi trốn ra khỏi trại tù CS ở Long Giao (1976), thỉnh thỏang lén lút ghé thăm Chị. Chị lúc ấy gầy rọp thân thể, lưng còm xuống, già lão trông giống như người đàn bà năm sáu mươi tuổi, mặc dù lúc ấy chị mới khoảng 26, 27 tuổi.

Ấy, vậy mà cứ sáu tháng một lần Chị phải gánh hai bao bố thức ăn khô, thuốc men, từ Sài Gòn ra đến trại Vỉnh Phú (miền Bắc) thăm nuôi Anh tôi trong tù.

Năm 1987... Mười hai năm sau, anh được thả ra. Chị đã chuẩn bị sẵn cho Anh để vượt biên bằng đường biển, qua sự trung gian của gia đình người Hoa mà chị thân thích. Không may, Anh lại bị bắt và bị giam ở Mõ Cày (Bến Tre) chịu đựng ba năm khổ sai...

Sau đó, được tạm tha, trở về gia đình, sống trong bàn tay buôn tần bán tảo của Chị. Vợ chồng đạm bạc bên nhau, cho đến ngày cả gia đình được sang Mỹ với diện HO-5...

Ngày nay, gia đình anh chị tôi, đã ổn định. Con cái đã thành thân và thành nhân với một đàn cháu nội ngọai đề huề...Có lần tôi hỏi Chị

-Bí quyết nào giúp cho Chị vượt qua tất cả gian nan để có ngày nay?

Chị cười và nói:

-Có gì đâu! Chị có 9 đồng, chị cố kiếm thêm 1 đồng để đủ 10 đồng, rồi Chị dấu đi để phòng khi hữu sự. Còn tụi Em có 9 đồng, đi vay thêm một đồng để chén thù chén tạc với bạn bè. Tiền vất qua cửa sổ, chẳng bao giờ chạy ngược trở vào....

Đó là triết lý sống của người chị dâu gốc Hoa của tôi..

Năm 1979... Ngược giòng thời gian...

Tôi ghé thăm Chị, khi anh tôi còn đang ở trại tù ngoài Yên Bái. Tôi sống lang thang không nhà không cửa, ngoài vòng pháp luật, vì đã trốn ra khỏi tù. Nhờ chị giới thiệu tôi với một gia đình người Hoa trong Chợ Lớn và tôi có việc làm “chui "...

Mỗi sáng lúc 5 giờ, đạp xe đạp đến chỗ hẹn, nhận 3 cây vải sa-ten đen, chở lên Cầu Tre ( Phú Lâm) giao cho người nhận là một xưởng nhuộm lậu. Sa-ten là một lọai lụa, dùng để may quần cho đàn bà.

Buổi chiều lúc 3 giờ, trở lại nhận 3 cây sa-ten trắng đem về giao lại cho Chủ. Cứ mỗi chuyến " giao hàng " như vậy, Chủ trả cho 25 đồng tiền mới (tiền cụ Hồ - mỗi 500 đồng của VNCH đổi ra 1 đồng tiền Hồ).Thôi, cũng độ nhật qua ngày...

Ông Chủ trạc 60 tuổi, Tôi gọi là chú Quảnh, người Em của ông, là chú Xồi...Tôi không biết gia đình này có bao nhiêu người, nhưng hai anh em họ sống chung với nhau trong căn phố ba tầng ở đường Triệu Đà, Chợ Lớn. Căn phố cũ kỹ, đơn sơ, không một chút gì sang trọng như những căn phố gần đó.

Một hôm sau khi giao hàng, như thường lệ Chú Xồi trả công cho tôi 25 đồng. Tôi cám ơn, vội vã đạp xe đạp, giông tuốt rồi ghé quán càphê. Tôi móc tiền đếm lại thì tới 50 đồng, chứ không phải 25 đồng...

Trong hoàn cảnh khốn cùng này được đồng nào hay đồng nấy. Hớp vài ngụm cà phê, Tôi chợt giật mình vì chợt nhớ lại lời chị dâu tôi dặn:

- Em phải nhớ làm ăn với người Tàu, một cắc là một cắc, một đồng là một đồng, ăn gian nói dối thì không bao giờ làm ăn với Họ được...Họ làm ăn với nhau chỉ đơn giản với một chữ TÍN "...

Tôi bừng tỉnh, cong lưng đạp xe nước rút trở lại gặp Chú Xồi và trả lại 25 đồng mà Chú đã đưa dư...Chú cười và nhận lại tiền dư.

Tôi không biết chị dâu của tôi có nói gì với Họ về tôi hay không, nhưng một hôm, khi Tôi giao hàng, Chú Quảnh bảo Tôi:

-Nị dào chong dữa mặt , zồi za ăn cơm dới Ngộ há ..

Trong bữa cơm gồm cả hai gia đình...Họ xí xô xí xào. Tôi không hiểu họ nói với nhau điều gì. Khi từ giã ra về, Chú Quảnh đưa tôi ra cửa và Chú hỏi nhỏ:

-Nị có phải là sĩ quan “ngụy” chốn học tập không hả ???.. Đừng sợ... Ngộ biết hết dồi lớ...từ từ mình sẽ tính...

Tôi bàng hoàng rời nhà chú Quảnh với nỗi cực kỳ lo sợ. Ngày mai có nên trở lại nơi này không ??? Không !!! chắc chắn là không...

Tôi chuyển hướng, thay vì đi thẳng đến bến xe An Đông tìm chỗ ngủ đêm như thông lệ, Tôi đạp xe qua bến Phạm Thế Hiển gặp chị tôi...

-Chị Ba! Chị có nói gì mà Họ biết Em là sĩ quan ngụy trốn trại cải tạo?

Với nụ cười hiền hậu Chị trả lời:

-Không có sao đâu, họ đang giúp Em đó...

Hai tuần sau, tôi có cái giấy Khai sinh giả mang tên Trần Chỉnh, sanh năm 1942...người Việt gốc Hoa ...

Tôi (chỉ một mình tôi) cùng gia đình Họ, hơn 60 người gồm đàn ông, đàn bà và trẻ con, rời bến ở kinh Miệt Thứ, Rạch Giá ra khơi trên chiếc ghe đánh cá, ba block đầu bạc, đi tìm tự do.

***
Tàu ra khơi, nhưng không may, xế trưa ngày hôm sau bị gảy bánh lái cách đảo Phú Quốc chừng 10 cây số về hướng Đông. Tàu bỏ neo để thay bánh lái phụ. Một chiếc tàu đánh cá quốc doanh Phú Quốc xáp lại gần. Tất cả chúng tôi vội vàng chui xuống dưới khoang ghe, phía trên chỉ năm ba người giả bộ như đang đi đánh cá.

Tàu đánh cá VC không xáp lại gần, mà chỉ chạy chậm lại. Ngang ghe chúng tôi vài chục mét, chúng vẩy vẩy tay chào rồi tiếp tục hành trình về hướng Phú Quốc.

Tôi và Chú Quảnh bò lên phiá sau lái hỏi anh Lợi, người tài công có mười năm kinh nghiệm đánh cá. Anh nói với chút lo âu:

-Mình phải đi ngay, càng nhanh càng tốt, tôi đoán thế nào bọn chó đẻ đó cũng gọi Công an Biên Phòng...

15 phút sau ghe nhổ neo, vội vã lái về hướng Nam ... Nhưng quá trễ. Hai chiếc PCF duyên tốc đỉnh phất phới ngọn cờ máu phiá sau chúng tôi với hằng tràng đại liên chỉ thiên đe dọa. Thế là chúng tôi bị bắt. Ghe được kéo về đồn Công An Biên Phòng ở Cây Gáo, sau đó bị tống vào trại giam của Ty CA Hình Sự Cà Mau, nằm phía bên kia cầu sắt. Bên này là chợ Cà Mau .
Thời gian này là lúc phong trào vượt biên bán chính thức đang nở rộ công khai. Người Hoa từ thành phố xuống Cà Mau được ưu đãi như khách du lịch có passport (thông hành) chờ xuất ngọai. Ghe của gia đình Chú Quảnh là ghe vượt biên lậu, nhưng nhờ "thời điểm" này, mà cả gia đình trên ghe của Chú Quảnh được đối xử không đến nổi tệ. Bọn CA chỉ lo vơ vét vàng... 5 cây, 10 cây... tùy số lượng để giải quyết vấn đề.

Tôi không biết gia đình Chú Quảnh hay Chú Xồi “làm việc” với bọn chúng bằng cách nào, vì mỗi lần Chú Quảnh được gọi lên văn phòng của chúng, khi trở về phòng giam, anh em họ chỉ nói chuyện với nhau bằng tiếng Tàu.

Hai ngày sau đàn bà con nít được CA đưa ra bến xe đò cho xe chở về SàiGòn... Đàn ông bị giữ lại chờ xét xử sau ..

Trong thời gian chờ đợi, Chú Quảnh dặn Tôi:

-Nị nhớ khai đúng tên tuổi trong khai sinh mà Ngộ đã đưa cho Nị ... Nị là Em dợ của Ngộ, là Em duột của dợ Ngộ...Nhớ nói giọng lơ lớ...đừng nói nhiều hớ ...."

Sau một tuần thẩm vấn từng cá nhân một 18 anh em "người Hoa chúng tôi" được ra ngòai lao động: vác lúa mang vào nhà máy xay, sau đó khiêng gạo xuống mấy ghe bầu đậu sẵn dưới sông bên cạnh Cầu Sắt.

Bao nhiêu nỗi lo âu sợ hãi ban đầu dần dần vơi đi, Tôi bỏ hẳn ý định trốn thoát, vì rằng trong trạng huống này Tôi nghĩ sớm hay muộn, không bao lâu, chúng nó cũng thả chúng tôi ra.

Thêm vào đó tình cảm với anh em Chú Quảnh càng ngày càng khắn khít qua những liên hệ của những người tù cùng chung một trại giam "ngọt cùng chia, bùi cùng xẻ”. Họ đối với Tôi như chính anh em của họ.

Sau hơn ba tháng lao động chúng tôi được cấp giấy "tạm tha trở về nguyên quán "...Điều này đối với tôi, tôi nghĩ như đang nằm mơ, vì mang tội vượt biên thì ít nhất ba năm lao động ở các trại tù cải tạo của miền Tây. Tôi tò mò hỏi Chú Xồi, Chú chỉ trả lời, bằng gịong người Tàu nói tiếng Việt.

-Mấy Bả dề trước, mấy Bả lo cho tụi mình...

Về đến xa cảng miền Tây, chúng tôi chia tay, Chú Quảnh lại dặn dò:

-Nị nghỉ ngơi vài ngày rồi trở lại gặp chúng tôi ..

Chú nhét vào túi quần tôi 50 đồng. Tôi quay lưng, niềm suy nghĩ bay cao..

Trở về nguyên quán? Nguyên quán của tôi ở đâu? Mấy năm nay, nhà của tôi là đầu đường xó chợ, là ga xe lửa, bến xe đò! Nhớ vợ con lắm thì nhắn chị Ánh (vợ Hùng Móm), chị Hồng Tố Yến (vợ TTC), chị Thu (vợ NTN) rồi kiếm cách lén lút gặp vợ con vài ba tiếng đồng hồ, khi những người thân yêu này giả vờ đi chơi lang thang trong Sở Thú...

Một tuần sau, tôi mon men trở ra Chợ Lớn tìm Chú Quảnh. Đứa con gái Chú Xồi chỉ ra quán cà phê góc đường Triệu Đà - Hùng Vương. Nơi đây tôi gặp lại họ.

Chú Quảnh vừa thấy tôi, Chú mừng lắm. Chú chạy ra, nắm tay tôi kéo đi một khoảng khá xa và nói:

-Nị đi ngay đi ... đừng vào trong đó... Ngày mai lúc 6 giờ chiều gặp ngộ ở nhà hàng Soái Kinh Lâm.. Nị biết chớ?

Tôi im lặng gật đầu, trở lại lấy xe đạp, cứ đạp miết. Vô ngã hẻm này, ra ngã hẻm khác, len lỏi vào giòng xe đạp trên các lộ chính, rồi bất ngờ quẹo vào một con hẻm nào đó, mục đích “cắt đuôi” nếu bị theo dõi.

Tôi tin tưởng nơi gia đình chú Quảnh. Tôi chỉ còn một nơi bám víu chỉ với chút hy vọng mong manh là chỉ có gia đình Chú mới có thể giúp tôi thoát khỏi nơi này để đến bến bờ Tự Do.

Nhưng nay, qua sự gặp gỡ vừa rồi, Tôi hiểu gia đình của Chú cũng đang bị theo dõi gắt gao.

* * *
Sau bốn năm “giải phóng”, nhà hàng Soái Kinh Lâm vẫn sang trọng huy hoàng rực rỡ như ngày nào. Tôi bước vào, lòng mang bao nhiêu nỗi ngậm ngùi, nhớ lại những tháng ngày của một thời oanh liệt. Tôi ngồi vào chiếc ghế bên cạnh Chú Xồi, đảo mắt qua một vòng. Tôi yên tâm vì không có người lạ. Hầu hết là những người cùng Tôi vác lúa khổ cực ở Cà Mau khi bị giam về tội vượt biên...

Chú Xồi hỏi Tôi:

-Nị còn nhớ Chú Xường ngồi bên kia bàn hay không?

-Dạ nhớ.

-Ai ngồi kế bên?.

-Dạ, chú Chảnh...

-Nị ráng nhớ cho kỹ, một chút nữa qua đó ngồi nói chuyện với tụi nó và tụi nó nói cái gì thì nị cứ làm theo cái đó. Mấy thằng chó chết VC đang đánh tư sản mại bản. Tụi nó đóng cửa ba cái hãng nhuộm vải ở Cầu Tre, tịch biên tất cả vải vóc chúng tôi đang có, và có thể sẽ tịch biên nhà cửa và đưa chúng tôi lên vùng kinh tế mới, không biết ở đâu...Cho nên chúng tôi không còn giúp cho Nị được gì nữa ...Đây là Hộp trà Sâm, anh Chảnh biếu cho nị, có vậy thôi... Nhớ giữ hộp trà này bên mình.. Bây giờ qua nói chuyện với Xường và Chảnh.

Chú Quảnh từ một bàn khác liếc nhìn tôi mỉm cười. Buổi tiệc hôm nay là ngày sinh nhật thứ 16 con gái Út của Chú Quảnh. Tôi nắm lấy bàn tay chú Xồi siết thật chặt và thật lâu, trước khi chỉ biết nói hai chữ cám ơn rồì bước sang bàn chú Xường....

Xường và Chảnh chỉ lớn hơn tôi năm hoặc bảy tuổi, nhưng tôi vẫn gọi bằng Chú. Thời gian ở tù Cà Mau, trong cái láng dơ bẩn, ba chúng tôi cùng nằm một chiếc chiếu rách tả tơi .. Khi ngã lưng xuống chiếu Tôi thường hay kể chuyện Thủy Hử cho Họ nghe trước khi thiếp ngủ mỏi mệt sau một ngày vác lúa, vác gạo nhừ người.

Một cái ghế đã sắp sẵn cho tôi giữa Xường và Chảnh...Xường đi ngay vào đề:

-Anh có biết nhà hàng Thanh Thế ở chợ Bến Thành không ? ...

-Dạ biết..

-Nhớ kỹ lời tôi dặn đây. Hôm nay là ngày Thứ Bảy. Sáng ngày Thứ Hai tới, anh gặp Tôi và Chảnh ở Thanh Thế. Cứ đến đó vào lúc khỏang 10 giờ nhởn nha uống cà phê, nhớ ăn mặc xuề xòa, râu tóc để nguyên đừng cạo đừng hớt... Đêm nay nhớ mở Hộp trà Sâm, mà anh Quảnh biếu cho Anh nhâm nhi cho đỡ buồn.

Tôi đứng dậy, nhìn một lượt chung quanh nhẹ cuối đầu như một sự từ giã không lời, lặng lẽ ra về với bao nỗi bâng khuâng trong lòng. Vui buồn lẫn lộn...cùng với nhiêu thắc mắc. Họ là Ai? Tài phiệt Chợ Lớn cỡ như Mã Tuyên hay Mã Sái chăng, hay thành viên của Triều Châu Phúc Kiến, hay thuộc xã hội Đen của Tàu Cộng, Đài Loan, Hồng Kông? Mặc kệ! Nghĩ chi cho mệt óc miễn sao mình còn thong dong đạp xe đạp tự do ngày nào hay ngày đó, dưới đường phố mưa sa mà không cần nhìn đến cờ đỏ sao vàng..

Đêm đó tôi mở Hộp trà Sâm...10 lượng Vàng Kim Thành thứ thiệt nằm trong đó, tôi chợt nhớ lời Chú Xường dặn "Thứ hai gặp Tôi ở nhà hàng Thanh Thế..."

Tôi ngủ một giấc ngủ chập chờn trên một căn gác cho thuê đầy chuột và dán ở bến xe An Đông.

***
Lúc còn tại ngũ, khi đơn vị dưỡng quân ở hậu cứ Tôi thường cùng bạn bè la cà....sáng thì đi uống cà phê có pha chút bơ Bretel ở nhà hàng Thanh Thế cách phía Tây chợ Bến Thành độ trăm thước, buổi trưa đi ăn Chateau Brillant ở tiệm Thanh Bạch, rồi Brodard. Ban đêm, đi vũ trường Văn Cảnh, hoặc Thanh Thanh ở xa lộ. Trong nhóm thường có Mỹ Hôi, Hùng Móm, Hùng Mập, Dũng Tây Lai , Cao-P-Minh, Xuân Đờn Cò, Ninh mắt Trừu...một hoặc hai thằng chia nhau một chầu. Chỉ một ngày rong chơi cũng vơi đi gần nửa tháng lương, để khi trở về nhà ngồi vào bàn ăn với vợ con, chỉ có một đĩa rau muống luộc và hộp thịt ba-lác!

Theo lời dặn của chú Xường, Tôi đến nhà hàng Thanh Thế khỏang 10 giờ. Giờ này, chỉ lác đác năm ba khách đến uống cà phê ...Tôi tìm cái bàn trong góc có thể nhìn xuyên qua cửa kính để quan sát cả trong lẫn ngoài. Nhâm nhi ly cà phê với mùi vị bơ Bretel, hút hết điếu Samit thứ hai thì Xường và Chảnh cũng vừa đến. Họ vẫn tíu ta tíu tít xí xô xí xào như mọi khi. Tôi đứng dậy chào, Xường vội vàng ấn vai tôi...

-Ngồi xuống! Ngồi xuống...

Câu chuyện thật ra rất dài, Tôi tóm gọn những gì đã xảy ra trong phạm vi bài viết này...

Chú Xường mở lời :

-Đêm qua Anh uống trà Sâm có ngon không? .

Tôi gật đầu .

-Anh có mang hộp trà theo không

-Dạ có ...

-Anh đưa cho Tôi ...

Tôi chỉ lẳng lặng làm theo và chỉ im lặng ngồi nghe .

Tôi lần mở cái túi vải ăn mày móc 10 cây được gói cẩn thận đêm qua trong cái quần xì-líp dơ bẩn vàng úa, giao cho chú Chảnh. Chú Xường đưa cho Tôi một túi giấy trong đó có bốn cái bánh tiêu còn nóng hổi...

-Thời giá hiện nay, một cây là 2,850 đồng (tiền già Hồ)...Chúng tôi lấy lại 10 cây này, trả lại Anh bốn cái bánh tiêu Anh có puồn không ?...

Nghe Chú Xường phát âm cái tiếng "puồng” không. Tôi không “Puồng” chút nào, nhưng cố nén nỗi kinh ngạc để không hiện lên ánh mắt của mình

-Dạ không...

Chú cười và nói tiếp:

-Ở dưới bốn cái bánh tiêu, là cái đai vải (nguời Bắc gọi là cái ruột tượng) có 30.000 ngàn tiền mặt trong đó. Anh nhớ ...lúc nào cũng cột thật chặt vào bên hông của Anh, chờ chút nữa sẽ có một người nữa đến gặp Anh. Anh ấy là anh em chú bác với tụi tui . Anh Xế Phò sẽ cho Anh biết anh sẽ phải làm gì... Còn phần tôi (Chú Xường) Anh phải nhớ kỹ những điều dặn dò của tôi sau đây: anh Quảnh bảo chúng tôi gặp Anh để cho anh biết những gì anh Quảnh đã sắp đặt cho Anh . Anh có biết tại sao không?..

-Dạ không!

-Vì Anh đã trả lại 25 đồng cho anh Xồi, anh Xồi thử Anh đó, và đó cũng là lý do Anh Quảnh quyết định mang Anh theo trong chuyến vượt biên kỳ vừa rồi.

Anh Quảnh chỉ lo ...nếu Anh bị lộ tông tích thì chỉ có chết... Anh có biết Thương xá Tam Đa cũ hay không?

-Dạ biết.

-Bây giờ là cửa Hàng IMEX, bán những mặt hàng ngoại quốc mà chúng nó tịch thu của người Tàu chúng tôi ở Chợ Lớn...Thôi, uống cà phê đi...

Vừa lúc Chú Xế Phò bước vào. Chú Xế Phò, người dong dỏng cao, dáng dấp không có vẽ Tàu chút nào. Chú nói tiếng Quan Thoại, tiếng Pháp, tiếng Việt rất sành sõi rõ ràng.

Khi Chú Xường và Chảnh ra về, Xế Phò bắt đầu chất vấn:

-Anh tên Trần Chỉnh hả?

-Dạ vâng ...

Chú mỉm cười...cái mỉm cười gọi là cái mỉm cười biết hết chi tiết.

-Anh có nói và đọc viết tiếng Anh được không ?..

-Dạ chút chút...

-Được tốt lắm ...Tôi đang là Trưởng phòng Quản Trị Công Ty Imex thương xá Tam Đa cũ, theo lời yêu cầu của anh Quảnh, Thứ Hai tuần sau Anh bắt đầu làm việc dưới quyền của Tôi làm chức Thủ kho. Chỉ có nhiệm mở và khóa cửa kho khi có lệnh xuất nhập hàng của Tôi. Anh phải ghi lại mặt hàng nào được xuất trong ngày. Khỏang 10 giờ, giả bộ ra bên ngoài uống cà phê và giao danh sách đó cho Chú Chảnh. Ban đêm Anh ngủ lại cơ quan cùng với ba nhân viên khác, họ là những công nhân viên từ ngoài Bắc vào. Cứ như vậy đi, dần dần quen và biết hết mọi việc Anh sẽ có nhiều việc quan trọng hơn... .

Trước khi chia tay, Chú Phò đưa cho Tôi một Giấy Chứng Nhận: "Trần Chỉnh" nhân viên Cửa Hàng Imex, phía dưới đóng dấu ký tên Trưởng Phòng Thương Nghiệp Quận Nhất TP HCM , cùng một giấy nhỏ có ghi "Lý Kim Anh "Trưởng phòng Công An Chợ Bến Thành”.

***
Tôi đạp xe đạp loanh quanh với một tâm trạng lộn xộn xà ngầu ...Hung hay Kiết?...Ngạc nhiên, lo âu lẫn lộn....nhưng không có nỗi lo sợ như khi Chú Quảnh hỏi “Có phải Anh là sĩ quan ngụy trốn học tập hay không”.

Tôi như người đang chới với giữa dòng sông, vớ được gì cứ vớ, không cần biết cái đó lành hay dữ. Đã leo lên lưng cọp, đã phóng lao thì phải theo lao ... không còn sự chọn lựa nào khác .

Giám đốc Imex là một tên "Cán Ngố". Cả ban Quản Trị của hắn ngơ ngơ ngáo ngáo, cộng trừ nhân chia sổ sách cứ lộn tùng phèo, lại thêm lòng tham lam ăn được cái gì là ăn cái đó. Tôi làm việc với họ chỉ có nhiệm vụ khóa và mở khóa kho chứa hàng hóa theo lệnh Chú Phò, sau đó ra ngoài gặp Chú Chảnh. Lúc này Tôi chỉ có một niềm vui sướng vô ngần là có một việc làm và một chỗ ở an toàn, không lo sợ bị phát hiện và bị bắt bất cứ lúc nào. Cũng trong lúc này Tôi đã áp dụng "Nghệ thuật Lãnh Đạo Chỉ Huy" của trường Võ Bị để chinh phục những nhân viên từ ngoài Bắc vào, một cách dễ dàng. Chú Phò hài lòng và mừng lắm.

Một hôm Chú rũ tôi đi ăn tối. Trên chiếc Volkswagen màu vàng củ kỹ Chú chở tôi một vòng chợ Bến Thành và trực chỉ bến Bạch Đằng. Một buổi cơm tối vô tiền khoáng hậu, độc nhất vô nhị trong đời tôi.

Trong nhà hàng nỗi Mỹ Cảnh...ba người đã ngồi sẵn. Tên Giám Đốc Imex Nguyễn Tạo, với cái mặt chành bạnh nhưng không che dấu được vẽ ngu si đần độn tham lam trên gương mặt của hắn. Tên Trung Úy Lý Kim Anh Trưởng Phòng Công An Chợ Bến Thành, Đặng Tư, Trưởng Phòng Tài Chánh Imex.

Trên bàn, chai Remy Martell vơi hơn phân nữa. Tôi khúm núm bước theo sau Chú Phò, chấp tay cuối đầu chào họ. Ngồi vào bàn Tôi cố giữ thái độ bình tỉnh, chỉ lắng nghe họ bàn luận việc của họ cùng với những suy nghĩ mông lung. Quả thật chú Quảnh và gia đình của Chú đã giúp Tôi quá nhiều, ơn sâu nghĩa nặng này bao nhiêu kiếp người tôi có thể báo đáp được .

Sau buổi cơm gọi là thân mật đó, tôi có thêm vài việc phải làm theo chỉ thị của Chú Phò.

Một buổi sáng khi Tôi giao danh sách hàng xuất kho cho chú Chảnh, hôm nay lại có mặt Chú Xường, Chú Xường bảo Tôi giao lại số tiền mặt tôi đang giữ. Chú Xường giao lại cho tôi một danh sách giá cả mua vô bán ra trong ngày ở thị trường Chợ Lớn. Tôi chỉ biết làm theo Có thắc mắc thì cũng chẳng ích lợi gì, vì tin rằng họ đang giúp mình qua cơn hoạn nạn.

Thời gian năm 1979, 1980, 1981... Thân nhân nước ngoài gửi tiền về giúp gia đình không gửi được trực tiếp như bây giờ mà dưới hình thức là "Phiếu Imex”.

Hàng Imex là hàng thứ thiệt, được tịch thu sau chiến dịch đánh Tư Sản Mại Bản ...Nào là thuốc tây, radio, cassette, căm, sên, phụ tùng xe đạp...

Cả trăm mặt hàng khác, đều là hàng ngoại. Giới tiêu thụ hầu hết là con buôn từ Hà Nội, giá nào họ cũng mua, họ mua theo cái NGU của họ. Còn những người buôn bán phiếu Imex cò con thì đều qua tay mã thầu dậu là Chú Xường...Làm giá thì Chú Quảnh trong Chợ Lớn Khi Chú Quảnh cho biết giá cả sáng trưa chiều tối , thì Chú Phò cho lệnh xuất kho, bên cạnh có Tôi và Chú Chảnh đang chờ bên ngoài. Có gì trục trặc thì có Giám Đốc và tên Trung Úy Công An Lý Kim Anh.

Dù rằng tình hình an ninh có vẻ khả quan, nhưng nỗi lo âu vẫn canh cánh trong tôi. Không biết bị phát hiện giờ nào và nếu bị chúng bắt thì sẽ ra sao. Cứ vài hôm chú Xường gặp tôi nhét vào túi Tôi một hai ngàn (tương đương 1 cây vàng).Chú nói đó là tiền lời từ 30.000 đồng "hùn vốn" của Tôi. Tôi nhờ Niên Trưởng Huỳnh Bá Long Khóa 21 Võ Bị Đà Lạt, gửi về giúp vợ con và Cha Mẹ Chị Em Tôi. ...Thôi cứ thế rồi thời gian cũng qua, dù chưa được trở lại đời sống bình thường như mọi người dân khác và không gần gũi được vợ con.

***
Một ngày đẹp trời tháng Ba năm 1982... Tôi đang ngồi uống cà phê dọc vĩa hè trước cửa hàng Imex, một chiếc Honda hai người trờ tới. Một người xuống xe, vội vả nắm lấy tay và bảo Tôi:

-Niên Trưởng theo Tôi qua Chợ Cũ làm vài chai Henneken.

Tôi có một cảm giác lạnh băng chạy từ đốt xương sống cuối cùng lên đến đỉnh đầu, nhưng định thần thì ra Nguyễn văn Định, (Khoá 24 Đà Lạt - TĐ 11 Nhảy Dù), đang chờ ngoài xe là Trần văn Hợp (Khoá 23 Võ Bị Đà Lạt)...

Chiếc Honda chở 3 người qua Chợ Cũ, làm đĩa cơm sườn, vài chai bia Con Cọp. Hợp móc trong túi xách một tờ giấy, điền tên Trần Chỉnh, rồi chở tôi ra bến Thủ Thiêm "TỐNG" xuống một chiếc ghe chở gạch cát của Công Ty Dầu Khí Vũng Tàu...

Đêm đó Tôi lại ra khơi. Lần này là lần thứ bảy, không kịp một lời từ giã nào với Chú Phò, Chú Xường, Chú Chảnh, Chú Xồi, Chú Quảnh và vợ con gia đình.

Một tháng sau, đang chờ đợi để rời khỏi Đảo Pulau Bidong, Mã Lai, sang trại chuyển tiếp Galang II ở Nam Dương, Tôi nhận được thư của vợ tôi :

“Anh yêu thương, Chị Ba (chị Dâu của Tôi) có đến thăm Em. Cùng đi với Chị có một người đàn ông, người này đã trao cho Em 10 lượng vàng và nói đây là tiền của anh Út gửi cho”.

Đó là Chú Xồi.

Quá Khứ và Hiện Tại
Trong ba tháng tội vượt biên, chúng tôi khom lưng đi vác lúa gạo ở Cà Mau, tình cảm của Tôi với gia đình chú Quảnh càng ngày càng gắn bó, qua những bữa cơm sau một ngày vất vả lao động xã hội chủ nghĩa, những bữa cơm “lòng heo, phá lấu heo quay, vịt quay”....Có nhiều lúc Tôi bỗng chợt cười khan...Họ hỏi tôi sao lại cười, tôi nói:

-Ở tù kiểu này sướng hơn trở về nhà

Chú Quảnh tiết lộ rằng, gia đình đã “chung” 150 cây cho thằng Trưởng Ty CA Hình Sự rồi, nay mai mình sẽ được về.

Thời gian này tôi gần gũi với Chú Xưòng - Chảnh nhiều hơn. Xường và Chảnh nhỏ con ốm yếu lại cùng một tóan lao động với Tôi...Có lần vác bao gạo bước qua tấm ván gỗ, bắt từ bờ sông xuống ghe bầu, Xường trợt chân té nhào xuống sông, tôi liệng bao gạo xuống mũi ghe, nhảy ùm xuống sông vớt chú ấy lên, ông chủ ghe bầu thông cảm không làm khó dễ mà chỉ nói ...

-Không sao...không sao...xem như Tôi biếu bao gạo đó cho các Anh...Tội nghiệp!Tù Tội!.Tội Tù ...

Từ đó Tôi, Xường, Chảnh như hình với bóng. Tôi thường kể họ nghe chuyện Đông Châu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí, Thủy Hử. Họ khóai nghe nhất là bộ truyện Kim Dung kèm theo lời bàn phân tích của Lão Ngoan Đồng (biệt danh của tôi) về những nhân vật Ma Giáo và Chính Giáo. Cũng nhờ vậy mà ba tháng tù trôi qua như một giấc ngủ đêm với thịt quay phá lấu...

Viết theo lời kể của Xường và Chảnh :
Ông Cố Nội chúng tôi, lập nghiệp ở Chợ Lớn (vào khỏang năm 1860 ) với một cái gánh mua bán ve chai lông vịt, thường ngày thì mua được lông vịt nhiều hơn lông gà, vì người Tàu ăn vịt quay nhiều hơn. Khi Ông Nội chúng tôi ra đời thì cái gánh ve chai lông vịt đã trở thành cái " vựa " ve chai lông vịt, sau đó trở thành cái "xưởng” chuyên làm chổi lông gà, quạt tay và áo che mưa bằng lông vịt, còn ve chai thì cân ký bán sĩ cho một lò rèn làm chai lọ thủy tinh và cuối cùng là xưởng dệt tơ vải

Trong khi đó, người Em thứ Ba của Ông Cố chúng tôi - ông Cố Ba - làm nghề mổ heo, Bà Cố Ba giữ lại lòng heo nấu phá lấu theo kiểu Dương Châu, rồi cho hai người con trai đội mâm đan bằng mây đi bán dạo...Sau đó trở thành quán hủ tiếu duy nhất có bán thịt heo quay, thịt vịt quay, lòng heo phá lấu....Đó là tiền thân của "Công Ty Nhà Hàng Bát Đạt " sau này.

Khi đến đời Ông Nội chúng tôi (vào khoảng vài thập niên cuối thế kỷ 19...1880-1900) thành phố SàiGòn được hình thành với những dinh thự, công sở, khách sạn nguy nga đồ sộ của mấy ông Tây Bà Đầm, trong khi khu Chợ Lớn vẫn còn bùn lầy nước đọng, đường xá được chính quyền Tây mở rộng ra đến vùng ngoại ô ...Thủ Đức, Gò Vấp, Nhà Bè, Phú Lâm.... Huyết mạch giao thông buôn bán chính là ghe thuyền từ các tỉnh miền Tây lên Sài Gòn và ngược lại... do đó mới có Kinh Chợ Gạo ( Mỹ Tho )

Cơ sở của Ông Nội chúng tôi phát triển rất nhanh, Bà Nội trông coi cửa hàng buôn bán tơ lụa, có thể nói gia đình chúng tôi lúc đó như là nhà thầu duy nhất cung cấp gấm, sa-ten, vải lụa... cho các con buôn thực Dân Pháp... trong khi gia đình Ông Cố Ba đang phát triển các tiệm ăn rập khuôn theo kiểu Tàu. Quán ăn và quán trọ Bát Đạt. Gia đình giàu có nhất trong vùng là giòng họ Mã, hậu duệ sau này là Mã Sái, Mã Tuyên .

Đến đời thân phụ mẫu chúng tôi thì gia đình cũng đã khá giả. Sáu anh chị em chúng tôi khi lên ba bốn tuổi đã được dạy xử dụng bàn tính (bàn toán) của người Tàu một cách rành rọt. Chúng tôi học trường Tinh Võ, ở nhà nói tiếng Quan Thoại, khi giao tiếp với con buôn thì bằng tiếng Việt hoặc tiếng Tây... Khi anh Quảnh lấy vợ người Triều Châu, thì cha Tôi giao hết chuyện quản trị làm ăn cho Anh, và Ba Tôi trở thành "Ông Trùm" của "Bang Hẹ "... Anh Xồi được giao trách nhiệm sổ sách kế tóan, còn Tôi (Xường),Chảnh và cô em út A Cảo làm chủ 3 hãng nhuộm vải ở Cầu Tre, Phú Lâm.

Lời Kết
Qua những câu chuyện kể trên, Tôi không biết có phải vì trả lại 25 đồng mà Chú Xồi đã cố tình đưa dư, mà cơ duyên định số đưa đẩy Tôi gặp gia đình họ, làm ăn sinh sống với họ khoảng bốn năm trong hoàn cảnh lo sợ hồi hộp từng ngày cho đến một ngày đột ngột rời bỏ quê hương không định trước .

"HỌ".... Trong ngôn ngữ lịch sự của người VN chúng ta thì Họ là người Hoa Kiều Chợ Lớn, bình dân thì thường gọi mấy Ông cắt chú , được phiên âm trệch ra từ danh từ "Khách Trú”...từ đó mới có danh từ Chú...Chú Ba Tàu...Chú Chệt...

Dù gọi là gì chăng nữa, Họ vẫn là Họ. Họ vẫn giữ phong tục tập quán từ hằng nghìn năm qua cho đến ngày nay....dù đã trải qua Tứ Đại Triều Đình (Tống, Nguyên, Minh, Thanh)... cho đến Bát Quốc Liên Quân... rồi Ma Cao Hồng Kông, Đài Loan và lục địa dưới bàn tay sắt của Cộng Sản... Họ lấy gia đình làm đơn vị căn bản, để từ đó vươn lên, trở thành "Bang"... nhỏ lớn tùy thời tùy thế. Cha Mẹ, Anh Em, Vợ Chồng Con Cái đùm bọc che chở cho nhau, để từ một gánh ve chai lông vịt hay một cái mâm đan bằng Mây, bán dạo lòng heo phá lấu một ngày trở thành những Đại Gia trong sinh hoạt các "Bang" của Họ... Chẳng qua chỉ có một chữ "TÍN".

Họ khởi nghiệp từ Buôn Bán. Nhỏ lớn, sang hèn, nghèo giàu gì Họ cũng có thể làm, cần cù nhẫn nại, chắt chiu dành dụm, không khoe khoang, không xa hoa phung phí... cho đến một ngày "Puôn Pán Dạo...Puôn Pán Lẽ..." trở thành những Công Ty Xí Nghiệp kếch xù trong những lãnh vực rất đơn giản .

Gần như suốt thế kỷ 20, người Hoa Kiều Chợ Lớn Sài Gòn Gia Định không có một dịch vụ nào liên quan đến công nghiệp nặng chỉ chú trọng về việc trao đổi buôn bán hàng tiêu dùng gia đình. Họ tích lũy tài sản theo truyền thống cha truyền con nối, cho đến khi sự tích lũy tiệm tiến này trở thành một gia sản khả dĩ có thể trở thành một hội viên trong hệ thống thương mại vĩ đại của các " Bang " ...

Dĩ nhiên trong sự buôn bán làm gì không có sự cạnh tranh dành giựt lẫn nhau, rất hiếm nhưng không phải là không có. Nếu có xảy ra thường thì Họ giải quyết nội bộ. Họ không thích tranh tụng kiện cáo, có những trường hợp liên quan đến pháp luật chính quyền thì Bang của Họ thương lượng để mọi việc trôi qua. Sau đó Họ giải quyết nội bộ bằng những biện pháp chế tài, cô lập vì "Bất Tín", nặng nề lắm mới có vụ thanh toán. Gia đình hay cá nhân nào phạm vào chữ Tín thì chỉ có nước đi ăn mày.

Trung Hoa lục địa (Trung Cộng, Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao....) Họ đều có chính quyền riêng của Họ. Người dân sinh ra, lớn lên học hành thành đạt, từng bước từng bước Họ tham gia chính quyền từ hạ đến thượng tầng cơ sở. Nhưng đối với người Hoa Kiều ở hải ngoại (theo sự hiểu biết của Tôi) như VN, Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Úc...Họ không muốn tham gia vào chính quyền dù Họ có mãi lực đồng tiền, có thể mua tiên cũng được. Thí dụ như ở Indonesia, người Hoa Kiều chỉ có khoảng 3% dân số mà nắm giữ 70% tài sản của đất nước này. Nhưng có điều tài tình chúng ta cần phải khâm phục.... dùng mãi lực đồng tiền. Họ móc nối với chính quyền nơi Họ cư ngụ một cách kín đáo trơn tru... bên cạnh là những "Cái Bang", giống như xã hội đen, mafia còn khủng khiếp hơn GodFather của Italy rất nhiều.

Nhiều người cho rằng "Ba Tàu" hay bắt chước làm đồ giả, điều đó hẳn nhiên, giải thích chuyện này Tôi chỉ mượn câu "Cứu Cánh Biện Minh Cho Phương Tiện "...

Còn Người Việt- Nam mình ?
Trải qua trăm năm dưới sự đô hộ thực dân Tây, 30 năm hiện diện của Mỹ (1954-1974), nay dưới sự cai trị tàn độc của CS, còn gần 4 triệu người Việt đang sống rải rác năm châu hải ngoại, chúng ta hãy xét nghiệm và làm một bài toán....

Câu Hỏi : "Đã có bao nhiêu người vì Danh, vì Vị, Vì Lợi đã dùng những bước chân "Bất Nhân, Bất Lễ, Bất Nghiã, Bất Trí, Bất Tín” để leo lên lên những bật thang danh vọng hảo huyền ảo tưởng, khiến cho cả nước (quốc nội) lâm vào tình trạng nghèo đói trong danh sách những Quốc Gia nghèo đói nhất thế giới, khiến cho Cộng Đồng Người Việt Nam nói chung và các Hội Đòan Tập Thể nói riêng ở hải ngoại lâm vào tình trạng ngày càng nghi kỵ, chia rẽ, phân hóa như ngày nay không bao giờ hàn gắn được., và cũng chẳng bao giờ có một vĩ nhân nào có thể xuất thế tế độ chúng sanh....ít ra cũng vài thế hệ sắp tới..

Họ là Ai?
Họ là những người tên Đỗ họ Thừa .

Họ đổ thừa cho Chế Độ Miền Nam VN sinh ra tham quan ô lại.

Họ đỗ thừa cho Chế Độ CS vơ vét mồ hôi nước mắt của dân lành cho tư lợi cá nhân

Họ đỗ thừa cho xã hội Tây Phương làm cho Tam Cương Ngũ Thường đảo lộn.

Nhưng Họ không bao giờ dám Đỗ Thừa cho chính Họ ..."Ta là kẻ đã VONG BẢN, VONG QUỐC, VONG THÂN".

May quá, Lão Ngoan Đồng học được những bài học từ gia đình chú Quảnh nên không bị vướng vào Ba cái VONG trên, mà Lão Ngoan Đồng chỉ mang cái bệnh ....VONG MẠNG!

Trương Út (Út Bạch Lan)


Sunday, January 19, 2020

Mũ đỏ Trương Văn Út (Útbạchlan) 

Khi những ngọn Đông phong dịu dần và những cơn mưa lạnh buốt da thịt cũng thưa thớt đi qua, buổi sáng bầu trời bớt vẩn đục với nhừng làn sương mù mõng mãnh chỉ còn vấn vít trên cành cây ngoài sân vườn báo hiệu mùa Đông sắp tàn và mùa Xuân đang chạm ngõ, Tiết Xuân thổi hây hây như thúc giục cỏ cây đâm chồi nẩy lộc xinh tươi sức sống mới với muôn sắc màu và thoảng trong không gian như có hương vị của tình xuân ấm áp và hạnh phúc, bầu trời quang đãng với những tia nắng ấm phớt nhẹ, vài cánh én bay lượn kêu gọi nhau trong gió sớm là mùa báo hiệu bắt đầu cái gì đó mới và tốt đẹp hơn! Xuân là khởi điểm cho những hy vọng mới, sẽ được hạnh phúc hơn, được may mắn hơn, nghèo thì bớt nghèo, giàu thì giàu thêm tấn tài tấn lộc mà! Người người hớn hở chúc nhau như thế, còn có được hay không là do nỗ lực của chính mình để vượt qua những gì không được mấy tốt đẹp của năm cũ! Chúc cho nhau vượt qua những tị hiềm, ích kỷ nhỏ nhen thường tình của thói tục phàm nhân thường ngày, để con người xích lại gần với nhau hơn trong cảm thông chân thành, như tình là tình Xuân!

Những ngày cuối của năm Kỷ Hợi sắp hết, Tết Canh Tý đang chực chờ ngoài khung cửa thềm nhà. Có bao hiêu chuyện dang dở, những dự tính chưa thực hiện được của năm cũ vẫn còn vương đọng đâu đó trong nội tâm khi nhìn những tờ lịch cuối cùng của năm cũ xé bỏ trong tay, người ta mới giật mình tự vấn dường như suốt năm qua hối hả bon chen, tranh đua với cuộc sống xô bồ vật chất mà quên đi những giây phút dành cho mình một chút thư giản, thả hồn vân du thong dong, tự tại, thản nhiên trôi qua như dòng chảy thời gian mà cảm nghiệm vạn pháp trôi lăn là Đạo vốn tự nhiên hằng chuyển. Thế hệ này nối tiếp thế hệ khác kết thành một hành trình bất tận; nhưng đời người thì thật ngắn ngủi với chuổi gánh nặng oằn vai, vật lộn với miếng ăn manh áo, bệnh tật, buồn vui, thiên tai, thảm họa... ngần ấy cũng đủ khiến nhiều người có lúc muốn buông xuôi tất cả vì gánh gồng sao nặng nỗi; nhưng nợ hồng trần còn vương vấn mãi, nào ai thoát khỏi nghiệp dĩ trót mang? Rồi năm này nối tiếp năm kia thoáng chốc mà đã gần hết một kiếp người.

Tôi sinh ra ở Gò Công, và lớn lên với tỉnh lỵ nhỏ bé miền Nam này. Quê hương tôi nước mặn đồng chua, mỗi năm chỉ làm được một mùa lúa nhờ trời mưa xuống có nước tôi uống có ruộng tôi cày. Khi những đồng lúa chín bạt ngàn nặng trĩu hạt cong oằn thân lúa, là tôi biết mùa gặt sắp đến, ngay sau đó tháng giêng ta là tháng ăn chơi, tháng hai tây là tháng lập Xuân khí tiết dịu dàng êm ả như tiếng sáo diều lơ lững trên bầu trời xanh thẳm và cánh đồng trơ góc rạ khô hong mùi rơm ngay ngáy. Phố chợ bắt đầu tấp nập, những chiếc xe bò chất đầy dưa hấu từ miệt biển Tân Thành, ghe bầu neo ở bờ sông cạnh bến xe đầy ấp cây trái từ Chợ Gạo bằng đường sông tới đây, những lều chỏng lộ thiên được dựng lên ngoài nhà lồng chợ bày biện bánh mứt, quần áo, những đầu lân múa máy theo nhịp chiêng trống tùng tùng cắc cắc và tiếng pháo đỏ nổ vang làm cho không khí Tết mộc mạc hiền hòa của người dân tỉnh lẽ vui nhộn lên …! Tuổi thơ của tôi đã trải qua nhiều mùa Xuân trong cảnh thanh bình nhộn nhịp như thế với cha mẹ, anh em suốt thời gian Tết và trên bàn thờ những ngọn nến được thắp sáng liên tục, những bộ quần áo mới, trong tay là những bao lì xì màu đỏ có  tờ giấy hai đồng còn thơm phức màu mực in được xếp ngay ngắn bên trong.  

Hai mươi tuổi bước vào đời lính, bắt đầu hít thở tiết Xuân với mùi thuốc súng, ngắm sắc Xuân với màu thê lương tang tóc, tai không nghe tiếng pháo khích lân mà chỉ có tiếng đại pháo 130ly của địch từ xa vọng về. Từ khởi đầu mùa xuân Mậu Thân 1968 sau khi tôi tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, được nghĩ phép 10 ngày, vác sac marin trình diện đơn vị đúng vào ngày 23 tháng chạp đưa ông táo về trời, trước đêm giao thừa Tết Mậu Thân một tuần lễ, tại thành phố Nha Trang với bãi cát trắng dài trườn mình dưới bầu trời trong xanh lác đác vài cánh én bay lượn trên những làn sóng bạc đầu từ ngoài khơi nhấp nhô tiến vào bờ. 

Thuở nhỏ tôi chỉ biết biển Tân Thành - Vàm Láng quê tôi, bãi biển đặc sệt bùn sình nước đục, đôi ba lần được đi Vũng Tàu với cha mẹ, anh chị em thì đã thấy Vũng Tàu đẹp như mơ rồi. Nhưng Nha Trang đúng nghĩa là miền quê hương cát trắng, có những đêm nghe tiếng sóng vọng lại ầm ầm xa đưa như hòa nhịp đời cùng sức sống yên vui của người dân thị thành. Người dân Nha Trang đã sống hòa mình với thiên nhiên trời xanh biển rộng vốn đã yên vui, nay còn vui hơn khi bóng dáng Xuân ngập tràn đường phố. Phường Mai nằm dưới chân Núi Đồng Bò với hằng vạn gốc mai vàng rực rở dưới nắng Xuân. Không khí Tết bắt đầu nhộn nhịp trên phố chính Độc Lập kéo dài xuống đến tận chợ Đầm, người qua kẻ lại tấp nập ngược xuôi trộn lẫn với những lính chiến đủ màu quân phục. Quả thật Nha Trang không hổ danh là "Thành Phố Lính". 

Vào những ngày này, Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Dù (TĐ81BCD) vừa trở về hậu cứ sau một tháng hành quân ở vùng tam biên Kontum, mang theo thân xác của Đại Úy Nguyễn Văn Nghi Đại Đội Trưởng Đại Đội 3 Biệt Cách Dù (ĐĐT-ĐĐ3BCD) vừa tử trận ở Pleimơrong trước đó vài ngày là dấu ấn của những bước chân đầu đời binh nghiệp của tôi bắt đầu từ Đại Đội này trong Tết Mậu Thân! 

Ôi,… Xuân khói lửa mang theo lưỡi hái tử thần đến cổng trại Lính nằm ven bờ biển Nha Trang mà gặt lấy bao linh hồn người tiếc nuối thế gian sao ngắn ngủi với tiếng cầu kinh và hồi chuông vội vã! Chỉ một tuần lễ sau trận đánh khốc liệt thì ở khu gia binh trong trại có cả trăm vành khăn tang trắng chít lên đầu cô nhi, quả phụ khóc than tức tưởi, hàng dài hòm gỗ cày hoa, phủ cờ với khói hương nghi ngút mùi tử khí rờn rợn thê lương u uất! 

Trận chiến nổ ra ngay trong đêm giao thừa Mậu Thân, khi người dân hiền hòa Nha Trang đang yên bình hạnh phúc trân trọng bày bàn thờ ra sân trước với lễ vật mâm ngũ quả, rượu trà, nhang đèn với tâm hồn nôn nao chờ đợi giây phút thiêng liêng thắp hương thành kính khấn vái lễ cúng Giao Thừa đón rước ông bà quá vãng về vui Xuân với con cháu thì bọn man rợ vô thần dép râu, nón tai bèo từ rừng rú, trà trộn vào làn sóng người  đi phố chợ Tết ém quân và vũ khí trong các ổ chuột giao liên, chờ giờ giao thừa pháo nổ vang dội mừng Xuân thì chúng túa ra đường xã súng vào những người lính canh gát ở cứ điểm trọng yếu và cố xâm nhập tấn chiếm doanh trại, các bộ phận khác chia từng nhóm nhỏ vũ trang theo sự chỉ dẫn của các  tổ giao liên nội thành đến từng nhà có ân oán giang hồ trước đó với chúng nó, nhất là những gia đình của cảnh sát đặc biệt, bắt tất cả mọi người trong gia đình trói gô sau lưng, xô đẩy quỳ trước thềm nhà bắn chết tại chỗ. 

Tiểu Khu Nha Trang báo động, Quân Trấn Nha Trang báo động, Yếu Khu Nha Trang gồm các quân trường Đồng Đế, Lam Sơn, Dục Mỹ báo động, tất cả các hạ sĩ quan, sĩ quan phi hành thuộc Không Đoàn 62 phải có mặt tại đơn vị ngay tức khắc bằng mọi phương tiện. Tiểu Đoàn 81Biệt Cách Dù (TĐ81BCD) là đơn vị tổng trừ bị không những của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà còn là đơn vị tổng trừ bị duy nhất của Yếu Khu Nha Trang nên tức tốc nổ súng chiến đấu với địch quân tại trận tiền, mặc dù số đông quân nhân đã được nghĩ phép về vui Tết với gia đình và doanh trại chỉ còn lại năm ba chục binh sĩ và Chỉ Huy Trưởng Yếu Khu Nha Trang là Thiếu Tướng Đoàn Văn Quảng kiêm Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt đang đồn trú ở Nha Trang. 

Vào lúc một giờ sáng, hơn 100 quân nhân các cấp TĐ81BCD với balô, súng đạn lên nòng xuất trại lao vào vùng chiến trận trong bối cảnh tranh tối, tranh sáng, xông vào những mục tiêu bị chiếm đóng theo báo cáo, tình hình cấp bách không kịp điều nghiên trước nên không ngờ rằng địch quân đã nhanh chóng phối trí quân số và đặt vị trí súng nặng trên các tầng lầu cao dọc theo phố xá, nhà cửa của dân chúng dọc theo các trục tiến quân của quân ta. Thiếu Tá Lê Như Tú-Tiểu Đoàn Trưởng 81 Biệt Cách Dù (K11 ĐL) lãnh ngay một tràng 12ly7 vào ngực ngã bật ra sau, Đại Úy Nguyễn Văn Tùng-Đại Đội Trưởng Đại Đội 4 Biệt Cách Dù trúng đạn ngã quỵ xuống mặt đường còn cay nồng mùi thuốc súng, Đại Úy Trần Hoạt Thành-Đại Đội Trưởng Đại Đội 3 Biệt Cách Dù bị một tràng AK quét vào chân ngã nhào xuống như cây chuối bị đốn gốc và trước sau, trái phải không biết còn có bao nhiêu binh sĩ phút chốc trở thành tử sĩ! 

Rạng sáng ngày mùng một Tết, đơn vị tập hợp 90% gần như đầy đủ và tất cả trang bị tối đa hỏa lực xuất kích tấn công càn quét chớp nhoáng không bỏ sót một tên địch nào được sống còn tại thế gian. Đại Úy Nguyễn Quang Vinh TĐ Phó (K14ĐL) bị một chiếc M113 cài số de vì ăn một quả B40 cán ngang người dập nát xương sống, tôi bị một mãnh B40 vào cánh tay trái, di tản ngay về bệnh viện Tổng Hành Dinh trị thương để mỗi buổi chiều ra hành lang ngồi nghe ngóng tin tức đơn vị của mình. 

Qua ngày mùng 2 Tết không còn nghe tiếng súng nổ, tất cả các yếu điểm của thị xã Nha Trang đã được chiếm lại bằng máu và xác cộng quân nằm rãi rác khắp phố phường, người dân đã phát hiện có những tên dép râu chạy lạc ra bờ biển bới cát, đào lỗ, chui thân ẩn trốn như loài đà điểu, dân nắm cẳng lôi ra cùng với một màn “thượng tay, hạ chân” cho vơi cơn tức giận rồi giao cho cảnh sát. 

Sang ngày mùng 5,6 tết, tôi và một số sĩ quan cấp úy của TĐ81BCD phải thay phiên nhau "hầu quan tài" của Cố Trung Tá Lê Như Tú, vị Tiểu Đoàn Trưởng mà tôi chỉ gặp mặt một lần duy nhất khi trình diện đơn vị các đây chỉ hơn một tuần lễ.

Mùa xuân và cái tết đầu tiên trong đời binh nghiệp của tôi là như thế đó. Nó bắt đầu bằng những tràng AK, 12ly7 nổ kinh hoàng trong lòng đường phố thị thay cho những tràng pháo giây nổ lốp bốp dưới chân đoàn lân nhảy múa đang chồm lên cây nêu để đớp lấy xâu giây tiền lì xì, hay ông địa bụng phệ phe phẩy cái quạt; cảnh tượng những quân nhân tản thương lom khom mau mắn khiêng băng ca vượt qua làn lửa đạn nguy hiểm bội phần để mang đồng đội của mình ra sau phòng tuyến với bông băng trắng tinh thấm ướt máu đỏ thay cho những tà áo dài đi trảy hội ở đền chùa, nhà thờ ngày Tết có tiếng tụng kinh phú chúc và lời cầu nguyện mười điều phúc thật thiên chúa toàn năng trước giờ lâm tử. Có nhiều  tiếng khóc thương bi ai thay cho những lời chúc thọ đầu năm, những cành mai vàng còn đang chớm nụ dọc theo phố phường Độc Lập vở chậu gãy cành tan tác thay cho xác pháo năm nào. 

Ôi… quả thật Xuân Mậu Thân là Xuân báo hiệu cho một chuổi dài mùa xuân “xa quê hường nhớ mẹ hiền” sau đó của tôi! Xuân Kỷ Dậu (1969) năm sau, tôi đón Tết ở Làng Cùa quận Hương Hóa - Quãng Trị, Xuân Canh Tuất (1970) “ăn” Tết ở Núi Bà Rá - Phước Long, Xuân Tân Hợi (1971) đóng quân “ăn” Tết ở biên giới Tây Ninh biên giới Việt - Miên, Xuân Nhâm Tý (1972) “đón” Tết ở Quãng Trị, Xuân Quý Sửu (1973) “ăn” Tết nằm ở bệnh viện Đỗ Vinh, Xuân Giáp Dần (1974) đón Tết ở Đèo Phước Tượng, Lăng Cô, Huế, đặc biệt Xuân Ất Mão (1975) “ăn” Tết trong tù! 

Thời gian không bao giờ ngừng lại, mặc cho thế sự thăng trầm, Xuân đến rồi Xuân đi, Xuân mang đến niềm tin yêu hy vọng rồi Xuân lại mang đi, những mùa Xuân này con không về chắc mẹ buồn lắm, những mùa Xuân nếu mai không nở bên triền đồi chân núi tôi cũng không biết Xuân đã về hay chưa, Xuân về những lúc băng giòng sông loang trăng đầy, “lòng muốn vớt ánh trăng thề viết tên em”. 

Rồi cuộc sống cứ thế mà tiếp tục, đồng hồ thời gian vẫn cứ quay, có đến, có đi, nay đã 45 năm cái xuân trôi qua đời tôi với nổi căm hờn vong quốc ngập đầy niềm nhung nhớ bánh tét, bánh chưng với phong pháo đỏ. Mất nước là mất tất cả thì huống chi những mùa Xuân trên quê cha đất mẹ của mình. Bảy năm đón Xuân từ 1976 - 1982 lang thang không nhà không cửa, không gia đình dù vẫn ở quê nhà với thân phận đang bị tầm nã của lũ cú vọ rình rập từng giờ, hằng ngày. 

May mà vượt biển thoát thân được đến bến bờ tự do, tới nay đã trải qua 38 mùa Xuân tha phương nơi đất khách quê người. Hương vị Xuân và Tết của những ngày xưa thân ái như chỉ còn trong ký ức hoài niệm, lung linh ảo giác mùa Xuân của quê hương tôi, trên đất nước tôi thuở thanh bình ngày xửa ngày xưa, chợt đến, chợt đi khi mùa Giáng Sinh và Tết dương lịch vừa qua đi trên đất nước trú thân xinh đẹp này. Nay dù đã tuổi quá niên khi mùa Xuân vừa đến như chào bình minh trước ngõ nơi, tôi lại nhớ đến hàng me già dọc hai bên đường trước nhà ở quê xưa đâm chồi lá xanh non như chợt bừng tỉnh sau một giấc ngũ dài của mùa Đông. Tất cả như trở nên thơ mộng, mầu nhiệm dưới ánh nắng cùng làn gió mát dịu, sắc Xuân trải dài trên khắp nẻo đường làng quê, tiếng chim hót đâu đây khiến tôi bồn chồn, nôn nao như mong đợi và đã mong đợi Tết đến từ lúc còn tuổi thiếu niên tới ngày nay. Ôi đã qua lâu lắm rồi! 
   
Ở nơi đây, vào những ngày giờ này, cũng bàn thờ tổ tiên ông bà, cũng bánh chưng, bánh tét, nhang đèn ngũ quả, cũng cành mai vàng cấm khéo léo trong một bình sành cao cổ lủng lẳng năm mười bao lì xì đỏ hồng vàng óng ánh. Nhưng hình như tất cả những thứ đó mang máng đâu đây có gì không thật, không hồn khó diễn tả được trong tâm tình hoài niệm vấn vương ngày tháng cũ không phai mờ ký ức! Có biết bao hình ảnh quen thuộc đó như vết hằn ẩn tàng trong tâm thức thuở nhỏ mà nay đây bỗng dưng chợt cảm thấy xa lạ với quang cảnh hiện thời khi tôi cùng với vợ tôi lang thang trong các chợ Tết của người Việt Nam ở thành phố Houston có nhiều đồng hương sinh hoạt nhộn nhịp vào những ngày  gần Tết. Tôi đi rão loanh quanh tìm một người thân quen không có. Ông đi qua bà đi lại, kẻ ra, người vào cố tìm một người quen thân chào hỏi, chỉ thấy những gương mặt lạ quắc lạ quơ, tưởng như người đang đi trên phố Bắc mà tôi lại đi tìm ở phố Nam. 

Vợ tôi nấu mấy món ăn theo sở thích của chồng, Bắc thì có thịt đông, dưa chua, Trung thì có bún bò, bánh nậm, Nam thì thịt kho, dưa giá… Nhưng sao cảm thấy “nó” nhợt nhạt như bát nước ốc, không bằng một góc thịt ba lát với canh rau đai khi đón Xuân trên những đồi hoa sim tím thẳm rừng chiều dọc theo biên giới Việt - Miên - Lào bên cạnh những đồng đội đang ghìm tay súng, văng vẳng từ chiếc Radio ấp chiến lược phát tiếng hát "đón giao thừa một phiên gát đêm...". Trong chiến tranh, Xuân đến, Xuân đi, Xuân mang theo tuổi thanh xuân của tôi vào núi rừng bên cạnh bóng dáng tử thần như giỡn mặt trêu người.
 
Chiến tranh chấm dứt, thời bình với "mùa xuân đại thắng" của Văn Tiến Dũng và bọn đồ tể Bắc Bộ Phủ đã giết chết những mùa Xuân còn lại không những của tôi mà của cả dân tộc tôi, tôi không biết còn mấy “cái” Xuân nữa để mỗi buổi sáng thức dậy, bước ra phòng khách nhìn thấy những nụ mai vàng chớm nở, nghe tiếng hát  "đầu xuân năm đó anh ra đi, mùa xuân này nữa anh chưa về..." mới biết rằng mùa Xuân đang đến. Tôi cũng không biết những mùa Xuân tới, năm tới nữa, đầu óc tôi còn tỉnh táo để ngồi vào bàn mổ cò, gõ phiếm đôi ba giòng chúc vui, chúc khỏe, nhắn gửi cho mây gió ngàn phương mang đến cho bạn bè xa gần, và đón hồi âm vài ba bài thơ, dòng chữ “xuất khẩu” của bằng hữu thân thương ở hai đầu nỗi nhớ:

Sáng nay thức giấc, giật mình
Nhìn lên tờ lịch, thấy hình sắp rơi
Ngoài kia tuyết rụng tả tơi
Cái lạnh phủ kín quãng đời thương đau.
(Dương Thượng Trúc)

Nỗi thấu cảm bâng quơ len lén vào hồn, dụi mắt đôi lần để cố xua đuổi những cái không hay không tốt, những phiền não bực dọc khó chịu của năm qua, hy vọng một “cái” gì đó mới hơn, tốt hơn sẽ đến, có mang niềm hạnh phúc mới hay không chẳng cần quan tâm, chỉ biết rằng hạnh phúc mới hay cũ cũng là một sự hạnh phúc xẻ chia. Ta khư khư ôm chặt hạnh phúc một mình, hạnh phúc sẽ trở nên nhỏ nhoi, bé bỏng và tàn tạ. Ta chia xẻ cho nhiều người thì hạnh phúc như dâng tràn và nhân lên gấp bội. Xuân Canh Tý đang tới:“Xuân đang tới đây rồi, Xuân đang tới bên nầy, rồi sang bên kia”. 

Tôi cầu chúc cho quí thân hữu luôn được bình yên, hạnh phúc và thịnh vượng. Cầu cho thế giới hòa bình, con người xích lại gần nhau hơn. Dù cuộc sống hôm nay có bận rộn đến đâu hãy nhớ rằng tình yêu thương con người vẫn là thứ vô giá. “Nó” giúp ta có được những niềm vui trong cuộc sống đời thường nhưng rất vui tươi và mới mẻ, có thêm những tình cảm quý giá, những động lực để tiếp tục thực hiện những dự định của mình trên đường đời. Trái tim ai chẳng một lần rung động khi nhìn những chiếc lá non mơn mởn lung ling trước nắng Xuân ban mai báo hiệu hàng cây trổi dậy sau giấc ngủ dài  mùa Đông. Ngày xuân bên những nụ mai vàng rực rỡ tình Xuân phơi phới, hoa đào nở đỏ thắm lòng người như quên đi mọi ưu phiền của năm cũ để cùng với đất trời bước vào một năm mới với những ước vọng và niềm tin. Đi trong ngày Xuân, những hạt mưa bụi mờ có lẫn trong không gian thoang thoảng mùi hương trầm phảng phất, dẫu là người hờ hững đến mấy, nông nổi đến mấy cũng sẽ thấy lòng mình xao xuyến, bởi Xuân cũng là dịp để mỗi gia đình sum họp, Tết đoàn viên, là dịp để tưởng nhớ ông bà tổ tiên, nhắc nhở con cháu về cội nguồn của dòng họ, của dân tộc đã được đúc kết thành một chân lý vĩnh hằng: “nước có nguồn, cây có cội, chim có tổ, người có tông”. Cũng có lẽ vì thế nên Xuân đến, Xuân đi, rồi Xuân trở lại, mỗi mùa Xuân là một mùa khắc khoải của nỗi nhớ mong! Và cũng bởi thế vẫn tiết Xuân sang, cho dù không biết đã lặp lại bao lần nhưng sao vẫn hồi hộp như lần hẹn đầu tiên làm tâm hồn cũng rạo rực đến diệu kỳ! 

Xuân tươi trẻ mới đến từng  bước chân, mới đến từng những khoảnh khắc ngạc nhiên về sự đổi thay sâu kín tận tâm hồn, khiến ta cảm thấy thời gian trôi nhanh tới không ngờ! Và ta đang đón mùa Xuân mới nữa lại về, mang theo hơi ấm nhẹ nhàng với những luồng sinh khí mới như lay động cỏ cây, đất trời và tâm hồn mỗi người để rồi ta chợt nhận ra mình đã bước sang tuổi mới. Xuân đến cũng mang theo bao nỗi niềm, bao hy vọng và những lời cầu chúc an lành cho năm mới, khiến lòng người thật xốn xang, bối rối. Đi trong ngày xuân bao nhiêu bộn bề lo toan bỗng tan biến chỉ còn cảm giác sẵn sàng đón nhận, sẵn sàng lang bạt theo khí sắc của đất trời lãng đãng và chỉ muốn hít thật sâu không khí mùa Xuân vào lồng ngực, muốn đi thật chậm để được thả mình trong mùi lộc non, mùi hương các loài hoa phơn phớt cùng cái rét cuối mùa như bàn tay mềm mại, âu yếm vuốt ve.

Viết đến đây, cảm xúc về mùa Xuân cũng đã dâng đầy, như đẩy lùi mùa xuân Ất Mão năm 1975 oan khiên, nghiệt ngã vào quá khứ, tự đào huyệt mộ chôn nó vào tận tâm thức của mình, lắng tay nghe giọng ngâm tao đàn của người nghệ sĩ tài hoa Dương Thượng Trúc:

Thương cho mái tóc đổi màu
Đau vì năm tháng dãi dầu gió sương
Súng gươm gãy gánh giữa đường
Tình nhà nợ nước còn vương mối sầu. 
Thời gian vun vút qua mau
Chim xa lìa tổ, biết đâu ngày về
Trầm luân trong cõi u mê
Miếng cơm manh áo, bộn bề lo toan. 
Mội lần tờ lịch sang trang
Niềm đau cố quốc lại càng quắt quay.
Mỗi lần chợt tỉnh cơn say
Nghĩ về thân phận càng cay đắng lòng

Lạnh đâu chỉ tại mùa đông?Ấm đâu chỉ tại mùa Xuân? Tại vì Xuân đã mất khi xa quê mà không biết nước nhà sẽ còn không? Ngoài kia “Xuân đang tới bên này rồi sang bên kia” Thôi thì đón Tết Canh Tí:

Nghêu ngao vui thú yên hàn
Mai là bạn cũ, Hạc là người quen. 

Mũđỏ Trương Văn Út (Útbạchlan)
Houston - Mùa Xuân Canh Tý 2020.

Blog Archive