Showing posts with label Triều Phong (TPN). Show all posts
Showing posts with label Triều Phong (TPN). Show all posts

Monday, May 16, 2022

Ân tình một cõi, trời Tháng Tư!

Tác giả VVNM Triều Phong (áo vest đen)

*
Dưới ánh mặt trời như thiêu đốt làm bầu không khí rung rinh, nhảy múa đến lóa mắt, đoàn tù nhân đi chân không, ở trần trùng trục, chỉ mặc độc nhất cái quần xà lỏn, vài người đầu đội các chiếc nón cũ kỹ, rách rưới mà họ lượm được đâu đó, đang mệt nhọc lê thân xác mỏi nhừ sau một ngày lao động vất vả trở về trên con đường đất đỏ nóng hừng hực khiến chân họ muốn bỏng, vai thì đỏ và rát bởi nắng cháy.

Hai bên đường, rẫy được tù nhân khai khẩn rộng thênh thang, chạy ngút mắt đến tận bìa rừng chỉ chừa lại những gốc rạ khô cằn sau mùa gặt. Giữa cánh đồng một cây Cầy cháy sạm, còn trơ lại vài nhánh đen đúa, cháy dở, chơ vơ chĩa lên cao như cố chống giữ lấy bầu trời to lớn tạo cho khung cảnh một nỗi buồn thê lương như phận người tù ở trại Đồng Phú này!

Khi đến cổng trại, tất cả ngừng lại. Thằng Phương mắt lé cầm cái cây mà ban sáng hắn bẻ bên đường làm roi, đứng bên ngoài la lớn:

-Tất cả bỏ hết “nùi giẻ” xuống nè!

Những người đang đội nón lục tục tháo chúng ra cầm tay trong khi hắn đi lên đi xuống xem xét mọi người đã đứng ngay ngắn chưa? Lúc ngang qua tôi, Phương lé bỗng chợt nhảy xổ vào “hàng quân” quất lia lịa lên người “thằng sắp chết” đứng trước tôi khiến thằng nọ giơ cánh tay khẳng khiu đầy ghẻ chóc lên đỡ, miệng la inh ỏi. Phương đay nghiến:

-Đ.m. mày đứng vậy mà coi được hả mậy?

“Thằng sắp chết” biết thân không nói gì. Nó nhìn người bên cạnh rồi chỉnh lại cho thẳng hàng hơn. Trong khi ấy thằng Phương lé bước ra ngoài ngó lên ngó xuống thêm một lúc nữa rồi hét to và kéo dài:

-”Nghiê…ê…m!”

Những người tù đồng loạt cho hai gót chân chụm vào nhau như cái máy, yên lặng. Anh Hiển đứng cạnh tôi cầm chiếc nón rộng vành của phụ nữ anh vừa tháo xuống vừa làu bàu nho nhỏ “đù mạ!”

Sau đó Phương lé bước đến chòi canh, nơi có một thằng cán bộ trực đang ngồi. Hắn sửa áo quần chỉnh tề lại và bỏ nón ra, đoạn đứng nghiêm trang nói lớn:

- Báo cáo cán bộ! Tôi; cấp trưởng đội Tám, trực ban hiện trường, xin báo cáo cán bộ quân số đi làm hôm nay trở về là chín mươi chín, đủ! Chờ lệnh cán bộ cho nhập trại!

Tên cán bộ mặt non choẹt, chưa tới hai mươi tuổi chẳng nói tiếng nào, vừa giở sổ vừa ngáp vắn ngáp dài xem một đổi rồi ngẩng đầu lên lạnh lùng buông gọn:

-Đi!

Đoàn người lặng lẽ bước vào trong, về đội. Trước cửa lán, tên đội trưởng Khoan ở trần phơi nước da trắng phau, đứng bệ vệ để lộ cái bụng phệ của kẻ có quyền uy nhìn mọi người với đôi mắt cú vọ, dò xét. Tối đến, sau khi cơm nước xong xuôi đám tù được tự do sinh hoạt trong đội chờ giờ ngủ. Tôi lấy một ít trà “móc câu” và vài cục kẹo dừa Bến Tre mà ba tôi vừa mang lên thăm nuôi hôm chủ nhật tuần trước rồi mò xuống chỗ anh Hiển tán dóc. Thằng Hòa “móm”, em anh Hiển; vốn là bạn học ở Taberd với tôi mà tình cờ hai thằng gặp lại trong chốn địa ngục này, đang nằm vội lật đật ngồi dậy xách lon Guigoz xuống cuối lán nấu nước sôi. Sau khi bày trà kẹo ra mấy miếng ván kê làm chỗ ngủ xong xuôi ba anh em tôi quây quần lại. Anh Hiển lên tiếng:

-Đôi giày Bata thằng Hùng “đội phó” lấy rồi hả?

Tôi gật đầu:

-Hôm kia nó đến nói tù không được phép mang giày ra hiện trường và bảo chân em với nó chắc cùng cở nên xin rồi. Em đâu biết mình bị cấm nên kêu nhà mang lên bây giờ giữ lại chỉ mang họa, thôi cho mẹ nó cho rồi!

Anh Hiển bất mãn lại chửi đổng “đù mạ,” đoạn chắt lưỡi lầm bầm:

-Ngày xưa đi máy bay không chịu, để cuối cùng đi ghe cho chúng bắt chửi bới hành hạ, đè đầu đè cổ. Đau thật!

Tôi hiểu ý anh muốn nói tới cuộc di tản năm 1975 của anh bởi đã có lần anh kể cho tôi nghe chuyện ấy. Anh vốn là trung úy không quân lái A37 của VNCH tại Đà Nẵng. Hồi nhỏ tôi đọc tin tức còn nhớ báo chí mô tả việc rút quân bỏ Đà Nẵng này vô cùng kinh hoàng nên đêm nay trực diện với nhân chứng của một biến cố trong khúc quanh định mệnh của lịch sử, tôi tò mò muốn tìm hiểu tường tận hơn nên khơi mào:

-Anh chạy từ Đà Nẵng về Saigon ngày ấy chắc ghê lắm há?

Anh Hiển hớp một ngụm trà nóng đang bốc khói thơm lừng, hai tay vân vê cái ly, mặt trầm ngâm, mắt nhìn vào cõi hư không một đổi khá lâu mới chậm rải cất tiếng:

-Ngày 20 tháng 03, tao tới nhà cô bạn gái trên đường Phan Chu Trinh thăm cô ấy và xem tình hình thế nào thì ông già cô ta gợi ý nhờ tao đưa cổ đi vô Saigon nơi ông có người anh đang ở Thị Nghè để lánh nạn vì sợ rủi cộng sản chiếm được Miền Trung thì sẽ bắt đàn bà con gái làm “hộ lý.” Tuy nhiên cô nàng bảo nếu đi thì đi hết rằng không thì thôi vì cô ta không muốn xa cha mẹ. Nhưng tình hình ngoài đó lúc ấy đang nguy ngập lắm rồi bởi dân chúng từ Huế chạy vô khi bị Việt Cộng pháo kích khiến an ninh trật tự xã hội vô cùng hỗn loạn do đó việc kiếm đường di tản cả nhà không phải dễ nên ông già hy sinh, cương quyết buộc cổ đi, ông bà thì chấp nhận ở lại!

Nói xong anh thò tay lấy cục kẹo dừa, chậm rải tháo bỏ miếng giấy bọc bên ngoài đoạn bỏ vào miệng ngậm thật lâu không biết là để tận hưởng vị ngọt và mùi thơm của nước dừa hay đang nhớ lại nỗi cay đắng của một người lính đành bỏ đơn vị khi thất thủ mà yên lặng không lên tiếng tiếp tục? Thằng Hòa em anh có lẽ đã nghe anh nó kể nhiều về nỗi nhục nhằn này rồi nên bình thản không nói gì nhưng tôi thì sốt ruột quá vội mở miệng giục:

-Sao nữa anh?

Anh hớp thêm một ngụm trà, chắt lưỡi:

-Ba ngày sau, tao từ phi trường chạy đến đón và đưa cô ấy vô phi trường và đi trên chuyến bay 727 mà tao đã sắp xếp với phi hành đoàn quen biết nhưng phải thật là khó khăn mới đưa cô ta lên được vì lớp nào là nhân viên Mỹ với thân nhân của tụi nó, rồi lính tráng mình với gia đình và thiên hạ giành giật leo trèo thoát thân, khủng khiếp lắm. Đúng là một cảnh hỗn quan hỗn quân!

-Anh đi luôn chuyến này? Tôi hỏi.

-Không! Cô nàng bảo tao lên luôn nhưng hồi ấy chưa có lệnh triệt thoái nên tao đâu dám bỏ đơn vị hơn nữa mình cũng không nỡ bỏ chiến hữu đành bảo cô đi trước rồi sẽ gặp lại sau và tao ở lại với anh em cùng ông thầy tao. Tao còn nhớ trước ngày mất Đà Nẵng, phi đội A37 của tao còn được lệnh thả bom phá cầu ngăn không cho tăng của tụi nó từ Huế vô mà! Trưa ngày 29 tháng 03, khi thấy tình thế không cứu vãn được cả bọn mới tính về phi trường Biên Hòa nhưng tụi tao chỉ bò không thôi mà vẫn không ra máy bay được vì phi trường bị pháo kích dữ dội. Cuối cùng thì tan hàng, tao và một thằng trung úy khác đi nhờ xe quân xa của bộ binh về hướng biển một đoạn rồi xuống đi bộ tiếp khi xe này bị dân chúng đu theo quá tải không chạy tiếp được. Đâu đến ba bốn giờ chiều bọn tao tới bãi biển thì thấy lính và dân đông nghẹt. Thằng bạn tao là dân địa phương ở đây nên dẫn tao len lỏi qua mấy xóm chài tới một bãi khác. Trong lúc hai thằng còn đang lớ ngớ thì nghe dân chúng chạy tán loạn và la hoảng là du kích đang dẫn Việt Cộng tới làm tao và thằng kia quýnh quáng nhảy xuống biển lội bừa ra ngoài khi cộng sản rượt sắp tới đít, may nhờ các ghe nhỏ xung quanh vớt đưa lên tàu hải quân của mình về Saigon chứ không thì chẳng biết đã ra sao?

Anh hạ giọng buồn thiu, nói nhỏ đủ mình tôi nghe. Tôi đỡ lời anh:

-Bạn gái anh làm gì ngoài ấy?Anh có gặp lại khi vô Sài Gòn không?

-Có. Tới Sài Gòn là tao chạy kiếm cô nàng coi có an toàn không liền. Hai đứa mừng mừng tủi tủi lúc hội ngộ bởi không ngờ lại phải vừa trải qua một hành trình kinh hoàng như thế và cũng chẳng bao giờ nghĩ đất nước lại tang thương vậy. Rồi như chợt nhớ ra điều mình quên, anh nói thêm:

-À ,cô ta làm ở ngân hàng. Mà cũng không ngờ đó là lần gặp mặt sau cùng của tụi tao!

-Ủa, tại sao?

Tôi vừa hỏi vừa vói tay châm thêm trà cho từng người trong lúc anh mơ màng:

-Do tao có hứa với cô ta là để tao trình diện theo lệnh tái phối trí xong rồi sẽ trở lại thăm cổ. Nhưng lúc tao nhận nhiệm vụ mới ở phi trường Tân Sơn Nhất thì bị kẹt lại trong đó luôn bởi phải ứng trực 24/24, không được phép ra ngoài cho mãi đến tận trưa 30 tháng 04 khi đất nước tan hoang và trong lúc tao bối rối chưa biết chạy đâu thì được thằng bạn dùng trực thăng bốc ra biển. Đến lúc nhìn xuống thấy vô số tàu thuyền lớn nhỏ cùng nhiều chiến hạm bên dưới đang hướng ra biển Đông tao bỗng bồi hồi vì biết đây là thời khắc cuối cùng của mình vì sắp phải vĩnh viễn bỏ quê hương nên chợt nhớ má tao đang mong ngóng mình nên tao quay qua thằng bạn “pilot” nhướng mắt:

-Sao mậy?

Tao chỉ có hỏi thế là nó bỗng quay đầu bay vô lại đất liền. Sau này trong trại cải tạo tao có hỏi nó chuyện này nó nói rằng lúc ấy nó đang nghĩ nhiều về ba mẹ cùng các em của nó ở nhà thì câu hỏi của tao giống như là “giọt nước tràn ly.” Âu cũng là định mạng và tao với nó thì có số ở tù!

Tôi thấy mặt anh ảo não quá nên đùa cho vui:

- Vậy là về và có “hai má” luôn?

Anh Hiển bật cười thành tiếng và lại chửi thề:

-Được vậy cũng đỡ. Lúc tao đến nhà bác của nhỏ bạn bên Thị Nghè thì thấy vắng hoe không có ai.Tao đành lang thang ở Saigon vài bữa rồi trở lại thì thấy nhà bị chính quyền niêm phong. Hỏi thăm hàng xóm thì họ bảo nhà này đã trốn đi nước ngoài, té ra là trong lúc lộn xộn cô bạn tao đã theo gia đình người bác di tản mất biệt. Tao buồn quá tìm cách về Huế thăm bà già rồi bị bắt đi tù tới năm 1981 mới được thả ra. Tưởng thế là yên ai ngờ ở nhà bị đám công an địa phương hành chịu không nổi nên phải tính kế vượt biên mới gặp được mày đây. “Đù mạ,” đúng là có số ở tù hoài!

Tiếng kẻng báo ngủ bỗng vang lên inh ỏi, mọi người lục tục trở về chỗ nằm. Đêm ấy tôi cứ trằn trọc mãi về câu chuyện của anh Hiển đến khuya mới chợp mắt được.

Lần ấy tôi may mắn vì ba tôi chạy lo trúng “tuyau” nên tôi được thả về trước thời hạn. Anh về sau, không dám ở Huế mà vào Sài Gòn sắm một xe đẩy lưu động bán đồ phụ tùng xe đạp trên đường Nguyễn Văn Thành để sinh sống và có đến thăm tôi. Từ dạo đó mỗi khi rảnh rỗi chúng tôi thường la cà các quán xá ở khu vực chợ Bà Chiểu-Gia Định, không cà phê thuốc lá thì thỉnh thoảng lại say cho quên sự đời!

Lúc này anh Hiển có vẻ chấp nhận số phận vì không còn khả năng tìm sinh lộ nữa trong khi tôi lại “trầy vi tróc vảy” thêm hai lần tù tội nhưng vẫn cố giữ liên lạc với nhau. Đầu năm 1989 từ Phòng Điều Tra Xét Hỏi của trại tạm giam tỉnh Tiền Giang trở về, tôi ghé thăm khi anh đang buôn bán. Anh mừng rỡ lúc thấy mặt tôi và sau lần ấy tôi được anh cho biết anh đang chờ đợi đi chương trình HO (The Humanitarian Operation.)

Tôi không thể sống với cộng sản nổi nên lại ra khơi tới được Phi Luật Tân dù lúc này các trại tị nạn đã đóng cửa nhưng rồi bị kẹt ở chốn này gần mười một năm trời. Tôi không biết anh Hiển có đến được Hoa kỳ không nhưng lúc vô được Mỹ thì tôi đã tìm anh qua mọi phương tiện thông tin có thể nhưng vẫn bặt tin.

...Năm 2016 tôi về Việt Nam lo tang chế cho mẹ tôi. Một hôm tôi vô tiệm phở rất nổi tiếng gần nhà để ăn sáng thì bất ngờ thấy bóng một người tiến sát tới bàn tôi ngồi giơ tay chỉ mặt:

-”Đù mạ!”

Tự nhiên nghe ai chửi bất ngờ tôi nhìn lên và giật thót mình khi thấy anh Hiển đang đứng trước mặt dù anh có già đi khá nhiều. Quá mừng rỡ tôi đứng bật dậy ôm anh và suýt tí nữa là đổ cả tô phở đang ăn dang dở. Thế là sau khi ăn xong phở hai anh em tôi kéo nhau qua một quán cà phê “ sân vườn” râm mát trên con đường Rừng Sát ngày xưa tâm tình. Anh mở lời giải tỏa thắc mắc của tôi:

-Tao đi HO. Kỳ này về lo thu xếp cho đứa cháu gái lên ở lo cho bà già ngoài ấy. Bà cụ chín mươi sáu tuổi rồi, bây giờ yếu lắm hết đi nổi rồi.

-Anh có phước hơn em, còn mẹ. Em thì mới lo đám ma má em xong!

-Chia buồn với mày! Đợt ấy mày đi rồi, một thời gian lâu không thấy mặt mày, tao sinh nghi mò vô nhà mày thăm. Gặp ông già mày, ổng bảo mày tới Phi Luật Tân tao cũng mừng. Ai dè mày kẹt ở đó quá lâu. Thôi “tiền hung hậu kiết,” dẫu sao thì tụi mình cũng qua Mỹ hết. “Chậm cũng còn hơn không (better late than never)!” Mà mày qua Mỹ năm nào?

Tôi chép miệng:

-Năm 1999. Còn anh? Có gia đình chưa?

-Tao qua Mỹ cuối năm 1991. Đầu tiên ở Silver Spring, Maryland. Tao lập gia đình năm 1996, bà xã là người làm chung hãng, dân vượt biên. Quê bả ở Rạch Giá, tao có một con gái sinh năm 1997 và thằng em nó sinh sau nó một năm.

Sau một lúc hàn huyên tôi mới biết anh từ Huế vào đây để chuẩn bị về lại Mỹ. Anh vô sớm một hai hôm, mướn khách sạn trên đường Lê Quang Định và đi lang thang chốn này vì muốn thăm lại nơi từng một thời cưu mang anh khi anh khốn khó. Nhờ đó mà hai anh em mới có dịp gặp lại nhau!

Tôi ngồi chăm chú nghe anh nói:

-Vậy là anh có một trai một gái. Tính đến nay thì mấy cháu trưởng thành hết rồi.

Anh lắc đầu:

-Lớn chứ chưa trường thành. Con chị thì đang học đại học năm thứ hai sau này muốn làm nha sĩ, thằng kia thì mới vào được Air Force Academy năm nay.

-Wow, giỏi vậy. Đúng là “hổ phụ sinh hổ tử rồi!” Tôi ngạc nhiên ồ một tiếng lớn.

Anh gật gù, mắt nheo nheo qua khói thuốc vừa nhả đang lượn lờ trên cao trầm ngâm:

-Nó hay nghe tao kể về đời tao, nhất là cuộc di tản 1975 mỗi khi Tháng Tư về. Chắc mấy lúc đó thấy tao bực bội sao đó mà năm học lớp 11 thì nó bảo nó muốn nối chí tao. Thật sự ra may nhờ nó học giỏi chứ dỡ thì muốn nói chí cũng không được.

-Nó chắc phải xuất sắc vì Academy không dễ vô đâu anh hả?

Nghe tôi hỏi, anh nói một lèo:

-Trước tiên là điểm GPA của mày phải cao, thằng con tao được 4.30. Sau đó nó lấy cái ACT được 33/36. ACT là American College Testing mà mọi học sinh phải thi để các trường đại học căn cứ vào đó chọn. Ngoài ra nó phải làm cái bài thi của Học Viện Không Quân Hoa Kỳ nữa. Con tao được 96/100 điểm nên về học lực là OK. Vấn đề còn lại là khám thể lực (physical exam) vì dù mày học giỏi mà sức khỏe yếu thì vẫn bị loại như thường. Ví dụ như họ đòi trong hai phút mày phải hít đất (push ups) sáu mươi bốn cái trở lên mới được. Rồi còn nhiều thứ khác nữa như họ xem mày có năng khiếu thể thao, khả năng lãnh đạo (leadership) chăng? Thành tích sinh hoạt ngoại khóa mấy năm trung học của mày ra sao? Có tinh thần thiện nguyện, dấn thân không…. Đặc biệt là phải có thư giới thiệu (Letter of recommendation) của thượng nghị sĩ hoặc dân biểu tiểu bang…Do đó đứa nào ra trường được thì thường là thứ dữ không hà, bởi dù có được nhận vào học rồi mày vẫn có thể bị đuổi ra do học không nổi, chịu khổ không được hoặc phạm tội do kỷ luật rất khắt khe…Bởi vậy thằng con tao đến phòng tập thể dục (Gym) mỗi ngày để rèn thể lực dữ lắm mới được đó mày ơi!

Tôi nghe anh nói như “vịt nghe sấm,” cuối cùng lên tiếng:

-Chúc mừng anh!

-Chưa yên đâu. Bà con tao cũng có con được Academy nhận năm ngoái và trong thời gian chờ đi học nó bỗng bị “overweight.” Trường cử người tới giúp nó tập giảm cân. Sau hai tháng mà chẳng xong thì vẫn bị loại như thường!

Tôi lè lưỡi:

-Ghê hả? Nhưng thôi, đời anh vậy là an nhàn rồi, bây giờ cứ tàng tàng thôi, đâu cần phải chạy đôn chạy đáo như thuở xa xưa nữa há!

Nghe tôi nói tới thời xa xưa thì hình như quá khứ đã nhắc anh nhớ lại dĩ vãng nên anh vỗ đùi cái “chát” chồm qua bàn cà phê hỏi tôi:

-Ê, mày nhớ cái vụ con bồ tao mà tao kể mày hồi đó không?

-Nhớ. Sao? Tôi phấn khích vì tò mò.

-Năm 1992 tao…à không, đầu 1993 thì đúng hơn. “Saving account” của tao bị trục trặc, tao phải tới ngân hàng để điều chỉnh. Cô nhân viên ở đây gọi “manager” vào giải quyết vấn đề của tao. Khi bà “manager” vừa bước vô thì cả tao và cổ đều nhìn nhau như trời trồng, không thốt nên lời!

-Bạn gái cũ anh?

Anh gật đầu.

-Ừ, tên cô bạn tao là Diệu. Dù nhiều năm trôi qua nhưng hai đứa vẫn nhận ra nhau, nghẹn ngào. Sau khi lo giúp tao xong thì cũng sắp tới trưa, Diệu mời tao qua nhà hàng Nova Europa gần đó ăn trưa luôn.

Anh Hiển ngừng lại, mắt mơ màng.

…Giờ này còn hơi sớm nên thực khách chưa nhiều. Diệu chọn chiếc bàn trải khăn trắng sát trong góc phòng. Anh nhường cho Diệu lựa thức ăn cho hai đứa, Diệu không khách sáo vì nàng đoán anh chắc chưa đến đây nên không muốn làm anh khó xử. Trong khi Diệu chọn món ăn thì anh ngồi quan sát xung quanh. Lần đầu tiên vô đây anh phải công nhận nhà hàng Portuguese này bày trí trang nhã, thanh lịch tạo cho người ta một cảm giác thoải mái. Tiếng”mélodie” du dương nhè nhẹ của bản nhạc quen thuộc “come back to Sorrento” làm anh bâng khuâng. Anh ngó xung quanh cuối cùng ánh mắt anh đọng lại nơi Diệu. Anh ngắm nàng thật lâu, ngó chiếc nhẫn cưới lấp lánh trên tay nàng mà nghe mất mát dâng cao. Diệu bây giờ đẹp quá, quý phái quá, mùi nước hoa Chanel No 5 từ người nàng tỏa ra, phảng phất làm anh bần thần. Kêu đồ ăn xong Diệu ngẩng đầu lên thấy anh đang nhìn mình chăm chú, nàng hơi bối rối nên lên tiếng phá vỡ bầu không khí nặng nề giữa hai người:

-Anh đi HO qua đây phải không? Năm nào vậy?

Anh gật đầu ngay và kể một mạch về những ngày cuối cùng của Tháng Tư,1975. Anh chỉ dừng lại khi người bồi nhà hàng mang thức ăn ra. Lúc cầm muỗng nĩa, anh nhìn sâu vào mắt nàng nói:

-Anh xin lỗi, ngày đó đã..đã…lỗi hẹn với em. Em làm ngân hàng bao lâu rồi? Gia đình em… thế nào?

Đang nhai, Diệu chợt ngừng lại rồi nuốt vội thức ăn trong miệng xong mới nói bằng giọng hơi run do xúc động:

-Anh biết ngày ấy tình thế hỗn loạn vô cùng mà không thấy anh, em sợ quá, và cũng không liên lạc được với ba mẹ em ngoài Đà Nẵng vậy là cuối cùng em phải theo cả nhà bác em chạy vô Tân Cảng bên cầu Sài Gòn rồi xuống được một chiếc tàu sắt đi luôn. Em sang Subic Bay đoạn đến Pendleton, tháng 11, 1975 là vào Mỹ!

Nàng dừng lại một tí, khi đã bình tỉnh hơn:

-Em cũng liên lạc các chỗ tìm thân nhân, kiếm anh khắp nơi. Lúc ấy em định cư ở “uptown” của thành phố Saint Paul, Minnesota và vừa đi làm vừa đi học. Sau hai năm không tin anh em chẳng biết anh đã ra sao, chết hay bị cộng sản bỏ tủ? Năm 1980 em ra trường về “accounting” đi làm cho nhà bank. Năm 1981 em dọn về Houston, Texas, trốn lạnh và gặp ông xã em cùng làm chung ngân hàng. Em cũng xin lỗi anh vì không thể đợi anh khi em không biết gì về anh sau ngày đau buồn kia. Chồng em người Mỹ gốc Ireland, tụi em có hai trai và một gái. Thằng mười một, thằng mười, nhỏ gái út thì tám tuổi. Má chồng em ở đây nên ông xã em phải “move” về đây năm 1990 để săn sóc má ảnh sau lần bà bị té!

Diệu bấy giờ nói mạnh dạn và cứng rắn hẳn lên, có lẽ đã giải tỏa được niềm u uẩn chất chứa trong lòng bao nhiêu năm nay:

-Em mừng cho anh cuối cùng cũng tới được đây. Em luôn tin lời Phật dạy “ở hiền gặp lành” đó anh. Chúng ta không thành vợ chồng thì chắc là có duyên mà không nợ. Thôi thì mình coi nhau như anh em. Bây giờ ở đây, anh cần gì cho em hay em sẽ giúp anh bằng mọi cách em có thể. Và em cũng xin cám ơn anh ngày xưa đã giúp em di tản vô Sài Gòn. Vì nếu không có ngày ấy thì không biết em giờ ra sao?

Câu chuyện anh Hiển kể tôi nghe làm tôi cứ tưởng như mình vừa xem xong một phim “drama!” Tôi bùi ngùi:

-Thế từ đó anh còn gặp lại chỉ không?

-Không! Anh lắc đầu nhè nhẹ.

Im lặng một lúc, anh kết thúc câu chuyện:

-Tao coi như Tạo Hóa an bài. Tất cả là định mệnh. Ân tình ngày tháng đó của tụi tao kể như là do vận mệnh của đất nước quyết định. Đành phải thuận theo quy luật của chiến tranh thôi. Nhưng dẫu sao thì cũng buồn và đau nên tao dọn qua Baltimore, làm ở hãng đóng đồ hộp và gặp vợ tao ở đây.

…Hôm nay Tháng Tư năm xưa lại đến, thoáng cái mà đã bốn mươi bảy năm trôi qua. Đời như một…giấc mộng Nam Kha! Tôi nhủ thầm.

OH, kỷ niệm Tháng Tư buồn.

Ngày 12 tháng 04 năm 2022

Triều Phong (TPN)

Saturday, February 23, 2019

Ý Xuân Tuyết Trắng



viet ve nuoc My (1)
Lễ chào quốc kỳ VNCH tân xuân Kỷ Hợi tại Dayton, Ohio.


Sáng mùng Sáu Tết năm Kỷ Hợi 2019, trời trở lạnh lại sau vài ngày khá ấm tuy thế vợ chồng con cái chúng tôi vẫn nô nức chuẩn bị đi chùa Lễ Phật.

Để cho con nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa về sự thiêng liêng của phong tục Tết Nguyên Đán, ngay từ khi trời còn chưa sáng hẳn tôi đã thức dậy chuẩn bị áo quần cẩn thận cho hai cha con nhằm muốn dạy cho con biết sự ăn mặc tươm tất, chỉnh tề tới chùa trong ngày đầu năm mới là chuyện bắt buộc cần thiết.  Bởi ngoài cái chuyện “người đẹp nhờ lụa” thì đây còn là sự thể hiện của lòng kính Phật, trọng Tăng nữa!

Sau khi sửa soạn xong chúng tôi sang Springboro; là thành phố cạnh bên để đón nhạc mẫu tôi vào lúc chín giờ.  Mẹ tôi sau khi bi té cách nay vài năm thì bây giờ sức khoẻ của bà yếu đi rất nhiều, bà đứng bằng “walker,” bước phải có người dìu đỡ nhưng bà vẫn tha thiết muốn được đến chùa lạy Phật, thăm thầy.  Ước mơ đơn giản và nhỏ nhoi ấy của người già ở Mỹ này coi vậy mà không dễ dàng thực hiện được do tình cảnh neo đơn hay con cái bận bịu mưu sinh thế nên chúng tôi cũng cố gắng đưa bà đến chốn tôn nghiêm ít nhất là một lần vào ngày đầu năm để bà thỏa mãn ước nguyện và tìm chút bình an trong tâm hồn.

Vì là chủ nhật, thời tiết lại giá lạnh nên ít xe cộ lưu thông.  Đường sá vắng ngắt, những đồng cỏ  mênh mông ở hai bên đường tàn úa, trắng bệt, nằm đông cứng làm cho khung cảnh mùa đông tại đây buồn tênh. 

Cũng như mọi năm, Chùa Tịnh Quang ở Dayton, Ohio sẽ cử hành lễ vào lúc mười giờ.  Khi tới nơi chúng tôi thấy đã có một số phật tử tề tựu trong và ngoài chánh điện rồi.  Đàn ông thì có một ít vị trang trọng trong các bộ âu phục thẳng nếp, phụ nữ thì đài các, tha thiết lộng lẫy trong những chiếc áo dài gấm hoa đầy màu sắc, bay phất phới trong mỗi bước đi, trẻ em được cha mẹ cho ăn mặc đẹp đẽ, đặc biệt là các bé trai bé gái thì rực rỡ trong mấy chiếc áo dài khăn đóng nhỏ xíu vô cùng xinh xắn khiến cho không khí vui tươi rộn ràng hẳn lên. 

Chùa lúc này được trang hoàng lộng lẫy hơn với các hoa đăng đỏ treo lủng lẳng hai bên lối đi.  Dưới chánh điện, phía bên trái có trưng bày một cây mai vàng thật to và cây đào lại khoe mình đỏ thắm bên phải, tuy là các cây giả nhưng đó là biểu tượng mùa xuân của người Việt lưu vong đang sống nơi xứ tuyết.  Trên chánh điện hoa quả xanh tươi được bày biện rất nhiều dưới ánh đèn sáng choang, hào quang lấp lánh.  Nơi hậu điện, bàn thờ tổ và hai bàn linh cũng đầy hoa quả với hương trầm thơm ngát.  Nhìn chung cả chùa ngập tràn hai màu đỏ vàng; màu của an bình thịnh vượng.

Đúng mười giờ mười lăm phút Cô MC dẫn chương trình mời mọi người vào trong chánh điện để hành lễ.  Sau khi Ban Cung Thỉnh mời Thầy Trụ Trì, Thượng Tọa Thích Tâm Hiền và Sư Cô Thích Nữ Như Hương vào chánh điện xong thì Thầy đã khai mạc buỗi lễ bằng một huấn từ ngắn gọn đoạn cùng mọi người tụng kinh Bát Nhã khai xuân nhân dịp đầu năm.  

Kế đến Phật Tử Nguyễn Thảo Phương đăng đàn tiếp nối chương trình để cảm tạ các vị ân nhân đã đóng góp tịnh tài, tịnh vật, công sức cho Hội Chợ  Tết, do Chùa Tịnh Quang tổ chức Văn Nghệ Mừng Xuân Kỷ Hợi 2019 vào Chủ Nhật, ngày 03 tháng 02 năm 2019 tại Unity Banquet Center  trên đường Cincinnati, Dayton, OH bằng phần trình diễn của Ban Nhạc Tuấn Phong với sự góp mặt của nghệ sĩ khiếm thị Nguyễn Đức Đạt và ca sĩ Thành Lễ cùng nhiều anh chị em khác để gây quỷ thỉnh tượng Phật cho chùa sắp tới.

Và đặc biệt hơn; đây là năm thứ hai trong chương trình đón Tết Nguyên Tiêu, Chùa Tịnh Quang đã phối hợp cùng cộng đồng và những hội đoàn, đoàn thể không phân biệt tôn giáo tại Dayton và các vùng phụ cận  để làm Lễ Thượng Kỳ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nhằm tri ân, tưởng nhớ tới các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và anh linh những chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ quê hương Miền Nam Việt Nam, những đồng bào đã chết trên đường vượt biên, vượt biển tìm tự do… 

Mọi người lần lượt ra khỏi chùa và đứng vây quanh kỳ đài để làm “Lễ Thượng Kỳ đầu năm Kỷ Hợi 2019.”  Dù trời rất lạnh và dự báo thời tiết cho biết là tuyết sẽ rơi vào mười hai giờ trưa nhưng vẫn có đông đảo người lớn và trẻ nhỏ tham dự dưới thời tiết khắc nghiệt. 

Buổi lễ do những chú bác cựu quân nhân trong các bộ quân phục của các quân binh chủng của Quân Lực VNCH bên Hội Cao Niên đảm trách được cử hành long trọng và chu đáo dưới sự minh chứng của Thầy Tâm Hiền.  Ngoài ra cũng đã có các vị cựu quân nhân từ những tiểu bang lân cận như Michigan, Illinois.. đã không quản ngại đường xá xa xôi để về tham dự buổi chào cờ quan trọng này.

Giữa cảnh u buồn, buốt giá mùa đông, trong khung cảnh yên lặng của một buổi sớm mai bỗng tự nhiên có một số người Việt ly hương từ xa kéo về, vây quanh, tụ tập trang nghiêm dưới những lá quốc kỳ đang tung bay trong gió để tiến hành một buổi lễ mang màu sắc biểu tượng của nền tư do dân chủ làm không ít cư dân bản địa tò mò.  Họ vén màn cửa sổ nhìn thích thú và có vẻ mến phục những người xa lạ đã mặc cho giá rét cùng các em nhỏ đứng hành lễ trang trọng dưới lá quốc kỳ của tổ quốc họ. 

Trong không khí lạnh lẽo trang nghiêm, gió lạnh căm căm thổi từng đợt, môi tôi run bần bật theo nhạc kỳ của quốc ca Hoa Kỳ, quốc ca VNCH, của phút mặc niệm những người đã khuất mà lòng không nén khỏi nỗi ngậm ngùi một thưở.   Ôi, tổ quốc nơi xa nhưng hồn thiêng sông núi như phảng phất đâu đây trong giờ phút thiêng liêng đó ở mỗi từng con người hiện diện lúc ấy! 

Sau phần chào cờ là tới tục lệ đốt pháo đuổi tà ma.  Lúc tiếng pháo vang rền chấm dứt, các phật tử lần lượt trở vào chùa để xem đội lân biểu diễn khi trống bắt đầu rộn rả giúp vui cho mọi người với phần văn nghệ phụ diễn của các em nhỏ Lớp Việt Ngữ Chùa Tịnh Quang phụ trách.  Buổi lễ đầu năm kết thúc trong vui vẻ, vái chào, chúc tụng lẫn nhau dưới mái chùa thân thương.  Một số người xuống nhà dưới thọ trai số khác lại tíu tít chụp hình kỷ niệm mừng Xuân Kỷ Hợi! 

Và dù đã rất cố gắng để về sớm nhưng cuối cùng gia đình chúng tôi cũng chỉ rời khỏi chùa khi tuyết bắt đầu rơi do mẹ tôi đi đứng khó khăn.  Trên đường về tuyết xuống như bông chẳng mấy lúc phố sá đã trắng nhòa.  Nhìn những hoa tuyết rơi trên mặt kính và vội tan biến dưới sức nóng do nhiệt độ trong xe toả ra tôi trộm nghĩ đối với người Việt sống ở các tiểu bang lạnh việc đi lễ chùa đầu xuân có một ý nghĩa rất to lớn bởi đối với người lớn tuổi ngoài việc đến chùa “lạy Phật, lạy ông bà tổ tiên, cầu cho gia đạo được bình an, vạn sự hạnh thông, phước duyên tăng trưởng, vững bền đạo tâm,” để gặp gỡ, thăm hỏi lẫn nhau thì đây còn là trách nhiệm và bổn phận của chúng ta đối với con cháu, với thế hệ mai sau vì nó cũng là dịp để chúng ta đưa con cháu đến với Cộng Đồng Việt Nam tại điạ phương nhằm cho các cháu biết thế nào là phong tục tập quán của người Việt Nam ta trong ngày lễ đầu năm, ý nghĩa to lớn của Tết Nguyên Đán, để các cháu có cơ hội tiếp xúc, trò chuyện bằng tiếng Việt và gìn giữ tiếng Việt vì “tiếng Việt còn, người Việt hải ngoại còn, Tết cổ truyền còn!”

Dayton, ngày 12 tháng 02 năm 2019 (Nhằm mùng Tám tháng Giêng năm Kỷ Hợi) 

Triều Phong (TPN)

Sunday, December 16, 2018

Chuyện Cứu Trợ Thị Trấn Bị Thiêu Rụi




viet ve nuoc My  (1)
Nguyễn Thượng Ánh trước khu tặng phẩm cứu trợ.

viet ve nuoc My  (2)
Ánh và học trò; Dr. Nancy của Bệnh Viện Enloe, tại bàn đăng ký nạn nhân hỏa hoạn.


Nhờ mấy ngày mưa lớn, trận cháy rừng tai hại ở California đã được chận đứng. Nhưng tại nhiều nơi, sau khi đã khốn khổ vì nạn “bà hỏa”,  lại đang phải chịu đựng tiếp nạn mưa lụt, đất truồi.  

Bài viết về những nỗ lực cứu trợ các nạn nhân của trận hỏa hoạn thiêu rụi Paradise, tôi có đề cập tới anh bạn Nguyễn Thượng Ánh. Ánh  và gia đình đi chính thức theo diện ODP đến Mỹ chứ không phải là gia đình thuyền nhân vượt biển. Bà mẹ của Ánh là cư dân Paradise, khi thị trấn bị thiêu rụi, bà may mắn chạy thoát và sau đó, Ánh trở thành một tình nguyện viên tận lực lo cứu trợ các nạn nhân hỏa hoạn.

Mới đây, trong lúc tôi đang ngồi đếm tiền quyên góp của anh chị em ở tiệm “Venetian Nails” gửi cho nạn nhân hỏa hoạn tại CA thì cell phone  chợt reo vang.

-  Hello! Ánh đây, làm gì đó mậy? Ánh hỏi tôi.

-  Đang cộng tiền để gửi cho American Red Cross.

-  Nhiều không?

-  Không!  Chỉ khoảng gần một ngàn.

-  Kệ, của ít lòng nhiều. Được bao nhiêu hay bấy nhiêu!

Rồi Ánh kể

-  Ê, hổm rày tao lu bu quá quên kể mày nghe chuyện này.

-  Vụ gì?

-  Tuần trước tao đang phụ giúp ngoài “parking lot” thì một hôm độ khoảng gần hai giờ chiều tao gặp vợ chồng thằng bạn từ San Francisco chở đồ lên cho, mậy.

-  Bạn mày hả?  Bạn học hay bạn đời?  Tôi hơi ngạc nhiên.

Nó cười khà khà:

-  Bạn tù! Thằng cha này vượt biên chung chuyến với tao và bị bắt nhốt ở Thốt Nốt, sau đó tụi nó chuyển đám tao xuống giam tạm ở Trà Nóc, Cần Thơ, mấy tuần rồi đưa ra trại lao động tại U Minh. Khi ở tù buồn quá anh em tâm sự với nhau chơi, nói qua nói lại mới biết ra thằng “khứa” này cũng học Taberd và lớn hơn mình hai lớp. Sau này tao qua đây,một hôm đi San Francisco chơi cho biết, lúc vô nhà hàng ăn trưa thì đụng mặt thằng chả. Sau một hồi í qua í lại mới nhận ra nhau. Thằng chả ra tù vượt biên tiếp và đến Mỹ trước tao. Chả làm cho một công ty Mỹ rồi nó đưa chả qua Nhật làm nên vợ chả là người Nhật đó nghe mậy. Bây giờ dù đã mấy chục năm nhưng thỉnh thoảng anh em vẫn điện thoại cho nhau. Hôm nghe cháy trên tao, chả cũng có gọi hỏi thăm.

Tôi ngắt lời nó:

-  Anh này tên gì? Bữa hỏa hoạn ảnh gọi thăm mày nhưng không có báo cho mày biết là ảnh sẽ lên đây à?

-  Chả tên Tùng. Thằng chả đâu có nói lên đây gì đâu nên tao mới ngạc nhiên đấy chứ. Có những người họ cũng chẳng muốn khoe khoang ba cái vụ này mày ơi. Người ta thích làm âm thầm thôi mày biết hông. Làm từ thiện mà còn đi kể lể công lao thì thôi thà đừng làm còn hơn! 

Tôi chợt thắc mắc:

-  Mà nè, vợ chồng họ nói tiếng gì với nhau mậy?

-  Tiếng Việt!  Thằng chả có dạy cho bả tiếng Việt mà. Vợ chả nói không giỏi lắm nhưng cũng OK, đủ xài!

-  Ừ, hay há…ổng…cho nhiều đồ không?

-  Tao thấy có quần áo, mềm, tã, đồ hộp…đủ thứ. Chắc cũng nhiều!

-  Họ chở đồ đạc lên à?

-  Ừ, trước khi cho vợ chồng chả cũng tìm hiểu và biết đồ đạc trên này khan hiếm rồi nên họ phải mua hết mọi thứ ở SF và mướn một cái “U Haul” loại trung bình chở  lên thôi. Mấy ngày đầu tao và đám học trò tao cũng phải chạy tuốt sang các thành phố xa lắc xa lơ khác để mua đồ đó chứ mày tưởng vì ở Chico này thiên hạ gom sạch hết trơn trọi mọi thứ, đâu còn mẹ gì nữa đâu!

Tôi chép miệng:

- Đã bỏ của lại còn bỏ công đi xa nữa, chắc họ mệt lắm, tội nghiệp quá. Đúng là “Bồ Tát!”  Còn mấy bữa nay tình hình trên đó sao rồi Ánh?  

Nó lầm bầm:

-  FEMA (The Federal Emergency Management Agency) trưng dụng một cửa hàng đã đóng của Sears để cho các cơ quan như bưu điện, ngân hàng, các hãng bảo hiểm nhà, bảo hiểm xe, DMV, “county”… tới đặt bàn và đưa nhân viên vào làm việc để giúp nạn nhân. Thí dụ như mày muốn cho biết địa chỉ mới của mày bây giờ đang ở đâu để có thể nhận thư thì mày tới bàn có nhân viên bưu điện ngồi trực hay tới bàn ngân hàng mày có “account” để nhờ họ cấp lại cái “debit card hay credit card” khác hoặc nhân viên county thì lo giấy tờ, số An Sinh Xã Hội, bảo hiểm sức khỏe của trẻ em, người gìa, của mấy người không còn giấy tờ gì cả!  Còn muốn làm lại bằng lái xe thì tới chỗ DMV chẳng hạn…  Tụi FEMA hôm nay cũng đổ đồ đạc vô nhiều lắm rồi, mọi chuyện coi như tạm ổn!  Dân cháy nhà thì một số về các thành phố khác nếu có họ hàng thân nhân, số còn lại họ vào nhà trú ẩn hết vì mấy hôm nay trên tao mưa dữ lắm. Mưa suốt ngày Thứ Tư trước Thanksgiving đến Thứ Bảy mới dứt, ở ngoài trời đâu chịu nổi!  Chuyện mới bây giờ là có rất nhiều dân “homeless” ở khắp nơi trên nước Mỹ đổ về đây “ăn có,” mậy. Cái đám ở ngoài lều bây giờ là homeless chính hiệu không đó!  Thành phố đang lo lắng, sợ xảy ra tệ nạn trộm cắp, cướp, giựt, trong những ngày tới đây. Chico này lúc trước sạch sẽ lắm, bây giờ thì bầy hầy dơ dáy vô cùng. Mấy ông homeless đi tiểu bậy bạ, đại tiện khắp nơi khiến người ta phải mang thêm mấy chục cái cầu tiêu di động để đầy ngoài các bãi đậu xe mới đủ cho thiên hạ sử dụng.

-  Ủa, vậy à?  Tôi ngơ ngác hỏi lại.

Ngẫm nghĩ giây lát tôi lên tiếng tiếp:

-  Nhưng người ta chỉ giúp cho nạn nân hỏa hoạn thôi phải không? 

-  Ờ, chứ sao nữa. Vấn đề là lúc này mày phải có cái gì chứng minh mày là nạn nhân ở mấy nơi bị cháy chứ!  Tao dầm mưa làm việc suốt hôm Thứ Tư vừa rồi nên về nhà bị cảm, mệt quá nằm mẹp, nghỉ mấy hôm không có ra. Bây giờ thì khi nào tao rảnh và khoẻ thì ra đó giúp vài tiếng mỗi ngày thôi. Hôm nay chính quyền thành phố lấy thêm cái cửa hàng đã đóng của Toys “R” US làm nơi chứa hàng luôn nên tao hay chạy ra bàn đăng ký; nơi có cô Nancy, học trò học vẽ với tao ngày xưa ở Chico State, giờ là bác sĩ của Bệnh Viện Enloe, cũng đang làm thiện nguyện ở đây để coi có ai “sai gì thì làm đó vậy mà!”  Bàn này có nhiệm vụ xem xét nếu mình là nạn nhân thực sự thì họ sẽ phát cho một cái xe như xe mua sắm hàng lúc mình đi chợ vậy đó để thiên hạ vào trong muốn lấy các thứ nào họ cần thì lấy.

Nghe thế tôi liền cười đùa:

-  Á, bây giờ thầy xuống làm lính rồi a.

-  Có gì đâu, bình thường thôi mà mậy. Mày phải thông được cái lẽ ấy thì mới không có cắn đắng để thoải mái sống vui vẻ được. Trên cõi đời này chuyện gì cũng có thể xảy ra cả.

-  Bởi vậy người Mỹ mới có bài hát “never say never!”

-  Đó, nhưng nói giỡn vậy thôi chứ cũng hổng ai dám sai mình đâu.

-  Chỉ “nhờ” thôi là thầy cũng chạy chết mẹ rồi!

Anh bạn cười hề hề:

-  Volunteer mà!  Người Mỹ quan niệm chữ “volunteer” hay lắm nghe mậy. Khi mày đồng ý đi làm volunteer là chấp nhận tất cả. Không đòi hỏi quyền lợi gì hết đó. Người ta cho cái gì là nhận cái đó thôi. Tinh thần thiện nguyện này rất hay! 

-  Ê, nói nghe nè…nhưng tao có nghe báo chí và TV cũng có nói là có một số người bị cảnh sát ép buộc di tản ngay nên hình như bây giờ họ đâu có giấy tờ tùy thân hay bất cứ cái gì để chứng minh là nạn nhân thì làm sao giúp họ?

Bên kia đầu dây, anh bạn tôi chép miệng:

-  Thì bởi vậy nhưng Mỹ mà, rồi ra nó cũng có cách hết đó mày ơi!  Đôi khi tao thấy nó cũng có lấy vân tay của một số người rồi đấy chứ!

Tôi thở dài:

-  Mệt hé, đủ thứ chuyện trên đời trời đất để lo.

-  Chịu thôi, thiên tai thì phải vậy! Trận này là ghê gớm lắm đó mày. Tính đến nay đã có 85 người chết, số mất tích giảm xuống chỉ còn chừng gần 300 người thôi nhưng theo cảnh sát nói những người này đến bây giờ thì kể như là chết rồi nhưng họ chưa công bố được vì còn đang xác minh tung tích hay thử DNA. Hiện chính quyền bắt đầu cho dân trở về tuy nhiên vẫn còn một số nơi dân chúng chưa thể về được vì chính quyền còn  khoanh hàng trăm vùng nghi ngờ có người chết để bới tìm. Tuy vậy mấy hôm nay trời lại mưa quá làm công việc này thêm khó khăn hơn.

-  Nhưng nhờ mưa nên dễ chữa cháy chứ?

Ánh chửi thề trong phone:

-  Đươc cái này thì lại khổ vì cái khác, bởi hỏa hoạn thì đã dập tắt được 98% rồi nhưng do trời mưa nên bây giờ lại bị lũ lụt vì nước từ vùng cao đổ xuống làm trôi vết tích nạn nhân hoặc bùn sình vùi chôn mọi thứ. Hiện nay chuyện bùn trôi; “mud slide” là vấn nạn vô cùng khó khăn và nguy hiểm cho mấy đội tìm kiếm, lại thêm tất cả các kế hoạch thành phố dự trù như dẹp vật dụng đổ nát, dọn vệ sinh, đưa điện nước trở lại…đều bị đình trệ hết!

-  Và ô nhiễm môi trường nữa. Tôi kể thêm.

-  Đó, đây là chuyện lâu dài mày biết không. Thứ nhất là vấn đề sức khỏe bởi trên tao hôm nay có nhiều người bị bệnh kiết lỵ do nguồn nước uống bị ô nhiễm. Thứ hai là khi hỏa hoạn thì nhà cửa, tủ bàn ghế, mọi thứ… bị cháy hết nên làm cho không khí bây giờ vô cùng độc hại ảnh hưởng đến hệ hô hấp của mọi người do hoá chất trong các loại sơn, dầu, insulation…bị đốt tạo ra.

-  Khổ thiệt!

-  Nhưng cũng đỡ là mọi việc bây giờ kể như tạm xong không còn cấp bách như mấy hôm đầu. Chắc có lẽ tuần sau tụi tao không còn ra đó giúp nữa vì đã có chính phủ “take care” hết các thứ rồi. Dù sao thì tao cũng không cảm thấy áy náy vì ít ra mình cũng đã làm được một cái gì đó giúp người khác lúc hoạn nạn. Mày biết không, tao hạnh phúc khi thấy ánh mắt của những nạn nhân sáng rực lên niềm vui lúc mình chia sẻ với họ các món quà nhỏ nhặt như chai nước hay cái bàn chải đánh răng đó mày. Bởi khi đó họ hiểu họ không cô độc trong quãng hành trình đầy khó khăn này.

-  Ừ, khúc này mình phải ủng hộ để tinh thần họ được vững vàng mà bước tới tương lai.

Hai anh em nói qua lại dam câu nữa rồi cúp phone. Hoàn cảnh Ánh và tôi khá giống nhau nên dễ thông cảm, bởi sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 thì hai thằng tôi chỉ lo vượt biên và ở tù. Nhưng hậu vận của nó thì may mắn hơn tôi vì đến Mỹ một cách suông sẻ trong lúc tôi còn lận đận thêm gần mười một năm bên trại tỵ nạn ở Phi Luật Tân. Nhưng chính ở đây, tôi đã từng chứng kiến cảnh trại bị cháy, dĩ nhiên là không như CA vừa rồi nhưng cũng kinh hoàng lắm vì trại được xây cất bằng cây và lá dừa!  Sau này khi đi buôn “bà ba ngố” lúc được ở lại Phi tôi cũng đã từng biết thế nào là sự nguy hiểm của “mud slide” khi ngồi trên các chuyến xe buýt Genesis đi từ Pampanga về Pasay City, Manila vì được chứng kiến cảnh tàn phá khủng khiếp của bùn sình lúc xe chạy ngang qua các ruộng đồng.

Câu chuyện Ánh kể về những sự chia sẻ trợ giúp của dân chúng dành cho những nạn nhân của trận cháy rừng ở Cali làm tôi bần thần mãi!

Phước đức biết bao khi mà  mọi người cho đi mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện nào. Tôi nhớ lời Anne Frank đã nói về lòng bi mẫn từ những người đã chia sẻ giúp đỡ kẻ hoạn nạn, “Không ai trở nên nghèo khi cho đi bao giờ!”

Triều Phong TPN

Saturday, October 20, 2018

Ma Việt, Ma Mỹ




Trong cái không khí lành lạnh của buổi sớm mai, của những chiếc lá thu vàng nhẹ nhàng rơi trên các bãi cỏ xanh, mượt mà, Halloween đang dần tới với những câu chuyện ma quái kinh dị.  Năm nay, nhân mùa lễ này tôi xin kể lại với quý bạn độc giả hai câu chuyện xảy ra trong đời tôi.  Một lần “thấy ma” và một lần “gặp ma!”
 ....
Mấy chiếc xe vận tải chở hàng, phủ bạt bít bùng, đổ xịt lại giữa sân.  Những cái bửng sau xe được mở ra, bọn tù nhân chúng tôi được lệnh leo xuống và nhận ra mình đã bị chuyển sang Khám Chí Hòa tức Trại Giam T30 bây giờ đúng như lời đồn đoán của một số người bên Trại Tạm Giam T20 ở Số 4 đường Phan Đăng Lưu, Thành Phố Hồ Chí Minh (Saigon) trước khi ra đi.

Cả trăm tù nhân gồm đủ già trẻ, lớn bé, nam nữ, ngồi chồm hổm dưới đất với tụng đệm, túi xách lỉnh kỉnh, đang nhốn nháo bàn tán, xì xào to nhỏ, chỉ riêng tôi là không có gì cả bởi chưa được thăm nuôi.  Đâu đó bật ra những tiếng sụt sùi, khóc lóc se sẽ của các cô, các bà vì nỗi sợ hãi cái nhà tù một thời lừng danh với “con ma vú dài” và nhiều chuyện ghê rợn mà hôm nay mình sẽ phải vào ở này!

Khám Chí Hòa là một nhà tù lớn gần Chợ Hòa Hưng, Saigon, nay là Thành Phố Hồ Chí Minh tại số 1 đường Hòa Hưng, Quận 10. Nhà tù này do người Pháp xây dựng từ thời thuộc địa Pháp ở khu vực khi còn là ngoại ô thành phố để giam giữ những chính trị phạm chống lại thực dân Pháp. Lúc chiến tranh Việt Nam, nhà tù này là nơi Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) giam giữ Việt Cộng và ngày nay thì nhốt đủ loại tù nhân trong những vụ án trên địa bàn thành phố. 

Diện tích của Khám Chí Hòa rộng tới bảy mẫu; xây theo hình bát giác, tám cạnh là tám phần đều nhau gồm một tầng trệt và ba tầng lầu, mỗi lầu có bốn phòng.  Lưng nhà tù quay ra đường, kín mít với tường dày bốn mươi phân cao ngút ngàn, mặt xoay vào trong đối diện nhau được rào bằng các thanh sắt to bằng ngón chân cái của người lớn, cao tới tận trần nhà và mỗi cạnh được đặt tên theo một mẫu tự Alphabet như A, B, C, D, E, F, G, H rồi sau đó lấy A và H ghép lại thành một khu.  Thế là Khám Chí Hoà trở nên kín mít với bốn Khu AH, BC, ED, FG, thành ra mỗi khu có tới ba mươi hai phòng!

Chí Hoà được gọi là “bát quái trận đồ” do mang hình bát giác.  Cách xây dựng này dựa theo Bát trận đồ của Khổng Minh hoặc tượng trưng cho tám quẻ càn, đoài, ly, chấn, tốn, khảm, cấn, khôn, trong Kinh Dịch.  Lối xây cất “kín bên ngoài, rổng bên trong” nhưng kiên cố, chắc chắn, là nét đặc thù của kiến trúc Tây Phương và lại mang dáng dấp phong thủy, âm dương, ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ của Phương Đông khiến cho nhà tù này luôn mát lạnh và huyền bí!

Giữa trại giam có một bồn nước (chateau d’eau) to, cao, dùng để bơm nước vô các phòng mà hình dạng của nó trông giống như chuôi của một thanh kiếm đang cắm xuống đất.  Tương truyền rằng khi quân đội Nhật đảo chánh, hất cẳng Pháp ra khỏi Việt Nam trong chiến tranh Thế Giới Thứ Hai xong thì Nhật đã cho vời một ông thầy địa lý tới trấn ếm nhà tù này.  Ông ta đã chôn xác một “trinh nữ” rồi dùng một thanh kiếm đâm xuống, chuôi đưa lên trời mà trên chuôi kiếm này có khắc những hình tượng của càn khôn vũ trụ, âm dương thủy hỏa, với ý nghĩa đây là một cõi riêng biệt vì Chí Hoà chỉ có 1 cửa vào, người ta nói đó là cửa Tử.  Qua cửa đó là cả một hệ thống đường hầm, đường đi bên trong được thiết kế theo cung vị, nếu không có người biết dẫn đường thì đi vào đó sẽ mất hết phương hướng giống như lọt vào “mê hồn trận” không tìm được đường ra. Phía dưới chân bồn nước này có xây những tấm tường cao quá đầu người chạy dài tới tận tầng trệt để ngăn chia từng phần riêng rẽ mà đứng trên cao nhìn xuống chúng ta như trông thấy tám miếng tam giác quy về một mối.  Nơi đây bọn cai ngục bắt đám lao động hành lang trồng những vườn hoa rất đẹp hoặc trồng rau để “tăng gia sản xuất, cải thiện phần ăn cho quản giáo!”

Ngoài ra, trại giam còn có ba khu nằm đâu lưng với khu bát giác, là khu nhà bếp, khu bệnh xá, khu kỷ luật. Lúc tôi bị ghẻ đầy người, được chuyển xuống bệnh xá thì thấy bệnh xá có bốn hay năm phòng gì đó.  Riêng trong khu mà tôi ở sau này lại còn có các “kiên giam” mà tình cờ tôi được biết và không biết các khu khác có hay không nên có thể nói Chí Hoà có rất nhiều phòng giam.

Sau một loạt thủ tục giao nhận “phạm nhân” khá lâu, mọi người lần lượt được dẫn vào trong Khu ED; là khu nhốt thành phần bị liệt vào tội chính trị lúc bấy giờ, dù đơn thuần chúng tôi chỉ là dân vượt biên nhưng hồi ấy vẫn bị chế độ cộng sản quy là “phản quốc, chạy theo tay sai và Mỹ Ngụy!”  Đó là một buổi sáng cuối tháng 08 năm 1984!

Trong con đường hầm gió thổi lồng lộng, rít từng cơn, tạo nên các tiếng hú rờn rợn và tối tăm đến độ ngửa bàn tay cũng không trông thấy được ấy, đám tù nhân lầm lủi cất bước theo mấy tên công an với một tâm trạng bất an, hoảng loạn.

Rồi từng tốp dăm ba người được chia vào khắp“các phòng trong những lầu” mà chẳng hiểu tại sao Việt Cộng lại cứ thích gọi là “buồng và gác” mới lạ!  Chắc có lẽ đa phần họ là những người nông dân ít học, cả đời chỉ sống trong làng mạc, thôn quê hẻo lánh nên không phân biệt được thế nào là phòng và buồng, lầu và gác cũng nên.  Nhưng thôi biết nói sao hơn vì lý lẽ luôn nằm trong tay kẻ mạnh mà! 

Cô Út và Dì Ba tôi thì ở Buồng 4 của Gác Một.  Đây là buồng nữ duy nhất của khu.  Cậu Chín tôi thì ở Buồng 9 của Gác Ba.  Chú Đáng của tôi ở Buồng 10 cũng Gác Ba.  Chỉ riêng tôi là bị đẩy lên tuốt Buồng 14 tận Gác Tư cùng hai người khác, là gác cao nhất và cuối cùng của nhà tù.  Như thế tổng cộng bên nội và ngoại tôi bị bắt trong chuyến đi này là bốn người với tôi nữa là năm, đó là chưa tính tới một thằng em họ, con Cô Tư tôi, được thả bên trại Phan Đăng Lưu vì nhỏ tuổi nữa!

Rồi chúng tôi được Chú Bảy “phó buồng,” nguyên là một biện lý của VNCH, giới thiệu với Trưởng Buồng của tôi là bác Sang, đại úy đội SBC (săn bắt cướp) của Sở Công An thành phố, vì ăn hối lộ mà bị tống vào đây. 

Là “lính mới,” tôi được chia chỗ nằm gần bác Sơn kế sát cầu tiêu.  Bác Sơn là thợ sắp chữ nhà in trong vụ án “Nhà Thờ vinh Sơn” năm 1976.  Trông hình hài bác Sơn thật tội nghiệp, người bác trắng nhách, thấp chủm, nhỏ thó, mặt tóp lại, bé tí tẹo, tóc bác bạc trắng lơ thơ vài cọng, mắt lờ đờ, ngực xẹp lép mỏng như tờ giấy vì bị lao phổi.  Đây là lý do người ta cách ly bác bằng cách cho bác nằm cuối góc.  Nghe đâu gia đình bác đã “quên” bác nên cũng như tôi, bác là “con mồ côi,” do đó mỗi khi thấy ai ăn gì bác chạy lại đứng trước mặt không nói tiếng nào, mắt sáng rực, nhìn chăm chăm vào đồ ăn một cách thèm thuồng, nuốt nước miếng ừng ực.  Thật là đau lòng! 

Cạnh bên tôi là Phúc, một thanh niên nhỏ hơn tôi vài tuổi đã được gia đình thăm nuôi hàng tháng và cũng là dân Saigon.  Bởi nằm gần nhau nên sau vài bữa chúng tôi trở thành thân thiết, “sống chung với nhau, ăn cùng mâm ngủ cùng chiếu” trên tấm chiếu cá nhân ngang sáu tấc dài gần hai thước của nó.  Thường là mọi người phải nằm trở đầu, xếp lớp như “cá hộp” mới đủ chỗ!

Diện tích mỗi buồng ở đây độ chừng sáu thước bề ngang, mười thước bề dài.  Ba vách đều bằng tường, chỉ mặt trước là có một cửa ra vào lúc nào cũng được khoá bên ngoài với một bức tường cao độ sáu tấc, dày bốn tấc.  Các thanh sắt được chôn cách nhau mỗi ba tấc trong bức tường này và chạy dài lên cao đụng trần nhà.  Phía ngoài các phòng là hành lang chạy dọc suốt cả gác để quản giáo hay giám thị lên xuống canh giữ tội nhân. 

Tầng trệt vì nằm dưới đất nên không cần hành lang nhưng từ tầng hai, ba và bốn đều có hành lang và cũng được rào bằng những thanh sắt trên.   Tại chiếu nghỉ (palier) lại có một cửa hành lang cũng làm toàn bằng song sắt và cũng được khoá cẩn thận, nơi đây có kê một cái bàn cho bọn cai tù ngồi làm việc.  Do đó phạm nhân ở các tầng này dù có trốn khỏi phòng thì cũng không thể nào thoát khỏi hành lang để xuống đất được vì bị nhốt bởi hai lớp song sắt. 

Bởi vậy buồng giam ở Chí Hòa ban ngày thì mát và ban đêm lại lạnh vì gió lồng lộng thồi vào.  Thời gian tôi ở đây mỗi buồng chứa khoảng sáu đến bảy chục người.

Có vào đây rồi mới thấy được số người ở tù dưới thời Xã Hội Chủ Nghĩa là nhiều như thế nào.  Ngày ấy tôi thật sự choáng ngợp với lượng người đông đảo như thế.  Họ gồm mọi thành phần, đủ các tầng lớp trong xã hội cũ, từ bác sĩ, kỹ sư, nhà báo, sĩ quan VNCH đi cải tạo về hay ngay cả người từng giúp đỡ “cách mạng” như ông Trần Thành; giám đốc hãng Bột Ngọt Vị Hương Tố, người từng bí mật cho chở cả xe cam nhông bột ngọt ra mật khu tiếp tế cho Việt Cộng.  Năm Mậu Thân 1968 thì cho họ mượn đường nước thải của hãng bột ngọt để họ chuyển quân vào nội thành Saigon để rồi khi chiếm được Miền Nam xong lúc “Đánh Tư Sản Mại Bản” thì họ lại đưa ông vào Buồng 1 của Gác 1 ở cho tới khi tôi bị nhốt vào thì ông vẫn chưa được thả hoặc như bác ngư dân Miền Tây là Ông Chín Trà Vinh ở buồng tôi chẳng hạn.  Do lớn tuổi không đánh cá nỗi nữa nên ông bán ghe lại cho người khác, sau này thiên hạ dùng ghe đó làm ghe vượt biên, bị bắt.  Công an truy lùng dần tới ông là sở hữu chủ của ghe và quy cho ông tội là “thành viên của nhóm tổ chức vượt biên” rồi bắt ông đưa vào đây bỏ lại bà vợ già ở quê nhà không người chăm sóc!

Một hôm Chú Bảy gợi ý sẽ nhờ công an giúp tôi gửi thư về nhà để báo tin cho gia đình biết tôi đang bị nhốt ở đây và họ sẽ lo để tôi được nhận quà thăm nuôi với tiền công đưa thư là năm trăm đồng nếu tôi đồng ý. 

Tôi còn nhớ hôm trước khi đi tôi có ghé tiệm vàng Thanh Châu bên hông chợ Bà Chiểu để mua hai chỉ vàng, giá mỗi chỉ là hai ngàn hai trăm đồng.  Như thế là tiền công gửi thư cũng khá mắc nhưng tôi vẫn vui lòng vì hơn bốn tháng nay tôi là con “bà sơ” sống bằng cơm tù thiếu thốn quá khiến tôi thèm đủ thứ, hết sức chịu đựng nổi nữa!

Trưa hôm đó, lợi dụng lúc mọi người nghỉ ngơi Chú Bảy làm hiệu cho công an quản giáo để chúng mở cửa cho chú ra ngoài.  Một lúc sau chú trở vô đưa cho tôi cây viết với miếng giấy lấy từ bao xi-măng, to gần bằng tờ giấy tập học trò.  Tôi mừng quýnh đón lấy và hí hoáy viết.  Sau khi chào hỏi gia đình là tôi bắt đầu liệt kê các món ăn gần kín cả tờ giấy.  Nhận thấy thư đã dài như “Sớ Táo Quân” chú Bảy hối tôi ngừng lại.  Đưa cho chú Bảy rồi tôi sực nhớ còn một thứ quan trọng tôi quên nên vội vã mượn lại để tái bút.  Chú Bảy trao lại mảnh giấy cho tôi và đùa “thôi nói mẹ gửi cho một trăm gram giấy năm trăm cho nhẹ khỏi mắc công nấu nướng chi cho mệt.”  Và khi chú thấy tôi xin thêm một “bánh thuốc rê” thì chú cười khà khà:

-  Con tái bút là mẹ tái mặt luôn!

Bởi tôi là thằng không biết hút thuốc nhưng mấy hôm nay vào đây buồn quá nên tôi cũng bắt chước mọi người, tập tành phì phà cho quên đời.  Và tôi bắt đầu hút thuốc lá từ đó!

 Mỗi ngày vào khoảng chín giờ sáng là nước được bơm vào từng phòng trong khoảng thời gian chừng mười phút nhưng mỗi phòng chỉ có một cái thùng phuy và một cái thùng nhựa lớn chứa được cở chừng hai trăm lít (litre) nước  nên người ta sử dụng các thùng cá nhân mười, hai mươi lít do người nhà gửi vào thậm chí họ còn tận dụng cả mấy cái bình hay hủ nhỏ đả được dùng để chứa đồ ăn thăm nuôi bữa trước để hứng nước luôn.  Trong khi đó thì một số người cầm hai đầu của chiếc chiếu giăng ra làm “màn,” và những ai muốn tắm thì cởi quần áo đứng xếp hàng lần lượt chờ vô nhà cầu không có nóc ngồi xuống để được anh Hiệp, Trường Ban Trật Tự, dội cho vài ca nước rồi “nhảy ra” cho người khác vào.  Những người tắm xong thay phiên giữ các tấm chiếu cho người khác tiếp tục hoặc lấy thêm chiếu làm quạt tạo gió cho khô nền nhà. 

Có những chiều hai thằng tôi đứng vịn hàng song sắt, chân gác lên bệ tường đưa mắt nhìn các đám mây xanh đang bay lơ lững trên cao, giữa bầu trời trắng trong rộng bao la bên ngoài mà mơ ước về một ngày mai tự do, khao khát một cuộc sống thanh bình nơi xứ người không biết khi nào mới đến.

Do điều kiện giam giữ khắc nghiệt, ăn uống thiếu thốn, bệnh tật không được chữa trị đàng hoàng, thuốc men không có nên chẳng thiếu gì trường hợp tử vong đã xảy ra trong nhà tù này!

Buồng tôi có Chú Hội; xuất thân từ Viện Quốc Gia Hành Chánh là chủ sự phòng, được tha về sau năm năm “cải tạo!”  Nhằm kiếm tiền sinh sống, chú mang máy đánh chữ ra gốc cây Dầu trên Đường Trần Quang Khải gần rạp hát Văn Hoa cũ để đánh mướn đơn từ cho thiên hạ.

Thời kỳ này chuyện người bên Mỹ có được quốc tịch làm đơn bão lãnh người thân ở quê nhà vẫn còn là điều cấm kỵ, bất hơp pháp, ít dám nói công khai tại Việt Nam nên những ai có được giấy tờ copy của người thân ở Mỹ gửi về là rất quý và vô cùng bí mật.  Họ không dám cho ai biết ngoài trừ bạn bè họ hàng thân thiết.  Một hôm có người nhờ chú đánh một cái đơn bão lãnh bằng tiếng Anh gì đó với giá năm đồng thế mà sau đó chẳng hiểu vì sao chú lại bị công an bắt, nhốt vào đây hơn ba năm.

Chú bị suy dinh dưỡng, cơ thể yếu đuối, mắt chú mờ dần và cuối cùng là con bên trái hết còn thấy gì nhưng vẫn không được trại giam đưa đi bệnh xá.  Sáng sớm ngày chú ra tòa, mọi người bu quanh chúc chú may mắn.  Chiều tới có hai công an cặp nách đưa chú vô phòng.  Mọi người thất sắc biết chắc chú đã gặp vận xui rồi.  Nằm liệt cả đêm, hôm sau tỉnh “hồn” chú kể rằng chú tới tòa có luật sư biện hộ đàng hoàng nhưng thay vì bào chữa cho chú thì hắn khuyên chú thành khẩn nhận tội để được chính phủ khoan hồng cho về đòan tụ với gia đình sớm.  Thế là chú bị Viện Kiểm Soát Nhân Dân “búa” cho năm năm do nhận năm đồng tiền công!  Chú lầm bầm:

-  Luật sư bào chữa gì lạ vậy?  Đúng là luật sư quốc doanh!

Bây giờ chú nằm đây chờ chuyển qua khu FG là khu “thành án” để đợi ra trại lao động.  Không muốn suy nghĩ nhiều chú trở lại nghề của mình là “chiếu phim” cho anh em xem.  Đây là thú “chơi chữ” của tù, ý muốn nói ngồi nghe những người có biệt tài kể chuyện kể những pho truyện “ Võ Lâm Kiếm Hiệp Kỳ Tình Trung Hoa” nổi tiếng như Anh Hùng Xạ Điêu hay Thần Điêu Đại Hiệp chẳng hạn.  Tối nay anh Chín Sửu, học trò học Pháp văn của chú, pha cho “sư phụ” một ca nước chanh và bưng đến cho thầy một ít kẹo dừa, bánh ngọt để thầy dùng trong lúc kể chuyện.  Mọi người dần dà tụ tập đến và ngồi vây quanh chú.  Tôi cũng đến gần thì nghe giọng chú đang dồn dập:

-  “Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn đẩy luôn ba lần chưởng lực và lấy làm lạ là chưởng của Thúy  Sơn tuy yếu nhưng không suy đuối, không kiệt sức.  Khi đó thuyền dưới chân hai người kêu lách cách như sắp vở.  Nếu bây giờ cả hai tăng thêm công lực đáy thuyền sẽ bị lủng ngay.  Lúc ấy Tạ Tốn giơ tả chưởng lên nhắm đầu Thúy Sơn đè mạnh xuống. Thuý Sơn bèn giơ cánh tay lên dùng thế “Hoàng Gia Kim Lương (xà ngang đỡ trần nhà)” chống đỡ…”

Phải công nhận là chú kể rất hay, giọng chú trầm bổng, lên xuống lưu loát, ngay cả những lúc hai cao thủ võ lâm đấu nhau tung ra các chiêu thức gì chú cũng nói vanh vách khiến cho người nghe có cảm tưởng mình đang coi phim thật sự.  Nhiều người ngồi nghe say mê, miệng há hốc ra.  Tôi cười cười bỏ đi và biết là chú đang “chiếu” tới đoạn “Kim Mao Sư Vương” cùng vợ chồng Trương Thúy Sơn, Hân Tố Tố lạc tới Băng Hoa đảo” trong bộ truyện Cô Gái Đồ Long rồi! 

Đó là sinh hoạt bình thường của người tù ở Chí Hoà trong một ngày!

“Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” chỉ những ai có ở trong Chí Hòa thì mới thực sự cảm nhận được điều này bởi ở đây ngày tối đi loanh quanh sau ba bức tường dày và hàng song sắt cao to, phí thời gian một cách vô lý trong hoàn cảnh hết sức khắc nghiệt, nghịch lý, bạn mới thấm thía được nỗi mất mát, túng quẩn của cảnh tù tội, chim trong lồng cá trong chậu!

Một ngày kia cái máy bơm nước bổng nhiên bị hư, thế là mỗi phòng phải cử các thanh niên trai trẻ, khỏe mạnh xuống dưới Gác Một (tầng trệt) để xách nước lên.  Chúng phát cho hai người một cái thùng dùng đựng đạn đại liên M60 làm thùng xách nước.  Thùng sắt này rất nặng, nghe mấy chú cựu quân nhân nói trọng lượng mỗi cái tới hai mươi lăm kilo gram (25 kg).  Nhưng nhờ đó mà bọn tôi mới có dịp ra ngoài vận động cơ thể và biết hệ thống cầu thang ở đây được xây theo hình xoắn ốc nên rất khó khăn trong việc khiêng nước lên các lầu cao.

Bên ngoài, trước bốn buồng ở Gác 1 có hai hồ nước thật to.  Chúng tôi phải bước lên bậc tam cấp mới có thể múc nước trong hồ ra được.  Những lúc này công an, quản giáo, theo canh chừng chúng tôi rất là nghiêm ngặt vì sợ tù nhân thông cung với nhau.  Ngoài nhiệm vụ lấy nước cho buồng mình, chúng tôi còn được giao lấy nước giùm cho Buồng 16 luôn bởi buồng này chỉ có các ông già, người lớn tuổi không thôi, ấy cũng là cái “duyên” mà tôi mới gặp được Đại Tá Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông cùng một số vị từng là chính ủy sư đoàn hay trung đoàn của “Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Anh Hùng” cũng bị đưa vào chốn này “an dưỡng” khi chiến tranh Trung-Việt bùng nổ năm 1979 bởi lý lịch của họ là “Người Việt gốc Hoa!”

Cũng nhờ được ra làm việc linh tinh trong Chí Hòa mà tôi  nhìn thấy ma.

Vài ngày sau, hai thằng tôi cùng một cặp khác được lệnh xách nước theo công an vào một nơi mà hầu như không ai biết! Trước khi mở khoá cửa hành lang một con đường hầm tối om, với một thái độ rất là nghiêm trọng chúng ra lệnh cho bọn tôi không được nói chuyện với tù nhân ở đó cũng như không được nói cho ai biết về chốn này.  Trong con đường mờ mờ dưới ánh đèn vàng võ, chúng tôi bước vào đổ nước cho một căn buồng nhỏ, ngột ngạt và nhanh chóng bị đuổi ra khi chưa kịp thấy gì.  Trong lúc chờ “cán bộ” khóa cửa tôi nghe một giọng nữ kêu “em ơi” khe khẽ mà chẳng biết là từ hướng nào?

Nhưng rồi có ai đó nói cho Chú Bảy biết và sau nhiều lần tìm cách thăm dò hỏi han, chú được biết có vài nữ tù nhân dường như là của “Biệt Đội Thiên Nga” bị nhốt trong các kiên giam này.  Làm sao ai biết được sự thật?  Trong trại giam của cộng sản “tù nói tội nghe” chớ nào ai biết được sự thật là thế nào?

-  Mười bốn nghe rõ trả lời!

Tiếng kêu phát ra từ Buồng 16 vang lên lồng lộng giữa đêm khuya thanh vắng.  Chú Bảy đang nằm ngay cửa ra vào, lim dim ca vọng cổ bài “Chiêu Quân cống Hồ”  vội vã ngồi dậy:

-  Mười bốn nghe rõ.

-  Cho xe qua đi!

-  Có ngay.

Thế là Chú Bảy lăng xăng lấy chiếc dép để dưới đáy cái tụng đệm đựng thức ăn ra và hối thằng Minh “đệ tử” chú chạy về chỗ nó nằm gần đó lấy sợi dây, buộc chiếc dép vào.  Sợi dây này được làm bằng các cọng dây rút ra từ một bao ny lông rồi se lại, và nối dài từ từ.  Chuyện này chắc có lẽ xảy ra thường xuyên nên họ có sẳn mọi thứ và thao tác rất là thành thục.  Chú Bảy tới góc phòng phía trong sát với buồng kế bên, cằm chiếc dép thò ra ngoài nói:

-  Mười lăm “lái” giùm xe này qua mười sáu nghe.

Nói xong chú thảy chiếc dép sang bên ngoài hành lang gần tường của Buồng 15 trong khi đó thì thằng Minh nắm chặt đầu còn lại của sợi dây.  Một người trong buồng này thò tay nhặt chiếc dép thảy tiếp sang Buồng 16.  Không bao lâu sau có tiếng người vọng lại từ bên ấy:

-  Rồi mười bốn chạy xe về đi.

Thằng Minh nhanh lẹ kéo sợi dây trở lại.  Tiếng sột soạt vang đều đều trên nền xi măng.  Rồi chú Bảy đón lấy đưa vào một bịch đồ gồm kẹo bánh các thứ được cột cẩn thận theo chiếc dép.  Đấy là cách chuyển đồ trong Chí Hòa mà ngày ấy tôi học được và gói đồ kia là quà của mấy bác già bên Buồng 16 đền ơn cho đám trẻ tụi tôi đã xách nước giúp cho các bác.  Đời tù, thưong nhau từ sự giúp đỡ nhỏ nhặt hay quý nhau bằng việc chia sẻ viên kẹo, tán đường!

Tháng Mười, trời vào thu, se se lạnh. Đêm tới nhiệt độ xuống thấp, gió lại thổi mạnh khiến đám tù nhân ở tuốt trên lầu cao lạnh run vì không có đủ mềm ấm.  Tôi lên cơn “suyển” vì phổi bị lạnh, bây giờ thì đã trở thành người bị suyển kinh niên!

Đêm nay khi kẻng báo ngủ vang dòn một lúc thì mọi người trở về chỗ mình nằm yên, “ru đời vào quên lãng!”  Tôi trằn trọc mãi đến khuya vẫn không ngủ được nên ngồi dậy, thò tay xuống dưới chiếu móc bịch thuốc rê Long Khánh ra quấn một điếu, ngồi dựa lưng vào tường phì phà. 

Dưới ánh đèn vàng 40 Watts mờ ảo không đủ sáng ấy, những sợi khói thuốc phiêu lảng bay lên cao, buồn vương phận tù đày.  Tiếng ngáy đều đều của mọi người vang lên khắp phòng, đầu kia thằng Phúc đã thôi hát, chìm vào cơm mê với nhiều mộng mị. 

Bên ngoài bầu trời tối đen, trên cao vài vì sao nhấp nháy để chứng minh sự hiện hữu của mình vẫn còn trong vũ trụ bao la nhưng vô thường này.  Một luồng gió lạ và mạnh chợt thổi ngang, tôi như rơi vào vực sâu, đầu óc tự nhiên mụ mị khác thường, người bần thần như mơ.  Chợt tôi thấy một bóng trắng xuất hiện ngoài hành lang, từ hướng Buồng 15 đi lần ra chiếu nghỉ.  Lúc đi ngang phòng tôi thì tôi nhận ra đó là một người con gái, mặc áo ngủ trắng, tóc đen xõa dài che gần kín bờ lưng mảnh mai nhưng không thấy được dung nhan vì cô ta đang hướng mặt ra ngoài.  Nàng đi chầm chậm, nhẹ nhàng như bay rồi…vụt biến mất khi tới Buống 13!

Tôi nhủ thầm “quái lạ! giờ này mà sao có ai còn đi ngoài này? Ơ, mà khu này làm gì có phụ nữ ở đây?”

Đầu óc tôi chợt bừng lên, não tôi làm việc lại, ý niệm về thực tại của đời sống lắc mạnh kéo tôi ra khỏi cơn bần thần hoang lạc.  Tôi rùng mình, nhìn lại ra ngoài.  Không!  Không có người con gái nào ở đây cả!  Vạn vật yên tỉnh, tối đen như mực!  Tôi tự nhủ chả lẽ…

Nghỉ tới đó, một luồng khí lạnh từ sóng lưng chạy buốt lên đầu, tôi hốt hoảng nhào xuống chiếu nằm cùng chiều với thằng Phúc.  Đang ngủ tự nhiên bị lấn trong chật chội nó làu bàu:

-  Gì vậy?

-  Ma… Phúc ơi!

Nó im lặng vài giây như chưa tỉnh ngủ rồi đột ngột hỏi lại:

-  Cái gì?

-  Ma! Tôi thì thào và kể sơ sơ sự việc vừa xảy ra cho nó nghe.

Nó im lặng và bổng nhiên kéo chăn trùm đầu kín mít.  Tôi cũng vội vã lấy cái mềmn mỏng phủ kín thân hình đang co lại còn chút xíu của mình, bụng sợ hãi, miệng run cầm cập! 

Sáng hôm sau như lệ thường Phúc quậy một ca bột ngũ cốc xong bẻ nhỏ bánh tráng bỏ vào đó, khuấy đều lên rồi chia làm hai phần.  Ăn sáng xong, một đổi sau lúc tập thể dục nó ghé lại chổ Chú Bảy to nhỏ. Chú Bảy ngoắc tôi qua chỗ chú hỏi chuyện.  Tôi kể lại những gì tôi thấy đêm qua cho hai người nghe.  Chú Bảy im lặng một chút rồi nói:

-  Hồi xưa…nghe nói khu này nhốt tù nữ và có một cô treo cổ tự vận chết vì bị hàm oan!  Có lẽ còn nhiều uất ức gì đó mà sau này thỉnh thoảng cổ có hiện về, chỉ những người nào “hạp” mới gặp được cổ.  Người ta cũng kể giống như mày nói, chắc có lẽ đêm qua chuyện mày thấy là đúng chứ không phải “mớ” đâu.  Thôi được rồi để chiều nay tao “cúng” cho cổ!

Trưa hôm đó Chú Bảy đặt một cái thau nhựa giữa phòng để ai có đường tán, kẹo dừa và cốm dẹp thì bỏ vào ủng hộ.  Chẳng mấy chốc chuyện tôi “gặp ma” tất cả các buồng đều biết và bàn tán rôm rả.  Xế chiều, mấy người đứng canh cửa cho Chú Bảy và thằng Minh dùng “hoả tốc” nấu chè trong góc phòng.  Mọi người lần lượt đem chén ăn cơm bằng nhựa của mình ra xếp giữa phòng.  Nấu xong, chè được múc ra trong hơn sáu mươi cái chén này rồi Chú Bảy mặc áo, vấn ba điếu thuốc rê, đốt lên làm nhang đoạn đứng nghiêm trang lâm râm khấn vái. 

Tất cả mọi người ngồi sát vào vách tường xung quanh im lặng theo dõi.  Sau đó chú cặm ba điếu thuốc rê vào cái ly đựng bột ngũ cốc dùng cắm nhang đặt trước các cái chén kia và kêu tôi đến cầu xin kẻ khuất mày phù hộ cho chúng tôi được bình an, người khuất mặt được nhẹ nhàng thanh thản ở cõi vô hình! Kể từ đó cho tới khi tôi rời khỏi buồng để ra trại lao động thì ăn ngủ yên lành không còn thấy gì nữa cả!

      o0o                                        

Năm 1999 tôi đến Hoa Kỳ, và cuối năm sau thì về định cư hẳn tại Thành Phố Charleston, South Carolina.  Sống ở đây và tìm hiểu nguồn gốc nơi mình lập nghiệp tôi mới biết được rằng ngày xửa ngày xưa tiểu bang này theo chế độ nô lệ và là một trong mười một tiểu bang của Liên Minh Miền Nam chống lại quân đội Liên Bang Miền Bắc vào thời kỳ nội chiến giữa Thế Kỷ 19. 

Chính ngay chỗ tôi ở, ngày 12 tháng 04 năm 1861, là nơi quân Miền Nam nã qủa đại bác đầu tiên tấn công đồn Sumter; một pháo đài quân sự ngoài biển của Liên Bang.  Mở màn cho cuộc nội chiến đẫm máu nhất của Hoa Kỳ khiến cho có khoảng bảy trăm năm mươi ngàn binh sĩ của cả hai miền bị chết và vô số thường dân thương vong không thể xác định được!

Năm 2004 tôi lập gia đình và may mắn sanh được một đứa con trai.  Cuộc sống bắt đầu chật vật và bận rộn hơn nhưng tôi vẫn dành một ít thời gian viết lách vì đó là niềm vui và đam mê của tôi.  Rồi một đêm khuya, khi vợ tôi ru con ngủ trong phòng và tôi đang ngồi tư lự bên bàn computer ngoài phòng khách thì chợt nghe tiếng gỏ cửa vang lên.  Tôi ngạc nhiên bước tới, qua lỗ nhỏ dùng để quan sát tôi thấy một ông Mỹ đứng bên ngoài.  Tôi lưỡng lự và trở vô vì an nguy của gia đình.

Tiếng gỏ lại tiếp tục và trở nên vội vã hơn.  Khi tôi mở cửa một luồng khí lạnh toát lướt qua người và tràn vào nhà.

Trước mặt tôi, ông Mỹ đầu đội nón lưỡi trai dù là ban đêm, có lẽ là một người lính vì đồ ông mặc như quân phục nhưng hình như đồ này tôi chưa thấy qua bao giờ bởi chúng rất cũ kỹ.  Nét mặt ông ta mỏi mệt, dáng dấp phong trần nhất thời tôi không đoán được ông ta bao nhiêu tuổi.  Người đàn ông lên tiếng xin nước và muốn tôi giúp cho ít đồng.  Ông bảo ông ở “Fort Sumter” tới đây tìm thăm người bạn cùng đơn vị nhưng bị lạc đường.  Tôi đưa cho ông chai nước lọc và mười đồng.  Ông cám ơn và ra đi.  Tôi đóng cửa, ngồi lại vào bàn nhưng đầu óc mụ mị, người lờ đờ hẳn đi chẳng còn nhớ gì để viết nữa!

Như thường lệ, sáng hôm sau lúc đi làm tôi ra khỏi nhà và khoá cửa lại.  Xa xa, lá cây “Saucer Magnolia” đã ngả vàng xen lẫn một chút nâu sẫm như tô điểm thêm cho cảnh vật.  Màu của mùa thu thật đẹp!  Đột nhiên tôi để ý thấy nơi gốc cây hình như có ai bỏ vài thứ gì đó.  Tôi tò mò bước đến xem thì thấy chai nước đang nằm lăn lóc và lại càng ngạc nhiên hơn lúc nhặt lên bởi bên dưới có cả mười đồng nữa.  Đó là những gì đêm qua tôi cho ông Mỹ.  Bây giờ tất cả đều nằm ở đây.  Tại sao ông xin rồi không lấy?  Ông khát mà sao nước ông không uống?  Vậy ông đang ở đâu?  Nghĩ đến đây tôi ngẩng đầu lên, ngó dáo dác quanh nhà.  Bên kia đường những chùm dây leo rũ lòa xòa trên các cây sồi (Holm Oak) to khổng lồ vì lâu đời đang đong đưa theo gió.  Không lẽ…tôi bắt đầu ơn ớn!

Cuối tuần, tôi đưa thằng con đi tập xe đạp trong khu apartment tôi ở thì gặp bà Beth; hàng xóm ở cạnh nhà tôi cũng đang đi tập thể dục.  Bà có dáng người trung bình, tuổi độ ngoài bảy mươi, chồng chết bà bán nhà và “move down” về đây.  Trong khi tản bộ với bà, tôi kể câu chuyện ông Mỹ xin nước mấy đêm trước ở nhà tôi cho bà nghe.  Bà dừng lại, ngó trân trân tôi một lúc và mắt rực sáng lên nói “ngày xưa ông nội bà là lính Miền Nam và bị thương trong cuộc chiến này.   Sau chiến tranh ông lập nghiệp ở đây, thưở bà còn nhỏ ông hay kể cho bà nghe về đời lính cùng mấy người bạn trong quân đội của ông.  Khi bà lớn lên lập gia đình thì ông đã già lắm rồi.  Bà sống gần đó để săn sóc ông và có nhiều đêm ông hay đi ra ngoài.  Bà hỏi thì ông bảo là có chiến hữu đến thăm.  Nhưng bà chẳng thấy ai cả và bà cho rằng ông già nên lẩm cẩm.”   Rồi bà cho tôi biết thêm một điều mà lâu nay tôi lầm lẫn “Ở đây chỉ có downtown của Sumter thôi.  Còn Fort Sumter là cái đồn lính.  Bây giờ nó là di tích lịch sử, không ai ở đó cả!” 

Trên đường trở vô nhà tôi ngẫm nghĩ mãi về những gì bà Beth vừa nói. Không muốn cho vợ tôi biết và thêm sợ, tối hôm đó tôi âm thầm lấy một dĩa muối với gạo và một ly nước lọc đem ra trước nhà cúng cầu an cho người khuất mặt rồi rải gạo, muối, này khắp bốn phương khi nhang tàn.

Hình ảnh người lính đêm nào với gương mặt đượm buồn, nửa đêm còn lặn lội đi tìm đồng đội gợi lên cho tôi niềm thương cảm miên man.  Cái tình “huynh đệ chi binh” của người lính cao cả làm sao dù họ đã chết và cuộc chiến đã qua lâu.  Không! Không! Họ không chết! Họ chỉ phai mờ như tướng MacArthur đã nói “Old soldiers never die, they just fade away.”

Đêm nay, “Lễ Hội Hóa Trang Ma Qủy” lại gần đến, ngồi bên cửa sổ trông ra ngoài, dưới ngọn đèn đường vàng vọt, các giọt mưa tí tách rơi làm tôi bâng khuâng.

Ôi, “những người muôn năm cũ…!” 

Ohio, Muà Halloween  2018

Triều Phong (TPN)

Blog Archive