Showing posts with label Phạm Hoàng Chương. Show all posts
Showing posts with label Phạm Hoàng Chương. Show all posts

Friday, March 27, 2020

KHÔNG RÚT ĐƯỢC TIỀN ĐÔ


Tác giả: Phạm Hoài Chương 

Tôi có anh bạn học cũ thời trung học, lớp đệ nhất C ở trường Võ tánh, Nha trang, tên Dũng, rất thân. Đậu tú tài 2 năm 1963, Dũng vào làm ngành cảnh sát, lên chức đại úy trưởng ty ở Nha trang mấy năm thì VC vào năm 75, phải đi tù cải tạo 10 năm. Tôi tuy cũng nhập ngũ nhưng gốc giáo chức, nên chỉ ở tù một năm , sau đó về nhà nai lưng làm đủ thứ nghề lao động tay chân sinh sống qua ngày.

Năm 1983 tôi dẫn con trai vượt biên may mắn lọt qua Hongkong, đuợc định cư Mỹ, chịu khó đi học college lại và trở thành giáo viên trường Mỹ ở Nam Cali năm 1990. Năm 1996, tôi đổi lên San Jose dạy thì nhận đuợc cú phone Dũng trên đó gọi, rất đỗi ngạc nhiên.

-Ủa, ông qua Mỹ hồi nào vậy? Vuợt biên hay đi diện H.O ?

Té ra Dũng ở tù ra thì về ngoại ô Nha trang an phận cuốc đất trồng rau sống với mẹ già, nhưng vợ ở Saigon áp lực bắt làm đơn đi H.O vì tương lai 2 con, nên đành nghe lời qua Mỹ ở San Jose với chị vợ năm 1994, rồi ra riêng đi hái dâu hay làm lao động bậy bạ qua ngày. Dũng muốn tôi ở chung condo mướn cho bớt tiền rent, nhưng tôi từ chối, sau đó thì hai vợ chồng cãi lộn, vợ dẫn con đi ở chỗ khác, 

Dũng bay qua Florida ở với bà dì ruột qua Mỹ từ 75. Bà dì cho Dũng giúp việc trong office bảo lãnh đoàn tụ tư của bà một thời gian rồi giao miếng vườn lớn ở Orlando cho Dũng trông coi, trả lương, nhưng tánh hoang đàng từ nhỏ nên Dũng bỏ vườn đi phiêu lưu lên nhiều tiểu bang Đông bắc chơi, rồi làm công cho một hãng ở Vỉrginia. Từ dó tôi bặt không nghe tin Dũng nữa cho tới năm 2012 thình lình Dũng từ Việt nam gọi qua, cầu cứu mua vé máy bay cho Dũng bay qua Cali xin Sở An sinh xã hội cấp lại tiền hưu mấy tháng nay bị thằng em ruột ở Mỹ ăn cắp không gửi về Nha trang cho Dũng nữa, đói meo, phải đi vay nóng tụi công an sống qua ngày.

-Cái gì? Ông về hưu hồi nào? Mà sao về Viet nam ở? Có quốc tịch mà lại về đó ở?

-Tôi đang làm thì bị stroke năm 2008, bán thân bất toại, nên hãng cho nghỉ hưu non luôn, gửi vô nhà thương trị, sau đó 8 tháng bớt, nhà thương chuyển qua nursing home nằm nửa năm thì cho xuất viện, nhưng bắt thân nhân lãnh ra mới cho xuất viện, treo bằng lái, ăn tiền hưu có 600 mấy. 

Tôi về Vietnam ở với bà vợ ba, hồi xưa là y tá săn sóc má tôi, tính ở đó chờ chết luôn, ai dè đi tập therapy nó khỏe lại. Vì ở ngoài nước Mỹ nên không đuợc hưởng Medicaid, hay cho thêm vài trăm cho bằng tiền già. Tôi ủy quyền cho em trai tôi lãnh hàng tháng rồi gửi dịch vụ về Nha trang cho tôi. Mọi sự tốt đẹp cho tới một ngày nọ thằng em tôi nợ tiền cờ bạc hay hụt tiền gì đó, lấy tiền tôi xài, không gửi về Nha trang nữa. Tôi gọi qua, nó cúp phone không trả lời. Tôi phải đi vay công an trả lời tới 10 phân, đuợc hai tháng thì tôi nhớ tới ông đang ở Cali, có thể giúp tôi, bèn vô Phan rang tới nhà má ông xin sô phone gọi qua.

-Trời đất… Vậy chớ hiện giờ ông ở với ai bên đó?

-Tôi ở với bà Lành, y tá ngày xưa nuôi bệnh má tôi khi tôi ở tù về. Tuy có vợ hai ở Saigon với 2 con, tôi muốn ở gần má tôi, nên về ngoai ô Nha trang ở chung với bà này, lần lần nảy sinh tình cảm với bã. Bà hai ở Saigon biết, giận lắm, nhưng vì đang nhờ cậy tôi làm hồ sơ cả gia đình đi H.O nên ráng nhịn, không nói gì. 

Nhưng khi tụi tôi qua Mỹ rồi thì nhờ có cô em vợ ( qua Mỹ từ 75 ) có nhà ở, nhà cho thuê, giàu có, giúp đỡ cho chị ở nhà không lấy tiền, bã bắt đầu hắt hủi, khinh rẻ tôi. Hai đứa con trai cũng vậy, đi làm đi học, không them ngó tới tôi. Tôi buồn tình bay về Florida ở với bà dì. Từ đó là vợ con không thèm liên lạc nữa, hiện giờ tôi cũng chả biết họ ở đâu. 

Nhà này tôi rút 15 ngàn đô tiền 401k chỗ hãng tôi làm ở Mỹ, lúc chưa bị đột quỵ, gửi về cho bà Lành “y tá” xây cái nhà ngói 4 phòng ở Diên khánh cho má tôi có chỗ ở đàng hoàng, đứng tên bã. Xây trên đất của cha mẹ bã để lại, nên nhà đứng tên bã. Tôi gửi má tôi cho bã săn sóc, tháng tháng gửi tiền về cho bã chăm chút nuôi má tôi. Nay má tôi chết rồi, thì bã quay qua săn sóc tôi, cũng nuôi gà nuôi heo, trồng rau bán, phụ với sô tiền hưu ít ỏi em tôi gửi về hàng tháng cũng đắp đổi qua ngày.

- Số ông là số con rệp. Qua Mỹ bà dì cho miếng vườn ở sinh lợi, không chịu khó lo làm để dành, lại đi lang thang, ăn nhậu bia rượu, đến nỗi bị stroke, tan nát cuộc đời già. Vậy chứ mấy đứa em khác của ông ở MỸ đâu, không thấy ai giúp ông?

-Ôi, bầy em bảy đứa của tôi, nhờ bà dì làm cho USAID năm 76 mang qua Mỹ bằng máy bay nhân đạo theo diện con mồ côi, phân phát cho Mỹ đen, Mỹ trắng nuôi, tan tác khắp nuớc Mỹ, giờ đây không nhờ đuợc đứa nào. Tụi nó cũng nhớ tôi là anh Hai, nhớ bà già, nhưng tình cảm sau 20 năm lưu lạc giang hồ, lạt lẽo hết rồi. Hồi bà già chết, có mỗi một mình tôi là anh cả, về chịu tang, lo chôn cất bã, mấy đứa nó chỉ gửi phụ chút tiền bạc, chả đứa nào về. Nói tới gia đình tôi, buồn lắm… ông à.

-OK, vậy thì tôi sẽ mua vé cho ông qua, ở nhà tôi, tôi đưa lên An sinh xã hội giúp cho ông.

Dũng mừng rỡ, cám ơn rối rít. Tánh tôi thấy ai khổ, áy náy không chịu được, nhất lại là Dũng, bạn học hai năm đệ nhị, đệ nhất rất thân ngày xưa ở trung học Vó tánh, Nha trang. Hình như Dũng và tôi có nhân duyên, ơn nghĩa nợ nần gì với nhau ở kiếp trước, cứ lâu lâu gặp lại, mà gặp là có chuyện phải giúp Dũng.. 

Năm 63, đậu tú tài ra, Dũng cũng đã có lần dẫn cô vợ đầu tới tận nhà tôi ở Phan rang, tay trắng cầu xin giúp đỡ. Ba má tôi đã từng giúp cho Dũng. Ba cho Dũng dạy Việt văn trường trung học bán công mà ông đang làm hiệu trưởng, má tôi cho hai người ở nhờ căn phố bán tap hóa đường Thống nhất, rồi nói cô tôi đang mở tiệm thuốc tây cho vợ Dũng job phụ bán thuốc tây, trước khi tôi ra Huế học Đại học sư phạm. 

Một năm sau, hai vợ chồng thuê đuợc căn nhà ngoại ô, sống vững vàng thì ba tôi mất, bà ngoại tôi cũng mất sau đó 3 tuần, Phan rang đập Đa nhim vỡ, nước lụt 4 thước ngập thành phố, Dũng phụ má tôi đầu chít khăn tang trắng, dẫn một bầy con bỏ nhà lội nước qua nhà bà cô tôi bán thuốc có lầu cao trú ngụ. Dũng sau dó buồn, cảm thấy lẻ loi, vì không còn ba tôi hậu thuẫn, đưa vợ về Nha trang ở với cha mẹ, rồi thi vào Ty cảnh sát làm việc.

Hồi đó chúng tôi mới tuổi 20, 22. Khi tôi kéo Dũng qua Mỹ ở nhà tôi đi An sinh xã hội điều chỉnh tiền hưu năm 2012 thì Dũng đã 70, còn tôi ngoài 65, về hưu mới mấy năm. Họ gạt tên thằng em ăn quỵt tiền hưu của Dũng ra, thế tên tôi vào, khuyên tôi mở chuơng mục nhà bank, dành cho Dũng một account để họ rót tiền vô hàng tháng rồi bên Nha trang, Dũng dùng thẻ mà rút ra tiêu. Nếu có gì trục trặc, tôi sẽ ở Mỹ (đại diện cho Dũng bên VN) lên bank mà khiếu nại. 

Tôi bèn mở account với Citibank, vì họ có đại lý ở Saigon, nếu Dũng có gặp rắc rối thì vào Saigon mà khiếu nại. Mấy nhà bank lớn khác không có đại lý ở Vietnam.Dũng không chịu ở lai Cali xin housing sống, vì tiền hưu SSA 750$ chỉ suýt soát gần bằng tiền già SSI, sẽ thiếu hụt liên tục, sẽ không đuợc lái xe, nên sống như ở tù, trong khi ở Nha trang có sẵn nhà vợ y tá Lành để ở, có xe honda thồ chở đi, giá sinh hoạt ăn uống bên đó rẻ hơn, gần 15 triệu đồng VN một tháng, sống thoải mái hơn bên Mỹ nhiều. 

Tuy là công dân Hoa kỳ, nhưng không phải là thường trú nhân Cali (California permanent resident), Dũng không được Medi- Cal hay Medi-Medi, mà phải đóng medicare premium khoảng 100$ một tháng. Đóng 100$ mà khi bệnh đột ngột lại không thể bay kịp qua Mỹ mà nhập viện chữa trị free, chưa kể chắc gì đã có tiền mua vé máy bay qua Mỹ. Tánh Dũng xưa nay vốn xài hoang, không biết dè xẻn tiết kiệm nên lúc nào cũng thấy mượn tiền, xin tiền, lang thang như người bất đắc chí. Tôi trình bày cho Dũng tất cả lợi và hại của việc chọn ở VN, Dũng cứ nhất định khăng khăng đòi về Nha trang ở.

Thế là Dũng bay về ở Vietnam năm 2012, cứ 6 tháng phải lên đồn công an đóng tiền gia hạn cư trú tạm (renew temporary residency) tại VN, công an cho nhập hộ khẩu, tạo điều kiện dễ dàng, nên mỗi khi công an có đám tiệc hay đám cưới mời, Dũng phải “chơi đẹp” , mua vài két bia tới đãi để lấy cảm tình. Mỗi tháng phát cho vợ 200 đô lo cơm nước, còn dư 450$ tàn tàn sáng sáng đi uống cà phê, mua vé số mơ thành triệu phú, hay bị dân địa phương lợi dụng xin tiền vì biết mác Việt kiều dư giả, phè phỡn. 

Cô vợ y tá của Dũng có đứa con trai riêng ngoài 20, lúc còn độc thân say rượu gây lộn với Dũng mấy lần,”mày mày tao tao”, có lần bỏ lên Nha trang thuê phòng ở riêng vì cảnh xung khắc với cha ghẻ. Lúc nó cưới vợ, Dũng phải bỏ ra cả tháng lương để lo đám cưới, rước dâu. Khi có con, nó lại mang vợ con dọn về ở chung với mẹ và cha ghẻ, lục đục nhiều lần. Mỗi lần có chuyện, lại gọi qua tôi, nghẹn ngào kể lể. Mỗi lần than túng quẩn, lại năn nỉ tôi ra dịch vụ gửi về cho 100 đô. Đúng là cái nợ.

Năm 2016 tôi có về nước chơi, Dũng mời ra Diên khánh (ngoại ô Nha trang) thăm nhà cho biết. Thấy nhà cây cối xanh tươi bao bọc, phòng ốc rộng rãi, tôi cũng mừng, thấy vợ than túng tiền vì Dũng tiêu xài quá sức, lắc đầu, móc túi cho mỗi người một trăm. 

Năm 2018, má tôi bệnh nặng mất, tôi về chịu tang, Dũng cũng lò mò vô, thắp nhang lễ bái, ngủ lại một đêm. Bị nhiều thứ bệnh, áp huyết cao, tiểu đường, hai mắt mờ, chân đi run rẩy, hay đái són vì nhiếp hộ tuyến nở, tôi thấy Dũng đang sống những ngày cuối đời trong suy kiệt thể chất và tinh thần. Mỗi lần bệnh, vào nhà thương, Dũng phải móc túi trả tiền mặt mỗi ngày cả triệu đồng vì không mua bảo hiểm sức khỏe, nghe cô em dâu Dũng tên Hồng ở gần đó kể hãng bảo hiểm chê không bán vì sức khỏe quá bết bác. Hồng nói “vợ con ảnh lúc này hắt hủi ảnh, thấy ảnh lủi thủi đi ngoài đường hoài”.

Đầu năm 2019, tôi nghe Dũng gọi qua, than bệnh nặng nhập viện, không đủ tiền nộp phí nên trốn về nhà nằm.Tôi gửi cho 100$, gọi cô em dâu khác ở Nha trang ghé thăm, cô này cũng bỏ tiền ra lo tiền nhà thương tiền thuốc tươm tất. Hai cô em dâu này chồng đều đã chết, nên còn ở Nha trang, cũng là cái phước cho Dũng không đến nỗi cô đơn lẻ loi. 

Giữa năm 2019 lại nghe Dũng nghẹn ngào gọi qua nói bị vợ đuổi khỏi nhà, thằng con trai xúi mẹ nó lấy sổ đỏ cái nhà đem thế nhà bank mượn mấy tỷ bạc để làm ăn gì đó. Dũng đuợc một bà hàng xóm nọ thương tình đem về cho ở chung với ông anh ruột bà một phòng lớn,còn bà ở phòng nhỏ. Nhà này chỉ là túp nhà tranh ọp ẹp của con trai bà ở trước đây, nay lấy vợ dọn sang nhà mới nên giao cho bà ở. BÀ nấu cơm cho Dũng ăn luôn, tất nhiên Dũng phải đóng tiền ăn ở cho bà. Tôi cũng không biết nói sao. Lòng dạ con người thay đổi không biết đâu mà luờng. Dũng thì ngây thơ khờ khạo. Lấy vợ thì bà nào cũng có con riêng. Con ruột thì nghe lời mẹ, bỏ mặc cha, vì 10 năm tuổi thơ cha đi ở tù, chỉ ở với mẹ, nghe mẹ nói toàn thói hư tật xấu của cha, “ăn xài hoang phí, vô trách nhiệm với gia đình,” nên lớn lên qua Mỹ, bỏ đi mất, chả thèm đoái hoài tới cha.

Nhiều lúc tôi thật sự lo cho Dũng, vì đầu tháng nào cũng vậy, mới 3 tây đã ra ATM rút tiền hết tháng đó, có khi mới 20 ngày đã gọi than hết tiền, xin tôi cho mượn gửi về một ít qua dịch vụ tiêu đỡ. Tôi ở cách xa Bolsa , muốn gửi dịch vụ phải lái xe cả trăm dặm khứ hồi. Tự hỏi nếu Dũng lỡ chết thình lình thì ai chịu bỏ tiền ra hỏa thiêu hay chôn cất bên đó. 

Một hôm tôi nhận thư Sở an sinh gửi báo cáo hàng năm về tiền gửi cho Dũng, thấy họ giữ medicare premium cho Dũng mỗi tháng tới 144$ (lúc trước chỉ có 83$ ròi tăng lên nhiều đợt, bây giờ là 144$) phòng khi Dũng khám bệnh, vô nhà thương chữa trị. Tôi thấy Dũng mất oan số tiền này mỗi tháng vì Dũng đã quyết tâm chết ở VN, hễ đau bệnh thì trả tiền mặt vô nhà thương bên đó, đâu có hưởng được sự chữa trị thuốc men của bác sĩ tại Mỹ, bèn lên mạng kiếm thấy cái đơn xin đừng khấu trừ tiền medicare premium gửi cho Sở An sinh. Tôi đánh bạo điền đơn, ký tên tôi, đem lên nộp cho họ, trình bày hoàn cảnh Dũng gần chết cần tiền khấu trừ này để trả cho bệnh viện bên đó khi nhập viện... Tưởng họ đòi phải có chữ ký Dũng, ai ngờ họ thấy bằng lái xe Dũng tôi đưa ra với hình ảnh và tên tuổi ngày tháng năm sinh, thấy bank statement có tên tôi làm chủ và account mang tên Dũng nằm dưới tên tôi thì tin ngay tôi là người bạn lâu nay đại diện cho Dũng bên VN, lập tức dồng ý cho hay kể từ đầu 2020 sẽ không khấu trừ tiền premium này nữa. Tiền này xẽ nhập chung với tiền lâu nay gửi vô account Dũng tổng cọng là 820$. Tôi rất mừng, không ngờ mọi cự thành tựu theo ý mình dễ dàng như vậy, bèn gọi báo tin vui cho Dũng:

-Rồi, tôi làm xong rồi, họ chấp thuận rồi, từ rày SSA của ông là 820$ thay vì 676$ như trước, nhưng tôi sẽ giữ lại 144$ tiền medicare này mỗi tháng để dành làm ‘death benefit” cho ông , khi nào đủ 1000 đô đủ tiền hỏa thiêu ông, sẽ ngưng không cất giữ nữa, tha hồ cho ông xài trọn 820$. Chịu chưa?. Khi nào hai cô em dâu ông báo tin ông chết, tôi sẽ gửi dịch vụ về.

Dũng chịu ngay, cám ơn tôi đã giải quyết vấn đề khúc mắc quan trọng này. Cá nhân Dũng tự hiểu không đủ nghị lực tiết kiệm dè sẻn để dành nỗi tiền hỏa thiêu cho mình mỗi tháng, phải có tôi nhúng tay vào và chặn trước từ bên Mỹ. Dù muốn có xài hết 820$ cũng không đuợc, vì bên này khuya 2 tây, tôi sẽ nhanh tay chuyển tiền 144$ đó qua account riêng tôi ( trên app của cell phone tôi), trước khi Dũng ra nhà bank rút mỗi sáng 3 tây đầu tháng.

Tưởng mọi sự từ đây ổn định, ai dè qua tháng 2, dịch cúm corona bùng phát…Hôm 3 tây Dũng ra nhà bank rút 150$ , tiền không nhả ra, tưởng máy trục trặc, đút thẻ vô ATM, rút lần nữa tiền cũng không ra, dại dột đút thêm 2 lần nữa tổng cọng 450$ cũng không ra đồng đô nào, mà còn bị charged tiền fee 8$ cho 4 lần rút. Dũng thất sắc gọi qua tôi, nhờ tới Citibank bên đó rút thử coi có trục trặc gì không. Tôi vô trong kể lể sự tình, họ nói Dũng phải gọi số phone Citibank quốc tế ( international phone) hỏi tại sao, chứ họ không giải quyết đuợc gì cả. Tôi kể cho nghe và gửi dịch vụ 200$ về cho Dũng xài đỡ. 

Đầu tháng 3, tôi lấy thẻ tôi rút 300$ tiền trong account Dũng gửi về cho Dũng đi Saigon khiếu nại với Citibank trong đó. Dũng đang nói chuyện với cô bankteller VN, hỏi địa chỉ tôi ở Mỹ để họ gửi mail cho tôi cho biết code mới đặng Dũng đút thẻ rút tiền, vì code cũ đã invalid. Tôi hỏi còn vụ mất 450$ thi họ giải quyết ra sao? Dũng nói họ sẽ giải quyết sau. Dũng nói Vn có luật mới là thẻ do nuớc ngoài cấp sẽ không rút được tiền ở nhà bank tại VN. Tôi không hiểu tại sao ai ra luật gì mà lạ vậy. Chả lẽ họ sợ khách du lịch qua VN rút tiền, rờ tiền lây bệnh cho dân VN. Như vậy khách du lịch tiền đâu mà ăn tiêu, trả tiền mướn hotel ở VN?

Mấy ngày sau tôi coi trên Yutube thấy có tin Mỹ sợ trao đổi tiền giấy dollar sẽ truyền bệnh corona lên tờ giấy bạc Mỹ nên khách ngoại quốc rút tiền đô MỸ ở các nước gần trung quốc(Đài loan, Vietnam, Phi,Nam hàn…) sẽ không nhận đươc tiền đô. Chả biết fake news, hay tin thật, mà không nghe báo chí nhắc tới. Chẳng có ai tôi quen là Việt kiều sống ở VN như trường hợp Dũng, nên tôi không biết hỏi ai tin đó có đúng không. Lại nghe tin Vn tính in tiền giấy mới , chuẩn bị đổi tiền mới thay thế cho tiền đang lưu hành.Tôi thấy rầu cho Dũng quá. Người đâu mà cả đời cứ khổ sở lo âu vì tiền. Và tại sao tôi phải đóng vai thủ quỹ bất đắc dĩ này mãi cho ông bạn già gần đất xa trời này.

Mấy ngày sau, tôi nhận đuợc mail Citibank headquarter ở Texas gửi cho “ code” mới để đút thẻ debit rút tiền bên VN. Tôi gọi cho Dũng biết để đút thẻ coi thử có “work “ không. Dũng gọi qua nói không được, không thấy hiện ra cái gì cả. Tôi bực mình viết thư khiếu nai với Texas là code mới mấy ông cho không “match” với thẻ của Dũng, và tiền Dũng rút 450$ không ra hồi tháng 2, mấy ông sẽ giải quyết và hoàn trả lại cách nào. Mấy ngày rồi mà chả thấy họ hồi âm gì cả. Tôi cũng chán. Giữa tháng 3 thì số nhiễm corona và sô người chết trên thế giới tăng ào ào. Dũng nói Nha trang khuyến cáo mọi người ở nhà, đừng ra ngoài, vì đã có nhiều kẻ bị lây, nên Dũng đắp mền nằm nhà cả ngày.

Thôi đành bỏ qua vậy. Biết đâu “của di thay người”. Nhờ mất tiền mà Dũng không phải đau ốm nhập viện. Từ rày về sau, tôi sẽ rút bên này gửi dịch vụ về cho Dũng cho chắc ăn. Dũng cũng đồng ý như vậy, khỏi phải khó nhọc tun rẩy lê chân bước thấp, bước cao ra nhà bank gần nhà rút tiền, chỉ cần nằm nhà có người đem tiền tới giao tận tay, khỏe re như con bò kéo xe.. Người khổ mới là tôi, phải chạy xe cả trăm dặm vùa đi vừa về qua Bolsa gửi dịch vụ 2 lần một tháng, chứ gửi một lần là bên đó xài sạch láng ngay, rồi lại kêu réo năn nỉ nhức đầu.... Freeway 91 đông nghẹt xe cộ mấy năm sau này, “stop and go” liên tục, tuổi già lái xe thật là vất vã. Ai ở trong hoàn cảnh tôi mới biết khổ như thế nào.


Wednesday, May 8, 2019

Tuổi Già Lãng Đãng




Năm nay tôi đã 75 tuổi. Bình thường lái xe mua sắm, tập tành, bơi lội không thấy gì lạ, nhưng nghe vang lên con số 75 trong đầu, giựt mình, mới thoáng đó mà đã vào tuổi “thất thập lai hy”. 

Mới ngày nào đó còn đạp xích lô, cắt cỏ, còn làm homework, đỗ bằng Master, đi dạy học trò ở San Jose, giờ đã thành ông cụ rồi sao. Sinh năm 1944, dạy học, đi lính, ở tù, đạp xích lô ở VN, vượt biên, đặt chân tới Mỹ năm 1984 đổi đời vừa đúng 40 tuổi, còn hăng hái, năng động, đi học lại, đi làm, mua nhà…mới đó mà vèo một cái đã 35 năm tha hương biệt xứ. 

Tử vi tôi, Thân (nửa đời sau) cư Thiên Di, đúng phóc là Ông Trời đã định sẵn, chỉ cho mình được ở Việt Nam 40 năm (Mệnh), rồi  phải qua Mỹ sống nốt nửa đời còn lại (Thân), chắc cũng 40 năm nữa, hay 45 năm gì đó… không chừng, vì Mệnh mà có Tham lang đi với Tràng sinh ở  Dần là số “thọ như ông Bành tổ”, sách nào cũng nói. Thấy đúng thật, ngần tuổi này rồi vẫn chưa bị “ba cao,một thấp”(cao máu, cao mỡ, cao đường; thấp khớp) như nhiều người già khác, chưa phải uống thuốc gì ngoài thuốc bổ, calcium. Ra đường, có lần được khen là nhanh nhẩu hoạt bát, ai cũng tưởng mới ngoài 50. Nghe mà muốn phổng mũi.

Mới đây mẹ tôi mất, thọ 92 tuổi. Bà là người thọ nhất trong gia đình hai họ. Ba mất  năm 47 tuổi tai nạn xe. Cô Khê bị xe lửa lật xuống sông chết năm 27 tuổi do Việt Minh gài mìn làm trật đường rày. Ông bà nội đều chết ở Bắc Ninh trước 50 tuổi. Ông ngoại mất 51 tuổi ở Phanrang vì Mỹ thả bom lính Nhật đóng tại đây. Chỉ có bà ngoại thọ nhất là được 70, tuy phải nằm liệt một chỗ mười tháng cuối đời. 

Về nước chịu tang mẹ, cảm thấy như lạc vào một đất nước nào đó xa lạ chứ không phải là Phanrang êm đềm, tĩnh lặng, đầy kỷ niệm của tuổi niên thiếu ngày xưa. Thành phố đông đúc xe cộ, ăn mày, dân bán vé số lang thang ngoài đường, các tiệm buôn ế ẩm, rác xả lề đường, vỉa è chiếm lấn. Bạn bè chung lớp ngày xưa đều trên 75, chỉ còn ba bốn người còn sống, tóc bạc, già ốm, đi đứng chậm chạp. Mấy người quen đi dự đám tang, kể cả học trò cũ, lác đác mấy người trông như ông bà cụ gầy gò, hốc hác, cúi đầu ít nói, chạnh lòng nhớ lại cả một thời ấu thơ, đi học chơi đùa, trong không gian lồng lộng trời xanh, mây trắng, biển rộng ở Ninh thuận...không còn nữa. Bao nhiêu là bạn thân đã lần lượt qua đời, như Liên, Kiệt, Một, Chính chết trận, Văn, Thám, Sào, chết bịnh, Tạ duy Quý phi công trốn tù cải tạo bị bắn chết, Hồ kỳ Vân vuợt biên cùng vợ con mất tích trên biển cả sau 75…

Rồi Lý Tống 73, thua tôi 2 tuổi, anh hùng lái máy bay, bệnh nặng qua đời ở Cali tháng tư 2019. Dũng, bạn cũ đệ nhất C ở Trung học Võ tánh, 77 tuổi, cũng suy kiệt, nhập viện chờ chết ở Nhatrang. Em rể tôi 70, cũng bị stroke mới đây vì nghẽn máu ở cổ, phải nhập viện chữa trị gần cả tháng mới cho về, một tay yếu một tay lành. Rồi “Trọng lú”, cũng bằng tuổi tôi, thình lình đột quỵ trong chuyến công du ở Kiên giang, chở về Chợ Rẫy, Saigon, đưa ra Hà nội điều trị, dấy lên hàng trăm tin đồn méo miệng, xuất huyết não, bại liệt… khác nhau trên mạng Youtube, Facebook làm gần trăm triệu người khắp thế giới hiếu kỳ theo dõi. Trọng sinh tháng 14/4. Tôi sinh 15/5, hơn nhau có một tháng mà tóc tai trắng bạc phơ. Trông người lại ngẫm đến ta. Lẩm nhẩm đếm trong số bạn bè thất thập, ai còn ai mất ở Âu Mỹ, cũng chỉ còn mươi người trên đầu ngón tay. Bao giờ đến phiên mình?

Mười bốn năm nay, tôi về hưu, lui về ở thành phố cây xanh yên tĩnh này, cạnh con sông nước cạn suối chảy róc rách. Đọc tử vi, kinh Phật, tản bộ, bơi lội, tập thể dục ở các gym, coi phim, tin tức trên tivi, gửi tiền về làm từ thiện ở quê nhà vùng kinh tế mới, lên mạng nghe youtube, check mail, xuống Bolsa hay L.A thăm bạn, shopping... làm vườn, cắt cỏ, tưới cây cho qua thì giờ. Quê hương xa vời như ở trong cổ tích, chẳng có nhu cầu về thăm, mà còn ai nữa để về thăm. Các em đều ra nước ngoài ở khắp thế giới từ lâu. Giờ giấc ở Mỹ và VN khác nhau,  xáo trộn sinh hoạt thường ngày, máy bay đường dài, xe cộ khó khan, tai nạn liên miên mỗi ngày… Chắc là chết ở bên này cho sướng. Tử vi,Thân cư Di có Không kiếp nên số sẽ phải chết xứ người. 

“Thiên di Địa kiếp ở gần,
Hồn quy dặm liễu, cách thân xa vời”

Lúc chết, chết xa người thân ngàn dặm. Làm sao mà mong về quê chết được. Nghiã trang gia đình bên đó, có ông bà cha mẹ nằm chờ, cùng lắm khi chết, con cái hỏa thiêu đem hủ tro về chôn cạnh ba má là được rồi. Con người, khi gần đất xa trời, tự nhiên buông xả lần lần. Cuộc đời sắc sắc không không, có gì để tham đắm, ôm giữ, tiếc nhớ. Vật chất là vô thường. Không hiểu sao có những quan chức bên đó lớn tuổi mà vẫn tranh giành quyền lực, cướp đất, cướp tiền của dân ích kỷ làm giàu. Có ôm theo mang xuống mồ được không. Để lại cho con thì trước sau chúng cũng phung phí phá tán hết, vì là đồng tiền không phải do chính mồ hôi nước mắt làm ra. Ngăn cấm tôn giáo mà lại mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh,quen tánh hối lộ, nhét tiền vào tay tượng đất cầu xin lợi lộc. Không biết chính mình cũng sẽ là một vị Phật trong tương lai, nếu gạn lọc hết Tham sân si và hằng cứu giúp chúng sanh.

Năm nay nước Mỹ thời tiết khác mọi năm, mưa nhiều, tuyết nhiều, lạnh nhiều và lâu, kéo dài từ tháng chạp năm ngoái tới cuối tháng tư. Cali là tiểu bang ấm nhất nước mà ngày 30 tháng 4, đầu tháng 5 vẫn còn có lúc phải mặc áo ấm co ro ban ngày vô giường đắp mền. 

Mỗi năm ở đây, thời tiết hình như lạnh hơn năm trước một chút, không biết có đúng không. Hay tại cơ thể mình mỗi năm yếu hơn một chút nên thấy lạnh hơn. Hai chân đi đứng cũng yếu hơn mọi năm.  

Ăn ít, bữa cơm bữa cháo, ăn thức ăn nhẹ cho bao tử, gan ruột khỏi làm việc nhiều, nên sụt ký thấy rõ. Bác sĩ khuyên uống Collagen bột pha nước juice cho tốt da tốt tóc, có appetite ăn nhiều hơn. Mắt cườm đọc chữ li ti không thấy như mấy năm trước nữa, mà bác sĩ mắt vẫn nói còn tốt, chưa cho mổ; trí nhớ cũng không bén nhạy vì tế bào não chết dần không sinh sản thêm như các tế bào khác. Tai còn nghe rõ, mặc cho quảng cáo bác sĩ tai lai rai gửi tới nhà mời tới khám tai đeo hearing aid giá rẻ. Số phone , địa chỉ ai cho, hay ngày giờ hẹn đi khám bệnh, phải ghi vô sổ, lịch tường, hay cell phone, chứ không ghi nhớ trong đầu được. Nhiều chữ English, hay tên người, địa danh, rất quen thuộc, mà nghĩ mãi một lúc không ra, mãi mấy phút sau đột nhiên xuất hiện trong đầu. Nghe chuyện mấy cụ già bị Azheimer mất trí nhớ, ngồi xe lăn, con cái phải đưa vào nursing homes có y tá săn sóc mà lo sợ.  Để cha mẹ ở nhà một mình, sợ mở bếp lửa quên tắt cháy nhà, đóng cửa quên khóa bị kẻ trộm xông vào, hay ra ngoài đi lạc quên mất lối về nhà. 

“Người già đôi chân già trước”. Nghe câu này “posted” ở đâu đây trên mạng, mà nghiệm đúng thật. Trước đây đi gym tập, chỉ dám chạy treadmill có 5 phút cho khỏe chân. Lúc sau này, chân yếu, bắp thịt không săn nữa, phải hạ xuống còn 3 phút, vừa chạy vừa bước nhanh xen kẽ thôi, sợ bị thấp khớp. Vậy mà mới đây lấy xe cắt cỏ cũ sứt bánh xe từ tiệm sửa của chủ Nam hàn về, giựt thử dây “đề” máy nổ,  nó lồng lên chạy làm mình hốt hoảng chạy theo, chụp níu lại, làm bàn chân trái trượt dài trên cỏ, sưng lên, ấn ngón tay vô thấy đau đau.  Sưng không to bằng sưng 12 năm trước do hạ đường huyết (vì nhịn đói 2 ngày) khi đang ngồi ăn tiệm. 

Năm ấy đang ăn, tự nhiên choáng váng ngộp thở, bước ra ngoài mấy bước đã ngã xỉu lăn ra một lúc mới tỉnh, ai cũng tưởng bị stroke, kêu gọi 911, nhưng ngồi lên tim phổi hít thở bình thường, chỉ thấy xương mắt cá chân sưng vù, đau lắm. Tưởng bong gân, chỉ xoa dầu nóng thôi. Ai dè lên máy bay về VN 3 ngày sau thấy không bớt, đi X-ray chụp thì ra ống xương tibia bị nứt, phải đăng bột ngồi nhà cả tháng trời. Sợ kỳ này lại gãy xương nên chống nạng đi Urgent Care khám, họ cũng nghi xương gãy, băng bó, gửi qua chỗ X-ray chụp,  quả nhiên các xương vụn chỗ đó bị xô lệch và răn nứt (fractured). Bác sĩ gia đình cho thuốc giảm đau, bảo gọi phone chỗ bác sĩ chỉnh xương (orthopedist) lấy hẹn khám coi có phải mổ không, hay chỉ cần mang giày, đắp bột. 

Trời thì u ám, không khí lành lạnh, mà cứ chống nạng đi ra đi vào hoài trong nhà cũng nản, lan man nghĩ tới chuỗi ngày cuối đời còn lại từ đây thấy không còn gì vui, mắt yếu, trí óc phản xạ chậm, sẽ bị cấm lái xe nếu gây tai nạn 2 lần liên tiếp, không còn xông xáo chạy nhảy, tới lui đó đây được nữa, phải ngồi xe lăn cú rũ như mấy ông bà cụ đầu bạc lòm khòm ở viện dưỡng lão. May mà còn chút phước lành đời trước, có nhà cửa trả off tiện nghi ấm cúng, có tiền hưu vật chất đầy đủ, khỏi phải lang thang đầu đường xó chợ như những kẻ không nhà nhan nhản khắp nơi trên trái đất này …

Cũng may mà giữa lúc đó, có lẽ Ông Trời thấy tội, muốn giúp mình khuây khỏa, tự nhiên khiến nhiều người trẻ ở đâu không biết( từng đọc các bài tử vi mình viết mà ai đó “posted” online lâu nay) gửi email làm quen tới tấp nhờ coi hộ tử vi. Người ở Oxnard có business hỏi, người thực tập viên đang lao động bên Nhật hỏi, người ở Bắc Việt sắp đi Nhật muốn biết tương lai lễ phép hỏi, người giàu ở Irvine hay về VN làm ăn…tìm tới làm quen hỏi. Có hai người lá số cũng Mệnh Kiếp, Thân không,Thân cư Di, và Tham, Liêm giống mình ở Mệnh, tỉ mỉ hỏi kinh nghiệm “bác” đã trải đời thế nào để chuẩn bị đối phó tương lai. Có người còn kể thấy trên Youtube nhiều tử vi gia Bắc kỳ còn trẻ măng coi tử vi lấy tiền cho thiên hạ, khách đông lễ phép xưng “con con thày thày” chầu chực như kiến. Tò mò lấy cell phone vô youtube kiếm thì thấy quả đúng như vậy, bèn tò mò ngồi nghe các thày trẻ luận giải phê phán lá số, lên giọng thầy đời, có khi mắng cả vào mặt mấy khách hàng dốt về khoa này. 

Youtube có cái lạ, hễ coi đề mục nào 2 lần trở lên là nó lôi ra thêm vô số các clips tương tự thuộc đề mục đó, cho nên không cần đi mua sách báo đọc làm gì, cứ bấm bấm… là tha hồ nghe đủ các thày khác nhau giảng về đề mục mình muốn biết. Bấm nghe nam ca sĩ ão não hát bài “Biết bao giờ trở lại” nhân mùa 30/4  một lát tắt đi, chốc nữa mở lại Youtube đã thấy hiện ra cả chục bài khác do Lệ Thu, Khánh Ly, Thái Thanh, Nguyên Khang, Tuấn Ngọc hát. 

Lúc khác bấm coi clip “Phú Trọng trúng độc” lại thấy hiện ra vô số clips về Tập cận Bình đi chân khập khiểng vì ung thư gan, Tấn Dũng khoái trá cười trong tang lễ Lê đức Anh, Phúc nghoẹo ngủ gục ở buổi họp quốc tế”, có cả sấm Trạng Trình chữ nho “trọng ngân bạc phúc, sản tất vong” nữa… Rồi vô số clips các Việt kiều vô danh đưa lên mạng, đủ các hình ảnh sống động, đua nhau “dạy” cách sống ở Mỹ, khoe mua nhà to ở Minesota một năm tuyết rơi 6 tháng, “mới qua Mỹ khổ quá dại dột bỏ về VN”, “có thẻ xanh mà ở Vn lâu sẽ bị cấm vào lại Mỹ”, bí quyết sống thọ trăm tuổi, “ở Canada sướng hơn ở Mỹ”, “10 thức ăn ngừa bệnh tiểu đường”….

Coi Facebook , nhiều cái còn tức cười hơn, thiên hạ đưa hình ảnh lên khoe nhà cửa, vườn hoa, giàn bầu giàn bí, hoa đẹp trái chin, con cháu xinh đẹp, đỗ đạt ra trường, bạn bè xúm vào “comment”… kẻ LIKE, người DISLIKE. Thảo nào, con nít và cả người lớn thời đại này, đi đâu cũng thấy chúi  mũi vào cái cell phone. Ở nhà, thấy đứa cháu đi học về cứ dí mắt vào cell phone đã đành, tới Urgent care ngồi chờ bác sĩ cũng thấy, tới chỗ chụp X-Ray cũng thấy, 10 người bệnh ngồi đợi đã có 8 người dí mắt vào phones. Đúng là thời đại vi tính, khỏi tu Phật mà được thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, vuợt không gian thời gian. Ai cũng thích sống trong thế giới ảo, mà càng đắm chìm trong đó thì phone càng mau hết pin, phải cắm điện “charge” hoài.

Không biết ở VN xưa kia, các cụ già lấy gì tiêu khiển, bạn già xung quanh chết hết không còn ai, chả lẽ ngồi tụng kinh niệm Phật, cả ngày thơ thẩn ôn lại quá khứ, bệnh nan y đành chịu đau, chờ ngày xuống lỗ.  Già bây giờ, cảm ơn các nhà khoa học phát minh kỹ thuật cao, có bác sỹ mổ nội soi, cắt túi mật, thay gan, thay thận, có ti vi, I-phone mang theo ra đường để gọi, gửi email, nói chuyện thấy được mặt nhau,  nhắn message, liên lạc ở xa.Nhưng làm gì thì làm,  rồi cũng tới một ngày nào đó sẽ ngồi xe lăn, chân què, tay run, tai lãng, mắt mờ, đầu óc lãng đãng khi nhớ khi quên.

Tuổi già xa quê lâu năm, người già ai cũng muốn có ngày hồi hương thăm lại bà con, láng giềng, làng cũ, chốn xưa. Nhưng với tình hình chính trị, kinh tế, giáo dục, y tế nát bét như tương thời buổi này nơi quê nhà hẩm hiu thì chắc chả ai còn muốn về. Có thể chỉ là hũ tro tàn con cháu mang về chôn bên đó cạnh các cụ xưa. Mà biết quê hương lúc đó có còn thuộc về người Việt mình nữa không, hay chỉ là một Tây tạng thứ hai. Già còn sợ về, huống chi là bọn trẻ sinh ra, lớn lên ở đây. 

Lòng ái quốc, hay ý chí trở về xây dựng quê hương không biết rồi sẽ ra sao. Trẻ con Việt lớn lên sẽ sống theo văn hóa Mỹ như người Mỹ địa phương, cũng thích công bằng, thanh liêm, bình đẳng, tiến bộ, tự lập. Còn người già gần đất xa trời ở đây thì đầu óc lơ lửng trên mây, sắc tức là không, không tức là sắc. Cuộc đời thật là phi lý, tạm bợ, vô nghĩa...và tàn nhẫn.

Phạm Hoàng Chương

Thursday, April 19, 2018

Thương Huế Ngậm Ngùi





Image result for hue images

Tuy không phải dân Huế, rời Huế từ 1966 chuyển vào Sài Gòn học rồi ra trường đi dạy ở lục tỉnh, không tận mắt chứng kiến cảnh Huế bị tàn sát, tàn sát nhưng mỗi lần nghĩ đến Huế êm đềm thơ mộng, tôi lại chạnh lòng nhớ tới Tết Mậu Thân.

Huế với tôi giống như một quê hương thứ hai, quê hương của tuổi mới lớn.

Hè 1963, mười chín tuổi, đỗ tú tài 2 ban C xong, tôi theo Ba lên Đà Lạt, tới phi trường Liên Khương ra Huế thi Đại học sư phạm ban Pháp văn khóa 4 năm. Lần đầu ra Huế, cách Phan Rang hơn 600 cây số, chẳng quen biết ai ngoài  lá thư giới thiệu cầm tay xin tạm trú nhà một gia đình Huế ở cầu Nam giao do bạn Huế đồng nghiệp Ba viết, tôi bồn chồn lo lắng. Ba cứ bảo,”đường đi ở miệng, trước lạ sau quen” mà tôi nhớ mãi sau này. Xe đưa từ phi trường về office hãng máy bay ở đuờng Trần hưng Đạo, gọi xích lô đưa về nhà trọ, nghe tiếng dân địa phương chỉ đường nằng nặng lạ tai, có những tiếng không hiểu, như  “đường kiệt”(ngỏ hẽm), “bên tê tề” (bên kia kìa), đi “một chắc” (một mình)…

Thi xong, về lại Phan Rang, hai tuần sau nhận đuợc giấy báo đậu thứ 20 trên 24, học bổng một nghìn một tháng. Tháng 9 bay ra nhập học, lại ở trọ nhà bác Tu ở cầu Nam giao, đạp xe đạp mỗi ngày tới trường ở khách sạn Moran (Đại Học Sư Phạm mới còn đang xây, chưa xong). Đạp suốt con đường Lê Lợi phủ bóng cây xanh chạy dọc sông Hương, đạp ngang qua Câu lạc bộ thể thao, Quốc Học và Đồng khánh, ngắm  thân các cây đen nổi bật lên nền nứớc xanh êm đềm. Hai bác nhà nghèo đông con, căn nhà thụt vào phía sau một nhà khác ven đường Phan châu Trinh, nhưng rất tử tế và quí học trò ở trong Nam ra, lo cơm nước tươm tất cho tôi và một sinh viên khác ở trọ. Lễ Quốc Khánh 26 tháng 10, ba đi xe đò ra thăm chỗ tôi trọ học, ở mấy ngày, đưa tôi vô chợ Đông Ba ăn bánh khoái, lên đò qua sông Hương, nghe cô lái đò hát chi mà ảo não nát cả gan ruột. Ba hỏi han việc học, kể chuyện gia đình, những ky niệm trước đây Ba ra Huế chấm thi, rồi từ giã về lại Phan Rang. Ba về rồi thì ngày 1/11 xảy ra vụ lật đổ Ngô đình Diệm trong Nam. Tôi tò mò đi theo con chủ nhà coi khu nhà tù Chín Hầm, nơi giam giữ đám nguời tranh đấu chống chế độ. Mới lên đại học, chân ướt chân ráo, tôi không có ý thức gì về chính trị, cũng không tham gia, chỉ biết lo học.

Tôi học trường Việt từ nhỏ tới lớn, mà thày cô thì ông tây bà đầm nói tiếng Pháp như gió, nghe ghi chép không kịp, lại phải cạnh tranh với đám học sinh trường Tây nên cặm cụi học ngày học đêm, học nhà, học thư viện, sợ rớt thì bị lôi vào Thủ đức đi lính. Kết quả bù lại công chăm học, qua hè 64, thi lên lớp, bạn học rớt như sung rụng, tôi đậu hạng nhì trên 6, trường phải vớt thêm 4 người có Dự bị Văn Khoa cho chẵn 10 người. Ba vui mừng hãnh diện về đứa con đầu, tươi cười sung sướng suốt mấy tháng trời. Tháng 9, ông lấy vespa chở tôi ra Nha Trang bay ra Huế học năm thứ hai. 

Trường Sư phạm mới xây xong, trắng toát, làm lễ khánh thành, sinh viên chúng tôi dọn qua học, hãnh diện có ngôi trường sang trọng nhất trong các khoa. Tôi theo bạn rủ, đổi nhà trọ khác ở đường Nguyễn công Trứ cạnh Đập Đá cho gần, chủ nhà là bác Hoanh có vườn rộng mênh mông chạy xuống bờ sông Hương, có ngôi nhà thờ công chúa con vua Minh Mạng ở sân trước. Chồng làm việc ở Đà nẵng, các con đông, bác ở nhà nội trợ, nấu cơm tháng cho sinh viên ở xa tới Huế học. Học được một tháng thì điện tín nhà đánh ra báo tin Ba bị tai nạn xe ở Phan Rang, hôn mê bất tỉnh, xác chở ra bệnh viện Nha Trang. Tôi xin nghỉ học 10 hôm, bay về chịu tang. Tháng sau, tới lượt bà ngoại chết, rồi cả miền Trung từ Huế vào Phan Thiết mưa bão ngập lụt tơi bời. Phan Rang bị vỡ đập Đa nhim, nước tràn xuống thành phố. Nhà cửa, tiệm buôn, đường xá bị nước ngập tới 4 thước, lũ cuốn trôi nhà cửa xe cộ, trâu bò…ra biển. Tôi như ngồi trên lửa những ngày dài tang tóc đó, chỉ biết ra bờ sông Hương sau nhà lặng lẽ khóc.

Ba và bà chết năm tôi mới tròn 20 tuổi. Suốt một năm, tôi lao đao tinh thần xuống dốc, lo cho má gầy yếu với bầy em nhỏ 8 đứa mồ côi cha ở quê nhà, buồn thấy gia đình mình quá bất hạnh. Thi lên lớp, tôi đậu gần chót. Từ từ với thời gian, tôi gượng lại, cùng bạn đạp xe đi các vùng quê chơi khuây khỏa, Thuận An, Vỹ dạ, Thành nội, Chùa Thiên Mụ, tiếp xúc với người dân Huế thường hơn.

Mùa hè ở Huế nóng như lửa, phải xuống biển Thuận An tắm, hay lội sông Hương. Mùa mưa ướt át dầm dề kéo dài hai ba tuần không dứt, trong nhà vách tường bám đầy nước ẩm thấp. Có lần thấy mấy bà già nghèo khổ gầy đét trồng môn xuống đất bùn ở ven sông, khi môn lớn, hái cuống lá cắt nhỏ ra ngâm muối làm thức ăn hàng ngày, thấy thật tội.  Ngoài phố chợ, nhìn xuông sông, thấy những gia đình con cái nheo nhóc chen chúc trên đám ghe lềnh bềnh ở bến Đông Ba, Bến Ngự. Mùa Đông ở Huế rất cay nghiệt, thịt cá đắt, rau cỏ hiếm, bác Hoanh phải ra sau vườn tìm cắt bụt măng ở bụi tre, hay  đào khoai, ngắt lá dền lên nấu canh. Sáng sớm, bác dậy nấu cơm đổ trứng hấp cho sinh viên trọ ăn no bụng đi học.  Gia đình bác các con ăn kham khổ qua loa dưới nhà, nhưng luôn để ý bưng lên tiếp tế thức ăn đầy đủ cho sinh viên ngồi ở nhà trên, nhiều lúc sau này nhớ lại mà cảm động. Hai bác đã khuất từ lâu, nhưng vẫn sống mãi trong tâm hồn đám sinh viên ở trọ thời đó. Người Huế nói chung bản chất hiền lành, phúc hậu, nhân đức, đa số là Phật tử nên những ngày rằm, ngày vía, chùa chiền các nơi đông đúc, ấm cúng khói hương nghi ngút.

Qua đầu năm thứ ba, niên khóa 65-66, tôi bắt đầu ghi tên học võ Karate (Không thủ đạo) mới đầu với ông thày Nhật Suzuki ở tư gia. Rồi anh Ngô Đồng và anh Nhuận, phụ tá giáo sư đại học, đại đệ tử của thày, đứng ra trực tiếp dạy cho sinh viên chúng tôi ở giảng đường khoa học. Sinh viên theo học có tới năm sáu chục người. Anh Đồng không theo lối thuần Cương sát phạt mạnh bạo của ông thày, mà phối hợp cả Cương lẫn Nhu thích hợp với thân thể mảnh khảnh của người mình, nên chúng tôi ra đòn mềm mại nhẹ nhàng, chủ yếu tránh né và dùng Nhu thắng Cương.

Niên khoá 65-66 của tôi ở Huế là một năm nhiều ky niệm đẹp nhất của thời thanh niên. Tôi có nhiều bạn võ, ngoài bạn học sư phạm, văn khoa. Tôi chơi thân với Sào, Diệu, Trung, Suyền, Lộc…. Sào chững chạc, Trung láu táu, Diệu lầm lỳ, Suyền hay tiếu lâm, các tay võ nghệ lanh lẹ vui tính. Tôi được lên đai xanh, dần dần nổi tiếng là một trong mấy tay võ giỏi nhất lò anh Đồng. Có lần, một lò võ Karate của người Mỹ ở đâu có năm sáu đệ tử tới thăm, anh Đồng gọi tôi ra đấu với một tên Mỹ học trò giỏi của lò này. Cậu này mới 18 tuổi, cao lớn, ra đòn mạnh bạo hơn lối “đụng rồi rút đòn ngay” anh Đồng dạy xưa nay, nên tôi không quen, bị đánh trúng tay liểng xiểng, cậu  lịch sự xoa chỗ tay tôi bị đau, xin lỗi rối rít…

Tôi chơi thân nhất với Sào, vô địch chuyên đá giò lái bất ngờ. Sào biết tôi dân Phan Rang, sửng sốt kể 8 năm trước cũng đã từng theo anh cả vào Phan Rang ở học 2 năm. Sào kể chuyện cũ, nhắc Khôi và Khai, làm tôi ngạc nhiên, vì Khôi, Khai chính là bạn cùng lớp với tôi thời đệ nhất cấp. Lần lần, tôi nhớ lại hình ảnh cậu bé Huế lầm lì ít nói mấy lần theo Khôi và Khai đạp xe lên Tháp chàm với tôi mà lúc đó hai đứa lại không làm quen nhau. Thì ra cậu bé đó là Sào bây giờ, bạn văn khoa, võ nghệ ở đại học. Thật là kỳ lạ. Thì ra nhân duyên phải chờ đúng khắc, đúng thời điểm mới gặp. “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”. Sào còn giỏi về âm nhạc, đánh đàn, hát hay. Nhà trong thành Nội, cuối tuần Sào đưa tôi tới thăm các lò võ ta, võ Tàu  thảo luận, trao đổi kinh nghiệm. Hai đứa đạp xe thăm các  danh lam thắng cảnh,  lăng Tự Đức, Thiệu Trị, đồi Vọng Cảnh, biển Thuận An, Kim Long, ...

Thời kỳ đó, một số sinh viên Huế tổ chức biểu tình chống Thiệu Kỳ,  áp lực sinh viên tất cả các khoa bãi khóa. Tôi thấy Nguyễn đắc Xuân ở thư viện hai lần do bạn bè chỉ. Có lần nhìn thấy một đám sinh viên ở Đàn Nam giao, Sào chỉ Hoàng Phủ Ngọc Tường, nổi tiếng là một trong mấy thủ lãnh phong trào sinh viên đấu tranh.

Trường Sư phạm tôi, như các phân khoa khác, cũng bị áp lực phải bãi khóa, gián đoạn học hành hai lần, mỗi lần vài tuần tới một tháng, nên tôi dồn sức cho việc luyện võ theo phái Karate cương nhu của anh Đồng chế ra, lấy đai nâu, học thêm Aikido và Judo ngoài những thế đấm đá chém chặt ác liệt của không thủ đạo, theo bạn võ rủ rê thi đấu ở nhiều sân tư gia với các cao thủ khác. Ở sau vườn nhà mát mẻ, tôi kê bàn ghế, rảnh rang mở một lớp dạy kèm Pháp văn buổi chiều cho năm sáu cô nữ sinh đệ nhị Đồng Khánh xinh xắn dễ thương kiếm khá bộn tiền. Cuộc vui không kéo dài lâu:  hè 1966, thấy tình hình ở Huế lộn xộn, mẹ tôi xin bác tôi là thứ trưởng bộ Giáo dục bấy giờ, vận động  chuyển tôi vào Sư phạm Sài Gòn học năm cuối cho an toàn...

Nhân duyên đưa đẩy không hiểu sao mà lúc đó, Sào may mắn cũng đậu vào Quốc gia hành chánh, cũng vào Sài Gòn học. Huế lúc đó biểu tình tranh đấu lộn xộn nên ông anh họ Sào, một đông y sĩ khá giả ở Đông Ba, vào Sài Gòn mua ngôi nhà 4 tầng ở đường Trần quí Cáp cho 3 đứa con trai tuổi “teens” vào học, cho Sào vào ở để coi ngó 3 cháu. Sào xin phép ông cho tôi tới ở chung cho vui, hai đứa tâm đầu ý hợp, thường xuyên kéo nhau đi du ngoạn Sài Gòn, ở nhà lâu lâu đấu võ giao hữu, khảy đàn, ca hát, bàn luận văn chương. Anh Đồng có lần từ Huế vào công tác, ghé nhà thăm, tổ chức cho hai đứa thi lên đai đen. Cả hai đấu với nhau một trận sống mái, anh vỗ tay khen, cấp cho huyền đai. Mùa hè 67, tôi tốt nghiệp ra giáo sư, giã từ Sào, xuống Sóc Trăng dạy. 

Tết Mậu Thân 68 năm đó, Sào và ba đứa cháu về Huế ăn Tết, mắc kẹt luôn cả tháng giêng. Tôi về Phan Rang, nghe radio loan tin Sài Gòn và  nhiều tỉnh miền Nam bị VC đồng loạt đánh úp đêm 30, nhưng nặng nhất là Huế, bị quân du kích võ trang nằm vùng kiểm soát, lùng kiếm bắn bỏ các quân nhân, công chức làm cho VNCH. Nghe Huế chìm trong biển lửa súng đạn, vô số dân lành bị thảm sát, chặt đầu, chôn sống, xúc động theo dõi từng ngày cuộc chiến Mậu Thân. Rồi nghe quân Mỹ vào đánh dẹp, giải tỏa thành phố cổ, mừng thầm nhưng lo không biết Sào và những người thân quen ngoài đó có yên lành không.

Mãi đầu tháng hai âm lịch, bốn chú cháu Sào mới lóp ngóp trở vào Sài Gòn, mặt mày xanh xao, vương vất nét sợ hãi trên gương mặt hốc hác. Tôi còn ở Sài Gòn chưa đi dạy nên ra bến xe đón mấy chú cháu về nhà, xanh xao, tiều tụy, mặt còn in dấu sợ hãi. Sào thấp giọng kể lại những ngày trốn chui rúc, bụng đói lép xẹp ở nhà mấy người quen khi tiếng súng đùng đùng trong Thành nội với các toán bộ đội dép râu cầm súng xục xạo trong xóm. May chỉ mới là sinh viên hành chánh năm đầu, chưa ai biết, chưa nắm chức vụ gì trong bộ máy công quyền, nên tên Sào may mắn lọt sổ đen của mật vụ nằm vùng tại Huế.

Quân VC bị đẩy lui, Huế trở lai yên tĩnh, nhưng dấu vết đau thương từ cuộc tàn sát ngày càng hiện rõ hơn. Dân chúng đàn ông đàn bà trẻ con đeo khăn tang lặn lội đi bới đất tìm xác anh em chồng con dưới những nấm mồ chôn sống tập thể. Trên báo chí nhan nhản hình ảnh cảnh góa phụ vật vã khóc thảm bên nấm mồ tập thể, cảnh người dân bới đất tìm xác anh em, chồng con. Chính phủ gửi người và của ra Huế giúp đỡ, cứu trợ. Nhiều nhóm dân sự tình nguyện ra Huế cứu giúp đuợc chính phủ ủng hộ. Bộ giáo dục cũng cho phép giáo chức tham gia ra Huế cứu trợ. Tôi  làm đơn xin Bộ cho nghỉ dạy một tháng để ra Huế, được chấp thuận ngay. Đang hy vọng sẽ gặp lại những người thân quen, bạn bè,những ân nhân cũ… ngoài đó  thì đùng một cái, Bộ Quốc phòng gửi giấy động viên đi học Quang Trung, Thủ Đức,tăng cường quân đội. Trường tôi có tôi và 5 ông giáo khác nhận giấy nhập ngũ đi Quang Trung huấn luyện. Tôi đành bỏ lỡ việc ra Huế.

Năm 69, từ trong quân đội, tôi được biệt phái về dạy lại Sóc Trăng vì Bộ giáo dục thiếu thày giáo, cũng vừa lúc Sào tốt nghiệp ra đốc sự, nhận nhiệm sở ở Huế. Qua năm sau, tôi đổi về trung học Duy tân ở Phan Rang dạy, ở với mẹ và các em nhỏ, lập gia đình. Năm 71, tôi có con trai đầu lòng, Sào vào Phan Rang, tìm tới nhà thăm, chúc mừng, bế con tôi nựng nịu, rồi về lại Huế. Cháu kêu Sào bằng chú ruột là Dũng, làm kỹ sư Nông lâm súc ở Phan Rang, thường xuyên ghé tôi thăm, hay kể tin tức về Sào. Tôi mở một tiệm sách, bắt chước nhà sách Hoa Sen ở Nha Trang, làm đại lý cho nhà xuất bản Lá Bối của thày Từ Mẫn ở Sài Gòn. Hai nhà sách Trường Thi và Anh Đào từ Sài Gòn đem sách giáo khoa ra bỏ đống cho tôi bán. Tôi mua thêm sách ngoài bán, có cả sách dịch “Quần đảo ngục tù” của nhà văn Nga Solzhenitsyn và tiểu thuyết “Giải khăn sô cho Huế” nổi tiếng của Nhã Ca. Dũng ghé chơi, đọc sách Nhã Ca, nói tội ác VC, cảnh giết chóc ở Huế tết Mậu Thân nếu kể ra cho hết, còn ghê gớm hơn nhiều.  Năm 73, Sào có gửi cho tôi một lá thư kể chuyện đang làm phó quận quận Hương điền, kèm theo một tấm ảnh đang công tác.

Đầu tháng tư 75, Ban mê thuột bị VC đánh chiếm, dân Đà Lạt ào ạt tản cư kéo bỏ chạy xuống nằm la liệt ở Phan Rang. Tôi hốt hoảng theo bạn xách honda chạy vô Phan Thiết, tính xuống ghe vô Vũng Tàu, nhưng phải quay về lại sáng hôm sau vì Phan Thiết bị pháo kích, lính chiếm hết các ghe chạy vô Sài Gòn, không cho dân lên, thành phố hỗn loạn. Quân đội chống cự dai dẳng với VC ở Cam Ranh. Thiên hạ, người nói ông Thiệu ra lệnh quân đội phải giữ Ninh Thuận là quê hương ông bằng mọi giá, kẻ bảo ông bỏ hết miền Trung cho VC, rút quân về cố thủ ở Sài Gòn.

Nghe đồn VC vào, sẽ thủ tiêu công chức và quân nhân theo kiểu Tết Mậu Thân. Dũng tới lấm lét kể tôi hay Sào đã bỏ nhiệm sở trốn vào lục tỉnh từ hai tháng trước, khi Quảng trị mới bị đánh úp. Hỏi địa chỉ, Dũng không biết, nói chú Sào kinh nghiệm cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế rồi nên sợ lắm, thay tên đổi họ, không dám cho ai biết mình trốn vào Nam, không dám liên lạc  ai hết.

Tôi sống ngày qua ngày, hồi hộp lo lắng cho tương lai đen tối của gia đình, bạn bè, đất nước. Rồi miền Nam mất vào tay Cộng Sản, quân dân cán chính VNCH bị lùa vào tù học cải tạo. Tôi an phận vào tù, luôn tự an ủi, chẳng qua là cộng nghiệp của dân Việt.

Năm sau ra tù, tôi nghe tin anh Nhuận ngoài Huế chống chế độ mới, tham gia phục quốc, bị tử hình, bỏ lại vợ 4 con. Tôi bàng hoàng thương xót, nhớ lại ngày nào anh vào Sài Gòn công tác, ghé ở mấy hôm, chỉ cho hai đứa mấy thế võ ruột. Sau đó hai năm, lại nghe anh Đồng may mắn vượt biên lọt qua Mỹ, định cư ở Florida. Cùng là phụ tá giáo sư đại học khoa học Huế, cùng dạy võ cho sinh viên, mà số phận hai nguời khác nhau: một người chết thảm, một người nhanh chân đem cả nhà lọt qua Florida mở võ đường.

Tôi dẹp mua bán, làm thợ hồ, thợ mộc, vô tổ hợp điêu khắc làm để tránh khỏi bị bắt đi kinh tế mới. Năm 79, nhân anh bạn hàng xóm cạnh nhà tôi về Huế thăm gia đình, biết dưới chế độ tem phiếu Huế chắc là khổ lắm, tôi viêt thư gửi một ít tiền đưa giùm tới nhà biếu bác Tu và bác Hoanh nấu cơm tháng ngày xưa, đền chút ơn cũ. Cuộc sống dần dần đi vào ngõ cụt, tôi mua chiếc xich lô đạp chở khách sống qua ngày. Nhưng một anh bạn thân tới cho hay trung úy công an tỉnh nghi tôi giả đò đạp xe để làm giao liên, mật báo tin tức cho địch, muốn “giam xe bắt người” điều tra. Tôi bèn bán rẻ xích lô, xoay ra tìm mối vuợt biên.

Năm 1983 tôi dắt con trai 10 tuổi xuống ghe đi lọt ở Nha Trang, tới Hồng kông, lên đảo Chimawan tỵ nạn, gặp nhiều anh em Phật tử Huế vượt biên bằng ghe buồm từ Thuận An tới. Tôi để ý tìm, chẳng thấy bạn bè nào quen thời học ở Huế.

Biết tôi từng ở Huế, rành Phật pháp, mấy anh huynh trưởng gia đình Phật tử mời  giảng pháp môn Tịnh độ cho các em, rồi bầu tôi lên làm chánh đại diện Hội Phật giáo Chimawan. Anh em họp, tổ chức mỗi thứ bảy một buổi lễ Phật cho Phật tử trại, tôi lên sân khấu thuyết pháp,  mỗi chủ nhật tất cả anh em xắn tay xách nước,  quét rửa dọn dẹp sân trại sạch sẽ phụ với ban giám đốc trại. Mỗi lần dân Huế ai có giỗ kỵ ông bà cha mẹ, tôi đều được mời tới dự, anh em ngồi quay tròn trên mấy cái giướng sắt kê sát lại, thật ấm cũng thân mật. Được hơn nửa năm thì phải chia tay, tôi bùi ngùi từ biệt anh em Phật tử Huế, qua Mỹ định cư.

Tôi làm thợ tiện một thời gian ở San Diego rồi bỏ, lên Fresno đi cắt cỏ, rồi đi học lại college, bốn năm sau ra thày giáo với bằng Master về giáo dục.  Năm 2000, đang dạy ở San Jose, tình cờ tôi gặp hai người bạn Huế của Lợi (trước ở  cùng trại Chimawan) cho hay Sào đã chết ở Cần thơ, bỏ lại một vợ hai con. Tôi sững sờ bàng hoàng suốt một tháng trời.  Sau này tôi có đuợc email của Thủy, vợ Sào, liên lạc hỏi thăm đoạn đời ẩn nấp trốn tránh sau 75 của Sào. Tôi cũng nghe tin anh Đồng ở Florida cũng đã chết mấy năm trước. Tôi thẩn thờ nhớ lại những tháng ngày hạnh phúc anh em tập võ, tương thân tương ái với nhau ở Huế.

Năm 1999 tôi về VN thăm nhà, công an biết tôi làm Hội trưởng hội thân hữu Ninh Thuận ở Cali, mời lên trụ sở xây cất nguy nga mấy tầng ở bờ biển chơi, lịch sự mời hút thuốc, uống trà, thân mật chào hỏi, mời tôi bỏ tiền về đầu tư, mời tôi đi tham quan du lịch, các tỉnh bây giờ đẹp lắm, lớn lắm, mời tôi ra chơi Huế, đệ nhất danh lam thắng cảnh VN… Nghe tiếng “Huế,” ba chữ “Tết Mậu Thân” đột ngột bật ra trong óc tôi trước khi tôi nhớ tới Sào, anh Nhuận, anh Đồng, bác Tu, bác Hoanh, bạn bè ân nhân đã khuất ở Huế hơn 30 năm qua. Ngày xưa, các anh đã sát hại, chôn sống đồng bào ruột thịt, thường dân vô tội ở đó, không hối hận, không xin lỗi, bây giờ còn mời tôi ra thăm. Tôi buồn bã lắc đầu. Huế, với tôi, như một thiên đàng đã mất từ tết Mậu Thân. Sau 68, tôi chưa bao giờ trở lại Huế. Thành phố có thể đã mở mang, xây cất rộng lớn, khang trang hơn, nhưng oan hồn những người bị giết thảm vẫn còn vương vất đâu đó,  cành cây, bãi đất,  đầu ghềnh, ngọn cỏ, nỗi bi thương của người sống sót ở lại vẫn không hề nguôi ngoai.

Năm mươi năm đã qua (1968-2018), tội ác tày trời của đám ngạ quỷ mang lốt người năm ấy,  dù có đứng ra thành khẩn xin lỗi, ăn năn, sám hối, cũng như cây đinh đã đóng vào gỗ, dù rút ra vẫn còn cái lỗ. Oan oan tương báo. Nạn nhân vô tội ngày xưa, biết đâu từng là cha mẹ, ông bà, anh em, con cái ruột thịt đời trước của bọn sát nhân sẽ còn theo đuổi chúng. 

Kinh Kim Cang có nói “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Kinh Bát nhã cũng có câu “Sắc sắc không không”. Xin các oan hồn hãy tha thứ cho kẻ sân si lầm đường, nặng nề nghiệp chướng, hãy nương náu vào các cảnh chùa, nghe kinh Thủy sám mà siêu thoát về cõi hư vô thanh tịnh…

Phạm Hoàng Chương

Tuesday, January 2, 2018

Mơ Đời Tươi Sáng




Hồi mới qua Mỹ ở San Diego, tôi có lần ở share phòng một ngôi nhà ba phòng của một anh Việt Nam mướn. Anh này làm nghề cắt cỏ, trim cành, landscaping, có xe truck và nhiều đồ nghề lỉnh kỉnh để trong garage. Một dạo tôi thất nghiệp, anh rủ tôi theo làm phụ, trả 50 đô một ngày, trong khi chờ xin job thợ tiện khác. Vào mùa xuân, vườn các nhà giàu cỏ mọc cao, rác rưởi lá rụng dồn đống dơ dáy bừa bãi, cần quét dọn clean-up nên khách gọi liên tục, công việc nhiều anh phải gọi thêm mấy nguời Mễ tháp tùng. Trong đám Mễ đó, tôi quen thân với một chàng Mễ trạc tuổi tôi, tên Carlos, hiền lành chất phác... Về sau, Carlos dọn lên L.A, làm thường trực trên đó nên tôi ít khi gặp.

Thời gian gần đây, “giấc mơ Mỹ” của di dân Mễ trở thành khó khăn, tôi nhớ Carlos. Không biết số phận anh ra sao, tôi lại chuyện phóng tác này để nhớ anh bạn Mễ.

*
Carlos đi lậu qua Mỹ từ lúc hai mươi hai tuổi, đến nay đã hơn 17 năm. Là con nông dân miền quê Mễ, đời sống cơ cực, anh cùng người yêu bỏ nhà theo bạn băng sông vượt rừng qua biên giới Mỹ, lén lút chui rúc ở San Diego làm việc cho các nông trại, kiếm sống một thời gian rồi tìm đường lên Los Angeles lập nghiệp, theo cắt cỏ phụ cho một ông Mễ có xe truck đã lớn tuổi.

Một năm sau khi qua Mỹ, Carlos có được một cậu con trai, nhưng hai người không sống chung lâu, cô vợ chê Carlos bất tài, ít học, lại quá thiệt thà, không mang lại cho vợ con cuộc sống sung túc ấm no, tự động bỏ nhà lấy chồng khác, bỏ lại bé Luis lúc đó mới 5 tuổi. Carlos an phận ở lại, mướn căn chung cư tồi tàn rẻ tiền ở xóm nghèo nhiều băng đảng, cam phận gà trống ở vậy luôn nuôi con suốt 9 năm trời. Cũng may anh có người em gái noi gương anh đi lậu qua biên giới mười năm trước, được anh cưu mang mấy năm đầu, rồi nhờ nhan sắc và tánh tình dịu dàng, đôn hậu, lấy được chồng Mỹ, thành công dân Mỹ, ra ở riêng gần đó, thường qua thăm viếng và giúp anh những lúc ngặt nghèo.

Luis sinh ở Mỹ nên đương nhiên có quốc tịch Mỹ, đang tuổi teenage, học lớp 10, thông minh, đẹp trai, nên có girl friend sớm, tánh bướng bỉnh, giao du với đám bạn Mễ lười học nên Carlos cằn nhằn hoài. Mỗi lần nó xin tiền, anh bảo phải học tánh tự lập, muốn có tiền phải đi làm, cuối tuần theo anh ra Home Depot đúng chờ người gọi đi làm như anh, để biết giá trị đồng tiền. Luis sợ bạn chê cười, không chịu lao động kiểu đó, nhưng cũng thông cảm nỗi cực nhọc của cha, biết cha hy sinh rất nhiều cho mình.

Một hôm, như thường lệ, ông chủ xe cắt cỏ tới Home Depot đón Carlos lên xe đi làm. Anh ngồi bên ông chủ, buồn bã đưa mắt nhìn ra quang cảnh bên ngoài: chỗ này tụ họp một đám mấy tên Mễ hung hăng cãi lộn, chỗ kia có anh chàng Mỹ trắng ở trần lướt chạy phom phom trên skakeboard, ở bãi đậu xe một cặp vợ chồng hạnh phúc đi với bầy con ríu rít, chỗ góc đường có quán bar rượu đèn xanh tím đỏ mở nhạc xập xình...nghĩ tới cảnh hai cha con lủi thủi trong căn hộ một phòng nghèo nàn sớm tối hú hí với nhau. Chỗ ở chật, anh nhường phòng ngủ cho con có giường và bàn học, còn mình tối đi làm về mệt mỏi ngả mình đại trên chiếc sofa cũ kỹ nằm qua đêm. Anh chấp nhận số phận hẩm hiu, chỉ mong con siêng năng chịu khó học lên đại học, có việc làm tốt, thoát khỏi cảnh đời Mễ lậu vất vả như anh. Ông chủ già bỗng mở miệng tâm sự:

- Carlos, tao tính giải nghệ, bán business cắt cỏ, xe truck, đồ nghề và mấy chục mối khách cho khỏe…

- Rồi ông làm gì, bộ ở không à?

- Tao tính về xứ mua cái trại, mở quán bán bậy bạ cái gì đó để an hưởng tuổi già. Nghĩ tình mày theo tao nhiều năm cực khổ, ưu tiên bán cho mày làm chủ, khỏi làm công nữa, khỏi phải sáng sáng ra Home Depot đứng đợi tao chở đi làm...

- Tui mà có tiền như ông, tui ở đây hưởng già, không về quê đâu.

- Mày là thân phận ở lậu, không giấy tờ, có ngày tụi “cop” nó tóm cổ trục xuất về bển chứ tưởng ngon à?

- Ở lậu đâu có được phép thi bằng lái đâu mà mua xe làm chi.

- Trời... nói như mày mà nghe được. Ở xứ này phải có tiền, có tiền thì cái gì cũng xong. Muốn có giấy tờ hợp lệ, thẻ xanh, bằng lái thì phải có tiền mướn luật sư. Làm chủ business như tao một thời gian rồi sẽ có tiền. Tiếng Mỹ không rành, cứ đi làm công hoài chỉ đủ trả tiền mướn nhà, làm sao ngóc đầu lên nỗi. Thấy tao hồi xưa qua đây cũng tay trắng như mày, nhờ chịu khó mánh mung mới có giấy tờ hợp lệ, sắm xe, ngoi lên làm chủ, bây giờ dư sức về quê mua đất dưỡng già... Nè, nghe đây Carlos, tao để rẻ cái xe và business cho mày 13 ngàn thôi, người khác phải 15 ngàn. Mầy thấy đó, khách hàng tao toàn là dân nhà giàu, gần biển, villa, biệt thự, nhà lầu... một tháng kiếm mấy ngàn dư sức.

- Tui làm gì có tới 13 ngàn .

- Thì vay mượn thêm đâu đó. Hỏi em gái mày coi. Tao thấy chỗ cha con mày ở là khu nhà nghèo, toàn băng đảng, trộm cướp, đĩ điếm, xì ke ma túy... Con mày đang tuổi lớn mà ở đó hoài có ngày cũng bỏ học theo băng đảng, đánh lộn, bắn giết thanh toán, may không tù tội thì cũng có ngày tử thương, trúng đạn, tiêu tùng tương lai. Phải sớm dọn đi khu khác tốt hơn, có trường học tốt hơn cho con mày khỏi hư, muốn vậy phải có tiền, phải nhiều tiền mới dọn ở khu khác tử tế, an ninh hơn.

Nghe nhắc tới băng đảng và tương lai tối tăm của đứa con duy nhất, Carlos rúng động tâm thần. Anh nhớ lại mấy lúc gần đây, Luis hay đánh lộn ở trường, bị trường gửi giấy về báo cáo, mời lên gặp hiệu trưởng, nhưng anh lấy cớ bận đi làm 7 ngày một tuần không lên. Có một hôm, 9 giờ sáng mà Luis còn đắp mền ngủ, hỏi sao chưa đi học, nó ấp úng nói bị “suspended” hai ngày vì đánh lộn. Hỏi học hành bài vở ra sao, nó chỉ ậm ừ “OK”. Anh kiến thức chẳng có bao nhiêu, nên cũng chẳng biết cách gì mà kèm con. Nếu con học trường tốt, chơi với bạn tốt, chắc chắn nó sẽ bắt chước siêng năng, chăm chỉ nên người. Ông chủ nói chí lý, làm anh đăm chiêu suy nghĩ mãi trên đường. Nhớ có lần anh thấy nó cặp kè đi với một thằng bạn mặt cô hồn, đầu cạo trọc, hai cánh tay xâm mực anh lè. Lại nghe em gái anh nói nó có girlfriend học chung trường nữa. Anh thở dài:

- Biết là vậy, nhưng sợ tui không có đủ tiền. Ông bán xe, chắc tôi phải kiếm chuyện khác làm quá...

- Nghĩ hoàn cảnh mày gà trống nuôi con, tao thấy tội, mới nói và để dành xe cho mày trước. Suy nghĩ đi. Cho mày một tuần để suy nghĩ. Nếu không mua, tao bán người khác. Công trình tao rãi giấy mấy năm nay, có tới 50 khách sộp, kiếm 4 ngàn một tháng dư sức, chưa kể mỗi đầu năm, đi dọn vườn cho các nhà giàu…

Carlos đêm đó mở chỗ dấu tiền để dành trong closet bấy lâu, ngồi đếm chỉ được có hơn 6 ngàn. Anh ăn uống qua loa, ngả mình lên sofa, trằn trọc trở mình liên tục, không biết vay mượn ở đâu ra cho đủ 13 ngàn. Anh nghĩ tới Anita cô em gái ở downtown, hai vợ chồng đều đi làm, chắc chắn có dư tiền, nhưng thằng chồng hơi “kẹo,” không biết có cho mượn không.

Sáng hôm sau, khi ra Home Depot đứng chờ có ai gọi đi làm, anh gọi Anita hỏi thử chuyện có nên mua xe làm chủ cắt cỏ không, thì may sao cô tán thành liền, nói vô:

- Phải đó anh, em thấy anh đi làm công cực quá, nếu dịp may đưa tới thì nên chụp lấy. Làm chủ thì sướng hơn làm công là cái chắc. Kiếm người nào theo phụ anh cho bớt cực.

- Anh không có đủ tiền. Ông chủ đòi 13 ngàn trả off một lần, để ổng về lại Mễ ở luôn. Anh cần thêm chừng 7 ngàn, em nhắm có dư cho anh mượn được không? Chừng 6 tới 10 tháng là anh trả lại đủ.

- Để em coi. Chắc được, tối nay em qua anh.

Carlos mừng rỡ tươi nét mặt, ngồi chờ khách gọi đi phụ việc. Lần lượt, năm sáu thanh niên khỏe mạnh gần đó đều được khách chọn kêu đi làm, chỉ còn anh và một người Mễ trung niên trạc 50 tuổi chậm chạp bị bỏ lại ngồi chơ vơ. Ông này râu tóc lốm đốm bạc, nét mặt khắc khổ, thấy anh không có mang theo gì ăn trưa thì tự động lấy ổ bánh mì của mình bẻ ra làm hai, ân cần mời ăn. Anh lắc đầu cảm ơn, hắn cứ ép hoài, đành cầm lấy. Ăn xong may sao có người lái xe tới kêu đi phụ khiêng đồ dọn nhà, cả hai vui vẻ đu mình lên xe truck họ chở đi, bắt đầu hỏi chuyện làm quen nhau. Tên ông này là Pedro, cũng dân Mễ lậu, vợ con ở lại bên Mexico.

Tối hôm đó, Anita qua thăm anh. Sau khi nghe anh kể chi tiết về công việc làm ăn, mong có ngày đổi đời, có lợi tức khá hơn, cô móc túi ra một gói tiền đưa anh:

- Đây là bảy ngàn anh cần.

 Carlos hỏi:

- Mike có biết em cho anh mượn tiền không?

- Không, tiền này em gửi checking account riêng, ảnh không biết đâu.

Carlos đếm đủ 7 ngàn, cảm ơn em:

- Anh sẽ dành dụm trả lại em trong vòng sáu bảy tháng, em đừng lo. Nếu khá, anh sẽ dọn đi khu khác tốt hơn, ở đây thằng Luis giao du bạn bè du đãng, trộm cắp, cờ bạc có ngày sinh hư... Chỉ sợ lái xe xui xẻo bị tai nạn, bị police bắt hỏi giấy tờ không có thì không biết ra sao, không biết lấy gì mà trả lại em.

- Anh đừng nói gỡ, cứ mua xe đi làm ăn đổi đời. Lái cẩn thận. Tụi mình vượt biên qua Mỹ ở không phải là mong có cuộc sống tốt đẹp hơn sao?

                                       *
Hai ngày sau, Carlos gọi ông chủ đồng ý mua business ông hứa để lại. Ông chủ đem xe lại, đưa chìa khóa xe và cuốn sổ địa chỉ khách hàng. Carlos mở hood lên coi kỹ lại các bộ phận xe, leo lên ngồi rồ máy nổ một lát rồi xoay qua coi các máy móc cắt cỏ, dụng cụ đồ nghề. Rồi lái đi một khúc đường coi thắng có ăn không, quày lại trả tiền. Ông chủ đưa lại cho 5 trăm đô, vui vẻ chúc “good luck.”

Carlos là một người lương thiện, chất phác, dễ tin, cứ nghĩ Thượng đế đang cho mình cơ hội hiếm có đổi đời, kiếm được nhiều tiền lo cho tương lai đứa con, mà không bận tâm lường trước những bất trắc rủi ro có thể xảy ra cho mình khi bị tai nạn phải trình báo với police . Việc đầu tiên Carlos làm sau khi thành chủ xe là mua một bộ áo quần đá banh lái thẳng tới trường làm quà cho con trai, biết con thích đá banh, nhân dịp khoe chiếc xe mới. Luis nhìn xe ngạc nhiên hỏi:

- Xe của ông chủ ba?

- Bây giờ là xe của cha con mình rồi, Luis. Leo lên ba chở về!

Luis quay lại chỉ con bạn Mễ đứng bên:

- Con có bạn gái.

Con bé gật đầu chào Carlos. Luis nói nhỏ mấy câu từ giã con bé rồi leo lên xe ngồi cạnh cha, hớn hở:

- Sang năm con 16 tuổi, ba cho con lái một mình nghe.

- Phải có licence mới lái đuợc.

- Chứ ba cũng đâu có bằng lái mà lái đó.

Hai cha con cùng cười. Về tới nhà, cả hai đánh trần ra xịt nước rửa xe, lau xe, nấu bữa tối rồi lăn ra ngủ.

Sáng hôm sau, Carlos lái xe tới Home Depot, dáo dác kiếm Pedro, ông Mễ hom hem hôm nọ chia sẻ nửa phần ăn cho anh. Pedro chen ra khỏi đám thợ, bước tới coi có chuyện gì. Nghe Carlos hứa hẹn công việc bền vững, mướn mình phụ việc cắt cỏ trim cây một tuần 6 ngày, sáng mắt lên, mừng rỡ leo lên ngồi cạnh ông chủ mới. Carlos dở cuốn sổ ghi tên và địa chỉ khách hàng ra coi hôm nay cần làm mấy nhà, làm cho ai trước, rồi lái thẳng tới một ngôi biệt thự có sân cỏ mênh mông. Pedro mở cửa nhảy phóc xuống, ra sau xe mở chốt kéo bửng. Carlos phụ hắn kéo máy mower xuống, rồi máy quất, máy xén, ân cần chỉ cách xử dụng từng thứ một. Carlos thầu làm những việc khó, như leo cây dừa cao vòi vọi chặt lá khô, đào mương đặt hệ thống sprinkler tưới cỏ, còn việc dễ như cắt cỏ, trim cành, quét dọn… để Pedro làm.

Được năm ngày thì một hôm hai người tới làm cho một villa sang trọng ở Santa Monica, gần biển. Chủ nhà yêu cầu cắt bỏ những lá cọ héo úa dài xơ xác trên mấy cây palm tree cao. Carlos giao Pedro đẩy máy xén cắt sân cỏ bên dưới, còn anh lôi dây nịt bằng da có móc sắt móc vào giày và hông, lưng đeo cưa điện, hai đùi kẹp thân cây, nhanh nhẹn leo lên cao.

Lên gần tới ngọn cây, anh ngừng lại nghỉ lấy sức, lim dim hít làn gió mát trong lành từ biển khơi thổi tới, lặng người ngắm cảnh đẹp trời mây sóng nước êm đềm hiếm có ở cuối chân trời, thầm nghĩ biết đến bao giờ mới ở được một villa gần biển như vầy.

Pedro lúc đó đã cắt cỏ xong,  nhìn chiếc xe truck đậu ở lề đường cái, rồi ngước lên coi Carlos ngồi kẹt trên ngọn cây cao tít. Hai mắt láo liên, hắn vụt bỏ chạy về phía chiếc xe. Carlos vô tình không hay biết, tới lúc nhìn xuống thì Pedro đã tới sát chiếc xe, mở cửa leo lên rồ máy chạy. Hiểu ngay ý định cướp xe của tên phụ việc bất lương, lật đật leo xuống. Chân vừa chạm đất thì xe đã chạy mất hút...  anh ráng ba chân bốn cẳng chạy theo, vừa chạy vừa la làng, cho tới khi anh đuối sức bỏ cuộc.

Đón xe bus về tới nhà thì trời đã tối mịt. Chìa khóa mất, Carlos đành gõ cửa. Luis đang ngủ ngồi dậy nghe tiêng cha, chạy ra mở. Carlos đờ đẫn nín một lúc lâu mới thốt ra mấy tiếng:

- Cả xe lẫn đồ nghề bị tên Pedro cướp chạy mất rồi.

Luis sửng sốt:

- Cái gì? Ba nói thật hay nói giỡn?

Luis tung cửa vụt chạy ra ngoài ngó quanh không thấy xe đâu, hai mắt long lên sòng sọc:

- Lão già này thật khốn nạn. Sáng mai con nghỉ học đi với ba kiếm hắn…Ba biết hắn ở đâu không?

- Không. Mai ra đó hỏi chắc có người biết chỉ cho mình. Cell phone ba bỏ trên xe, nó cũng lấy luôn rồi.

Luis vò đầu bứt tóc chửi thề. Bỗng nó thấy cha cả người lạnh ngắt, thân mềm nhũn, nghoẻo đầu qua một bên, hốt hoảng rối rít gọi, cởi giày ra, đỡ hai cẳng ông lên giường, lấy mền len đắp kín mình cha, ngồi bên lo lắng. Carlos phều phào:

- Mai ba phải ráng tìm cho ra cái xe, không thì ba chết mất.

Sáng ra, hai cha con tới Home Depot, chỗ thợ đứng đợi khách gọi đi làm. Một người Mễ nói biết chung cư Pedro ở, nhưng không rõ địa chỉ. Carlos hứa trả công hắn 50$, coi như lương một ngày công làm cho người khác. Hai cha con đi theo tới một chung cư hai tầng khoảng hơn 20 units. Carlos hỏi căn hộ số mấy, người này ú ớ nói không biết. Luis nhanh trí, lấy cell phone mình ra bấm gọi sô phone cha, chú ý lắng tai nghe coi tiếng reo phát ra từ căn hộ nào. Mấy giây sau quả có tiếng reo điện thoại di động quen thuộc của Carlos phát ra từ căn hộ trên lầu. Ba người ùa chạy lên gõ cửa căn hộ đó. Một người đàn bà Á đông sợ hãi, mở cửa ra hỏi tìm ai.

- Pedro có nhà không?

- Không. Dọn đi rồi.

Hai cha con lao vào ngó dáo dác quanh quất mấy căn phòng thấy có cả chục cái giường chiếc ngổn ngang mền gối, trên đó có vài người Mễ đắp mền còn ngủ. Thì ra bà này cho đám lao động độc thân nghèo ở “share” để trả bớt tiền thuê nhà. Một ông đang nằm trong góc phòng, lồm cồm ngồi lên, hỏi:

- Anh tìm Pedro hả? Nó mới dọn đi chỗ khác tối hôm qua.

- Cái gì? Hắn ăn cắp xe hơi và đồ nghề của tôi sáng qua. Lấy luôn cái cell phone tôi bỏ trên xe.

Ông già cầm cái điện thoại di động đưa lên:

- Phải cái phone này không? Nó bán cho tôi 40 đồng. Trả lại cho anh.

Carlos móc túi lấy ra 40$ đưa lại. Luis cản:

- Sao lại trả tiền? Phone của ba mà.

- Con anh nói đúng. Đừng trả làm gì, anh mất của còn nhiều hơn tôi mà.

- Anh biết nó dọn đi đâu không?

- Nó nói nó đi rửa chén ban đêm cho một nhà hàng Mễ trong khu phố có Night Club lớn, trước một parking rộng… Chắc anh biết mà, phải không? Còn ở trọ chỗ nào thì tôi chịu, không biết.

Luis kéo tay cha xuống lầu, tới trạm đón xe buýt lên khu phố có hộp đêm lớn đó. Nhà hàng chưa mở cửa nên Carlos dẫn con tới quảng trường người Mễ gần đó. Hôm nay có cái lễ gì đó, đông người Mễ ăn mặc áo quần sặc sỡ, đàn ông đội nón, mang giày boot, đàn bà mặc váy xòe xanh đỏ, cầm cờ lũ lượt ra đường chơi.

Luis hỏi:

- Lễ lạc gì vậy ba? Giống Halloween party quá vậy.

- Lễ hội cỡi ngựa của Mexico. Ba lớn lên trong những ngày lễ đó ở Mễ. Hồi con 5 tuổi, cô Anita có dẫn con coi lễ này mà. Bạn con chút chút lúc đó toàn là dân Mễ mà…

- Con đâu phải Mễ.

Bỗng một người lên sân khấu nói micro oang oang tiếng Mễ khai mạc cuộc thi diễn hành cỡi ngựa. Luis nghe hiểu lõm bõm mấy chữ Spanish, hỏi lại cha đúng không. Carlos nhìn con âu yếm, thẩn thờ nhớ lại thời còn trẻ vất vã ở quê, những ngày bỏ nhà vượt biên qua Mỹ lây lất màn trời chiếu đất, chọn Hoa kỳ làm quê hương, sinh ra đứa con nói tiếng Mỹ, chẳng biết gì về gốc gác, nguồn cội, bất giác chớp mắt tủi thân muốn khóc.

 Hai cha con coi màn thi trình diễn cỡi ngựa xong, đi kiếm một quán nhỏ vô ngồi uống nước. Ngoài phố bống có nguời thổi kèn chơi một điệu nhạc quen thuộc. Carlos hỏi con:

- Con còn nhớ bài này không? Hồi con còn nhỏ, má hay hát bài này ru con ngủ.

Luis đanh nét mặt lại:

- Con không muốn nhắc tới chuyện đó.

Carlos chăm chú nhìn con, thở dài:

- Ừ… thì thôi. Quên má con đi.

 Luis thấy thiên hạ cười giỡn vui chơi hạnh phúc, mà cha mình thì hốc hác lo nghĩ, ăn mặc nghèo nàn, râu ria lốm đốm bạc, buột miệng hỏi:

- Sao ba khổ mà còn sinh con ra làm chi vậy?

Carlos sửng sốt nhìn con một lúc, rồi cúi mặt nói:

- Không nên nói như vậy, con. Không tốt.

- Sao tất cả các người nghèo ở đây cứ sinh con làm chi, cho khổ chúng, con không hiểu được.

Carlos ngẩn người nhìn con không biết trả lời sao, đăm chiêu một lúc, bảo con:

- Đừng nói vậy. Thôi mình đi kiếm thằng kia. Ba may còn giữ một chìa khóa “sơ cua” đây.

Rồi đứng dậy trả tiền, kéo con đi Night club. Trời đã tối, phố xá lên đèn xanh đỏ. Carlos hỏi người tiếp tân xem Pedro có làm bếp đây không. Ông này tử tế dẫn vô. Carlos đi qua khu vũ trường thiên hạ nhảy nhót nhìn quanh quất, hỏi một người nhà bếp ở đâu. Anh đẩy cửa bước vô, thấy kẻ nấu bếp, kẻ bưng mấy đĩa cơm gà đi qua, kẻ bê một khay đầy nhóc ly đi tới, anh đi quanh quất một lúc thấy ngay tên ăn cắp xe đang đứng rửa bát. Hắn liếc thấy Carlos thì tái mặt, sững người ra mấy giây, rồi ù té tuôn ra cửa sau chạy. Hai cha con rượt theo ra parking đậu xe. Luis chạy nhanh, nhảy phóng lên lưng Pedro xô ngã té xoài ra đất, hai tay thoi đấm lia lịa, thấy túi sau hắn lòi ra một tờ giấy, giựt coi nhưng giấy viết đầy chữ Spanish, đọc không hiểu, hét lên:

- Cái gì đây? Mày bán xe tao rồi à?

Carlos cầm giấy lẩm bẩm đọc trong khi Luis lấy chân đá, đạp lên mình tên trộm liên tục không thương tiếc. Thì ra đây là biên lai Pedro gửi tiền bán chiếc xe ăn cắp về cho vợ con đói khổ ở Mễ. Carlos mủi lòng, ngăn con lại:

- Thôi con, đừng đánh hắn nữa. Hắn cũng nghèo như mình.

- Ba nói sao? Nó ăn cắp xe mình mà tha à? Rồi tiền đâu mà trả nợ, dọn tới khu ở tốt, trường học tốt đây?

Luis tiếp tục đấm đá, hét vang, “Xe tao đâu? Xe tao đâu?” Carlos nổi giận la to, đẩy mạnh con ra một bên:

- Stop. Nói đừng đánh nữa là đừng đánh.

Luis vùng vằng:

- Tại sao? Con giúp ba thì ba đánh, nó ăn cắp ba thì ba tha. Ba có khùng không?

Carlos hai tay ôm con tính vỗ về phân giải thì nó gạt phắt tay anh ra, tức giận bỏ chạy mất.

                                           *
Cả đêm nó không về nhà. Sáng ra, Carlos tìm tới nhà bạn thân nó, gõ cửa hỏi thử, quả nhiên, nó ngủ đây đêm qua. Tên bạn mời vô, anh không vô, quay vào gọi Luis ra. Mặt Luis vẫn còn sắc giận, đi ra hỏi lạnh lùng:

- Chuyện gì?

Carlos móc tờ giấy nhỏ ra:

- Nó bán xe cho tụi chợ đen rồi, đây là địa chỉ chỗ chợ đen. Con muốn đi với ba tới đó lấy lại không?

Luis cười nhạt, lắc đầu đáp gọn lỏn:

- Không.

- Cũng được…ba đi một mình vậy. Mai gặp ở nhà.

Luis quay vào, tên bạn Mễ cự:

- Không ngờ mày ăn nói với cha mày như vậy. “Cool” quá hả? Tụi băng đảng hăm dọa mày, bắt đưa hai tay ra ôm sau ót thì mày sợ, làm ngay, còn cha mày nuôi nấng mày, lo cho mày, thì mày đối xử như vậy.

Luis xấu hổ cúi gầm mặt, thấy nao nao trong bụng, quay ra, tần ngần mấy phút rồi nghĩ sao, hấp tấp khoác áo vào, mở cửa chạy theo cha.

Carlos đang ngồi chờ ở trạm chờ xe buýt, thấy con tới, tươi hẳn nét mặt. Hai cha con lần theo địa chỉ tới Auto Market, chỗ bán xe lậu rẻ tiền, chờ tối mịt mới tới gần hàng rào kẽm. Khu chợ bán xe này rất rộng, bốn phía rào dây kẽm gai mắt cáo cao 3 mét, bên trong có nhà sửa xe đèn sáng có thợ còn ngồi lui cui làm việc, lại có một lính bảo vệ đứng gác gần đó. Carlos bảo con:

- Con đứng ngoài này coi chừng thằng bảo vệ, ba tìm cách leo vô trong kiếm xe. Hễ nó biết có người leo vô thì la lên, ba leo ra. 

- Nguy hiểm quá ba à…

- Đừng lo…ba biết cách…

Nói rồi anh đi dọc theo hàng rào kẽm, nhìn vô coi chỗ nào dễ đột nhập không ai thấy. Anh ném cái áo jacket khoác ngoài lên dính vào nóc tua tủa gai bén, nhanh nhẩu móc tay vô các mắt lưới leo lên nhảy vô bên trong, đi dọc theo các hàng xe đậu, kiếm chiếc xe truck màu xanh lơ. Luis cũng đi rà rà dọc theo hàng rào bên ngoài nhìn vô kiếm giúp cha. Chợt nó nhận ra chiếc truck xanh, liều mạng leo đại lên. Lúc nhảy xuống bên trong, giày nó vướng vào móc khiến nó kêu lên một tiếng làm Carlos nghe thấy, chạy vội lại, gỡ giày con ra. Luis hổn hển, chỉ tay về phía chiếc xe, lắp bắp:

- Xe kìa…

Hai cha con vụt chạy lại thì nghe gần đó có tiếng chó sủa vang. Carlos nhìn kỹ, mừng rỡ:

- May quá, còn nguyên đồ nghề bên trong.

- Ba đề máy liền đi. Mau lên!

Tiếng chó lồng lộn sủa càng lúc cáng to rồi một con chó berger to lớn ở đâu phóng mình lên “hood” xe đứng, chu mỏ rống vang. Tên bảo vệ to béo cầm súng chạy trờ tới, chỉa mũi súng vào mặt Carlos, hét to:

- Stop!

- Cúi đầu xuống ba! Luis hét lên.

Carlos rồ ga phóng đại chiếc xe chạy cán lên lớp dây kẽm gai tung ra ngoài chạy mất. Cướp xe thành công, hai cha con hể hả cười sung sướng. Tên bảo vệ đứng ngó theo lắc đầu. Luis hét lên khoái trá:

- Bravo! Chưa bao giờ con thấy mình làm được một chuyện phi thường như vậy...

- Cảm ơn con đã giúp ba. Nhờ con, mới lấy lại được xe.

Xe chạy được một khúc thì thấy lù lù một xe cảnh sát đậu đàng xa, hai cha con tái mặt. Luis bảo cha cứ bình tĩnh chạy, đừng ngập ngừng, cảnh sát nghi ngờ. Nhưng rủi thay, xe police quay đầu lại từ từ chạy theo, chớp đèn xanh đỏ loang loáng. Carlos mặt mày thất sắc:

- Thôi rồi, thằng bảo vệ nó gọi báo cáo police.

Anh đờ người ra, hai mắt đứng tròng.

Luis la lên:

- Ba cứ chạy, kệ nó.

- Không được.

Carlos tắt máy ngừng xe, nhắm nghiền mắt, thở ra một hơi dài tuyệt vọng. Viên cảnh sát bước tới cửa xe hỏi:

- Vui lòng cho tôi coi bằng lái và thẻ đăng ký xe.

- Dạ... tôi ...tôi không có đem theo...

Thế là Carlos vào nhà giam, chiếc xe bị tạm giữ, chờ thân nhân trình thẻ chủ quyền lãnh ra. Viên giám thị đọc luật lệ nhà giam cho cả trăm tù nhân nghe:

- Phải cởi đồ, quần áo giày dép, dây chuyền, nhẫn, đồng hồ, dao... ra hết giao chúng tôi giữ, các anh sẽ mặc đồng phục đồ tù, sẽ phải thử máu coi có bị HIV, ho lao, Hepatitís hay bất cứ bệnh truyền nhiễm nào không... Không được đánh lộn cãi lộn, cấm hút và buôn bán xì ke ma túy, không lập băng đảng, họp nhau thành nhóm đe dọa nhau, nếu vi phạm sẽ bị biệt giam một tuần, một tháng, hay lâu hơn... Thông tin về các anh sẽ đuợc đưa vào danh sách di dân của Bộ an ninh nội địa và thông báo cho các cơ quan pháp luật Liên bang. Mỗi tháng các anh được một cái thẻ gọi trị giá $5 do một Hội từ thiện giúp người di dân lậu ở Los Angeles cấp để gọi thăm gia đình.

Carlos âu sầu đứng chung với các tù nhân khác, có tên ở trần, đầu cạo trọc, đưa cả cái lưng xâm xanh lè, có tên nghênh ngang ngó quanh quất, mặt mày hung dữ, cô hồn. Được hai ngày thì một luật sư vô tiếp xúc với anh. Carlos nói mình không có tiền mướn luật sư. Ông này nói đây là cơ quan thiện nguyện, giúp cố vấn cho di dân lậu bị bắt, không có lấy tiền.

- Tôi không phải người của chánh phủ, tôi không làm cho Sở di trú. Tôi làm cho cơ quan thiện nguyện tư vấn giúp cho “di dân không hợp lệ” hiểu về quyền lợi của mình. Anh có quyền ra tòa nhận tội vượt biên lậu vô nước Mỹ để bị trục xuất, hay xin Tòa cho luật sư biện hộ cãi cho mình được ở lại. Anh có bằng chứng bị chính phủ Mễ trừng phạt nếu bị trả về Mễ lại không? Có lý do tỵ nạn chính trị nào không? Có thân nhân nào ở Mỹ không?

- Tôi có một con trai mới 15 tuổi, quốc tịch Mỹ. Tôi là “single parent” duy nhất của nó.

- Hiện giờ nó ở đâu?

- Ở đây, với em gái tôi ở đây, cũng quốc tịch Mỹ.

- OK, lấy lý do có con vị thành niên không thể giúp anh được “bail” ra ở tạm lại Mỹ đâu. Nếu muốn chống lại lệnh trục xuất, anh phải ở đây tới khi được gọi ra hầu Tòa, thường là 3 tới 6 tháng.

- Xin anh nói thật cho, tôi sẽ có bao nhiêu phần trăm hi vọng được cho ở lại?

- Chỉ có 3% trong các ca trục xuất di dân lậu là thắng cuộc, còn thì tất cả đều bị trục xuất về nước với con cái còn nhỏ hơn con anh nữa. Ngay cả với kẻ nhập cư lậu ở đây nhiều năm, đi làm có đóng thuế và lý lịch sạch cũng không ngoại lệ. Anh Carlos, nhân tiện tôi xin nói thật với anh, nếu như nay mai anh nhờ mấy tên “coyote” dẫn đường giỏi đưa qua Mỹ lại trót lọt, anh cũng sẽ chịu những hậu quả pháp luật sau này... nếu họ truy ra. Anh hiểu ý tôi chứ? Suy nghĩ kỹ lại đi. Anh có một đêm để quyết định. Mai cho chúng tôi biết ý định của anh.

Ông bắt tay Carlos, đứng dậy xách cặp đi. Carlos thẫn thờ một lúc, rút phone ra gọi con. Không có Luis ở nhà bắt phone, anh thở dài, để lại message.

Luis lúc đó được cô Anita chở đi học về, cho hay sẽ lấy giấy chủ quyền xe lãnh xe truck ra mang trả lại ông chủ cũ Carlos để năn nỉ xin tiền lại, vì anh đã vào tù. Cô kể cha nó ngày xưa tốt bụng, nuôi cô ăn ở trong nhà 6 năm cho tới khi cô lấy chồng ra ở riêng, cô rất đội ơn. Cô bảo Luis về ở nhà cô nuôi, nhưng nghiêm khắc cấm giao du băng đảng, bạn xấu, phải đi học về nhà đúng giờ, nếu không hai vợ chồng cô sẽ không chứa chấp nữa. Luis giận lẫy, xách cặp về nhà cũ, trong nhà đồ đạc trống trơn, bếp núc nguội lạnh, chỉ còn mấy cái soong chảo khô ráo úp trong sink. Thấy khát nước, nó mở vòi kê miệng uống, tủi thân nhớ lại ngày nào đi học về trên bàn luôn có cái bánh, trái chuối, có sẵn thức ăn cha nấu để trong tủ lạnh. Nó thấy thương cha vô cùng. Thấy cái phone chưa gỡ, có đèn đỏ chớp chớp, nó tới bấm nghe message, tiếng Carlos thủ thỉ vang lên trong máy, gọi từ trại giam, không biết gọi từ hôm nào:

- Luis, con có đó không? Con đang ở với cô hay ở đâu vậy? Ba lo cho con quá. Con đừng trốn học nghe. Con ráng nghe lời cô nghe. Ba lúc nào cũng lo lắng cho con. Chắc chắn ba sắp bị đuổi về Mễ con à, có thể mấy ngày nữa, có thể tuần sau, không biết là hôm nào... Con và cô nhớ vô thăm ba sớm sớm, coi như lần cuối cùng. Nếu tới trễ sẽ không gặp ba đâu. Không gặp lần này thì không biết bao giờ ba mới thấy con lại. Con nhớ gọi lại cho ba liền nghe Luis...

Luis mếu máo xụt xịt ứa nước mắt, mở tủ áo, kiếm áo quần, giày vớ, các vật dụng cần thiết của cha bỏ vô một xách tay, chạy qua nhà cô, nói cô ngày mai đưa mình vô tù thăm, sợ ba bị chuyển trại không cho thân nhân gặp nữa.

Sáng hôm sau, hai cô cháu vào thăm Carlos vừa lúc anh cùng các tù nhân khác đi hàng một dọc theo hành lang ra sân lên xe chuyển đi trại khác. Nhân viên nghe khách viếng thăm hỏi tên Carlos, dò trong sổ, khăng khăng nói anh đã được chuyển đi rồi, nhưng Luis mếu máo năn nỉ xin coi lại, vì mới thấy ba nó lúc nãy trong này. Anh này thấy tội, nhờ một nhân viên khác ra hành lang tìm Carlos, đưa anh trở lại phòng khách gặp thân nhân lần cuối. Hai nhân viên công lực đứng canh bên cửa, cho hai cha con ngồi giữa phòng dặn dò nhau.

Carlos nhỏ nhẹ:

- May quá cảm ơn con đã tới. Cô đưa con tới hả? Con phải ở với cô nghe, ráng học hành chăm chỉ nghe.

Luis ngoan ngoãn gật đầu dạ. Carlos bảo:

- Luis, có lần con hỏi tại sao ba nghèo mà sinh con ra làm chi cho khổ cả hai. Ba chỉ làm cái mà ở Mễ mọi thanh niên Mễ khác đều làm. Lớn lên, lấy vợ, không có việc làm, phải đi lậu qua Mỹ kiếm sống, rồi sinh con ra. Ba má thương nhau sinh ra con. Nhưng con người thay đổi. Má con đổi tánh, thấy người khác khá giả mà ba thì nghèo, không cung cấp cho má con nhưng thứ bả muốn, nên bỏ đi, bỏ lại con mới có 5 tuổi cho ba. Ba không có tiền, không có việc làm nhất định, loay hoay với con, phải vừa gửi con, vừa đi làm, vừa đi chợ, nấu ăn, đón con đi học về, con có hiểu không? Ba tức giận má con và đau khổ lắm. Nhưng có một thứ đã giúp ba vượt qua tất cả mọi cực nhọc, mọi đau khổ lúc đó, đó là CON. Săn sóc con và nhìn con lớn lên mỗi ngày là điều quan trọng nhất , là hạnh phúc đối với ba. Sau này con lớn lên, có tương lai, thực hiện đuợc những gì con mong ước là ba mãn nguyện rồi. Vì vậy mà ba sinh ra con...

Luis cúi đầu, mếu máo rươm rướm nước mắt. Carlos tiếp tục thủ thỉ:

- Ba xin lỗi đã thất bại không lo nỗi cho con tới lúc nên người. Ba dở quá. Ba nào có muốn thấy con tới thăm ba trong tù như vầy. Cũng vì mong con có cuộc sống tốt hơn, ba đã dại dột mượn tiền mua xe truck, bị bắt vô tù, làm hỏng đời con như vầy. Ba đã sai lầm lớn, bỏ rơi con, làm hại đời con.

Luis hai mắt đỏ hoe, xụt xịt khóc ra tiếng, lắc đầu:

- Không, không, ba chưa bao giờ thất bại. Ba là người cha tốt. Ba luôn luôn có mặt bên con, quan tâm tới con mỗi khi con cần. Ba nhớ bài hát mình nghe hôm lễ hội thi cưỡi ngựa không? Bài đó, ba hát ru con ngủ lúc con còn nhỏ xíu hoài, làm sao mà con quên được...

- Con hứa với ba về ở với cô, nghe lời cô, học hành cho tốt nghe con...Đó là mong ước duy nhất của đời ba đó con...

Luis khóc nức nỏ:

- Ba cũng hứa với con sẽ trở lại Mỹ với con nghe. Đừng bỏ con một mình ở đây. Ba hứa nghe...Ba...

Hai nhân viên công lực tiến lại bên Carlos, năm tay anh nói:

- Hết giờ rồi. Phải đi thôi.

Carlos chớp chớp mắt, cố giữ không khóc, nằn nì xin thêm vài phút. Hai cha con đứng dậy ôm chầm lấy nhau một lúc nức nở, rồi sau cùng đành buông con ra, theo họ ra ngoài.

Em gái anh, Anita, đứng bên ngoài hàng rào kẽm, thấy anh đi ra gia nhập hàng người chuyển đi trại khác, xúc động đăm đăm nhìn theo anh tới lúc tất cả các tù nhân lên xe bịt bùng chuyển bánh... 
                                                              
 *
Bốn tháng sau...

Luis trở thành một cầu thủ xuất sắc của đội banh nhà trường, gần nhà cô ruột, học hành tấn tới, đuợc bằng khen mang về cho cô. Cùng lúc đó, giữa biên giới Hoa kỳ và Mễ, người cha đáng thương Carlos đội nón rơm, vai mang ba lô, tay xách bị, lầm lũi cùng mấy chục người Mễ bị trục xuất hướng về phía đồng quê nghèo nàn trực chỉ. Lo lắng không biết ngày nào mới có dịp trở lại phía Bắc gặp đứa con yêu...

Phạm Hoàng Chương

Blog Archive