Showing posts with label Vuong Vu. Show all posts
Showing posts with label Vuong Vu. Show all posts

Wednesday, July 31, 2019

Cúng Bái và Cầu Xin

VuongVu

Mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo có cách thờ cúng khác nhau. Nếu bạn ở một bộ lạc nào đó không liên lạc với loài người thì hoặc bạn phải thờ cúng nhiều thần thánh khác nhau. Ngay cả các thành viên trong loại băng đảng vô thần thì phải sùng bái chính ông trùm hay lãnh tụ của họ. Tôi là người Mỹ gốc Việt nên tôi cúng ông bà. 

Ngày xưa, chúng tôi cúng ông Táo, cúng Phật và ông bà đêm 30, cúng tiễn đưa ông bà mùng ba Tết, vợ tôi nấu bánh chưng, thịt heo kho, đồ xào, canh, v...v..., nhưng năm nay, già yếu rồi, chúng tôi chỉ cúng chay. Cốt sao thắp được vài nén nhang mời ông bà, cha mẹ, bà chị, thằng em về chung vui là được.

Như đã nói ở trên, chúng tôi là dân thường, mà cũng chẳng phải là ngọn đuốc soi đường cho bất cứ ai về bất cứ vấn đề gì, nên hễ cúng, hễ bái là chúng tôi cầu xin. 

Dù không lắng nghe xem bà vợ cầu xin gì, nhưng tôi chắc lời cầu xin của hai vợ chồng sẽ rất khác biệt, thí dụ như tôi chỉ cầu có đủ ăn, đủ mặc, nhưng chắc vợ tôi sẽ xin thêm chút đỉnh để đi shopping, thêm chút nữa để mua được cái nhà mới hơn, không bị hư nhiều như cái nhà xây hồi thế chiến thứ hai này. Đàn bà mà, giống như vợ tôi thường nói, “...đằng nào cũng mang tiếng xin, tại sao không xin cho nó đáng...” Đaị khái là nếu anh mở miệng nói “...cầu xin ông bà, trời phật phù hộ cho con trúng số 1 triệu...” thì mình giữ nguyên tất cả chỉ đổi số 1 thành 10 thôi, có gì khó đâu. 

Chuyện các cụ hay trời phật linh hiển tôi qủa thật không biết ra sao. Lấy thí dụ, tuần nào tôi cũng mua sổ xố 2 lần, trật nhiều hơn trúng. Theo khoa học thì chẳng có gì sai, nhưng bạn sẽ nói sao khi có người vừa mới cúng kiếng hay mơ thấy người này người nọ thì trúng số? Thật ra, cũng không hẳn như thế, vì có thể không phải ông bà cha mẹ mà chúng ta cầu xin muốn cho là cho và cho bao nhiêu cũng được. Để tôi kể cho bạn nghe một chuyện.

Một hôm tôi nằm mơ thấy gặp tất cả ông bà cha mẹ chị em đã khuất, tôi hỏi họ một câu, 

“Lâu nay ông bà và bố mẹ có mạnh khoẻ, an vui không?” 

Ông tôi cười trả lời, 

“Cũng được cháu ạ, mọi chuyện vẫn như thường.” 

Bố tôi thì nói, 

“Nhờ trời mọi người ở đây không đau ốm nên đi làm thêm chút đỉnh cũng không thấy mệt nhọc.” 

Tôi hơi ngớ người tỏ vẻ không hiểu, thì bà tôi giải thích, 

“Ồ cũng chẳng có gì, ông bà và bố mẹ cháu tình nguyện đi làm thêm giúp đỡ người ta một chút thôi.” 

Tôi vẩn chưa hiểu hỏi lại, 

“Cháu vẫn chưa hiểu hết, những người trên đây đã mất không lẽ còn thiếu thốn mà phải giúp đỡ?” 

Mẹ tôi nói, 

“Không con à, ông bà bố mẹ đi giúp cho những người còn trên dương thế.” 

Nghe thế tôi hơi tị nạnh lên giọng hờn trách, 

“Trời ơi, tụi con trên đó cũng đâu có dư giả gì, mà mỗi lần cúng kiến đều cầu xin ông bà bố mẹ, chị, và em giúp đỡ mà chẳng thấy cái gì, trong khi đó ông bà bố mẹ và chị em mình thì rảnh rỗi lo cho người dưng.” 

Thằng em tôi nãy giờ vác bộ mặt chù ụ mà tôi chẳng biết vì sao, dấm dẳng nói, 

“Sao ông bà bố mẹ không nói thẳng cho ảnh nghe, ảnh lớn rồi thì cũng phải hiểu chớ. Nếu ông bà bố mẹ còn cưng chiều ảnh không muốn nói thì để con nói.” 

Tôi còn đang ngớ người không hiểu chuyện gì đã xảy ra, thì nó đã xoay sang tôi, cao giọng, 

“Anh có nhớ ngày xưa anh súyt bị xe lửa tông chết không, ở cái đường rày gần chợ Vườn Chuối đó?” 

Tôi hơi đỏ mặt gật đầu. 

Đó là chuyện xảy ra từ tôi mới 16, 17 tuổi. Vào một buổi chiều, tôi đang chơi dỡn trên đoạn đường rầy xe lửa đi qua khu xóm, hai bên là nhà, có nhiều người lớn con nít đang chơi trước sân. Tôi đang biểu diễn tài đi trên tà vẹt thì nghe tiếng còi tầu. Biết mình đang được theo dõi, tôi liền bước khỏi đường ray, nhưng cố ý chỉ cách chừng một mét, nghĩa là vừa đủ an toàn cho tôi nhưng cũng làm cho những người chung quanh thấy tôi gan dạ cỡ nào. Bên tai tôi lúc ấy, tiếng còi tàu hú liên tục, cùng với tiếng la ó của mọi người át cả tiếng rầm rập của đoàn tầu hỏa. Thầm hãnh diện vì sự cam đảm của mình làm mọi người chú ý, tôi gỉa bộ không biết cứ cúi mặt lầm lũi bước đi. Ngay lúc ấy, thình lình có tiếng hét bên tai và tiếng gió sát sạt đẩy mình dạt sang một bên. Nhìn lên, thấy con tàu ào qua sát bên mình. Nếu không kịp thời dạt ra ngoài trong vài giây cuối thì chắc tôi đã lãnh trọn cú đá của anh chàng ngồi trên bậc thang của cái đầu tầu hỏa.

Chuyện kể lại dài dòng, nhưng khi chú em hỏi và tôi gật đầu công nhận thì chỉ là chớp mắt. Chú em tôi đưa tay chỉ rồi hỏi, 

“Anh có thấy cái tòa nhà đó không?” 

Trước khi chú ta chỉ thì đó là khoảng không, nhưng nhìn theo ngón tay, tôi thấy một tòa building rất lớn có nhiều cột bự đã hiện lên phía trước. Ngay trên nóc nhà có hàng chữ thếp vàng lóng lánh chói mắt, “NGÂN HÀNG PHƯỚC ĐỨC”. 

“À, cái chú này ỷ mình chết trước nên định lòe thằng anh chứ gì. Cứ đợi đó, mai mốt anh cũng chết xuống đây xem ai hơn ai; dù có là ma mới tao cũng là anh mày!” Tôi nghĩ thầm.

Có vẻ chú em đoán được tôi nghĩ gì, chú ta dịu giọng giải thích,

“Ở đây những người thường chỉ thấy được những cái mà người khuất mặt muốn họ nhìn thấy. Chẳng phải em tài giỏi gì, mai mốt anh lên rồi anh muốn làm gì anh làm... Thôi khoan nói những chuyện đó, anh thử nhìn rồi đoán xem cái ngân hàng kia dính líu gì tới anh?”

Nhìn cái bảng hiệu, tôi cũng đoán được đại khái đây là cái ngân hàng mà ông bà tổ tiên tôi hay mọi người bỏ phước đức mình vào đây, nhưng cách nó vận hành ra sao thì tôi chịu. Chú em nhìn thấy câu hỏi trong mắt tôi nên nóng nảy gỉai thích luôn, 

“Nhìn cái tên ai cũng biết ngân hàng đó chứa cái gì, mình có bao nhiêu phước thì bỏ vào đó, nhưng khi nào thì lấy ra và có điều kiện gì không thì chỉ có khi nào anh ở trên này anh mới biết. Để em giải thích cho anh nghe....” 

Nó liếc mắt nhìn ông bà, bố mẹ tôi nhưng làm ngơ không thấy những cái lắc đầu nhè nhẹ như mây khói, nói tiếp, 

“Cái buổi anh suýt bị xe lửa cán chết đó, là nhờ ông đã lấy hết số phước đức của các cụ để lại cho gia đình mình để đẩy anh ra xa vài bước khỏi cái đường rầy đó...” 

Nó nhìn vào ánh mắt nghi hoặc của tôi rồi nói chắc như đinh đóng cột, 

“...đúng vậy, anh tưởng là anh đã nghĩ phải bước ra vài bước cho an toàn, nhưng những ý nghĩ đó đã được ông dùng tiền phước đức mua những hạt nhân tốt gieo vào đầu anh, rất may cái căn bản anh chưa mất hết, nên anh tiếp nhận được những hạt nhân đó thoát chết để tiếp tục phá hết những đồng phước đức tiết kiệm mà ông bà, bố mẹ đã gởi vào đây để giúp những con cháu khác.”

Nó làm tôi hết sức lúng túng và mắc cỡ, cũng may chỉ có tôi và những người khuất mặt nếu không tôi không biết sẽ để mặt mũi mình vào đâu. Để chữa thẹn tôi nói liều, 

“Nếu đúng như vậy thì phước đức ông bà cha mẹ cũng là để cho con cái chứ để làm gì?” 

Nó lắc đầu như chịu thua thái độ ngang bướng của tôi nhưng rồi như thương hại cố gắng gỉai thích thêm lần nữa, 

“Đương nhiên là phước đức là để dành cho con cháu và đứa nào có phúc phận thì đứa đó được hưởng nhiều hơn, và cái Ngân Hàng Phước Đức đó có luật cấm mang tiền phúc đức xài cho chính mình, chỉ được xài cho con cháu nào có điều kiện.” 

Tôi bắt được câu này của nó liền nói, 

“Đấy, chính chú nói là tiền phúc đức chỉ được xài cho con cháu và những đứa có điều kiện, có thể anh có nhiều điều kiện hơn các anh chị em khác nên ông bà bố mẹ giúp anh đấy thôi.” 

Thằng em laị lắc đầu chán nản, 

“Không hẳn thế đâu, nó có nhiều khuất khúc lắm, trên này dù tốt đẹp hơn dưới đó nhưng vẫn có vài điều....” 

nó kín đáo liếc quanh rồi tiếp, 

“Ngân Hàng còn nhiều điều lệ phức tạp lắm, không thể một lúc mà nói hết được, nhưng cái chính em muốn nói là dù luật lệ khắt khe thế nào đi nữa cũng không qua được lòng thương con thương cháu của ông bà cha mẹ. Có nhiều trường hợp họ biết đấy nhưng làm ngơ chỉ khi nào qúa lắm hay có ai thưa kiện thì mới can thiệp. Tóm lại ông bà bố mẹ đã nuông chiều anh qúa mức xài hết tiền phước đức trong ngân hàng để giúp đỡ anh. Thế anh có nhớ lúc chạy từ Hội An về Sài Gòn mà trong túi không có lấy một xu không...” 

Tôi lặng lẽ gật đầu, nó tiếp tục, 

“...Trong lúc bao nhiêu người chức tước lớn hơn anh, tiền bạc thiêu anh cũng không hết, hay dũng mãnh nhanh nhẹn hơn anh...v...v... mà vẫn phải bỏ mạng không thoát khỏi Hội An, Đà Nẵng chứ đừng nói vào tận Sài Gòn an toàn không rụng một sợi lông như anh...” 

Trí nhớ tôi quay nhanh lại những hình ảnh chết chóc và dù có phách lối ngu ngốc cách mấy cũng thầm hiểu mình đã qúa may mắn trong kỳ chạy trốn cộng sản năm 75 đó, lúc đó tôi không hiểu rõ tại sao, nhưng bây giờ mọi chuyện đang dần rõ ràng. Thằng em tiếp, 

“...Anh có biết taị sao anh không có đồn xu dính túi mà không những anh chạy về đến Sài Gòn an toàn mà còn được 2 người lính theo sát, hầu hạ anh từ Đà Nẵng vào tận Sài Gòn không?” 

Nó gằn giọng trong khi nói câu này chứng tỏ nó rất bực mình. Qủa thực tôi thắc mắc nhiều hơn là bực mình vì thái độ của nó. Nếu đúng như nó đã giải thích về cách dùng tiền phước đức, và dù ông bà tôi lúc đó có nhiều tiền thì chỉ dùng tiền đó mà cứu tôi được rồi tại sao lại cho tôi thêm nhiều tiện nghi trong khi những người khác với nhiều điều kiện hơn chỉ mong chạy trốn khỏi miền Trung về Sài Gòn mà không được. Những hình ảnh xa xưa đó bỗng nhiên hiện về như tôi đang coi phim HD.

Buổi sáng hôm đó tôi thấy một trung tá lái chiếc xe jeep chở gia đình ra bờ biển Tiên Sa để chỉ ngồi đó nhìn vô vọng vào hai chiếc tàu HQ đậu mãi ngoài xa chờ mong người tỵ nạn kiếm được cách leo lên. Người ta nói hai chiếc tàu HQ đó phải đậu xa bờ vì VC đã pháo kích trúng hay gần trúng 1 trong 2 chiếc sáng nay. Ngày hôm đó tôi bị đánh thức 2 lần, một lần vào nửa đêm, thằng Th. đánh thức tôi dậy để ra xem lính sư đoàn 3 đang di tản hỗn loạn. Cả một đoàn xe GMC và xe Jeep chẳng biết bao nhiêu chiếc, chở bao nhiêu lính, nhưng nghe từ những lời bàn tán hoang mang từ họ thì tôi được biết từ tướng đến lính bỏ chạy tới đây, bãi biển Tiên Sa, chờ tàu HQ chở về tái bố trí, nhưng tàu chưa tới nên họ ồn ào bàn tán. Ba má thằng Th. mua cái nhà này ngay trên con đường cát nối đường chính với bờ biển. Không biểt thằng Th. đánh hơi được điều gì hay không hay vì những bí mật ngoài sự hiểu biết của tôi mà nó rủ tôi tối đó chạy 1 vòng quanh Đà Nẵng xem thành phố trước viễn cảnh bị VC chiếm. 

Nó chở tôi trên chiếc xe máy của nó, chúng tôi chạy trên những đường phố vắng lặng với những ngôi nhà, hàng quán đóng cửa tắt đèn im ỉm dù mới khoảng 1, 2 tiếng sau bữa tối. Sau đó chúng tôi theo sau một chiếc xe bọc sắt (hình như là xe M113) của chính phủ với một người lính ngồi trên nắp mở gọi loa kêu gọi mọi người dân đừng ra ngoài, và những người lính trở về đơn vị trình diện. Có thể vì thành phố vắng lạnh thanh bình, hay vì cái quan trọng là kêu gọi những người lính đào ngũ trở về đơn vị, hay họ nhận ra chúng tôi là lính nên họ không quan tâm và để chúng tôi theo sau một quãng đường dài. Khoảng 10 phút sau, chúng tôi thấy một đám lính áo hoa chừng 5, 7 người ngồi ăn nhậu cùng mấy cô gái quanh một cái bàn ở đầu một cái hẻm nhỏ ở phía trái chúng tôi. Họ ăn nói to lớn cười đùa bên cạnh những ngôi nhà im ắng không đèn lửa. Chiếc xe thiết giáp ngưng lại cách họ chừng vài chục thước. Trước khi người lính ngồi trên gọi loa kêu gọi họ, anh ta nhắc chừng chúng tôi, “tuị nó có súng đó, mấy anh coi chừng.” Lúc đó chúng tôi tò mò đậu sau, nhưng hoàn toàn lộ diện trước toán lính đào ngũ đó. 

Đáp lời kêu goị của anh lính thiết giáp là loạt đạn nhắm về phía anh ta. Người lính mau chóng chui xuống, và từ chiếc xe một loạt đạn lớn hơn bắn lại. Bọn lính vừa chạy vào ngõ hẻm vừa bắn ngược trở lại. Chiếc xe không bắn lại nhưng cũng không đuổi theo, và người lính cầm loa lại trèo lên tiếp tục công việc. Thằng Th. chở tôi quay ngược lại, nhưng thay vì về trung tâm hành chánh quân y nơi chúng tôi đang ở, nó rủ tôi xuống ngủ ở nhà nó ngoài Tiên Sa. 

Lúc này ở trung tâm hành chánh Quân Y Đà Nẵng có đông lính quân y chạy từ Quảng Trị, Hội An và những nơi khác nên cũng rất lộn xộn, ồn ào và không ai để ý đến chúng tôi, và tôi cũng tò mò với căn nhà mà thằng Th. nói chỉ dành riêng cho nó. 

Chúng tôi tới đó khá trễ, căn nhà cũng khá rộng cho một mình nó. Tôi không nhớ là nhà nó có đèn điện hay không, nhưng tôi ham ngủ nên chỉ mau chóng phụ nó mắc mùng trên cái giường traỉ chiếu cỡ queen size bên Mỹ rồi nhanh chóng đánh một giấc. 

Khoảng chừng 2, 3 giờ sáng thằng Th. đánh thức tôi dậy như đã nói ở trên. Tôi chiều ý nó mà đi ra vì nó nhất định không cho tôi ngủ tiếp. 

Khoảng 6 giờ sáng hôm sau, tôi lại bị đánh thức, tiếng cha trung úy Đ. chưỉ thề than phiền là tôi đang ngủ trên những biến động đất nước, làm như nếu tôi không ngủ thì tôi có thể ngăn cản nó không xảy ra. Cả đám chừng 4 người lùa tôi rửa mặt thật nhanh rồi đẩy tôi ra cửa. Tôi tỉnh ngủ rất nhanh khi thấy không biết bao nhiêu là người xuôi ngược ồn ào trong con hẻm lớn trước cổng nhà thằng Th., cái hẻm mà tối qua chúng tôi tới vắng lặng như bãi tha ma. 

Đủ cả mọi loại người, mọi loại lính tráng, mọi loại súng ống, đi qua đi lại như không biết mình làm gì. Không một ai có được bộ mặt an bình, người lớn thì đăm chiêu lo lắng, con nít thì sợ hãi, có đứa khóc lóc. Trung úy Đ. dắt tôi và Th. lên chiếc xe Jeep đậu trước cổng, trên xe có sẵn 3 người. Chỉ có 2 người ngồi phía sau là tôi không biết, dù không nhìn kỹ tôi thấy dáng vẻ họ hơi lạ, lúc leo lên xe mới biết họ bị trói ngoặt tay phía sau. Xe chạy ra phía bờ biển cách nhà thằng Th. chừng vài trăm thước, trung úy Đ. giải thích 2 người bị trói là đề lô VC. Khi trung úy Đ. cùng mấy người bạn lái ra thì thấy họ đang đứng trước cổng trung tâm quân y dùng bộ đàm để điều khiển VC pháo kích, thấy thế mọi người mới bắt họ trói lại, nhưng vì không thể tìm được quân cảnh hay cảnh sát để bàn giao, họ chở luôn 2 tên VC này tới đây. 

Dù chỉ cách vài trăm thước nhưng cũng phải mất một lúc chúng tôi mới lái tới bờ biển được, và bờ biển cũng đầy người như trong cái hẻm, ở đây cũng đầy những khuôn mặt lo âu và tuyệt vọng, đi qua lại. Chúng tôi dò hỏi rồi nhìn theo hướng chỉ thấy 2 chiếc HQ đậu cách chừng 1km ngoài biển. Trên đường đi tôi thấy 1 xe Jeep khác với tài xế gục đầu trên vô lăng, ông ta đeo lon trung tá, hình như có gia đình trên xe, nhưng tôi không để ý, chiếc xe đậu song song với bờ biển với nước thủy triều đang lên ngập phân nửa vỏ xe. Tôi ngoái đầu nhìn lại thấy ông ta vẫn gục đầu trên tay lái không biết thủy triều đang lên, không biết chuyến xe ấy ra sao. Còn tôi thì lên tầu rồi thóat đi an toàn.

Hồi tưởng tới đây tôi cắt phim đột ngột để quay lại hỏi thêm chú em vì có cảm giác hơi lạ. Đúng như tôi dự đoán, không còn ai bên cạnh tôi nữa, tôi tỉnh giấc trên chiếc giường quen thuộc. Kế bên là bà vợ đang ngủ ngáy ngon lành. Hình như hai hàng lông mày vẫn cau tít lại; Có thể bà cũng đang gặp nhiều khó khăn mà không biết là do lỡ lấy nhằm ông chồng xài phước đức không tiết kiệm.

Từ đó tới nay tôi không mơ thấy ai nữa để hỏi cho kỹ càng, nhưng mỗi lúc tôi mỗi tin thêm. Tôi dự định gom một chút phước đức rồi đợi ông bà bố mẹ chị và thằng em khó chịu bỏ thêm vào cái ngân hàng đó rồi mới cầu xin tiếp; hy vọng lúc đó cái qũy tiết kiệm của ông bà được khá hơn. 

Còn bây giờ trong lúc chờ đợi, vợ chồng tôi vẫn cúng tiếp. Ở VN hay ở Mỹ, lúc nào ông bà bố mẹ anh chị em lại không muốn quây quần bên nhau, nhất là vào những dịp kỵ giỗ hay lễ tết.

VuongVu

Saturday, May 18, 2019

Nước Mỹ Đón Chờ

Vuong Vu 

Chúng tôi bỏ nước ra đi một cách tình cờ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Gần như cả nhà đi được hết mà chẳng cần quen biết gì, và cũng chẳng phải chúng tôi hay ho gì---tất cả là định mệnh. Khi vận nước đổ xuống đầu cả nhiều triệu người thì chẳng có ai hay cả, kể cả Việt Cộng họ cũng không chọn được ngày 30 tháng 4 năm đó.

Nhưng định mệnh này của chúng ta đã không phải do trời đất xếp đặt mà do bàn tay của các nước lớn. Nếu Mỹ không bỏ rơi, nếu Nga và Trung Cộng không giúp thì sẽ không có cái ngày 30 tháng 4 đó. Định mệnh chúng ta nằm trong toan tính quyền lợi của họ. Từ ngày lập quốc tới giờ chúng ta chưa có một lãnh đạo nào tạo được một nền giáo dục để dạy dỗ, giáo dục và đào tạo ra những công dân có khả năng làm việc cùng nhau để quyết định vận mạng của nước mình. 

Mấy ngày trước đó, chúng tôi theo dõi tin tức từ đài VOA, hoặc BBC trên chiếc radio transitor nhỏ bằng 2 bàn tay của bố tôi, tất cả những tin tức khác trên báo chí VNCH hay của VC đều không thể tin được. Và hàng đêm tôi leo lên mái che lầu ba nhìn khắp phía để ghi nhận, để nhớ những ngày thành phố thân yêu đang giãy chết, để cầu nguyện trong vô vọng một phép lạ sẽ đến: chúng tôi đang ở trong một tình trạng rất nguy hiểm. 

Gia đình chúng tôi di cư từ bắc vào nam năm 54. Lâu lâu ông bà bố mẹ kể cho chúng tôi nghe về hành trình chạy trốn của họ. Ông tôi đã từng bị đấu tố về tội điạ chủ cường hào ác bá, bố tôi bị người trong họ dọa giết vì đi học trường Bộ Binh Thủ Đức, bà tôi dù mù chữ đã khôn ngoan thoát được một nốt chặn trên đường vào nam. Bà đọc theo người đi trước khi VC chặn đường bắt đọc được chữ mới cho qua trong một chương trình “Xóa Mù Chữ" gì đó,... 

Bây giờ (1975) không những bố tôi, anh rể tôi làm chức tá trong quân đội, mà anh tôi và tôi cũng là cấp úy; thêm vào đó anh tôi dậy Anh văn, còn bố tôi dậy thêm ở Hội Việt Mỹ, những tội lỗi nghiêm trọng trong một xã hội sắp tới. Gia đình tôi sẽ bị coi như có nhiều nợ máu với nhân dân VN dù chưa giết một ai. Tôi biết rằng mình sẽ phải trả một cái giá cắt cổ khi họ vào đây, nhưng làm sao thoát đi? 

Bố tôi quen biết nhiều, cả vài tuần nay chạy khắp chốn tìm chỗ đi, vài bữa ghé nhà với khuôn mặt lo lắng, chán nản. Tôi mới chân ướt chân ráo chạy từ Hội An qua Nha Trang, Phan Thiết, Vũng Tàu về tới nhà tháng trước---tôi còn chưa làm quen lại được với Saì Gòn thì biết đâu mà chạy! 

Sau một hai ngày tôi trốn được về tới Sài Gòn, một người bạn thân tới thăm, người nhà tôi kể cứ một hai ngày nó ghé qua hỏi thăm tôi một lần. Nó mong tôi được bình an và cũng đang tìm thêm tin tức rời khỏi đây, một nơi sắp biến thành ngục tù cho dân miền nam, nơi mà chúng tôi tự nguyện từ bỏ tất cả công lao bao năm để cầu mong ra đi an toàn tới một nơi mà không biết mình có thể kiếm được việc làm nuôi thân hay không. 

Chừng vài ngày trước luật giới nghiêm ban hành, nó chở tôi ra bến tàu xem người ta tranh nhau chiếm chỗ trên những chiếc tàu vô chủ, với hy vọng mong manh là chiếc tàu mình lên sẽ có phép lạ nhổ chiếc neo và gío đưa nó đến một nơi nào đó. Bạn tôi bảo, “Vui lắm, tao ra đây xem họ mấy ngày rồi, nhiều gia đình vừa bước lên là ở dưới có một đám nhào tới giựt xe, gỡ bánh xe, ăn cắp đồ. Mà tức cười là cũng có nhiều người trên tàu đi xuống, chắc họ ở đó lâu rồi chán.” Tôi thấy đúng như vậy, hai con tàu đậu sát nhau, đặc kín người đứng trên boong cười, nói, khóc, la, tay vung vẫy nhìn xuống con đường và những người phía dưới đang thảnh thơi nhìn họ như xem kẻ khùng. Cũng có vài con tàu khác đang neo sát bờ sông, nhưng hai con tàu này nhộn nhịp nhất. Trên đường về nó hỏi tôi nếu biết đường đi thì cho em nó theo, nó sẽ ở lại với mẹ, tôi nói với nó tôi cũng đang khùng đây. 

Những ngày sau chúng tôi toàn nghe tin tức xấu, cả VOA và BBC đều nói chắc chắn VC sẽ tiến chiếm Sài Gòn, chỉ là không biết đó sẽ là ngày 30 tháng 4. Vài ngày trước đó, hàng đêm trên nóc sân thượng tôi nhìn bốn phía để thấy vài viên đạn pháo kích rơi vào một nơi nào đó trong thành phố, có một hai quả rơi trong khu vực nhà tôi. Mới đầu anh em tôi sợ lấy nệm lót quanh tường tầng một rồi bảo mọi người xuống ngủ, nhưng chỉ được một đêm, sau đó đồng ý với nhau, “Trời kêu ai nấy dạ!” 

Một vài đêm tôi đã thấy những đoàn trực thăng, rất nhiều, bay hàng một đẹp mắt, tôi đoán họ đang đưa người di tản ra hạm đội 7 như báo và radio nói. Trước ngày cuối cùng, không nhớ đài VOA hay BBC nói VC tuyên bố sẽ tắm máu Sài Gòn khi chúng vào. 

Tôi kể cho anh tôi nghe về những con tàu đậu trên sông, về những người đi lên đi xuống, những người đợi chờ để lấy cắp toàn bộ phương tiện di chuyển của người trốn chạy, về bản tin tắm máu trên radio,... Cuối cùng chúng tôi đồng ý đặt cược trên một con tàu nào đó với quyết định sẽ về nhà ngay sau lệnh đầu hàng vì sợ sẽ bị đánh hay bắn chết tại chỗ. Dẫu vậy chúng tôi hãy còn do dự lắm, quá nhiều rủi ro với nỗi ám ảnh từ chuyện những người đi xuống mà không biết sẽ về nhà bằng gì, hay còn nhà mà về không. Tôi đề nghị với anh hãy để mẹ tôi quyết định. 

Mẹ tôi bị tai biến đứt mạch máu phần lớn phải nằm giường từ mấy tháng nay. Vừa nghe chúng tôi kể xong, bà bảo đi ngay thôi; có lẽ kinh nghiệm từ cuộc tản cư năm 54 đã dậy cho bà biết cộng sản là gì. Bà không biết họ còn có cho đấu tố không, nhưng hình ảnh người bố chồng quì gối, cầm gạch dang hai tay ám ảnh bà suốt đời. 

Ngay tối hôm đó chúng tôi thu dọn đồ đạc, chị dâu và em gái nấu thật nhiều cơm, anh em tôi dấu tất cả quân phục và những gì dính líu đến quân đội lên pla-phông, tầng ba. 

Sáng 30 tháng 4 chúng tôi bồng bế dắt díu nhau đi, mướn một cái xe xích lô, còn lại 2 cái xe máy và một cái xe đạp chúng tôi dẫn dắt nhau tiến ra bờ sông. 

Tới nơi 2 chiếc tàu đậu song song mà tôi và bạn đã thấy nhiều ngày trước vẫn còn đó, buổi sáng cảnh hoạt động không nhộn nhịp bằng, nhưng vẫn vậy. Chưa biết sẽ chọn chiếc nào thì chúng tôi thấy gia đình một người quen đi xuống, anh nói cho chúng tôi biết đã ở trên đó vài ngày rồi, giờ chịu không nổi với thời tiết và sự khổ nên đi về. Vì những người chung quanh chưa biết gia đình anh về luôn nên chỗ họ ở chưa có ai chiếm. Chúng tôi dọn vào ngay, khỏi phải quyết định sẽ phải chọn con tàu nào vì tàu nào cũng đông nghẹt, chỉ cần kiếm một chỗ cho ba, bốn người đã rất khó khăn. 

Thằng em trai xung phong ở dưới coi chừng xe, tôi và vài đứa em còn lại đứng ngay trên boong nhìn xuống phù trợ. Đứng được chừng một tiếng, nó bảo về xem nhà và nếu gặp bố tôi thì rủ ông đi luôn. Nó đi cả tiếng không trở lại, sốt ruột tôi bỏ đi tìm. Những con đường trở nên khá vắng và có một cái im lặng lạnh lùng mà tôi chưa từng cảm thấy ở Sài Gòn. Nhà cửa phần lớn đóng im ỉm, lâu lâu thấy nhóm người hôi của, khiêng tv, bàn ghế, …., của những gia đình khác; người ta bắt đầu tập phân chia tài sản cho công bằng. 

Tôi ghé ngang nhà, bà giúp việc nhìn tôi ngạc nhiên, bà bảo bố tôi chưa về và em tôi cũng không ghé lại. Tôi lo lắng và tức giận không biết làm sao đành đánh một vòng nhỏ rồi quay lại hy vọng sẽ gặp được nó, nhưng không--- tôi đã không bao giờ có dịp nhìn thấy nó nữa. Tôi bỏ cuộc chạy ra bến tàu vì đó là chuyến đi không mua vé, tàu có thể khởi hành bất cứ lúc nào. 

Trước khi ra đến đường tôi gặp người bạn thân của anh tôi tới thăm. Vừa đi tôi vừa kể cho anh nghe mọi chuyện. Anh bảo ra thăm chúng tôi một lát rồi về vì anh còn mẹ già phải phụng dưỡng. Ai cũng vui mừng khi gặp lại nhau, anh hỏi thăm mọi chuyện, đến khi hỏi xem chúng tôi mang gì theo thì mới bật ngửa khi biết chúng tôi mang nhiều cơm ít nước. Anh dắt tôi qua bên kia đường mua những chai nhựa 1 gal rồi mua nước đổ vào đó. Tôi đi lính ba năm, vừa chạy loạn từ miền trung về mà không hề nghĩ đến; những galon nước đó mới là thứ quan trọng nhất. Nói chuyện hơn một tiếng mà hãy còn quyến luyến, thình lình hai ba viên pháo kích rơi cách chúng tôi chừng 100 mét. Mọi thứ nhanh chóng biến thành hỗn loạn, người ta hò hét, khóc lóc, chạy ngược xuôi; người bạn anh tôi mau chóng bỏ xe nhảy lên phụ giúp. Tôi nghe từng tràng súng máy nổ, tiếng kim loại va chạm như xe cộ đụng vào nhau bên cạnh những tiếng huyên náo khác. Rồi tôi thấy chiếc tàu kế bên từ từ lướt qua. Đó là một trong những lúc tôi thấy thất vọng cùng cực. Trong giây phút đứng bất động nhìn nghe mà tôi không biết gì cả đến khi thấy người ở tàu bên kia nhảy sang tôi mới bừng tỉnh. 

Thì ra khi tàu tôi di chuyển, đứng gần boong nhìn sang con tàu kia tôi bị ảo giác. Mừng không thể nào tả được tôi vội chạy lại đỡ những đứa bé bị cha mẹ nó ném sang cùng với đồ đạc trước rồi nhảy theo sau, nhưng rất nhiều cha mẹ đã không qua kịp, và vài người còn rớt xuống sông. Đã có vài chục em bé đã trở thành mồ côi trong vài phút. 

Con tàu chạy được chừng một tiếng hay hơn thì những người có radio cho biết tổng thống Dương văn Minh đọc diễn văn đầu hàng---bạn còn nhớ lời anh em chúng tôi giao ước với nhau trước khi lên tàu không? 

Dọc đường chúng tôi thấy xác một ca nô lớn bị bắn chìm trên sông, người ta đồn nó chở một ông nhà văn, nhà báo nổi tiếng mà tôi quên tên. Những người điều khiển bảo chúng tôi đừng đứng lên sợ VC thấy bắn vào tàu. Chừng tới tối, chúng tôi ra tới biển, họ bảo biển gần Vũng Tàu, tôi nhìn vào bờ, thấy đèn của hàng đoàn xe mà tôi đoán là xe vận tải của VC. Nhìn nó nhiều người sợ, họ nâng đỡ nhau với câu, “Chỉ chừng vài tiếng nữa thôi mình ra tới vùng biển quốc tế là không sợ tụi nó nữa.” 

Có thể vì nhiều người nhảy sang tàu tôi nên nó trở thành qúa chật chội, tối đó tôi kiếm mãi mới thấy một chỗ ngủ ngồi trên cầu thang, và tôi hoảng sợ thức giấc trong giấc mơ bị VC bắt lại. 

Trời vẫn còn tối khi tôi bị đánh thức bởi nhiều tiếng ồn, mở mắt ra mới biết đã tới gần một tàu của hạm đội thứ 7. 

o0o 

Đây là lần đầu tiên tôi được tiếp đón như một công dân Mỹ tương lai: chỉ là những con sóng dập dềnh, tiếng loa xua đuổi và cả những tràng đạn.

Người ta kể Mỹ không cho lên tàu vì họ đã đón qúa nhiều người rồi và trong đêm không thể kiểm soát được. Hình như có nhiều tàu khác lớn nhỏ bao vây và xin họ cho lên cũng không được. Khi tàu chúng tôi giả bộ bị chết máy thả tàu tới gần thì bị cảnh cáo bằng loa và một tràng đạn át tiếng sóng biển khiến chúng tôi phải lùi lại chờ sáng. 

Lúc đó tôi mới thấy rõ ràng quả thật có nhiều tàu lớn nhỏ xung quanh, trong đó có một xà lan với nhiều bao cát chống đạn chất cao ngang ngực, trên đó có vài người nằm không biết chết hay sống. Chiếc xà lan có vị linh mục chỉ huy và họ là những người đầu tiên được vớt. Tàu Mỹ không chịu vớt chúng tôi và nhiều tàu, ghe khác. 

Không làm gì hơn được chúng tôi phải nghe lời khuyên đi tiếp tới Singapore sẽ được tiếp tế lương thực, nhiên liệu và tin tức. Nhân viên trợ giúp người tị nạn ở Singapore vừa đe dọa vừa khuyên bảo để phân chia đồng đều, hợp lý số người tị nạn trên các tàu, và cung cấp thêm thức ăn, nước uống, nhờ đó mà chúng tôi được ăn uống đủ no và có chỗ nằm thoải mái. Họ cũng san sẻ tài công kinh nghiệm để điều khiển những con tàu khốn khổ tới Guam, điều đó rất cần thiết cho chuyến đi xa vì tàu của chúng tôi đã được điều khiển bởi những tài công nghiệp dư.

Trong thời gian qua Guam, tôi thưởng thức cái cảm giác sống lại, dấu nỗi buồn vì thất lạc người nhà, tạm ngưng những lo âu trong lòng. Mọi người trên tàu vừa chắc chắn đã qua nguy hiểm, không còn sợ chết đói, chết khát,..., chúng tôi dễ dàng bỏ qua những điều khiếm khuyết hàng ngày như những tấm giấy vệ sinh bay lạc vào bữa ăn, “Ê, ê, đừng đi cầu lúc người ta ăn uống chớ, nhịn một chút đâu có chết.” Những câu nói đại loại như vậy mà lại gây ra nhiều tràng cười lây lan trong gió biển.

Chúng tôi thường chỉ nói với nhau về những ước vọng về tương lai, tưởng tượng ra những gì mình sẽ làm để sinh sống trong một xã hội mới hoàn toàn xa lạ---từ thức ăn đến tiếng nói. Có một lần bạn anh tôi bảo chắc chúng tôi sẽ xin được những việc liên quan đến vệ sinh như đổ rác chẳng hạn, “...những công việc dơ dáy đó chắc người Mỹ không ai muốn làm, chỉ cần mình cố gắng không ngại dơ bẩn là dư sức kiếm sống…”.

Những Bước Chân Đầu Tiên 

Cuối cùng Guam cũng hiện ra, chúng tôi đi hàng một, trước khi vào trại mỗi người được phun lên khắp người một thứ bột trắng để khử vi trùng. Mặc dù phần lớn hiểu sự cần thiết nhưng vẫn có nhiều lời than phiền rằng người Mỹ đã kỳ thị, coi chúng ta như những kẻ dơ bẩn,... Tôi không nhớ rõ nhưng hình như chúng tôi được bố trí ở trên lầu một căn trại lính. Đời sống mới từ từ thành hình, suy tư và lo âu bắt đầu quay trở lại. Dư bệnh đứt mạch máu của mẹ tôi quay trở lại, và bà được bệnh viện trong trại tị nạn điều trị, tạm thời không phải lo ngại nhiều. Tôi rất cám ơn lòng can đảm của mẹ đã không tỏ lộ sự đau đớn vì thất lạc chồng, con và cháu mà làm cho chúng tôi phải trầm cảm hơn. Bệnh viện lính ở đây cũng đã mổ cho tôi một mụn nhọt lớn ở cườm tay trái. Tôi không hài lòng mấy khi biết rằng họ nhét một miếng gạc nhỏ phía trong rồi băng lại phía ngoài. Tôi nghĩ họ phải săn sóc nó đàng hoàng hơn chứ không phải nhét một miếng gạc sau khi mổ. Tôi luôn nghĩ mình phải được tôn trọng hơn, may mắn hơn dù tận thâm tâm tôi biết tôi đã rất may mắn.

Chỉ trong vài ngày ở đây ngủ giường có nệm, ăn cơm gà nướng, thịt cá, uống sữa,..., là tôi quên cái mừng rỡ chạy thoát VC, ngủ ngồi, thiếu ăn trên chiếc tàu đầu tiên. 

Chúng tôi không được phép ra khỏi trại lính. Mỗi lần bước tới hàng rào ngăn cách, tôi mong muốn được ra ngoài, dù là ra một thành phố nhỏ xíu, dù là không biết mình sẽ làm gì ở đó. Tôi mong muốn mau được thoát ra khỏi tình trạng tạm bợ này càng sớm càng tốt, nhưng đã chẳng giúp được gì, mọi chuyện đã có anh tôi lo. Khi người ta đặt càng nhiều trách nhiệm lên vai người đàn ông thì càng làm họ trở lên mạnh mẽ hơn, nhưng chúng có thể làm gãy vai nhiều thanh niên.

Chúng tôi được phát thêm quần áo, những món đồ cũ được bày ra trên đất cho chúng tôi tha hồ lựa chọn mỗi người vài cái. Phần lớn là mặc không vừa, nhưng với sự sáng tạo của người tị nạn chúng lại thành một thứ giúp chúng tôi có việc làm. Buổi tối khi lên đèn, chúng tôi mang số quần áo không vừa đó ra con đường chính, trao đổi, hay bán lại. 

Hai bên con đường dưới ánh đèn, vài chục người ngồi dọc hai bên bày bán, không những quần áo mà còn những thứ họ mang theo nay không cần nữa. Có lẽ thực sự bán mua chỉ là cái cớ, chợ đêm diễn ra khá lặng lẽ, nhưng cũng đủ làm chúng tôi tìm lại chút bình thường trong cuộc sống. Chúng tôi không có tiền để mua gì cả, nhưng bán được ít tiền, tôi được vài chục xu, và anh tôi cho thêm một ít nữa. Tổng cộng tôi có 35 xu, đủ mua một gói thuốc trong cái máy kéo, nhưng sau khi bỏ đủ tiền vào, tôi kéo không được gói nào. Tôi cứ đứng tần ngần tiếc nuối trước máy kéo mãi đến khi người đứng sau hỏi và giải thích là máy không nhận tiền 1 xu. Đó là tất cả số tiền tôi có, ngày hôm sau tôi mon men lại những anh có vẻ khá giả xin thuốc.

Mỗi ngày chúng tôi ra lắng nghe loa phóng thanh, đọc thông báo dán trên một cái bảng, và tìm hỏi những người có vẻ quen biết về những người còn lại. Mỗi khi nghe tin có người tị nạn mới chúng tôi ùa ra xem, hỏi thăm ơi ới, trông đợi, trông đợi... cho đến khi người cuối cùng đã vào từ lâu. 

Trong trại có một số người tới hơi lâu mở tiệm hớt tóc, vừa có tí tiền, vừa bớt lo mà lại biết thêm nhiều tin tức. Hầu hết chúng tôi hỏi han nhau về cách ra khỏi trại sớm, về cách kiếm việc làm,...; những người có thân nhân đã ra khỏi trại, hay ở Mỹ đã lâu được đặt biệt săn đón. Phần lớn nhìn về tương lai phía trước ở nước Mỹ, nhưng không phải ai cũng vậy. 

Sau một thời gian ngắn ở đây có nhiều người muốn về VN. Họ làm áp lực, phao tin đồn Mỹ đã dụ dỗ, thậm chí bắt cóc con nít làm con tin để buộc cha mẹ phải đi theo làm nô lệ,..., đủ mọi loại tin. Cuối cùng những người đó tổ chức biểu tình đòi quyền được về, và Mỹ phải nhượng bộ cấp cho họ một trong những con tàu đã đưa họ đến để trở về.

Không biết tiếng Anh cũng là một trở ngại gây ra nhiều chuyện buồn cười. Một lần có một bà đứng trước tôi ngao ngán nhìn miếng gà chiên được người lính Mỹ gắp vào điã, bà ta lấy tay chỉ vào khay gà, người lính lại gắp thêm cho bà một miếng lớn nữa. Bà ta lại lấy tay chỉ và lần này nói bằng tiếng Việt, “Trời ơi ngày nào cũng gà chiên, ăn ngán tới cổ, cho tôi cái đùi nhỏ thôi ông ơi.” Người lính lại gắp thêm cho bà miếng gà nữa, bây giờ đĩa của bà không còn chỗ, anh ta vẫy tay cho bà đi tiếp, miệng nói, “next”. 

Tôi cũng muốn giúp bà và người lính hiểu nhau, nhưng tiếng Anh của tôi chắc cũng không hơn bà ta bao nhiêu, thêm vào đó tôi thấy mình khá dửng dưng với nhiều thứ đang xảy ra. 

Hình như cũng có người giống tôi, tôi thấy họ thản nhiên đổ từng đĩa thức ăn còn nhiều vào thùng rác. Tôi chưa đến mức đó, nhưng phản ứng mỗi người dưới mỗi hoàn cảnh rất khác nhau, anh tôi xung phong làm việc, tìm tòi thêm tin tức, dò hỏi mọi cách để đưa gia đinh tôi sớm được vào nước Mỹ.

Nhờ anh mà chúng tôi mau chóng được chuyển tới Camp Pendleton ở San Diego vì tình trạng gia cảnh. Rồi chúng tôi cũng không ở đó lâu, gia đình anh được bảo trợ trước và anh kiếm cho chúng tôi một gia đình bảo trợ khác trong vài tuần. Có nhiều người phải ở lại Guam và Camp Pendleton nhiều tháng mới có người bảo trợ.

Tôi đã rất háo hức khi được chuyển tới camp Pendleton, nhưng thực ra thời gian ở đó còn tệ hại hơn ở Guam. Thay vì được ở trong nhà, nằm giường, khí hậu ấm áp giống VN như ở Guam, khi đến camp Pendleton, chúng tôi ở trong một cái lều lớn chứa được mấy gia đình, mỗi người một cái ghế bố nhà binh, cứng, chật và không cản được khí lạnh vào đêm. Họ phát cho chúng tôi thêm mỗi người một cái áo lạnh lính rộng thùng thình và hai cái mền, nhưng vẫn không đủ ấm, tôi phải khó khăn lắm mới có thể ngủ. Tôi lo cho mẹ, nhưng chưa hề nghe bà than phiền lần nào. Mỗi lần nhìn từng hàng lều khổng lồ dựng lên trên đất cỏ, tôi thấy ngao ngán. 

Những ước mơ và lòng tin vào một tương lai tươi sáng làm công nhân vệ sinh ở Mỹ từ từ tàn lụi trong tôi theo từng ngày tôi ở trong camp này. Có phải nước Mỹ chỉ nhỏ bé như Guam và camp Pendleton, tôi tự hỏi?

VuongVu

Blog Archive