Showing posts with label Ngô Văn Thu. Show all posts
Showing posts with label Ngô Văn Thu. Show all posts

Monday, July 9, 2018

Pulau Bidong Và... Hè Ơi, Chào Mi!





Pulau Bidong
Đảo Pulau Bidong


Theo vận nước nổi trôi, cuộc chiến kết thúc trong bi thảm, khiến hàng triệu gia đình tan nát. Kẻ vào tù, người tìm đường ra đi. Năm 1984 khi ra tù. Năm 1986 tôi cũng tìm đường vượt thoát, tàu đã ra khơi nhưng bị tắt máy trôi ba ngày đêm trên biển, bị bắt lại, ở tù tại Ba động, tỉnh Trà Vinh. Năm 1997 trốn trại về Sài gòn. Mùa hè 1989 tái vượt biên đến đảo Pulau Bidong - Malaysia.

Nào ngờ, khi vừa làm xong thủ tục nhập trại thì được thông báo là tôi cũng như bà thuyền nhân cùng chuyến đi, thuộc diện những người đến đảo trễ sau ngày 14/3, là ngày các trại tỵ nạn trong vùng Đông Nam Á đã đóng cửa, không còn được hưởng qui chế tị nạn cũ.

Trên đảo Pulau Bidong lúc ấy, số thuyền nhân còn kẹt lại là 14,000 người, thêm những người vẫn liên tục tìm tới. Tất cả sẽ bị thanh lọc, ai không đủ điều kiện sẽ phải quay về nguyên quán. 

Thời tôi mới nhập trại,  dù cao ủy liên tiếp kêu gọi mọi người hãy tự nguyên hồi hương vì Việt Nam nay đã “mở cửa”, nhưng sinh hoạt trên đảo vẫn bình thường. Phần mình, tôi có tham gia các hoạt động cộng đồng, sau đó ra ứng cử bầu trưởng trại, để thay thế vị trưởng trại đương nhiệm vưà lên đường định cư.

Qua lý lịch khai báo, từng được đào tạo ngành quản trị cao cấp và từng quản trị một đại đơn vị cấp sư đoàn có quân số trên 12.000 người, nên khi tranh cử, tôi dễ dàng thắng cử cho chức trưởng trại.

Cuộc bầu cử có Cao ủy và Mã Lai chủ toạ. Khi tôi thắng cử họ đều chúc mừng.

Với 14.000 thuyền nhân còn lại, sống  thu hẹp trong một diện tích 5km2, hằng ngày tôi phải điều hành và giải quyết mọi hỷ nộ ái ố của thuyền nhân trên đảo.

Có nhiều việc phải làm cấp bách. Ưu tiên  là an ninh, vệ sinh và tổ chức sinh hoạt xã hội,  hầu xoa dịu phần nào dồn nén tâm lý uẩn ức của người tị nạn, sau cuộc hành trình đầy cam go nguy hiểm và trước một tương lai bất định.

Về an ninh,  tổ chức số anh em cưụ quân nhân vào các toán tuần tiễu đêm đêm để bảo vệ trật tư.

-Ngăn chặn bọn du đãng thường quấy nhiễu làm tiền những gia đình chủ tàu, chúng nghĩ chủ tàu có vàng, nên hăm dọa sẽ hãm hiếp vợ con họ nếu không đưa tiền cho chúng.

- Phục kích chận bắt bọn nấu rượu lậu từ núi cao đem xuống trại bán, gây say sưa mất trật tự của đảo (lệnh Cao ủy cấm).

- Chận bắt kẻ cướp tiền của người đi lãnh tiền từ thân nhân nước ngoài gởi đến qua TMS (bưu điện của trại).

Về vệ sinh,  sự sống còn trên đảo, phải tổ chức diệt chuột. Chuột là nỗi ám ảnh của thuyền nhân trên đảo, chuột hoang từng bầy từng lũ vô số kể. Tối về, chuột kéo đến cắn chân tay của người đang ngủ trong mùng. Vì vậy kế hoạch thi đua diệt chuột được ban ra, ai nạp được 3 đuôi chuột thì lãnh 2 gói mì. Có ngày số đuôi chuột đếm được trên cả nghìn đuôi!

Về sinh hoạt văn hoá – văn nghệ, khuyến khích, thúc đẩy mọi người tham gia các khoá học văn hoá - Anh ngữ và các khoá ngành nghề do Cao uỷ tổ chức để tránh cảnh nhàn rỗi, dễ sinh ra những ý nghĩ tiêu cực đáng tiếc.

Đồng thời, thường xuyên tổ chức văn nghệ giúp vui cho đồng bào giải trí. Với khối lượng lớn tài năng của miền nam bị trôi giạt về đây. Đêm văn nghệ nào cũng no nê chương trình ca, vũ nhạc kịch và cải lương đầy ắp ba giờ, khiến mọi người hả hê thích thú.

Đặc biệt hơn nữa khiến cả trại và Cao ủy khó quên, là việc chủ động tổ chức các dịp lễ tết.

Đêm Trung thu năm 1990, tôi đề ra kế hoạch thi “cộ đèn” trung thu giữa các khu. Vật liệu làm đèn cao ủy cấp. Toàn trại có 6 khu:- ABCDF và khu thanh nữ cùng với các tôn giáo tham dự. Thật bất ngờ đêm trung thu ấy, toàn đảo sáng rực ánh lồng đèn, ánh đuốc đủ màu sắc, đủ kiểu, tưng bừng diễn hành quanh đảo. Đông đúc đồng bào các khu theo sau đèn của khu mình để ủng hộ, khiến Cao ủy và Mã lai ngẩn ngơ, vì đây là lần đầu tiên họ được chứng kiến hiện tượng  chưa từng xảy ra trên đảo.

Không lâu sau, toàn trại lại nô nức đón ông già Noel từ “đất liền” ra thăm đảo và phát quà Giáng sinh.

Việc nầy, tôi đến gặp bác sĩ Haken người Thụy Điển, to con lớn tướng (sau nầy là chồng của một nữ thuyền nhân) ông đang là y sĩ trưởng bệnh xá của đảo, đề nghị ông đóng vai ông già Noel, được ông nhận lời.

Để tạo bất ngờ, tám giờ sáng ngày 24/12/1990, tôi sắp xếp cho ông lên tàu chở nước rời đảo ra khơi,  khoảng một giờ sau tàu quay trở vào bờ. Trong khi đo, hệ thống loa phóng thanh của đảo báo tin kêu gọi  đồng bào hãy xuống cầu tàu Jetty đón ông già Noel đến.

Mọi người hiếu kỳ, nô nức, kéo nhau chạy rần rần xuống bến tàu như trẩy hội.  9 giờ sáng ông già Noel bằng xương bằng thịt đến đảo thật sự, đám con nít chạy chen lấn nhau để được gần ông, vuốt râu ông, người lớn thì có dịp chụp hình kỷ niệm. Ông già Noel vui vẻ dẫn đoàn rước lên dốc núi sân khấu khu B để phát quà Giáng sinh cho đám “nhóc”. Mọi người vui vẻ hả hê đón Giáng sinh 1990.

Tết đến, ngoài phần vui tết bình thường, tôi tổ chức cuộc thi chay bộ Maraton quanh đảo giữa hai phe. Một bên là Cao ủy và Police, bên còn lại là phe ta- dân tỵ nạn.

Khi tập họp tại điểm xuất phát, tôi thấy giàn giá bên cao ủy và police sao có vẻ áp đảo phe tỵ nạn quá, vì họ to con lớn xác do ăn uống đầy đủ, mang giày hiệu Adidas, nhìn vào dễ biết là dân thể thao ngay, còn phe ta thì hình hài ốm yếu, mì gói là món ăn kinh điển trên đảo thử hỏi làm sao ta có thân hình cân đối được. Giày thì ai có gì mang nấy thiếu thốn mọi bề.

Vậy mà cuộc đua lại không ít bất ngờ. Tất cả hai phe tuyển được 12 cặp, đường dài khoảng 4km, có 5 trạm kiểm soát cuộc chơi.

Sau tiếng còi hiệu xuất phát ra, phe Cao ủy và police chạy thấy mê luôn vì còn “nóng máy”. Phe ta, tuy ốm o,  cũng chạy sánh vai một chín một mười với họ, mấy người gốc ngư phủ họ còn tỏ ra có bản lãnh về thể lực.

Cây số đầu chưa ngã ngũ thấm mệt. Qua cây số thứ hai, phe cao ủy có hai mạng bỏ ngũ. Phe ta “rụng” một, vì giày lủng “đáy” đau quá chạy hết nổi. Qua cây số thứ 3 thì hai phe “rụng” hơi nhiều, chỉ còn lại 2 cặp. Hai police và hai tỵ nạn. Nhưng qua cây số 3, 5 thì chỉ còn lại phe ta làm chủ trường đua và giành chiến thắng, nhứt, nhì.

Giải thưởng khiêm nhường về nhất: một áo thung và 20 Ringgits, tiền Mã lai (bằng 10 dollars), về nhì một áo thun và 10 Ringgits (bằng 5 dollars). Khi tập họp nhận giải, Cao ủy có lời khen “Các anh chạy giỏi qua”. Tôi nhẹ nhàng thưa,  “Chúng tôi đã có kinh nghiệm chạy từ Việt nam qua đây”. Cao ủy chỉ còn biết lắc đầu cười chúc mừng.

Trong khi đó, sinh hoạt trên trại vẫn ngập tràn công việc. Hằng ngày còn phải nhận thuyền nhân mới đến đảo và chuyển hàng trăm người từ đảo vào đất liền đi thanh lọc, một tháng sau đón họ trở lại.

Đã là thuyền nhân, chẳng ai muốn phải trở lại mảnh đất đầy công an, nhà tù. Người tỵ nạn bị thanh lọc đánh rớt quá nhiều, các biện pháp o ép hồi hương ngày càng nặng nề hơn khiến lòng người chao đảo sôi sục.

Để mở màn những biện pháp thanh lọc và cưỡng bức hồi hương tàn tệ, một viên chức trong chinh phủ Mã Lai lên tiếng mạt sát: “Những tỵ nạn người Việt đến đây là thành phần cặn bã tận đáy thùng rác của xã hội”.

Nghe được câu này khi còn làm trưởng trại, lòng tôi đau nhói vì tự ái dân tộc bị sỉ nhục thậm tệ, không thể chấp nhận. Sẽ phải phản đối điều này  tới cấp cao nhất của Mã Lai mà tôi có thể gặp. Tôi cũng nằm trong diện bị thanh lọc, việc gì sẽ tiếp tục?

Cuối năm 1990, bi kịch thanh lọc tại trại Bidong thêm một trang đau lòng: Thuyền nhân Lâm văn Hoàng  MC 381 trầm mình xuống biển chết ngày 25/11/1990 vì thất vọng với lời hứa của Cao Ủy.

Mấy tháng trước đó, tàu của gia đình Lâm văn Hoàng bị cướp biển đánh phá và hãm hiếp, mọi người chết hết. Lâm văn Hoàng may mắn ôm được tấm ván trôi nổi hai ngày đêm ngoài biển thì được một tàu dầu vớt đưa vào trại tỵ nạn Bidong giao cho Cao ủy. Cao ủy đến thăm và an ủi, cố gắng học Anh văn rồi sẽ cho định cư miễn thanh lọc. Thế nhưng sau đó Hoàng vẫn bị thanh lọc và bị đánh rớt. Đau buồn vì cả gia đình đã nát tan, nên anh tự trầm mình để chết theo những người thân đã vùi thây đáy biển.

Trong nỗi đau chung, tôi chấp nhận hướng dẫn phát động cuộc tranh đấu.

Di hài của Lâm văn Hoàng được giữ lại trước Sick Bay (bệnh xá) để biểu tình với biểu ngữ “Lâm văn Hoàng chết cho chúng ta sống”, ”Người Việt tỵ nạn hãy đoàn kết để sống”, “Người Việt tỵ nạn bất khuất và anh hùng”.  Được sự hưởng ứng của 14,000 trại viên, cuộc tranh đấu có lúc căng thẳng tới mức các nhân viên cao ủy phải rời trại với sự hộ tống của cảnh sát vì sợ bị bắt làm con tin.

Một tháng sau, khi tình hình tạm ổn định, do cao ủy đã thỏa mãn một phần yêu cầu của phe tranh đấu. Đám tang Lâm văn Hoàng cũng đã được tổ chức trọng thể gần như cả trại cùng đưa tiễn. Có cả Cao ủy và police tham dự đưa lên đồi nghĩa trang khu F chôn cất.

Ba tuần sau, 5 giờ chiều, tôi bị gọi lên đồn cảnh sát Mã Lai gặp vị chỉ huy. Ông ta thường được (phe ta, không biết ai thường gọi đại tá để lấy lòng - thực tình chỉ là thiếu tá nhậm chức thôi) và ra lệnh; 7 giờ sáng ngày mai phải có mặt tại đồn cảnh sát để theo tàu vào Tiểu Bang Trengganu.

-Xin ông cho biết lý do tôi phải vào Trengganu? Tôi hỏi.

-Anh vào đó để thăm thân nhân!  Ông ta cười cười.

-Thưa ông, tôi không có thân nhân từ nước ngoài.

-Thì vào chơi cho biết. Ở khóe cười hiện rõ vẻ hăm dọa.

-Thưa, sao tôi có đặc ân nầy? Tôi hỏi.

-Thì qua đó sẽ biết. - rồi ông ta đổi giọng lạnh,  bảo, - Thôi, về dưới trại đi!

Tôi biết đây là một âm mưu cô lập tôi với đám biểu tình trên đảo, vì sau tôi còn các nhóm khác nữa cũng đang tranh đấu.

Thay vì về lại trại, tôi lên văn phòng cao ủy trưởng. Ông ta người Mỹ.

Trong trại tỵ nạn, nhân viên Mã Lai nể sợ phái đoàn Mỹ mỗi khi vào trại lắm. Có lần, ông Mỹ trưởng phái đoàn vào trại nhận người tỵ nạn để cho định cư vào Mỹ, khi vào cổng Police Mã gác, ông thấy một đám đàn bà sắp hàng dài, tay mỗi ngưòi đều cầm một mảnh giấy. Ông ngừng lại hỏi.”Họ đến đây làm gì mà nhiều thế?” được trả lời, vì họ ăn thịt heo bị cảnh sát bắt lên trình diện hằng giờ suốt trong ngày.

Nghe xong, ông ta gom tất cả giấy của mọi người lại và vào đồn cảnh sát xé toẹt, còn mắng cảnh sát vi phạm nhân quyền. Ông bảo: “Mã Lai đạo Hồi bị cấm ăn thịt heo, còn những người nầy họ đâu phải đạo Hồi mà cấm họ”. Lần đó, phe ta reo hò chạy về trại mừng chiến thắng. Riêng phần cảnh sát cay cú lắm. Các lần sau ai vi phạm đều bị nhốt kín vào monkeyhouse (chuồng khỉ) cho êm chuyện.

Thấy tôi có mặt  không hẹn trước, vị cao ủy trưởng người Mỹ thừa quyền lực này hỏi tôi anh lên bất chợt có việc gì?

-Thưa cao ủy, đồn cảnh sát vừa kêu tôi lên báo tin, 7 giờ sáng mai phải có mặt tại đồn để theo tàu qua Trengganu, nhưng không cho biết lý do, Cao ủy có biết việc nầy không?

-Tôi không biết. Cao ủy trả lời.

-Vậy tôi xin báo tin cho Cao ủy biết.

-Nếu “cần đi” anh cứ đi. Số điện thoại của tôi… Có gì anh gọi. - Cao ủy “ỡm-ờ”.

Tôi hiểu ông ta thừa biết việc nầy rồi, vì mới hồi chiều ông vừa từ đất liền theo tàu cảnh sát ra đảo, tối lạị cảnh sát kêu tôi lên trình diện.

-Thưa, Cao ủy biết rồi, vào Trengganu lần nầy tôi đi tù, ở tù làm gì gọi dược điện thoại mà cao ủy cho số phone. Tôi lên đây chỉ để báo cho Cao ủy biết, tôi là một thuyền nhân tàu mang số MC 504. Là cựu trưởng trại phục vụ cộng đồng dưới quyền giám sát của Cao ủy và Mã Lai. Hai tháng trước đây tôi đã tranh đấu hợp pháp để đòi quyền tỵ nạn cho chính mình và cho đồng bào của mình trên đảo. Nay bị cảnh sát bắt đi, không biết sự hiểm nguy gì sẽ xảy ra cho tôi. Tôi nghĩ Cao ủy phải có trách nhiệm về việc này với vợ con tôi và toàn thể đồng bào tôi trên đảo.

Nói xong tôi ra về. Trong đêm đó, tôi tự làm cho mình một áo phao bằng mấy miếng sốp kết lại choàng vào người, rồi bên ngoài mặc áo lạnh che kín, đề phòng nếu ra giữa biển bị đạp xuống thủ tiêu thì hy vọng tấm “phao“ nầy sẽ cứu tôi. May thay điều đó không xảy ra.

10 giờ sáng tàu vào cảng Trengganu, cùng đi còn có anh Nguyễn đình Chiến (thông dịch), tự nguyện tham gia tranh đấu với tôi chứ tôi không tổ chức trước và hai người khác nữa. Họ đưa chúng tôi vào gặp thiếu tướng chỉ huy trưởng Task Foce lực lượng đặc nhiệm cảnh sát của tiểu bang nầy, và bị thẩm vấn:

- Tại sao các anh chống chính phủ Mã Lai? (Hỏi bằng tiếng Anh)

-Xin ông cho biết, chúng tôi chống chính phủ Mã Lai chỗ nào? Chiến hỏi lại.

-Các anh biểu tình ngoài đảo là chống chính phủ chúng tôi chứ còn gì? Ông ta nói.

-Sự tập họp đó (tôi tránh chữ biểu tình để hoá giải lời buộc tội của ông ta) chỉ là sự tỏ bày lòng thương tiếc của mọi người trên đảo đối với người bị nạn đã chết oan uổng mà thôi. Tôi biện bạch.

-Anh có biết anh là người thuyền nhân thứ mấy trên đảo nầy không? Ông ta hỏi tiếp.

-Dạ không biết, Chiến trả lời.

-Anh là người thứ 200.001 trên đảo nầy, vì vậy tôi hiểu người Việt các anh nhiều lắm, hiểu từ trong tim hiểu ra và từ đỉnh đầu đến gót chân của các anh. Ông ta nói trong tự đắc và ngạo mạn.

Nghe đến đây, tôi bỗng đổi chiến thuật, chỉ nói lại với ông bằng tiếng Việt, xem ông đối phó thế nào.

Thấy tôi nói tiếng Việt với ông, ông hỏi tôi nói gì!?

Tôi hỏi lại bằng thiếng Anh:

-Ông bảo, ông hiểu chúng tôi từ trong tim ra ngoài sao ông không nói được tiếng của chúng tôi, làm sao ông hiểu chúng tôi được?

-Như vậy, là ông không hiểu chúng tôi rồi. Chiến nói.

-Anh bảo, tôi hiểu các anh gì nữa. Các anh qua đây xin tỵ nạn, chính phủ chúng tôi đã cho, còn muốn gì hơn? Ông ta vặn lại tôi.

-Điều nầy cộng đồng người Việt hải ngoại và báo chí của chúng tôi ở khắp nơi trên toàn thế giới đã hết lời tán thán và biết ơn chính phủ các ông. Tôi giải bày.

-Như vậy chưa đủ sao các anh còn biểu tình chống đối. Ông ta gằn mạnh.

-Thưa ông, còn nhiều điều mà các ông chưa hiểu chúng tôi. Chiến từ tốn thưa.

-Điều gì nữa ông nói đi. Ông ta cho phép.

Vậy là đã tới lúc tôi nói:

-Chúng tôi muốn xin chính phủ và nhân dân Mã Lai đừng xem chúng tôi đến đây là thành phần “cặn bã tận đáy thùng rác của xã hội” như lời tuyên bố mới đây của một viên chức chính phủ của các ông đã phát biểu.

Thứ nữa xin chính phủ Mã Lai cho định cư miễn thanh lọc những nạn nhân bị cướp biển, họ đã khổ quá nhiều rồi. Trường hợp Lâm Văn Hoàng là điển hình, và còn 12 người nữa là nạn nhân của cướp biển đang có mặt trong trại. Tôi trình bày tiếp.

-Tôi sẽ chuyển nguyện vọng của các anh lên chính phủ. Cuộc nói chuyện đến đây chấm dứt. Ông ta nói, và ra lệnh cảnh sát giải tôi và mọi người về trại giam ở Marrang.

Trên xe tù về trại giam, tôi thầm mãn nguyện việc làm của mình vì, ít nhất cũng đã chuyển đạt trực tiếp được nguyện vọng của đồng bào mình lên chính phủ Mã Lai qua viên chức cao cấp nầy, nhờ biểu tình mới có cơ hội gặp được ông ta. Hy vọng tình hình sẽ được cải thiện hơn, nhưng phải chờ xem.

Riêng tôi. Họ đã tát nước, bắt cá, cách ly tôi với vợ con cùng anh em ngoài đảo. Nhưng anh em ngoài đảo vẫn còn nhóm khác tiếp tục tranh đấu. Tại đây, tôi tuyệt thực đòi công lý cho tôi.

-Cao ủy đến hỏi – Tại sao anh tuyệt thực?

-Xin Cao ủy cho biết lý do tôi bị giam giữ nơi đây, trong khi vợ con tôi thì ở ngoài đảo. Tôi bị tội gì?

- “Có lẽ” chính phủ Mã Lai cần tìm hiểu đôi điều về người tỵ nạn của các anh. Ông ta nói.

-Đã “tìm hiểu” xong rồi, sao tôi không được về lại ngoài đảo với gia đình tôi mà phải ở đây? Tôi hỏi tiếp.

-Được, tôi sẽ “xem lại”.

Thật tình lúc nầy Cao ủy và Mã Lai là một, chứ xem lại cái gì. Nhưng ông ta làm bộ hứa.

Rồi ba tuần sau, một sáng tôi được gọi tên ra cổng trại giam gặp năm người mặc đồ dân sự. Họ tự xưng từ trung tâm định cư người tỵ nạn của Mã Lai đến, đồng ý cho tôi cùng gia đình được đi định cư trước.

Đề nghị bất ngờ này làm tôi phải tự đặt câu hỏi: Tại sao tôi lại có đặc ân nầy trong khi tôi bị coi là kẻ cầm đầu gây rối loạn ngoài đảo và đang bị cô lập? Và tại sao họ chỉ gặp tôi ngoài cổng mà không vào trại làm việc đường đường chính hơn?

Sau khi suy nghĩ tôi quyết định không nhận đặc ân này.

- Những người cùng vượt biển chung tàu với tôi hiện đang chờ thanh lọc. Tôi đi chung với họ nay sẽ cùng thanh lọc chung với họ. Tôi không muốn hưởng ưu đãi nào ngoại lệ. Xin cám ơn quý ông.

Tôi nghi ngờ đây có lẽ là một ý đồ chia rẽ giữa tôi và đồng bào ngoài đảo. Nếu tôi nhẹ dạ, chỉ nghĩ đến phần mình ra đi sớm, thì đồng bào sẽ phỉ nhổ tôi, mất danh dự ngay, mặt mũi nào nhìn lại đồng bào mình sau nầy.

Hai tháng sau, vợ con tôi từ đảo “được vào ở tù” chung với tôi tại trại nầy. Rồi mấy tháng sau, gia đình tôi được chuyển đến trại Sungai Besi trong đất liền, cách thủ đô Kuala Lumpur khoảng 100km.

Tổng diện tích của trại Sungai Besi chỉ bằng mặt lõm của sân vận động mà chứa cả chục nghìn người, lại nữa, trại gần đường xích đạo nên khí hậu nóng bức vô cùng. Chúng tôi có khác nào một bầy gà bị nhốt trong cái lồng chật hẹp, nên mạnh con nào con nấy, tranh đạp lên nhau giành chỗ thở.

Nhưng có điều thú vị khác là vào đây, nghe được tiếng gà gáy sáng và tiếng chó sủa từ xóm nhà gần trại vọng lại. Mắt được thấy bóng dáng xe cộ chạy loáng thoáng ngoài đường, cảm giác nầy đã mất hẳn  từ mấy năm qua vì bị cách ly ngoài đảo, xa với thế giới loài người bên ngoài.

Mùa hè 1992 trại tỵ nạn Pulau Bidong chính thức đóng cửa. Rồi việc đến phải đến. Lúc 3:00 chiều ngày 17/01/1992, tôi và gia đình lên bàn thanh lọc được gặp một vị sĩ quan cấp trung úy Mã Lai đại diện nước chủ nhà, một vị luật sư người Đài Loan và một thông dịch viên người Việt Nam do Cao ủy cung cấp.

Ngoài những câu hỏi thanh lọc bình thường,  tôi còn bị tra vấn theo lý lịch đã khai báo, từ việc làm sĩ quan liên lạc với Mỹ và sau đó dạy tiếng Việt tại trường Việt ngữ ở trong bô tư lệnh III MAF Thuỷ quân lục chiến Mỹ ở Đà nẵng hồi 1968.

Chín tháng sau cuộc phỏng vấn, ngày công bố kết quả, tôi và gia đình có tên trong danh sách đậu thanh lọc. Đồng bào trong trại đến chúc mừng tôi thật cảm động, vì ai cũng sợ tôi sẽ rớt vì tranh đấu.

Sau cùng theo tôi nghĩ, có lẽ  tôi đã được nương nhẹ vì lý lịch vững chắc, và dù sao cũng có công điều hành trại ngoài đảo giúp họ. Có thể năm người mặc đồ dân sự đến tìm tôi và gợi ý cho định cư trước, là thiện chí tốt của họ.

Sau khi thoát cơn mê thanh lọc tôi đến Mỹ với hai bàn tay trắng và mấy túi quần áo cũ xã hội phát mang theo. May thay, chỉ một tháng sau, có người bạn thuê đi cắt cỏ.

Mùa hè cỏ mọc cao, nghề cắt cỏ có đường sống. Thế là tôi đã có thêm hai mươi mùa hè Texas nắng nóng trên 100 độ, tha hồ “ấm mình”. Với nghề cắt cỏ tôi đã có thể chu toàn việc xây dựng gia đình, nuôi nấng con cái ăn học thành đạt trên đất Mỹ.

Mùa hè năm nay, sửa soạn bước qua  tuổi 79, tôi vẫn còn  đủ sức đi đứng và trong ký ức vẫn còn thấy lấp lánh những lồng đèn thả trên sóng nước từ buổi lễ  “Floating Lantern Ceremony” tưởng niệm 50 Năm Chiến Tranh Việt Nam ở Honolulu.

Ròng rã, một đời, tôi đã chứng kiến bao mùa hè nóng bỏng. Ngày ấy lên đường đi quân dịch, tóc hãy còn xanh. Ngày này trôi dạt, lưu vong, tro tàn bay trắng đầu.

Bây giờ, chỉ còn biết nói: “Hè ơi! Ta xin chào mi!”


Ngô Văn Thu

Saturday, January 7, 2017

Mâm Cơm Cuối Năm Nhớ Mẹ Huế




6

Tháng Chạp, những ngày cuối năm Bính Thân đang bắt đầu. Đây là lúc bắt đầu nghĩ tới mâm cơm cuối năm và những nén nhang tưởng nhớ anh linh ông bà và biết bao người đã ra đi. Đã đúng mười năm qua, mỗi lần dọn mâm cơm cuối năm, tôi thường nhớ Mẹ Huế và thường khấn thầm là mời mẹ về với chúng tôi.

Câu chuyện của mẹ Huế là chuyện bà mẹ chung của anh em quân nhân VNCH thời chiến tranh ở Quảng Tín. Chắc nhiều bạn cũng còn nhớ như tôi.

*
Khi tôi cùng người bạn đến quán cơm của “Mẹ Huế” thì bàn trong, bàn ngoài của quán đã đông khách, đành phải chờ.

Quán cơm của “Mẹ Huế” được đông khách như vậy, vì quán không phải dựng lên để bán cho khách thập phương lỡ bước ghé vào, mà gần như riêng biệt bán cho quân nhân và các viên chức chính phủ, làm việc trong toà hành chánh tỉnh ra ăn mà thôi, nên không có bóng dáng thường dân vào quán.

Tôi không thuộc quân số của tiểu khu Quảng Tín, mà thuộc quân số của trung đoàn bộ binh, trung đoàn của tôi lại đồn trú trên lãnh thổ tỉnh Quảng Tín, cách thị xã Tam kỳ 13 km, nhưng vì có mấy trạm tuyển mộ tân binh và, trạm kiểm soát quân sự do tôi phụ trách, nên thường có mặt ở Tam kỳ.

Quán “Mẹ Huế” nằm trong một khu bình dân của thị xã Tam-kỳ, cách toà hành chánh tỉnh Quảng Tín vài cây số, tiện lợi cho quân nhân và viên chức từ toà tỉnh chạy xe ra ăn.

Không ai biết quán (cũng là nhà của “Mẹ Huế”) cất lên tự lúc nào trên khoảnh đất thoáng rộng, đủ chỗ cho hàng loạt xe honda đậu khi vào quán dùng cơm, lại có bụi tre phủ bóng mát trước nhà nữa.

Khi tôi biết được quán của “Mẹ Huế” và, thường xuyên đến ăn thì quán đã đông thân chủ. Tôi nhập cuộc vào chốn cơm hàng cháo chợ nầy, vì đời lính xa nhà. Lần hồi, cơ duyên đưa đẩy, tôi như chỗ người nhà của quán cơm “Mẹ Huế” luôn.

Tôi không biết tên của “Mẹ Huế”, chỉ nghe người ta kêu vậy tôi cũng đành theo khuôn phép đó. “Mẹ Huế” ước chừng năm mươi lăm, sáu mươi tuổi gì đó, thân hình “Mẹ Huế” trông mảnh khảnh, nhanh nhẹn so với tuổi đời của mẹ. “Mẹ Huế” lớn tuổi hơn đám khách chúng tôi khoảng mười lăm tuổi. Không thấy “Ba Huế”có mặt bên “Mẹ Huế”. Có lần không nén được nỗi buồn của mình vì tình duyên đứt đoạn giữa đường, ”Mẹ Huế” hé lộ đôi lời tâm sự. Mẹ kể: thời còn con gái, Mẹ có quán cơm bán lưu động trên tàu lửa xuyên Việt. Cuộc đời Mẹ đong đưa ngược xuôi trên con tàu, nay đây mai đó, ”sáng Huế, xế Quảng”. Và đã từng nhỏ giọt buồn cho từng ga, khi phải chứng kiến những cảnh đưa tiễn người thân đi xa. Nhất là thời chiến tranh bùng nổ mạnh trên đất nước.

Đã có hàng chục va-gon tàu, chở quân đội ra tiền tuyến, và cũng có hàng chục va-gon khác, chở thanh niên các miền vào quân trường huấn luyện. Rồi buồn thay! Có những lần tàu trở về, một vài va-gon đó, lại mang theo quan tài của người xấu số trong họ, đã ra đi ngày nào. Bài hát Biệt Ly của Doãn Mẫn thật thấm thía trong hoàn cảnh nầy. (Biệt ly tiếc thương từ đây….Ôi, còi tàu như xé đôi lòng…)

Mẹ kể là có lần trong số những quân nhân ấy có chàng trai hào hiệp đã cứu mẹ thoát một tai nạn, khi tàu bị mìn lật trên đoạn đường Lăng-Cô Huế. Người đó không ai khác hơn là chàng sĩ quan tùng thiết trên tàu lửa, người có nhiệm vụ bảo vệ tàu. Người ấy săn sóc cho Mẹ thật tận tình, không có ơn nghĩa nào đền đáp được. Thế rồi từ đó, hai người dành cho nhau nhiều cảm tình “đặc biệt”. Với hai đứa con, một trai 17 tuổi và một gái 15 tuổi ra đời, là kết quả cuộc tình đó.

Nói đến đây, ”Mẹ Huế” bỗng dừng lại, không kể tiếp phần cuối những ly kỳ, bí hiểm hơn, tại sao “Mẹ Huế” lại có mặt tại Tam kỳ nầy và, người hùng của “Mẹ Huế” sau đó đã bị mất tích trên chiến trường tết Mậu Thân Huế như thế nào (vì hết thời gian biệt phái qua đường sắt, nên phải trở về đơn vị tác chiến cũ). Hai đứa con của “Mẹ Huế”, chúng biết thân phận mồ côi cha, nên lo toan giúp mẹ mọi bề trong quán cơm.

Tuy là người Huế, nhưng ước chừng Mẹ không phải gốc chính Huế, nên nhiều khi “Mẹ Huế” nói chuyện, phát âm nhiều chữ hơi nặng không như Huế “đại nội”. Nhưng dù ở miền nào của Huế, món ăn của “Mẹ Huế” cũng có thứ đặc sản mắm ruốc đậm chất Huế.

Ban đầu ăn, bọn lính tráng chúng tôi thấy mùi hơi khó chịu vì chưa quen, nhưng “Mẹ Huế” cứ “chưng” hoài món hàng nầy vào các món ăn của Mẹ nên ăn riết đâm ghiền, không còn phàn nàn nữa.

Thực đơn, bữa ăn của “Mẹ Huế” dành cho thực khách, -đám thanh niên xa nhà như chúng tôi vẩn thường là: cá kho mặn, canh bầu hoặc dưa gang, hột vịt dầm nước mắm ớt và một dĩa thịt heo ba chỉ cuộn với rau sống chấm mắm nêm lỏng. Bọn “hạm ăn” chúng tôi tuổi ngoài đôi mươi, thấy món gì “Mẹ Huế” cống hiến trong bữa ăn cũng hài lòng khen ngon cả, vì sức trai, nhai đá cũng giòn kia mà.

Cứ thế “Mẹ Huế”, nay món nầy mai món khác, “vỗ béo” đàn con của Mẹ vì nghiệp nước phải xa nhà, không nơi nương tựa bữa ăn ấm cúng của gia đình. Đặc biệt có những bữa ăn không trùng ngày lễ lạt giỗ kỵ gì cả, thế mà bỗng dưng thịnh soạn hơn thường lệ. Có thịt heo quay, có cua biển luộc với dĩa muối tiêu chanh hấp dẫn, còn có tô cháo lươn da vàng ngậy trên bàn nữa. Ai nấy cũng lấy làm lạ tò mò hỏi nhau: Cái gì đây? Sinh nhật của Mẹ? hay tình yêu của Mẹ lên ngôi lần nữa? Sai bét hết, không có gì cả: Chỉ là, “Mẹ Huế”vừa gặp mặt ông Đề. Ông Đề đẹp trai của “Mẹ Huế” vừa cho Mẹ gặp mặt nên Mẹ vui, Mẹ hỉ xả “cúng dường” cho chúng sanh là chúng tôi một bữa ăn thật đặc biệt để góp phần vào thú vui riêng của Mẹ. (Hàng tuần “Mẹ Huế” đều vui chơi với việc đánh số Đề).

Chúng tôi thường bảo nhau: cầu cho “Mẹ Huế” gặp ông Đề hoài hoài để tụi mình sướng. Song tiếc thay, đôi khi trông mặt “Mẹ Huế” cũng eo xèo buồn, vì lý do: ông Đề bận đi vacation xa, không cho “Mẹ Huế” gặp hên như những lần trước nữa. Trông “Mẹ Huế” buồn mà chúng tôi cũng buồn lây, vì thiếu “hàng xịn” trên mâm cơm.

“Mẹ Huế” tính tình hào phóng, có đồng nào ngoài khoản tiền căn bản mồ hôi nước mắt của mình làm ra là Mẹ “xả láng” với tụi tôi ngay. “Mẹ Huế” có thói quen: dù phải bận rộn với công việc, nhưng trên môi của “Mẹ Huế” lúc nào cũng gắn chặt điếu thuốc lá cẩm lệ của Quảng Nam. Mẹ luôn nheo nheo đôi mắt để tránh làn khói mỏng tỏa ra từ điếu thuốc. (Chính gia đình tôi đã góp phần thú vị nầy vào đời sống của “Mẹ Huế”. Trước khi bị gọi vào quân trường SQBB/Thủ Đức, tôi là người quản lý của gia đình, phân phối thuốc lá Cẩm Lệ-Quảng Nam-Đà-Nẵng đi khắp miền Trung). Nay không ngờ, “Mẹ Huế” lại là khách hàng của tôi và, tôi lại là khách hàng của Mẹ qua mâm cơm nầy.

Tôi không biết có lần nào trong mâm cơm chúng tôi ăn, có “độn” tàn thuốc lá của “Mẹ Huế” vào không, vì môi “Mẹ Huế” luôn gắn chặt điếu thuốc, nhưng nếu chẳng may, có bị “độn” đi nữa thì cũng chẳng ai bị ngộ độc, vì thuốc lá được bào chế với hương liệu không có hoá chất độc hại như ngày nay, mà toàn là thảo mộc qúy, tinh chiết ra để ướp thuốc cho thơm ngon mà thôi.

Bữa cơm ngon là vậy, còn nước uống thì sao. ”Mẹ Huế” rất tươm tất chuyện nầy. Mẹ thường cho thực khách uống nước chè lá tươi, mà phải là chè lá của núi rừng quận Tiên Phước Quảng Nam nổi tiếng Mẹ mới vừa lòng. Mẹ nói uống chè xanh dễ tiêu thực. Do đó, một khạp nước chè tươi được kê sát với bụi tre đổ bóng mát trước cửa. Không biết Mẹ có nghiên cứu điạ hình, địa vật trước không, chứ đặt khạp nước nơi đây quả là đúng vị trí chiến thuật, chiến lược”. Vì ăn xong, người người đều đổ mồ hôi, ra đây vừa nhâm nhi ly chè tươi, vừa hưởng được làn gió mát từ bụi tre tạt vào thì hỏi, còn gì thỏa lòng cho bằng.

Quán “Mẹ Huế” gần như có thực đơn bốn mùa: Mùa xuân khi nhà vườn có cải con còn non, ”Mẹ Huế” cho ăn thịt heo luộc cuốn với cải, khế lát, chuối chát, bắp chuối xắt mỏng, rồi chấm với mắm nêm nguyên chất đang còn con mắm cơm đỏ ửng. Tất cả được cuộn tròn vào bánh tráng mỏng, rồì được đưa vào miệng, cắn một miếng, lật thế nhai, nghe giòn tan cọng cải đang trộn với mùi gia vị tỏa ra thấm vào lưỡi, nồng nồng cay cay, khiến mọi cảm giác của tứ chi lâng lâng tê dại. Ôi, đâu còn món cao lương nào cỡ triều đình sánh kịp.

Mùa hè “Mẹ Huế” lại cho ăn đổi bữa các loại cá: nào cá thu, cá ngừ, cá chuồn, cá hố. Nào kho, nào chiên, nào hấp, món nào cũng “đắm đuối” khẩu vị thực khách cả. Ngoại trừ cá sấu. (Có lần tôi hỏi đùa “Mẹ Huế”. Chừng nào Mẹ cho ăn cá sấu đây, nghe xong Mẹ rùng mình nói:- ăn cá sấu, chết không đầu thai lại kiếp người được, vì cá sấu ăn thịt người, chẳng lẽ chúng ta ăn chúng ta sao mà đòi ăn thứ dại đó. Ghê qúa!

Đầu mùa thu, khi các loại bí, bầu, su, mướp còn sum- sê lủng lẳng trên giàn thì “Mẹ Huế” lại cho ăn các thổ sản đó.

Đông về, ”Mẹ Huế” lại thay món, cho ăn các loại mắm: mắm dưa, mắm cải, mắm cá chuồn và đặc biệt là mắm cá sặc ở Miền Nam.

Tóm lại. “Mẹ Huế” đem tất cả sở trường của người đầu bếp có kinh nghiệm lâu năm trong nghề ra phô diễn tài nghệ, mà giá ăn thì vừa hợp cho kiểu tiền lính tính liển, thử hỏi làm sao quán của “Mẹ Huế” không đông khách cho được.

Đám khách trẻ chúng tôi nhờ có quán cơm của “Mẹ Huế” mà được an ủi phần nào thân phận kẻ xa nhà. Một năm chỉ được vài ngày phép eo hẹp, hiếm hoi với gia đình. Thời gian còn lại chỉ trông cậy vào quán cơm của “Mẹ Huế”, ăn để khôn lớn với đời và chiến đấu với nghịch cảnh của chiến tranh.

Ngoài chúng tôi ra, quán cơm của “Mẹ Huế”, đôi khi cũng có những ngoại lệ khác như: đón vài khách đặc biệt nữa.

Khách đây là vài gia đình tử sĩ, từ xa về toà hành chánh tỉnh làm hồ sơ nhận xác chồng hay hồ sơ lãnh tiền tử tuất, nhưng gặp phải giờ cơm, nhân viên xã hội đưa họ đến quán “Mẹ Huế” để họ ăn tạm rồì trở vào làm tiếp.

Đối với loại khách đặc biệt nầy, “Mẹ Huế” không những tiếp đải ân cần mà còn không nhận tiền cơm nữa. Vô hình chung quán của ”Mẹ Huế” đã biến thành cơ sở xã hội thiện chí của gia đình quân nhân toà hành chánh hồi nào không hay. Tiếng lành đồn xa, ai nghe được cũng dành cho “mẹ Huế” lòng qúy trọng.

Tết năm nào không bận công tác đi xa. Vì quá lạc lõng, tôi tìm đến quán “Mẹ Huế” để hưởng ké tình xuân. Tuy quán đóng cửa, nhưng tôi vẩn được cho vào. Mẹ Huế tử tế cho ăn các món đặc sản xuân của Huế do tự tay Mẹ nấu nướng, thiết bày, cúng kiếng trong ba ngày tết cổ truyền.

Còn nhớ mùa xuân năm 1970, chiều ba mươi tết, sau công tác trở về từ quận miền núi Tiên Phước, tôi ghé quán "Mẹ Huế” để biếu Mẹ chút quà lấy thảo: nào hồ tiêu, cau trầu tươi, chè lá xanh, mấy trái mít mật, mấy bẹ vỏ quế rừng thơm có tiếng (“Mẹ Huế” thường hay pha chút đỉnh quế vào tô nước chấm, vừa ngon vừa trừ được bệnh tháo dạ) cùng vài lít mật ong, thổ sản đặc biệt của rừng núi quận Tiên Phước.

Bước vào quán, tôi thấy trước cửa được bày biện một chiếc bàn tròn đầy đủ lễ vật, hoa quả cùng với mâm cơm thịnh soạn trông trang nghiêm, thành kính đang cúng. Hương, đèn cháy lung linh.” Mẹ Huế” trong chiếc áo dài lam, hai bàn tay chụm lại thành búp sen trước ngực, trong tư thế chánh niệm râm râm khấn vái, tưởng nhớ tới thằng Hiền, thằng Mân, thằng Ngoạn và thằng Tưởng cùng với mấy đứa nữa mà “Mẹ Huế” không nhớ hết tên, đã đến quán ăn của Mẹ, nhưng nay thì “chúng” đã ra đi vĩnh viễn không về nữa, thật tội nghiệp quá, Mẹ nói mẹ nhớ chúng nó quá.

Tôi nép mình bên “Mẹ Huế” yên lặng xúc động, vì cứ ngỡ mâm cơm chiều ba mươi tết của Mẹ, cốt yếu để cúng tổ tiên theo thông lệ rước ông bà mà thôi, nào ngờ mâm cơm nầy, Mẹ chỉ cúng để tưởng nhớ mấy “đứa con” lính, tứ xứ của Mẹ ngày nào.

Tôi cầm tay Mẹ, cử chỉ như đaị diện cho những anh linh bạn bè đã khuất, chuyển tải lòng biết ơn đến Mẹ. Vì trong thời gian và không gian lắng đọng của ngày cuối năm nầy, khắp mọi nhà, mọi miền, ai ai cũng bận tâm nghĩ đến tổ tiên ông bà mình, còn mấy ai nghĩ đến người khác. Duy chỉ có ”Mẹ Huế” ngoài việc cúng bái cho gia đình mình, lại còn nhớ đến anh em đồng đội của tôi nữa. Họ đang vùi thân trong lòng đất lạnh, nơi bìa rừng, bên hốc đá nào đó, vĩnh viễn xa lìa mùa xuân, dù mùa xuân của họ còn rất dài…

Mâm cơm của Mẹ Huế cúng, còn có ý nghĩa như ánh lửa hồng từ trái tim Mẹ tỏa ra làm ấm áp phần nào bao vong hồn đang lạc lõng ở cõi mù xa.

Qua đó, tôi cảm nghiệm được rằng “Mẹ Huế” tuy có đời sống bình dị, không điạ vị gì cao sang trong xã hội cả. Mẹ chỉ làm công việc bình thường mà không một ai khi đã học qua vở lòng “quốc văn giáo khoa thư” thuỡ thiếu thời đều rõ “Thấy người hoạn nạn thì thương, thấy người đói rét lại càng thương hơn” Do đó Mẹ đã trải trái tim Bồ-Tát của mình ra để bù đắp những mất mát to lớn mà các bà mẹ, bà vợ lính phải miệt mài gồng mình gánh chịu trong suốt chiều dài của cuộc chiến.

Thế rồi biến cố ba mươi tháng Tư xảy ra, mỗi người tan tác mỗi ngả.

Năm 2006, sau khi từ Mỹ về thọ tang mẹ ruột xong, tôi đón tàu lửa vào thị xã Tam Kỳ lân la tìm lại quán cũ của “Mẹ Huế”, để nhớ lại dĩ vãng ngày xưa, ngày mà “Mẹ Huế” luôn luôn tất bật lo từng bữa ăn cho chúng tôi.

Buồn thay, tất cả nơi đây nay đều xa lạ và ngỡ ngàng. Chỉ còn một nhân chứng sót lại cho biết: Sau một chín bảy lăm, ”Mẹ Huế” đã bị việt cộng bắt đi tù sáu tháng về tội “có liên hệ với chế độ nguỵ”. Ra tù, Mẹ bị cưỡng bức đi vùng kinh tế mới ở Kontum. Do đã già yếu và buồn phiền, không chịu nổi cảnh sơn lam chướng khí, nên Mẹ đã chết trên vùng đất đau thương đó. Qua đi một đời người rộng lượng, cao cả đáng kính.

Thế là Mẹ đã bị những kẻ vô minh, nuôi lòng thù hận nhỏ nhen giết chết đời Mẹ.

Nay, sống trên đất Mỹ, hàng năm, tết nào tôi cũng có mâm cơm chiều ba mươi tết, để rước ông bà và, rước luôn “Mẹ Huế” về vui xuân với gia đình. Tôi coi “Mẹ Huế”cũng là ông bà của mình, để có dịp trả ơn “Mẹ Huế”. Xin “Mẹ Huế” chứng giám lòng thành của con.

Ngô Văn Thu

Thursday, January 14, 2016



Hai Cần Cắt Cỏ



Hai Cần có tên họ đầy đủ là: Ngô Cần. Theo sau mấy đứa em có tên là: Ngô Kiệm, Ngô Liêm, và Ngô Chính. Tên của bốn anh em Hai Cần mang hoài bão của gia đình; mong họ sống đúng phuơng châm: Cần, Kiệm, Liêm, Chính để làm đẹp gia tộc và giử gìn khuôn phép nề nếp của tổ tiên.

Khi đến Mỹ theo diện HO, tên của Hai Cần bỗng bị gọi đảo ngược lại là: Cần Ngô, và theo cách viết của người Mỹ không dấu nên biến thành Can Ngo, rồi cũng từ đó là cách phát âm lơ lớ giọng Mỹ sẽ là; “Caa n Ngo o”, không xa lắm với cụm từ “Cán Ngố”- một cụm từ mà sau 75 người dân Miền Nam thường gọi mấy tên cán bộ Việt cộng như vậy. Bởi vì, với cái “đài” (Radio) mang trên vai mở hết âm lượng đi nghênh ngang ngoài đường phố để tự đắc rằng ta đây là kẻ “chiến thắng”(kiêu binh) và cũng khoe mẻ rằng ta đây giàu có hơn “bọn địch” Miền-Nam. Rất tiếc, sự thể nếu không “bị ngố” phải hiểu ngược lại mới đúng.

Thật tình Hai Cần bị oan nghiệt với cái tên gọi ngược đó, và chỉ bị trên đất Mỹ mà thôi chứ trước 75, ở Việt-nam, Hai Cần đường đường là một biên tập viên cảnh sát, xuất thân từ Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia ra trường, và được bổ nhiệm về làm chủ sự Cảnh Sát tư pháp của một quận miền xa trên vùng 2 Cao nguyên- Pleiku.

Thế rồi, chiến cuộc bùng nổ mạnh. Buôn Mê Thuột mất. Pleiku di tản,mọi người đều tìm đường chạy loạn. Hai Cần cũng không ngoại lệ, phải chạy theo đoàn người tìm về miền xuôi trên tỉnh lộ 7. Không ngờ họ lại chạy vào ”tử lộ”, chả khác nào “đại lộ kinh hoàng” ở Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa 1972.

VC pháo kích vào đường 7 tàn sát tất cả. Hai Cần bị trọng thương nơi vai và một mảnh đạn pháo ghim vào ngực. Hai Cần đau đớn ôm chặt vết thương ở ngực lần mò tìm đến khe suối để lẩn trốn và tự cứu bằng cách xé mảnh áo rách nén chặt vào vết thương để chận máu cho khỏi thoát ra. Sau mấy ngày nghe ngóng động tĩnh bên ngoài, khi biết chắc cảnh vật chỉ còn là sự chết chóc hoang tàn, và hy vọng rằng VC không còn lục soát nữa nên Hai Cần men theo con suối tìm ra buôn làng để mong vượt thoát, vì vết thương đã mưng mủ nhiểm trùng nhức nhối, cần được chửa trị.

Một buổi sáng, tai Hai Cần bỗng nghe tiếng chó tru từ xa vọng lại, như báo hiệu có làng mạc quanh đây. Suốt một ngày, Hai Cần lần mò theo hướng đó và quả nhiên Hai Cần gặp một buôn Thượng. Kinh nghiệm phải cảnh giác; có thể là một buôn Thượng Cộng, nên Hai Cần không dám vào đành phải nằm ngoài rừng chờ… Hai Cần không biết phải chờ đợi gì? Một toán cứu nạn tìm đến cứu mình chăng? Điều đó chỉ là ảo tưởng trong lúc nầy, vì mọi người đều biến khỏi nơi đây từ lâu, giờ quanh Hai Cần chỉ còn tiếng gió hú của rừng núi thâm u, cùng với bao nỗi nguy nan vây quanh mà thôi, nghĩ đến đây Hai Cần cảm thấy tê dại cả người nên mê thiếp đi lúc nào không hay…

Khi chập chờn tỉnh dậy, Hai Cần chợt thấy bên mình có ông già nước da ngăm đen, là người vùng sơn cước ngồi bên cạnh, tay đang cầm một tô nhựa đã ngã màu thẩm nâu. Thấy Hai Cần tĩnh, Ông già bèn lên tiếng trước: “Ông Quốc gia, ông bị thương nặng lắm, ông nằm ngoài rừng, tôi sợ cọp về tha đi hoặc bị cách mạng bắt nên đưa ông vào đây với tôi. Tôi có miếng cháo cho ông ăn để khoẻ. Tôi có miếng thuốc để bó vết thương cho ông. Tôi “che”cho ông để ông không bị bắt. Ông ăn miếng cháo nầy đi, còn đây là miếng thuốc tôi bó cho ông”. Miệng nói tay ông làm như lo cho người nhà của mình vậy.

Thế là Hai Cần trở thành “khách không mời”của ông già người thiểu số Kurt Dak tốt bụng, độ lượng, có lòng nhân cứu người trong cơn hoạn nạn, khó mà tìm thấy nơi đâu trong tình huống ngặt nghèo hiểm nguy nầy, chỉ cần một chút sơ hở, tai vách mạch rừng là cả hai sẽ chuốc lấy thảm họa.

Rồi một đêm, đất bằng bỗng sóng giậy.Tự dưng chiêng trống, phèng la, cồng, tù và, đồng loạt gióng lên vang dội khắp núi rừng. Hai Cần run bật ngưòi, vì nghĩ rằng ai đó đã phác giác nơi ẩn nấp của mình nên họ báo động cho Việt Cộng tìm đến vây bắt. Trong nhà, ông già Kurt Dak người ơn cũng chạy biến theo tiếng gọi của âm vang đó. Trong tâm trạng hoang man gcùng cực. Hai Cần chỉ còn chờ đợi đưa tay vào còng để bị dẩn đi mà thôi.

Nhưng chờ mãi gần sáng vẫn không thấy động tĩnh gì thì ông già xuất hiện, miệng lẩm bẩm chưởi thề. “Mẹ kiếp,chuyện không có gì mà gây náo loạn. Con trâu sanh khó, sanh ngược. Trưởng làng sợ trâu mẹ chết nên gióng trống báo dộng để mọi người đến cứu”. Hai Cần nghe xong hú vía. Thoát được một cơn hiểm nghèo!

May thay! Hai tuần trôi qua trong sự đùm bọc, nuôi dưỡng của ông già Kurt Dak đều suông sẻ. Sau đó ông lại còn hoá trang cho Hai Cần giống như người sắc dân của mình và, hai cha con lại khiêng Hai Cần trên võng mây (như cách đưa người bệnh đi cấp cứu mới thoát sự dòm ngó của VC) về một bến đò, rồi ông già lại “hộ tống” tiếp Hai Cần đến tận sông Đà Rằng thuộc tỉnh Phú Yên để trả Hai Cần về với gia đình theo ước nguyện, y như một cuộc phóng sinh,t hả chim về với trời xanh vậy.

Cảnh biệt ly thật cảm động giữa Hai Cần với ông già Kurt Dak, không có ngôn từ nào tả xiết trước nghĩa tình đầy lòng từ-bi, bác-ái của một người Thượng đối với một người Kinh, dù khác màu da, không cùng dòng tộc, không cùng huyết thống, mà lại đùm bọc tận tình cho Hai Cần trong cơn hoạn nạn như vậy. Phải chăng ông già người Thượng Kurt Dak là hoá thân của Trời-Phật hiện ra để cứu độ cho Hai Cần. Chân bước đi mà lòng Hai Cần như nhỏ lệ.

Sau đó, với hai ngày đi đường khó khăn sau loạn lạc chiến tranh. Hai Cần xiêu vẹo về đến nhà ở Quảng-Trị lúc trời chập choạng tối. Bước vào nhà, mọi người trong nhà hốt hoảng rú lên kinh hoàng vì tưởng rằng bóng ma của Hai Cần hiện về. Quả tình thân xác của Hai Cần tiều tụy tả tơi do thương tích gây ra, nên chẳng khác nào ma vậy. Hai Cần phải buộc miệng gọi: Má ơi! Em ơi! Con là Hai Cần bằng xương,bằng thịt còn sống về đây, đừng sợ! đừng sợ!

Nói xong, để lấy lòng tin. Hai Cần đi thẳng đến bàn thờ Phật thắp nhang cúng vái như lúc Hai Cần còn sinh hoạt ở nhà hằng đêm, để tạ ơn Phật tổ đã phù hộ cho Hai Cần được trở về đoàn tụ cùng gia đình. Nhờ cử chỉ quen thuộc ấy, gia đình mới tin đây là Hai Cần thật chứ không phải là “ma”.

Không kể xiết nỗi vui mừng của gia đình. Cả nhà; Mẹ, vợ con, ôm Hai Cần khóc như chưa bao giờ được khóc vì biết rằng người thân của mình đã trở về từ cỏi chết… chứ không phải ma như họ tưởng. Bàn thờ, thờ Hai Cần từ đó được lấy xuống, vì trong đau xót tuyệt vọng gia đình đã lập nên.

Chưa hết cơn vui hội ngộ. Một tuần sau, Hai Cần có lệnh tập trung “cải tạo”dù vết thương của Hai Cần chưa lành hẳn. Hai Cần lại băng mình vào cõi chết khác của những năm tháng tù đày nghiệt ngã ở trại tù Bình-Điền, vì Hai Cần là cảnh sát, nên bị Việt cộng kết tội vô số “nợ máu”.

Sau hơn bảy năm tù “cải tạo”trở về, hồn xác Hai Cần như lìa nhau, cuộc sống vô vị trong cõi tạm bợ của thế gian XHCN Việt Nam. May thay, trong tận cùng của tuyệt vọng, chương trình HO ra đời, gia đình Hai Cần được ra đi theo diện HO. 3, định cư tại Hoa-Kỳ. Thoát một cảnh đời tăm tối từ tháng 3/1975 (Pleiku rút) đến tháng 3/1993 (đến Mỹ) 18 năm giông bão cuộc đời!

Tại Mỹ, Hai Cần có người bạn cùng đơn vị ngày trước đứng ra bảo trợ đưa về tiểu Bang Texas sống “cho vui với nhau”. Vui ở đây là cùng hành nghề cắt cỏ với ông bạn. Mới qua chập chững vào nghề, được “tắm nắng hè”của Texas trên trăm độ hằng ngày quả là “ấm mình”. Tuy nhiên chiều về được “chủ”phát 50 đô tiền công (lương nâng đỡ tình chiến hữu với nhau, lương Mễ chỉ 40 đô) thì cũng khấp khởi mừng. Đồng tiền đầu tiên làm ra trên đất Mỹ do sức lao động của mình bỏ ra thật giá trị, chẳng bù lao động trong tù, làm nhiều, bị vắt kiệt sức mà đói dài dài.

Thế rồi ngày tháng thoi đưa, Hai Cần theo “nghề cắt cỏ” luôn, và có danh xưng “Hai Cần Cắt Cỏ” từ đó. Nói theo kiểu Mỹ sẽ là “Can n Ngo o Lawn service” chứ không phẳi “Can n Ngo o ga am co o no on (Cần Ngô gặm cỏ non) như lời chế riễu của bạn bè.

Có lần Hai Cần cũng mơ ước được đến trường theo học nghề luật cho có vị thế hơn, vì trong quá khứ khi vào Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, Hai Cần cũng học được phần nào luật tổng quát các ngành rồi, nhưng mộng ước không thành vì gánh nặng gia đình, vợ hai con, cần phải có tiền để đáp ứng cuộc sống trước mắt – “Bắt con chim trong tay, hơn bắt con chim ngoài trời”, thế nên Hai Cần đành để cơ hội ra đi...

Bốn năm sau, Hai Cần mua được một job cỏ của người khác bán lại, vì họ cần di chuyển khỏi tiểu Bang. Hai Cần làm chủ từ đó, và phát triển thêm lên. Gặp lúc cơn sốt nhà dâng cao, các khu đất trống được phủ kín bằng nhà mới, Hai Cần lại có thêm sân cỏ để dụng võ. Nước lên, thuyền lên. Khách hàng tăng dần trên cả trăm, Hai Cần phải mướn thêm nhân công Mễ, từ hai lên bốn người rồi lên tám người chia làm hai toán, một tuần làm việc sáu ngày, bận rộn mà lợi tức cũng tăng theo đáng kể.

Theo luật bất thành văn của nước Mỹ, ai ra nghề sau bốn năm mà không lên được thì xem như chìm xuồng. May thay! Hai Cần không bị chìm xuồng mà còn sống vững vàng với “gánh cỏ” của mình để nuôi con ăn học, đứa học luật thay Hai Cần, đứa học Y-tá thay mẹ. Cuộc sống ấm êm nhờ việc làm ổn định kéo dài suốt 15 năm.

Cho đến một ngày, tấm bảng hiệu hành nghề luật sư của con Hai Cần “C&C Law Firm” (Cần Con Law Firm) được dựng lên trên khu phố chính Bellaire thuộc thành phố Houston TX, chen vai sát cánh cùng với người dân bản xứ, Hai Cần mới thở phào nhẹ nhõm. Thế là cây xanh (con Hai Cần) mọc lên tươi tốt nhờ bón phân (ý chí của cha mẹ) và được tưới thắm mồ hôi của Hai Cần đổ xuống, qua nghề cắt cỏ kiếm tiền cho con ăn học thành tài mà không qua một vay mượn tiền bạc tài trợ của ai cả. Đó chính là phần thưởng tốt đẹp và hãnh diện nhất cho Hai Cần lẫn cho con mình.

Tuy nhiên trong thuận lợi đó, đôi khi Hai Cần cũng gặp lắm điều trắc trở thử thách mà điển hình có lần; Hai Cần đang làm thì bỗng thấy xe cảnh sát quây đèn tiến lại, một xe của sở vệ sinh và cầu đường, cùng một người Mỹ trắng đi theo.

Khi đến nơi, cảnh sát chào theo thủ tục, rồi hỏi ID và giấy phép hành nghề của Hai Cần. Xong cảnh sát bảo; có người nầy (chỉ người Mỹ trắng) báo cáo ông thổi cỏ xuống cống, và thổi rác qua nhà ông ta. Tại sao ông làm vậy?

Để tránh bị đánh phủ đầu trước. Hai Cần tự xác định mình với cảnh sát và cũng để câu giờ tìm cách đối phó; Hai Cần chậm rãi nói: “Thưa cảnh sát, tôi là người Việt nam tỵ nạn CS qua đây theo diện nhân đạo hợp pháp của chính phủ Mỹ, tôi không phải là dân lậu (Ilegal). Tôi có Quốc tịch Mỹ nên được luật pháp Mỹ bảo vệ và che chở bình đẳng như bao công dân khác, trừ khi tôi phạm pháp thì có luật pháp trừng trị. Và tiếp:

- Xin xác nhận lại ai là người tố giác tôi điều nầy? Hai Cần hỏi.

Chỉ người Mỹ trắng, cảnh sát nói; ông nầy.

- Ông tin người nầy là người tốt. Hai Cần hỏi lại.

- Cảnh sát không trả lời Hai Cần mà bảo người của sở vệ sinh cạy nắp cống lên xem.

Mọi người trố mắt nhìn xuống. May cho Hai Cần. Không có cỏ mới, chỉ có rác mục lâu ngày mà thôi. (Nếu có cỏ mới sẽ bị tội làm bít cống rãnh gây ngập lụt cho điạ phương.)

- Đây là lời tố cáo không đúng sự thật. Hai Cần nhìn mọi nguời và nói.

- Xin cảnh sát làm chứng cho tôi. Hai Cần bồi thêm.

- Còn bảo tôi thổi rác qua nhà của người nầy thì xin hãy nhìn:

- Hai Cần vốc một nắm rác từ nhà người Mỹ trắng đưa cho cảnh sát xem và bảo:

- Nhờ hai ông xem dùm, có cọng rác nào mang số nhà 9226 từ nhà nầy, bay qua nhà 9222 của ông đi tố giác tôi không. Hơn nữa, giữa đường trống, gió thổi 15 mp/h làm sao ngăn chận được mà bảo tôi thổi rác theo ý muốn qua nhà ông ta. Hai Cần phân trần.

Người cảnh sát nhìn nắm rác từ tay Hai Cần có vẻ suy nghĩ, rồi nhìn người Mỹ trắng để tỏ dấu không đồng tình với lời tố giác của ông ta, mà trước đây khi chưa cạy nắp cống lên, người cảnh sát vẻ mặt cũng hằm hằm vì yên chí Hai Cần sẽ làm điều sai trái đó, nhưng nay ông ta đổi thái độ, nheo mắt nhìn Hai Cần như đồng cảm trước sự việc không đúng và cách giải bày có lý của Hai Cần.

Luật pháp Mỹ cho phép mọi người được quyền thưa kiện. Nhưng phải có bằng chứng cụ thể kèm theo mới có sức thuyết phục buộc tội người khác. Đằng nầy, nắm rác trong tay Hai Cần không có số nhà để chứng minh là rác từ nhà 926 qua nhà 922 thì làm sao bảo rằng Hai Cần thổi từ bên A qua bên B là nhà của ông đi tố giác được. Họ đành im lặng chịu đuối lý.

Sau cùng Hai Cần xin người cảnh sát cho mình một biên bản về việc nầy để làm bằng chứng người tố giác mang tội vu khống, cản trở việc làm của người khác hầu kiện ông ta ra tòa.

Cảnh sát nói lại với người Mỹ trắng. Ông ta hiện rõ nét mặt bối rối sợ hãi vì nghe chuyện ra tòa.

- Thôi đừng làm lớn chuyện. Tôi có giải pháp nói ông ta xin lỗi vì sự đáng tiếc nầy. Người cảnh sát nói.

- Như cảnh sát đã thấy, người nầy cố tình hại người vô tội, tôi và thợ Mễ phải nghỉ việc, thiệt hại tài chánh cho tôi. Hai Cần nói.

Do sự sắp xếp, giải hoà của cảnh sát, cuối cùng người Mỹ trắng phải nhượng bộ xin lỗi.

Hai Cần tự biết nghề nghiệp của mình thường rong ruổi đó đây trong xã hội Mỹ, nên không muốn dẫn đến việc va chạm lớn với luật pháp, chấp nhận cho ông Mỹ xin lỗi và nói:

- Mong ông giữ lấy danh dự của mình. Ông được free. Hai Cần nói câu ngắn gọn như vậy.

Thế là vụ “tố giác”xem như qua cầu. Mọi người giải tán.

Không gian lại vang tiếng máy cắt cỏ của Hai Cần gầm rú mừng “chiến thắng” vì lời biện hộ theo phản xạ tự nhiên nhưng có “chất luật ranh mãnh” của mình. Là m sao cỏ mang số nhà được (mạnh dùng sức, yếu dùng thế) Nếu không làm vậy sẽ bị xử hiếp, vì là Mỹ với nhau ai bảo đảm họ công bằng.

Sau nầy Hai Cần được biết, sở dĩ người Mỹ trắng phải mượn tay cảnh sát để đuổi xéo Hai Cần đi khỏi vùng của ông ở, vì ông muốn dành việc nầy cho cơ sở từ thiện của ông thầu trọn. (làm từ thiện mà tâm chưa thiện cố tình hại người khác). Việc cảnh sát hỏi giấy tờ của Hai Cần quả là nguy hiểm, nếu Hai Cần là kẻ sống “chui”thì xem như bị bắt ngay. May thay Hai Cần là người hợp pháp nên người đi tố giác bi “hố to”.

Do ý tưởng lệch lạc không biết tự bao giờ, nên nghề cắt cỏ thường bị xếp vào thứ bậc thấp nhất trong xã hội Mỹ, bị người đời gọi với cái tên dè bỉu rẻ rúng: “Thằng Mễ cắt cỏ” hoặc “thằng Việt cắt cỏ”.

Mấy ai hiểu; khi người Việt mới hội nhập vào Mỹ năm 75, rất nhiều giới phải tạm thời bước qua nghề nầy để kiếm tiền xoay xỡ tức thời rồi từ đó; mắt trước mắt sau mới tìm đường ổn định lâu dài. (nay chỉ còn một nhà thơ lấy bút hiệu “thằng cắt cỏ” để đăng thơ của mình trên Đặc San Hội cố Đô Huế 06 /2015 Houston TX, với niềm tự hào ngày tháng đó của mình đã sống).

Phải nói rằng: muốn có được một thảm cỏ xanh, có được một bồn hoa xinh đẹp trước sân nhà, hoặc để cứu được một gia đình tránh bị khu phố (home assosiation) phạt nặng vì vườn tược bẩn thỉu không chăm sóc tốt. Lúc đó phải có bàn tay của những “thằng cắt cỏ” như Hai Cần làm gấp, gia chủ mới tránh được một giấy phạt gắn trước cửa. Vậy mà “thằng cắt cỏ” vẫn bị xem nhẹ trong xã hội Mỹ, mặc dù nghề cắt cỏ cũng có mặt trong số 32 ngàn ngành nghề khác nhau trong nước Mỹ.

Quả tình, khi bỏ nước ra đi, nghề cắt cỏ không có trong hành trang lên đường của Hai Cần. Nhưng vì qua Mỹ quá trể 1993, (trâu chậm uống nước đục), “gặp thời thế thế thời phải thế”, không còn sự lựa chọn nào hơn trước tương lai của con cái, nên đành sống vậy.

Người xấu chứ có nghề nào xấu đâu.

Mấy ai hiểu rằng: nghề cắt cỏ không gây căng thẳng (Stress) cho mình vì thương vụ, không lo nghĩ tiền thuê mặt bằng hằng tháng, không tốn tiền điện nước, không có ca hai, ca ba. Trời tối là gác máy ngủ khò. Không sợ ế khách, hàng bị thiu mốc hư hao xào đi nấu lại, không tốn tiền quảng cáo quanh năm, không lệ thuộc vào không gian hay thời gian, nếu gặp lúc đang làm mà trời mưa bất ngờ thì xem như tổ đãi, được nghỉ, thích thú tựa như thuở còn đi học mà thầy giáo bị bịnh, học trò được cho về, còn gì hạnh phúc bằng.

Việc làm, thì muốn làm hay nghỉ, muốn đi hay về tùy mình quyết định, không có chủ lớn (big boss), chủ nhỏ (supper visor) nào kèm thúc bên hông dòm ngó trợn mắt, trề môi, đe doạ cho nghỉ việc v.v....

Thú hơn nữa,”thằng cắt cỏ” còn được sống gần với thiên nhiên, nên những trưa hè, giờ cơm thường diển ra picnic dưới gốc cây xồi (oaks) râm bóng mát,được nghe tiếng chim hót líu lo trên cành, được thấy sóc vờn đuổi nhau ở một góc vườn rất ngoạn mục, tai còn được nghe tiếng ve sầu kêu nỉ non vang vọng một góc trời để thoảng chốc, đưa hồn mình sống dậy với thuở học trò tràn đầy mộng mơ của ngày tháng cũ. Thử hỏi, những ai sống “cao cấp” trong phòng lạnh mà có được những giây phút thư thái êm ã như “thằng cắt cỏ”Hai Cần?

Chưa hết, nhờ sống gần với thiên nhiên nên thể lực (sức khoẻ) của”thằng cắt cỏ” cũng vượt trội hơn, để xông pha vào cõi nắng cháy cuồng bạo của TX mà không hề hấn gì. Chưa có “thằng cắt cỏ”nào chết trong lúc đang“tại chức” như ông Steve Jobs tổng giám đốc (CEO) công ty điện thoại Ipaid và Iphone. Theo luật bù trừ, được điều nầy thì mất điều khác. Ông Steve Jobs có tiền bạc tỷ (ba bò, chín trâu-chuyện thằng Bờm) muốn đổi cái quạt mo của thằng Bờm- tức sức khoẻ của Hai Cần cũng không được, đành phải ra đi sớm. Trong khi “thằng cắt cỏ” nghèo như Hai Cần thì vẫn “khoẻ vì nước” như thường. Ông bà mình bảo; sức khoẻ là vàng thì “thằng cắt cỏ” mang vàng đi đó đây mà không sợ bị cướp, vì toàn thân hắn đều giát bằng vàng ròng 24 k,-tức là sức khoẻ.

Nhờ vậy, “thằng cắt cỏ” lăn lóc cùng khắp trong mọi địa bàn của Houston, rồi “lăn” sâu vào các khu dinh thự quyền qúy vùng “thượng uyển” Memorial Houston TX. Khu vực VIP lớn ở (vào đây làm phải thông qua điều chuẩn an ninh tốt mới được. Hai Cần nhờ có “mác”tù chính trị nên được pass dễ dàng).

Khu biệt thự nầy có đồi, có suối, nước chảy róc rách thơ mộng nên giá “mềm” cũng năm mười triệu đô một căn. Chính nơi đây Hai Cần có vinh hạnh được cắt cỏ cho biệt thự của Phi Hành Gia Appolo 11 Neil Armstrong, người từng bay lên không gian và đặt dấu chân đầu tiên lên mặt trăng ngày 20 tháng 7, 1969.

Gặp ông, những tưởng rằng ông sẽ kênh kiệu vì hào quang sáng chói của mình trong quá khư. Nhưng không, ông tỏ dấu hiền đức, chào hỏi lịch thiệp, có lần ông còn hỏi về đời sống người lao động và của gia đình Hai Cần nữa, dù ông biết Hai Cần chỉ là “thằng cắt cỏ” nhỏ nhoi trong xã hội, nhưng không vì thế mà ông có ý cách biệt xem thường. Tâm hồn ông rộng mở với mọi người. Ông là người duy nhất của hành tinh được bay lên, đáp xuống mặt trăng để chinh phục không gian từ đó đến nay chưa có ai thay thế.

Một lần khác, Hai Cần gặp ông trong tư thế của người trầm tư (tay cầm viết, tay cầm giấy-ông thường lang thang ở khu hồ bơi, vừa tắm nắng vừa hưởng làn hơi nước mát dịu từ hồ toả lên. Không muốn khuấy động sự yên tĩnh của ông, Hai Cần tắt máy thổi, lặng lẽ tránh ra xa, trả lại không gian im ắng cần thiết cho ông, thì bất ngờ được ông gọi lại và từ tay ông đưa cho Hai Cần cây viết và nói: “Give this to your boy” (Cái nầy cho thằng nhóc của anh)

Nhận một món quà ngoài sức tưởng tượng và cảm động trước nghĩa cử nhân ái cao cả đó, Hai Cần cúi đầu cảm tạ ông và ôm kỷ vật về nha “khoe” với vợ con và người thân. Chính nhờ cây viết khích lệ đó, như một động lực thúc đẩy thằng con Hai Cần thành đạt sau nầy.

Trong đời Hai Cần, không có món quà nào làm anh xúc đỗng bằng vinh dự nầy.

Phi Hành Gia Appolo 11 Neil Armstrong nay đã không còn nữa, ông mất ngày 25/8/2012 ở độ tuổi 82. Xin tỏ lòng thương kính ông nơi đây của một “thằng cắt cỏ” thường viếng và làm đẹp khu vườn nhà ông hàng tuần năm nào.

Do nghề nghiệp đưa đẩy “Hai Cần Cắt Cỏ” được vinh dự gặp Phi Hành Gia Neil Armstrong trong khu “Thượng Uyển” đó. Cũng chính nơi nầy, một người bạn của Hai Cần còn có lần được “triệu vời vào dinh” cựu Tông Tông để làm nghề “tẩm quất” cho “vua con G.W.B”. Chuyện này kể ra chắc cũng hấp dẫn, nhưng tiếc thay nó bị liệt kê vào loại “mật” không được phổ biến tổng quát (ABCDEF), sống để bụng, chết mang theo vì là chuyện húy kỵ của “vua”

Do đó mỗi lần gặp nhau, mầy chuyện nầy, tau chuyện kia, kể lại những kỷ niệm hiếm qúy một thời cho nhau nghe. Tiếng cười vang cả góc quán cà phê “Ngọ” (nơi bọn già hàng tuần, thứ bảy, chủ nhật, thường tụ tập hàn huyên chuyện trò) mà tưởng chừng hai mươi năm trước, khi mới qua Mỹ, không ngờ có được giây phút ấm lòng nầy. Âu đó cũng là những mẩu vui vui cuối đời của những mảnh hồn tị nạn vụn vỡ trên đất Mỹ.

Nay Hai Cần đã về chiều. Hai Cần muốn “buông xả” những hệ lụy sinh tử đã qua, để nghỉ ngơi và cũng từ đó muốn tìm lại mình, tìm lại tên gọi chính trực của mình là: Ngô Cần (tên mẹ cho đầu đời) chứ không phải Can Ngo rồi Caa n Ngo o (Cán Ngố) nghịch nhĩ lôi thôi, miền xa thật xa, nghe gọi thế chắc mẹ buồn !

Vì vậy, thay vì Hai Cần sang Job cỏ (kể cả khách hàng) của mình để thu về một số tiền đáng kể. Nhưng Hai Cần không làm vậy, mà gọi mấy thợ Mễ (hai trưởng toán) lại giao cho họ tiếp tục điều hành như khi còn Hai Cần trong cuộc. Họ thật sự xứng đáng được thọ hưởng quyền lợi nầy, vì nhờ có họ làm việc cật lực với Hai Cần trong quá khứ nên Hai Cần mới có cơ nghiệp, có cơm ăn áo mặc, có tiền lo cho con ăn học thành đạt như ngày nay. Trả ơn lại họ là trả ơn đời, là việc làm phải đạo. Cho họ một hạnh phúc, một “gia tài” mà tự dưng họ không ngờ có được trong đời quả là niềm sung sướng vô biên với họ.

Làm được diều nầy, Hai Cần thấy thanh thản lòng mình, và nghĩ tới công ơn thâm sâu của ông già người Thiểu số Kurt Dak đã cứu sống Hai Cần trên đường 7 chạy loạn năm xưa. Nếu không có ông ngày đó, đâu còn Hai Cần ngày nay.

Do đó, đã có lần Hai Cần về tìm lại ông nơi núi rừng năm xưa, nhưng tiếc thay, người thiểu số họ có đời sống du canh, du cư nên đã mấy chục năm qua mọi vật, núi đồi đã đổi thay, không thể nào tìm lại. Hai Cần đành ngậm ngùi nhớ ông qua thác đổ từ đỉnh núi cao Chu- Pleye để hình dung bóng ông trong đó. Chắc rằng ông sẽ về với tổ tiên của mình nơi thác ngàn réo gọi đời đời ở đó. Xin gởi lời thương tiếc ông theo núi rừng, nẽo về của ông.

Hai Cần đã thực sự buông xả để tìm đến Giảng đường nơi mà một vị “đại thí chủ” thiết lập nên ở đường E. Ave +Murphy để thí Pháp cho bá tánh tìm về an trú. Vị thí chủ đó thường cung thỉnh những vị cao tăng nổi tiếng khắp nơi về giảng Pháp và tu Thiền. Mọi chi phí đưa đón, ăn uống chung cho đại chúng cũng như thỉnh mời tăng đoàn đều được họ đài thọ. Không có sự đóng góp nào được yêu cầu, quả là việc làm cao cả hiếm thấy đáng trân trọng trên đất Mỹ. Phải chăng họ đã ngộ được hạnh “bố thí”của nhà Phật.

Cơ duyên đến, cửa Thiền đã rộng mở, hãy bước vào thọ hưởng công đức mà vị thí chủ đã dành cho mọi người có tâm cầu đạo. Ngẫm chuyện đời cũng lắm điều hạnh ngộ bất chợt. Hai Cần buông Job của mình cho ngưòi ơn vô điều kiện, thì ngược lại nhận được phước báu khác từ Giảng Đường để an phận mình, thanh thản tuổi già, không chút bận tâm suy nghĩ cơm áo sự sống hằng ngày nữa. Quả là vòng quay đền bù do nhân duyên đưa đẩy đến. (Theo triết lý: ”Nếu hai tay mình đều nắm chặt lại hết thì, không còn tay để nắm bắt điều khác”).

Hai Cần tâm niệm, cốt sống xứng đáng với châm ngôn: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Ước vọng từ đầu của ông bà tổ tiên, và sau cùng chỉ mong khi “lá lìa cành”, thân nằm xuống, không gây khổ lụy cho mình và cho gia đình, được “ra đi” nhẹ nhàng như câu thơ: “Ngoài thềm rơi chiếc lá đa. Tiếng rơi rất khẽ như là rơi nghiêng”(TĐK).

Ngô Văn Thu

Blog Archive