Showing posts with label thiên nhiên. Show all posts
Showing posts with label thiên nhiên. Show all posts

Friday, August 14, 2026

Sóc, "Nhà Lâm Nghiệp" Nhỏ Bé

Thái-Phúc Nguyễn

Trong những công viên xanh mát, dưới tán cây rợp bóng của các khu rừng, hay ngay tại sân sau những ngôi nhà ở vùng ngoại ô, chúng ta thường bắt gặp những bóng dáng nhanh nhẹn, chiếc đuôi xù phe phẩy và đôi mắt tinh anh. Đó chính là sóc, một trong những loài động vật có vú phổ biến và khá duyên dáng trên Trái Đất.
Mặc dù nhiều người xem chúng là "kẻ quấy rối" khi lục lọi máng ăn của chim, đào bới các loại hoa trồng, cắn phá cây ăn trái...nhưng sự thật là những chú sóc này đang giữ một vai trò sinh thái vô cùng quan trọng, xứng đáng với sự ngưỡng mộ của con người.


Sự đa dạng với khả năng thích nghi kỳ diệu
Trên khắp thế giới, có khoảng 200 đến 270 loài sóc khác nhau, phân bố rộng rãi trên mọi lục địa trừ Úc châu và Nam Cực.

Chúng được chia thành ba nhóm chính: sóc cây, sóc đất và sóc bay. Mỗi nhóm đều có những đặc điểm thích nghi độc đáo để tồn tại trong các môi trường sống đa dạng, từ những khu rừng phương Bắc lạnh giá đến các vùng ngoại ô nhộn nhịp.

Một trong những loài phổ biến nhất tại Bắc Mỹ là Sóc xám miền Đông (Sciuridae). Kích thước trung bình thường thấy nhất vào khoảng trên dưới 50cm. Chúng là động vật ăn tạp các loại hạt, mầm cây và hoa quả.
Điểm đặc biệt nhất ở sóc là khả năng thích nghi phi thường với đôi chân sau có thể xoay 180 độ, giúp chúng leo xuống cây theo tư thế chúi đầu xuống đất một cách dễ dàng.
Ảnh internet - Angie Faye Stephens

Chiếc đuôi xù không chỉ giúp chúng giữ thăng bằng khi nhảy từ cành này sang cành khác, mà còn đóng vai trò như một tấm chăn ấm áp vào mùa đông, hay một chiếc dù bộc gió khi rơi, và cũng là dấu hiệu giao tiếp chính để báo động khi có kẻ thù rình rập.

Sự thích nghi còn thể hiện qua quá trình tiến hóa về màu sắc.
Trước thời kỳ thuộc địa, hầu hết sóc xám ở vùng New England và phía Bắc miền Trung Tây có màu đen để ngụy trang trong những khu rừng rậm rạp. Tuy nhiên, khi cảnh quan thay đổi do con người chặt cây, rừng trở nên thoáng đãng hơn, màu xám đã trở thành màu chính để hòa hợp với môi trường mới. Dù vậy, ở một số khu vực đô thị, sóc đen vẫn còn hiện diện, minh chứng cho sự linh hoạt trong quá trình tiến hóa của loài này.
Chiến lược dự trữ khôn ngoan
Sóc nổi tiếng với tài năng "kiếm ăn" và khả năng dự trữ thực phẩm đáng kinh ngạc. Mỗi năm, một con sóc có thể tích trữ tới 10.000 hạt trên một khu vực rộng 7 héc-ta. Đặc biệt hơn hết là các hạt sẽ được phân loại và chôn riêng từng nhóm tại một vị trí nhất định để giúp chúng sau này dễ dàng tìm lại thức ăn khi cần.

Tuy nhiên, cuộc sống của sóc không hề trơn tru. Khoảng 25% số hạt đã chôn bị các con sóc khác đánh cắp. Để đối phó, chúng cũng biết đánh lạc hướng đối phương bằng cách vờ đào đất chôn hạt vào một cái hố giả tạo nào đó rồi bỏ đi.

Dù thông minh đến đâu, không phải hạt nào cũng được đào lên. Chính những hạt bị lãng quên này đã trở thành nguồn sống cho sự tái sinh của rừng. Sóc được ví như những "người trồng rừng" thầm lặng. Khi chúng chôn hạt sồi hoặc các loại quả khác và sau đó quên mất vị trí, những hạt giống này sẽ nảy mầm vào mùa xuân năm sau. Ước tính, hành động vô tình này của sóc đã góp phần gieo trồng hàng triệu cây xanh mỗi năm, tạo nên nguồn sống thiết yếu cho chim chóc và các loài động vật hoang dã khác.

Vòng Đời Và Sự Sinh Sản
Sóc xám miền Đông có tuổi thọ và vòng đời phát triển khá nhanh. Con cái có thể bắt đầu sinh sản khi mới được 5 tháng rưỡi tuổi. Mỗi năm, chúng có thể đẻ hai lứa, mỗi lứa từ hai đến bốn con non.

Mẹ sóc rất chu đáo trong việc chăm sóc con cái. Chúng thu gom lá và cành cây để làm tổ trên cao (gọi là dray, drey) hoặc tận dụng các hốc cây để nuôi dưỡng con non. Sóc con khi mới chào đời rất yếu ớt: chưa có lông, chưa mở mắt và trọng lượng chỉ khoảng 14 gram. Chúng phát triển nhanh chóng, bắt đầu rời tổ khi được khoảng 10 đến 12 tuần tuổi và đạt đến kích thước trưởng thành hoàn toàn vào khoảng 9 tháng tuổi.

Mặc dù sóc có thể sống tới 15 năm trong môi trường tự nhiên, nhưng thực tế vòng đời của chúng hiếm khi kéo dài đến mức đó.

Răng cửa và thói quen gặm nhấm
Là loài gặm nhấm, sóc có 4 chiếc răng cửa không bao giờ ngừng mọc. Mỗi năm, những chiếc răng này có thể dài thêm tới 14 cm. Để ngăn chặn việc răng mọc quá dài gây cản trở ăn uống, sóc buộc phải liên tục gặm các vật cứng như vỏ cây, hạt và cả các công trình nhân tạo. Thói quen này không chỉ giúp mài mòn răng mà còn là một phần trong chiến lược tìm kiếm thức ăn và xây dựng tổ của chúng.

Sóc bay và Sóc đất: những kỹ năng đặc biệt
Sóc bay: Mặc dù tên gọi là sóc bay, chúng không thực sự bay được mà chỉ có thể lượn. Khả năng này đến từ lớp màng da chuyên biệt gọi là patagium, trải dài từ cổ tay đến cổ chân, phủ đầy lông. Nhờ lớp màng da, sóc bay có thể lướt đi quãng đường hơn 45 mét (150 feet) từ cây này sang cây khác. Chúng thường hoạt động về đêm, sống trong các khu rừng lá kim và lá rụng, khiến chúng trở nên khá kín đáo và khó phát hiện vào ban ngày.

Southern flying squirrel - Photo by Steve Gettle - NVBA

*Úc Châu có loài Sugar glider giống với Sóc bay ở Hoa Kỳ nhưng thật ra chúng là hai loài hoàn toàn khác biệt: sóc bay Hoa Kỳ là động vật có vú thuộc họ Sciuridae, còn sóc bay Úc thuộc họ Petauridae là thú có túi như Kangaroo.

A sugar glider. (Photo via Adobe Stock)

Sóc đất: Nhóm này sống trong các hang ngầm dài từ 1,5 đến 9 mét và nằm sâu từ 0,7 đến 1,2 mét dưới lòng đất. Tại đây, chúng tích trữ thức ăn, nuôi con và ngủ đông qua những mùa lạnh giá. Tuy nhiên, hoạt động đào bới của sóc đất đôi khi gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho con người, như làm hỏng cảnh quan, hàng rào và thậm chí là gây ra mất điện do cắn phá dây điện. Ở nhiều khu vực đô thị, chúng bị coi là loài gây hại.

California Ground Squirrel

Mối liên quan với con người và hệ sinh thái
Mối liên quan giữa sóc và con người đôi khi khá căng thẳng. Nhiều người phải tốn công sức để ngăn chặn chúng khỏi máng ăn của chim, từ việc sử dụng hạt giống tẩm ớt đến việc dùng các hệ thống máng ăn chống sóc phức tạp.

Sóc là nhân tố quan trọng trong sự phát triển của rừng và sự đa dạng sinh học. Chúng giúp phát tán hạt giống, duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái và là nguồn thức ăn cho nhiều loài săn mồi như cáo đỏ hay diều hâu đuôi đỏ. Khi có nguy hiểm, sóc xám miền Đông sẽ phát ra tiếng kêu báo động đồng thời vẫy đuôi để cảnh báo đồng loại, thể hiện bản năng sinh tồn tập thể mạnh mẽ.

Hơn nữa, sự thay đổi màu lông của sóc xám từ đen sang xám cho thấy sự thay đổi của môi trường sống do con người tạo ra, là một minh chứng sống động cho quá trình tiến hóa đang diễn ra ngay trước mắt chúng ta.
Kết Luận
Dù bạn có yêu hay ghét sóc khi chúng lục lọi vườn nhà, bạn cũng không thể phủ nhận rằng sóc là những sinh vật thông minh, linh hoạt và đóng vai trò không thể thiếu trong thiên nhiên. Từ khả năng leo trèo khéo léo, chiến lược dự trữ thức ăn tinh vi, đến vai trò "người gieo mầm" cho rừng cây, sóc xứng đáng được bảo vệ. Thay vì chỉ xem chúng là kẻ quấy rối, hãy nhìn nhận chúng như những "nhà lâm nghiệp" nhỏ bé đang góp phần duy trì sự xanh tươi của hành tinh chúng ta.


VA mùa Hạ 2026

Thái-Phúc Nguyễn
*Tài liệu tham khảo: National Geographic, BBC Earth...

Tuesday, April 21, 2026

CHUỘT NUTRIA

Loai chuột Nutria xuất xứ từ Louisiana, Được treo giải thưởng, cứ 1 đuôi chuột nhà nước Mỹ trả 6 dollars, ghê thật !!! .... Giữ lại chiếc đuôi khổng lồ của nó và gửi đến Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ.

Ở đó, họ đang có chương trình treo thưởng 6 USD, tương đương 153.000 VNĐ, cho mỗi chiếc đuôi chuột Nutria mà bạn bắt được.

....kể từ khi xuất hiện ở tiểu bang Louisiana vào năm 1930, để nhân lên thành một quần thể 20 triệu con. Đỉnh điểm trên mỗi 1 km vuông đầm lầy ở Louisiana, người ta có thể tìm thấy hơn 2.300 con Nutria.

Chỉ cần nhậ̣̣̣p cảng mấy tên bợm nhậu nam kỳ thì chẳng bao lâu sẻ có quán nhậu với chuột xã ớt, quay chảo, quay lu, khìa, xào lá cách, chiên dòn xúc bánh tráng... E rằng Mỹ sẽ sớm ra luật bảo vệ chuột Nutria thôi .

Những con chuột này không chỉ là bữa ăn miễn phí, bạn vừa có thể ăn chúng, lại vừa kiếm được tiền.

Trở thành một người vừa sành ăn, vừa yêu nước lại góp phần bảo vệ môi trường ở Mỹ chưa bao giờ dễ dàng đến thế. Bạn chỉ cần đến một bờ đê gần nhà, tìm một con chuột Nutria, bắt nó về làm thịt.

Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ (FWS) sau đó sẽ ghi nhận việc làm của bạn như một thành tích đáng để tuyên dương.

"Các loài động vật xâm lấn [như chuột Nutria] đang chèn ép động vật hoang dã bản địa, hủy hoại môi trường sống và tàn phá hệ sinh thái", Erin Huggins, người phát ngôn của cơ quan Chính phủ Mỹ cho biết.

"Nhưng thay vì chỉ phàn nàn về chúng, hãy đưa chúng vào menu. Bằng cách ăn thịt các loài này, chúng ta sẽ giảm được số lượng và hạn chế các thiệt hại mà chúng gây ra cho hệ sinh thái, đồng thời bảo vệ được quần thể động vật hoang dã địa phương".

Loài chuột khổng lồ này đang đe dọa nước Mỹ, đến nỗi chính phủ phải khuyến khích người dân ăn thịt chúng

Trong trường hợp bạn chưa biết chế biến thịt chuột Nutria như thế nào, đừng lo lắng, FWS có hẳn một trang web gợi ý các công thực làm thịt chuột mà bạn có thể thử từ món hầm, làm súp, cho đến chuột xào ớt chuông.

"Thịt của chúng rất nạc, mềm và có vị như thịt thỏ", Huggins cho biết.

Nhưng dù bạn có ý định chế biết thịt chuột Nutria thành món gì đi chăng nữa, hãy chú ý một điều: Giữ lại chiếc đuôi khổng lồ của nó và gửi đến Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Ở đó, họ đang có chương trình treo thưởng 6 USD, tương đương 153.000 VNĐ, cho mỗi chiếc đuôi chuột Nutria mà bạn bắt được.

Vì vậy, những con chuột này không chỉ là bữa ăn miễn phí, bạn vừa có thể ăn chúng, lại vừa kiếm được tiền. Tất cả là bởi…

Chuột Nutria đang bị "truy nã" trên toàn nước Mỹ

Nutria là một loài gặm nhấm thuộc họ chuột gai có danh pháp khoa học là Myocastor coypus. Vốn là một loài bán thủy sinh chỉ sống ở Nam Mỹ, nhưng vài thập nien nay, chuột Nutria lại trở thành nỗi ác mộng sinh thái ở Hoa Kỳ.

Mọi chuyện bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, sau khi một thương nhân nào đó có ý tưởng nhập khẩu loài chuột nước này vào Mỹ để nuôi lấy lông. Chuột Nutria đã phục vụ ngành công nghiệp áo lông thú ở quốc gia này trong nhiều thập kỷ, trước khi, chúng tìm được đường trốn thoát khỏi các trang trại nuôi thú tập trung và trở thành một loài hoang dã xâm lấn.

Chỉ một cặp chuột Nutria duy nhất trong một năm có thể sinh tối đa 793 hậu duệ.
Chỉ một cặp chuột Nutria xuất hiện ngoài môi trường đã trở thành vấn đề, bởi loài gặm nhấm này có tốc độ sinh sản cực kỳ siêu việt. Một con chuột cái có thể mang thai tới 3 lần trong 1 năm. Mỗi lần, chúng đẻ trung bình từ 4 đến tối đa 13 con. Tính ra, một cặp chuột Nutria có thể đẻ từ 12 đến tối đa 39 con non trong một năm.

Những con non này cai sữa mẹ chỉ sau 7 tuần, và đạt tới độ trưởng thành trong vòng 3-4 tháng thay vì một năm như các loài động vật kh. Chuột mẹ có thể vừa nuôi con và vừa giao phối để thụ thai lứa tiếp theo chỉ 1 ngày sau khi sinh.

Như vậy, những con chuột con ở lứa đầu tiên đã có thể sinh sản cùng với mẹ mình ngay từ chu kỳ thứ 2. Chúng sẽ đẻ ra từ 16 đến 169 chuột cháu.

Những con chuột cháu này tiếp tục chỉ mất 3-4 tháng để đẻ tiếp thế hệ chuột chắt tiếp theo, từ 64-676 con. Quá trình này song song với chuột Nutria con thế hệ thứ ba, tiếp tục đẻ ra 12-39 chuột cháu non nữa.

Tính ra, chỉ một cặp chuột Nutria duy nhất trong một năm có thể sinh tối đa 793 hậu duệ, bao gồm 52 con, 234 cháu và 507 chắt về mặt lý thuyết. Nếu tính con số trung bình trong vòng đời 3 năm, chúng có thể đẻ 2.356 hậu duệ, với 36 con, 288 cháu, 592 chắt, 704 chút và 736 chít.

Đỉnh điểm trên mỗi 1 km vuông đầm lầy ở Louisiana, người ta có thể tìm thấy hơn 2.300 con Nutria.

Đó là lý do tại sao loài sinh vật này chỉ mất 20 năm, kể từ khi xuất hiện ở tiểu bang Louisiana vào năm 1930, để nhân lên thành một quần thể 20 triệu con. Đỉnh điểm trên mỗi 1 km vuông đầm lầy ở Louisiana, người ta có thể tìm thấy hơn 2.300 con Nutria.

Và đó mới chỉ là con số tính riêng cho một tiểu bang ở Mỹ, từ hơn 70 năm trước. Bây giờ, loài chuột này đã xuất hiện ở 30/50 tiểu bang của Hoa Kỳ, sinh sôi trên cấp độ quần thể ở 16 tiểu bang, từ vùng duyên hải Vịnh Mexico đến bờ Thái Bình Dương và Đông Bắc Đại Tây Dương.

Với tốc độ sinh sản kỷ lục, khả năng thích nghi đáng kinh ngạc và thiếu thiên địch trong tự nhiên, chuột Nutria hiện được coi là một trong những loài xâm hại nguy hiểm nhất nước Mỹ.

Nhưng rốt cuộc, chúng nguy hại thế nào?

Một con chuột Nutria bơi dưới nước có thể trông giống một con capybara, với cái đầu to, hai mắt, hai tai và lỗ mũi đều ở trên đỉnh đầu để quan sát và hít thở. Nhưng bạn đừng để vẻ ngoài đáng yêu đó của nó đánh lừa.

Ngay khi bước lên cạn, loài chuột nước này sẽ lộ nguyên hình là một kẻ phản diện đích thực. Trông chúng như một con chuột cống khổng lồ.

Nutria có thể nặng tới 17 kg, nghĩa là gấp 30 lần cân nặng của những con chuột cống to nhất.

Với kích thước cơ thể trung bình khoảng 40-60 cm, chưa tính 45 cm chiều dài đuôi, một con Nutria có thể nặng tới 17 kg, nghĩa là gấp 30 lần cân nặng của những con chuột cống to nhất.

Sống ở các khu vực ngập nước, chuột Nutria thường ăn thực vật thủy sinh như cỏ nước, lau, sậy. Nhưng một khi lọt được vào khu vực nông nghiệp của con người, chúng sẽ ăn cả ngô, mía và lúa mì.

Một con Nutria cần một lượng thức ăn tương đương ¼ trọng lượng cơ thể chúng mỗi ngày. Nghĩa là chúng có thể ăn tới 4 kg thực vật. Oái oăm ở chỗ, loài chuột nước này lại chỉ thích ăn rễ cây. Một khi chúng đào bật rễ cây lên để ăn, cả cái cây đó sẽ chết.

Mức độ tàn phá sinh khối thực vật của một con Nutria vì vậy tăng lên gấp 10 lần lượng thực vật mà chúng thực sự ăn. Các nhà khoa học cho biết ở những khu vực mà Nutria xuất hiện, ít nhất 40% thảm thực vật sẽ bị phá hoại.


Nutria chỉ thích ăn rễ cây. Một khi chúng đào bật rễ cây lên để ăn, cả cái cây đó sẽ chết.

Khi thảm thực vật bị phá hủy với tốc độ nhanh, đất đai mất đi lớp rễ cây giữ chặt sẽ trở nên dễ bị xói mòn và sạt lở, đặc biệt ở những vùng đất ngập nước hoặc ven sông. Điều này sẽ làm mất môi trường sống của nhiều loài động vật khác, từ côn trùng, chim chóc đến các loài thủy sinh, gây rối loạn cân bằng sinh thái.

Lấy ví dụ, ở khu bảo tồn sinh thái Blackwater National Wildlife Refuge ở Maryland, chuột Nutria đã xâm chiếm khoảng 2.832 ha đất ngập nước, nơi từng là nơi sinh sống của các loài chim nước bản địa như vịt đen Mỹ (Anas rubripes).

Số liệu từ Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ cho thấy quần thể vịt đen ở đây đã suy giảm tới 50% từ năm 1930 đến 1990 sau sự xuất hiện của chuột Nutria.

Tương tự tại vùng đồng bằng Sacramento-San Joaquin ở California, từ năm 2018, chuột nutria phá hủy 25% thảm thực vật ven đê, làm suy yếu môi trường sống của các loài cá bản địa như cá hồi Chinook (Oncorhynchus tshawytscha), vốn đã giảm 80% quần thể từ năm 1980.

Quần thể chuột xạ hương (Ondatra zibethicus), một loài gặm nhấm bản địa ở Louisiana, cũng đã bị suy giảm 30% vì sự xuất hiện của Nutria. Trên thực tế, loài chuột ngoại lai này thường cướp hang của chuột xạ hương bản địa và đẩy chúng vào cảnh không nhà.

Và bởi chuột Nutria to gấp rưỡi chuột xạ hương, hang của chúng cũng to và sâu gấp rưỡi loài chuột bản địa này.

Hậu quả là sau khi cướp nhà của chuột xạ hương, chuột Nutria sẽ đào chúng ra thành những chiếc hang khổng lồ, rộng tới 30 cm và dài tới 15 mét. Cá biệt, có những hang chuột Nutria dài tới 45 mét đã được xác nhận ở một số khu vực.

Việc hang của chuột xạ hương bị thay thế bởi hang Nutria đã khiến hệ thống cơ sở hạ tầng như đê điều, mương thủy nông, kè sông và đường sá ở Mỹ vốn không được chuẩn bị cho tình huống này bị suy yếu. Nutria đe dọa cả móng nhà và bến tàu ở các khu vực đất ngập nước mà chúng sinh sống.

Ước tính mỗi năm, loài động vật này gây ra thiệt hại lên tới hàng chục triệu USD cho hoạt động kinh tế, nông nghiệp và cơ sở hạ tầng ở các tiểu bang Hoa Kỳ. Đó là chưa kể đến những thiệt hại to lớn, vĩnh viễn và không thể đong đếm được trên hệ sinh thái mà sự xâm lấn của loài động vật ngoại lai này gây ra.

Một khu vực đầm lầy bị chuột Nutria tàn phá.

Người ta đã rào một khu vực nhỏ lại để ngăn không cho chuột Nutria phá phách.


Sau khi thảm thực vật phát triển trở lại.

Khu vực rào chắn được bảo vệ phát triển tốt hơn rất nhiều.

So với thảm thực vật bị Nutria tàn phá xung quanh.

Thưởng tiền cho thợ săn chuột Nutria, khuyến khích người dân ăn thịt chúng

Để chống lại cuộc xâm lược của loài chuột khổng lồ này, từ năm 2002, bang Louisiana đã triển khai một chương trình tiễu trừ Nutria trên diện rộng. Ban đầu, họ sử dụng các loại bẫy mồi đơn giản để bắt Nutria. Nhưng khi số lượng quần thể loài chuột này tăng lên, bẫy mồi đã không còn tác dụng đáng kể.

Chính quyền tiểu bang sau đó chuyển sang đánh bả chuột Nutria trên diện rộng bằng các bè chứa thức ăn được ngâm trong kẽm photphua, một loại thuốc diệt chuột đắt tiền. Vấn đề là kẽm photphua có thể tiêu diệt cả các loài chuột bản địa khác và hóa chất này cũng độc hại khi tồn tại lâu trong môi trường.

Đây là lúc ý tưởng treo thưởng cho các thợ săn chuột được tính đến.

Dưới sự hậu thuẫn của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, Sở Động vật hoang dã và Thủy sản Louisiana đã đưa chuột Nutria ra khỏi danh sách động vật hoang dã, vốn bị cấm săn bắn. Thay vào đó, họ còn cấp phép và khuyến khích các thợ săn diệt trừ loài chuột xâm lấn này. Mỗi chiếc đuôi chuột Nutria thu thập được, các thợ săn sẽ được thưởng 4 USD. Số tiền thưởng thập chí còn tăng lên 6 USD từ năm 2007.

Kết quả của chương trình treo thưởng rất đáng kích lệ khi ngay trong năm đầu tiên, 2002-2003, đã có hơn 300.000 con Nutria đã bị tiêu trừ. Hơn 1,2 triệu USD tiền thưởng đã được giải ngân.

Đỉnh điểm trong mùa 2009-2010, hơn 445.000 chiếc đuôi chuột Nutria đã được thu thập, giải ngân khoản tiền thưởng hơn 2,2 triệu USD cho các thợ săn.

Chính quyền Louisiana ban đầu không quan tâm đến việc các thợ săn Nutria sau khi chặt đuôi Nutria sẽ làm gì với thịt của nó. Nhưng có một công ty đã được thành lập ở tiểu bang này chuyên đi thu mua thịt chuột Nutria để chế biến thành thức ăn cho chó.

Một thợ săn chuột Nutria.

Năm 2012, công ty có tên là Marsh Dog đã được trao giải thưởng "Doanh nghiệp bảo tồn môi trường của năm", vì ý tưởng tận dụng loại protein từ thịt chuột Nutria một cách bền vững.

Các thợ săn Nutria từ đó có thể thu thập đuôi chuột để kiếm tiền thưởng, bán thịt chuột cho công ty sản xuất thức ăn thú cưng, và họ còn có thể quên góp lông của chúng cho Righteous Fur, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên thu thập lông Nutria để giới thiệu nó trở lại ngành thời trang lông thú, trước đây từng bị lên án mạnh mẽ vì góp phần đẩy nhiều loài động vật có lông vào nguy cơ tuyệt chủng.

Righteous Fur, đúng như tên gọi của nó là "Lông thú chính nghĩa", muốn kết hợp việc sử dụng lông Nutria vào việc giáo dục công chúng về các giải pháp bảo vệ môi trường bền vững, tập trung vào các vùng đất ngập nước mà Nutria đang tàn phá.

Chuột Nutria được đem vào Mỹ từ thế kỷ 19 để phục vụ ngành thời trang lông thú.

Trong một nỗ lực gần đây nhất để kiếm soát chuột Nutria, Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ (FWS) đã đưa loài động vật này vào một "menu" 5 loài động vật xâm lấn mà con người có thể ăn để bảo vệ môi trường.

Họ đang cố gắng thuyết phục người dân Mỹ ăn thịt chuột Nutria vì thịt của loài vật này "rất nạc và ngon". Phân tích thành phần cho thấy thịt Nutria chứa tới 25% protein, trong khi rất ít chất béo, chỉ khoảng 3-5% so với 20% béo ở thịt bò. Ngoài ra, thịt Nutria còn chứa nhiều khoáng chất như sắt và kẽm rất tốt cho sức khỏe.

Một số món ăn chế biến từ thịt Nutria.

Để tăng thêm phần hấp dẫn cho chiến dịch kêu gọi, cơ quan chính phủ Mỹ từng mời một số đầu bếp nổi tiếng sáng tạo ra các món ăn từ thịt chuột Nutria như món súp gumbo, xúc xích, thịt hầm. Những đầu bếp cũng xác nhận vị thịt của loài chuột này về cơ bản ngọt và ngon như thịt thỏ. Nó cũng có vị giống thịt gà và mọi người đều có thể ăn được.

Một số món ăn chế biến từ thịt Nutria.

Mặc dù vậy, nhiều người dân Mỹ vẫn thờ ơ với lời kêu gọi ăn thịt chuột Nutria của FWS. Các khảo sát cho thấy phần lớn họ không thoát được khỏi so sánh Nutria với một con chuột khổng lồ, loài vật mà trong văn hóa Phương Tây vốn bị kinh sợ và họ không có truyền thống ăn thịt chúng.

Thanh Long


Sunday, April 5, 2026

Cảnh tượng kỳ thú dưới biển tại Indonesia

Hải quỳ bám vào cua biển để đi nhờ là một trong những hình ảnh ấn tượng nhất mà các nhà khoa học chụp được trong chuyến thám hiểm vùng biển thuộc Indonesia gần đây.


Các nhà khoa học thuộc Cục Hải dương và Khí quyển Mỹ (NOAA) cùng các nhà khoa học Indonesia vừa thực hiện một cuộc thám hiểm dưới đáy đại dương gần đảo Sulawesi của Indonesia.

Họ đi bằng tàu Okeanos Explorer của Mỹ và sử dụng những tàu ngầm mini được điều khiển từ xa để khám phá đáy biển.


Con sao biển 10 chân này được phát hiện ở độ sâu 270 m vào ngày 2/8. Phần lớn sao biển chỉ có 5 chân.


Huệ biển là tên một loài đông vật da gai giống loài nhím biển, có khả năng chạy trốn khi gặp nguy hiểm.

Chúng là nhóm động vật da gai cổ nhất còn tồn tại đến ngày nay, với khoảng 5.000 loài hoá thạch và hơn 600 loài hiện sống.


Cá chào mào đỏ có nhiều bộ vây khác nhau trên cơ thể, mỗi loại có một chức năng riêng. Chẳng hạn, một bộ vây giúp cá bơi, còn một bộ khác cho phép nó bám xuống đáy biển.


Hải sâm bơi trong tầng nước lạnh giá ở độ sâu 3.200 m. Khoảng 1.250 loài hải sâm đang sống trong các đại dương. Chúng có thân hình trụ với lớp da dẻo, tròn bóng và có thể có gai sần sùi

Một con sao biển gai bò qua cây san hô bubblegum.

Tôm hùm chân dài bám vào bọt biển.

Một con cá mập ma gần đảo Sulawesi. Chúng và họ cá mập có cùng tổ tiên, song tiến hóa theo hai hướng khác nhau từ 400 triệu năm trước.

Một cây san hô cứng ở độ sâu 1.400 m. Nó đã tồn tại từ 1.000 tới 6.000 năm.

Tam giác San Hô là vùng biển có độ đa dạng sinh học cao nhất
thế giới. (Ảnh: The Time).

Một chú tôm "bọ ngựa".

Loài cá ngựa nhỏ nhất thế giới Hippocampus Denise.

Loài cá mú đốm xah pinephelus sp độc đáo.

Sứa biển khổng lồ.

San hô.

Một cây huệ biển (Feather star).

Loài san hô Tubipora musica.

Trai khổng lồ.

(Ảnh: National Geographic)






Blog Archive