Showing posts with label Lê Xuân Mỹ. Show all posts
Showing posts with label Lê Xuân Mỹ. Show all posts

Wednesday, June 7, 2023

Giọt Lệ Biết Làm Sao Ngưng?

Tưởng nhớ hai bạn Phạm Phúc-Hạnh Nguyên

Phạm Phúc & Hạnh Nguyên. Ảnh tác giả gởi.

Đã hai ngày trôi qua, chúng tôi vẫn chưa hết bàng hoàng về cái chết thật thương tâm của hai người bạn thân thiết: Phạm Phúc và Hạnh Nguyên. Đã hai đêm thức trắng khi nhớ đến hình dáng thật hiền lành dễ thương của hai người. Cứ mãi thao thức khi nghĩ đến nỗi mong manh vô thường của kiếp người và sự ra đi vô cùng đột ngột, oan ức của hai người công dân rất bình thường, lương thiện tại một trong những thành phố luôn được xem là biểu tượng của ngành công nghệ cao cấp, giàu có và đáng sống của một nước Mỹ hùng mạnh. Một sự ra đi mà có lẽ chính hai bạn dù bây giờ đang cùng nắm tay nhau trên Thiên Đàng, cũng chưa bao giờ nghĩ đến và cũng sẽ không bao giờ biết được lý do.

Camera thu được hình ảnh của chiếc xe tải màu đen cho thấy tên sát nhân lái xe gây án một cách lạnh lùng, hung hãn. Một hành động của một kẻ cuồng điên, ngáo đá hay kỳ thị thì phải đợi sự điều tra của giới chức có thẩm quyền, nhưng rõ ràng cho đến khi lìa đời hai bạn đã không bao giờ biết được mặt mũi và động cơ của kẻ giết người. Thật đau xót khi hai bạn không phải là những nạn nhân duy nhất của ngày hôm đó.

Bắt đầu từ phía nam thành phố San Jose, nghi phạm đâm trọng thương hai công dân vô tội, cướp xe một người khác rồi bỏ chạy vào trung tâm thành phố, ẩn nấp trong bãi giữ xe của tiệm Walgreen nằm đối diện căn nhà của Phúc Nguyên.

Thảm kịch xảy ra khi thủ phạm lái xe rời nơi trú ẩn. Hắn nhìn thấy Phúc Nguyên đang đứng bên hông nhà. Kẻ cuồng điên lái xe leo qua lề đường tông thẳng vào hai vợ chồng. Vợ chết liền tại chỗ, chồng chết trên đường đi cấp cứu vì những vết thương quá nặng. Kẻ sát nhân sau đó tông một người nữa trên đường số Mười rồi đi về phía bắc, tiến vào thành phố Milpitas. Tại đây kẻ sát nhân giết chết thêm một người trước khi bị cảnh sát bắt giữ. Cuộc thảm sát kéo dài, như một cuốn phim quay chậm, suốt một giờ đồng hồ của một tên giết người tâm thần từng có tiền án hình sự. Hình như không có một cuộc truy đuổi nên kẻ sát nhân cứ thoải mái vừa chạy vừa gây án trong suốt một chặng đường dài từ phía nam lên phía bắc của thành phố San Jose. Giá như nhân viên công lực hành động kịp thời, truy đuổi gắt gao ngay từ đầu thì đã không có ba nạn nhân chết oan uổng như thế.

Đã qua cái tuổi bảy mươi “thất thập cổ lai hy”, chúng tôi đã chứng kiến nhiều cuộc chia ly, biết đến bao cảnh đời vô thường của một kiếp người. Già cả có, trẻ trung có. Vì tai nạn cũng có, vì bệnh tật cũng nhiều. Đã từng cảm nhận bao nỗi đau mất mát những người thân yêu, bạn bè. Nước mắt đã bao lần rơi xuống nhưng có lẽ chưa lần nào trái tim tôi tan nát như lần này. Sinh ly tử biệt vốn là chuyện thường tình của tạo hoá. Có sinh thì có tử. Có chào đời thì không sớm thì muộn cũng có lúc chia xa. Nhưng trước khi rời bỏ thế gian ít nhất ta cũng cần biết được lý do. Cũng ít nhất để lại cho bạn bè, người thân những bài học, những lời cảnh báo. Nhưng với hai bạn tôi thì không. Hai bạn vẫn còn ngơ ngác, vẫn còn bàng hoàng, vẫn còn không tin vào sự thật. Hai bạn vẫn chưa đành lòng ra đi vì còn biết bao nhiêu việc đang còn làm dang dở.

Phúc-Nguyên là một đôi uyên ương trời sinh một cặp. Yêu và một đời nguyện sống chết bên nhau, nhưng chắc chắn không bao giờ hai bạn muốn từ giã cõi đời một cách tức tưởi và vô lý như thế. Còn bao nhiêu điều hai bạn muốn cùng nhau thực hiện. Biết bao việc cần làm cho gia đình, cho bạn bè, cho cộng đồng. Hai vợ chồng vẫn còn muốn nhìn thấy đứa cháu nội duy nhất của mình tốt nghiệp đại học và yên bề gia thất. Còn muốn có những buổi sáng cùng bạn bè bên ly cafe sau vườn. Anh vẫn còn muốn cùng chị mỗi chiều đi bộ quanh xóm, vẫn muốn cùng nhau về thăm lại quê hương. Anh vẫn còn muốn tự tay sắp xếp những chiếc áo, tấm khăn cho chị mỗi khi cùng nhau đi chơi xa. Anh vẫn còn muốn cùng bạn bè tổ chức những đêm ca nhạc… 

Căn nhà nhỏ của hai vợ chồng vẫn còn đang sửa chữa ngổn ngang. Tháng bảy hẹn với bạn bè về nam Cali tham dự đại hội trường Phan Chu Trinh toàn thế giới. Họp mặt với bạn bè Vạn Hạnh cuối năm… Anh chị không học cùng trường với chúng tôi nhưng mọi sinh hoạt của niên khoá chúng tôi hay của trường chúng tôi anh chị đều tham dự. Các buổi sinh hoạt của các hội đoàn Quảng Nam-Đà Nẵng, anh chị chưa bao giờ vắng mặt. Lúc nào cũng vậy anh chị luôn bên nhau. Anh với giọng nói ngọt ngào, chị với khuôn mặt hiền lành. Anh không hát nhưng chị thích hát. Chị hát, anh ngồi chăm chú nghe. Và cứ thế như đôi chim ríu rít bên nhau không bao giờ rời xa trên năm mươi năm nay.

Học sinh trung học ở Đà Nẵng thời chúng tôi, không ai không biết đến cuộc tình của Phúc- Nguyên. Thành phố nhỏ xíu như lỗ mũi, các trường học nằm kế cận nhau, chuyện gì xảy ra hầu như ai cũng biết. Đã có biết bao cuộc tình của tuổi học trò mới lớn, nhưng có lẽ cuộc tình của Phúc Nguyên là được biết đến nhiều nhất vì sự bền bỉ thuỷ chung và những chông gai của thuở ban đầu. Anh chị gặp nhau và yêu nhau từ những năm học đệ tứ, đệ tam. Một mối tình thật đẹp, lãng mạn nhưng không kém phần mãnh liệt. Chúng tôi thường ví cuộc tình của hai bạn mình giống như hai nhân vật chính trong phim Romeo và Juliet vì sự giống nhau ở những bước đầu khó khăn và những trở ngại dường như khó thể vượt qua. Chị là con đầu của một gia đình nứt tiếng giàu có, anh thì đẹp trai hiền lành, đàng hoàng tử tế, nhưng gia đình không ngang tầng ngang lớp bằng gia đình chị.

Vào cái thời mà môn đăng hộ đối vẫn còn trong tâm tưởng của phần đông các gia đình Việt Nam, vào cái thời mà rể kỹ sư, bác sĩ luôn là niềm mong ước của các bậc làm cha làm mẹ, lại thêm hai người yêu nhau ở cái tuổi cơm còn chưa lo, mặc còn chưa tới thì chuyện cấm cản là điều đương nhiên từ cả hai phía. Hết khuyên răn đến la mắng, doạ nạt, gia đình dùng mọi cách chia cách cuộc tình. Nhưng càng cấm cản, càng trở ngại, hai bạn càng cương quyết đến gần nhau hơn. Có những lần chị bỏ nhà ra đi, bị tìm gặp đem về rồi lại ra đi. Cuối cùng, thương con gia đình đành chấp thuận cho hai bạn ở cùng nhau. Thế là khác với cái kết bi thảm trong phim, chuyện tình hai bạn tôi kết thúc có hậu, một “happy ending”. Và giống như lời chúc phúc của tất cả bạn bè chúng tôi, Phúc-Nguyên đã sống suốt một đời bên nhau thật êm ấm, hạnh phúc.

Một cuộc tình thật đẹp và bền bỉ nhất tôi từng gặp. Anh dịu dàng hiền lành chu đáo, chị một đời chỉ biết thuận theo ý chồng. Chưa bao giờ hai bạn gây gổ và to tiếng với nhau, và chưa bao giờ xa nhau ngoại trừ một thời gian sau ngày mất nuớc. Nguyên cùng con trai theo gia đình ba má qua Paris theo diện công dân Pháp, rồi vài năm sau đó Phúc mới qua đoàn tụ với vợ con. Ở Pháp hai bạn có nhà hàng, có cuộc sống ổn định nhưng sinh hoạt trầm lắng ít người Việt Nam. 

Thèm không khí quê nhà, nhớ bạn bè, năm 1996, Phúc-Nguyên cùng gia đình qua Mỹ định cư. Hai bạn về sinh sống tại San Jose, mở nhà hàng mang tên Quảng Đà ở trung tâm thành phố. Nhà hàng Quảng Đà nổi tiếng với món mì quảng và những món ăn hương vị miền Trung quê nhà và cũng là nơi gặp gỡ của các văn nghệ sĩ, báo chí. Anh không hát không đàn, nhưng cái tính mê văn nghệ nằm sâu trong máu. Anh quen biết và giao thiệp rộng rãi với giới làm văn nghệ báo chí. Các show văn nghệ tại San Jose đều được phổ biến và bán vé tại nhà hàng. Muốn biết hằng tuần đi xem ca nhạc ở đâu chỉ cần đến nhà hàng Quảng Đà. Các bích chương quảng cáo được dán kín đến nỗi nhiều khi có những tuần phải sắp hàng đợi đến khi có chỗ trống. Cùng với mẹ, chị phụ trách nấu nướng, anh quản lý, giao tiếp rồi trở thành bầu sô lúc nào không hay. Một bầu sô thật hiền lành, dịu dàng tình cảm, đàng hoàng và làm việc hết lòng nên rất được các ca nhạc sĩ yêu mến. Cùng với nhạc sĩ Lê Huy, ban nhạc Phượng Hoàng, anh đã tổ chức không biết bao nhiêu là chương trình văn nghê tại hai miền Nam, Bắc Cali và cả Việt Nam.

Nhà hàng Quảng Đà còn là nơi tổ chức các chương trình thính phòng bỏ túi. Nói đến các sinh hoạt văn nghệ tại Bắc Cali, không ai không biết đến Phúc Quảng Đà. Và nói đến Phúc-Nguyên, bạn bè thân thiết chúng tôi, không ai không biết đến căn nhà nhỏ nhưng ấm cúng trên đường số 16. Sau khi sang lại nhà hàng Quảng Đà, chúng tôi thường gặp nhau tại đó. Có lần tôi hỏi sao lại sang tiệm khi vẫn còn đang đắt khách, anh bảo: Mình và Nguyên cũng lớn tuổi rồi, tiền thì cũng ham lắm, nhưng thôi mình thấy đủ là đủ. Nếu cứ bám vào chuyện tiền bạc, nhà hàng thì biết bao giờ buông ra được. “Để Nguyên có thời gian cho bạn bè, cho gia đình”. Phúc là thế, làm chuyện gì cũng nhắc đến Nguyên. Và Nguyên cũng vậy mỗi lần nhắc đến chồng, nhờ chồng chuyện gì cũng Phúc. Phúc ơi… Không honey, hon niếc gì cả mà giọng nghe sao ngọt như mía lùi. Căn nhà nhỏ trở thành nơi họp mặt của bạn bè mỗi cuối tuần. Mỗi sáng anh cùng những người hàng xóm thân thiết ngồi uống cafe nói chuyện đời, chuyện văn nghệ và chuyện thời sự.

Từ khi nghỉ hưu hai bạn đã sống một cuộc đời an nhàn như thế. Không bon chen, không vội vã. Cuộc sống êm ả như bản tính vốn ngọt ngào và hiền lành của hai người. Tôi học cùng khoá với Phúc-Nguyên nhưng ở hai trường khác nhau. Hai bạn học Phan Thanh Giản, tôi học Phan Châu Trinh. Hai trường nằm kế cận nhau trên cùng một con đường. Chúng tôi biết nhau nhưng không thân, chỉ đến lúc qua San Jose, chúng tôi gặp lại và thân thiết hơn vì cùng một niềm đam mê ca hát. Có quá nhiều kỷ niệm cùng nhau. Không một lần họp mặt nào của nhóm chúng tôi lại thiếu vắng hai người. Hội ngộ trường lớp, hội đoàn, liên trường QNDN, Phúc-Nguyên luôn có mặt. Nhóm nhỏ hay lớn đều xuất hiện bên nhau như đôi chim. Mỗi lần gặp gỡ nhóm, anh với hai chai rượu đỏ, chị với khay hến xúc trộn bánh tráng đã trở nên quá quen thuộc với chúng tôi. Anh dịu dàng ân cần, quán xuyến hết mọi chuyện từ trong nhà ra ngõ, chị hiền lành ít nói chỉ biết làm theo anh. Nhiều khi chúng tôi hay nói lén với nhau, Phúc mà đi trước không biết Nguyên làm sao sống. Ngược lại Nguyên chết trước chắc Phúc cũng không sống nổi đâu.

Đâu có ai ngờ lời nói chơi trong bạn bè lại như một định mệnh quyện vào cuộc đời Phúc-Nguyên như thế. Hôm nghe tin hai bạn qua đời, dù rất bàng hoàng đau đớn, chúng tôi tự an ủi nhau là anh chị cuối cùng đã được sống và cùng chết như ý nguyện của mình. Sinh không cùng năm thì chết được cùng ngày cùng tháng, cũng là hạnh phúc. Nhưng dù nghĩ như thế, chúng tôi thật sự không thể đành lòng với một kết thúc bất ngờ, bi thảm và vô lý như thế của hai người bạn thân thiết của mình. Đã mấy đêm không ngủ được, ngồi một mình trong góc sân sau nhà vắng lặng tôi cứ suy nghĩ mãi về hai bạn mình. Những kỷ niệm cũ cứ lần lượt hiện về. Anh vẫn còn nợ tôi một đêm nhạc cuối năm, một chương trình ra mắt sách “Tôi, đứa con người tù cải tạo”... Còn nhiều, nhiều lắm. Vậy mà chỉ trong một khoảnh khắc, vì một thằng khùng thằng điên không quen không biết, mọi mộng ước đều vỡ tan.

Tôi cứ mãi băn khoăn: ai là người chịu trách nhiệm cho những cái chết của những người dân bình thường, lương thiện không một tấc sắt để tự vệ như hai người bạn Phúc-Nguyên của tôi. Cứ mãi suy nghĩ, và nếu như kẻ sát nhân điên cuồng vừa qua, thay vì dùng dao mà trang bị súng ống thì trong một giờ nghênh ngang gây án sẽ có bao nhiêu thương vong? Chắc chắn sẽ không dừng lại ở con số ba chết và ba trọng thương. Các vị dân cử có chương trình, hành động gì để ngăn chặn những tội ác tương tự xảy ra trong tương lai hay cũng chỉ là những lời nói suông “sorry and so sad” chia buồn vô nghĩa.

Chưa bao giờ tôi thấy một nước Mỹ, một Cali nhiều bất an như thế và cũng chưa bao giờ tôi cảm thấy sự mong manh, vô thường của cuộc đời đến gần với chúng tôi như thế.

– Lê Xuân Mỹ
(San Jose, tháng 6 năm 2023) 

Tuesday, September 1, 2020

Ngày Đầu Tiên Đi Học, Thời Covid

Lê Xuân Mỹ

***
Những ngày nghỉ hè cuối cùng rồi cũng qua. Chưa hết những ngày nắng nóng, mùa thu lá rụng vàng chưa đến, dù đang giữa mùa ôn dịch Covid, những đứa bé vẫn phải chuẩn bị để bắt đầu cho một niên học mới. Năm nay gia đình 11 người 4 thế hệ của chúng tôi chỉ có hai đứa cháu ngoại được cắp sách đến trường. Con lớn 9 tuổi lớp 4 và thằng nhóc 3 tuổi đi mầm non-preschool. 

Đứa lớn vô cùng náo nức trông chờ cái giây phút gặp lại bạn bè, thầy cô giáo. Chưa bao giờ những tháng hè lại trôi qua nhàm chán như thế. Nghỉ học nhưng không được đi đâu xa như mọi năm. Loay hoay mãi trong nhà. May có ba mẹ làm việc ở nhà cũng vui được đôi chút, nhưng làm sao bằng bạn bè cùng trang lứa vui đùa bên nhau. Mỗi ngày hết đi ra rồi lại đi vào, hết truyền hình rồi computer, chán thì thôi. 

Thằng nhỏ thì trái lại chuyện đi học không phấn khởi chút nào. Nghe nói được đi đến trường, dù chưa hình dung sẽ như thế nào nhưng cứ la bai bải. “ No, i don’t want to school, ngoại”. Cũng phải thôi. Suốt mấy tháng trời, kể từ khi lệnh cách ly giao tiếp xã hội được ban hành, cả cha lẫn mẹ là dân tech, đều ở nhà làm việc từ xa. Tưởng ở nhà làm việc dể dàng hơn nhưng rốt cuộc lại căng thẳng hơn, cực hơn vì suốt ngày ngồi trên máy tính, hết nói chuyện với sếp lại phải tư vấn khách hàng. Lúc trước thời gian ở tại chỗ làm, thời gian làm việc thường chỉ gói gọn trong 8 tiếng. Ra khỏi hãng là tắt phone, xong. Bây giờ thì on call. Sếp gọi bất cứ lúc nào. Khách hàng cũng vậy. Nhiều khi trái múi giờ, nhận điện thoại lúc nửa đêm là chuyện bình thường. Nhưng cũng tiện là có thời gian bên cạnh con suốt ngày dù đôi khi cha mẹ mỗi người một phòng trên lầu, hai đứa nhỏ chơi riêng phòng khách. Suốt 3 tháng trời, thằng bé quen với hơi ấm của cha, mẹ và của chị hai. Giờ nghĩ đến cái cảnh phải xa cha xa mẹ xa chị là thằng bé không ưa rồi. “No, no, mommy”.

Cái chuyện đi học của thằng cháu ngoại đích tôn cứ được đem ra bàn suốt cả tháng nay. Chuyện đến trường học hay không trong thời buổi dịch bện lan tràn là đề tài gây nhiều tranh cải của cha mẹ ông bà. Ông bà ngoại thì không muốn. Đi preschool là ngày trọng đại, là dịp để cháu bước vào đời, có bạn có bè. Nhưng trong cái thời ôn hoàng dịch lệ này, nguy hiểm quá. Con nít đi học mà mỗi đứa ngồi một góc phòng, không ra sân chơi vui đùa chạy nhảy thì có gì vui. Còn chán hơn ở nhà. Thằng bé chắc gì chịu ngồi im. Chưa kể còn nhỏ quá xa cha xa mẹ, tội nghiệp.” Không preschool thì sang năm lên thẳng mẫu giáo, có chết thằng tây nào”. Nhưng cha mẹ thì theo cung cách bên này, vẫn muốn cho thằng bé lần lược đi preschool rồi mẫu giáo như lệ thường. Để thằng bé có bạn có bè, tự lập cho quen. Cái tuổi hiếu động bắt nó ở nhà mãi cũng không tốt. Trường học cũng có nhiều biện pháp để không bị nhiễm virus đâu. Ừ thì quyền của ba mẹ nó, ông bà ngoại lo thì bàn vậy thôi chứ con nó, nó lo. 

Cha mẹ dụ thằng nhóc bẳng cách dẫn nó đi Target mua đủ đồ dùng. Team của nó là Paw Pastrol thế là cặp bút, áo quần… ngay cả mask che mặt cũng paw pastrol. Ông ngoại tuy vẫn còn giận thằng cha về chuyện đi học, nhưng cũng hứa sẽ cho thằng nhóc một chiếc xe truck paw pastrol thật to với đủ các nhân vật Chase, Marshall, Zuma, Skye, Rocky, Rubble.(tên của những nhân vật trong paw patrol toy). Cái gì chứ có Paw Patrol là thằng bé chịu lên. Cũng phải nói các nhà sản xuất đồ chơi có đủ mọi mánh lới để moi tiền cha mẹ của mấy nhóc tì. Mỗi độ tuổi mỗi loại đồ chơi khác nhau. Hết Mickey mouse, rồi Minnie mouse. Hết power ranger giờ đến paw patrol. Những nhân vật tưởng tượng từng ngày đi vào trí óc của bọn trẻ. Nhất là vào thời gian cách ly này, đồ chơi trở thành những người bạn không thể thiếu của chúng. Chiếm hết thì giờ của lũ trẻ và cạn hết hầu bao của ông bà. Cũng phải thôi, trái tim ông còn cho huống chi ba cái đồng lương hưu ít ỏi của ông hả cháu ngoại yêu quý nhất đời của ông.

Thế là từ “ i don’t want it” đã trở thành “yes, I want”. Thằng bé háo hức mong chờ cái ngày đầu tiên đi học vô cùng trọng đại đó. Cái khoảnh khắc mà tất cả chúng ta, dù giàu hay nghèo, sang hay hèn đêu đã từng trải qua. Có thể khác nhau khi người thì đến trường ở lớp mẫu giáo, cũng có người khởi đầu từ lớp một, nhưng chắc chắc đều có những cảm xúc ban đầu thật khó quên như nhau.

Đã qua rất lâu cái thuở ban đầu đó nhưng mỗi khi đến mùa tựu trường tôi cứ nhớ mãi bài văn của Thanh Tịnh:

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường’”

Và những câu thơ của Viễn Phương 

Ngày đầu tiên đi học 
Mẹ dắt tay đến trường 
Em vừa đi vừa khóc 
Mẹ dỗ dành bên em 
Ngày đầu tiên đi học 
Em mắt ướt nhạt nhoà 
Cô vỗ về an ủi 
Chao ôi! Sao thiết tha…”

Ai cũng có những xúc cảm một ngày đầu tiên tương tự như vậy trong cuộc đời của mình trừ… thẳng cháu ngoại của tôi. Bởi vì thằng nhóc đi học vào cái thời… ôn dịch Covid. Cũng có áo quần mới, giày mới, cặp mới … nhưng đặc biệt là thêm cái …mask che mặt mới toanh. Cái này đúng là thời của cha ông nó không có. Cái ngày đầu tiên của thằng bé không giống ai.

8 giờ sáng đi theo thằng bé tới trường có cha mẹ và chắc chắn không thể thiếu hai fan cuồng, ông bà ngoại. Mới vừa đến cổng trường đã thấy cái bảng màu xanh to tướng : “Please practice social distancing when entering the school. Stay 6 ft apart.” Đi tiếp thêm một đoạn, thêm môt tấm bảng.” Stop here. Wash your hand and wear mask please”. Đi học mà cứ như đi vào thăm dinh tổng thống. Bảng biểu dặn dò răng đe giăng tứ phía. Lại thêm bảng” Waiting for teacher” .Thằng cháu ngoại khóc thét lên khi cô gíao chờ sẳn dí cái máy đo nhiệt độ vào trán. Tội nghiệp thằng nhỏ vốn đang căng thẳng lo lắng, càng sợ thêm, ôm ghì chặc lấy mẹ. Sao giống như đi khám bác sĩ. Nó bắt đầu la toáng lên: “Mommy, i don’t want it. I don’t want to school”. Thiệt tình, ông ngoại cũng còn sợ chứ nói chi nó. Mẹ càng giỗ dành, thằng nhóc càng khóc to, ướt cả cái mask che miệng. Nhiệt độ OK. Cô giáo hỏi thêm mấy câu về Covid cho đúng thủ tục. “Cháu có ho không, cháu có đi đâu gặp ai bị nhiễm không…” Rồi bảo, ông bà cứ để cháu lại có thể về rồi 11:45 ghé đón. 

Đúng là preschool thời covid. Lớp học không giống ai. Bình thường đây là lớp đông học sinh nhất trường, phải từ 15-20 học sinh. Đồ chơi sách vở đầy sàn, đầy kệ. Bây giờ cái gì cũng khác. Lớp loe ngoe có 5 đứa. Căn phòng rộng chỉ có 5 cái bàn nhỏ. Mỗi bàn có vài cái lego, vài món đồ chơi, một vài cuốn tập, vài cây bút. Mỗi đứa ngồi một bàn riêng mỗi góc. Sợ lây bệnh, không được chơi chung đồ chơi. Lớp có hai cô giáo. Môt người phía trước, môt người cuối phòng. Học trò mang mask. Cô giáo cũng mang. Lớp học bắt đầu nhưng lặng lẽ thiếu vắng nụ cười. Mà có cười cũng không ai thấy. Lớp mầm non mà như phòng thi tốt nghiệp trung học. Cách xa nhau cả mấy mét. Vui chi nổi.

Thời dịch bệnh mọi thứ đều đổi thay. Làm việc thay đổi, đi học cũng thay đổi. Nhưng dù sao thằng bé còn được đi đến trường, con cháu ngoại lớn, lớp 4 cũng đi học nhưng mà học tại nhà, học từ xa. Cái khái niệm mà ông ngoại già sáu, bảy chục tuổi như tôi chưa bao giờ nghĩ đến.

Cha một phòng, mẹ một phòng, bé một phòng, một người một máy. Nhờ Covid đứa bé nào cũng giỏi sử dụng máy tính. Đúng 8 giờ ngày tựu trường, bàn tay thoăn thoắt, con bé mở ipad, click vào ứng dụng zoom, bên kia đường dây hình cô giáo hiện ra. Good morning. Cô bắt đầu giới thiệu những học sinh trong lớp. Từng khuôn mặt bạn bè hiện ra trên màn hình. Cô giới thiệu tên của mình và ngày đầu tiên của niên học mới bắt đầu như thế, đơn giản và high tech. Cô truyền đạt kiến thức qua màn hình. Những học sinh ngồi nghe chăm chú qua màn hình. Giờ nghỉ giữa các môn học, bạn bè nói chuyện với nhau cũng qua cái màn hình ipad nhỏ xíu. Nỗi vui mừng được gặp lại nhau sau ba tháng hè được thể hiện qua những câu hỏi, những lời chào, nhưng vẫn nghèn nghẹn trong lòng các bé một nỗi buồn. Không còn được gặp nhau trên sân trường, trong lớp học. Không có những giây phút chạy nhảy quanh sân. Không có những vòng tay ôm để “ see you tomorrow” sau mỗi lần tan học. Covid đã làm các cháu trưởng thành hơn, chững chạc hơn nhưng cũng làm ngắn lại cái tuổi thơ vô tư của chúng. Không biết đến khi nào mới trở lại như xưa.Vaccin vẫn là nỗi mong chờ, không những của những cha mẹ ông bà mà còn của những đứa bé như cháu ngoại tôi.

Dù mau hay lâu tôi tin ngày đó rồi cũng phải đến, nhưng cuộc sống chắc chắn không bao giờ trở lại như trước. Sẽ luôn còn đó những nỗi sợ hải, những nỗi ngại ngùng. Sẽ còn rất còn lâu mới có lại những vòng tay ôm từ giả, những cái bắt tay trùng phùng. Quá nhiều những nỗi sợ vô hình trong một thế giới đã không còn bình an sau thời ôn dịch. Thương quá những đứa bé, những học sinh trong thời ôn dịch. Thương quá những đứa cháu ngoại yêu quý của tôi.

Lê Xuân Mỹ
San Jose, 8/2020

Tuesday, November 26, 2019

Cám Ơn Nước Mỹ, Cám Ơn Cuộc Đời

Lê Xuân Mỹ

Như trong bài hát " Khóc một dòng sông" của nhạc sĩ Đức Huy, " Cũng may thời gian qua vun vút không như Sài Gòn", quay qua quay lại cũng đến ngày về hưu. Mới đó thấm thoát cũng đã trôi qua hơn 20 năm trên nước Mỹ này.

Gần 70 năm cuộc đời với bao nhiêu gập ghềnh sóng gió. 25 năm dưới chế độ Cộng Hoà, 23 năm với Cộng Sản và 21 năm trên một miền đất thật xa quê nhà. Những quảng đời với những xúc cảm thật khác nhau. Những ngày hạnh phúc thời Việt Nam Cộng Hoà, những năm tháng tủi nhục sau 1975 và thời gian an bình trên xứ người. Kỷ niệm nhiều không kể xiết. Có những giây phút rất muốn giữ lại trong trí nhớ nhưng cũng có những khoảnh khắc muốn quên nhưng không thể nào quên được.

Đã đi qua hết ¾ của cuộc đời. Đã đến lúc phải dừng lại những đam mê, những tham vọng, những toan tính. Thanksgiving là ngày tôi chọn để "gác kiếm, qui ẩn". Một ngày rất dễ nhớ cho một quyết định đặc biệt và quan trọng của đời người.

Vê hưu chính là lúc nhìn lại chặng đường đã qua để chuẩn bị một cuộc sống sắp tới. Nếu ví đời người như thời gian với 4 mùa, thì tôi đang bắt đầu những tháng ngày mùa đông. Nhìn lại không phải để hối tiếc mà để nói với đời một tiếng cám ơn, mặc dầu thế hệ chúng tôi thật sự không may mắn. Sinh ra trong những năm 1950-1951, cho đến ngày mất nước, thời gian thanh bình quá ngăn ngủi. Nhưng cũng trong nhờ vậy chúng tôi mới cảm nhận hết được nỗi bất hạnh của những ngày còn ở lại quê nhà, để tự mình chứng kiến, trải qua những đau khổ tột cùng và do đó mới thấy hết cái giá trị của sự tự do và hạnh phúc nơi quê nguời.

Ở xứ Mỹ này có rất nhiều ngày để nhớ: lễ mẹ , lễ cha, lễ độc lập, lễ tình nhân...Ngày lễ nào cũng có một ý nghĩa rất riêng, nhưng có lẽ Thanksgiving là một ngày ưa thích nhất của tôi. Bởi vì không có gì ý nghĩa hơn là lúc nhắc ta nhớ đến những ơn nặng nghĩa sâu. Nhớ để cám ơn đời, cám ơn người.

Trên tất cả xin được nói lời cám ơn nước Mỹ, cám ơn miền đất không phải nơi tôi sinh ra nhưng chắc chắn sẽ ôm ấp tôi những ngày còn lại. Cám ơn một đất nước có thể không phải là thiên đường nhưng chắc chắn không là địa ngục. 21 năm sống trên đất nước này, có nhiều điều rất thích nhưng cũng có những việc không bằng lòng. Vẫn còn đó những bất công, vẫn còn đó khoảng chênh lệch quá mức giữa giàu nghèo. Không chiến tranh nhưng vẫn có những bất an của súng đạn. An nhàn nhưng vẫn còn những nỗi lo của những ngày hưu trí. Những băn khoăn về bảo hiểm...Những điều không vừa lòng vẫn còn nhiều lắm, nhưng để ghét, để rời bỏ đất nước này như lần giã biệt quê nhà 21 năm về trước, chắc chắn sẽ không bao giờ vì với tôi, với gia đình tôi, nước Mỹ là ân nhân.

Và có lẽ chỉ những ai sống trong hoàn cảnh của gia đình tôi, những người con của một sĩ quan Cộng Hoà chết trong trại cải tạo, ở lại lây lất trong một thành phố đầy thù hận suốt mấy mươi năm mới hiểu hết được cái ý nghĩa của cảm kích, ý nghĩa của ân huệ, của tự do và tình người.

Những năm sau này, mặc dầu vẫn còn quá nhiều người nghèo khổ tại quê nhà, nhưng cũng có những người bằng những cách khác nhau trở nên giàu có. Đi ra nước ngoài để chơi, để định cư là một việc không quá khó khăn. Nhiều người thích đất nước này nhưng cũng có không ít xem miền đất này như một nơi tạm dừng chân. Có người bạn tôi tuyên bố: Việt Nam sướng hơn nhiều, tội gì định cư ở đây. Mỗi người có một hoàn cảnh, chỉ có điều khi tôi thắc mắc hỏi: "ông chê sao ông qua đây mua nhà, tốn tiền chạy chọt cho con cháu học rồi ở lại luôn". Hình như không có thằng bạn nào trả lời.

Tôi nhớ có lần thằng bạn thời trung học từ Úc qua thăm, đem cho tôi bảng danh sách những thành phố đáng sống nhất trên thế giới. Hắn nói Melbourne của Úc đứng nhất nhì gì đó, rồi đến Canada, Na Uy... và hình như không có thành phố nào của Mỹ trong 10 hạng đầu. Hắn nói y tế Mỹ không bằng Úc. Cuối cùng hắn phán một câu xanh rờn. Có dịp mày qua Úc chơi sẽ biết. Tôi thì chưa có dịp đi Úc chỉ biết, nó có 2 đứa con trai, cả hai đứa đều sang Mỹ học, tốt nghiệp ra làm việc và định cư luôn tại Cali.

Bạn tôi nhiều đứa sau này ở lại Việt Nam, làm ăn khấm khá, năm nào cũng qua Mỹ chơi.

Hắn nói ở Việt Nam sướng hơn, nhưng con cái thì toàn ở Mỹ. Nhiều người ở đây ba bốn mươi năm nói "nghỉ hưu về Việt Nam dưỡng già". Nói thì nói vậy chứ chuyển từ " dự định" đến "thực hiện" chắc đến hết đời người vẫn chưa xong.

Mà thôi nói cho vui, ai về thì về, chứ biểu tôi rời bỏ nước Mỹ, không bao giờ. Sẽ không bao giờ tôi rời bỏ đất nước này bởi vì quên làm sao được cái nghĩa tình của những ngày đầu khốn khó.

Nhớ lại những ngày đầu tiên chân ướt chân ráo đến Mỹ, tôi về sống tại Tulsa. Một thành phố nhỏ bé thật hiền hoà, tuy không có nhiều người Việt Nam như Cali nhưng tình cảm thật đậm đà. Luôn nhớ đến những chăm sóc thật thân tình của những người Việt và cả của những người bản xứ đối với một gia đình đang còn lạ lẫm trên thành phố này. Nhà thờ Việt Nam đem cho những thùng áo quần, nhà chùa đem cho những đồ dùng, nồi cơm điện, nhà thờ Tin Lành đem cho đồ chơi cho hai cháu nhỏ. Những người hàng xóm đem từng món ăn. Những ngày đầu chưa có xe ở tạm nhà em gái, có một mục sư cùng xóm mỗi ngày chở đi làm giấy tờ, đi xin trường cho các cháu, tìm việc làm cho hai vợ chồng.

Giáng sinh đoàn tụ đầu tiên của đại gia đình chúng tôi thật ấm áp mặc dầu bên ngoài trời mưa tuyết. Tôi cứ nhớ mãi cái hình ảnh của bà người Mỹ già nhà đối diện. Nửa đêm đội mưa gõ cửa nhà chúng tôi để chỉ đưa một dĩa bánh cookies nóng hổi kèm theo lời chúc "Merry Christmas and Happy New Year". Không bao giờ chúng tôi quên được tình cảm của những người láng giềng dành cho chúng tôi trong thời gian đầu định cư. Ngay cả khi về ở với mẹ tôi trong khu low income Meadow, thời gian đầu vợ chồng con cái ít khi ra khỏi nhà nhất là vào ban đêm. 

Cái khu toàn người nghèo, lợi tức thấp đủ mọi sắc dân. Một ít gia đình người châu Á còn toàn là người Mễ và Mỹ đen. Nhìn bộ dạng mấy ông bà to lớn, hay tụ tập thành từng nhóm quanh khu xóm, cười nói ồn ào, nên cũng hơi sợ. Nhưng ở lâu lại thấy mến cái hiền lành và tốt bụng. Có lần trên đường đi làm về, tôi bị trượt xe dạt vào lề vì đường đông đá sau mưa tuyết, phải nhờ ông Mỹ hàng xóm ra kéo xe về giùm. Ở một thời gian rồi cũng quen dần cái nhộn nhịp và ồn ào của xóm nghèo nhưng cũng rất nghĩa tình này. Có lần mưa đá làm lũng một lỗ thật lớn trên mái nhà phòng ngủ. Nước vào đầy nhà từ mái. Qua hàng xóm cầu cứu báo hại nửa đêm 2 tay Mỹ đen cởi trần trùng trục leo lên mái hì hà hì hục lấy tăng che tạm cho khỏi dột. Sau này dọn nhà đi chỗ khác nhưng cứ thấy nhớ cái khu Meadow, lâu lâu lại chạy về thăm lại mấy ông bà hàng xóm.

Sau này vì cuộc sống vì nỗi khao khát được làm việc trong một công ty kỹ thuật lớn, có công việc phù hợp tôi di chuyển qua San Jose. Mặc dầu chưa bao giờ hối tiếc về sự lựa chọn của mình sau gần 20 năm sống trên miền đất phía Bắc Cali này, nhưng tôi luôn nhớ về thành phố hiền hoà nhỏ bé đó. Tulsa như Huế quê ngoại của tôi, trầm lắng, dễ thương và nghĩa tình.

Không chỉ Tulsa, San jose cũng đối xử với tôi thật ấm áp. Người Việt Nam đông, bạn bè nhiều, khí hậu tuyệt vời, Silicon valley cũng giống như thành phố Sài Gòn nhộn nhịp của tôi những năm trước 1975. Nơi bắt đầu lại của tôi và cũng là nơi đã cứu sống mẹ tôi không biết bao nhiêu lần.

Về sống với gia đình tôi khi bệnh của mẹ trở nặng. Mẹ vừa bị alzheimer, vừa bị tiểu đường, vừa cao huyết áp, vừa cao mở. Nói chung ở cái tuổi 76 khi mẹ vê đây, mẹ có đủ thứ bệnh. Nhờ khí hậu ấm áp, bác sĩ Việt Nam nhiều, vấn đề theo dõi bệnh dể dàng, sức khoẻ mẹ cũng đở hơn. Nhưng ở cái tuổi già thì những rũi ro, biến chứng cũng càng nhiều. Mẹ ra vào nhà thương không biết bao nhiêu lần.

Có lần đang ngồi coi tivi, cảm thấy hơi mệt nằm xuống sofa, mặt mày tái mét. Đo đường xuống dưới 40. Chưa kịp cho ăn ngọt thì mắt dại ra, mẹ gần như coma. Gọi cấp cứu. May mà chỉ 5 phút xe emergency tới ngay trước cửa nếu không là đi luôn.

Có lần áp huyết tăng cao (chắc là nửa đêm mở tủ bếp ăn hết chén mắm khoái khẩu), lại xỉu. Lại 911 cấp cứu. May mà tại xứ này chứ ở Việt Nam như mẹ vợ tôi thì ra đi từ lâu. Nội cái đợi xe cấp cứu vô được cái xóm nhỏ, qua hai ba cái chợ chồm hổm đầu đường chắc là không kịp với cái ông thần chết đang đứng chờ chực cạnh giường.

Phải công nhận với những người ở cái class lưng chừng như tôi thì mới lo chứ với những người già không tài sản như mẹ tôi, nước Mỹ đúng là thiên đường. Hàng tháng có tiền già, vô bệnh viện, tiền thuốc men không tốn một xu. Mà thuốc đâu phải rẽ. 13 loại thuốc. Vừa uống vừa chích. Nhìn cái giá thuốc chính phủ phải trả thay cho bệnh nhân là đủ chóng mặt. Chưa kể khi vào bệnh viện, nhìn cái bill bảo hiểm trả cho bệnh viện là xỉu.

Nội cái chi phí chữa chạy cái chân gãy của mẹ chắc cũng mất toi số tiền dành dụm của tôi trong suốt 20 năm trên đất Mỹ. Cũng nhờ vậy dù nhớ nhớ quên quên mẹ vẫn còn sống với chúng tôi cho đến hôm nay.

Cám ơn đất nước này và cám ơn cuộc đời đã cho tôi sống những thời gian với đầy đủ cung bậc của cảm xúc. Những vô tư của tuổi nhỏ, những lãng mạn của một thời mới lớn, những hạnh phúc của tháng ngày đoàn tụ và tự do. Dù không mong muốn nhưng cũng phải cám ơn cuộc đời đã cho tôi nếm được nỗi đớn đau của những chia xa trong những tháng ngày đen tối. Nỗi cô đơn của những ngày lưu lạc xa quê. Để rồi là những hạnh phúc của những lần gặp lại mẹ, anh em và bạn bè .

Xin được cám ơn ba, người sĩ quan chế độ Cộng Hoà chết trong trại cải tạo. Không có ba, không có những hy sinh của cha ông, đồng đội, bạn bè, chúng con đã không có những tháng năm thanh bình. Và khi cuộc chiến kết thúc, ba vẫn kịp đánh đổi mạng sống cùng với những tháng ngày bi thảm trong trại cải tạo để cho mẹ và các con, các cháu của ba cơ hội qua miền đất tự do này. Bao nhiêu năm ba vẫn luôn theo dõi và phù hộ gia đình chúng tôi.

Cám ơn mẹ, người đàn bà vĩ đại đã dành hết tuổi thanh xuân và đời mình cho chồng cho con. Người đàn bà goá chồng ở tuổi 49, một mình với 9 đứa con còn nhỏ dại, lăn lóc để tồn tại qua những nhiểu nhương và hận thù. Người vợ của một sĩ quan thua trận, vượt qua từng ngày, trải qua từng bữa, cuối cùng cũng đem được toàn bộ gia đình đến bến bờ tự do.

Xin được cám ơn em, đã cùng tôi vượt qua bao gập ghềnh sóng gió. Em đã luôn cạnh tôi trong những giờ phút bi thảm cũng như những khoảnh khắc yêu thương. Mới đó mà chúng ta đã ở bên nhau trọn vẹn 43 năm. Bắt đầu bằng một đám cưới với chiếc nhẫn đính hôn 1 phân vàng và thiệp mừng đám cưới là tấm giấy "mời" đi kinh tế mới vào ngày hôm sau, em đã cùng tôi nếm đủ mùi vị của gian khổ, cay đắng và tủi nhục. Vẫn luôn nhớ mãi cái chặng đường đã qua đó. Cám ơn tình yêu của em.

Còn phải cám ơn nhiều nhiều nữa. Cám ơn tình nghĩa bạn bè. Cám ơn tấm lòng những đứa cháu. Cám ơn những đứa em. Cám ơn những đứa con lương thiện của tôi. Trong những ngày cuối thu của miền Thung Lũng Silicon, đứa con trai đầu của một người tù chết trong trại cải tạo năm nào đã không còn trẻ nửa. Đang bước vào tuổi" Thất thập cổ lai hy", rổi sẽ có ngày sẽ nhớ nhớ quên quên như mẹ. Nên trong cái ngày Thanksgiving này không thể nào không viết, không thể nào không nói những lời cảm ơn.

Sẽ chưa phải là lần cuối cùng, xin được nói tiếng cám ơn Việt Báo và Viết Về Nước Mỹ. Việt Báo đã làm một nhịp cầu cho chúng tôi được trải lòng qua những mẫu chuyện đời. Những câu chuyện thật đời thường nhưng nếu không được ghi, kể lại có lẽ rồi sẽ đi vào quên lãng. Có lẽ sẽ mất hút đâu đó trong cái trí nhớ đang già nua của tôi. Nhờ Việt Báo, qua những bài viết về cuộc đời, tôi đã tìm gặp lại những người bạn, những người thân đang lưu lạc khắp nơi. Như những mãnh vỡ của quê hương được góp nhặt để ghép lại thành một quê nhà thứ hai trên xứ người. Nhờ vậy chúng tôi sẽ không bao giờ mất đi quê hương Việt Nam yêu dấu.

Lê Xuân Mỹ
San Jose, Thanksgiving 2019.

Wednesday, November 6, 2019

San Jose, Làm Lại Từ Đầu Ơ Tuổi 50


Tháng 6 năm 2000, nhận việc làm tại Kla-Tencor, tôi một mình khăn gói về sống tại San Jose, California. Được mệnh danh là thung lũng điện tử, Silicon Valley là headquarters của rất nhiều công ty nỗi tiếng thế giới. Từ, IBM, Google, Apple, Cisco...đến những công ty, hảng xưởng nhỏ hơn. Phải nói là nhiều vô số. Công ăn việc làm nhiều, hot nhất là trong lãnh vực điện tử và máy tính. Lại thêm cái khí hậu ấm áp, người nhập cư nhiều nên giá nhà cao chóng mặt. Gía thuê nhà cũng lên cao ngất ngưởng. Tôi thuê một studio được xây thêm phía sau căn nhà của một người quen. Có cầu tiêu, bếp và lối đi riêng. 700 USD/tháng còn cao hơn giá thuê nguyên một căn nhà 3 phòng ngủ ở Tulsa. Dù sao cũng có chỗ ăn chỗ ở để bắt đầu một cuộc đời mới vào cái tuổi 50.

Không muốn bỏ phí thời gian, không có vợ con bên cạnh, tôi hối hả lao vào công việc. Lần đầu tiên được làm việc trong một công ty lớn tại Mỹ, kỹ thuật hiện đại và mới mẽ, mọi thứ với tôi như trở lại từ điểm khởi đầu. Ôn lại kiến thức đã học, nghiên cứu những bo mạch tân tiến, hoàn thiện vốn liếng tiếng anh...biết bao nhiêu chuyện cần phải làm. Nói là ngày làm việc 8 tiếng, nhưng hầu như ngày nào tôi cũng ở lại công ty đến khuya khi ca làm việc chiều vừa chấm dứt. Nhờ vậy tôi  làm quen rất nhanh với môi trường làm việc mới. Cái kiến thức từ những năm tháng đại học, cái thời gian lăn lóc sửa chửa hàng second hand điện tử, khoảng thời gian làm cho các công ty nước ngoài trước khi qua Mỹ đã giúp tôi hội nhập rất nhanh vào công việc. Thật ra công ty càng lớn thì công việc càng dể dàng vì các phần việc được chia nhỏ. Mỗi người chỉ cần thật giỏi trong lãnh vực của mình. Tôi phụ trách phần bo mạch điện tử. Đúng với chuyên môn của một kỹ sư điện tử.

Vào làm rồi mới thấy thằng bạn nói đúng. Xin được việc mới là vấn đề, chứ làm thì không quá khó. Chỉ cần chịu khó học hỏi và siêng năng. Gì chứ cái khoảng cần cù và khéo tay thì người Việt Nam mình là số một. Đã vậy chịu khó cày overtime nên mấy ông xếp rất khoái dân mit làm trong các dây chuyền kỹ thuật lắp ráp và sửa chửa

Hình như cha mẹ đặt tên tôi là Mỹ, nên mọi chuyện từ khi qua Mỹ đều tốt đẹp và may mắn. Tulsa cũng vậy mà San Jose cũng vậy. May mắn lớn nhất khi vào làm việc tại Kla-Tencor chính là được làm việc chung với những người bạn cùng lớp thời đại học. Phải nói là ơn trên đã phù hộ, là ba tôi luôn bênh cạnh đứa con trai đầu. Không thể có một tình cờ nào có thể tốt đẹp hơn khi mà trong bộ phận kỹ thuật của chúng tôi có đến 4 thằng bạn học cùng khoá. Bạn sẽ càng ngạc nhiên hơn khi biết khoá 2 điện tử chúng tôi ra trường 14 đứa, 5 đứa còn kẹt lại quê nhà, trong 9 đứa định cư quê người, hết 4 đứa làm việc cho Kla-Tencor. Đặc biệt hơn là cả 4 đứa cùng làm trong một bộ phận sản xuất. 1 đứa làm thiết kế, một đứa là trưởng dây chuyền sửa mạch, một đứa làm bên hệ thống. Tôi là đứa vào công ty sau cùng, phụ trách những vấn đề liên quan đến mạch điện tử.  Toàn phe ta.

Trong công ty tôi, cũng giống như đa số công ty điện tử khác ở Thung Lũng Điện Tử này, có một sự sắp xếp tương tự nhau về nhân sự.  Lãnh vực computer đa số toàn dân Ấn Độ, bộ phận thiết kế thường là từ Châu Âu, Trung Hoa, Liên Sô, quản lý thường là Mỹ, riêng ở bộ phận lắp ráp, sửa chửa, chạy máy hầu như toàn người Việt. Tụi tôi hay nói đùa với nhau, nhớ bảo vệ vương quốc của mình, đừng để kẽ địch xâm nhập. Có một Việt Nam nhỏ trong lòng một công ty lớn. Nhờ vậy đở nhớ nhà, đở nhớ quê hương.

Công ty có nhà hàng riêng nhưng nhóm dân tech Vietnam chúng tôi ít khi ăn trưa tại đó. Một phần vì giá mắc, phần vì không hợp khẩu vị. Healthy thì có healthy nhưng cái kiểu ăn gắp từng món như xà lách, thịt gà, bacon, trứng luộc... rồi bỏ vô hộp đem cân tính tiền là không hợp với dân mít tụi tôi rồi. Thế là không hẹn hầu như dân mít tập trung ăn trưa ngay tại phòng ăn của bộ phận sản xuất. Người mì gói, người cơm hộp, người bánh mì...Hâm nóng có microwave, lò nướng. Người hâm cá, kẽ nướng thịt người hâm cơm. Nói thiệt chứ tụi nhân viên nước ngoài ít khi đến phòng ăn của dân tech chúng tôi vào buổi trưa. Nội cái mùi cá kho, thịt kho, đôi khi hoà quyện thêm mùi mắm quê nhà là đủ cho các ông bạn tây mũi lõ chạy dài.

Buổi trưa trong công ty là thời gian vui nhất trong ngày. Như một nước Việt nam thu nhỏ. Đủ mọi thành phần: lắp ráp, kỹ thuật, kỹ sư, thiết kế.... Từ đủ mọi miền đất nước: Nam, Trung, Bắc. Thức ăn đủ mùi đủ vị. Vừa ăn vừa tha hồ bàn chuyện thời sự, chuyện gia đình, chuyện trên trời dưới đất. Ăn xong còn có cà phê, trà nóng. Đứa ra xe, bật máy lạnh ngã lưng, những tay còn ghiền "khói thuốc" rũ nhau ra mấy gốc cây, nhâm nhi vài điếu. Cuối tháng vào tuần lãnh lương, cùng nhau kéo ra nhà hàng tàu ăn trưa. Dĩ nhiên là chia nhau trả tiền theo lối Mỹ, sòng phẳng. Vậy mà vui.
Sau một thời gian làm quen với công việc, tôi quyết định chọn nơi này sẽ là nơi định cư lâu dài.

Thế là đầu hè năm 2001, vợ tôi nghĩ việc, thu xếp nhà cửa, cùng 3 con qua San Jose. Tạm thời, gia đình 5 người cùng ở chung trong căn studio xây thêm đó. Chật chội một tý nhưng xoay xở cũng tạm được. Vợ và con gái ngủ trong phòng riêng, ba cha con chia nhau phòng khách. Cũng phải cùng nhau chịu thương chịu khó, tiết kiệm được một ít tiền rồi mới tính chuyện mua nhà.

Đến đây vào cái thời chồng tách "technician" vợ ly "assembly", nên kiếm được một việc làm trong ngành kỹ thuật không phải quá khó khăn. Vợ tôi được tuyển vào làm cho hãng 3Com, cũng là một công ty về kỹ thuật lớn. Công việc không khó, biết xử dụng computer để vận hành máy test bo mạch điện tử là được, nhưng rắc rối là làm sao đi đến chỗ làm. Công ty ở xa, vợ tôi lại không dám lái freeway, đi đường trong dài hơn nhưng cũng còn loạng quạng vì không biết đường. Thế là thời gian đầu tôi kiêm nhiệm phần việc lái xe đi trước dẫn đường. Cứ như cho phái đoàn VIP, phải đi lane trong chầm chậm. Kẹt đèn đỏ bà tôi không theo kịp, lại phải tấp vô lề đợi. Phải mất cả tháng mới dám lái xe đi làm một mình.

Nhưng cũng đâu hết khổ, thời đó GPS chưa thịnh hành, mở yahoo in bản đồ chỉ đường đem theo cho khỏi quên. Đến đâu, qụeo trái, quẹo phải nhớ trước. Nhưng đâu có yên cho cái thân già tui, có lần con đường rẽ quen thuộc bị đóng để sửa chửa, thế là phải đi thẳng và...dừng lại vì đường lạ. Lại tạm ngừng công việc chạy ra dẫn đường.

Chuyện lái xe của vợ tôi ở cái thành phố San Jose này, nói hoài không hết. Có lần đang đi, bỗng dưng thấy cái đèn báo hết xăng đỏ lên, luýnh quýnh tắp xe vô lề gọi cầu cứu. Tôi bảo, nó báo nhưng em chạy thêm cả 20 miles nửa chưa hết xăng đâu. Vậy mà dứt khoát không dám đi. Có lần không biết đi cái kiểu gì, leo tuốt vào đường ra free way. Thấy xe cộ chạy ào ào, sợ quá tấp vào lề. Báo hại lần đó đang họp với xếp lớn, phải nhờ đến 2 thằng bạn ra đem xe về.

Trong khi việc làm, đi lại được được sắp xếp dần dần vào nề nếp thì chuyện ở lại trở thành một vấn đề lớn.

Mới tạm ổn định được vài tháng, chưa hết mùa hè, chủ nhà thông báo xin tăng tiền nhà. Lý do lúc đầu chỉ một, bây giờ cả gia đình 5 người, điện nước cái gì cũng nhiều hơn. Tôi đồng ý trả thêm nhưng 1200 thì nhiều quá, xin bớt nhưng chủ nhà không chịu. Nói nghe thấy ghét: nếu thấy cao quá thì thôi, cho người khác thuê. Tưởng người quen tình cảm, ai ngờ lại cái kiểu "đồng hương gặp đồng hương, đồng tiền là trên hết". Chán tình đời, tôi quyết định sẽ dọn đi kịp trước khi hết hè để còn xin trường cho hai cháu nhỏ. Thuê nhà cũng không phải dể. Tìm được căn vừa ý chưa kịp đặt cọc đã có người khác nhảy vô. Có cái như ý muốn thì giá thuê cao quá, có cái giá được được thì nhỏ qua. Có lần tìm được căn nhà 3 phòng vừa ý giá được thì nằm ngay trong khu Mễ, ông hàng xóm là thợ sửa xe, suốt ngày hết nẹt bô đến xã khói, chịu gì nỗi. Đi mòn chân, gần hết hè vẫn chưa tìm được nhà, sốt ruột.

Nhưng rồi trời vẫn còn thương, cuối cùng cũng tìm được một căn nhà gần trường trung học Independence. Nhà 4 phòng với giá 1800 một tháng. Với thời giá lúc bây giờ, ai cũng khen rẽ mặc dù tính đi tính lại mất toi gần ½ tháng lương của tôi. Cũng phải cắn răng bấm bụng ký hợp đồng thuê nhà nhưng lòng cứ ấm ức. Cái này ở Tulsa có ma mà thèm ở. 
Đúng thật cũng đúng như ông bà mình hay nói, như tiền nào của nấy. Của rẽ là của ôi. Căn nhà đầy gián và nhện, bếp núc củ kỷ. Ổ điện thì sập xệ. Tủ bếp xộc xệch. Căn nhà chuyên để cho thuê nên cửa ngỏ không có cái nào ra hồn. Mới mở miệng than phiền bị chủ nhà phán một câu xanh rờn. Thì nhà tôi như vậy nên mới cho thuê giá đó, ông bà không thuê, có khối người nhảy vào. Đúng là thời của mấy vị chủ nhà giàu. Vậy mà cứ tưởng gặp đồng hương tốt bụng. Lúc xem nhà, cái miệng ngọt như mía lùi: tại thấy ông bà mới qua lại quen với cháu nên lấy rẽ. Đúng là "miệng lưỡi không xương".  Qua sông phải luỵ đò. Không lý mất toi một tháng tiền cọc, thời gian lại cấp bách. Thế là vợ chồng con cái xắn tay, hì hà hì hục clean up, xịt gián diệt chuột. Ông anh tới giúp đóng lại mấy cái cửa tủ, sơn lại vách tường. Thằng bạn cho mượn xe truck, hai chuyến đi về thế là tạm xong việc chuyển nhà.

Trả 1800 cho tiền thuê nhà chưa kể điện nước, bao thứ linh tinh khác kể ra cũng quá căng thẳng, gia đình thu gọn lại ở trong hai phòng ngủ, cho 2 người làm chung công ty share 2 phòng còn lại. Mỗi tháng tiết kiệm cũng được thêm 800. Vậy là ổn. Làm cùng chung cơ quan, nên cũng tiện. Dĩ nhiên có người lạ ở chung cũng có nhiều bất tiện, nhưng để trụ được tại thành phố đắc đỏ này vẫn là ưu tiên số 1.

Những tháng ngày sau đó, mọi chuyện diễn suông sẻ. Chưa bao giờ làm trong lãnh vực kỹ thuật, nhưng vợ tôi cũng đã quen dần với cái cái dây chuyền gắn từng con chip, test từng bo mạch. Đồng lương hai vợ chồng cộng lại cũng chỉ vừa đủ trang trải mọi chi phí của gia đình. Hèn chi mấy thằng bạn nói, lớn thuyền lớn sóng, lương có gấp 3 lần chưa chắc đã có dư như hồi ở thành phố nhà nghèo Tulsa. Suy nghĩ vậy thôi chứ, không mang nợ là OK. Quan trọng là được làm công việc trong ngành nghề mình yêu thích. Bước khởi đầu trên thành phố mới như thế là quá tốt. Bây giờ có biểu về lại, cũng nói không.

Nhưng, lại cái chữ nhưng muôn đời. Mới ở nhà thuê 1 năm, hết hạn hợp đồng, nhà cửa càng ngày càng khan hiếm, chủ nhà đòi tăng tiền thuê. Từ 1800 lên một mạch đến 2400. Năn nĩ lên 2000 thôi, không được. Lại là câu nói của người có tiền. Không thích thì dọn đi cho người khác vào. Hồi đó mình mới qua cũng hiền, chỉ làm hợp đồng qua loa. Cứ nghĩ một cách tình cảm kiểu Việt Nam, đồng hương giúp đở đồng hương đâu có đọc kỹ giấy trắng mực đen ghi rõ chủ nhà có thể lấy lại nhà sau 1 năm.

Thế là lại chạy đôn chạy đáo đi tìm nhà khác. Tìm mãi không ra, định bấm bụng thuê thêm một năm rồi tính sau. Gặp chủ nhà mắc dịch đòi ký hợp đồng 3 năm mới chịu gia hạn. Mua nhà thì lúc đó quá mắc, bán nhà Tulsa đem qua không đủ down payment, đang bí, bỗng nhiên thằng em út cho ý kiến. Hay là mua mobile home. Trả tiền đất nhưng dù sao cũng là nhà của mình. Nó cũng đang ở mobile. Khu tốt, trường học tốt, trả hàng tháng 1000 cộng tiền đất 800. Tổng cộng cũng bằng tiền thuê nhà hiện nay, nhưng khỏi sợ chủ nhà làm khó làm dễ. Nghe cũng có lý, hơn nữa không còn cách nào khác, vậy là mua một căn mobile home củ vùng Sunnyvale giá chưa đến trăm ngàn. 

Lại dọn nhà lần thứ hai. Bây giờ mới thấm câu hai lần dọn nhà bằng một lần cháy nhà. Lần đầu chỉ một cái giường queen một sofa. Lần này 3 giường ngủ, sofa, love seat thêm bàn ăn, bàn làm việc, tủ sách... Không biết bao nhiêu là đồ đạc lĩnh ca lĩnh kỉnh. Chỉ mới một năm, đồ đạc không biết từ đâu ra, nhiều quá là nhiều. Cái này đúng là cái bịnh của người Việt mình. Thấy cái gì cũng rẽ cũng tha về. Mới có, củ có, đồ Macy  s, đồ sale, đồ garage sale. Mạnh ai nấy mua. Vợ mua, con mua, cha mua. Trên đầu tủ, dưới gầm giường. Bình thường nhét đâu đó không thấy, dọn nhà mới lòi ra. Hai chuyến xe Uhaul, thêm 3, 4 chuyến xe truck mượn của thằng em cũng chở chưa hết.

Dọn dẹp cho xong để trả nhà, đem về mobile home chất đại một đống. Mới hết cực nhà củ, qua nhà mới khổ tiếp. Mobile home nhỏ chỉ hai phòng lại không có garage. Chỗ nào chứa cho đủ. Ông anh sửa cái hành lang thành một phòng phía ngoài, dĩ nhiên không có sưởi và máy lạnh, ở tạm cũng được nhưng trước mắt để chứa đồ. May mà mobile home có cái basement, nơi có cái bánh xe để di chuyển đến để lắp ráp (bởi rứa mới gọi là mobile home), khá rộng. Thế là lại nhét, lại dồn đồ đạc (tiếc của giữ vậy lại vậy thôi chứ chắc là sẽ không bao giờ đem ra sử dụng). Thôi kệ cho yên với bà nhà. Cũng tội cái gì cũng tiếc. Mà không phải chỉ mình vợ tôi đâu nhé, hình như bà nào qua đây cũng y chang. Cả mấy bà Mỹ, bà Mễ cũng vậy. Garage không dùng để xe mà để chứa đồ. Chiếc xe mới cáu cạnh 20-30 ngàn đô để ngoài phơi nắng chơi, trong khi garage thì chứa toàn đồ tạp nham.

Trở lại chuyện nhà. Về ở căn mobile home nhỏ 2 phòng, thế là phải đành lưu luyến chia tay hai ông bạn share phòng. Cũng tiếc cái khoảng tiền 800 đô phụ thêm nhưng đành chịu, không lý cho share cái master bedroom, rồi hai vợ chồng ra hành lang ngủ.

Nhưng, lại chữ nhưng. Mình tuổi con mèo mà sao giống như số con ngựa. Cuộc đời cứ xoay qua xoay lại như chong chóng. Chưa tới hai năm lại thay đổi chổ ở. Vốn là khi mới về Kla-Tencor làm việc, gần công ty có một khu nhà đang xây dựng. Để giúp đở cho những người mới mua nhà lần đầu, builder có để dành bán một số căn townhouse với giá rẽ hơn thị trường để giúp cho người chưa có nhà. Ưu tiên cho những người đang làm việc tại Milpitas, và chỉ cần trả trước 5%. Nghe lời bạn bè tôi cũng nộp đơn nhưng không hy vọng lắm vì chỉ có 2 căn dành cho công ty tôi trong khi số người đủ điều kiện xin mua cả trăm.

Không ngờ tôi là một trong hai người được lá thăm may mắn. Căn nhà 3 phòng mới tinh. Không trả tiền đất nhưng phải trả tiền quản lý HOA, cộng lại vẫn rẽ hơn và tự do không gò bó như ở mobilehome.  Không tin cũng phải tin có sự sắp đặt của ơn trên và sự dỏi theo phù hộ của ba tôi.

Thế là năm 2003, một lần nửa tôi lại dọn nhà. Kỳ này rút kinh nghiệm của lần trước, chúng tôi chỉ đem theo những thứ cần dùng. Nhà mới rộng hơn nên cũng đủ chứa các đồ dùng từ nhà cũ. Các vật dụng dưới basement, đã lâu không dùng, đem bán garage sale cũng được cả ngàn bạc mà khỏi phải tốn tiền vận chuyển.

Vừa lo chuyển nhà vừa phải lo chuyển trường cho hai đứa nhỏ. Vất vả nhưng rồi cũng xong. Nhà mới gần công ty nên thuận tiện cho tôi. Đôi khi tôi đi bộ đi làm. Trưa thỉnh thoảng còn chạy về nhà ăn cơm. Căn nhà chưa thật sự là của mình, vẫn còn nợ ngân hàng nhưng dù sao đây vẫn là lần đầu tiên tôi thực hiện được giấc mơ "American dream" trên đất Cali. An cư để lập nghiệp.

Vậy đó rồi thời gian cũng qua mau. Thấm thoát cũng đã 20 năm trên cái thành phố thung lũng này.  Các con tôi đều đã tốt nghiệp đại học, có gia đình và có công ăn việc làm lương thiện. Nhà cửa ngày càng đắt đỏ, toàn bộ gia đình chúng tôi vẫn ở chung với nhau trong một căn nhà. Có thể một ngày nào đó sẽ có những đứa tách ra riêng, nhưng cho đến lúc này, 10 người thuộc 4 thế hệ vẫn sống cùng nhau hạnh phúc. Vẫn còn một mẹ già để lo lắng, những đứa cháu để yêu thương và những đứa con để chia sẻ vui buồn. Vẫn còn đó những lo toan của những tháng ngày về hưu, những gập ghềnh trong cuộc đời vẫn sẽ luôn mãi còn, nhưng tôi tin rồi chúng tôi cũng sẽ cùng nhau vượt qua như đã từng vượt qua trong quá khứ.

Khi viết về bài này, tôi muốn chia sẻ với những đứa con và những đứa cháu của tôi về những thăng trầm của cuộc đời tôi. Muốn các cháu hiểu rằng nếu đã trải qua những năm tháng đen tối tại quê nhà thì những khó khan, vất vả tại quê người chỉ là những hạt cát. Để sống lương thiện trong bất kỳ xã hội nào cũng luôn luôn không dễ dàng nhưng nếu để so sánh với cái thời của cha của ông thì con đường của các con, các cháu quá đổi bình yên.

Đã 20 năm trôi qua. Sẽ không ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra cho gia đình tôi nếu ngày đó tôi quyết định ở lại Tulsa. Hạnh phúc hay bất hạnh hơn, vui hay buồn hơn, không thể nào có một câu trả lời chính xác. Nhưng chắc chắn một điều nếu phải bắt đầu trở lại tôi cũng sẽ chọn Silicon Valley này làm nơi khởi nghiệp.

Lê Xuân Mỹ
San Jose tháng 10/2019

Friday, September 6, 2019

Những Tháng Ngày Đen Tối

Lê Xuân Mỹ

***
Những ngày cuối tháng Tư 1975, Sài Gòn đắm chìm trong cơn hỗn loạn. Tin tức về một cuộc chiến kết thúc bi thảm được truyền đi kéo theo một dòng người tìm mọi cách vượt thoát khỏi quê hương. Không nhận được tin người đến đưa toàn bộ gia đình ra đi như đã hứa, tôi cùng ba và gia đình người em gái đi thẳng từ Tổng Nha Cảnh Sát về bến Bạch Đằng nơi con tàu VNTT đang ngập tràn những dòng người từ khắp nơi đổ về. Hai vợ chồng em gái lên tàu trước. Tôi và ba chần chờ sửa soạn lên sau.

Trong cái dòng người hoảng loạn, trong cái âm thanh cuồng nộ những ngày cuối cùng của tháng Tư, hai cha con vẫn còn nhìn về hướng Lăng Ông Bà Chiểu, nơi nhà tôi ở đó. Vẫn còn hy vọng mẹ và các em đến kịp để cùng đi. Đợi mãi vẫn không thấy. Tàu sắp nhổ neo, mẹ và các em tôi vẫn biệt tăm. Ba bảo: thôi con lên trước đi, ba đợi thêm một tí nữa, mình gặp nhau trên tàu. Trong mắt ba vẫn còn ánh lên một tia hy vọng. Nhưng tôi biết là đã hết. Thời gian không còn kịp nữa. Ba hối thúc tôi lên tàu, riêng ba không đành bỏ vợ và những đứa con còn nhỏ dại, quyết định quay lại. Với tôi, ra đi hay ở phải là một quyết định trong chớp mắt. Nhưng sao đành bỏ lại ba một mình với khuôn mặt và cặp mắt thất thần như vậy. Tôi lắc đầu. Thế là tôi và ba đi ngược lại dòng người vẫn cuống cuồng chạy về phía bờ sông, dù con tàu đã từ từ rời bến. Cùng với hàng triệu người miền Nam Việt Nam, tôi và gia đình bắt đầu sống những tháng ngày đen tối nhất.

​Đêm khi nghe tin Đại Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh, ngoài đường những nhóm người đội mũ cối cầm súng đi qua đi lại, cả gia đình tôi chui dưới chân cầu thang, tắt đèn tối thui, ẩn trốn, và ba ôm mẹ khóc. Thế là chấm dứt một quảng đời, lịch sử đã sang trang và chúng tôi đã cảm thấy một tương lai mịt mù sắp tới.

Ngay ngày đầu tiên của tháng năm 1975, vừa mới sáng sớm một đoàn người thật đông đảo gồm cán bộ và công an ghé vào nhà, kêu ba tôi ra trình diện. Ba được lệnh trong thời gian này phải ở nhà, không được đi đâu cả cho đến khi có lệnh mới. Tên cán bộ dẫn đầu sau đó đi một vòng khắp nhà, ngang qua phòng khách, giật đứt chiếc điện thoại để bàn, xem giấy tờ từng người và trước khi ra về, lấy luôn chiếc đồng hồ đeo tay của ba trên đầu tủ thờ. Chiếc đồng hồ kỹ niệm của ông nội mà ba rất quý. Mẹ chắc lưỡi - thôi kệ, của đi thay người. Mạ nói vậy thôi chứ không muốn cũng không được. Những ngày sau đó, thời gian trôi qua thật dài. Dài trong âu lo, trong chờ đợi, thấp thỏm về một điều bất hạnh sẽ xảy ra.

​Trong những ngày sau đó, ba tôi sống trong hoang mang, lo sợ, không dám bước ra khỏi nhà. Mặt ba lúc nào cũng căng thẳng. Riêng tôi mỗi ngày vẫn lên trình diện cơ quan rồi về. Lên để biết thì ra có những bạn bè cùng sở làm ngày xưa, từng cùng vui chơi sinh hoạt với mình bây giờ đội mũ cối, cầm súng lầm lì đi ra đi vào. Có người còn chào hỏi tử tế nhưng có đứa mặt mày vênh váo, kênh kiệu. Những nhân viên còn ở lại, không phải dân cộng sản nằm vùng hay những kẻ ăn theo mà chúng tôi gọi là việt cộng 30 tháng tư, tụm lại một phòng trên lầu, co cụm đến tội nghiệp.

​Tôi biết ba vẫn còn một tia hy vọng người em út đi “tập kết” từ những năm 1954, đang làm lớn trong chính quyền cộng sản và hình như đang có mặt tại Sài Gòn. Nghe đâu là chính ủy một đơn vị không quân gì đó. Ba kể hồi nhỏ ba và chú rất thương yêu nhau, ngày chú đi vào rừng theo kháng chiến, ba là người cuối cùng gặp và đưa chú vào chiến khu. Ba vẫn nghĩ nếu có chú quay về chắc ba sẽ không sao.

​Ba như một người sắp sửa bị chìm tàu, cố bám víu một chút hy vọng nào đó để sống, dù rất mỏng manh. Với tôi, mọi chuyện không dễ dàng như thế. Tôi nghĩ ba quá ngây thơ, nhưng biết làm sao được, một người sĩ quan cảnh sát thất trận, một vợ và 8 đứa con nheo nhóc trong một thành phố không còn thuộc về mình, chung quanh đầy rẫy những hiểm nguy, bất trắc, vẫn đang cố bám víu một hy vọng dù rất mong manh. Có thể ba đang cố quên nhưng với tôi, ký ức về một Mậu Thân khủng khiếp ở Huế vẫn còn đó, không thể nào không nhớ. Những cuộc trả thù tàn khốc chắc chắn sẽ xảy ra. Không ảo tưởng như ba, tôi chờ đợi và biết rằng ngày đó sẽ đến, không xa.

​Một ngày đầu tháng Sáu, như ba đang mong đợi, chú tôi đi cùng một vài bộ đội cầm súng ghé nhà thăm gia đình chúng tôi. Một trung tá chính ủy thuộc đơn vị phòng không không quân cộng sản, ghé thăm cựu thiếu tá cảnh sát chế độ cũ. Hai anh em thuộc hai chiến tuyến gặp nhau tại Sài Gòn sau 20 năm xa cách. Hai người đi hai con đường khác nhau, cuối cùng hội tụ tại một nơi. Cũng chào hỏi, cũng mừng mừng tủi tủi, cũng nhắc lại chuyện xưa, nhưng tôi biết quan hệ đã không còn như trước nữa. Nói thật lòng, chú tôi nhìn bề ngoài gầy gò khắc khổ, ít nói và trông có vẻ hiền lành chứ không đến nỗi dữ dằn như trong tưởng tượng của tôi. Nhưng tôi vẫn không thể chuyện trò thân mật với chú được. Một bức tường vô hình đã chắn ngang trong quan hệ của chúng tôi.

​Cuối tháng sáu, cái ngày tôi biết chắc chắn phải đến, cuối cùng đã đến. Ba tôi nhận giấy đi “trình diện học tập cải tạo” dành cho đối tượng sĩ quan “Nguỵ quân, nguỵ quyển”. Địa điểm tập trung: trường Trung Học Chu Văn An. Trong giấy ghi rõ “đem theo dồ dùng cá nhân để sử dụng từ 10 đến 30 ngày”. Nhận được giấy báo, ba mừng như thoát được gánh nặng canh cánh bao lâu nay. Ba bảo:

​- Tôi nói có sai đâu bà, bây giờ hoà bình rồi họ không trả thù như hồi Mậu Thân đâu. Kỳ này tôi chỉ đi học tối đa một tháng mà thôi. Trình diện ngay tại Sài Gòn này thôi. Xong đợt học tập này rồi mình sẽ được đối xử như những người dân bình thường. Tôi tính gia đình mình sẽ về lại Đà Nẵng sinh sống. Có mắm ăn mắm có rau ăn rau.

​Mẹ tôi, với linh cảm và yếu đuối của đàn bà, lên tận sân bay Tân Sơn Nhất xin gặp chú nhờ giúp đỡ. Biết đâu nhờ quan hệ anh em, ba sẽ được miễn đi tập trung hoặc nếu không chắc cũng được cho về sớm. Liếc sơ qua giấy báo “trình diện học tập” chú nói:

​- Chị đừng lo, cách mạng khoan hồng lắm, anh cứ đi, học tập khoảng mươi ngày nửa tháng là xong thôi. Cứ học tập thật tốt, về sớm đúng ngày, không sao đâu.

​Mẹ tôi an lòng chuẩn bị mền, mùng, thức ăn khô cho ba. Riêng tôi, qua trực giác, qua sách báo đã đọc, và qua kinh nghiệm những ngày Huế bị tạm chiếm năm Mậu Thân, tôi nghi ngờ về chữ “học tập tốt” mà chú vẫn thường nhấn mạnh. Tôi biết là mọi chuyện chỉ mới bắt đầu. Để xóa đi ký ức của một sĩ quan cảnh sát 51 tuổi đời, 25 năm quân ngũ, và để đào tạo thành một người “công dân chế độ Xã hội Chủ nghĩa”, chắc chắn không thể là 10 ngày hay một tháng ngắn ngủi như thế. Tôi biết là chú đã không nói thật, và ba thì ảo tưởng hoặc có thể đã biết nhưng muốn che giấu mẹ con tôi, cố gượng vui chờ ngày lên đường. Có những đêm thức giấc giữa đêm khuya tôi thấy ba ngồi lặng lẽ hút thuốc liên tục ngoài hiên. Đôi vai như quằn xuống, tôi chua xót nhận ra chỉ trong một thời gian quá ngắn ba đã già đi rất nhiều. Trong cái bóng tối mênh mông, tôi cảm thấy mình quá nhỏ bé và vô dụng vô cùng.

​Một ngày trước khi đi, ba dặn riêng tôi không cho mẹ biết, hai cha con ra chợ Bến Thành. Ba nói ba còn để dành 2 lượng vàng, bán xong con nhớ đem về cất riêng, khi nào mẹ và các em cần tiền thì con đưa cho mẹ. Ba không biết khi nào về, con nhớ cùng mẹ lo cho các em. Thì ra ba không ngây thơ như tôi tưởng, tất cả nụ cười trên khuôn mặt ba thường ngày chỉ là giả tạo. Lúc này không có mẹ bên cạnh, ánh mắt ba bây giờ mới là thực. Nhìn khuôn mặt hoang mang đến tội nghiệp của ba, tôi thấy mắt mình cay cay. Thương ba vô cùng nhưng tôi không biết phải làm gì để an ủi, chỉ biết nắm chặt tay ba chia sẽ một nỗi đau.

​Cuộc mua bán 2 lượng vàng diễn ra nhanh chóng và lén lút. Tôi ngồi trên xe canh chừng công an, ba đưa vàng, người bán đếm tiền gói lại đưa cho ba, ba lại đưa tôi. Liếc ngang liếc dọc, bỏ vô túi xách, ôm kè kè bên mình, về nhà cất kỹ trong két khoá lại, phòng khi bất trắc.

​Sáng sớm hôm sau, một ngày đầu tháng 7 năm 1975, ba từ giã gia đình đi “trình diện học tập cải tạo”. Ba ôm mẹ, hôn các em. Mẹ, các em đều khóc. Bé út khóc to nhất. Tôi ráng cắn chặt răng, mắt cay cay, hối hả đạp xe chở ba đến trường Chu Văn An. Không ai nghĩ rằng, đó là lần cuối cùng mẹ và các em gặp ba, còn sống. Trước cổng trường, đông nghẹt những người đi trình diện và những thân nhân lóng ngóng bên ngoài. Tay xách ba lô, ba lủi thủi đi vào, trước khi bước qua cánh cửa sắt có mấy tên công an đứng gác, ba quay lại nhìn tôi như nhắc nhở con nhớ thay ba lo cho mẹ và các em. Khi bóng ba mờ khuất sau dãy lớp, nỗi đớn đau kềm hãm bấy lâu vỡ oà, tôi khóc ngon lành như một đứa trẻ. Tôi biết rằng ngày ba trở về còn xa lắc xa lơ.

​Từ khi ba đi, căn nhà trở nên vắng vẻ vô cùng. Mẹ phần lo chạy gạo hằng ngày, phần lo lắng nhớ ba, gầy đi trông thấy. Tuy nhiên mẹ vẫn hy vọng 1 tháng sẽ trôi qua nhanh chóng, ba trở về và mọi chuyện sẽ trở lại như xưa. 10 ngày, 30 ngày rồi 45 ngày trôi qua, chúng tôi bắt đầu sốt ruột, lo lắng. Mẹ cứ mỗi ngày hết đi ra lại đi vào, hết lên phường hỏi thăm tin tức rồi lại lên Tân Sơn Nhất tìm gặp chú. Vẫn là 1 câu trả lời:

​- Chắc sắp được về thôi. Anh học tập tốt thì cách mạng sẽ cho về, chị đừng lo.

​Câu chị đừng lo càng lúc càng trở thành vô dụng khi bao tháng ngày trôi qua, vẫn không một tin tức gì về ba. Mẹ già hẳn đi. Cuộc sống càng ngày càng khó khăn cho một gia đình 11 miệng ăn. Đồng lương ít ỏi của tôi không đủ nuôi sống cả gia đình, mẹ bắt đầu đem đồ đạc trong nhà ra chợ bán. Chú thì thỉnh thoảng vẫn ghé thăm nhưng thưa thớt hơn nhiều. Có lẽ vì bận rộn nhưng cũng có lẽ sợ không biết phải trả lời sao với mẹ. Không lẽ đợi anh “học tập tốt, cách mạng khoan hồng”, hay là chắc sắp về khi mà ngày mai của chú có thể là một ngày không bao giờ đến.

​Thấm thoát rồi cũng qua một năm. Mẹ vẫn mỏi mòn chờ đợi trong vô vọng, ba vẫn biền biệt phương nào. Không một tin tức, không một dấu vết, dù nhỏ nhoi. Có những đêm Hai mẹ con chỉ biết ôm nhau khóc. Nhớ ba , nhớ những ngày êm ấm cũ. Bỗng nhiên tôi chợt nhớ đến số tiền bán 2 cây vàng giấu trên gác. Một số tiền khá lớn thời bấy giờ. Ai ngờ khi mở gói tiền tôi sững sờ nhìn thấy nguyên bó tiền chỉ có hai tờ đầu là tiền thật, ở giữa toàn là giấy báo. Thì ra lợi dụng việc mua bán chui lén lút, vừa bán vừa canh chừng công an, khi đưa tiền, người bán đã tráo đổi gói tiền đang đếm bằng gói tiền gói sẵn. Cho đến khi chết chắc ba cũng không thể ngờ những đồng tiền cuối cùng ba để dành cho mẹ là con số không to tướng.

​Trong những tháng năm sau đó, cuộc sống càng ngày càng khó khăn. Mẹ mỗi ngày tiếp tục ra buôn bán đồ cũ chui trước chợ Tân Định. Sạp hàng là một tấm vải ni lông, cột dây bốn góc để dễ túm lại khi có công an đến. Thời đó buôn bán trên vĩa hè là phạm pháp. Vừa mua bán vừa láo liên canh chừng công an. Nếu công an tới thì túm tấm ni lông bỏ chạy vào nhà lồng chợ. Công an đi khỏi, đem hàng ra bày bán tiếp. Đồ bán khi thì một đôi giày, một chiếc áo cũ hay có khi chỉ là lớp vải lông thú tách ra từ những chiếc áo lính ngày xưa.

​Có gì bán nấy. Khởi đầu là đồ đạc trong nhà, sau đó là đồ mua lại từ những người có cùng hoàn cảnh đem bán. Cũng có khi là đồ chôm đồ chỉa, cũng lây lất qua ngày. Các em còn quá nhỏ, chỉ mình tôi với mẹ, sĩ diện, lòng tự trọng của một kỹ sư cũng đem chôn chặt trong lòng. Tôi mỗi ngày, sau giờ làm việc cũng ra chợ Tân Định, vừa canh chừng công an, vừa giúp mẹ khi cần ôm hang chạy trốn. Trong những ngày vô cùng khốn khó đó, thỉnh thoảng chợt nhớ về thời thơ ấu cũ lòng thật buồn. Những ngày tươi đẹp ấy đã quá xa. Những lo lắng về cuộc sống và một tương lai mù mịt, làm tôi trở nên lạnh lùng chai đá. Dù rằng cũng có đôi khi, tôi một mình khóc thầm trong đêm.

​Như một định mệnh, trong những ngày cùng cực khốn khó đó tôi gặp C. vợ tôi bây giờ. Người ta hay nói vợ chồng là duyên là nợ. Điều này rất đúng với chúng tôi. Trước 1975 tôi và C. cùng làm chung tại Trung Tâm Bưu Chính Viễn Thông thuộc Bưu Điện thành phố Sài Gòn. Gặp nhau thường xuyên nhưng ít khi nói chuyện.

​Nàng làm thư ký cho ông Desai, giám đốc chương trình đào tạo của Liên Hiệp Quốc, là một người đẹp, nhiều người theo đuổi.

​Tôi là kỹ sư mới ra trường. Tốt nghiệp Bách Khoa Phú Thọ, tôi chọn vào làm việc ở Trung Tâm Huấn Luyện Bưu Chính & Viễn Thông vì cái học bổng cao học về viễn thông tại Tân Tây Lan. Tôi ghét cái kênh kiệu và lạnh lùng của nàng. Nàng thì ghét cái giọng Huế nặng trịch của tôi. Tôi càng ghét nàng khi bài thi xếp hạng để đi du học của tôi bị cộng sai điểm. Tôi khiếu nại không được. Và vì vậy tôi bị sắp đi đợt 2 vào tháng 12 thay vì đợt đầu vào tháng giêng năm 1975.

​Chuyến đi du học tháng 12 bị bãi bỏ do biến cố 1975. Tự an ủi xem như chưa có số xuất ngoại dù trong lòng tôi buồn và tức. Nhưng có lẽ vì vậy nên sau này nàng đã phải ở bên cạnh tôi, trả nợ suốt đời. Cùng hoàn cảnh, cùng thuộc gia đình “ngụy quân ngụy quyền”, cùng ghét Việt Cộng như nhau, chúng tôi gặp nhau thường xuyên trong những lần bắt buộc đi nghe các buổi nói chuyện về chính trị, về “chủ nghĩa Max Lenin”. Chúng tôi hay chọn ngồi dưới hàng ghế cuối cùng. Để ngáp và để ngủ không bị để ý. Những hàng ghế cuối cùng trở thành nơi chúng tôi chia sẽ những đắng cay, những mất mát và những yêu thương. Cuối cùng chúng tôi quyết định nên vợ nên chồng. Thời đó, dám yêu đứa con cảnh sát chế độ cũ, tương lai mờ mờ mịt mịt, chắc chắn chỉ có thể là nàng đã quá yêu tôi.

​Đám cưới được tổ chức đơn giản. Không rễ phụ không dâu phụ, không rước dâu. Lạy cha mẹ, lạy bàn thờ gia tộc hai bên, đơn giản chỉ như vậy. Chỉ một số ít bạn bè thân thiết và bà con gần. Không có gì phải phô trương khi ba tôi vẫn mịt mù đâu đó trong “trại cải tạo”, không biết sống chết ra sao. Nàng yêu tôi và tôi cũng rất yêu nàng. Thế là đủ.

Một ngày trước đám cưới chúng tôi nhận được giấy báo từ phường, yêu cầu gia đình ra khỏi nhà trong vòng 48 giờ. Lý do gia đình thuộc diện 28 ác ôn, sĩ quan cảnh sát làm việc cho “chế độ Mỹ Ngụỵ”. Giấy báo còn cho biết phường sẳn sàng “giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để gia đình có thể lập nghiệp trên vùng kinh tế mới”.

Kết thúc vội vàng buổi tiệc mừng đám cưới, hai vợ chồng đạp xe lên sân bay Tân Sơn Nhất xin chú can thiệp giúp đỡ. Chú nói:

​- Theo chú thấy đi kinh tế mới dầu sao cũng tốt cho mẹ và các cháu. Cực khổ lúc ban đầu nhưng sau này sẽ khá hơn. Hồi chú ở ngoài Bắc cực khổ hơn gấp trăm lần, có sao đâu. Sau này ba con về còn có chỗ sinh sống.

​Có chú cũng như không, hai đứa chỉ biết nhìn nhau, thầm nghĩ với tình thế này chắc cũng phải lên đường đi lập nghiệp trên vùng đất mới mà thôi. Trong lúc cùng đường, vợ tôi chợt nhớ đến ông xếp cũ từ thời trước 1975, một kỹ sư tốt nghiệp từ Pháp, cựu Giám đốc Bưu điện nay là cán bộ cao cấp làm việc trong “Thành ủy”. Nghe trình bày hoàn cảnh, nghĩ đến mối giao tình thầy trò ngày xưa, ông nói để ông liên lạc phường xem thử. Không hiểu ông can thiệp như thế nào, hai ngày sau phường gửi giấy quyết định cho gia đình mẹ con chúng tôi tạm thời ở lại cho đến khi chồng đi “học tập cải tạo” trở về.

​Từ khi lập gia đình, tuy có thêm đồng lương của vợ tôi, nhưng vẫn không thể nào đủ cho một gia đình 11 miệng ăn. Bán chợ chạy của mẹ thì vất vả mà thu nhập quá kém cỏi. Hai đứa bắt đầu làm thêm đủ thứ ngành nghề.

​Khởi đầu là nuôi heo. Nhờ giấy giới thiệu của cơ quan, mỗi tháng vợ tôi được mua một cặp heo con với giá rẻ. Chiếc cầu tiêu duy nhất tuy nhỏ cũng được ngăn ra dành chỗ để nuôi 2 con heo mọi mới đẻ. Mỗi ngày đi tiêu đi tiểu trong tiếng kêu ủn ỉn của chúng, mới đầu rất khó chịu, nhưng rồi nghe riết cũng quen. Nuôi 1, 2 tháng, đem ra chợ bán. Lại lên trại mua 2 con khác nuôi tiếp.

​Chỉ nuôi heo không cũng chưa ăn thua. Bắt đầu nuôi thêm gà công nghiệp. Cũng xin giấy giới thiệu lên trại gà mua vài chục gà con, nuôi vài tháng hơi lớn lớn rồi đem bán. Được vài tháng suông sẻ, gặp mùa toi dịch, gà heo chết hàng loạt, cụt vốn, hai vợ chồng nhảy qua làm bánh đậu xanh. Mẹ ngâm, đãi đậu, tôi cắt giấy, vợ tôi gói. Mỗi chiều đi làm về, hai vợ chồng đèo nhau trên chiếc xe đạp cũ kỹ đi giao bánh cho mấy tiệm ăn quanh xóm. Không phải bán đứt, ký gửi thì đúng hơn. Giao bánh xong, vài ngày sau quay lại. Bán hết thì lấy tiền, đưa bánh mới. Gặp lúc bán không hết, bị mốc, đem về không biết làm gì cho hết, trộn vô cám cho heo gà ăn.

​Cứ vậy, những tháng ngày tiếp tục trôi. Vợ chồng ốm tong ốm teo như ma đói, nhưng cũng phải ráng chịu cực mong đợi ngày ba về. Phải có ba rồi mới tính được chuyện tương lai.

***
Một ngày đầu tháng 2 năm 1978, bỗng nhiên chúng tôi nhận được thư ba, lần đầu tiên. Góc thư tôi còn nhớ rõ địa chỉ Trại K2 Tân Lập, Vĩnh Phú. Trong thơ ba hỏi thăm mẹ và các em. Ba kể ba đang học tập cải tạo tốt. Thư ngắn chưa đầy một trang giấy. Ba nhắc tôi ráng chăm sóc mẹ và các em. Đợi ngày ba về. Miền bắc lúc đó đối với tôi vô cùng xa lạ. Nếu có biết cũng chỉ biết qua sách vở. Vĩnh Phú ở đâu, ra sao, xa xôi như thế nào, không quan trọng, ít nhất là ba vẫn còn sống.

​Thế là đủ. Quá mừng rỡ mẹ biểu tôi viết thư thăm ba và mỗi đứa em viết một câu cho ba. Mẹ nói tôi kể cho ba về cuộc sống ngoài này. Tôi ầm ừ cho qua chuyện, trong thư chỉ viết là nhớ ba, mong ba “học tập” tiến bộ để sớm về với gia đình. Tôi không kể về cuộc sống gia đình từ ngày ba đi. Không lẽ cho ba hay rằng căn nhà đã bị tịch thu, gia đình suýt nữa bị đi “kinh tế mới”, hay lại kể với ba rằng mẹ mỗi ngày đang bán từng chiếc áo cũ của ba ngoài lề đường. Hoặc kể cho ba chuyện 2 cây vàng. Thôi thì cứ để ba vui khi nghĩ rằng vợ và các con của ba dù là con của sĩ quan “chế độ Mỹ ngụỵ, vẫn được cách mạng đùm bọc thương yêu”. Thôi thì cứ như vậy cho ba yên lòng và ít nhất thư cũng đến được với ba. Kể từ hôm đó khoảng hơn mỗi tháng một lần gia đình tiếp tục nhận được thư ba. Mỗi lần chỉ hơn một trang giấy, nhưng cũng mang đến cho chúng tôi một niềm vui và hy vọng. Hy vọng sẽ có ngày ba trở về.

Nhưng rồi ba đã mãi mãi không trở về với mẹ con chúng tôi. Ngày 10 tháng 2 năm 1979, đúng lúc hai mẹ con đang ở phòng khách K2 trại cải tạo Tân Lập, ba đã tức tưởi ra đi không kịp nhìn mặt vợ con một lần cuối cùng, chấm dứt quảng thời gian hai năm 6 tháng tủi nhục và bi thảm.

Chưa đến 3 năm sau, thương mẹ suốt ngày than ngắn thở dài, xót xa cho ba nằm cô độc nơi đất khổ xa xôi, tôi đã cùng mẹ lén lút đào mộ đem ba về nằm chung với ông bà gia tộc trong vườn nhà dưới chân núi Ngự Bình, Huế

Tôi tin là có một thế giới, nơi ba đang sống, thật gần với chúng tôi, luôn theo dõi phù hộ chúng tôi. Khoảng 3 tháng sau ngày đem ba về Huế, gia đình tôi bỗng nhận được tin tức của đưá em gái kế. Người duy nhất trong các anh em tôi ra đi tại bến Bạch Đằng 6 năm về trước. Chúng tôi nhận được thư của em gái kèm tờ giấy bạc 50 dollars. Không thể nào kể hết được nỗi xúc động và sung sướng của gia đình chúng tôi lúc đó. Đã sáu năm trôi qua, không một manh mối của em, tưởng chừng như đã thất lạc em vĩnh viễn. Lần đầu tiên sau ngày ba mất mới thấy lại nụ cười của mẹ.

​Ngoài niềm vui tìm lại em gái, số tiền 50 dollars đối với gia đình tôi hồi đó là một tài sản đáng kể. Kể từ ngày liên lạc được với gia đình, thỉnh thoảng, em tôi gửi về lúc thì tiền lúc thì xà phòng, kẹo bánh, đồ dùng điện tử. Quà nhận được, hầu như tất cả đều được đem bán thành tiền để chi dùng trong gia đình. Họa hoằn lắm thì chúng tôi mới giữ lại một vài gói kẹo M&M. Chia cho các em thì mỗi đứa cũng được độ 5-10 viên nhỏ xíu. Hồi đó cái gì từ Mỹ cũng vô cùng qúy giá.

​Cuộc sống gia đình chúng tôi những ngày sau đó trở nên bớt cơ cực hơn. Vợ tôi nhờ được chỉ định dạy tiếng anh vỡ lòng cho các cán bộ trong trường, nên được ưu tiên trong vấn đề mua nhu yếu phẩm. Khi thì được mua thêm gạo, khi thì mua thêm thịt, các bữa ăn trong gia đình cũng được khá hơn lên.

​Các em, kể từ ngày ba “được trả quyền công dân”, sự phân biệt đối xử tuy vẫn còn nhưng không quá khắc nghiệt như những ngày đầu sau 1975. Mẹ tôi mở gánh bán bún bò tại nhà. Gia đình không dư giả giàu có gì nhưng cũng sống được qua ngày một cách lương thiện. Sau ngày ba mất, chú tôi thi thoảng có ghé thăm nhưng tôi vẫn cảm thấy một nỗi ngượng ngùng nào đó trong quan hệ của chú cháu chúng tôi.

Mỗi lần nhìn hình ba trên bàn thờ tôi lại nhớ đến khuôn mặt gầy gò, râu tóc bạc phơ ngày nào trong trại K2 Vĩnh phú. Đôi mắt trừng trừng tức tưởi của ba cứ ám ảnh trong tôi hằng đêm. Giá mà ngày đó chú thu xếp để mẹ tôi ra thăm ba sớm hơn thì có lẽ ba sẽ không ra đi sớm như thế. Nhưng cũng khó trách được chú, dù có thương ba bao nhiêu, chú cũng không thể làm gì khác được. Con đường của chú chọn ngay từ đầu đã quá khác nhau với con đường của ba.

​Trong những đứa em của tôi, đứa thứ ba là đứa ít nói nhưng căm thù chế độ Cộng Sản nhiều nhất. Thái độ bất mãn trong học hành và trong sinh hoạt hàng ngày nhất là với các “cán bộ” miền Bắc khiến tôi vô cùng lo lắng, bất an. Em thường có những lời nói và biểu hiện mà các “cán bộ” cho là phản động. Có khuyên mấy cũng không được. Lo sợ em gặp sự không may, tôi bàn với mẹ đưa em ra Đà Nẵng sống với gia đình người chị con bà dì ruột. Và từ Đà Nẵng em là người đầu tiên trong gia đình tôi vượt biên sang Mỹ sau 1975.

​Năm 1982, chúng tôi nhận giấy tờ bảo lãnh đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình ODP. Chúng tôi nộp đơn xin đi Mỹ và ngay năm đó cả hai vợ chồng cùng nhận giấy tờ cho thôi việc. Lý do: “anh chị đã nộp đơn đi nước ngoài, không còn đủ tư cách làm việc tại cơ quan Bưu Điện được nữa”. Đây là điều chúng tôi đã luờng trước nhưng không ngờ đến quá nhanh như vậy. Vào những năm 81-82, gia đình có thân nhân ở nước ngoài được xem là “phản quốc”. Nhất là với những người đã nộp đơn xin đi định cư ở nước ngoài như chúng tôi. Chấp nhận bị đuổi việc môt cách bình thản, vợ chồng chúng tôi một lần nửa lăn lóc vào đời với đủ thứ nghề để kiếm sống và tồn tại.

​Thời đó nhờ những lần đi chầu chực lãnh quà từ nước ngoài tại phi trường Tân Sơn Nhất rồi đem bán tại chợ đồ ngoại cuối đường Nguyễn Thông, tôi làm quen với nhiều bạn hàng và cả những người đi lãnh quà như tôi. Mới đầu bán đồ của mình, sau đó mua lại của những người khác, tôi bắt đầu gia nhập hàng ngũ những người mua đi bán lại. Có mặt từ sáng sớm tại phi trường, theo chân những người lãnh hàng về tận nhà, mua hàng hoá gửi về từ nước ngoài rồi đem ra chợ bán kiếm chênh lệch. Hàng hoá từ kẹo, bánh đến nước hoa, đồ điện tử. Thượng vàng hạ cám, bất kỳ thứ gì miễn là của Mỹ, từ Mỹ là mua, là bán. Làm cái công việc không dính dáng gì đến cái chuyên môn tốt nghiệp của mình. Một đôi khi rãnh rỗi ngồi một mình nhớ lại những ngày tháng trước ngày mất nước, thật buồn, thật xót xa. Thấy mình thay đổi nhiều quá. Cái hiền lành chơn chất thuở nào không còn nữa. Quá buồn và quá tiếc nuối.

​Cũng may, cùng với một người bạn làm chung trường chúng tôi mở thêm lớp dạy sửa chữa Radio TV tại nhà vào buổi tối. Lớp chỉ độ mươi học sinh. Thu nhập cũng không nhiều nhưng đó là thời khắc vui nhất trong ngày của tôi. Dạy học cho đỡ nhớ nghề và ít nhất là lúc đó tôi còn thấy mình còn có ích, còn giống đứa con của ba mẹ thuở nào.

​Trong những năm giữa thập niên 80, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện hàng điện tử second hand. Đây là những mặt hàng điện tử như truyền hình, tủ lạnh, radio cassette hư cũ đã qua xử dụng được các thủy thủ tàu viễn dương đem về bán lại. Các tàu chở hàng đậu ngoài cảng xa. Mỗi khi có hàng về, chúng tôi đi từng nhóm dùng thuyền nhỏ cặp ra tàu lớn mua mỗi lúc từ 10 đến 20 cái. Dĩ nhiên đây là buôn bán “trái pháp luật nhà nước”. Bị bắt thì hàng bị tịch thu, phạt tiền và ở tù. Nhưng nếu thoát được thì kiếm tiền nhiều. Đem về sửa lại rồi đem ra chợ bán.

Thời đó có ăn nhất là chuyển hệ từ NTSC sang PAL để xem hình có màu trên TV. Dĩ nhiên không đẹp và rõ như bây giờ nhưng thời đó truyền hình màu là cái mốt của các “cán bộ” miền Bắc có tiền có của. Chợ trời điện tử Huỳnh Thúc Kháng hình thành và lớn mạnh trong khoảng thời gian đó. Sau đó là một loạt các chợ trời Bảy Hiền, Lăng Cha Cả, Chợ Lớn được mở ra giúp những người có một chút tay nghề về điện tử như tôi sống sót và tồn tại.

​Nhưng cũng chỉ được một thời gian. Lúc đầu, buôn bán rất khá, lợi nhuận cao, sau đó càng ngày việc buôn bán càng khó khăn khi mà có nhiều tay trùm nhiều tiền nhảy vào. Họ không mua vài chục như chúng tôi mà họ mua cả vài tram có khi nguyên cả tàu khi vừa cập cảng. Những tay trùm cán bộ vừa có tiền vừa có thế lực. Họ có quan hệ và quyền lực mà những người bình thường như chúng tôi không cạnh tranh nổi. Phải là con ông cháu cha. Thế là phải mua lại hàng hoá từ những trùm lớn hơn. Đôi khi phải qua trung gian 2, 3 cấp. “Chất lượng hàng cũng kém đi rất nhiều mà thu nhập càng ngày càng ít đi. Nhưng lỡ theo nghề, bỏ đi đâu dễ. Không buôn đường ngắn, chuyển sang đường dài. Tôi đem hàng điện tử đến bán các tỉnh xa như Qui Nhơn và Đà Nẵng. Có nhà bà chị con bà dì ruột ở Đà Nẳng nên cũng đỡ chi phí ăn ở và thời gian đầu cũng kiếm được nhiều tiền. Nhưng rồi cũng chỉ một thời gian, một ngày trong một chuyến đem hang về Đà Nẳng, ham rẻ mua nhằm một cặp loa Sansui là đồ ăn trộm bán tại chợ trời. Công an tới nhà giải đi. Một ngày ngồi bó gối trong trại giam suy ngẫm chuyện đời. May mà người chị quen công an, được bảo lãnh ra nhưng cặp loa đắt tiền bị tịch thu.

Ra khỏi trại giam, nghe lời khuyên của thằng bạn nối khố còn ở lại Đà Nẳng, bỏ nghề buôn đồ điện tử nhiều vốn ít lời, tôi nhảy qua nghề buôn trầm từ Đà Nẵng về Saigon và các tỉnh miền tây. Nói là buôn trầm cho oai chứ mình làm gì có tiền nhiều như thế. Trầm hoặc kỳ nam được đào lên ở các tỉnh miền trung và tiêu thụ nhiều ở các tỉnh phía nam. Nhận trầm từ Đà Nẵng, đem vào Sài Gòn giao cho mối, ăn tiền chênh lệch. Đi đuợc chục chuyến tiền công khá dù cũng rất vất vả và hiểm nguy. Lúc thì lăn lóc trên xe đò khi thì la lết trên các chuyến tàu chợ nam bắc. Hàng quốc cấm nên đâu phải đi như người bình thường. Phải chọn những chuyến xe, chuyến tàu chạy vào ban đêm, ít bị kiểm soát. Trầm được bó vào các tàu lá chuối xấy khô để bớt mùi thơm. Trả thêm tiền để lơ xe nhét vào gầm xe vào những nơi kín đáo trên toa tàu. Thoát được chuyến nào là mừng chuyến đó. Tôi càng ngày càng ốm nhom ốm nhách. Mặt mũi đen thui. Chỉ lạ một điều là thời đó dù đi nhiều, tôi lại rất ít gặp người quen, bạn bè. Nếu có gặp, bạn bè chắc cũng không nhận ra chàng kỹ sư hiền lành chơn chất trắng trẻo thư sinh thuở nào.

​Đi thoát được khoảng chục chuyến, đến lần thứ 11 thì tôi bị “quản lý thị trường” bắt. Trầm bị tịch thu, riêng tôi bị giam tại công an Quảng Ngãi. 2 ngày trong trại tạm giam tôi đã suy nghĩ thật nhiều về những ngày tháng đã qua trong cuộc đời. Nhớ vợ, nhớ con, nhớ mẹ và các em. Chợt nhận ra mình đã thay đổi quá nhiều. Đã không còn là tôi của năm xưa. Cái được thì quá ít, cái mất đi thì quá nhiều. Tôi cay đắng nhận ra rằng nếu tôi không dừng lại, tôi cũng sẽ mất tôi vĩnh viễn trong một thế giới đã từ lâu không thuộc về mình. Một thế giới bụi bặm, luờng gạt và xảo trá khác xa với thế giới ngày tôi được sinh ra, lớn lên. Tôi biết, ba ở một nơi nào đó chắc chắn đã rất buồn.

​Từ trại giam trở về, bỏ nghề buôn bán, bỏ qua ý tưởng kiếm tiền nhanh chóng, tôi quay lại nghề dạy điện tử của mình. Vẫn là nghề phù hợp vói mình nhất, dù sẽ không có nhiều tiền. Vẫn là vợ tôi bên cạnh trong những thời khắc khó khăn với những an ủi và chia sẻ. Nàng luôn ủng hộ tôi trong những quyết định quan trọng nhất và chúng tôi có đứa con thứ nhì. Con gái. Tôi thầm nghĩ, ba đã cầm tay, dẫn dắt tôi bắt đầu làm lại cuộc đời.

Thời gian này vợ tôi đang làm kế toán ở hợp tác xã dệt Thiện Chí tại ngã tư Bảy Hiền. Một khu phố có nhiều khung cưởi dệt nhỏ của người Quảng Nam. Lương của hai vợ chồng gộp không nhiều nhỏi gì, nhưng xoay sở cũng tạm đủ cho gia đình mười mấy miệng ăn.

​Đầu năm 1991, gia đình được gọi đi phỏng vấn ở Tòa lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài gòn. Cuộc phỏng vấn đang diễn ra một cách như bình thường đột nhiên bị dừng lại khi có phái đoàn người Mỹ cấp cao từ Thái Lan ghé thăm. Vị trưởng đoàn có vẻ ngạc nhiên khi đọc hồ sơ của gia đình, chuyện liên quan đến ba tôi, người Sĩ quan Cảnh sát chết trong trại cải tạo sau 2 năm 6 tháng học tập. Ông ta có vẻ ngạc nhiên về tờ “giấy trả quyền công dân của ba tôi”. Có lẽ là lần đầu tiên ông thấy được một loại giấy tờ như vậy. Giấy trả quyền công dân cho một người đã chết.

​Mẹ tôi vừa khóc vừa kể chuyện của ba. Câu chuyện về một chuyến đi thăm nuôi gian khổ của vợ con và cái chết tức tưởi của một sĩ quan tù cải tạo đã làm người lãnh đạo đoàn thanh tra cảm động. Ông nói vài câu an ủi mẹ. Trao đổi với người nhân viên phụ trách một lúc, sau đó cuộc phỏng vấn được kết thúc mau chóng. Chỉ một thời gian ngắn mẹ và các em tôi được giấy chấp thuận đi Mỹ theo diện HO thay vì theo diện đoàn tụ gia đình dù rằng ba tôi ở tù chưa đến 3 năm. Tôi biết có sự can thiệp đặc biệt của phái đoàn Mỹ từ Thailand và tôi thầm tin có sự phù hộ của ba, của ơn trên. Vì hồ sơ xuất cảnh được tách riêng nên vợ chồng tôi còn phải sống với chế độ Cộng Sản thêm 8 năm nửa.

​Năm 1991, sau 16 năm sống những tháng ngày đen tối, mẹ đã cùng 6 em tôi qua Mỹ định cư. Cùng với 2 em qua trước, mẹ và 8 em đoàn tụ cùng nhau tại đất nước Hoa Kỳ xa xôi nhưng tự do và ấm áp tình người.

Niềm vui vẫn chưa thật hoàn toàn vì đứa con trai đầu vẫn còn kẹt lại quê nhà, nhưng chắc chắn nơi thiên đường ba đã nở một nụ cười mãn nguyện, phải không ba?

Lê Xuân Mỹ

Blog Archive