Showing posts with label Phạm Quang Trình. Show all posts
Showing posts with label Phạm Quang Trình. Show all posts

Wednesday, March 25, 2020

Để nhớ về những ngày sau 30-04-1975

Rồi đời thằng Ba mươi

Phạm Quang Trình 

Tên thật hắn là Nguyễn Văn Tắc, thứ ba trong gia đình, nhưng người ta không gọi hắn là Ba Tắc mà lại gọi là Ba Chỉa vì hắn là “Thằng Ba Muơi” thứ thiệt đón gió trở cờ theo Việt Cộng sau ngày 30 tháng 4. 

Khoảng thời gian ấy, giới đồng bào đi buôn bán nông phẩm, thực phẩm tử miến Định Quán, Gia Kiệm, Long Khánh phải “đối đầu” với hắn, một tên Trưởng Trạm Kiểm Soát ác ôn do Việt Cộng dựng nên. Người ta lại gọi hắn là thằng Ba Chỉa, ngụ ý xỏ xiên cho hắn là thứ chôm chỉa, trộm cắp, cướp của đồng bào. Người hắn nhỏ con, gầy guộc, mặt choắt lại, mắt lại lé, nhưng dáng di rất nhanh nhẹn, luổn chạy rất tài. Thời còn “Mỹ Ngụy”, tới tuổi quân dịch, bao lần bị Cảnh Sát an ninh rượt bắt, Tắc luổn tránh như không. Về cái khôn lanh thì cũng không mấy người bằng hắn. Người ta bảo: “nhất lé, nhì lùn, tam hô, tứ hói” thì hắn chiếm cái thứ nhất và cái thứ nhì. Chả vậy mà khi thấy phe Quốc Gia chạy thua tới Long Khánh, hắn đả hùa theo đám du kích địa phương để tham gia bộ đội giải phóng và đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì hắn nghiễm nhiên trở thành người của “Cách Mạng”. Đi đâu, hắn cũng xách kè kè khẩu súng AK và mang một miếng băng đỏ cái trên cánh tay áo để ngầm nói cho bà con biết hắn là người của Cách Mạng thứ thiệt chứ không phải là mấy “Thằng Ba Mươi” như bà con thường gọi xỏ xiên mấy tên trở cờ đón gió. Nhưng đồng bào tại xã Trảng Bom, chẳng ai nói ra, họ cũng đều biết hắn là “thằng ba mươi trốn quân dịch”. Điều đó đến tai Ba Chỉa nên hắn cắm tức, muốn làm cho bà con biết con người của hắn.

Xã Trảng Bom thời “Mỹ Ngụy” chẳng có gì nổi tiếng và đặc sắc, ngoài cái gọi là miền rừng có đồn điền cao su của Tây. Rừng cao su la liệt, bát ngát, xanh tươi. Năm 1956, nhận thấy khung cảnh đẹp, có thể làm mẫu mực trong việc phát triển ngành lâm sản, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa đã tổ chức Ngày Trồng Cây Toàn Quốc và đích thân Tổng Thống Ngô Đình Diệm về chủ tọa buổi lễ ấy. Dân chúng khắp vùng Hố Nai, Gia Kiệm đã về dự đông đảo. Nhưng biến cố vẻ vang nhất thời ấy đã qua đi mau chóng để rồi sau những xáo trộn của hậu trường chính trị phe quốc gia, Chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các chính phủ kế tiếp chẳng làm nên trò trống gì ngoài cái việc chuẩn bị cho một chính phủ đầu hàng Cộng Sản, và xã Trảng Bom đã trở thành vùng đất bất an, ngày Quốc Gia, đêm Việt Cộng.

Sau ngày Miền Nam được “giải phóng”, xã Trảng Bom đưới mắt nhà cầm quyền mới là một khu vực quan trọng về kinh tế với đồn điền cao su, với ruộng đất canh tác hoa mầu, có thể tạo ra nhiều nông sản cho kỹ nghệ cũng như thực phẩm cho nhân dân. Về phương diện giao thông, xã Trảng Bom nằm giữa Quốc lộ 1 từ Đà Lạt, Lâm Đồng, Định Quán, Long Khánh về Hố Nai, Biên Hòa, Sài Gòn. Giữ được vị trí quan trong ấy thì chính quyền có thể kiểm soát mọi ngành hoạt động của dân chúng từ Cao Nguyên về Miền Đông.

Trong bốn năm ở Xã Đội Du Kích, Ba Chỉa đã làm cho những tay có máu mặt trước kia tại địa phương mất ăn mất ngủ. Bao tên buôn gạo, bao tên buôn đồ Mỹ trước kia đều bị hắn tố cáo phải chạy đi vùng Kinh Tế Mới cho bằng sạch. Mấy ông Cảnh Sát Tài Nguyên thời Quốc Gia đã lo di chuyển sớm ngay từ những ngày đầu vì sợ hắn trả thù. Ông nào muốn yên thân thì phải lo móc ngoặc với thượng cấp của hắn thì mới yên. Từ đó, bà con trong xã ai cũng ngán. Thành tích của Ba Chỉa quả thật lớn lao đối với chính quyền cách mạng. Huyện Ủy Thống Nhất dư biết điều đó nên đã chỉ thị cho Chi Bộ Xã Trảng Bom gọi hắn lên để biểu dương:

- Từ ngày Miền Nam được giải phóng, cũng như từ ngày nhân dân huyện Thống Nhất hợp lực với Mặt Trận và Bộ Đội Giải Phóng xây dựng tổ chức chính quyền địa phương, đồng chí đã thực hiện được những thành tích thật xuất sắc. Đảng đánh giá cao khả năng và tinh thần của đồng chí. Với đề nghị của Ủy Ban Mặt Trận, chúng tôi quyết định cho đồng chí trở thành đảng viên tập sự. Vậy yêu cầu đồng chí hãy tỏ ra là có tinh thần cách mạng hơn trong việc thực hiện những công tác cụ thể, đạt chỉ tiêu kế hoạch mà cấp trên giao phó, thẳng tay vạch mặt bọn thầy tu đội lốt tôn giáo. Mặt khác, đồng chí phải tỏ ra dứt khoát lập trường của mình. Vô Đảng là không chấp nhận một thứ tôn giáo nào hết. Đồng chí biết chứ? Tôn giáo là thứ thuốc phiện ru ngủ loài người. Phải đập tan mọi thứ tôn giáo. Lập trường dứt khoát đứng đắn, khả năng phục vụ gỉỏi, Đảng sẽ giao cho đồng chí những trách vụ quan trọng hơn.  

Ba Chỉa sung sướng, xoa tay khúm núm thưa:
- Em xin thành thật cám ơn đồng chí Bí Thư. Em nguyện sẽ hết mình phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đồng chí chỉ thị điều gì, em nguyện sẽ chấp hành nghiêm chỉnh lệnh của đồng chí.

- Được. Đồng chí có thể về và ráng sinh hoạt tốt với nhiệm vụ trong Xã Đội.

Ba Chỉa “Dạ” một tiếng rồi lui bước. Hắn tự nghĩ để chắc đường tiến thân, hắn phải làm những công tác cụ thể, mà trước hết là tại gia đình. Hắn tức tốc về bảo với mẹ:

- Má…

- Cái gì mầy?

- Má dẹp ngay cái bàn thờ kia đi giùm tui. Ông Phật với Bà Quan Âm má đem giục đi chỗ khác. Tui được vô Đảng rồi. Má dẹp ngay đi thì tui mới tiến thân được…

Bà mẹ Ba Chỉa vốn biết tính thằng con lăng xăng lếch thếch, chuyên tọc mạch chỉ người nọ, bới móc người kia, cả làng xóm ai cũng kêu, cũng ghét. Nhưng vì nhờ nó kiếm ăn nuôi gia đình bà cũng đỡ, nên bà không nói gì. Đôi khi tiếng người đến tai bà, nhưng bà cũng làm ngơ. Giờ này, nghe nó đòi dẹp bàn thờ Phật khiến bà nóng máu lên, bà la rầm:

- Mầy vô Đảng thì mặc xác mày, chớ tao có vô đâu. Tao thờ Phật, thờ Ông Bà kệ tao. Tao không dẹp. Mầy muốn làm gì thì làm…

Thấy bả phản ứng bất ngờ, Ba Chỉa sợ lối xóm chạy qua e khó coi, liền đấu dịu lại:
- Thôi cũng được, tui yêu cầu má dẹp vô trong phòng má. Còn gian ngoài thi để tui treo cờ Đỏ và trưng ành Bác Hồ.

Từ hôm đó, Ba Chỉa ra sức lập thành tích. Bao nhiêu những thanh niên đến tuổi thi hành nghĩa vụ quân sự tại xã Trảng Bom đều phải trình diện đăng ký. Tên nào trốn tránh, Ba Chỉa vô tận nhà bắt. Với kinh nghiệm từng trốn quân dịch thời “Mỹ Ngụy”, Ba Chỉa biết rành rọt những chỗ trốn chui của bọn thanh niên. Vì thế hắn đi rình bắt không một tên nào thoát. Một tối kia, Ba Chỉa đi lang thang vào xóm để kiếm đồ nhậu cho mấy tay đàn anh, thì nghe có tiếng người bên đường gọi lại:

- Anh Ba! Anh Ba!

- Ai đó?

- Ba Chỉa chưa hỏi hết câu thì từ phía bụi rậm bên kia đường, mấy tên lạ mặt ùa ra, lấy mền trùm lên đầu hắn rồi đánh đấm túi bụi. Ba Chỉa nằm gục xuống đất, không kịp phản ứng, chỉ biết kêu la ầm ĩ.

- Đụ má tụi bây… Bà con ơi! Nó uýnh tui…

Bà con trong xóm chạy ùa ra thì mấy tên lạ mặt đã luổn trốn đâu mất. Một bà đứng tuổi lên tiếng hỏi:

- Cái gì đó Ba?

- Đù má. Không biết tụi nào nó rình rồi trùm mền uýnh tui…

- Có sao không?

- Dạ, cũng không sao…

Hắn nói thế chớ mặt hắn sưng vù. Miệng chảy máu vì môi vập vào răng khi mấy tên lạ mặt đè dí đầu hắn xuống đất. Hắn thấy miệng đau, nước bọt có mùi mằn mặn, vội khạc nhổ xuống đất. Nhìn bãi nước bọt, Ba Chỉa nói nhỏ:

- Ồ. Chảy máu mồm. Đù má ! Được rồi tụi bây biết tay tao…

Có người soi đèn thấy vết máu chảy loang trên mặt đất. Ba Chỉa liền bỏ đi, vừa lẩm bẩm chửi thầm. Thỉnh thoảng lại mút nước miếng nhổ xuống đất đánh toẹt một cái trong khi nghe bên tai có tên nào từ xa nói kháy vọng lại:

- Đù má. Cho đáng đời cái thằng Ba Chỉa!

                                                             *       *
                                                                  *

Sau trận đòn bất ngờ, Ba Chỉa căm hận muốn trả thù bọn thanh niên trong xã nhưng ắn không biết nhóm thằng nào. Mấy tên có máu mặt tiền bạc thì đã móc ngoặc với trưởng Công An xã nên hắn được lệnh không được sớ rớ tới. Và thật ra thì Ba Chỉa cũng được mấy tên này đấm mõm, mời nhậu và dúi cho chút đỉnh gọi là giúp tiền mua thuốc hút. Một ngày kia, Ba Chỉa lại được Trưởng Phòng Công An Huyện Thống Nhất gọi lên. Hắn e ngại không biết có chuyện gì thì đồng chí Trưởng Phòng đã trấn an trước:

- Phòng Công An huyện mời đồng chí lên để giao cho đồng chí công tác mới…

Hắn há hốc miệng và chưa biết nói gì thì Trưởng Phòng nói tiếp:

- Đồng chí biết không? Xã Trảng Bom thuộc Huyện Thống Nhất mình giữ một vị trí rất quan trọng trên trục lộ giao thông từ Đà Lạt, Lâm Đồng, Định Quán, Long Khánh về vùng Hố Nai, Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh. Bao hàng hóa, nông sản, lâm sản, hải sản từ các miền ấy và miền Thuận Hải chuyên chở về đều phải dùng quốc lộ I, nghĩa là đi qua xã này. Sau khi hoàn tất kế hoạch đập tan bọn tư sản mại bản, dẹp chế độ buôn bán tự do của bọn chúng, thì bọn này lại tìm cách tẩu tán hàng hóa đồng thời kiếm ăn bằng cách đi thu mua lén nông phẩm như bắp, khoai mì, cà phê, lúa gạo, cá khô vân vân để đầu cơ kiếm lời. Hành động ác ôn của chúng làm cho kế hoạch thu mua của nhà nước gặp trở ngại. Do đó, nhà nước quyết định cho thiết lập các Trạm Kiểm Soát Thuế Vụ trên khắp lãnh thổ, đặc biệt là trên các trục lộ giao thông để thanh toán bọn buôn chui, bọn đầu cơ tích trữ. Tại huyện Thống Nhất, xả Trảng Bom là địa điểm quan trọng và công tác coi Trạm Kiểm Soát này được Đảng giao cho đồng chí.

Ba Chỉa vẫn ngồi nghe với sự hồi hộp. Thấy công tác có vẻ quan trọng, hắn thưa:
- Đồng chí ra lệnh, em đâu dám chối từ. Chỉ e rằng một mình em làm không nổi.

Trưởng Phòng trấn an:
- Sẽ có thêm Công An và Du Kích phụ lực với đồng chí. Điều cần yếu là đồng chí phải làm việc hết sức mình. Kiểm soát thật gắt gao. Còn khả năng của đồng chí thì Huyện Ủy theo dõi các công tác của đồng chí làm, đã đánh giá đúng.

Ba Chỉa tỏ ra khiêm tốn:
- Nhưng em ít học, không biết có làm trọn bổn phận hay không.

Trưởng Phòng giải thích:
- Học cao mà làm gì? Hồ Chủ Tịch đã bảo: “Trí thức không bằng cục phân. Phân còn đem bón lúa chứ trí thức là đồ vất đi.” Đảng không thèm dùng mấy cái thằng bẩn thỉu ấy. Chỉ có những phần tử, những đồng chí chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của Đảng mới là những thành phần tốt, mới đáng kể. Đồng chí không thấy bọn Mỹ Ngụy sao? Cử Nhân, Tiến Sĩ, Tướng Tá, Trí thức thiếu gì… Đem vất vào sọt rác cho hết. Ta tấn công có mấy trận mà chúng đã bỏ chạy. Còn Đảng ta, từ Trung Ương, Bộ Chính Trị, đến các Đảng Bộ địa phương có học hành gì đâu mà ta đánh đâu là thắng đó. Dốt nát như các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp lãnh đạo nên nhân dân ta mới có ngày hôm nay đấy chứ. Đồng chí nhớ ra không? Cứ chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh Đảng là xong.

- Dạ.

Đồng chí Trưởng Phòng nhấn mạnh thêm:
- Với lại vấn đề khác nữa là Đảng luôn luôn tỏ ra đãi ngộ các đồng chí mẫn cán làm việc tích cực cho Đảng. Bộ phận Kinh Tế 3 của Sở Công An tình Đồng Nai sẽ cho người phối hợp chặt chẽ với đồng chí. Tất cả những đồ lậu tịch thâu được, Nhà Nước sẽ cho mình hưởng một phần ba. Vậy đồng chí ráng làm việc tích cực sao cho tốt để ngành Công An của mình được Trung Ương đánh giá cao.

- Dạ, em xin tuân lệnh.

Ba Chỉa ra về lòng đầy hân hoan khoái trá. Hắn mường tượng rồi hình dung ra Trạm Kiểm Soát của hắn ở một cái chốt quan trọng. Hắn ngồi ở phòng có quạt máy chạy rè rè. Ở đó, sẽ có ít nhất hai đồng chí Công An phụ giúp và hai Du Kích địa phương giữ gìn an ninh trạm. Hàng trăm xe đò, xe vận tải sẽ lần lượt phải dừng lại trình giấy và hắn sẽ khám xét kỹ càng. Có những tên buôn lậu xanh máu mặt nhìn hắn, khúm núm lạy lục xin hắn tha và hứa sẽ đền ơn. Hắn sẽ tịch thâu thẳng cẳng để được chia một phần ba những món hàng tốt. Còn những món hàng nào tầm thường thì hắn sẽ cho bọn đàn em khám xét ăn chút đỉnh để gọi là có ăn có chia. Mặt khác phải đối xử tử tế với đồng chí Trưởng Phòng và thượng cấp của đồng chí để được che chở nếu có những chuyện rắc rối xẩy ra sau này.

Điều Ba Chỉa mơ tưởng đã trở thành hiện thực, vì chỉ một tuần sau, Phòng Công An phối họp với Ban Thuế Vụ dựng nên một cái Trạm Kiểm Soát bằng hai gian nhà nhỏ lợp tôn cũ với vách ván sơ sài ngay tại xã Trảng Bom cạnh Quốc lộ I bên mé rừng cao su. Ba Chỉa nhận giấy tờ về làm Trưởng Trạm có thêm hai Công An phụ giúp và hai tên Du kích từ Xã Đội gửi qua hằng ngày để giữ gìn an ninh trật tự. 

Từ đấy, ngày đêm hai mươi bốn tiếng đồng hồ, Ba Chỉa làm việc chặt chẽ, không một xe hàng buôn lậu nào thoát khỏi con mắt lé của hắn. Hàng trăm xe vận tải đã lặng lẽ xếp hàng nối đuôi nhau để đích thân Ba Chỉa và hai tên Công An trèo lên khám. Hàng lậu đều bị tích thu đem lên Phòng Công An giữ cho an toàn. Bà con đi buôn chui than trời như bọng. Và người ta không ngờ rằng cái thằng “ba mươi trốn quân dịch” chỉ sau mấy năm được “Cách Mạng” chiếu cố đã trở nên một hung thần có một không hai ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Người người bị khám xét. Hàng hóa bị tịch thâu từ bao bắp đến gói cà phê nhỏ. Tất cả đều là đồ quốc cấm, bị tịch thâu không sót một loại nào. Thấy hành động ác ôn của hắn, bà con đi buôn chui liền tặng cho hắn cái tên Ba Chỉa từ đấy. Cả huyện Thống Nhất và tất cả những người đi buôn dọc Quốc lộ I từ Miền Đà Lạt, Lâm Đồng, Long Khánh về Biên Hòa đều gọi hắn là thằng Ba Chỉa. Hắn chôm chỉa cho hắn, cho công an, cho cách mạng đồng bào không cần thắc mắc. Họ chỉ biết hắn là tên ác ôn bóc lột thế thôi.

Có mấy người đi buôn ngồi trên xe chờ cho Trạm kiểm Soát của Ba Chỉa khám, nói chuyện với nhau. Một ông giả vờ ngây thơ:

- Tại sao Chánh Quyền Cách Mạng lại dùng mấy cái thằng ác ôn đi cướp của đồng bào cà? Cách Mạng là phải dùng người tốt, đàng hoàng chớ!

Ông chưa nói hết câu thì một bà Bắc Kỳ di cư chặn lại:
- Sao mà ông lại ngớ ngẩn thế. Cộng Sản nó có bao giờ lại dùng người tốt như ông nói. Hồi ở ngoài Bắc, chúng tôi đã có quá nhiều kinh nghiệm rồi. Khi Việt Minh lên, nó dùng toàn những tên đầu trộm đuôi cướp, những tên đào cua bắt ốc, làm con sen con ở. Phong cho chúng nó mấy cái chức chủ tịch là chúng nó làm chí chết. Có nhờ chúng bới móc, nên bọn Việt Minh cái gì chúng cũng biết. Hồi đó, mấy bà ở ngoài Bắc đi chợ qua trạm kiểm soát, bị nó tịch thu hết đồ. Hễ nó bào là đồ Đế Quốc là nó tịch thu. Đến nỗi có bà đi chợ mua mắm tôm, không biết giấu vào đâu, đã phải gói lại, buộc dây bỏ lủng lẳng vào trong váy đụp mà đi qua trạm nó mới không thấy. Ở Miền Nam, giờ này, Việt Cộng nó làm y hệt như hồi ờ ngoài Bắc. Nó lại tiếp tục dùng những thằng ma cô mất dạy, đầu trộm đuôi cướp, không lé thì cũng cà thọt. Có vậy nó mới dễ trị. Tôi hỏi ông chớ những người đàng hoàng có ai dám đi bới móc, vu khống chuyện ác ôn cho người khác không?

Nghe bà nói, ông kia chỉ biết há hốc miệng.

*     *
*

Sự hiện diện và hành động ác ôn của Ba Chỉa tại Trạm Kiểm Soát Trảng Bom đã làm cho giới bà con buôn chui phải điều đứng. Dưới ánh nắng nồng nực của buổi trưa hè, hàng trăm xe nối đuôi nhau cho hắn khám. Người nào khéo giấu thì mới thoát, còn tất cả đều bị tịch thâu. Bà con tự nhủ “đói thì đầu gối phải bò”. Không đi buôn chui buôn lủi thì lấy gì mà ăn. Tất cả những phương tiện sản xuất làm ăn, Nhà Nước Cách Mạng đều tịch thu hết cả. Ngay những giới làm công cho Nhà Nước cũng không đủ sống. Lương giáo viên chỉ mua được mười quả trứng vịt. Lương công an thi ăn được năm tô phở… Thế nên những tên có chức quyền của nhà nuớc xã hội chủ nghĩa phải tham nhũng. Còn dân thì phải lo buôn chui.  Rõ ràng xã hội mới đã tạo nên những con người mới, đói khổ, mánh mung, kể cả việc làm nghề “bất lương” để kiếm sống. Nhưng buôn chui cũng đâu phải dễ dàng gì. Dọc quốc lộ, chỉ có một con đường duy nhất là phải qua Trạm Kiểm Soát, biết làm sao? Thế nhưng, trong lúc cùng cực, con người lại hay có óc sáng tạo. Cùng tắc biến, biến tắc thông!

Ở miệt Long Khánh, trong một rẫy kia, vườn sắn vừa được nhổ lên mấy tấn củ mì đã được bốc chuyển lên mấy xe hàng, nhưng tất cả bà con còn đứng đó. Anh tài xế và người lái buôn đang bàn tính một chuyện gì quan trọng. Người lái buôn hỏi anh tài:

- Ông đã nghĩ ra kế làm sao chạy lọt qua được Trạm Kiểm Soát của thằng Ba Chỉa chưa?

Anh tài xế ngần ngừ với nét mặt đăm chiêu:
- Kể ra nếu chỗ Trạm Kiểm Soát ít xe thì mình lấy hết tốc lực chạy ào qua mặt Trạm thì sức mấy chúng đuổi kịp.

Người lái buôn tỏ ra thông minh hơn:
- Tôi ngại là chúng bắn súng và cho xe rượt đuổi thì nguy to. Ông thử nghĩ xem còn cách nào khác hay hơn không?

Anh tài xế lại ngần ngừ, rồi đăm chiêu suy nghĩ. Bỗng dưng nét mặt anh sáng lên:
- Ngày trước tôi là lính Địa Phương Quân đóng ở Miền Trảng Bom, có lần đi hành quân vô sau rừng cao su, tôi thấy phía trong rừng có đường mòn, xe chở mủ cao su của sở vẫn chạy. Bây giờ nếu mình chạy gần đến Trạm, cách khoảng một cây số rồi mình kiếm đường vô rừng cao su, đi bọc sau Trạm thì may ra có lối thoát.

Cái sáng kiến bất ngờ của anh tài xế quả thật đã mở cho giới buôn chui một sinh lộ. Hàng trăm xe vận tải, không ai bảo ai, đã âm thầm lầm lũi, chui vào rừng sâu, rồi bọc phía sau Trạm. Và người ta nhớ đến những lần chuyển quân và lương thực của Việt Cộng từ Bắc vào Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh để tránh bom đạn của phe Quốc Gia Việt - Mỹ. Giờ này, Mỹ cút, Ngụy nhào rồi, Cách Mạng lên cầm quyền thì cuộc sống làm ăn chui lủi của đồng bào trở nên khốn khổ vì sự tấn công bóc lột của những tên Việt Cộng ác ôn mới. Cách Mạng về thành phố thì dân phải chui vô rừng sâu. Đúng “Cách Mạng là đổi đời” không còn chút nào sai lầm. Và Đảng đã không lầm. Chỉ có dân chúng lầm lỡ tin Đảng nên giờ mới chết!

Cái khám phá “vĩ đại” tuy đã cứu thoát cho bao người con buôn nhưng đã gieo vào lòng Ba Chỉa và đám Công An ở Trạm Kiểm Soát Thuế Vụ mối nghi ngờ. Hắn lấy làm lạ rồi tự hỏi sao các xe vận tải chở bắp, chở mỉ, chở đậu bỗng dưng vắng ngắt? Con mắt lé của Ba Chỉa đã láo liên tìm kiếm nguyên nhân mà vẫn chưa ra được giải đáp. Cả tuần nay rồi, đường xá không còn nhộn nhịp như trước nữa. Mấy cái xe hàng chở khách qua Trạm chẳng có gì là quan trọng. Trèo lên mui, lục dưới gầm ghế cũng không kiếm ra hàng lậu. Loáng thoáng khách di đường, cùng mấy đứa con nít, mấy bà bầu.

Ba Chỉa đâm thắc mắc hỏi đồng bọn trong Trạm:
- Tuần này sao vắng hết xe hàng chở đồ lậu. Tụi bây thấy có lạ không cà?

Thằng du kích ngây thơ trả lời:
- Tại tụi mình làm mạnh nên tụi nó sợ.

Ba Chỉa tỏ ra nghi ngờ:
- Chưa chắc. Tao nghĩ tụi nó có cách nào mà mình hổng hay.

Trưa nắng, mấy thằng Công An ngồi buồn ngáp ruồi. Ngoài đường xe vắng tanh. Nhưng giữa cảnh im lìm đó, Ba Chỉa thính tai nghe như có tiếng ù ù gì ở đằng xa, như tiếng xe lửa mà lại như không phải. Hắn ngồi ngả ra ghế mơ mơ màng màng. Nhưng rồi hắn cảm thấy khó chịu đau bụng, liền đi sâu vào trong hàng cao su, kiếm một lùm cây khuất để đi đại tiện. Cái tiếng ù ù có vẻ gần hơn y hệt tiếng xe vận tải, chạy chậm chạp. Linh tính báo cho Ba Chỉa biết rằng có xe chạy ù ù trong đó. Chẳng lẽ xe Bộ Đội? Đại tiện xong, hắn kéo quần đứng dậy, chạy một mạch về Trạm, xách khẩu AK, rồi gọi thêm thằng du kích:

- Út, mầy di với tao.
- Đi đâu?
- Vô rừng.
- Bắn chim hả?
- Không. Thì cứ vô.

Hai tên liền đi thẳng vào phía rừng cao su, sâu chừng hai cây số. Qua những lùm cây rậm rạp, Ba Chỉa thấy thấp thoáng những chiếc xe vận tải chở hàng lậu nối đuôi nhau. Hai đứa ngồi xuống quan sát, từng mấy chục cái cứ lầm lũi đi từ từ rồi bọc ra phía lộ. Ba Chỉa lẩm bẩm: “Thảo nào, mình không thấy nó!”

Hắn muốn ra lệnh cho tất cả các xe đó phải ngừng lại, nhưng thấy lực lượng của hắn chỉ trơ trọi chỉ có hai đứa với hai khẩu súng AK nên lại thôi. Ba Chỉa liền bảo thằng du kích:

- Út, mầy thấy không?
- Thấy.
- Tụi mình chỉ có hai thằng ở đây không làm gì được. Để tao thị uy cho chúng một phát.

Nói xong, Ba Chỉa giơ súng chĩa về đoàn xe, bắn một tràng nổ ran. Đám dân buôn lậu hè nhau kêu mấy anh tài xế nhấn ga chạy tán loạn.

Ba Chỉa về báo cáo với Phòng Công An cho tăng cường thêm hai du kích mỗi ngày canh gác ở phía sau rừng. Xã Đội Du Kích Trảng Bom được lệnh phái qua hai tên. Từ tờ mờ sáng, khi sương đêm còn đọng ướt trên các lùm cây bãi cỏ, thì hai tên du kích lặn lội vào phía miệt rừng canh gác, bắn súng thị uy không cho đoàn xe chở hàng lậu chạy nữa.

Trời trưa nắng, khát khô cả cổ, mà mưa cũng chẳng có chỗ nào trú, hai tên du kích nói với nhau:

- Đù má thằng Ba Chỉa hại tụi minh. Đù má nó làm tàng, làm phách, tâng công với Đảng, chớ nó ăn thấy mẹ.

- Sao mầy biết?

- Cả cái Huyện Thống Nhất này ai lại không biết cái mặt thằng Ba Chỉa. Cứ nghe cái tên người ta đặt cho nó thì đủ rõ…

- Hèn chi

- Tao đi Du kích Xã đội, bà con tao ở biên Hòa đi buôn có mấy bao bắp bị bắt ở Trạm, tao xin nó cũng không cho. Đù má, tao đang tính kế cho nó một trận.

Thằng kia đưa ý kiến:
- Uýnh nó đâu phải dễ. Mấy lần trước, có mấy thằng trùm mền đập nó, nó đâu có ngán. Tính nào lại tật nấy, mà coi bộ nó còn hung hăng hơn.

- Thế mầy tính sao?

- Tao á? Đù má nó ăn, thì tao cũng muốn tụi mình kiếm chút chớ. Mầy coi, lương du kích sao đủ sống. Mà mầy coi, hai thằng ngày ngày ra nằm sương nằm nắng, chẳng có sơ múi gì. Còn nó, làm phách như một ông tướng. Mà tại sao mình mất công hả? Đù má cứ cho tụi buôn lậu đi và bảo nó chia cho mình chút đỉnh có sao không?

- Ừa, mầy nói có lý. Nhưng cáì quan trọng là làm sao canh được thằng Ba Chỉa.

Thằng kia quả quyết:
- Tao chịu trách nhiệm canh nó. Còn mầy lo bắt mối với mấy thằng tài xế và mấy cha, mấy mẹ đi buôn nghe.

Kế hoạch làm ăn của hai tên Du Kích thành công. Dân buôn chui được chúng móc nối liền “OK” cái rụp. Bởi có ăn có chia, luật đời mà. Chớ đừng có ăn quá, mất hết lộc của người khác. Có điều hai thằng Du Kích dặn kỹ dân buôn là cũng phải canh chừng:

- Mấy ông, mấy bà phải để ý mà nghe tiếng súng nghe. Có gì quan trọng, tụi này bắn súng hiệu thì ráng mà chạy, kẻo thằng Ba Chỉa nó bắt được thì phiền to.

*       *
*

Ba Chỉa vẫn làm mưa làm gió trên đoạn đường trên đoạn đường Quốc Lộ số I ngang qua xã Trảng Bom. Dân chúng ghét Ba Chỉa bao nhiêu thì Nhà Nước Cách Mạng cưng Ba Chỉa bấy nhiêu bởi vì hắn làm đúng theo chỉ thị của Đảng. Engels đã dạy: “Nhà nước là công cụ của giai cấp này để đàn áp giai cấp khác”. Công An là công cụ của Đảng, của Nhà Nước cứ chấp hành nghiêm chỉnh để đàn áp nhân dân. Chỉ có điều Đảng no, Công An no, còn bộ đội và dân chúng thì đói dài dài. Chính vì thế, có lần Bộ Đội dùng xe quân sự chở hàng lậu cho dân chúng đi ngang qua trạm Trảng Bom để ăn tiền huê hồng. Nhưng Ba Chỉa đã nhận ra sau đó. Hắn canh chừng. Xe Bộ đội đi ngang. Ba Chỉa xách súng bắn chận lại. Công An, Bộ Đội bắn nhau, đạn bay chíu chíu trên đầu. Ba Chỉa vẫn không ngán. Hắn tiếp tục tác oai tác quái và nhờ đó cái tên Ba Chỉa một ngày một nổi danh.
      
Một tuần qua, Ba Chỉa lại báo cáo lên Phòng Công An về những sự việc xẩy ra, nhất là hiện tượng Bộ Đội dùng xe quân sự chở hàng lậu cho những dân buôn lậu đê kiếm huê hồng. Công An lại báo cáo lên Tỉnh Ủy Đồng Nai và Tỉnh Ủy đã có những biện pháp gay gắt. Xe Bộ đội không còn dám đi công khai nhưng vẫn chở lén lút.

Cuộc sống mỗi ngày một khó khăn vị nạn khan hiếm thực phẩm. Nhà nước vẫn chưa có cách gì giải quyết. Tại Đại Hội Đảng lần thứ Tư, đồng chí Lê Duẩn hứa sau năm năm, dân chúng sẽ có đủ gạo và sẽ có cá, có trứng mà ăn. Đến giờ phút này, năm năm đã trôi qua, dân chúng vẫn chưa thấy trứng, thấy cả, thấy đủ gạo, mà ngay cả củ mì cũng không đủ để giải quyết các nhu cầu. Thế nên Nhà Nước cho áp dụng chính sách “Khoán Sản Phẩm”, nhưng cũng chỉ giới hạn. Dân chúng vẫn phải đi tìm kiếm sống bằng cách buôn chui. Đường Long Khánh, Biên Hòa qua trạm Trảng Bom đã trở nên căng thẳng vì sự có mặt của Ba Chỉa. Người buôn chui, kẻ bắt đồ lậu. Nhân dân và Đảng Cộng Sản. Đôi bên đấu trí nhau như hai phe đối nghịch. Nó sống thì ta chết; mà ta sống thì nó phải chết!

Đường trong rừng, nhớ có toan du kích nằm đã tạm giaỉ quyết xong. Chỉ có ít xe chạy lén lút ban đêm hay nhằm những lúc Ba Chỉa đi lên Huyện. Quốc lộ I, xe Bộ Đội cũng không còn dám nghênh ngang chở mướn nữa. Nhưng Ba Chỉa lấy làm lạ, sao một tuần nay, xe hàng nào, xe đò nào cũng có nhiều bà mang bầu đi khệ nệ. Mới đầu hắn đã tưởng thời buổi hòa bình, dân chúng có nhiều thì giờ yêu nhau, nên các bà dễ mang bầu. Qua Trạm Kiểm Soát, các bà bầu thường không phải xuống xe. Nhưng có lần Ba Chỉa đích thân lên khám, thấy các bà cứ ngồi ì trên những bao đậu xanh nên hắn ra lệnh cho tất cả mọi người đều phải xuống. Có bà mang bầu khệ nệ, không may lúc xuống xe đi bộ qua Trạm, cái bầu cứ xệ xuống. Bà khom lưng cuí đầu, lấy tay đẩy mãi nó cũng không lên. Đẩy mãi rồi kéo mãi, cái bầu thủng một lỗ và những hạt đậu xanh rào rạt rơi xuống đường trước con mắt chưng hửng của Ba Chỉa.

- À, quân buôn lậu! - Ba Chỉa hét to lên trước vẻ mặt thảm não của bà.

- Quân buôn lậu! Toàn là những bầu giả. Mấy bà làm bầu để buôn chui, tránh được con mắt của Cách Mạng à? Được rồi biết!!!

Nói xong, Ba Chỉa ra lệnh cho các tên Công An và Du kích bắt cho bằng hết. Và từ đấy có thêm một phòng khám các bà bầu ở trạm.

Hôm nay, hai giờ chiều, trời nắng gay gắt. Có một đoàn xe bị chặn ngang để khám xét. Từng mấy chục bao bắp, mấy chục bao cà phê, từng chục tấn mì được rỡ xuống để ở Trạm chờ Công An Kinh Tế 3 lập biên bản mang đi. Ba Chỉa hồ hởi vì Trạm Kiểm Soát của hắn đạt được thành tích cao. Toàn là đậu xanh với cà phê. Hơn hai chục bà đứng mếu máo trông rất thảm não! Trời vẫn nắng gắt, mồ hôi nhễ nhãi, lại khát khô cả cổ! Một cái xe hàng chạy tới tiếp để Trạm Kiểm Soát làm việc.

Ba Chỉa hăng hái ra lệnh:
- Tất cả khách hàng đều phải xuống! Tất cả các bà bầu đều phải xuống!

Mọi người đều xuống xe theo lệnh của Ba Chỉa. Thấy một bà bầu, hắn chỉ vào mặt:
- Bà kia! Vào Trạm tháo bầu ra!

- Thưa ông, tui bầu thiệt mà. Đâu phải bầu giả.

Ba Chỉa thấy lệnh của hắn bị chống lại nên gắt um lên:
- Bà còn chối hả? Vô Trạm khám!

- Dạ, tui bầu thiệt mà… Bà nói nửa như năn nỉ, nửa như mắc cở.

Ba Chỉa lại càng hung hăng gắt gao hơn:
- Bầu giả. Vô phòng khám!

Bà bầu cảm thấy như bị chạm tự ái:
- Tui hổng đi đâu hết!

Ba chỉa tức giận xông lại đẩy bà đi vô Trạm. Bà vùng vằng tức giận, quơ tay đẩy lại hắn:
- Tảo hổng đi đâu hết. Tao bầu thiệt chớ có bầu giả sao mà mầy hô khám tao?

Dân buôn lậu và những người đi đường thấy tiếng xào xáo gắt um của Ba Chỉa vội chạy bu lại một đông. Hai tên Du Kích xách hai khẩu AK lại nạt nộ:
- Mọi ngưởi dang ra!

Đám đông nhích ra một chút nhưng vẫn tò mò đứng coi. Ba Chỉa tức giận đến tột cùng vì chưa bao giờ lệnh của hắn ra lại bị chống lại như vậy. Cái con mẹ mang bầu này sao dám cưỡng lệnh hắn? Hắn quyết làm cho con mẻ phải ê mặt:

- Không vô thì đứng đó tháo bầu ra!

Bà bầu lại càng như bị chọc tức, liền vặn hỏi lại Ba Chỉa:
- Nếu tao bầu thật thì mầy bảo sao?

- Thí cứ tháo bầu ra!

Như không thể cầm được cơn giận, bà đã nhanh tay tụt hết cả quần xuống. Mọi người không ai bảo ai, cùng nhắm mắt quay đi chỗ khác kèm theo những trận cười nghiêng ngửa: Một cái bầu to tướng lộ ra và một làn da trắng bóc từ bụng xuống tới chân… Ba Chỉa cúi gầm mặt lại, hai má đỏ gay vội chạy vào Trạm. Bà bầu vẫn đứng đó, trong vẻ mặt uất hận, quên cả mắc cỡ. Bà hét to lên, giọng đầy nước mắt:

- Tổ cha, tổ mẹ thằng Ba Chỉa. Tao bầu thật, mà mầy lại bảo tao bầu giả. Mầy bắt tao cởi quần. Tao cởi cho mầy coi. Mầy không kéo quần lên cho tao thì tao hổng đi đâu nữa…

Khách qua biết chuyện nên có mấy vần rằng:

Bà con lên xứ Trảng Bom
Gặp anh Ba Chỉa nhịn cơm có ngày.
Cái đồ Việt Cộng khốn… thay:
Bắt hàng, thâu thuế, mặt mày trơ trơ!
Đàn ông khám cả “Cụ Hồ”,
Đàn bà khám cả “Con Cua xanh rì”.
Rành rành chế độ Vi Xi! 

Phạm Quang Trình
Baton Rouge 08/1987

Wednesday, November 29, 2017

Trường hợp Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

Phạm Quang Trình
trích trong “Những nhân vật dân sự...”


Có một nhân vật đã gây nhiều thắc mắc là nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, trưởng nhóm Tự Lực Văn Đoàn, người từng đảm nhiệm vai trò Bộ Trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Liên hiệp Hồ Chí Minh 1946, nhưng chỉ được ba tháng vì bất đồng chính kiến thì xin từ chức. Thời Quốc Gia Việt Nam (Quốc Trưởng Bảo Đại) và thời Đệ Nhất Cộng Hòa (TT Ngô Đình Diệm), ông Nguyễn Tường Tam hoạt động văn hóa, cho xuất bản các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn và chủ trương tờ Văn Hóa Ngày Nay. Cũng dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn và của Nhất Linh đã được Bộ Quốc Gia Giáo Dục đưa vào chương trình Trung Học. Tưởng chưa có một vinh dự nào lớn lao đối với một nhà văn như Nhất Linh khi còn sinh thời và Tự Lực Văn Đoàn đã được chính quyền xử sự như thế. Điều đó chứng tỏ nền Đệ Nhất Cộng Hòa và riêng cá nhân TT Ngô Đình Diệm rất nể trọng Tự Lực Văn Đoàn và cá nhân nhà văn Nhất Linh. Thật sự thì không ai có thể phủ nhận công trình văn học của Tự Lực Văn Đoàn và nhà văn Nhất Linh. Cho nên, việc chính phủ Ngô Đình Diệm đưa các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn vào chương trình Trung Học là đúng đắn, rất đáng hoan nghênh. Nhưng không hiểu tại sao Nhất Linh lại bị tố cáo có dính líu vào cuộc Binh Biến ngày 11-11-1960 của bè nhóm Vương Văn Đông, Hoàng Cơ Thụy, Nguyễn Chánh Thi để đưa ông đến chỗ uống thuốc độc tự tử ngày 7-7-1963 qua cái gọi là bản di chúc chính trị nguyên văn như sau:

“Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất vào tay Cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình, cũng như Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, để cảnh cáo những người chà đạp  mọi thứ tự do.” Nhất Linh Nguyễn Tường Tam  7-7-63.

Vì dính vào vụ 11-11 nên ông bị Toà Án Quân Sự Đặc Biệt gửi trát tòa gọi ra lấy khẩu cung. Qua khẩu cung thì ông chối không hoạt động chính trị và cũng không dình líu gì đến vụ phản loạn nói trên. Qua tài liệu -Trong Bóng Đêm Lịch Sử- xuất bản năm 2008- của Cựu Luật sư Lê Nguyên Phu nguyên Đại Tá Ủy Viên Chính Phủ trong Toà Án Quân Sự Đặc Biệt từ trang 188-191, nhân vật Nhất Linh được ghi lại nguyên văn như sau:

“Nhóm Hoàng Cơ Thụy là nhóm dân sự duy nhất biết trước vụ Binh Biến. Còn những người khác như Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Vũ Hồng Khanh, Phan Bá Cầm, Bùi Lượng, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Tường Tam cùng đám thuộc hạ em út gồm Trương Bảo Sơn, Nguyễn Thành Vinh, Vĩnh Lợi, Trần Tương v.v… đều là những người lúc nghe tiếng súng nổ mới chạy đến hiện trường, hoan hô đả đảo cho rậm đám. Đây là những người không được mời ăn cỗ, nhưng nghe có đình đám chạy đến để ăn có. Nhóm Caravelle không dự vào vụ Binh Biến này, không có mặt tại chỗ, và không hề bị truy tố ra Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt trong vụ này, thế mà sau, tên cầm cờ chạy hiệu Trần Tương viết sách khoa trương láo khoét đã lôi họ vào nội vụ để có chút thơm lây.

Trong số những thực khách không mời mà đến ăn có, tôi chỉ nhắc đến hai trường hợp của Phan Quang Đán và Nguyễn Tường Tam.

Trước tiên là trường hợp Phan Quang Đán, Nguyễn Chánh Thi cảm thấy lẻ loi trong nhóm Vương Văn Đông, nên khi thấy Phan Quang Đán xuất hiện trước Dinh Độc Lập, vội vàng kéo Phan Quang Đán về phe y, cho làm phát ngôn của Thi để cân bằng thế lực với nhóm Vương Văn Đông có Hoàng Cơ Thụy trợ thủ. Phan Quang Đán lên Đài Phát Thanh chửi rủa nhục mạ chính quyền một cách thô lỗ, nhưng lúc bị bắt ra tòa thì mềm nhũn như con chi chi, thái độ ươn hèn khiếp nhược.

Còn trường hợp của Nguyễn Tường Tam lại khác hẳn. Nguyễn Tường Tam có tư cách hơn. Sở dĩ tôi nhắc đến Nguyễn Tường Tam là muốn nói rõ cho hậu thế biết cái chết của ông và nguyên nhân đã đưa ông đến cái chết ấy.

Nguyễn Tường Tam sau khi bị điều tra sơ khởi tại Nha Cảnh sát, Nha An Ninh Quân Đội và thẩm vấn sau cùng tại Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt, đã được Đại Tá Lê Văn Khoa ủy viên chính phủ phóng thích ngay, không bị giam giữ một ngày nào. Trong biên bản do chính Đại Tá Lê Văn Khoa thẩm vấn, Nguyễn Tường Tam khai thực sự không biết gì về nội vụ, không có tổ chức căng biểu ngữ, rải truyền đơn chống chính phủ trước Dinh Độc Lập. Nhưng sự việc này hoàn toàn do đám em út của ông (Trương Bảo Sơn, Nguyễn Thành Vinh, Vĩnh Lợi, Trần Tương v.v…) tự động làm ra ông ngăn không nổi. Ông thỉnh cầu Đại Tá Lê Văn Khoa đừng đem đối chất với nhóm thuộc hạ. Sự thỉnh cầu này được ghi rõ ở cuối biên bản thẩm vấn. Đại Tá Lê Văn Khoa chấp nhận lời thỉnh cầu, nên trong hồ sơ không có biên bản đối chất, mặc dầu các thuộc hạ của ông khai ngược lại là đã hành động theo lệnh của ông. Các thuộc hạ của Nguyễn Tường Tam đều bị Đại Tá Lê Văn Khoa tống giam, chỉ một mình Nguyễn Tường Tam được tại ngoại hầu tra. Do dó các thuộc hạ của ông đều tỏ ra bất bình và oán hận, cho rằng chính ông đã đổ hết tội lên đầu của họ. Từ trong khám Chí Hòa, Trương Bảo Sơn viết thư ra cho bà vợ  mới chắp nối là bà Nguyễn Thị Vinh chỉ trích Nguyễn Tường Tam đủ điều, nào là phản bội anh em, nào là thiếu tư cách lãnh tụ v.v… Lá thư được giám đốc khám đường Chí Hòa đệ trình Tòa Đặc Biệt và được lưu giữ lại trong hồ sơ. Lúc bấy giờ hồ sơ đã được Đại tá Lê Văn Khoa kết thúc và đã có án lệnh ra tòa từ lâu, trước khi tôi đến thay thế Đại Tá Lê Văn Khoa. Tôi lưu giữ lá thư trong hồ sơ mà không cho chuyển đi chỉ vì thiện ý. Tôi không muốn vì lá thư nầy mà gia đình các bị can bên ngoài phải trách cứ lẫn nhau, gây thêm sự xáo trộn trong cuộc sống. Nguyễn Tường Tam vẫn được sống tự do tại gia dình.

Vụ án đã có án lệnh đưa ra tòa, nên tôi quyết định không để kéo dài thêm nữa và cho đăng đường xét xử vào phiên tòa ngày 5-7-1963. Theo thủ tục pháp lý, một can phạm bị truy tố về một tội đại hình, nếu được tự do tạm như trường hợp của Nguyễn Tường Tam, phải bị câu lưu lại 3 ngày trước phiên tòa xử. Nhưng đối với Nguyễn Tường Tam, tôi không cho thi hành thủ tục này. Tôi viết thư mời Nguyễn Tường Tam (chứ không ra trát đòi) đến gặp tôi tại Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt. Nguyễn Tường Tam đến không sai hẹn, và được tôi tiếp đón nồng hậu. Chúng tôi đã đối diện trò chuyện suốt ba giờ đồng hồ, nghĩa là trọn suốt buổi sáng, tại phòng khách riêng của tôi, không có người thứ ba tham dự, và đề tài đàm thoại, khởi đầu bằng chuyện văn chương, thế tình. Tôi đề cập trước tiên, từ những tác phẩm nổi danh của ông trong Tự Lực Văn Đoàn đến tờ Phong Hóa, Ngày Nay do ông chủ trương trước năm 1945 tại Hà Nội và đồng thời cho ông biết tôi rất hâm mộ tài hoa và sự nghiệp văn chương của ông. Mục đích của tôi là để ông yên tâm. Sau cùng tôi mới nói qua về lý do mời ông đén văn phòng tôi. Tôi cho ông biết vụ Binh Biến 11-11-1960 sắp được đăng đường xét xử và yêu cầu ông ngày đó nhớ đi hầu tòa. Đối với ông, tôi không cho tống đạt trát đòi hầu tòa, cũng như không câu lưu thân thể (theo tiếng Pháp là prise de corps) trước ngày xử án. Tôi hứa sẽ tận tình giúp đỡ ông để sau phiên xử ông vẫn được thong thả và tự do trở về nhà. Thật là một sự dễ dãi chưa từng có trong phạm vi thủ tục pháp lý. Trước sự cởi mở của tôi, ông trầm  ngâm giây lát, tỏ ý cảm kích, và sau cùng hỏi tôi: “Ông ủy viên có thể giúp tôi thêm một chút nữa được không? Tôi xin ông ủy viên giúp tôi tránh khỏi phải đối chất với bọn đàn em thuộc hạ của tôi.”

Tôi hiểu rõ ý muốn của ông, và lần này tôi cũng trầm ngâm như ông trước khi trả lời: “Điều ông yêu cầu thực sự ngoài quyền hạn của tôi, bởi vì hồ sơ đã được đăng đường, trước tòa chỉ có ông chánh thẩm là người duy nhất điều khiển phiên xử và có quyền quyết định tối hậu mọi thủ tục pháp lý. Tôi vì ông sẽ không xin đối chất, nhưng nếu luật sư biện hộ cho thuộc hạ của ông yêu cầu đối chất, tôi sợ ông chánh thẩm khó lòng từ chối. Vì vậy mà tôi không thể hứa chắc về điểm này. Tôi phải tôn trọng ông chánh thẩm trước tòa”.

Câu nói của tôi là một câu nói thành thật chí tình.

 Nhưng nghe xong Nguyễn Tường Tam trở nên ray rứt, băn khoăn vô hạn. Ông cuí đầu suy nghĩ. Và trong câu chuyện tiếp theo, ông luôn luôn trở lại vấn đề đối chất và nhiều lần nhắc nhở tôi cố gắng giúp đỡ ông. Đó là lý do vì sao câu chuyện đàm thoại giữa chúng tôi đã kéo dài ba giờ đồng hồ, suốt một buổi sáng. Lúc tiễn ông ra cửa, tôi thấy ông đi thất thểu, nhưng tôi không nghĩ rằng vì vấn đề đối chất nầy mà ông phải tự tử sau đó. Lúc được tin ông đã qua đời, suy nghĩ kỹ lại, tôi mơí nhận rõ điều ông yêu cầu là một điều tối quan trọng đối với ông. Ông không muốn đối diện với bọn đàn em và đối chất với họ trước Tòa, vì đó là một điều sỉ nhục, mất thể diện trọng đại. Trước Tòa, nếu ông tiếp tục giữ lập trường không liên quan vào nội vụ, trong khi bọn đàn em của ông lại nhất quyết cho ông là người cầm đầu, thì cái danh vị lãnh tụ của ông sẽ tiêu tan, và nhân phẩm của ông cũng bị tổn hại rất nhiều. Cho nên chỉ còn một lối thoát duy hất là để tránh sự đối chất là tự tử. Lối thoát này đã giúp ông bảo tồn danh dự và tư cách lãnh tụ, nâng cao nhân phẩm cá nhân và có thể đưa ông vào lịch sử.

Chết là hết! Chết là vạn sự hư không! Nếu cái chết của Nguyễn Tường Tam đến đây chấm dứt, thì có thể nói đó là  một cái chết rất đẹp đẽ, đáng tôn vinh như một điểm son rực rỡ trong cuộc đời chính trị của ông!

Nhưng tiếc thay, điểm son rực rỡ ấy đã bị ông xóa nhòa, bôi đen bằng một mảnh giấy nhỏ được ông để lại khi lâm chung. Trên mảnh giấy ấy ông cho biết ông tự tử vì không muốn bị xét xử trước tòa án của chính quyền Ngô Đình Diệm và xin để lịch sử xét ông về sau. Những dòng chữ này không biết có đánh lạc hướng được lý do tự tử của ông hay không, nhưng chắc chắn đã hạ thấp phẩm giá của ông rất nhiều. Cho đến giờ phút lâm chung ông vẫn còn chưa đạt, vì chưa bỏ được tham vọng lợi danh của mình, chưa giác ngộ  được hành vi tốt hay xấu của mình đối với anh em đồng chí, mà vẫn còn huynh hoang tiếp tục dối trá người đời.  Ông nói không muốn để tòa án chính quyền Ngô Đình Diệm xét xử ông, nhưng thực sự khi ông ra khai cung tại Phòng Dự Thẩm Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt thì ông đã bị tòa án của chính quyền Ngô Đình Diệm xét xử rồi, vì trong cơ chế pháp lý, Dự thẩm được xem như là một cấp xử án riêng biệt (une jurisdiction à part), có quyền định tội danh của can phạm, cải tội danh, ra án lệnh miễn tố hay truy tố ra tòa khi tội danh đã được xác định.

Vụ tự tử của Nguyễn Tường Tam về sau có nhiều người khai thác, dựa vào đó để làm nấc thang danh vọng, kể cả những người từng oán hận ông như Trương Bảo Sơn. Sau vụ đảo chánh 1-11-1963, họ được trả tự do, vội vàng tổ chức lễ truy điệu Nguyễn Tường Tam rất trọng thể tại Vườn Tao Đàn, để rồi sau đó mỗi người được chính quyền quân phiệt tưởng thưởng một số tiền lớn có thể mua nhà cửa, phố xá, mở tiệm buôn, tiệm thuốc tây v.v… Có người còn được gia nhập chính quyền, học ăn học nói ở Thượng Hạ Nghị Viện. Tôi muốn hỏi những đàn em của Nguyễn Tường Tam họ có bao giờ nghĩ rằng Nguyễn Tường Tam chết cũng vì những lời bài xích xa gần của họ.”

Qua những dòng trên đây cho thấy Nhất Linh thật sự có tham dự vào âm mưu đảo chánh 11-11-1960 nhằm lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm. Chính con út ông là Nguyễn Tường Thiết trong hồi ký Nhất Linh Cha Tôi do Văn Mới xuất bản năm 2006 trang 29-30 đã xác nhận điều đó: 

Thế rồi ông quyết định giã từ tất cả. Đà Lạt, Fim Nôm, dòng Đa Mê và cả trăm giỏ lan mà ông đã chăm sóc từ hai năm qua, để về luôn Sài Gòn, chấm dứt cái thời kỳ mà ông Lê Hữu Mục đã viết trong đoạn kết cuốn sách của ông là “một Nhất Linh nằm trùm chăn ở trên Đà Lạt”. Đối với tôi, thật bụng tôi chỉ mong ông được nằm trùm chăn lâu hơn vì đây chính là thời gian hạnh phúc nhất trong đời ông mà tôi được biết. 

Nhất Linh “xuống núi” lăn vào cuộc đời làm báo, tham gia đảo chính, thất bại, đi trốn, bị đưa ra tòa, đưa đến cái tự vẫn của ông mấy năm sau, mở đầu một thời kỳ cuối cùng của đời ông với nhiều não nề, nhiều chán chường hơn”.

Đã tham gia đảo chính nhưng tại sao Nhất Linh lại phủ nhận tất cả hành động của mình trước Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt? Đọc đoạn viết của LS Lê Nguyên Phu trên đây cũng như đọc mục “Niềm Vui Chết Yểu” từ trang 31-51 trong Nhất Linh Cha Tôi của Nguyễn Tường Thiết cho thấy tâm trạng lo âu sợ sệt của Nguyễn Tường Tam. Tại sao lại sợ và tại sao phải chọn cái chết? Mỗi người có thể suy luận theo nhận định riêng của mình.

Ông Nguyễn Văn Lục trong cuốn “Một Thời Để Nhớ” do Diễn Đàn Giáo Dân xuất bản năm 2011 nơi các trang 187-188 cho rằng Nhất Linh chọn cái chết vì bịnh tâm thần. 

Xin trích một đoạn sách của ông Nguyễn Văn Lục:Trong số những nhân vật bị bắt, có nhân vật quan trọng như một thứ biểu tượng thống lãnh và uy tín hàng đầu. Đó là ông Nhất Linh. Trước đây không lâu, tôi có viết một bài nhan đề “Trường hợp Nhất Linh, một cái chết định trước”. Trong đó tôi cho rằng Nhất Linh mắc bệnh tâm thần, bị ám ảnh thường trực ý muốn tự tử. Và cơ hội đã đến trong dịp bị gọi ra tòa về vụ đảo chánh hụt 11-11-1960. Có rất nhiều ý kiến phản bác. Nay cơ hội cho tôi có dịp khẳng định lại một lần nữa để nhận ra suy diễn của tôi không phải là vô bằng cớ mà có căn cơ đứng đắn, có cơ sở lý luận và có chứng liệu thực tiễn.” 

Ông Nguyễn Văn Lục còn nêu ra những nhận xét của những người thân thiết với nhà văn Nhất Linh như Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm, Thế Uyên đều xác nhận Nhất Linh mắc bệnh tâm thần hay suy nhược thần kinh. Bài viết và tác phẩm của ông Nguyễn Văn Lục đã làm dư luận xôn xao trong đó, Nguyễn Tường Thiết là con út của Nhất Linh đã viết ba bài phản bác kịch liệt trên các Diễn Đàn Internet để bênh vực cho cha.

Nguyễn Tường Tam viết rằng đời ông để Lịch sử xét xử. Cái chết của ông đã ngót nửa thế kỷ. Chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa cũng đã bị lật đổ ngót nửa thế kỷ. Bao nhiêu tài liệu đã được giải mật, phơi bầy, chẳng còn gì dấu kín. Những lời của LS Lê Nguyên Phu và của Nguyễn Tường Thiết viết ra về Nhất Linh đã sáng tỏ về con người của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam: “Nhất Linh xuống núi, lăn vào chính trị, tham gia đảo chính hụt, thất bại, sợ sệt, trốn tránh, bị điều tra và ở thế cùng, chọn cái chết”, chứng tỏ Nhất Linh không phải là người có bản lĩnh chính trị, không có viễn kiến chính trị. Nhất Linh thành công về văn học và thất bại ê chề về chính trị.

Người viết tự hỏi: nếu quả thực nhà văn Nhất Linh không dính gì vụ Binh Biến 11-11-1960 thì tại sao lại phải trốn tránh, và tại sao lại nài nỉ xin Ủy viên chính phủ Lê Nguyên Phu tránh cho chuyện đối chất với thuộc hạ đàn em? Còn nếu Nhất Linh đã có gan tham gia Binh Biến thì tại sao không có gan đứng trước Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt mạnh dạn phản bác mọi cáo buộc, công khai lên án sự chà đạp tự do của chính quyền Ngô Đình Diệm? Nếu Nhất Linh có can đảm làm như thế thì liệu chính quyền Ngô Đình Diệm có dám kết án nặng nề hay phải nhượng bộ ông? Nếu Nhất Linh có viễn kiến chính trị, nhìn thấy sự thay đổi sẽ xẩy ra trong tương lai gần trong tinh hình xáo trộn tháng 7/1963, thì có lẽ Nhất Linh đã không tự tử. Biết đâu rằng sự gan dạ và mạnh dạn ra Tòa Án sẽ là một bản Cáo Trạng lớn lao hơn với chế độ và là một thành tích lẫy lừng của Nhất Linh để sau khi biến cố 1-11-1963 xẩy ra sẽ đưa Nhất Linh lên hàng lãnh đạo quốc gia, vượt xa những Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm? Thật tiếc cho ông đã bỏ lỡ mất cơ hội ngàn năm một thuở.

Theo thiển ý, muốn đấu tranh kết quả, ít nhất phải giữ mạng sống của mình đã. Bị bắt ra Tòa đâu có phải là điều sỉ nhục. Trong lịch sử đấu tranh, có hàng ngàn, hằng vạn, hàng triệu người bị đưa ra Tòa có sao đâu. Chỉ có gian dối hay có điều gì khuất tất sợ sự thật mới trốn tránh. Nhất Linh đã không làm thế? Nhất Linh muốn đời ông để lịch sử xét xử thì nay sự thật lịch sử đã được phơi bầy rồi đó kể cả sự thật về Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Lịch sử cho thấy mọi biến cố chính trị liên hệ đến Việt Nam Cộng Hoà đều có bàn tay của ngoại bang. Bàn tay ấy giống như một con bạch tuộc với trăm ngàn cái vòi đã len lỏi, thọc sâu vào mọi cơ cấu từ thượng tầng đến hạ tầng quốc gia để đạo diễn mọi biến cố rất tinh vi mà người đương thời ít ai biết được. Cái chết của Nhất Linh không chắc đã đem lại ích lợi gì cho đất nước, nhưng rõ ràng là giúp thêm cho chiến dịch tuyên truyền lưu manh của ngoại bang đang muốn khai thác nhằm lật đổ chế độ Cộng Hòa Việt Nam với TT Ngô Đình Diệm, một người mà thù phải sợ, bạn phải nề.

Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ ngày 1-11-1963 thì Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tình trạng xáo trộn và khủng hoảng lãnh đạo chưa từng thấy. Cha con bọn đảo chánh từ thầy đến tớ toàn là một lũ ngu xuẩn, lo vơ vét, ăn chơi đàng điếm, không biết làm việc. Hệ thống an ninh bị bỏ ngỏ. Quốc sách Ấp Chiến Lược bị phá vỡ. Việt Cộng gia tăng xâm nhập phá hoại. Tình hình Miền Nam từ nông thôn đến thành thị trở nên nguy ngập. Mỹ phải cấp tốc đổ nửa triệu quân vào cứu vãn. Và như đã nói trên suốt hai năm trời sau đảo chính (1963-1965), Miền Nam đã trở thành vũng lầy đầy những xáo trộn và bất ổn. Bây giờ thì Mỹ và bọn đâm thuê chém mưón mới biết nhân vật lãnh đạo quan trọng như thế nào? Cũng từng ấy nhân sự, cũng từng ấy cơ sở mà tại sao tình hình trước và sau 1-11-1963 thay đổi một cách khác thường như vậy? Bây giờ thì người ta mới biết tài năng, dức độ của TT. Ngô Đình Diệm và những cộng sự viên đắc lực trong việc điều hành guồng máy quốc gia qua hai tổ chức Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng và Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia là quan trọng. 

Phạm Quang Trình

Tuesday, November 1, 2016

Tưởng Niệm Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu từ khi nào?

Phạm Quang Trình


 
Tưởng Niệm Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Sau khi chính quyền của TT Ngô Đình Diệm bị lật đổ thì coi như Mỹ toàn quyền quyết định số phận của Việt Nam Cộng Hòa trước sự bất lực và yếu kém của bọn tướng lãnh phản phúc và các chính phủ sau ngày 1-11-19 63. Mỹ tưởng rằng hạ bệ được Tổng Thống Ngô Đình Diệm rồi thì với phương tiện viện trợ dồi dào của Mỹ, tình hình miền Nam sẽ sáng sủa hơn. Nào ngờ Miền Nam lâm vào cuộc khủng hoảng lãnh đạo, không sao giải quyết được vì không có một nhân vật nào đủ tầm vóc như TT Ngô Đình Diệm để có thể ổn định tình hình. Bây giờ, người ta mới thấy rằng cuộc đảo chánh 1-11-1963 là một trò chính trị tệ hại nhất mà Hoa Kỳ đã thực hiện và mắc kẹt vào vũng lầy ở Việt Nam. 

Cũng từ ngày đó, người ta mới thấy tài năng, đức độ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trổi vượt và không có ai để thay thế được. Người ta lấy làm tiếc ông Diệm cùng những công trình mà Đệ Nhất Cộng Hòa dưới sự lãnh đạo của ông đã thực hiện cho Miền Nam trong 9 năm cầm quyền. Nhớ để thương tiếc một nhân vật lãnh đạo vì độc lập và chủ quyền quốc gia đã phải hy sinh một cách tức tưởi dưới bàn tay thô bạo của bọn người phản phúc và đồng minh. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu không còn nữa. Ngày 1-11 đã trở thành ngày tang tóc, mở đầu cho những thất bại triền miên đưa miền Nam vào ách thống trị của Cộng sản.

Ngay sau khi TT Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu bị thảm sát, thời đã có nhiều nơi ầm thầm làm lễ cầu nguyện cho anh linh Tổng Thống và bào huynh. Rồi từ đó, hằng năm, cứ đến ngày 2-11-19 63, rất nhiều nơi đã làm Lễ tưởng niệm và cầu nguyện cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Mới đầu thì ít ỏi vị sợ mang tiếng Cần Lao sẽ bị trả thù. Nhưng dân dần, khi bọn người phản phúc bị đá văng ra khỏi chính trường thì việc Cần Lao tái hoạt động và việc tổ chức Lễ Tưởng Niệm TT Ngô Đình Diệm đã ở mức quy mô, hầu như toàn quốc. Bây giờ người ta mới thấy âm mưu lật đổ chính quyền của TT Ngô Đình Diệm là do CIA chủ động. 

Ngày 1-11-1963, Lou Conein đã ngồi ngay trong phòng làm việc của Đại Tướng Lê Văn Tỵ (lúc đó đang đi chữa bệnh tại Hoa Kỳ), gác hai chân lên bàn để chỉ đạo cuộc đảo chánh. Nhóm tướng lãnh thực hiện đảo chánh (Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Trần Thiện Khiêm, Mai Hữu Xuân, vân vân) chỉ là bọn tay sai đâm thuê chém mướn bằng một cái giá rẻ mạt 42 ngàn Dollars do Lou Conein trực tiếp trao cho Trần Văn Đôn để chia nhau sau đảo chánh. Đó là giá máu được trao cho những tên Giu-đa tân thời!

Sự thật càng được phơi bầy thì bọn đâm thuê chém mướn lại càng cảm thấy nhục nhã!  Không một tên nào dám nhận ra lệnh giết hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu. Chính vì thế uy tín của TT Ngô Đình Diệm và nền Đệ Nhất Cộng Hòa lại càng tăng, được tôn vinh và đề cao.

Trong hai năm sau Đảo chính, tình hình chính trị miền Nam thêm rối ren chưa từng thấy. Cuộc Chỉnh lý của Nguyễn Khánh càng không giải quyết được gì hơn, ngoài việc loại trừ nhau giữa bọn phản phúc. Tình hình cứ xáo trộn mãi cho đến khi nhóm tướng trẻ (Thiệu, Kỳ, Có) loại được Nguyễn Khánh cũng như nhóm dân sự ra đi để Quân Đội trở lại nắm chính quyền. Lúc đó (vào khoảng tháng 6-1965) bộ ba Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Hữu Có nắm toàn quyền với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Mỹ. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (đóng vai Quốc Trưởng). Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch Ủy ban Hành Pháp Trung Ương (tức Thủ Tướng) và Trung Tướng Nguyễn Hữu Có làm Phó Chủ Tịch UBHPTƯ (Phó Thủ Tướng) kiệm Bộ Trưởng Quốc Phòng và Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH. Tuy là Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Quốc Phòng, kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng, nhưng Văn phòng làm việc của Tướng Có lại đặt ở Bộ Tổng Tham Mưu. Vì sợ tình hình còn biến loạn nên Nguyễn Hữu Có đã chỉ thị cho đàn em phải dời hai phần mộ của TT Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu ra Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi, đặt gần ngay mộ của Cố Đại Tướng Lê Văn Tỵ (qua đời năm 1964).

Thật vậy, suốt hai năm (1963-1965), vì tình hình miền Nam xáo trộn liên miên nên nhiều ông Tướng tin rằng vì TT Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu bị thảm sát và thi thể hai ông lại đem chôn ở trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu nên bị hai ông phá. Từ ngày Nội Các Chiến Tranh và Tướng Có cho lệnh dời thi hài hai vị ra Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi thì tình hình Miền Nam bắt đầu tạm ổn định.

Lễ giỗ cho TT Diệm lần đầu tiên được tổ chức công khai ngay tại Sài Gòn năm 1966 là do Cố Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, cựu Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ  và Cựu Trung Tá Nguyễn Văn Minh, nguyên Chánh Văn Phòng Cố Vấn Chỉ Đạo Miền Trung của ông Ngô Đình Cần, lúc đó cũng làm việc với ông tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Khi được biết Bộ Tổng Tham Mưu đã cho đưa thi hài Tổng Thống Diệm và Cố vấn Nhu ra Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, vì họ tin rằng để  TT Diệm và CV Nhu trong khuôn viên Bộ TTM nên bị phá, các Tướng cứ lật nhau hoài. 

Cuối năm ấy hai ông đã thông báo địa điểm phần mộ Tổng Thống Diệm và Cố vấn Nhu ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi cho một số hội đoàn của ít nhất 7, 8 xứ đạo lân cận Sài gòn, đồng thời xin lễ cầu hồn cho hai Vị tại nhà thờ Xóm Chiếu. 

Ngày 2/11 năm 1966 đã có một đoàn hàng chục xe Lam chở bà con đem bông, nhang, nến, đến thắp, đặt bông, đọc kinh cầu nguyện cho hai Vị tại Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi. Trong khi đó, tại nhà thờ Xóm chiếu do Linh mục Phạm Hoàng Thanh nhận thực hiện. Cha Thanh đã đặt một bàn mồ lớn giữa nhà thờ với đèn nến, bông hoa rất trang trọng. Trên 2 lối vào nhà thờ, cha căng 2 biểu ngữ lớn, nền tím chữ vàng "Lễ Cầu Hồn cho cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm". Có 2, 3 thông tín viên ngoại quốc đến chụp hình, quay phim.

Những năm kế tiếp, việc tổ chức Lễ Giỗ TT Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu được tổ chức liên tục hằng năm tại Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế số 38 đường Kỳ Đồng, sau đó là Nhà Thờ Đức Bà tức Vương Cung Thánh Đường tại Công Trường Hòa Bình, Sài Gòn ngay trước Bộ Nội Vụ và Tổng Nha Bưu Điện.

Năm 1971, Lễ Tưởng Niệm và Cầu Nguyện cho Cố TT Ngô Đình Diệm tại Vương Cung Thánh Đường tức Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn có thể được coi như là ngày long trọng và lớn lao nhất. Hàng ngàn đại diện Dân, Quân, Cán, Chính và đồng bào đã tề tựu đông đủ vào sáng ngày 2-11-1971. 

Ban tổ chức đã phân công cho chúng tôi, Cựu Trung Tá Trần Thanh Chiêu và người viết phụ trách vận động đồng bào vùng Thủ Đức, Hố Nai, Biên Hòa. Phái đoàn Thủ Đức, Hố Nai, Biên Hòa được hướng dẫn đến Công Trường Hòa Bình, nhưng thay vì đến thẳng mặt tiền Nhà Thờ Đức Bà, đã đáp xuống đầu đường Duy Tân rồi sắp hàng thật dài diễn hành chung quanh nhà thờ mà đi đầu là ban kèn Tây Cecilia thuộc Giáo xứ Chân Phúc Khang Thủ Đức với bức chân dung Tổng Thống Ngô Đình Diệm được rước đi trước. Khi đoàn diễn hành tiến bước thì ban kèn đồng đã liên tục cử hành bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống vang lên khắp đường phố. Dân chúng đứng chung quanh đã túa ra xem và sáp nhập vô đoàn diễn hành, hô to khẩu hiệu “Ngô Tổng Thống Muôn Năm !”. Các phóng viên ngoại quốc chạy đôn đáo chụp hình, quay phim làm bản tin gửi đi khắp nơi khiến dư luận phấn khởi và súc động.

Sau Thánh Lễ cầu nguyện, thay vì dùng xe di chuyển như các năm trước, Ban Tổ Chức đã quyết định tất cả sẽ cùng diễn hành (đi bộ) từ đại lộ Thống Nhất đến Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi để viếng mộ TT Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Thời gian di chuyển tuy có kéo dài thêm vì số người tham dự quá đông (dài đến 2 km chưa từng thấy ở trung tâm Sài Gòn) diễn hành trên quãng đường khá dài từ Nhà Thờ Đức Bà đến nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, nhưng tất cả đều diễn ra rất trật tự và tốt đẹp.


Phạm Quang Trình

(trích: Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng qua lời trối trăng (thứ 2) của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu)


Blog Archive