Showing posts with label DUY NHÂN. Show all posts
Showing posts with label DUY NHÂN. Show all posts

Tuesday, January 27, 2026

25 NĂM VIẾT VỀ NƯỚC MỸ

Khi được người em vợ bảo lãnh đi Mỹ thì tôi đã 54, vợ tôi 47, đứa gái lớn 18 và em trai nó 14. Tôi và bà xã thì vừa đi làm, vừa đi học college để có thêm Financial Aid nuôi hai con, một đứa vào đại học, một đứa lớp 9. Thời gian vụt qua rất nhanh đối với một đời người nhưng chỉ là cái chớp mắt của lịch sử. Không biết ai nói câu đó nhưng tôi thấy quá đúng. Một vài năm sau khi cuộc sống nơi quê người ổn định thì tôi bắt đầu viết về nước Mỹ, từ năm 2001 cho đến nay cũng được 25 năm, một phần tư thế kỷ! Mới đó mà tôi đã 83. Ngoảnh lại phía sau: Cả một đoạn đường dài; ngước nhìn phía trước: đường đi cứ ngắn dần.

Đời sống ở Mỹ theo cái nhìn của tôi rất muôn màu muôn vẻ, với đầy đủ đắng cay, chua chát, mặn nồng. Dòng đời có những lúc êm như suối mơ, có những lúc dữ dội sóng cuồn, lại có lúc éo le, gay cấn, bất ngờ và l‎ý thú hơn tất cả những gì con người có thể tưởng tượng được. Do đó, khi viết về nước Mỹ tôi chỉ viết những gì đang diễn ra trước mắt mà không tưởng tượng, không hư cấu như một nhà văn, tôi không phải là nhà văn.

Tên gọi đầy đủ: Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, hình thành bởi nhiều chủng tộc nên có nền văn hóa hết sức phong phú, đa dạng. Hàng ngày có biết bao điều xảy ra mà tưởng chừng như là tiểu thuyết. Người ta dùng rất nhiều từ khác nhau khi nói về nước Mỹ: Đó là đất nước vĩ đại, đất nước lạnh lùng, đất nước của cơ hội, đất thiên đàng, và cả…địa ngục! Nhiều người rất ghét nước Mỹ nhưng lại đổ xô đến nước Mỹ, muốn con em họ được học hành ở Mỹ. Cũng có nhiều người nhìn thấy nước Mỹ rất nhân đạo và dễ thương. Không ít dân tộc, không ít người chịu hàm ơn nước Mỹ, trong đó có người Việt Nam, nhất là người Việt tị nạn hình thành ở nước này từ sau ngày 30/04/1975 đã là 50 năm.

Nhiều thế hệ người Việt vẫn đang có mặt ở Mỹ: Từ thế hệ thứ nhất, đến thế hệ một rưỡi, tiếp theo là thế hệ thứ hai, thứ ba sinh ra và lớn lên ở Mỹ. Viết về nước Mỹ cũng có nghĩa là viết về cộng đồng người Việt ở Mỹ. Tôi mặc dầu đã là công dân Mỹ nhưng suốt đời vẫn là người Việt Nam, tự hào mang trong mình dòng máu Việt Nam. Quê hương vẫn cứ chập chờn hiện ra trong từng miếng ăn, giấc ngủ, lúc đi, đứng, nằm ngồi, khi lất phất mưa bay hay mịt mùng bão tuyết! Đó là lý do tại sao bài viết nào của tôi cũng thấm đậm tình tự quê hương như nhà thơ Đỗ Trung Quân mô tả :

Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bóng vàng bay ...

Quê hương tôi đó, nơi tôi sanh ra và lớn lên từ lúc còn tấm bé cho đến khi cắp sách tới trường. Tốt nghiệp đại học Luật Khoa Sàigòn, tôi làm việc ở Ngân Hàng Quốc Gia rồi nhập ngũ khi “ Mùa Hè Đỏ Lửa” cháy rực vào năm 1972. Rồi ngày 30/04/1975 ập đến, tôi cũng trải qua biết bao là đắng cay của chánh sách “ học tập cải tạo” như trăm ngàn thanh niên cùng thế hệ.

Thân phận của một cá nhân, một gia đình không tách rời khỏi thân phận quê hương, đất nước. Khi đất nước ngã nghiêng, chao đảo thì từng gia đình, từng con người cũng chịu chung số phận. Bài đầu tiên tôi viết về nước Mỹ là bài “Người Không Nhận Tội”, gửi Việt Báo ngày 01-11-2001 viết về một người bạn tôi, anh đã ngã gục trong tù chỉ vì cương quyết không nhận mình là người có tội theo sự quy chụp của “bên thắng cuộc”. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, anh trối lại với tôi khi được thả về thì tìm gia đình anh để nói lên sự thật về trại tập trung và hoàn cảnh của anh, và tôi đã hứa.

Tôi được về cuối năm 1977, không thể tìm được gia đình anh nên tôi bắt tay vào viết lại câu chuyện của người bạn quá cố. Ở Việt Nam có mấy trăm tờ báo, toàn là báo đảng và chánh quyền, đâu có báo nào chịu đăng bài viết của tôi. Nghĩ vậy nên viết đến nửa chừng thì tôi ngưng lại vì còn phải lo chuyện cơm áo, gạo tiền trong hoàn cảnh vừa mới ra tù. Tôi kẹt lại ở Việt Nam đến 20 năm. Vì có bằng đại học, và chuyên môn về ngân hàng, tài chánh, kế toán nên tôi xin việc làm không khó lắm, mặc dầu tôi là nhân viên chế độ cũ nhưng rất được tin tưởng và nể trọng bởi chánh quyền mới. Có lần tôi được bổ nhiệm làm Tổng Giám Đốc một Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần của tập đoàn người Đài Loan. Khi đi “học tập cải tạo” về tôi mới lấy vợ và có hai con.

Khi được sang tới Mỹ thì tôi viết tiếp câu chuyện về bạn tôi để đăng báo. Đó là lý do tại sao một câu chuyện, một bài báo mà phải mất trên 20 năm mới hoàn thành. Có phải đây cũng là một kỷ lục chưa được gọi tên đối với một người viết văn? Khi bài viết của tôi được Việt Báo đăng lên thì vài ngày sau tôi nhận được tin tức từ mấy người em của anh, một người ở Pháp và hai người khác ở Texas. Họ nói đã đọc được bài viết Người Không Nhận Tội và chúng tôi hẹn gặp nhau nói chuyện nhiều hơn trên điện thoại. Vậy là tôi đã trút bỏ được gánh nặng đè lên tâm tư từ hơn 20 năm và hoàn thành lời hứa đối với người quá cố, dầu có muộn màng. Tôi muốn được mượn cơ hội này để một lần nữa cám ơn Việt Báo và diễn đàn Viết Về Nước Mỹ đã tạo cơ hội cho tôi được trang trải nỗi lòng trên trang giấy, và điều kỳ diệu đã đến. Từ đó, tôi gắn bó với Việt Báo cho đến hôm nay. Âu cũng là duyên nợ!

Hai mươi lăm năm qua, giờ nhìn lại tôi thấy đã viết khá nhiều bài với nhiều chủ đề và nội dung khác nhau như: Đẹp Đạo- Đẹp Đời, 25 Năm Một Nỗi Niềm, Quê Người- Quê Nhà, Phía Bên Kia Thiên Đường, Đất Nước Này Đâu Phải Của Riêng Ai, Thông Điệp Cho Người, Việt Kiều Về Quê, Bão Tố Trong Tách Trà, Sân Khấu Cuộc Đời, Hạnh Phúc Tuổi Già, Tam Đại Đồng Đường,… Đặc biệt khi viết về con tôi (bài Viết Cho Con Nhân Ngày Father’s Day) và bốn đứa cháu tôi thì tôi thấy ngập tràn hạnh phúc, tôi sôi nổi và phấn khích hẳn lên mà không biết tại sao. Nhiều bạn đọc và bạn văn quan tâm, hỏi thăm và chúc mừng. Hai lần tôi được nhận giải Danh dự gần đây đều có hai bài viết về đứa cháu ngoại (bài Giữ Cháu Ngoại) và cháu nội (bài Xin Đừng Đẻ Nữa) của tôi. Còn nhiều bài viết về cháu tôi, sẽ lần lượt gửi cho Việt Báo.

Một vị có uy tín và trách nhiệm trong ban biên tập nói rất trân trọng những bài viết của tôi và đề nghị tôi in thành sách vì nó thực tế và sát với thời cuộc. Thật tình thì tôi chưa nghĩ đến việc này. Theo cái nhìn của tôi thì hàng ngày ở Mỹ này có biết bao điều xảy ra ly kỳ và lý thú. Nếu để nó trôi qua hoặc mai này khi tôi mất đi mà không ghi lại được điều gì thì uổng lắm! Bài “8 Giờ Đầu Trên Đất Mỹ” tôi ghi lại cảm giác và cảm tưởng đầu tiên của tôi khi đặt chân đến nước Mỹ vào tháng 7 năm 1997. Nước Mỹ qua cái nhìn đầu tiên của tôi là hoàn toàn mới lạ, đưa tôi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác, nhất là khi liên tưởng tới Việt Nam, nơi tôi sinh ra, lớn lên mà tôi vừa mới rời khỏi trước đây mười mấy tiếng đồng hồ: Nào là hệ thống xa lộ, tính cách của người Mỹ yêu hoa, yêu thú vật mà tôi nhìn thấy trên đường đi, khi vào quán ăn hay nơi công cộng người Mỹ đều xếp hàng có trật tự, không chen lấn như ở Việt Nam, đây là văn hóa. Mặc dầu không hề quen biết nhưng khi gặp nhau ngoài phố, người Mỹ thường nở nụ cười thân thiện và chào hỏi mình nhiệt tình như đã thân nhau tự thuở nào. Ấn tượng nhất khi tôi nhìn thấy người Mỹ vừa nhâm nhi ly cà phê, vừa đọc báo ở trạm chờ xe bus đến sở làm. Tôi thầm nghĩ người Mỹ quí trọng thời gian như vậy thì đất nước họ không giàu mới là lạ. Trong khi đó ở Việt Nam người ta sống với khẩu hiệu bất thành văn:“ chân ngoài dài hơn chân trong”. Chân trong để giữ việc làm ở cơ quan, xí nghiệp với đồng lương chết đói, còn chân ngoài phải dài đủ để đi chạy chọt, mánh mung kiếm thêm thu nhập bên ngoài.

Khi vào trạm đổ xăng tôi thấy em tôi tự đổ xăng, tự trả tiền bằng thẻ ngân hàng là xong. Em giải thích ở Mỹ không những người ta tiết kiệm thời gian mà còn tiết kiệm nhân lực nữa vì tiền công lao động tính theo giờ và rất mắc. Ở đây người ta chi trả bằng thẻ tín dụng qua ngân hàng mà ít khi sử dụng tiền mặt. Phương tiện thanh toán này giúp cho việc lưu thông tiền tệ được nhanh chóng và dễ dàng, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế mau phát triển. Khi tôi rời Việt Nam thì kỹ thuật tài chánh này chưa được phổ biến. Tệ hơn, nhà nước còn áp dụng chính sách bao cấp theo kiểu “xin, cho”, theo cái gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa: Ngân hàng trung ương giao định mức tín dụng cho từng ngân hàng thương mại theo từng thời kỳ. Ngân hàng nào cho vay hết định mức mà muốn tiếp tục thì phải mua thêm định mức, nếu không thì cứ việc “ngồi chơi xơi nước”! Được tiếp xúc với định chế tài chánh ngân hàng tư bản, có lẽ giờ đây Việt Nam đã có thay đổi, nhất là khi được vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO?

Sau một thời gian cùng với mọi người hội nhập vào xã hội Mỹ thì đề tài tôi viết đi sâu vào từng vấn đề của xã hội Mỹ hơn, từ vấn đề đơn giản đến vấn đề nhức nhối, phúc tạp nhất như nền giáo dục Hoa Kỳ, quản lý kinh tế ở Mỹ, chuyện láng giềng ở Mỹ, chuyện đi câu cá, đi chụp hình, chuyện sinh hoạt văn học, nghệ thuật, sinh hoạt tôn giáo, chuyện viết văn ở Mỹ,… Truyện “Tôi Và Nước Mỹ” Việt Báo đăng ngày 23/12/2001 được trao giải Đặc biệt năm 2002 với nhận xét “tinh tế trong cách nhìn và cách viết”. Bài này tôi viết sau sáu năm sống ở Mỹ. Tôi nói tôi đi Mỹ vì muốn cho hai đứa con tôi có tương lai chớ thật tình tôi không thích nước Mỹ về nhiều phương diện văn hóa, xã hội như bạo lực học đường, trụy lạc trong lối sống, kể cả chánh trị có nhiều điều khập khễnh, vì phe nhóm, đảng phái hơn vì nhân dân. Tôi có cảm giác như vậy khi biết Tổng Thống đắc cử George W Bush được 4,3 triệu thành viên của hiệp hội súng trường Hoa Kỳ NRA ủng hộ và nhận được quá nhiều tiền của họ trong khi vận động tranh cử. Thức ăn Mỹ thì hoàn toàn không thích hợp với tôi.

Biến cố ngày 11/09/2001 xảy ra đã làm thay đổi tất cả. Tổ chức khủng bố người Ả Rập Alqueda do Osama Bin Laden cầm đầu dùng 19 tên không tặc cướp bốn chiếc máy bay Boeing của hai hảng United Airlines và Amercan Airlines đâm vào tòa tháp đôi, bộ quốc phòng và nhắm thẳng vào tòa Bạch Ốc nhưng không thành, gây thiệt mạng hơn 6000 người dân vô tội. Tổng Thống George W Bush tuyên bố “Hoặc là các bạn đứng về phe chúng tôi hoặc đứng về phe khủng bố”. Nhiều người cho rằng nước Mỹ là đất thiên đàng, cũng có người nói là địa ngục. Từ Chicago, qua màn ảnh truyền hình tôi đã thấy rất rõ địa ngục thật sự đã diễn ra giữa trần gian, nhưng biến cố này làm cho người dân thức tỉnh và đoàn kết nhau hơn, và yêu nước Mỹ nhiều hơn, trong số đó có tôi.

Năm 2004 tôi có viết hai bài về Câu Lạc Bộ 309.81 ở Chicago. Cái tên rất lạ mà nhiều người chưa từng nghe thấy. 309.81 là ước số quốc tế để chỉ căn bệnh gọi là Hội Chứng Tâm Thần Sau Chấn Thương Và Tress (Post traumatic stress disorder syndromes) mà sau chiến tranh người lính thường mắc phải. Ở đây là người lính Việt Nam Cộng Hòa được sang Mỹ sau ngày 30/04/1975. Không phải họ bị ruồng bỏ, rẻ khinh nhưng có đời sống ầm thầm, lặng lẽ. Không phải họ điên khùng gì nhưng họ sống nửa mê, nửa tỉnh, lúc quên, lúc nhớ. Họ giận dữ, la hét, buồn vui thất thường mỗi khi họ nghe và thấy những hình ảnh của chiến tranh trong quá khứ ùa về. Hiện tại vẫn chưa có phương thuốc nào hữu hiệu dành cho họ trừ liều thuốc an thần khi cần thiết. Họ được tập họp, sinh hoạt chung dưới sự hướng dẫn của bác sĩ, các chuyên viên tâm lý học để cho căn bệnh không nặng thêm, không đưa tới kết quả tai hại hơn.

Các bạn trẻ, các bà, các cô và những ai muốn biết đời sống của người lính Việt Nam Cộng Hòa trong chiến tranh như thế nào có thể tìm đọc bài “Thư Gửi Người Lính Năm Xưa” để thương người lính hơn. Viết về người lính mà bỏ quên người vợ lính là một thiếu sót lớn. Tôi viết về “Chị Sui” của tôi khi chị 88 tuổi. Chị người Bắc di cư năm 1954, là vợ của một trung tá Hải Quân, làm việc ở Bộ Tư lệnh Hải Quân, bến Bạch Đằng, Sàigòn. Ngày chồng đi tù ngoài Bắc một tay chị ở nhà chạy ngược chạy xuôi, vừa lo miếng ăn cho bốn đứa con nhỏ, vừa tiếp tế, thăm nuôi chồng ngoài Bắc. Đồng thời chị còn chăm sóc cha mẹ và gia đình bên chồng, vì các anh em bên chồng đều là sĩ quan cao cấp và đi tù như chồng chị. Chị đã gom góp hết tiền bạc, chạy chọt lo cho chồng về sớm. Năm 1980 anh được tha chị lại lo cho anh vượt biên. Khi tới được nước Mỹ thì chồng chị bảo lãnh cho chị và các con qua Mỹ theo diện ODP, nhưng sau đó lại bỏ chị và bốn đứa con để chạy theo người đàn bà khác. Chị ở vậy nuôi con ăn học thành tài, ai cũng yên bề gia thất. Năm nay chị đã ngoài 90 và còn khỏe mạnh. Câu chuyện về chị sui tôi không chỉ có ý nghĩa trong gia đình mà còn có ý nghĩa lịch sử: “Khi nước mất thì nhà tan”. Chị là người vợ lính tiêu biểu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vì sa cơ, thất thế mà phải gánh chịu nhiều đau thương, mất mát từ sau ngày oan nghiệt đó, kể cả sau khi đặt chân tới nước Mỹ. Chúng ta đã có tượng đài người lính VNCH, tại sao không có tượng đài của người vợ lính, hay ít nhất cũng có một ngày để vinh danh những người vợ lính? Đó là điều mà tôi trăn trở. Các đảng phái, các tổ chức đấu tranh, các hội đoàn, đoàn thể nghĩ sao?

Năm 2005 tôi viết “Chuyện Vượt Biên”, Việt Báo đăng hai kỳ với nhận xét “truyện kể rất sống động và xúc động về cuộc vượt biên với đầy đủ thảm cảnh giông bão, hải tặc và những di lụy sau đó ”. Đây là bài viết theo lời kể của chị sui tôi về cuộc vượt biên năm 1985 của chồng chị. Bài này không những giúp bạn đọc hiểu được thảm cảnh của thuyền nhân sau ngày 30/04/1975 mà còn hiểu được định mệnh nó cay đắng, khắc nghiệt như thế nào. Tại sao chị sui tôi và ông chồng phải chia tay sau khi hai người đã trùng phùng tại Mỹ vào năm 1991: Chồng chị và người đàn bà thứ ba đã gặp nhau và cưu mang nhau trên con tàu vượt biên và người này đã có con với chồng chị. Khi ba người giáp mặt nhau thì người đàn bà ngỏ ý trả chồng lại cho chị, nhưng chị sui tôi cương quyết không nhận. Chị nói nếu anh không ra khỏi nhà thì chị cắn lưỡi mà chết. Câu chuyện thật nhưng tưởng chừng như là tiểu thuyết! Phải nói tôi là người may mắn được chị sui tin tưởng và kể hết câu chuyện của đời chị cho tôi nghe. Tôi suy nghĩ hoài mà vẫn không tìm ra được câu trả lời thỏa đáng cho thắc mắc của mình. Trách anh, trách chị hay trách người đàn bà kia? Suy ra cho cùng thì chẳng ai có lỗi, chẳng ai muốn như vậy. Chẳng qua là không ai có thể vượt lên được cái số của mình?

Cảnh nước mất nhà tan, gia đình phân ly trên nước Mỹ này không phải là hiếm nhưng câu chuyện giống như của chị sui tôi phải nói là đặc biệt và không phổ biến. Sau ngày 30/04/1975 người Việt tị nạn tản mát khắp nơi trên thế giới, khi có cơ hội gặp và giúp đỡ nhau thì ai cũng sẵn sàng. Trong nhóm bạn già của tôi có một cựu quân nhân sinh năm 1942, tên là Nguyễn Thắng Thương không vợ không con, sống một mình trong căn phòng ở tầng thứ 14 của một cao ốc do nhà nước cấp. Từ năm 2012 anh bị ung thư hạch. Năm 2017 bệnh tình anh trở nặng. Bệnh viện địa phương cử một y tá đến tận nhà chăm sóc cho anh. Y tá Linh Nguyễn sinh năm 1971 cùng ba mẹ đến Mỹ năm 1992 theo diện HO-10. Trên nguyên tắc mỗi ngày y tá phục vụ bệnh nhân hai tiếng đồng hồ. Thực tế cháu Linh túc trực chăm sóc anh Thương có ngày lên đến 8 tiếng cho đến khi anh mất vào tháng 4 năm 2023. Cháu Linh và nhóm bạn chúng tôi cùng nhau lo hậu sự cho anh Thương. Có một điều cần nói rõ về cháu Linh: Bản thân cháu Linh cũng bị bệnh tim và suy thận từ năm 2001, đã chờ đợi 10 năm trong một danh sách 1500 người mới được thay thận vào năm 2020. Người hiến tặng quả thận cho cháu Linh là một bà Mỹ trắng. Chi phí ghép thận trên một triệu đồng do bảo hiểm chi trả. Trong lúc chăm sóc cho anh Thương, cháu Linh vẫn phải đi lọc thận ba lần một tuần, mỗi lần 4 tiếng đồng hồ. Tôi gọi nghĩa cử cao đẹp như cháu Linh là “ Tình Người Viễn Xứ”. Viễn xứ là xứ ở xa, Hoa Kỳ cách Việt Nam đến nửa vòng trái đất với nhiều sắc dân từ các châu lục khác nhau mà người ta cư xử với nhau thật là tình nghĩa, cho dầu không có họ hàng, bà con thân thiết gì với nhau. Có người đã hiến một phần thân thể của mình cho người xa lạ như bà Mỹ trắng kia đã hiến một trái thận của mình cho cháu Linh và cháu Linh đã giúp đỡ tài chánh để cứu rất nhiều người ở Việt Nam, đã hy sinh phục vụ không điều kiện để chăm sóc cho anh Nguyễn Thắng Thương.

Điều gì đã khiến người ta làm như vậy? Tùy vào tín ngưỡng và góc nhìn, mỗi người sẽ có cách lý giải khác nhau. Dầu đứng trên quan điểm nào chúng ta cũng có lý do để tin rằng giữa cảnh đời bon chen và phức tạp này còn có những gì thiêng liêng cao quí. Cuộc đời này vẫn rất tốt đẹp và đáng sống biết bao, nhất là ở nước Mỹ này!

Không những viết về những người thân quen, tôi còn viết về những người xa lạ như “Joe Và Những Con Bồ Câu”. Joe là một người Mỹ trắng, không vợ, không con, ở một mình trong một chung cư trên đường Arthur ở Chicago. Lúc nhỏ ông sống thiếu tình thương trong gia đình. Cho nên suốt đời ông chỉ làm mỗi một việc là đi rao giảng tình thương. Một sáng mùa Đông tôi gặp ông ngồi một mình với lũ bồ câu bên vệ đường. Lúc đó ông đã 77 tuổi và nói đã ngồi đây với lũ bồ câu từ mười một năm trước, báo chí gọi ông là “pigeon man”. Tôi hỏi ai là bạn thân nhất của ông bây giờ. Ông nói đó là thánh St Francis of Assissi. Đây là vị thánh Thiên Chúa Giáo La Mã, sinh năm 1181, mất năm 1226 ở Ý. Vị thánh này có lòng yêu mến đặc biệt với thiên nhiên, thú vật. Ông cổ vũ cho Hòa Bình, Công Lý nhằm chấm dứt bạo loạn, chiến tranh, nghèo khổ và áp bức. Ông Joe khen tôi chụp hình đẹp và muốn có một tấm hình với lũ bồ câu. Khi tôi thực hiện được thì ông đã mất trong tai nạn trên đường đến với lũ bồ câu vào tháng 9 năm 2022. Có một điều lạ là ông đã trút hơi thở cuối cùng ở bệnh viện có tên là Francis of Assissi, vị thánh mà ông tôn thờ và học theo. Bài viết này của tôi đã lấy đi nước mắt của rất nhiều độc giả.

Chuyện “ 43 Năm Bây Giờ Mới Kể” tôi viết về một gia đình mười người gồm có hai ông bà và tám người con, đứa nhỏ nhất lúc đó 10 tuổi. Họ đóng 145 cây vàng để đi vượt biên bán chánh thức từ tháng 12/1978 đến đảo Pulau Bidong ở Mã Lai rồi đến Chicago tháng 9/1979 cho tới nay. Bốn mươi ba năm sau ông bà mới kể tôi nghe để viết lại chuyện này. Khi tới Mỹ hai ông bà làm đủ thứ công việc để nuôi nấng, lo cho con ăn học. Giờ đây ai cũng thành tài và đều đã có gia đình gồm có sáu kỹ sư, một bác sĩ và một nha sĩ. Lúc đi gia đình có 10 người bây giờ tăng lên đến 39 thành viên trong đó có 21 đứa cháu nội ngoại. Bài viết của tôi không nhằm đề cao một gia đình thành đạt nơi xứ người mà muốn chia sẻ với mọi người, muốn mọi người cùng biết về một gia đình chuẩn mực, đạo đức và gương mẫu, đã đóng góp rất nhiều công sức và tiền bạc để giúp đỡ và xây dựng cộng đồng gần 50 năm qua. Theo yêu cầu của gia đình, tôi không đưa tên của họ lên mặt báo. Năm nay ông đã 94 còn bà 88, sức khỏe không còn như mấy năm trước.

Âm nhạc đóng vai trò gì trong đời sống chúng ta? Đó là chủ đề của bài viết “Âm Nhạc Và Đời Sống”. Lần này tôi viết về một người bạn lâu năm của tôi tại Chicago, anh Phạm Châu Nam, dược sĩ, có tiệm thuốc tây trên đường Argyle, nằm trong khu phố người Việt nổi tiếng của tiểu bang Illinois. Là doanh nhân mang tâm hồn nghệ sĩ. Anh Nam thường dùng lời ca tiếng hát của mình phục vụ cộng đồng mỗi khi có dịp. Năm 2003 đài truyền hình SBTN ở thành phố Garden Grove, Nam California có tổ chức cuộc thi tiếng hát truyền hình lấy tên là “Tiếng Hạc Vàng”, dành cho mọi người từ 55 tuổi trở lên. Ngoài mục đích tạo ra sân chơi lành mạnh cho người lớn tuổi, nó còn nhằm bảo tồn nền văn hóa dân tộc đầy tính nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa. Nửa thế kỷ đã trôi qua, chính quyền mới bằng nhiều biện pháp cấm đoán hòng tiêu diệt nền văn hóa đó nhưng nó vẫn tồn tại và phát triển mạnh ở trong nước và cả hải ngoại, vì nó đã thật sự đi vào lòng người. Cuộc thi thu hút đông đảo người tham dự, kể cả những người từ các quốc gia xa xôi như Pháp, Đức, Thụy Điển, Úc, Canada, Việt Nam. Anh Nam cũng có ghi danh tham dự. Không may cho anh, căn bệnh ung thư máu của anh trở nặng. Gia đình chuyển anh về Cali nơi có khí hậu và thời tiết ôn hòa hơn để tịnh dưỡng. Sống ở Cali nhưng anh điều trị ở MD Anderton, Houston Texas, một bênh viện có tiếng chuyên về ung thư. Tưởng đâu phải bỏ cuộc nhưng cuối cùng anh Nam đã giành được hai giải nhất, một của ban giám khảo và một do khán giả bình chọn. Điều gì và bằng cách nào mà anh Nam đã làm được như vậy? Nếu cư dân Chicago vui và tự hào về anh Phạm Châu Nam bao nhiêu thì cũng thương và ngưỡng mộ chị Minh Tâm, vợ anh bấy nhiêu. Xin cám ơn chị. Riêng người viết bài này thì muốn chia sẻ với mọi người một tấm gương tốt về người thật, việc thật ở địa phương mình, muốn ca ngợi sự dũng cảm và lạc quan của anh chị, và muốn gửi ra một thông điệp là tình yêu âm nhạc, nỗi đam mê nghệ thuật thì không có tuổi, nó có khả năng vượt qua và chiến thắng mọi khó khăn và trở ngại, kể cả bệnh tật, dầu là căn bệnh nguy hiểm nhất.

Sống Ở Mỹ Sướng Hay ở Việt Nam Sướng?” Đây là câu hỏi mà nhiều người đặt ra mấy năm gần đây khi mà có nhiều Việt kiều Mỹ hầu hết là đã nghỉ hưu, trở về sống lâu dài ở Việt Nam. Những người này không những hết lời ca tụng Việt Nam một cách ngây ngô mà còn đặt điều, chê bai, nói xấu nước Mỹ thậm tệ. Tư Mã Thiên, nhà sử học thời nhà Hán ở Trung Quốc có nói “bất bình tắc minh”. Còn tôi thì nghe những điều trái tai gai mắt, thấy khó chịu quá nên phải lên tiếng. Sau 1975 do hoàn cảnh, tôi có cơ hội sống và làm việc trong các cơ quan nhà nước Cộng Sản trên 20 năm. Mấy năm gần đây tôi cũng thường xuyên về Việt Nam đi chụp hình từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam cho nên tôi rành Việt Nam và hiểu Việt Nam lắm. Do đó tôi có cơ sở để phân tích, nhận định, và kết luận vấn đề một cách trung thực và khách quan hơn nhiều người thường nhận định theo cái nhìn thông thường và chủ quan của mình. Thực tế có nhiều người đang ở Việt Nam nhưng nói sống ở Mỹ sướng, ngược lại có người đang ở Mỹ mà nói sống ở Việt Nam sướng trong nhiều trường hợp rất cụ thể và lý thú. Họ là ai? Câu trả lời nằm ở đoạn kết bài viết ngày 30/07/2024 của tôi.

25 năm viết về nước Mỹ đối với một người đã 83 tuổi như tôi, nếu có chắc cũng không nhiều. Với tôi, đó là phần thưởng cao quí không có gì bằng. Tôi viết không phải để tranh giải với các bạn trẻ mà để thỏa mãn đam mê, để chứng tỏ rằng mình vẫn còn tồn tại, vẫn sống mạnh mẽ và có ý nghĩa với bản thân, gia đình và với cộng đồng mà mình yêu mến. Một lần nữa tôi phải cám ơn Việt Báo đã tạo cơ hội, đã dành cho tôi và nhiều người một sân chơi lành mạnh và trí tuệ có tên VVNM, nơi gìn giữ, bảo tồn và phát triển chữ Việt, tiếng Việt, nơi mà mỗi ngày tôi có thể đọc được một bài viết, một câu chuyện mới mẽ và lý thú. Từ đó tích lũy, làm giàu thêm vốn sống của mình. VVNM nơi mà mọi người có thể tự do bày tỏ suy nghĩ, nỗi niềm và khát vọng của mình trên bước đường hình thành và xây dựng cộng đồng trên miền đất mới, nay đã là quê hương thứ hai.

Tiêu chí số một đặt ra cho mỗi bài viết của tôi là ý nghĩa thông điệp mà tôi muốn gửi ra cho mọi người. Sống ở Mỹ, viết về nước Mỹ nhưng không bao giờ quên cội nguồn, gốc rể, nơi mình sinh ra và lớn lên, nơi có nền văn hóa và phong tục, tập quán cao quí của người Việt đang bị bức hại bởi người Cộng Sản dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa xa lạ ở Quê Nhà nhưng rất quan trọng và hết sức cần thiết ở Quê Người.

Duy Nhân


Tuesday, August 13, 2024

Ở Mỹ Sướng Hay Ở Việt Nam Sướng? 


Thành phố Chicago, nơi tác giả đang sống

Một căn nhà ở quận 4-tác giả chụp tháng 3/2024

Thời gian gần đây trong cộng đồng người Việt ở Mỹ cũng như ở Việt Nam bỗng nhiên phát sinh một câu hỏi là sống ở Mỹ sướng hay ở Việt Nam sướng? Vấn đề đặt ra giữa lúc có một số Việt kiều Mỹ phần lớn là đã lớn tuổi, đã về hưu nay quay về Việt Nam sống. Họ nói sống ở Việt Nam sướng và hết lời ca tụng Việt Nam, thì cũng được đi nếu họ không chê bai Mỹ, đả kích Mỹ và Việt kiều bằng những lời lẽ bịa đặt vu vơ.

Có ba tiền đề cần lưu ý trong câu hỏi “Sống ở Mỹ sướng hay Việt Nam sướng”?

Thứ nhất: Cộng đồng người Việt ở nước ngoài tập trung nhiều nhất ở Mỹ được hình thành từ sau ngày 30/4/1975 đến nay cũng tròn trèm 50 năm. Thời gian đã đủ để nhìn lại và đánh giá một cách công bằng và chính xác nước Mỹ cũng như Việt Nam về mọi mặt với một thái độ khách quan và công tâm, không tuyên truyền, không xuyên tạc, không chính trị hóa sự việc. Cho nên vấn đề được nêu ra trong lúc này là đúng thời điểm, không quá sớm mà cũng không quá muộn.

Nếu như một người mới sống ở Mỹ được vài tháng hoặc vài năm, chưa hiểu hết về nước Mỹ mà nói về nước Mỹ thì khó mà thuyết phục được người nghe. Cũng vậy, một người sống ở Mỹ chưa từng về Việt Nam mà nói về Việt Nam thì cũng có thể bị chỉ trích là phiến diện. Do đó nhà cầm quyền Việt Nam thường kêu gọi những người dân cử gốc Việt, tham gia chánh trường Hoa Kỳ, thường phê phán chế độ, hãy về Việt Nam để nhìn thấy đất nước thay đổi như thế nào (mặc dầu sự thay đổi bề ngoài ở những thành phố lớn chưa nói lên được gì cả)

Thứ hai: Nếu có so sánh thì sự so sánh đó phải toàn diện, bao trùm mọi mặt chớ không thể chỉ nhìn ở một góc độ nhỏ (như sự sinh hoạt, ăn uống hàng ngày) mà nói đó là Việt Nam là không chính xác. Điều này luôn luôn nhìn thấy ở những người về sống ở Việt Nam, hết lời ca tụng Việt Nam mà không biết tới và nói đến những vấn đề quan trong khác như kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, chánh trị, nhân quyền ở Việt Nam là một thiếu sót lớn. Những ai ca tụng chế độ, nói sống ở Việt Nam là sướng trước hết phải trả lời được câu hỏi “ Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” hiện nay như thế nào?

Thứ ba: Từ sướng cần được hiểu cho đúng. Sướng được dùng ở đây như cách nói gọn của từ kép là sung sướng, là hạnh phúc. Trước hết nó có tính cách cá nhân, tùy thuộc vào cảm giác và nhận thức của mỗi người vì có những trường hợp đối với người này là hạnh phúc còn người khác thì không. Nhưng nói chung thì hạnh phúc chính là mục tiêu cuối cùng của mỗi con người sinh ra trên cõi đời này. Nơi nào có hạnh phúc thì người ta tìm đến, vì nơi đó đáng sống hơn những nơi khác vì “đất lành chim đậu” mà. Rốt cuộc hạnh phúc không phải là một cái gì trừu tượng của cá nhân mà nó phải dựa trên tiêu chí được đa số công nhận. Nơi nào mà đời sống khó khăn, không thoải mái, và không có tương lai thì người ta xa lánh và bỏ đi. Điều này là lẽ đương nhiên, không ai có thể phủ nhận hay chối cãi được.

Hàng năm các tổ chức và các cơ quan truyền thông quốc tế đều có đánh giá và xếp hạng các quốc gia đáng sống nhất, chính xác hơn là các quốc gia có “chất lượng cuộc sống” tốt nhất thế giới. Năm 2023 tờ US News và World Report khảo sát và xếp hạng 87 quốc gia căn cứ vào rất nhiều chỉ tiêu. Các chỉ tiêu quan trọng như ổn định chánh trị và an toàn an ninh cá nhân, kinh tế phát triển, giá trị tồng sản phẩm quốc nội GDP cao, văn hóa giáo dục phát triển, y tế hiện đại và phổ cập rộng rãi, môi trường sống lành mạnh, thu nhập đầu người cao cùng với giá cả thị trường ổn định, thị trường lao động tốt, người dân có công ăn việc làm vân. vân...

Và 10 quốc gia đứng đầu được công nhận năm nay là Thụy Điển, Na Uy, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy sĩ, Hà Lan, Australia, Đức, Tân Tây Lan. Việt Nam được xếp thứ 44, sau các nước trong khu vực Đông Nam Á như Singapore, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Philippines thì làm sao so sánh được với Mỹ mà nói sống ở Mỹ sướng hay Việt Nam sướng.

Nói chơi với nhau trong lúc trà dư tửu hậu, trong lúc tụ năm tụ bảy, chén chú chén anh, trong lúc lạng quạng, mơ màng trong hơi men chếnh choáng, nói về trường hợp cá biệt của riêng mình, ý kiến riêng của mình thì được chớ làm sao đủ tư cách mà bàn về những vấn đề vĩ mô, trọng đại của một quốc gia, hơn nữa là so sánh giữa một cường quốc và một nước Xã Hội Chủ Nghĩa thì nó chông chênh, khập khễnh lắm.

Nhiều người nói nếu có tiền thì sống ở Việt Nam sướng hơn ở Mỹ khi mà Mỹ có thứ gì thì Việt Nam cũng có thứ đó thì đi Mỹ mà làm gì? Tư tưởng này không sai nhưng nó rất hạn hẹp. Nếu nói có tiền ở đâu cũng sướng thì sống ở Mỹ cũng sướng vậy, có khi còn sướng hơn! Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có tiền? và nguồn tiền này ở đâu mà có? “Có tiền” ở đây hàm ý là có rất nhiều tiền. Có rất nhiều tiền mới mua được mọi thứ để thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người, không kể là mua đất đai, nhà cửa, xe cộ, những thứ này ở Việt Nam mắc hơn ở Mỹ rất nhiều thì tầng lớp trung lưu và nghèo làm sao với tới? Tầng lớp giàu có ở Việt Nam gọi là đại gia đâu có nhiều.

Những người giàu có ở Việt Nam bao gồm hai thành phần. Một là những đảng viên Cộng Sản có chức, có quyền, có cơ hội để tham ô, họ sống sung sướng trên mồ hôi, nước mắt, trên xương máu của nhân dân. Những vụ án đưa ra tòa xét xử gần đây như vụ án chuyến bay giải cứu số người Việt còn kẹt ở nước ngoài muốn hồi hương trong mùa dịch cúm Covid 19 tháng 12 năm 2023, vụ kit test ở công ty Việt Á tháng 1 năm 2023, vụ Đỗ Hữu Ca, cựu Giám Đốc Công An Hải Phòng tháng 4 năm 2024 đã chứng minh điều đó.

Một thành phần khác không giữ chức vụ gì, không liên hệ gì đến cơ quan nhà nước nhưng rất giàu là các doanh nhân làm ăn bất chánh, vi phạm luật pháp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản các đối tác kinh doanh như bà Trương Mỹ Lan chủ tịch tập đoàn Vạn Thịnh Phát vừa mới bị tòa sơ thẩm TP Hồ Chí Minh kết án tử hình ngày 11/04/2024. Những người này giờ đây chắc đã nhận ra rằng ở Việt Nam có nhiều tiền chưa chắc là sung sướng. Khi đối diện với bản án tử hình thì bà Lan mới thức tỉnh và tự trách mình: Có nhiều tiền để làm gì? Nhưng rất tiếc là đã muộn!

Tháng 11 năm 2021 ông Bộ Trường Công An cùng hai nhân viên nhân chuyến công tác ở nước Anh, đi ăn bò dát vàng mỗi phần là 45 triệu, tổng cộng hết 135 triệu, không biết mấy ông sướng cỡ nào nhưng bị công luận và báo chí Việt Nam phê phán kịch liệt vì lẽ mấy ông dùng ngân sách nhà nước, là tiền thuế của người dân để chi tiêu hoang phí giữa lúc người dân đang chết lên chết xuống vì đại dịch Covid 19. Những người trong cuộc vẫn giữ im lặng còn nhà nước thì không một lời giải thích. Đó là Việt Nam?

Con người ta cần có tiền để mua và thỏa mãn những nhu cầu vật chất trong đời sống hàng ngày nhưng nhu cầu vật chất bao giờ cũng có giới hạn như lương thực, thực phẩm, áo quần, nhà ở, phương tiện di chuyển... Ở thì chỉ cần một căn nhà, ngủ chỉ trên một chiếc giường, di chuyển chỉ cần một chiếc xe, ăn uống nhiều lắm cũng chỉ làm đầy cái bao tử chớ không thể hơn. Vậy là đủ rồi, đâu cần phải có thật nhiều tiền bằng mọi giá?

Bên cạnh đó các nhu cầu về tinh thần xem ra còn quan trọng hơn như nhu cầu tín ngưỡng, nhu cầu đi lại, nhu cầu hiểu biết, nhu cầu được bày tỏ chính kiến, thái độ, tư tưởng mà không bị đàn áp bắt bớ, nhu cầu có quyền làm chủ, danh từ kinh tế gọi là quyền tư hữu về nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, tài sản... Trong số này quan trọng nhất là quyền sở hữu đất đai, ruộng vườn. Nhưng hiến pháp và luật đất đai ở Việt Nam qui định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, được nhà nước thống nhất quản lý”. Khi qui định như vậy, bất cứ lúc nào nhà nước cũng có thể trưng thu, trưng dụng đất đai của người dân để thực hiện một công trình, dự án nào đó, thường là giao lại cho các nhà đầu tư nước ngoài với giá cao gấp nhiều lần so với giá đền bù cho người dân, không được người dân đồng ý. Từ đó phát sinh một giai cấp mới gọi là “dân oan”, tối ngày chỉ có vác đơn đi khiếu kiện từ địa phương cho tới thành phố và trung ương, nhưng không nơi nào giải quyết, không một tòa án nào thụ lý hồ sơ. Điều này không hề có ở các quốc gia Tư Bản như Hoa Kỳ và Châu Âu.

Phong trào cải cách ruộng đất ở miền Bắc sau năm 1954 và chiến dịch đánh tư sản sau năm 1975 ở miền Nam luôn luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với người dân trong cả nước, mặc dầu nó đã được thực hiện từ 50 năm, 70 năm về trước. Vậy mà người ta vẫn nói được là Việt Nam ta ưu việt và dân chủ gấp trăm ngàn lần Tư bản Hoa Kỳ đang giẫy chết! Nước Mỹ đang giẫy chết mà họ tranh nhau gửi con cháu du học Mỹ mà không gửi đi Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba là những nước Cộng sản còn lại, tôn thờ chủ nghĩa Mác- Lênin như họ?

Có một lý luận so sánh giữa Việt Nam và Mỹ như sau: “Nếu nói Việt Nam nghèo thì ở Mỹ cũng có người nghèo vậy, thậm chí những người ăn xin, những người homeless không nhà cửa ở Mỹ còn nhiều hơn Việt Nam. Ở Mỹ thì làm việc vất vả, cực khổ mà vẫn thiếu nợ ngập đầu”. Đây là lý luận của những người ở Việt Nam không hiểu gì về nước Mỹ, họ là những người ngây thơ, tội nghiệp, chỉ biết nghe những người có ác ý muốn cào bằng, muốn đánh đồng giữa Mỹ và Việt Nam, muốn hạ thấp giá trị Mỹ.

Thật ra nhận xét của họ là đúng chớ không sai nhưng chỉ đúng khi nhìn vào hiện tượng bên ngoài. Vấn đề là phải thấy được bản chất của vấn đề, không để hiện tượng đánh lừa bản chất. Đồng ý là ở Mỹ cũng có người nghèo như Việt Nam nhưng người nghèo ở Mỹ khác với người nghèo ở Việt Nam nhiều lắm, không thể đánh đồng với nhau được. Trong năm 2024 Mỹ qui định người có thu nhập thấp (low income) dưới 1.913 USD hoặc có tài sản dưới 2.000 USD được xem là người nghèo, hàng tháng được nhà nước liên bang trợ cấp một số tiền gọi là trợ cấp an sinh xã hội (Social Security Income). Số tiền này hiện nay là 943 USD cho mỗi cá nhân, tính ra tiền Việt theo tỷ giá 25.000$ một Mỹ kim là 23.575.000$, lớn hơn lương của Tổng Bí Thư, chủ tịch nước, chủ tịch quốc Hội và Thủ Tướng Việt Nam nữa. Cụ thể kể từ ngày 1/7/2024 thì lương của Tổng Bí Thư và Chủ Tịch Nước là 23.400.000$, Chủ Tịch Quốc Hội và Thủ Tướng chánh phủ là 22.500.000$. Đây là một khám phá bất ngờ và lý thú mà người viết biết được khi nghiên cứu để viết bài này.

Ngoài số tiền trợ cấp hàng tháng, người nghèo ở Mỹ còn được cấp phiếu mua thực phẩm gọi là food stamp, có chế độ chăm sóc y tế không mất tiền, có chế độ housing về nhà ở không mất tiền hoặc với giá tượng trưng, sử dụng phương tiện di chuyển công cộng miễn phí, con cái của người nghèo được đi học miễn phí từ tiểu học đến đại học. Do đó người nghèo ở Mỹ vẫn có thể nuôi con thành giáo sư, luật sư, kỹ sư, bác sĩ như bất cứ ai. Mỹ là đất nước cơ hội dành cho bất cứ ai có quyết tâm và cố gắng. Trong khi đó nhà nước Việt Nam đã làm được gì cho người nghèo và họ sống ra sao ?

Một thực tế nữa phải nhìn nhận là số người ăn xin ở Mỹ có vẻ nhiều hơn Việt Nam, nhất là ở các thành phố lớn. Có hai lý do để giải thích. Một là nhà nước Việt Nam tập trung họ lại có nơi có chỗ, không để họ xuất hiện tràn lan làm mất vẻ mỹ quan thành phố, làm phiền du khách khi mà chánh phủ đang cố gắng phát triển ngành du lịch Việt Nam để thu hút ngoại tệ. Ông Nguyễn Bá Thanh năm 2000 lúc còn làm Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố Đà Nẳng đã được nhiều người biết tới là do giải quyết được vấn đề người ăn xin ở thành phố ông.

Ở Mỹ thì người ta tôn trọng quyền cư trú và tự do đi lại của mọi người. Người nghèo đã có chánh phủ lo, họ có đời sống thoải mái, không thích bị gò bó, tập trung. Ban ngày thì đi thang thang xin ăn thêm được đồng nào hay đồng đó. Tối về thì dựng lều sát bên nhau dưới gầm cầu, vĩa hè, công viên sinh hoạt, ăn uống nhậu nhẹt, kể cả sử dụng cần sa, ma túy mà không bị dòm ngó. Các cựu chiến binh Mỹ giải ngũ về, được chánh phủ ưu đãi mọi mặt, họ hưởng chế độ an sinh xã hội cao hơn những người khác. Cũng có thể họ vẫn có nhà cửa, vợ con, người thân nhưng vẫn thích sống đời homeless, lang thang, ăn xin ngoài phố là do họ muốn như vậy, cũng có khi họ bị tâm thần, trầm cảm, nhà nước phải tôn trọng thôi.

Đâu đó chúng ta vẫn nghe những lời oán than từ người đã từng sống ở Mỹ là những người lao động Mỹ làm việc vất vả, khổ cực lắm. Điều này cũng có phần đúng. Nhưng với người lao động phổ thông, lương được trả theo giờ. Năm nay chánh phủ liên bang ấn định lương giờ tối thiểu là $7.25/giờ, tính ra $928USD một tháng (tương đương 23.200.000 VN đồng, ít hơn lương Thủ Tướng Việt Nam một chút). Trên thực tế người ta trả cao hơn nhiều, trung bình là 33USD/ giờ trong khi lương thực, thực phầm rất rẻ nên người lao động ở Mỹ có đời sống thoải mái, không thấy ai phàn nàn điều gì. Chính nhờ sự đóng góp của những người lao động, làm việc cật lực nên kinh tế Mỹ mới phát triển và trở nên hùng mạnh nhất thế giới như ngày nay.

Cuối cùng phúc lợi xã hội cũng được trả về cho công nhân, chớ làm việc tà tà theo kiểu “chân ngoài dài hơn chân trong” như ở Việt Nam, sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường không tìm được việc làm, phải trông chờ vào “xuất khẩu lao động” ra nước ngoài làm bất cứ việc gì thì biết đến bao giờ Việt Nam mới cất cánh (take off), theo kịp các nước Đông Nam Á, nói chi đến giấc mơ con rồng Châu Á?

Mấy năm gần đây nhà nước Việt Nam cho các công ty nước ngoải vào Việt Nam mở nhà máy với thiết bị, máy móc và dây chuyền sản xuất hiện đại và sử dụng công nhân Việt Nam làm việc vất vả không kém gì ở Mỹ nhưng đồng lương không tương xứng, nhiều lúc không được hưởng chế độ lao động và bảo hiểm như thỏa thuận nên đã xảy ra nhiều vụ đình công lớn. Quan chức Việt Nam vì lợi ích cá nhân thường đứng về phía chủ nhân nước ngoài hơn là công nhân nước mình.

Sau 1975 người Việt đến được nước Mỹ bằng bất cứ phương tiện gì cũng được nước Mỹ dang tay đón nhận và giúp đỡ tùy theo chương trình, kể cả ứng trước tiền vé máy bay cho cả gia đình với cam kết là sẽ trả lại sau nếu thuộc diện HO. Không riêng gì người Việt tỵ nạn, cho tới nay các ngân hàng và tổ chức tín dụng Mỹ vẫn tiếp tục cho mọi người vay tiền để mua nhà, mua xe và các vật dụng cần thiết khác trong gia đình, hàng hóa, dịch vụ, cũng như để tổ chức sản xuất, kinh doanh sau khi xem xét điểm số tín dụng, sự ổn định việc làm và lương bổng. Người vay tự chọn cho mình thời gian tốt nhất để trả hết nợ vay (pay off). Hàng tháng ngân hàng trích từ tài khoản của khách hàng để thu nợ như thỏa thuận, có thể lên đến 30 năm.

Việc sinh viên vay tiền đi học thì có chế độ riêng. Nền giáo dục ở Mỹ là miễn phí từ tiểu học đến trung và đại học. Ở các trường cao đẳng (college) và đại học (univesity ) còn có chế độ Financial Aid, chế độ học bổng. Những năm đầu khi mới tới Mỹ gia đình tôi gồm vợ chồng con cái cả bốn người đều ghi danh học college, có Financial Aid. Sau khi trang trải mọi chi phí học tập còn có dư để gửi về cho người thân ở Việt Nam nữa. Thời đó người Việt mình thường nói với nhau rằng ở Mỹ đi học cũng là một nghề vì hàng tháng đều được chánh phủ trả lương.

Đối với các chương trình mà thời gian đào tạo và chi phí cao như y khoa thì chánh phủ cho sinh viên mượn tiền để học và sẽ hoàn lại theo kế hoạch sau khi tốt nghiệp và có việc làm. Chi phí đào tạo một sinh viên y khoa ở trường công cao hơn trường tư. Từ khi làm nội trú chuyên khoa một bác sĩ tương lai đã được nhận trợ cấp rồi. Khi ra trường làm ở bệnh viện được trả từ 200,000 USD đến 300,000 USD một năm tùy chuyên khoa và kinh nghiệm, bác sĩ phẩu thuật chỉnh hình được trả đến 443,000 USD/năm. Ngoài ra bác sĩ nào cũng có phòng mạch tư và chưa có số liệu thống kê nào tiết lộ thu nhập của một bác sĩ ở phòng mạch là bao nhiêu, nhưng chắc chắn nó phải nhiều lần hơn tiền lương ở bệnh viện.

Chế độ tín dụng Mỹ giúp người dân có tiền để chi tiêu, kích thích sản xuất, góp phần tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ, khiến nước này có nền kinh tế lớn mạnh nhất thế giới, bảo đảm cho đồng đô la có giá trị vững chắc, được cả thế giới tin dùng. Người Việt tỵ nạn qua đây với hai bàn tay trắng và phải làm lại từ đầu vậy mà ngay từ 1993 đã gửi tiền về cho Việt Nam và số tiền này mỗi năm mỗi tăng. Trong năm 2023 số kiều hối mà đồng bào gửi về Việt Nam là 16 tỉ, riêng cho thành phố Hồ Chí Minh hơn 9 tỉ USD, hơn 3 lần nguồn vốn đầu tư nước ngoài FDI.

Ở Mỹ dầu sinh trong một gia đình nghèo khó bạn cũng có thể đi học để trở thành bác sĩ được nếu như có quyết tâm. Còn ở Việt Nam? Từ nhà trẻ lên đến mẫu giáo, tiểu học, trung học và đại học, cấp nào cũng phải đóng rất nhiều loại phí mà không gọi là học phí, không có cơ quan nào trợ cấp, cũng không có chế độ cho mượn tiền đi học như ở Mỹ. Gia đình nghèo cũng đành bó tay, cho con mình đi bán vé số. Hình ảnh một em bé cầm sấp vé số chạy khắp hang cùng, ngõ hẻm rao bán từng tờ vé số thật là tội nghiệp. Cũng trong giờ phút đó mọi trẻ con ở Mỹ đều ngồi trên ghế nhà trường, không có em nào lang thang ngoài phố cả. Hai hình ảnh không biết đã đủ để trả lời câu hỏi sống ở đâu sướng hơn, Mỹ hay Việt Nam, cho dầu bạn hiểu từ “sướng” theo cách riêng của bạn, cho dầu bạn nói không thích nước Mỹ theo cách riêng của bạn?

Thật ra có rất nhiều bạn sống ở Mỹ lâu năm, nay quay về sống ở Việt Nam có những ý kiến trái chiều rất “vui”. Bạn D.T.H sống 10 năm ở tiểu bang Minnesota nêu lý do về Việt Nam là sáng dậy sớm nghe tiếng gà gáy rồi đi chợ quê uống cà phê, ăn cà rem ngoài đường. Ở Việt Nam tha hồ giăng lưới, bắt con tôm con cá về kho mặn rất ngon, đi ăn đám giỗ ở Việt Nam thì vui ác ôn luôn. Ngoài ra bạn này còn khuyên Việt kiều Mỹ nên về Việt Nam sống nếu có điều kiện vì sống ở Mỹ cực khổ lắm, ở Việt Nam thì sướng hơn.

Lý luận của bạn H thì đơn giản và cũng nên thơ nữa, nhưng bạn quên mất nhiều điều. Một là bạn lấy tiền ở đâu để về Việt Nam hưởng thụ cuộc sống mà không làm gì cả? Đó là do bạn dành dụm, tích lũy sau mười năm làm việc ở Mỹ. Bạn có một lời cám ơn nước Mỹ chưa? Vì nếu cùng thời gian đó bạn vẫn sống ở Việt Nam thì có được như ngày nay không? Trong khi bạn hưởng thụ một mình thì thân nhân, bạn bè và những người xung quanh bạn sống như thế nào, bạn có biết không? Mai này bạn sẽ già yếu và phải đối diện với bệnh tật, thì trang thiết bị, trình độ y khoa ở Việt Nam có bằng ở Mỹ không? Chế độ chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế có ưu tiên nào dành cho một người về hưu từ Mỹ không? Số tiền còn lại của bạn có đủ để thanh toán y tế phí rất cao ở Việt Nam không? Hy vọng bạn có câu trả lời thành thật nhất cho chính bạn chớ không cho ai khác.

Có một bạn lấy nick name là Năm Lúa, đã sống ở Mỹ 30 năm, nay về Việt Nam sống với cha mẹ. Bạn này vừa ca tụng Việt Nam vừa đặt điều nói xấu Mỹ và người Việt ở Mỹ bằng lời lẽ hết sức ngây ngô. Chẳng hạn như bạn nói cha mẹ nuôi con tới 18 tuổi thì đuổi ra khỏi nhà,.Lý do là lúc nhỏ cha mẹ nói nó không nghe, đụng tới nó thì nó kêu cảnh sát cho nên không làm gì được nó, phải đợi nó đến 18 tuổi mới làm được bằng cách đuổi nó ra khỏi nhà. Bạn này nói láo hết chỗ nói vì không có cha mẹ nào, nhất là cha mẹ Việt Nam lại nhẫn tâm đuổi con mình ra khỏi nhà cả. Chỉ có trường hợp khi đến 18 tuổi con mình lên đại học và trường thì ở xa nhà nên nó thường dọn vào dorm, một loại ký túc xá trong phạm vi nhà trường để cho tiện việc học tập thôi. Làm gì có chuyện “đuổi” ở đây.

Bạn này còn nói tình cảm giữa con cái và cha mẹ ở Mỹ không bằng ở Việt Nam. Một lần nữa bạn này nói láo mà không có cơ sở, không có căn cứ. Bạn này không hiểu là cách biểu hiện tình cảm của ông bà, cha mẹ với con cháu của người Việt nó khác với người Mỹ là do sự khác biệt giữa hai nền văn hóa. Thí dụ ở Mỹ mà hun hít, nựng nịu trẻ theo cái cách của người Việt Nam, của mấy bà nhà quê ở Việt Nam có thể bị kết tội là quấy rối tình dục, là abuse trẻ con. Khuynh hướng của người Mỹ là thích tự do và tự lập nên có điều kiện là dọn ra ở riêng, xây dựng một gia đình riêng, không phụ thuộc vào cha mẹ nữa, còn người Việt mặc dầu ở Mỹ nhưng ông bà, cha mẹ và con cái cùng sống với nhau trong một gia đình theo nghĩa “tam đại đồng đường” cũng là bình thường, cũng dễ hiểu thôi.

Năm Lúa còn khuyên mọi người là đừng có đi đâu hết vì “Việt Nam được giải phóng rồi, có tự do rồi. Ra đường không ai bắt bớ hay làm khó dễ, kể cả việc đưa máy quay phim vào mặt người ta quay cũng được”. Xin hỏi Năm Lúa một câu- Ông khuyên người ta đừng đi Mỹ nữa nhưng tại sao ông lại ở Mỹ đến 30 năm ? Ông nói ở Việt Nam ông được tự do đưa máy quay phim vào mặt người ta để quay. Xin thưa đó không phải là tự do mà là vô văn hóa và bất lịch sự.

Trường hợp những người sống ở Mỹ nhiều năm nay quay đầu về Việt Nam và chửi Mỹ như hai bạn DTH và Năm Lúa là trường hợp đặc biệt, rồi sẽ rơi vào quên lãng. Nhân tiện mời hai bạn nhìn lại trường hợp của Trần Trường để có cái nhìn rộng rãi hơn, để củng cố thêm niềm tin rằng ở Mỹ hay Việt Nam nơi nào sướng hơn, đáng sống hơn.

Năm 1999 Trần Trường treo hình Hồ Chí Minh và cờ đỏ sao vàng trong tiệm video Hi Tek của y ở đại lộ Bolsa, thành phố Westminster, tiểu bang California, bị cộng đồng người Việt ở đây phản đối và biểu tình suốt 53 ngày đêm. Trần Trường lấy quyền tự do phát biểu chống lại chánh quyền địa phương và đám biểu tình, cũng nhân danh quyền tự do phát biểu. Cuối cùng Trần Trường bị xử thua. Cửa tiệm bị đóng cửa vì lý do sang băng lậu và trốn thuế.

Năm 2005 Trần Trường bán hết tài sản được 7 tỉ đem tiền về Việt Nam mở công ty nuôi trồng thủy sản ở Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Số tiền Trường mang về không thấm vào đâu, ngân hàng hứa cho vay thêm 6 tỉ nữa, cuối cùng chỉ giải ngân 600 triệu, khiến cho y chới với. Trường phải hợp tác với nhà máy xay lúa ở địa phương để bảo đảm nguồn thức ăn cho cá, nếu không thì nó chết.Trường nợ bên đối tác 1.3 tỉ đến tháng 11/2005 trả được 209 triệu thì bị kiện về tội quịt nợ mặc dầu hợp đồng vẫn còn hiệu lực đến cuối năm 2005.

Chánh quyền địa phương thì bênh vực bên nhà máy, niêm phong tài sản và đuổi vợ con Trần Trường ra khỏi nơi cư trú, khiến cho bà vợ bị điên, phải vào điều trị ở nhà thương điên Biên Hòa, bây giờ gọi là bệnh viện tâm thần. Năm 2012 Trần Trường quay lại Mỹ xin lỗi và cầu cứu đồng hương giúp đỡ gây quỹ để theo đuổi vụ kiện mà phần thua thiệt và thất bại đã quá rõ ràng vì chánh quyền địa phương không biết Trần Trường là ai, cho dầu y có tôn thờ Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản như thế nào chăng nữa.

Mấy năm gần đây tôi thường về Việt Nam mỗi lần ít nhất là hai tháng, đi từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam kể cả những vùng xa xôi, hẻo lánh nhất để chụp hình, đi tìm cái đẹp ở quê nhà. Phải công nhận Việt Nam giờ đây đã thay đổi nhiều. Đường xá, nhà cửa, khách sạn, nhà cao tầng ở các thành phố lớn. Các quận nghèo ven đô có đất rộng như quận 4, quận 8 được qui hoạch lại rất khang trang, không còn là khu ổ chuột nữa. Các con kinh Nước Đen, kinh Tàu Hủ, kinh Nhiêu Lộc đều có bờ kè, nguồn nước được cải tạo trong sạch, không còn hôi thúi như trước kia.

Những công viên là lá phổi cùa thành phố như công viên Tao Đàn, công viên 23 tháng 9, Lê văn Tám, công viên Gia Định được chỉnh trang, nâng cấp rất sạch đẹp. Có cả những đô thị, chung cư cao cấp dành cho người giàu. Ra khỏi Sàigòn đi về các tỉnh và thành phố lớn đã có nhiều đường cao tốc với nhiều làn xe rộng rãi không thua gì những free way ở những quốc gia phát triển. Các bến phà già nua, cũ kỹ cũng được thay thế bằng những cây cầu treo hiện đại nối liền đôi bờ hai con sông Tiền, sông Hậu, thu hẹp khoảng cách, rút ngắn thời gian di chuyển từ một ngày, một buỗi xuống còn vài giờ. Những cây cầu nổi tiếng là cầu Mỹ Thuận ở sông Tiền nối liền Tiền Giang và Cửu Long, Cầu Cần Thơ trên sông Hậu nối Vĩnh Long với Cần Thơ, Cầu Rạch Miễu trên sông Tiền nối liền Bến Tre với thành phố Mỹ Tho của Tiền Giang, đi về các tỉnh. Ngoài ra là những cây cầu nhỏ hơn ở địa phương như cầu Hàm Luông, cầu Năm Căn, cầu Cổ Chiên, cầu Mỹ Lợi, Vàm Láng, Cao Lãnh...

Chương trình đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI từ những quốc gia phát triển và gần 150 quốc gia khác đã làm thay đổi bộ mặt Việt Nam nhưng nền kinh tế Việt Nam không hề phát triển cùng một nhịp với sự cải tiến của hạ tầng cơ sở vật chất. Chất lượng đời sống người dân không khá hơn 50 năm về trước. Họ vẫn mua gánh, bán bưng, bám vỉa hè, lề đường để kiếm sống, bị đuổi chỗ này thì họ dời đi chỗ khác. Hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng sâu sắc và rõ nét. Người giàu có cả một đô thị mới biệt lập, những chung cư bạc tỉ để sống, người nghèo vẫn cứ chui ra chui vào cũng cái căn nhà ọp ẹp đã xuống cấp từ 50 năm nay mà không có tiền sửa chữa.

Ở đầu cầu Calmette bên quận 4 hướng về quận 1 bên tay phải có một chung cư nhiều tầng không biết được xây dựng từ bao giờ, nay đã xuống cấp, rách nát tả tơi có thể sập xuống bất cứ lúc nào, vậy mà vẫn còn người ở. Cạnh đó vài chục thước, sừng sững một chung cư cao tầng mới xây, chắc là dành cho dân có tiền. Hai hình ảnh trái ngược này được tôi cẩn thận ghi vào ống kính theo chủ đề “sự tương phản trong đời thường”. Sự tương phản (contrast) bao giờ cũng là một yếu tố cần có của một bức ảnh nghệ thuật!

Con cái của gia đình chưa có điều kiện gửi đi du học nước ngoài thì cho học ở các trường quốc tế do nước ngoài đầu tư và giảng dạy tại Việt Nam mong tiếp cận với nền văn hóa giáo dục hiện đại và nhanh chóng nâng cao trình độ Anh ngữ, trong khi những gia đình nghèo chạy một suất ở trường công là quá khó. Chương trình học năm nào cũng cải cách, học sinh phải thay đổi sách giáo khoa hàng năm, khiến cha mẹ, phụ huynh kêu trời như bộng. Nói tới nền giáo dục Việt Nam bây giờ người ta nghĩ đến từ “CHẠY” trong một thành ngữ mới của chế độ mới: “Chạy trường”, “chạy lớp”, “chạy điểm”...Chưa hết đâu, khi ra trường còn phải “ chạy việc làm”.

Ở Việt Nam bây giờ có rất nhiều bệnh viện đầu tư từ nước ngoài với trang thiết bị hiện đại, đội ngũ y tá, bác sĩ giỏi, phòng ốc sạch sẽ, rộng rãi, khang trang. Cung cách phục vụ văn minh và chuyên nghiệp. Dĩ nhiên những bệnh viện này chỉ dành cho người có tiền. Cán bộ viên chức nhà nước đã có bệnh viện riêng. Chỉ có bệnh nhân nghèo và người nuôi bệnh thì nằm lê lết ngoài hành lang, vệ đường ở các bệnh viện công đã quá tải, xuống cấp như BV Ung Bướu, BV Nhân Dân Gia Định, Nhà Bào sanh Từ Dũ, BV Nguyễn Trãi, BV Nhi Đồng, BV Chợ Rẫy, BV Chấn Thương Chỉnh Hình, vân. vân...

Trong khi người giàu và nghèo ở Việt Nam sống trong hai thế giới khác nhau thì ở Mỹ cũng có giàu nghèo nhưng không hề có khoảng cách, không bị phân biệt đối xử. Người giúp việc nhà ở Việt Nam gọi là ô-sin, danh từ bình dân gọi là đầy tớ, ở Mỹ thì gọi là home maker, ăn mặc rất lịch sự, lái xe đến nhà chủ làm việc trong vài giờ, xong việc thì ung dung lái xe về nhà. Trên đường về có thể họ đi shopping mua sắm, hoặc ghé vào một nhà hàng sang trọng, ăn những món mà họ ưa thích, họ enjoy cuộc đời như bất cứ một người nào khác. Trong khi đó một ô-sin ở Việt Nam thì suốt đời vẫn là ô-sin, nếu không có cơ hội xuất khẩu lao động đi làm ô-sin ở nước ngoài.

Người viết bài này có điều kiện đi nhiều ở Việt Nam cho nên cũng thấy rất nhiều, nhiều hơn những gì đã diễn ra trước mặt. Ở Nghệ An, Hà Tĩnh quê hương Bác Hồ có nhiều nhà to đẹp, hỏi ra mới biết là gia đình có con em đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài gửi tiền về xây. Ngoài đó người ta vượt biên và đi xuất khẩu lao động nhiều lắm. Còn ở trong Nam, bộ mặt nông thôn cũng thay đổi nhiều. Những căn nhà cây vách ván không còn nữa, thay vào đó là những căn nhà gạch đồ sộ, kiểu cách, được xây bằng tiền do bán đất, bán ruộng mà có. Người nông dân thì biến thành công nhân, ở nhà trọ, làm trong các nhà máy xí nghiệp của người nước ngoài mà đời sống không có gì bảo đảm, bởi vì chính các xí nghiệp này có thể đóng cửa, dời đi bất cứ lúc nào. Cơn đại dịch Covid 19 ở Việt Nam đã cho thấy điều đó.

“Sống ở Mỹ sướng hay Việt Nam sướng?” Đây không phải là vấn đề lý thuyết để bàn cãi, như bàn về chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Tư bản mà là vấn đề thực tế: Thức khuya mới biết đêm dài. Nếu gạt ra ngoài yếu tố chánh trị nhằm mục đích tuyên truyền, xuyên tạc và làm một sự so sánh toàn diện giữa hai quốc gia thì sự tương phản sẽ nói lên được nhiều điều.

Nếu hiểu chữ sướng như một cảm giác rất chủ quan, tùy sở thích và hoàn cảnh của từng cá nhân như hai bạn DTH, Năm Lúa và một số người thì câu trả lời sẽ khác nhau. Các cán bộ Cộng sản có chức, có quyền, có điều kiện để tham ô nhất định sẽ nói sống ở Việt Nam là sướng vì không cần lao động vất vả mà có nhà “biệt phủ”, tiền gửi ngân hàng tính bằng tỉ đô la. Thành phần gọi là đại gia nhiều tiền, lắm bạc cũng nói sống ở Việt Nam rất sướng theo quan điểm “có tiền mua tiên cũng được”. Một số Việt kiều già, muốn hưởng thụ cuộc sống cuối đời, thích “gặm cỏ non” mà không còn cơ hội ở Mỹ, thường hay về Việt Nam cũng nói sống ở Việt Nam sướng lắm vì ở Việt Nam có nhiều gái đẹp. Một ông Thủ Tướng đã từng quảng cáo như vậy.

Trong lúc đó những Việt kiều sống ở Mỹ lâu năm, đã hiểu nước Mỹ và có quan tâm đến Việt Nam sẽ nói Mỹ là quốc gia đáng sống. Những công dân Việt Nam sống ở Việt Nam nhưng có máu đỏ đen, thích cờ bạc, cần sa, ma túy chắc chắn sẽ nói ở Mỹ sướng hơn vì Mỹ có chủ trương rất thoáng trong vấn đề này, có chế độ, luật lệ rõ ràng chớ không bị cấm đoán và trừng phạt nặng nề như Việt Nam.

Nói gì thì nói, có một sự thật đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ từ 50 năm nay là trên thế giới, trong đó có người Việt Nam vẫn tìm mọi cách vượt biên trái phép để vào nước Mỹ, có năm lên đến hàng triệu người. Ngược lại, chưa có một người Mỹ nào trốn chạy nước Mỹ tìm đến Việt Nam sinh sống. Nếu các lãnh tụ đảng và nhà nước Việt Nam có đủ dũng khí, không ngụy biện quanh co mà nhìn nhận sự thật, lý giải được sự thật thì lúc đó Việt Nam mới khá lên được.

Duy Nhân

Tuesday, July 2, 2024

Ba Tôi

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra(Ca dao)

Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ. Ngày Lễ Cha do bà Sonora vận động được tổ chức lần đầu tiên ở tiểu bang Washington vào ngày 19 tháng 6 năm 1910 là ngày sinh nhật của William Smart đến nay (2024) đã là 114 năm, được trên 50 quốc gia trên thế giới hưởng ứng, trong đó có Việt Nam.

Biết được trường hợp của ông William Smart tôi hết sức ngạc nhiên, vì trường hợp của William sao mà giống với trường hợp của ba tôi quá. Năm 1954 mẹ tôi mất khi đứa em út của tôi vừa tròn một tuổi. Ba tôi 36 tuổi, cũng ở vậy một mình nuôi 6 đứa con thơ nhỏ dại, đứa lớn nhất là anh hai tôi, lúc đó mới có 12, còn tôi 11. Sau khi mẹ tôi mất, ba mới đùm túm bày con côi cút trở về quê, cất một căn nhà nhỏ ở khu vườn hoang vắng làm việc đồng áng ở địa danh gọi là Cầu Nước Trong, xã An Lợi, huyện Long Thành, cách Sài gòn 60 cây số về hướng Đông. Hoàn cảnh của ba tôi khó hơn William Smart rất nhiều: Ba phải nuôi dưỡng 6 con, toàn là trai mà đứa lớn nhất mới có 12 tuổi còn William cũng nuôi 6 con nhưng đứa con đầu là gái lúc đó đã là 16, chắc hẵn đã biết chăm sóc các em và đỡ đần cho ba tốt hơn là một cậu trai 12 tuổi như anh hai tôi!

Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về

Về Gia Định là về quê ngoại tôi, còn về Đồng Nai là về quê nội tôi. Ông nội theo Tây học, là người có chức sắc ở địa phương, sinh tất cả 10 người con mà ba tôi là con thứ tám, sinh năm 1918 tại Long Thành. Ông nội là người có học, có chức quyền nhưng không hiểu sao con ông không ai học cao hết, nhất là mấy cô tôi, ngoại trừ ba tôi là biết tiếng Pháp, đẹp trai mà lại hiền lành, được ông cưng nhất. 

Trong một lần từ Sàigòn đi Long Thành bán vé tiết kiệm, ông ngoại tôi đã “chấm” ngay ba tôi. Chấm có nghĩa là ở trong bụng ưng ý, chọn ba tôi làm phò mã, làm con rể mà chưa nói ra. Thế là ông ngoại dẫn ba tôi lúc đó mới ngoài hai mươi, lên Sài gòn, về quê ngoại, giới thiệu với gia đình, để cho má tôi, là trưởng nữ “coi mắt” ba tôi, và… chuyện gì đến đã đến. Ngặt một nỗi là ông nội không bằng lòng làm sui với ông ngoại, chê ông ngoại không ngang “vai vế” và nhỏ tuổi hơn ông, cho dầu ông ngoại là người “văn hay, chữ tốt” và rất tinh thông Hán học. Ông ngoại nhờ không biết bao nhiêu người có uy tín đến thưa chuyện cùng ông nội nhưng ông đã quyết định không là không. Thành thử đám cưới ba tôi chỉ một tay bà nội tôi lo, còn ông nội tôi không ngó ngàng gì tới! 

Má tôi về làm dâu với gia đình ông nội là trăm bề cay đắng, cho dầu được bà nội che chở và yêu thương hết mực. Năm sau mẹ sanh anh hai tôi, thể trạng ốm yếu, đau bệnh hoài. Bà nội nghe lời thày bói nói anh hai tôi phải là con nuôi của má mới là tốt!? Thế là bà nội mới đi tìm một người ăn mày, cho tiền họ, bảo họ giả bộ nhận anh hai tôi làm con, sau đó má tôi mới đến xin về làm con nuôi với hy vọng anh hai tôi hết bệnh. Ông ngoại đặt cho anh hai tôi một cái tên rất đẹp và ý nghĩa là Nguyễn Thành Kỉnh nhưng bà nội tôi đặt tên lại là Chỏi, để cho anh hai tôi có thể chống chỏi, vượt qua được cơn bệnh hoạn.

Tôi biết bà nội còn ông nội thì không, vì ông mất từ lâu. Những chuyện về ông phần lớn là nghe các cô tôi kể lại. Nổi bật nhất là sự khó tính của ông nội và lòng yêu thương vô bờ bến của bà nội với các con, bất kể đó là dâu hay rể! Có một lần nửa đêm cả nhà đang ngủ, ông nội tôi thèm thịt gà. Ông bèn tự tay bắt gà làm thịt, nấu cháo. Xong xuôi ông mới đánh thức mọi người dậy để cùng ăn với ông trong lúc các bác, các chú và cô tôi thèm ngủ chớ đâu có thèm ăn, Ai không dậy nổi ông cũng không tha mà lấy roi mây quất vào đít cũng phải tỉnh ngủ thôi. Nghe nói ông nội tôi còn có roi cá đuối, không biết để đánh ai? Vậy mà cũng có người đi trốn, tìm chỗ ngủ tiếp chớ đâu có ăn! 

Bà nội tôi khi về già thì được các cô tôi rước về nuôi nhưng bà không thích ở hẳn với đứa con nào mà chỉ ở với người này một vài tháng rồi người kia một vài tháng, cứ thế mà xoay vòng tròn cho đến giáp năm. Có lẽ bà nội tôi nghĩ như thế mới là công bằng? Đúng vậy, sự công bằng có kèm theo lòng yêu thương nữa: Mỗi khi bà nội tôi được bàn giao cho cô nào thì mấy cô bắt bà ngồi vào cái thúng, móc vào một cái cân tạ, loại cân heo để cân xem bà tăng ký hay sụt ký. Trường hợp thấy sụt ký thì bà lén bỏ chì vào, gọi là “bù chì” cho bằng trọng lượng của lần cân trước. Hỏi để làm gì thì bà nói để cho các cô tôi vui vẻ với nhau, ai cũng nuôi bà nội tốt hết, nếu không thì các cô tôi phân bì, phiền trách, châm biếm và mỉa mai nhau, khổ lắm!

Ông nội nghiêm khắc, bà nội thì dễ dãi, sanh ra ba tôi “ hiền như cục bột ”. Thấy anh hai tôi bệnh hoài không hết, má tôi mới quyết định ẫm anh tôi về quê ngoại tìm thày chữa trị. Ba tôi không có lựa chọn nào khác hơn là phải theo má tôi về quê vợ, cuộc đời lật sang trang mới. Nghe đâu quê ngoại tôi ở miệt Cần Giờ, Cần Đước, sau này mới tản cư lên xã Phú Xuân Hội, huyện Nhà Bè, tỉnh Gia Định, cách Sài gòn theo đường chim bay chừng 7 cây số. Bên ngoại thì có ông bà ngoại và cậu Tám. Tôi đã được sanh ra ở đây vào năm Quý Mùi 1943. Má tôi có sạp bán trái cây ở chợ Cầu Muối. Bà đẻ hầu như năm một. Thường thì ba đặt tên cho con. Nhưng ở đây ông ngoại mới là người đặt tên cho anh em tôi: NguyễnThành Kỉnh, Nguyễn Đức Đạo, Nguyễn Thế Nhân, Nguyễn Hữu Lý, Nguyễn Kim Lưu, Nguyễn Hữu Thời. Má tôi đẻ đứa nhỏ thì gửi đứa lớn về cho bà ngoại nuôi, bà là một bà Mẹ Việt Nam tuyệt vời. 

So với bà nội thì bà ngoại tôi đau khổ, bất hạnh gấp trăm ngàn lần. Sanh 9 người con nhưng cuối cùng ai cũng bỏ bà ra “đi” hết. Thời gian đầu ba tôi làm ở hãng xăng dầu Shell Nhà Bè với cậu Tám tôi. Từ Sài gòn, ba được xe của hãng đưa rước đi làm hàng ngày. Mỗi sáng tôi ra mé lộ trước nhà canh đúng giờ xe chạy ngang qua để xem coi có trông thấy ba tôi không. Khi xe chạy ngang qua, ba tôi thường thảy xuống cái gói đồ ăn mà má tôi đã làm sẵn cho anh em tôi. Hơn sáu chục năm rồi mà tôi vẫn còn nhớ như mới ngày nào, những con dế cơm lăn bột chiên, trong bụng có nhét những hạt đậu phộng dòn rụm và béo ngậy mà ba tôi đã thảy xuống cho tôi. Có lẽ ba đã bắt những con dế này ở bờ tường, cột đèn đem về cho má tôi làm thành món ăn đặc biệt cho anh em tôi.

Khi phong trào Việt Minh nổi dậy, không nhớ là năm nào, cậu Tám tôi bị Tây bắt. Thời gian sau cậu được thả ra, ông ngoại tôi sợ quá mới lên Sàigòn, qua vùng Khánh Hội mua đất cất hai căn nhà kế nhau ở đường Tôn Đản, một căn cho ông bà và cậu, một căn cho gia đình ba tôi. Bà ngoại vẫn tiếp tục chăm sóc anh em tôi, còn ba thì bán vé xe buýt cho “Công Quản Chuyên Chở Công Cộng Đô Thành Sài gòn Chợ Lớn”. Ngoài giờ làm việc thì ba phụ bán trái cây với má chớ không bạn bè, đờn ca, hát xướng, văn chương, thi phú như cậu Tám tôi. Khi nào rỗi rảnh thì cậu chở ba đi chỗ này chỗ kia bằng chiếc mô-tô to đùng của cậu. Nếu cậu Tám tôi “bay bướm” bao nhiêu thì ba hiền lành bấy nhiêu. Có những lần ba thất nghiệp ở nhà phụ má tôi rất nhiều, vậy mà bị bà cằn nhằn dữ lắm. Tôi vẫn còn nhớ mãi một câu, ba không nói với ai được, nên phân trần với tôi: “Má mầy nấu cơm khét mà cũng đỗ thừa cho ba”. Không hiểu sao trên đời này lại có người hiền lành đến như vậy. Trong các anh em tôi, người giống tánh ba nhiều nhất là đứa em thứ năm của tôi. Con trai tôi cũng thừa hưởng cái gen của ông nội là hiền lành quá đổi! Hiền lành là một yếu tính của đạo đức nhưng hiền quá chỉ nhận về mình nhiều thua thiệt, khó mà thành công, vươn lên được với đời mà người tốt thì ít, người xấu thì nhiều.

Ông ngoại, cậu Tám và má tôi mất chỉ trong vòng hai năm là một tai họa khủng khiếp giáng xuống bà ngoại tôi và là một bước ngoặt quan trọng đối với ba tôi. Má tôi mất khi đứa em thứ 5 của tôi mới có 4 tuổi. Lúc tẫn liệm má thì em gào thét, khóc lóc dữ dội, không cho mọi người bỏ má vào hòm. Ba tôi thì ghì chặt, vuốt đầu, vỗ về, an ủi em tôi. Hình ảnh này làm sao tôi quên được? Khi viết tới đây thì mắt tôi đã tràn đầy ngấn lệ… Sau đám tang má, một người bà con bên ngoại mới nhận đứa em thứ sáu của tôi về nuôi giúp ba tôi cho ba bớt gánh nặng. Lúc đó em tôi hai tuổi, thể trạng rất yếu và thường hay bị động kinh. Trải qua tuổi thơ đầy cay đắng, sau này em tôi viết tự truyện nói “Mẹ là không có thật trên đời ”! Bà ngoại cùng theo về với mấy người bà con bên ngoại. Trong lúc tang gia bối rối thì ba bị hãng xe buýt cho thôi việc, ông buộc phải dắt 5 anh em tôi về quê Long Thành. Đại gia đình chúng tôi tan đàn, xẻ nghé kể từ ngày đó.

Hơn một năm tá túc ở nhà người cô Năm, ba tôi mua lại một mảnh đất ở Cầu Nước Trong, cất căn nhà nhỏ, mặt tiền hướng ra quốc lộ 15, vừa làm vườn, vừa làm “gà trống nuôi con”. Gọi là làm vườn chớ thật ra vườn tược trong nhiều năm cũng chẳng mang lại hoa lợi gì đáng kể, một phần vì đất đai khô cằn không màu mỡ, phần khác ba tôi không phải là dân làm vườn chuyên nghiệp.Thời gian này mấy cha con sống nhờ tiền cho thuê căn nhà đường Tôn Đản và cái sạp bán trái cây của má tôi để lại. Hàng ngày ba tôi đào mương, cuốc đất, trồng cây thì anh em tôi xuống suối bắt ốc, hái rau hoặc lên rẫy đào củ mài, củ sắn. Cứ thế, thời gian trôi đi, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác… Nhờ trời thương, anh em tôi không đau yếu bênh hoạn gì cả mà vẫn dũng cảm lớn lên như những bông hoa dại trong vườn. Thấy ba tôi cực khổ quá, mấy cô tôi ai cũng đốc thúc ba tôi lấy vợ để bớt cô quạnh và có người chăm nom, săn sóc gia đình. Ba nói để anh em tôi lớn lên rồi sẽ tính chớ cưới vợ bây giờ ba rất sợ cảnh “mẹ ghẻ ” ăn hiếp con chồng. Vậy mà cô Chín tôi tài khôn, từ Sài gòn dẫn về một bà, giới thiệu cho ba tôi. Ba đâu có chịu. 

Lại một trường hợp khác, y như chuyện thần tiên, chuyện cổ tích: Có một người người trông rất sáng sủa, hiền lành, nước da trắng, ăn mặc không sang trọng nhưng gọn gàng, không biết từ đâu, hễ ba tôi vắng nhà là xuất hiện. Bà mang cho chúng tôi bánh trái, rồi sắp xếp đồ đạt, quét dọn nhà cửa từ trong ra ngoài rất sạch sẽ, tươm tất rồi ra đi. Bà xuất hiện nhiều lần như vậy rồi sau đó không thấy trở lại nữa. Tiếc là lúc đó tôi không nói chuyện với bà, cũng không hỏi ba. Câu chuyện đi vào quên lãng, bây giờ ngồi viết mới nhớ lại. Một ý nghĩ thoáng qua, hay là má tôi xuất hiện? Nhưng mà má tôi nước da ngâm đen chớ đâu có trắng như người đàn bà bí mật kia. Không biết là ba và mấy em tôi có biết chuyện này hay không?

Đứa em thứ 6 của tôi cuối cùng cũng được đưa về sum họp với gia đình. Không nhớ là năm nào, chỉ nhớ khi về “nhập bầy” với anh em chúng tôi thì em kêu ba bằng Anh Hai, thấy xe chạy trên đường thì nói là tàu vì nơi em được nuôi lúc nhỏ chỉ toàn là sông rạch, người ta đi lại bằng ghe, thỉnh thoảng cũng có thấy những chiếc tàu. Thời gian ở Long Thành mấy em tôi học trường làng, tôi và anh hai đi học tiểu học ở quận, bằng xe đạp, xa nhà 4 cây số. Mỗi ngày ba tôi dậy sớm nấu cơm cho anh em tôi mang theo ăn trưa ở trường, đến chiều thì đạp xe về nhà. Hết lớp nhất, anh hai tôi thi đậu vào trường Trung học Ngô Quyền, Biên Hòa, còn tôi tiếp tục học trường tư ở quận vì quá tuổi, không thi vào đệ thất ( lớp 6 ) trường công được.

Về quê làm vườn và làm gà trống nuôi con được mười năm, ba tôi được hãng xe buýt kêu trở lại làm việc. Lên Sài gòn ba tôi đòi lại nhà đường Tôn Đản để đưa anh em tôi lên ở. Người ta không trả nhà mà cũng không trả tiền thuê nhiều tháng. Ba phải nhờ luật sư đưa họ ra tòa xin án lệnh trục xuất. Vụ việc kéo dài nhiều năm mới giải quyết xong. Trong lúc đi làm mà chưa đòi lại được nhà không biết ba tôi ở đâu mà cứ mỗi tuần vào chiều thứ bảy thì ba về thăm chúng tôi để rồi chiều chủ nhật ra con lộ trước nhà đón xe đò lên Sài gòn cho kịp đi làm ngày thứ hai. Sáu giờ chiều ba mới về nhưng mới hai giờ trưa thì tôi và bốn đứa em (anh hai tôi học ở Biên Hòa chưa về) đã ra ngồi thành hàng một trước hiên nhà, hướng mắt ra quốc lộ 15 để trông ngóng ba tôi, hy vọng sẽ nhìn thấy một chiếc xe đò nhỏ vừa qua khỏi Cầu Nước Trong thì chậm lại rồi ngừng hẵn: một người đàn ông vóc dáng trung bình, cao độ một thước sáu mươi lăm, áo sơ mi trắng bỏ ngoài, quần tergal màu xanh lợt, một tay cầm ổ bánh mì, tay kia xách con vịt quay, bước xuống. Ba tôi đó! Có những thứ tình cảm mà chữ nghĩa không thể diễn tả và diễn tả hết được. Một em bé ngồi ở ngạch cửa chờ mẹ đi chợ về chỉ trong chốc lát đã thấy dài vô tận. Còn anh em tôi phải chờ đến bảy ngày mới gặp lại ba thỉ nỗi khát khao, vui mừng kia nó to lớn đến mức độ nào? Ba tôi vì hoàn cảnh phải để bầy con thơ dại sống một mình trong căn nhà nhỏ giữa đồng không mông quạnh thì sự nhớ thương, lo lắng và nóng lòng của ba biết lấy gì mà đo lường được? Khi ba về mà có anh tôi về nữa thì thật hạnh phúc. Ba dắt chúng tôi ra dòng suối trước nhà tắm giặt, nô đùa thỏa thích, ba dẫn chúng tôi đi chợ Long Thành mua thức ăn dự trữ cho một tuần. Trước khi trở lên Sài gòn bao giờ ba cũng kho để lại cho anh em tôi một nồi thịt có trứng vit. Niềm vui 24 giờ của chúng tôi trôi qua rất nhanh vì đến chiều chủ nhật thì anh tôi trở lên Biên Hòa còn ba thì đi Sài gòn tiếp tục bán vé xe buýt. Khi nhìn anh và ba chuẫn bị đồ đạc lên đường bao giờ tôi cũng chảy nước mắt, hình như tôi biết buồn kể từ ngày đó, nhưng chưa bao giờ tôi để các em nhìn thấy. Tôi là người rất nhạy cảm và dễ xúc động nhưng trước mặt mọi người bao giờ tôi cũng tỏ ra cứng rắn.

Không nhớ năm nào thì ba lấy nhà lại được và rước chúng tôi lên Sàigòn. Có lẽ lúc đó tôi hai mươi tuổi, vì bài thơ đầu tiên tôi làm đăng báo ở Sàigòn có tên là Tuổi Hai Mươi. Chỉ trừ anh hai tôi là vẫn tiếp tục học trường công ở Biên Hòa còn tôi và các em đều học trường tư, trường Hưng Đạo ở đường Cống Quỳnh, gần chợ Thái Bình và rạp chiếu bóng Khải Hoàn bên quận 1. Chỉ việc lo áo quần, sách vở và học phí cho năm anh em tôi chắc ba cũng mệt. 

Thời gian sau, khi việc nhà cửa và việc học của chúng tôi ổn định thì ba về quê ngoại, tìm và rước ngoại lên ở chung với chúng tôi. Vậy là hơn mười năm bà cháu tôi mới sum hợp lại, mừng mừng tủi tủi, có bút mực nào mà tả cho hết. Lúc má tôi còn sống, ngoại đã nuôi dưỡng và chăm sóc chúng tôi, hai mươi năm sau bà lại tiếp tục khổ cực vì chúng tôi! Thấy sức khỏe của ngoại ngày càng suy giảm, ba mới xin phép ngoại cho ba tục huyền để có người phụ ngoại lo việc chợ búa, cơm nước, coi sóc gia đình và ngoại đồng ý. Người này ở xã An Lợi, hiền lành và ít nói, có lẽ do cô Năm tôi giới thiệu. 

Ngày rước dì tôi lên, ba đốt nhang khấn vái trước bàn thờ của má, ba sai tôi qua nhà bà Năm bên cạnh mua một xị rượu, ba và dì làm lễ với ngoại dưới sự kiến của mấy anh em tôi. Buổi “lễ cưới” cực kỳ đơn sơ nhưng trang nghiêm và xúc động. Anh hai và đứa em út của tôi thì hân hoan còn tôi thì có cảm giác bâng khuâng khó tả, không buồn mà cũng không vui, mặc dầu tôi hoàn toàn tán thành việc tục huyền của ba, thật ra trước đó ba đã hỏi ý kiến của mấy anh em tôi rồi. Có dì thì ba bớt cô đơn và mệt óc, ngoại cũng đỡ vất vả. Rồi một ngày, ngoại lui về Phú Xuân cất một căn nhà nhỏ, giống như cái am bên cạnh nhà ông Năm, em của ngoại, ngày đêm tụng kinh niệm Phật, khi nhớ cháu thì bà lên thăm. Anh Hai tôi từ Biên Hòa cuối tuần đạp xe về Sàigòn sum hợp với gia đình. Ít lâu sau anh mất vì bệnh.

Gia đình tôi ổn định được 5 năm thì ba tôi lại bị cho nghỉ việc, vừa lúc tôi thi đậu tú tài phần 2, nghĩa là vừa xong trung học. Lần này ba quyết định cùng với dì trở về quê, sửa lại căn nhà, chăm sóc lại mảnh vườn đã hoang phế từ nhiều năm. Năm anh em tôi lại sống một mình. Lần này không phải là nơi đồng không mông quạnh mà là giữa lòng đô thị với tất cả phức tạp và nghiệt ngã của nó. Thật là may, ngay khi ba tôi bị nghỉ việc và trở về quê thì tôi được nhận vào làm thông dịch viên tại Ty Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Bình Dương, cách Sàgòn 30 cây số, với số lương khá cao. Sở dĩ tôi làm được điều này là vì ngoài giờ học phổ thông buổi sáng ở trường Hưng Đạo, ba đã cho tôi học thêm Anh Văn vào buổi chiều, suốt bốn năm cuối trung học. 

Nếu trước đây ba từ Sài gòn về Cầu Nước Trong thăm chúng tôi vào cuối tuần thì đến phiên tôi, từ Bình Dương tôi về thăm các em tôi ở Sài gòn cũng vào cuối tuần. Tuần nào tôi không về được thì đứa em kế lên chỗ tôi ở trọ lấy tiền về chi dùng. Trong thời gian này, cùng lúc tôi chịu hai áp lực, một là gánh nặng gia đình, hai là bị gọi đi lính. Tôi được hoãn dịch vì lý do học vấn. Nếu năm nào tôi rớt một chứng chỉ ở trường Luật thì phải trình diện nhập ngũ ngay. May mắn cho tôi, vừa làm vừa học cực kỳ gian nan, vậy mà sau 4 năm tôi cũng có được mảnh bằng Cử nhân Luật. Kế đến một may mắn nữa là tôi trúng tuyển vào Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam, ngạch chuyên viên, lương cao không thua gì lương dân biểu hồi đó. Hàng tháng, ngoài chi phí học hành, chi tiêu trong gia đình cho mấy đứa em, tôi còn giúp được ba. Thường thì mỗi tháng ba lên Sàigòn, ghé thẳng ngân hàng gặp tôi để nhận tiền. 

Đến “Mùa Hè Đỏ Lửa” năm 1972 luật tổng động viên ban hành, tôi giã từ ngân hàng, nhập khóa 1/72 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ra trường đi tác chiến hai năm, tôi được biệt phái về lại ngân hàng cho tới ngày 30-4-1975.

Sau gần ba năm đi “học tập cải tạo” trở về thì ngoại tôi mất, hai em thứ tư và thứ sáu thì “hồi hương” về Long Thành làm ruộng với ba, căn nhà và miếng vườn ở Cầu Nước Trong cũng không còn. Quan trọng hơn là sự chia tay giữa ba và bà dì. Bà trở về sống với con bà, ba tôi thì sống với hai em tôi. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra. Ba không nói, tôi cũng không hỏi. 

Khi được “tạm tha” về nhà, tôi bị công an địa phương áp lực nặng nề. Họ bắt tôi trình diện mỗi tuần và hối thúc tôi đi “kinh tế mới” như “giấy ra trại” đã ghi. Họ bảo tôi phải “chấp hành”. Tuy vậy, tôi không chịu thua họ, không đầu hàng hoàn cảnh mà cải thiện hoàn cảnh, bằng mọi cách phấn đấu để vươn lên. Kết quả: tôi được nhập lại hộ khẩu, làm việc ở nhiều cơ quan nhà nước khác nhau, kể cả ở ban Tài Chánh Quản Trị thành ủy Sài gòn, giúp họ cải tiến công tác quản lý các công ty xuất nhập khẩu của đảng. Khi nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động, tôi “nhảy ra” làm việc cho nhiều ngân hàng với nhiều chức vụ quan trọng, như khi tôi giúp nhóm tư bản Đài Loan, xây dựng cho họ một ngân hàng, họ tin tưởng, bổ nhiệm tôi làm Tổng Giám Đốc. Căn nhà cây vách ván ở đường Tôn Đản mà ông ngoại tôi cất từ thuở nào đã mục nát, được tôi xây lại bằng gạch, đẹp đẽ hơn, khang trang hơn. Rồi tôi về Long Thành rước ba lên ở với tôi. Lúc này tôi đã cưới bà xã và có hai con.

Vào một buổi chiều mùa Thu, ba than đau bụng. Tôi chở ba đến bệnh viện đa khoa quận. Nơi đây người ta khám qua loa, bảo là đau ruột thừa rồi quyết định chuyển ba lên bênh viện Nguyễn Trải quận 5. Tôi về nhà lấy thêm đồ đạc cần thiết cho ba, đồng thời báo cho đứa em thứ 5, ở nhà đối diện, cùng đi theo ba với tôi. Nếu là đau ruột thừa thì phải mổ ngay. Lấy lý do là ngày chủ nhật không có bác sĩ (?), người ta để ba tôi nằm ôm bụng suốt một đêm. Sáng hôm sau ba bảo tôi cứ đi làm, một mình em tôi ở với ba cũng được. Tôi đi làm mà lòng không yên. Trưa tôi ghé bệnh viện, người ta nói ba tôi đang ở trong phòng mổ, bảo tôi ra hành lang mà chờ. Thời gian chờ đợi dài khủng khiếp. Tôi nghe như có lửa đốt trong lòng. Rồi người ta đẩy ba tôi qua một căn phòng mà từ cửa sổ hành lang tôi có thể nhìn thấy được: Ba nằm bất động trên giường, chằn chịt những dây truyền dịch, dây trợ thở. Tôi thấy ba cô đơn quá, một sự cô đơn tuyệt đối! Tôi muốn chạy đến bên người, nhưng đã “nghìn trùng xa cách”, vĩnh viễn xa cách! Người ta mời tôi vào văn phòng và cho biết ba tôi đã ra đi! Bầu trời trước mặt tôi đã sụp đổ. Tôi không màng hỏi xem ba tôi mất vì lý do gì và suốt đời tôi không biết vì lý do gì!

Ba tôi mất ở tuổi 73. Nếu có ai hỏi tôi cư xử như thế nào với ba khi người còn sống thì tôi trả lời đã làm hết những gì có thể. Tuy nhiên, có một điều quan trọng tôi rất ân hận là nói chuyện với ba ít quá. Đáng lẽ tôi phải nói chuyện với ba nhiều hơn, để hiểu ba hơn và chia sẻ với ba những nỗi niềm, ưu tư trong cuộc sống. Và, buồn nhất là trong giờ phút lâm chung của ba không có đứa con nào có mặt. Ba tôi có đầy đủ phẩm chất của một người cha (như Willam Smart) mà cả thế giới ngưỡng mộ, lấy làm biểu tượng và dành một ngày trong năm để vinh danh, gọi là ngày Từ Phụ. Các phẩm chất đó là lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương cao cả dành cho các con. Ngoài ra, ba tôi còn là một người rất nhân hậu và đạo đức. Đây là một di sản quý báu, đáng tự hào mà anh em chúng tôi đã thừa hưởng và phát huy được từ một người cha khả kính, đúng như nhận định rất chính xác của đứa em út : 

Dầu không thành đạt gì về vật chất. Nhưng tất cả đều đã sống lương thiện, đàng hoàng, biết yêu cái đẹp và còn có thể làm ra cái đẹp nữa”.

Duy Nhân

Sunday, July 30, 2023

Tình Người Viễn Xứ

Cơn hồng thủy ngày ba mươi tháng tư năm một chín bảy lăm đã xô đẩy hàng triệu người Việt ra khỏi quê hương và trôi dạt khắp nơi trên thế giới mà đông nhất là ở Hoa Kỳ. Thời đó, hễ thấy ai đầu đen thì người ta chạy riết lại nhìn mặt xem có phải là người Việt không. Nếu phải thì người ta ôm chầm lấy nhau. Có người nước mắt ràn rụa, giọt ngắn giọt dài, vừa mừng vừa tủi vì “ tha hương ngộ cố tri” mà. 

Dần dà số người Việt định cư ở Mỹ ngày càng đông thì hình ảnh thân thương kia cũng phai nhạt dần khi người ta đã trở thành công dân Mỹ, hội nhập vào đời sống xã hội Mỹ, lúc nào cũng gấp gáp lo chuyện cơm áo, gạo tiền, không còn thì giờ để quan tâm, dòm ngó tới hàng xóm láng giềng, kể cả bà con thân thuộc, nhất là những người ở xa. Hình ảnh một người Mỹ ngồi trên xe bus đi đến chỗ làm, vừa uống tách cà phê, vừa đọc báo cho thấy là thì giờ ở Mỹ rất hiếm hoi và quý báu. 

Có ý kiến cho rằng người Mỹ rất lạnh lùng, đèn nhà ai nấy sáng. Điều này không đúng. Giá trị Mỹ nằm ngay ở chính tên gọi của nó : Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, đất nước hình thành bởi nhiều chủng tộc, sắc dân trên thế giới. Chính quyền và người dân Mỹ sẵn sàng dang tay đón nhận, giúp đỡ, tạo mọi thuận lợi cho những ai đủ điều kiện muốn đến Mỹ sinh sống dầu là để tị nạn hay mưu tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn. Các chính sách về lương thực, thực phẩm, y tế, xã hội, giáo dục cho người mới tới, ai khó khăn về nhà ở thì có chế độ housing. Từ sau biến cố 30/4/1975 rất nhiều người Việt được các gia đình Mỹ bảo trợ, tiếp nhận, rước vào nhà, sống chung với họ như người trong một gia đình.

Thế hệ thứ nhất qua Mỹ hầu hết đã lớn tuổi. Tuổi già rất dễ rơi vào cảnh cô đơn và buồn chán, nhiều khi còn thấy mình vô dụng nếu như thì giờ nhàn rỗi không biết dùng vào việc gì. Ở Chicago ngoài sinh hoạt hội đoàn, chúng tôi tập họp nhau lại thành một nhóm nhỏ để cùng sinh hoạt, vui chơi với nhau không điều kiện và đặt cho nó một cái tên để gọi là Hoàng Gia. 

Hoàng Gia không phải là một hội đoàn có tổ chức, có qui chế, nó không có liên hệ, họ hàng gì với gia đình vua chúa, quý tộc, nó chỉ là Già Hoang nói lái. Già thì có còn hoang đàng chi địa thì không mà nó rất lành mạnh và vui nhộn. Phương châm hoạt động của nhóm là “một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ ”. Thường thì mỗi tháng chúng tôi gặp nhau một lần để mừng sinh nhật cho một thành viên trong nhóm. 

Mỗi lần tụ tập với nhau thì tha hồ kể cho nhau nghe một thời của quá khứ, kinh nghiệm đã trải qua, đem khoe một tấm ảnh mới chụp, một bức tranh mới vẽ, một bản nhạc mới sáng tác, một truyện ngắn, một bài thơ mới làm rồi bình phẩm, khen chê, vui đáo để. Lâu lâu lại tổ chức đi du lịch với nhau nữa. Nhà thơ Thanh Ngọc 92 tuổi là người cao tuổi nhất nhóm, có nguyện vọng muốn tập họp thơ của mình lại, in thành một tập để trình làng trước khi anh nhắm mắt mà không có điều kiện. Thế là cả nhóm xúm lại giúp đỡ và anh đã được toại nguyện. Phải gặp nhau thường xuyên mới biết ai còn, ai mất, ai có bệnh hoạn đau yếu gì không để kịp thời viếng thăm, giúp đỡ. Đó là chủ trương của nhóm. Anh Thanh Ngọc sống một mình giống như anh Nguyễn Thắng Thương, cách phòng anh Thương vài căn, được anh Thương giúp rất nhiều khi đau yếu bệnh hoạn cho đến khi mất.

Anh Nguyễn Thắng Thương áo sậm ngồi giữa. Hình chụp tháng 9/2012, lúc này anh đã bệnh rồi

Linh Nguyễn và anh Thương
Hình chụp tháng 2/ 2023

Anh Nguyễn Thắng Thương sinh năm 1942, không vợ không con, sống một mình trên tầng 14 của một cao ốc dành cho những người có khó khăn về nhà ở. Bà con thân nhân không ai ở gần nên anh xem Hoàng Gia như một gia đình và sinh hoạt với nhau trên mười năm nay. Năm 2012 anh Thương bị bệnh ung thư hạch, trong người có ba cục bứu. Lúc đó anh chỉ còn là một bộ xương và không có hy vọng sống còn. May mà nhờ có cháu Linh Nguyễn biết anh Thương từ trước, giúp đỡ. 

Cháu Linh Nguyễn sinh năm 1971, cùng ba mẹ đến Mỹ năm 1992 theo diện HO-10. Sau khi học Y Tá bốn năm, cháu ra trường làm việc ở bệnh viện Rush North Shore, các trung tâm phục hồi sức khỏe (rehab) như Buckingham, Lincolnwood Place từ năm 2001. Linh liên lạc với bác sĩ, bệnh viện và chỡ anh Thương đi cấp cứu, làm hóa trị, mỗi lần làm từ 7 đến 8 tiếng, về nhà còn phải theo dỏi 2 tiếng nữa. Linh tự nguyện và âm thầm giúp anh Thương cho tới năm 2017 bệnh anh Thương trở nặng thì một công ty chuyên về chăm sóc bệnh nhân mới giới thiệu Linh đến chăm sóc cho anh Thương tại nhà theo qui định hai lần một tuần, mỗi lần một giờ với giá 50 $/giờ. Thực tế cháu phải phục vụ anh Thương từ bảy đến tám tiếng một ngày mà chỉ được trà có một giờ nên thiệt thòi rất nhiều. 

Sau một ca mổ anh Thương được cho về nhà thì tình trạng trở nên ngày càng xấu. Cháu Linh phát hiện trong người anh Thương còn 21 cái staples sau khi phẩu thuật bác sĩ và những người có trách nhiệm quên follow up, không hẹn ngày tái khám để lấy những cái stapples ra. Linh lại phài đem anh Thương vào lại bệnh viện để phẩu thuật lại và anh Thương được cứu sống. Linh nói đây là malpractice, nếu thưa kiện thì các cá nhân liên hệ có thể bị rút giấy phép hành nghề. 

Từ năm 2001 cháu Linh đã bị bệnh tim phù động mạch chủ và suy thận giai đoạn cuối, tỷ lệ sống còn là 20% vậy mà vẫn đi làm, trong mười năm chờ đợi mới được đưa vào danh sách 1500 người chờ ghép thận mà Linh là người đứng cuối bảng. Bất ngờ vào năm 2020 ở Buckingham có một bà Mỹ trắng mà cháu Linh phục vụ đã viết một bài báo ngắn về trường hợp của cháu đang cần một trái thận. Bài báo được phổ biến ở nhà thờ. Một người bạn của Linh thấy vậy mới đưa lên FaceBook. Một bà Mỹ trắng ở Naperville tên là Louise Porter biết được mới liên lạc với cháu. Sau khi tìm hiểu, bà và chồng đồng ý hiến một quả thận của mình cho cháu. Cuộc ghép thận được thực hiện thành công ở bệnh viện North Western Chicago như một phép mầu : Chỉ hai tiếng sau khi ghép thận thì cháu đi tiểu được mà 4 năm trước cháu không thể. Cháu nói phải lọc thận một tuần 3 lẩn, mỗi lần 4 tiếng. Chi phí lần ghép thận này lên đến một triệu đồng mà cháu Linh khỏi phải trả đồng nào vì có bảo hiểm và chế độ medicare thanh toán. 

Linh cho biết vào năm 2009 mặc dầu đang bệnh nặng và tài chánh khó khăn nhưng Linh và gia đình đã chi 3000 USD, tương đương 60 triệu đồng VN giúp một bệnh nhân tên Lý Mạnh Hà ở Sa đéc, Đồng Tháp Việt Nam cần phẩu thuật mổ tim gấp mà không có tiền và ở trong tình trạng sống còn chỉ là 20%. Nhờ cháu Linh mà một bệnh nhân được cứu sống. Linh cứu giúp người vô điều kiện nên Linh cũng được người cứu giúp. Có phải chăng đó là vấn đề tâm linh hay là định luật của Thượng Đế, là nguyên tắc của cuộc đời : Gieo nhân nào thì gặt quả đó, gieo duyên lành tất sẽ được ân phước. 

Cùng năm đó cháu Linh được Lincoln Wood place, một tổ chức điều hành các nursing home toàn tiểu bang Illinois chọn trong số 120 y tá xuất sắc ở các nursing home được đề cử để trao bằng Heart of Caring, phần thưởng cao quí cho người tận tâm phục vụ bệnh nhân. Một vinh dự cho Linh Nguyễn, một hảnh diện cho người Việt Nam.
Bà Louise Porter, người đã hiến một trái thận của mình cho Linh Nguyễn

Trở lại trường hợp của anh Thương. Cháu Linh chăm sóc cho anh từ năm 2012. Vì bệnh thận trở nặng, sức khỏe kiệt quệ và bác sĩ không cho phép tiếp xúc với bệnh nhân nên Linh phải nghỉ ở nhà và không tiếp xúc với anh Thương từ năm 2019. Từ năm đó Linh cũng đã nghĩ hưu. 

Vào một đêm tháng 9 năm 2022 Linh nhận được điện thoại từ bệnh viện Saint Francis yêu cầu đến gấp vì anh Thương đang hôn mê, cần vô máu, phài có sự đồng ý với chữ ký của người nhà vì bệnh viện thấy có tên cháu Linh trong hồ sơ bệnh án của anh Thương. Trước đó bệnh viện có cố gắng gọi người cậu và em của anh Thương mà không liên lạc được. Từ đó cháu Linh trở lại giúp anh Thương sau bốn năm gián đoạn. Lúc này bệnh anh Thương tái phát trở lại và nặng hơn. Trong thời gian này anh được đưa cấp cứu ở bệnh viện ba lần vì bị ngất và té ngã trong nhà. Anh Thương được đưa qua, đưa lại từ bệnh viện đến nursing home nhiều lần. Anh Thương cho biết ở nursing home như là “địa ngục trần gian”. Do vậy cháu Linh phải vào nursing home mỗi ngày để chăm sóc cho anh, tắm rửa và làm vệ sinh cho anh. Lần thứ nhất vào tháng 9 năm 2022 như Linh đã kể. 

Tháng 2 năm 2023 tôi và một số anh em trong nhóm đến thăm anh tại phòng nơi anh ở. Lúc này trông anh xanh và ốm nhiều, đi đứng phải nhờ vào wheel chair, cháu Linh cũng có mặt. Tôi lấy cell phone chụp vội một tấm hình cho hai người. Anh Thương nói: “Tôi nói chuyện với các anh đây là từ cõi âm vì tôi coi như đã chết từ lâu, nếu không có Linh. Linh là vị bồ tát, tiền kiếp là cha tôi, nay tái sinh để chăm sóc tôi, hy sinh vì tôi, cực khổ vì tôi, bởi vì chỉ có cha mới thương con như vậy mà thôi và Linh còn hơn thế nữa ...” 

Trước khi ra về chúng tôi ngỏ ý trao cho anh một số tiền do anh em gửi. Anh từ chối và nói tiền thì tôi có, lúc này tiền để mà làm gì. Tình bạn như các anh mới là quý. lần thứ hai vào tháng 3 năm 2023 Thương lại phải nhập viện Saint Francis, sau đó người ta đưa anh vào nursing home. Đến tháng 4 năm 2023 anh được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện Weiss trong tình trạng nhiểm trùng đường tiểu, bệnh đã di căn tới xương, tủy, hồng huyết cầu tụt chỉ còn 7 so với bình thường là từ 10 đến 12, anh lại vướng Covid 19 nữa. Anh được chăm sóc mười ngày ở bệnh viện rồi sau đó được cho về nursing home. Một ngày sau nursing home chuyển anh đến bệnh viện North shore Evanston, sau đó lại chuyển về nursing home. Hai ngày sau ở đây lại chuyển anh đến bệnh viện North Shore ở Skokie. 

Ngày 30/4/2023 lúc 12 giờ trưa trong khi đang dự lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận ở một tổ chức của cộng đồng, cháu Linh nhận được điện thoại từ bệnh viện cho biết anh Thương sẽ ra đi trong vài giờ tới. Linh lập tức đến bệnh viện thì thấy anh Thương bị hôn mê, huyết áp và hồng huyết cầu đang tuột dần, và xuất huyết nội, máu tràn bao tử được hút ra toàn một màu đen. Khi cháu Linh đến thì hai dòng nước mắt anh Thương ứa ra, lăn dài trên má. Cháu Linh đã kịp thời nói những lời cuối cùng và vuốt mắt cho anh. Khi đó mắt anh mới khép lại, kim đồng hồ chỉ đúng 7 giờ 30 tối. Một an ủi cho anh Thương là có sự hiện diện đúng lúc của một cô bạn gái trong lúc anh trút những hơi thở cuối cùng.

Tang lễ anh Thương được nhóm Hoàng Gia và cháu Linh tổ chức ở nhà quàng Midtown, Chicago ngày 5/5/2023 theo nghi thức Phật Giáo với sự có mặt của vài thân nhân của anh ở tiểu bang xa về. Ngày hôm sau 6/5/2023 cháu Linh liên lạc với chùa Liên Hoa và được chấp thuận của thày trụ trì, mang tro cốt và di ảnh anh Thương ký gửi ở chùa. Ngày 7/5/2023 cũng một mình Linh đến chùa làm lễ cúng thất đầu tiên cho anh Thương. Có một điều ít người biết là cháu Linh và gia đình đều là tín đồ Thiên Chúa Giáo còn anh Thương thì theo Phật Giáo. Nguyện vọng sau cùng của anh Thương là sau khi mất được để một tấm ảnh nhỏ trên một góc bàn thờ của gia đình cháu Linh và Linh hứa là sẽ thực hiện. Anh Thương mất đi có để lại số tiền 39,000 USD được trao đầy đủ cho một cô em của anh ở California.

Lời kết: Bài viết này không nhằm quảng bá hay đề cao một tập thể hay cá nhân nào, cho dầu cá nhân đó rất xứng đáng. Tác giả chỉ mô tả, kể lại một sự kiện của đời thường khiến chúng ta xúc động và suy tư vì chính sự kiện đó, giá trị của sự kiện đó chớ không phải vì cá nhân. Ở đây tác giả đã nói rõ khi đặt tên cho bài viết của mình, đó là TÌNH NGƯỜI VIỄN XỨ. 

Viễn xứ là xứ ở xa, Hoa Kỳ cách Việt Nam đến nửa vòng trái đất với nhiều sắc dân từ các châu lục khác nhau mà người ta cư xử với nhau thật là tình nghĩa, cho dầu không có họ hàng, bà con thân thiết gì với nhau. Có người đã hiến một phần thân thể của mình cho người xa lạ như bà Mỹ trắng kia đã hiến một trái thận của mình cho cháu Linh và cháu Linh đã giúp đỡ tài chánh để cứu người ở Việt Nam, đã hy sinh phục vụ không điều kiện để chăm sóc cho anh Nguyễn Thắng Thương. Điều gì đã khiến người ta làm như vậy? Tùy vào tín ngưỡng và góc nhìn, mỗi người sẽ có cách lý giải khác nhau. Từ đó chúng ta rút ra được bài học để tin rằng giữa cảnh đời bon chen và phức tạp này còn có những gì thiêng liêng cao quí. Cuộc đời này vẫn rất tốt đẹp và đáng sống biết bao!

DUY NHÂN

Blog Archive