Showing posts with label Lê Phi Ô. Show all posts
Showing posts with label Lê Phi Ô. Show all posts

Friday, June 21, 2024

Nó & biến thiên cuộc đời

Chuyện thật kể về một người Lính VNCH trước và sau 30 tháng 04 năm 1975.

Tôi biết Nó từ khi hai đứa còn cắp sách đến trường ở bậc Tiểu Học, rồi cả hai chúng tôi cùng vào năm Đệ Thất trường Trung Học công lập Phan-Bội-Châu, Phan-Thiết.

Quê Nó tận ngoài xứ Huế xa xôi, Mẹ nó... một Cụ bà khoảng tuổi 50, sở dĩ tôi gọi là Cụ bà vì với tuổi tác của một đứa trẻ hơn 10 tuổi như tôi lúc đó, thì người lớn cỡ tuổi 50 đối với chúng tôi phải gọi là Bà. Bà cụ dáng vóc nhỏ nhắn, khi ra đường lúc nào cũng mặc chiếc áo dài, đôi khi người ta thấy Bà đeo một chiếc vòng nơi cổ theo như cách phục sức của hầu hết đàn bà xứ Huế. Bà có tài về gia chánh, Bà nấu những món ăn xứ Huế ngon tuyệt, nghe nói Ông Ngoại nó khi xưa làm Quan ở Triều Đình nên con cháu, nhất là con gái phải đi học về nữ công gia chánh. Ba nó lớn hơn Mẹ nó một con giáp, Ông cụ là một nhà Nho và là bạn rất thân với Cụ Tản-Đà Nguyễn-khắc-Hiếu. Trước 1945, Ông Hồ-chí-Minh mời Ba nó làm cố vấn cho Việt Minh ở Liên-khu 5 (Quảng-Nam, Quảng Ngãi, Bình-Định và Phú-Yên), Ông cụ không thích cộng-sản nên từ chối khéo. Khuyến dụ không được, bọn chúng bắt cóc Ông đưa vào vùng “kháng chiến”. Mãi cho đến khi Ông lâm trọng bệnh bọn chúng mới cho Ông về Đà-Nẳng để chữa trị... và Ông đã tìm cách trốn vào Sài-Gòn, Ông sống với nghề viết Báo và dạy kèm chữ Nho (môn Cổ Ngữ) cho những người chuẩn bị thi Cử Nhân. Thời Pháp thuộc, ở Sài-Gòn có một tờ Nhật Báo “Thần Chung”, tên nầy do Ông đặt ra.

Khi Ba nó trốn đi, bọn Việt Minh cộng-sản bắt mẹ con Nó làm con tin và giữ hai mẹ con trong vùng rừng núi Quảng-Nam, dân địa phương gọi nơi đó là trên “Nguồn”. Lúc đó Nó chỉ mới 5 tuổi, Chi bộ Việt Minh ở đó, gom tất cả trẻ em từ 5 đến 12 tuổi, dạy cho bọn trẻ cách canh gác và báo động khi thấy lính Lê-Dương đi ruồng bố. Một hôm, vì ham chơi, bọn Lê Dương đến rất gần... Nó vừa kịp đưa nón lá lên quạt (ám hiệu báo động có lính Pháp) thì nhiều tiếng súng nổ chát chúa. Thằng nhỏ cùng tuổi với Nó trúng đạn chết ngay tại chỗ, riêng Nó bị té xuống mương nước nhưng ráng chịu đau... đứng dậy chạy dưới lằn đạn. Bọn lính Lê Dương mang đồ nặng và giày Đinh chạy dưới ruộng nước chậm chạp nên không bắt kịp Nó. Tai nghe văng vẳng tiếng Mẹ nó gào khóc từ xa: “Chạy con ơi!...chạy!”. Cả xóm độ vài ba chục người gồm người già, đàn bà và trẻ con chạy trối chết vào sâu trong núi trốn, mấy ngày sau mới dám mò về làng vì đói. Còn Việt Minh CS thì không thấy thằng nào cả, bọn nó bỏ cả dân chúng chạy trước để thoát nạn.

Vì rừng thiêng nước độc, đau yếu không có thuốc men, hai mẹ con bị sốt rét rừng đầu rụng hết tóc, da vàng như nghệ và coi bộ không sống nổi. Bọn Việt Minh CS mới cho mẹ con Nó về Nam-Ô (Quảng-Nam) để chữa trị, trên đường về phải luồn lách qua nhiều cánh rừng. Khi ngang qua một trảng trống có vài miếng ruộng nhỏ... máy bay Pháp thấy nên sà xuống bắn. Mẹ nó trốn trong bụi Dứa, còn Nó nằm nép sát bờ ruộng giả chết (theo lời dặn trước của Việt Minh). Khi máy bay đi xa, cả hai mẹ con chạy trối chết đến chiều mới ra được bờ sông, từ đây phải chờ ghe của mấy người đi vớt củi trên sông để đi nhờ về chợ Nam-Ô khoảng gần mười cây số.

Lợi dụng cơ hội hiếm có, cả hai mẹ con trốn thoát bằng đường biển vào Phan-Thiết sống nhờ bà con. Thời gian ở Phan-Thiết, mẹ con Nó nhiều lần vào Sài-Gòn tìm Cha. Ông giờ đây già yếu, Nó sống với Cha không bao lâu thì Ông chết. Dạo đó, báo chí Sài-Gòn trên tờ Phân-ưu có viết: “Cụ Lê Cương Ph. nhà Nho cuối cùng của làng báo Việt-Nam không còn nữa!”, trong lúc hấp hối, Ông cụ có viết để lại hai câu đối: 

Bể trầm luân theo chúng lội ra khơi, sáu mươi năm nào giận...nào cười...nào khóc...nào thương. lăn lóc vở tuồng trên vũ trụ - Cuộc phiền não khiến mình qua đủ cửa, ba thước đất hết dại...hết khôn...hết ngu...hết trí, rõ ràng hạt bụi giữa tang thương!”.

Số phận Nó long đong, ở Phan-Thiết cũng không bao lâu. Người bà con là một viên chức Chính-Phủ bị Việt Minh CS sát hại, người khác bị thương nặng trong một cuộc phục kích. Gia đình ly tán từ đó, mẹ con Nó dìu dắt nhau vào Sài-Gòn sống nhờ một gia đình bà con khác. Ông nầy là dân nhà Binh nên nay chỗ nầy mai chỗ khác. Nó đã từng theo Ông sống ở Thủ-Đức (trong trường Bộ Binh), rồi Vũng-Tàu, Cà-Mau, Cần Thơ, Mỹ-Tho, Gia-Định rồi Thủ-Đức..v..v.., do đó việc học nhiều lần cũng gián đoạn. 

Khi hai đứa chúng tôi còn học chung ở bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp, vào những dịp trại hè hoặc liên hoan ở trường, Nó thường lẻn trốn ra ngồi một mình nơi chỗ vắng. Tôi hiểu bạn tôi, tâm trạng của kẻ nghèo, mồ côi Cha... nhất là khi nhìn những người khác, cha mẹ đủ đầy, đi có người đưa... về có người đón. Trước khi Mẹ con Nó trốn thoát vào miền Nam, tài sản... tiền bạc bị bọn Việt Minh CS cướp sạch bằng chiêu bài “Ủng hộ kháng chiến”. Khi vào được trong Nam, tuy sống với bà nhưng Mẹ nó cũng phải làm việc để có tiền nuôi Nó ăn học, lúc nào Nó cũng chỉ đi, về một mình...!

Năm 1962, hai đứa gặp nhau ở Sài-Gòn, Nó cho biết là đã nộp đơn tình nguyện vào Khóa 15 Liên Trường Võ-Khoa Thủ-Đức. Mẹ nó già yếu lại mang bệnh suyễn, chút ít nữ trang dành dụm khi trốn thoát Việt Minh CS vào Phan-Thiết, tuy sống tiết kiệm tối đa nhưng nay cũng đã cạn kiệt... hơn nữa, ở Tỉnh nhỏ lúc đó chỉ có trường dạy đến lớp Đệ Tứ, muốn học Đệ Nhị cấp phải vào Sài-Gòn. Vừa hoàn tất bậc Trung Học ở Sài-Gòn thì mẹ Nó cũng không còn đủ sức để nuôi Nó ăn học. 

Trước đó 2 năm, Nó đã xin gia nhập vào “Biệt-Kích Nhảy Bắc”: Sở Bắc hay SB (Special Branch). Vì nghe đồn, đơn vị nầy trước khi đi vào lòng Địch (ở miền Bắc) sẽ được nhận trước 12 tháng lương tiền Tử-Tuất. Nó nghĩ, đi lính trước sau gì cũng chết... nhưng it ra, trước khi chết Nó đã có 12 tháng lương tiền Tử để lại cho Mẹ nó sống khi không còn có Nó! Nhưng là người Nam, muốn được chọn thì phải là người miền Bắc và nói giọng Bắc, nên Nó không được tuyển dụng.

Khi còn học ở Vũng-Tàu 1959, Nó quen một cô bạn cùng trường tên Ph.... khá xinh. Nhưng không lâu sau đó, ông Chú nhà binh của Nó đổi đi tận Cà-Mau, Nó phải đi theo. Cuộc đời của Nó là cả một chuỗi dài bất hạnh nối tiếp nhau, đôi khi muốn viết thư cho cô bạn nhưng sợ gia đình cô ấy biết được sẽ phiền phức cho cô ấy, nên Nó đành câm nín!

Đầu năm 1963, lúc còn đang học trong Quân trường Thủ-Đức, Nó viết thư cho Ph., và chờ đợi với niềm hy vọng mong manh... thời gian xa cách quá lâu, không biết Ph. còn ở Vũng-Tàu hay không, có còn nhớ đến người bạn mà, đã có lần hai đứa đã nép sát vào nhau dưới mái hiên dài vắng lặng trong một đêm mưa nặng hạt, với tiếng sóng biển rì rào và tiếng gió rít rợn người vọng về từ đỉnh núi...khiến Ph. sợ hãi nép sát vào người Nó hơn. Rồi cả hai thẹn thùng... khi nhận ra rằng vòng tay hai người đan nhau không biết tự bao giờ!!!

Hơn một tháng sau, trước giờ ra bãi học chiến-thuật Nó nhận được thư hồi âm của Ph., “May quá Ph. vẫn còn ở chỗ cũ!” thảng thốt gọi tên Ph. và với thái độ không được bình tĩnh, Nó mở thư ra xem... bỗng người Nó chao nghiêng, lá thư rơi xuống đất. Anh bạn đứng kế bên cúi xuống lượm lên trao cho Nó và, đột nhiên anh ta nói lớn với viên Sĩ-quan cán bộ: “Thưa Chuẩn-Úy, Anh P.O trúng gió!”. Tai Nó ù lên, nhiều tiếng nói lao xao... rồi tiếng xe Hồng Thập Tự thắng gấp, Nó được hai anh Quân Y đưa về bệnh xá.

Lá thư trong tay Nó là một thiệp cưới báo tin ngày Ph. lấy chồng!!! cuối thiệp cưới Ph. viết: “Ph. lấy chồng, P.O có buồn lắm không?!”. Từ đó, cho dù những buổi học Chiến-thuật hoặc Địa hình ngoài bãi tập mệt đến nhoài người... Nó vẫn cứ đều đặn mỗi tối xuống Câu-lạc-bộ “Diệm-Song”, gọi ly café đen với một gói thuốc lá, ngồi hút liên tục. Trước khi trở về doanh trại, Nó thường yêu cầu cô Cashier cho Nó nghe bản nhạc “Tà Áo Cưới” của Hoàng-thi-Thơ và Nó khe khẽ hát theo: 

Bâng khuâng trong gió bay tà áo, gió hỡi làm sao bớt lạnh lùng! - Tôi đi, đi mãi theo màu nắng, nắng để lòng tôi với quạnh hiu!”

Sau ngày mãn khóa, Nó theo học khóa căn bản Tình Báo ở trường “Cây Mai” Sài-Gòn, và xin về phục vụ tại Phòng 2 Tiểu-khu Phước-Tuy. Lúc đó Vũng-Tàu chưa tách rời thành Thị Xã mà là một Quận của Tỉnh Phước-Tuy. Mỗi cuối tuần Nó thường thơ thẩn ở bãi trước đường ra bãi Dứa gần Dinh Thượng. Nơi đây bãi cát trắng phau xen kẽ những ghềnh đá mà mỗi cơn sóng vỗ làm tung những bọt nước trắng xóa. Nó, vẫn chỉ một mình ngồi cho đến khuya trong không gian tĩnh lặng, nghe sóng nước rì rào, nghe tiếng Thùy-Dương vi vu vọng về từ bãi trước... những vết chân tình in trên cát thuở nào nay đã mất dấu, cảnh cũ vẫn còn nhưng người xưa mãi mãi biền biệt phương nào!!!

Chiến cuộc lan tràn... trận đánh lớn nhất xảy ra tại Làng Bình-Giã, Quận Đức-Thạnh đã gây một số tổn thất cho quân của Chánh Phủ VNCH, trong đó Tiểu-đoàn 4 TQLC là thiệt hại nhiều nhất.

Phòng 3 Tiểu-khu Phước-Tuy quyết định thành lập những toán Thám-sát lấy tên là Quyết Tử, lính được tuyển chọn là những quân nhân gan dạ và tình nguyện từ các Đại-đội biệt lập hoặc thành phần cựu binh từ các Quân, Binh Chủng bị báo cáo đào ngũ với nhiều lý do khác nhau như Dù, TQLC, BĐQ..., Nó được chọn để chỉ huy đơn vị Thám-sát “Quyết Tử” nầy, ban đầu quân số chỉ ở cấp Trung-đội sau lên đến Đại-đội (-) khoảng trên 60 người.

Đang phục vụ trong nghành Quân Báo tương đối it nguy hiểm, nhưng không hiểu sao Nó làm đơn xin ra khỏi ngành và tình nguyện phục vụ bất cứ đơn vị tác chiến nào với lý do đơn giản: “Thích đánh giặc”! Trong thời gian còn làm việc ở ngành Quân Báo, Nó chỉ huy chỉ một Trung-đội, đôi khi một Tiểu-đội Tình Báo, đột kích vào sào huyệt việt cộng như Mật khu Minh-Đạm, Dinh Cố, Long-Mỹ, Núi Đất... nhất là vùng Long-Tân thuộc Quận Long-Lễ Tỉnh Phước-Tuy, nơi mà quân đội Úc hãnh-diện có một trận đánh để đời. Chỉ với một Tiểu-đội 10 người Nó đã gây hoảng loạn và tổn thất đáng kể cho các đơn vị địa phương việt cộng trong vùng mà bọn VC gọi là “Vùng giải phóng”, vì thế Nó được chọn chỉ huy đơn vị Thám-sát Quyết Tử.

Tình hình chiến sự trở nên tồi tệ sau ngày đảo chánh 01 tháng 11 năm 1963, những cuộc chỉnh lý tiếp theo của cấp Tướng Lãnh ở trung ương khiến tình hình ở địa phương càng thêm bi đát. Ấp chiến lược bị dẹp bỏ, lính tráng tự động rã ngũ hoặc đào ngũ, mỗi Đại đội quân số lúc đó không tới 40 người. Bọn cộng-sản lợi dụng tình hình rối ren của miền Nam mở rộng hoạt động phá hoại từ “Chiến tranh Du Kích” chuyển sang “Trận Địa Chiến”, điển hình là trận đánh Bình-Giã tháng 12 năm 1964. 

Mẹ nó, đêm đêm hướng mắt về vùng có Hỏa Châu soi sáng hoặc có tiếng Đại-Bác vọng về, Bà cầu nguyện cho đứa con duy nhất của mình được an lành trên đường dài chiến chinh. Trong một trận đánh lớn tại Xuyên-Mộc tháng 03 năm 1965, Nó bị thương nhưng không nặng. Sau khi xuất viện, Mẹ nó thường ước ao mong sao Nó lấy vợ sớm để Bà có cháu nội. Trong thâm tâm Bà, súng đạn vô tình, lỡ có mệnh hệ nào xảy ra cho Nó... Bà sẽ sống với ai! - Thương Mẹ, Nó lấy vợ và tháng 07 năm 1966... Bà đã có cháu nội để ẵm.

Cũng cùng thời gian đó, với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, với một lý tưởng Quốc-gia trong sáng và với bộ quân phục mặc trên người mà Nó luôn luôn hãnh diện. Thì cũng có, một vài cấp chỉ huy phe phái, chèn ép... Nó đã đụng độ với một sĩ-quan đồng cấp “người nhà” của “Xếp” lớn. Và, Nó bị thuyên chuyển đi nơi khác... nơi mà, rừng núi bạt ngàn, nơi mà việt cộng nhiều hơn lính, nơi mà có hai Quận (Chi-khu) hắc ám nhất: Tánh-Linh và Hoài-Đức (Võ-Xu, Võ-Đắt).

Cuộc chiến Việt-Nam chấm dứt ngày 30 tháng 04 năm 1975. Ngày bi thảm của lịch sử! Theo cùng vận nước nổi trôi... Nó cùng nhiều trăm ngàn Quân, Dân, Cán, Chính VNCH khác mà con số lên đến hàng triệu người... trở thành người tù của chế độ mới, chế độ cộng-sản man rợ trên tất cả sự man rợ. Bọn việt cộng muốn trả thù người Lính miền Nam qua mỹ từ “Trại cải tạo”.

Năm 1978 Tù “cải tạo” được giao cho công an cộng-sản giam giữ. Giáng sinh năm đó, tại trại tù Suối Máu, Biên-Hòa. Anh em tù nổi dậy, phá rào ngăn cách các trại giam, ca nhạc Giáng-sinh và nhạc Chính-Huấn VNCH suốt đêm. Nó tham gia tổ chức trừng phạt Ăng-ten, dạy bài học đích đáng cho những tên phản bội anh em, hoặc những người có thân nhân là việt cộng muốn lập công “để được cho về sớm”?!.

Vài tuần sau, bọn công an bắt đầu trả thù, Nó cùng 3 người khác, mỗi người bị nhốt riêng trong một thùng sắt Container, trên người chỉ duy nhất một chiếc quần xà-lỏn, ban ngày nóng như thiêu đốt, ban đêm lạnh cắt da của thời tiết mùa Đông. Cứ hai ngày thì bị công an dẫn đi thẩm vấn một lần, thỉnh thoảng bị đánh đập... Công an tha hồ chửi mắng, thoi, đạp bằng tay, chưn và cả báng súng, riêng Nó bị đánh nặng. Anh Trương quang Q. là bạn cùng khóa với Nó, hàng ngày mang cơm nước đến Container cho Nó, và ngày nào cũng mang cơm thiu về vì Nó bị công an đánh ói máu không ăn uống gì được. Anh Q. phải nấu cháo và hòa tan mấy viên thuốc trụ sinh vào trong cháo khuyên Nó ráng ăn để sống. Vài tuần sau, một người trong nhóm có tên là Long Ca-rô, vì anh chỉ có độc nhất một chiếc áo ca-rô mặc trên người, bị đánh bằng báng súng vỡ sọ chết. Từ đó những người còn lại không bị công an đánh nữa.

Chừng vài tháng sau ngày tù nhân Suối Máu nổi dậy, bọn công an thanh lọc những người tù có thành tích chống đối nhiều nhất, trong đó có Nó, giải giao về khám Chí-Hòa Sài-Gòn. Nơi đây, người tự xưng là cán bộ “chấp pháp” có tên là Trạc, lần lượt thẩm vấn từng người. Tù nhân bị dẫn đến phòng hỏi cung ban đêm, đầu bị trùm kín mít chỉ chừa 2 con mắt. Sau nhiều tháng nằm khu xà lim, tù được chuyển ra khu tập thể. 

Vào một đêm nhà tù Chí-Hòa đang chìm trong giấc ngủ, đám tù nhân nổi dậy ở Suối Máu bị đưa ra xe bít bùng, mỗi người được cấp phát một ổ bánh mì nhỏ với 2 cục đường tán, không có nước uống. Khi đọc đến tên Nó, thằng công an hằn học: “Anh làm tới Tiểu-đoàn Trưởng, chắc là phải giết nhiều người lắm!”, nhưng cũng nhờ đứng gần Nó đọc được nơi trang giấy trên tay thằng công an: “Họ, tên 163 can phạm trại Tân-Hiệp (Suối Máu)”, đây chỉ là danh sách đợt đi có mặt Nó. Trên đường đi, mỗi khi xe dừng lại để bọn áp tải tù nhân nghỉ ngơi ăn uống, đồng bào nghèo buôn thúng bán bưng biết được xe chở tù “Cải tạo” là họ kêu ầm lên: “Bà con ơi! xe chở mấy anh tù cải tạo, bà con ơi...!”, thế là, đủ loại bánh kẹo, trái cây, bánh tét, bánh ú, đồng bào liệng tới tấp lên xe, kèm theo lời nói làm anh em tù xúc động vì biết được rằng đồng bào vẫn còn thương những người lính miền Nam sa cơ: “Ăn đi mấy anh, ăn đi các con...!”, cảm động nhất là các em bé tuổi từ 10 đến 12, trong cái Nia hoặc Rổ nhỏ vỏn vẹn vài chục trái chuối nấu hoặc mía ghim, cả một “gia tài” nuôi sống gia đình trong ngày, các em hất hết lên xe biếu các chú tù!

Xe chạy đến chiều ngày hôm sau thì tới Xuân-Phước thuộc Huyện Đồng-Xuân, Phú-Khánh (tên gọi mới của việt cộng), tù phải lội bộ vài cây số mới đến trại mang bí số A20, còn có tên gọi khác là Trại Trừng-giới hoặc Trại Kiên giam... nơi kiên trì giam giữ những tù nhân “không cải tạo được” từ các trại giam khác (muốn biết trại giam nầy khắc nghiệt và tàn độc đến mức độ nào, xin tìm đọc cuốn sách: “Trại Kiên Giam” của nhà văn Nguyễn-chí-Thiệp cũng là người tù của trại A20).

Nó bị bộ đội cộng-sản bắt lúc 09:00 giờ sáng ngày 30 tháng 04 năm 1975 tại chợ mới Vũng-Tàu, trước khi Ông DVM tuyên bố đầu hàng. Bị đưa về giam tại hậu cứ Trung-đoàn 43/SĐ18BB tại Long-Khánh. Khi các người khác trình diện “Học tập cải tạo” (theo cách nói của VC) thì Nó bị nhập chung vào và bị giam giữ ở trại Hố-Nai. Giữa năm 1976 Nó bị chuyển về Suối Máu rồi Chí-Hòa. Từ 30 tháng 04 năm 1975 đến giữa năm 1979 (4 năm), Vợ Nó thăm hoặc gởi quà tất cả 6 lần.

Đầu năm 1976, khi còn bị giam tại Hố-Nai, Vợ nó báo tin Mẹ nó chết. Đau đớn đến tận cùng, Nó toan trốn trại mấy lần. Bất ngờ bị chuyển về Suối Máu nên ý định bất thành... và cũng thời gian nầy, những gia đình ở Bà-rịa thăm nuôi chồng, các bà xầm xì với chồng cũng là bạn tù của Nó về Vợ nó... ít gởi quà hoặc thăm nuôi Nó, và cuối cùng Nó cũng hiểu được rằng: Vợ nó bây giờ không còn là của Nó nữa, tiếc rằng quá sớm, quá sớm để thay lòng đổi dạ một con người, chuyện xảy ra chỉ hơn một năm kể từ ngày Nó bước chân vào trại tù.

Nó lầm lì ít nói hơn, suốt ngày anh em thấy Nó may vá cái ba-lô lấy vải từ chiếc võng nhà binh đã cũ, nếu tinh ý sẽ thấy Nó đang chuẩn bị cho một cuộc trốn trại. Và, lũ chó săn (Ăng-ten) cũng có đứa tinh ý nên... chỉ trong vòng 4 tháng, Nó bị chuyển từ K2 đến K4, rồi K3 và về lại K2 (Trại tù Suối Máu có 5 khu, từ K1 đến K5). Cho đến đêm Giáng-Sinh năm 1978, cuộc nổi dậy của tù nhân Suối Máu khiến cho bọn VC sợ hãi điều động bộ đội và cả Trung-đoàn xe Tăng T54 bao vây bên ngoài... và, Nó có tên trong số tù nhân bị chuyển về nhà tù Chí-Hòa như đã nêu trên.

Ở trại tù A20 Xuân-Phước, mọi tù nhân đều bị lao động khổ sai, đào mương, vét cống, cuốc đất trồng khoai mì, kéo cày thay trâu v..v.. Mỗi người chỉ nhận được 2 chén khoai mì H34 với nước muối cho một bữa ăn, loại khoai mì H34 chỉ để dùng trong kỹ nghệ chế biến, cho heo ăn, Heo cũng không thèm ăn.

Suốt 6 năm tù sau cùng... Nó chỉ ăn toàn bắp, khoai mì H34 với nước muối. Vào dịp tết âm lịch, Nó cũng như mọi tù nhân khác được ăn hai bữa cơm, mỗi bữa 2 chén cơm lưng, với một cục thịt heo lớn bằng ngón tay, và chỉ có thế. Mẹ chết, Vợ bỏ, tứ cố vô thân không ai thăm hỏi, sức lực không còn, thêm vết thương tinh thần quá lớn làm Nó suy sụp thấy rõ. Một hôm đang lao động, Nó ngã gục vì kiệt sức, may nhờ có Bác-sĩ Trần-quý-Nhiếp Thiếu Tá Nhảy Dù ở chung một nhà tù với Nó cứu chữa kịp. Không có thuốc men gì cả, Anh Nhiếp châm cứu Nó bằng những cây kim làm bằng giây điện thoại lượm được khi đi lao động. Tình trạng đói khát và lao động khổ sai nầy nếu kéo dài... có lẽ Nó không thể nào sống nổi.

Một hôm đang đào ao cá trong trại, Nó gặp anh Ph. ở đội Văn Thể (Văn nghệ - Thể thao) rủ Nó xin về đội “Văn Thể” để đỡ phải lao động ngoài nắng. Anh Ph. là một kép hát cải lương (hiện còn ở VN), bị án tù 10 năm về tội “Phản cách Mạng” khi tham gia vào một phong trào phục quốc sau 30 tháng 04/1975. Anh Ph. biết rõ Nó có nghề Ảo thuật, Nó là bạn của Nhạc-sĩ Bảo-Thu tức Ảo-thuật-Gia Nguyễn-Khuyến. Chỉ còn con đường cuối cùng là vào đội Văn Thể may ra mới có thể sống còn để về với 4 đứa con, mà đứa lớn nhất 13 hoặc 15 tuổi (1981).

Gần cuối năm 1981, một anh trong đội “Văn Thể” gọi Nó lên nhận quà của gia đình gởi. Phản ứng đầu tiên là Nó giận dữ và cay đắng nói với anh ấy: “Anh còn cách nào đùa giữn hay hơn nữa không?!”. Ai cũng biết, nhiều năm nay Nó là “con Bà Phước”, những ai không bà con, họ hàng thân thích, không hề nhận được chút quà bánh nào từ bên ngoài gởi vào, anh em đều gọi là con Bà Phước. Nhưng thật tình Nó có quà thật, quà của “Vợ” nó gởi! một gói quà nhỏ gần 2 ký lô, trong chứa thức ăn để dành được lâu ngày vì người tù không có điều kiện để nấu nướng. Một anh bạn khác nhìn thấy Nó đang mân mê gói quà trên tay, anh mừng rỡ nói: “Mầy cũng có...quà hả?!”, câu nói đầy thiện ý, mừng giùm cho bạn nhưng sao Nó nghe như một lời mỉa mai: “Mầy mà cũng có quà nữa sao?”.

Những tấm lòng người dân VNCH đối với các cựu tù “cải tạo”

Năm 1982, Nó có tên trong số người được thả về, trại tù cấp phát $70.00 tiền VC lúc đó, số tiền chỉ đủ để đỡ đói lúc đi đường thôi. Nó được công an trại tù chở bằng xe ra tới Ga xe lửa La-Hai, từ đây Nó đón Tàu về Biên-Hòa. Trên đường đi, mỗi khi Nó ăn uống gì xong, khi gọi tính tiền, những người bán hàng đều trả lời: “Có người trả rồi”, năn nỉ mãi người bán hàng cũng không chịu nói là ai đã trả tiền giùm Nó. Nó đành phải cám ơn người bán (người bán hàng có thể là một Ông già, một Chị, một cô Gái hoặc một em nhỏ tuổi chừng 15, 16). Một chút xúc động về tình người làm tim nó cảm thấy ấm áp, cái cảm giác mà Nó tưởng chừng đã tê liệt suốt những năm tháng tù tội. Hành trang của Nó khi ra khỏi trại tù cộng sản chỉ vỏn vẹn một bàn chải đánh răng đã cùn, một bộ đồ mặc trên người với hàng trăm mảnh vá, trên lưng áo cũng như hai bên ống quần còn nguyên dấu hai chữ “cải tạo” bằng sơn đen to tướng. Nhưng cũng nhờ thế, ai thấy cũng muốn giúp đỡ, ăn uống gì xong người bán đều trả lời: “Đã có người trả tiền!”.

Về đến chợ Biên-Hòa lúc 04:00 giờ sáng, có người chỉ cho Nó tìm mấy xe hàng chở Dưa Hấu, họ sẽ đi Bình-Giã chở Dưa lúc 06:00 giờ. Người Tài xế tốt bụng cho Nó đi nhờ xe về “quê vợ” Nó ở Bà-Rịa.

Hơn 08:00 giờ sáng xe tới Bà-Rịa, Nó lững thững đi bộ về “Nhà”. Khi ngang qua một tiệm bán Bún Bò Huế, một người gọi tên Nó: “Ê, P.O vào đây!”, Nó quay lại thấy X. “Pháo-Binh”, anh bạn nầy được thả về trước, trên tay cầm xấp vé số. X. lôi Nó vào quán, lần đầu tiên sau 7, 8 năm Nó mới được ăn một tô bún bò ngon như thế. Hai người ăn xong, đang xỉa răng thì X. ngập ngừng: “Trước hết, mầy hãy bình tĩnh nghe tao nói!”. Nó biết X. sẽ nói gì...vì từ lâu Nó đã chuẩn bị tinh thần để nghe chuyện nầy. X. tiếp: “Sau khi tao nói xong, mày muốn về thì...về, còn như không muốn về thì...mầy theo tao, ở tạm nhà tao rồi tính sau!”...và, với giọng trầm buồn X. kể những điều nghe, biết về “Vợ” nó. Nó ngồi nghe X. kể với gương mặt giá băng và bất động, duy chỉ có ánh mắt là không thể nào dấu được nét xúc động!

Thằng X. thương bạn nhưng không biết phải làm sao! X. gọi café sữa đá cho hai đứa. Nó không thể nào uống nổi một hớp dù chỉ là một hớp nhỏ. Không gian như ngừng đọng, khi thằng X. lay khẽ tay Nó như chợt tỉnh, nói nhỏ với X. như nói với chính Nó: “Tao phải về, từ lâu... tao chưa được gặp con tao, tụi nhỏ bây giờ chắc... lớn lắm!”

Gần một tháng sau ngày về “Nhà” gặp được mặt con, người ta thấy Nó khiêng vác ở chợ cá Bà-Rịa. Ban đêm Nó ngủ ngồi ở sạp cá, dù mỏi mệt cách mấy Nó cũng không dám nằm, Nó không muốn người ta thấy Nó... tàn tạ như vậy! Vào những đêm trăng, mấy người đi Chùa ở Xóm Cát, khi ngang qua Nghĩa-địa Việt-Hoa, thỉnh thoảng có người nhìn thấy Nó ngồi... khóc trước Mộ của Mẹ nó... Nhiều người ở Bà-Rịa đều biết cái chết thảm thương của Bà Cụ, nhất là hai mẹ con cô Th..., Y-tá làm việc trong bệnh viện. Người ta nói, khi mẹ nó bị bệnh không biết nặng nhẹ, “Vợ nó” mang vào rồi quay lưng như người xa lạ. Bệnh viện thời việt cộng (tháng 01 năm 1976) không có trách nhiệm nuôi ăn bệnh nhân, các con của Nó thì còn quá nhỏ, đứa lớn nhất chỉ mới 9 tuổi, vài ngày sau Mẹ nó chết... vì đói!!! Đám ma mẹ nó chỉ có một người duy nhất mang hòm đi chôn, đó là Cậu em vợ của Nó. Người hàng xóm cho 4 tấm ván tạp để đóng hòm, tạm gọi là hòm vì 4 tấm ván kích thước, dày, mỏng khác nhau.

Đôi khi uất ức về cái chết thảm thương của mẹ nó, Nó đã gói sẵn con dao bén nhọn trong tờ báo... nhưng khi nghĩ đến những đứa con, Nó không muốn các con của Nó mồ côi Mẹ hoặc Cha, hoặc cả hai!

Năm 1988, Nó vượt biên bằng ghe và định cư ở California tháng 03 năm 1989.

Người đàn bà nguồn hy vọng cuối cùng của Nó khi ra khỏi tù, có với nhau 4 đứa con đã phản bội Nó trong những năm tháng bị tù đày, nghiệt ngã... trong nhà tù của Việt cộng, cùng sống trên mảnh đất nầy. Làm thơ, viết văn... lại được tán dương, ca ngợi hết lời!

Nó im lặng, thở dài, ngao ngán! Trường hợp của Nó, bạn bè đều biết, đôi lần muốn chia sẻ... nhưng Nó vẫn giữ im lặng!

Lê Phi Ô

Thursday, April 2, 2020

Cô gái cùng chuyến xe

Lê Phi Ô 

- Thưa Bác… ghế nầy có ai ngồi chưa ạ !

- Thưa… Cô, ghế còn trống.

Tôi vội lấy cái túi đeo lưng (Backpack) về phía mình trả ghế trống cho người vừa hỏi. Cô gái… thiếu phụ thì đúng hơn, tuổi khoảng chừng ngoài 30. Nàng ngồi xuống cạnh tôi, hương thơm của mùi nước hoa thoảng nhẹ trong không khí ban mai thật dễ chịu. Đã lâu, hình như lâu lắm mùi nước hoa quen thuộc nầy… nhất thời tôi chưa nhớ ra là tôi được thưởng thức hương thơm nầy từ… đâu.
  
Tôi kín đáo nhìn ngang để xem người vừa ngồi có quen biết gì không. Ngoại hình và mái tóc có nét gì đó quen thuộc nhưng gương mặt thì không thể nào nhìn được vì nàng mang một cặp kính mát lớn che cả nửa phần trên của gương mặt nhưng… hình như cũng có một nét gì đó quen quen.
  
Xe đến Gilroy thì rẻ vào xa lộ 252 west, nắng chói thẳng vào mặt, tôi lấy kính mát đeo vào và cũng có dụng ý là khi tôi quan sát cô gái ngồi kế bên sẽ không bị nàng phát giác. Cùng lúc đó nàng lấy kính xuống để lau bụi, tôi giật nẩy người khi liếc nhìn khuôn mặt nàng. Giống quá, nàng giống quá. Khuôn mặt, mái tóc và nhất là cặp mắt của một người tôi quen của cái thời tôi còn là một anh lính trẻ. Quá khứ hiện về rõ nét và đang ngồi sát cạnh bên tôi chứ không lung linh mờ ảo như những lần tôi hồi tưởng. Nhớ ra rồi, mùi nước hoa Channel #5 của phụ nữ mà Hồng Gấm thường dùng. Cũng mái tóc, gương mặt, sóng mũi và nhất là cặp mắt tròn xoe đen láy như hai hạt nhãn khi nhìn vào nó trong những ngày mới quen em… làm tôi quên cả lối về. Khẽ gọi thầm tên em… cô gái quay ngang nhìn tôi như muốn hỏi gì đó nhưng rồi… thôi.
  
- Cô xuống… Westminster thăm người quen, phải không ?
  
 - Dạ không, con ở dưới đó. Con lên San Jose thăm bạn hôm nay về lại. Còn Bác ?
  
- Tôi ở San Jose, xuống thăm bạn bè ít bữa… rồi về.
  
Cô gái ngầm quan sát tôi, nàng nghĩ ông già nầy nói chuyện hình như không được tự nhiên… ông có điều gì muốn nói ra nhưng không tiện thì phải. Cô nở nụ cười rồi quay lại ngồi thẳng, cũng là lúc thuận tiện cho tôi quan sát nàng. Hồng Gấm ngày xưa của tôi năm nay cũng ngoài 60, không biết bây giờ em ở đâu, gia đình có hạnh phúc không ! hoặc… cũng có thể một bất hạnh nào đó xảy ra cho em kể từ thảm họa 30 tháng 04, ngày bi thảm của lịch sử. Không lúc nào là tôi thôi nghĩ đến em và cầu mong cho em luôn gặp được nhiều may mắn.
  
Cô gái lấy trong giỏ xách ra một gói nho, quay lại phía tôi:
  
- Thưa Bác, mời Bác ăn nho. loại nầy ngọt lắm… con nhỏ bạn biết con thích ăn vặt nên hôm qua đi chợ nó mua cho con nhiều lắm.
  
- Cám ơn cô ! … Tôi đưa tay cầm lấy chùm nho tươi mọng nước, nhìn bàn tay cô gái tôi không khỏi xúc động, cũng những ngón tay thon đó năm xưa Hồng Gấm đã từng mời tôi ăn nho và cũng nhiều lần tôi tìm cớ xem bói để được cầm tay nàng lâu hơn. Tôi buông tiếng thở dài dù rất nhẹ nhưng cũng đủ làm cho cô gái nghe thấy, nàng định nói gì đó nhưng lại thôi.

Một lát, cô gái nói khẽ:
  
- Bác gái sao không đi với Bác ?
  
- Tôi sống một mình cô ạ, đã từ lâu…
  
- Thế, Bác gái còn ở Việt Nam hở Bác.
  
- Tôi cũng không rõ, chúng tôi chia tay nhau từ… lâu lắm. Kể từ ngày tôi bước chân vào nhà tù “cải tạo” cọng sản.       

Cô gái hình như hiểu một điều gì đó, cô ngồi im mắt ngó ngoài cửa xe.

Bỗng nhiên cô quay lại tôi nói nhỏ, giọng có vẽ chua chát.
   
- Bà nào rồi cũng vậy, con ghét những người như vậy !

Tôi giả vờ:
  
- Cô nói ai… ạ ?
  
- Ở xóm con bên Việt Nam có rất nhiều bà bỏ chồng, ngày nào ông chồng còn lên xe xuống ngựa… đến khi té ngựa thì mấy bả cho… té luôn.
  
- Không phải ai cũng vậy cô ạ, đúng ra cũng vì hoàn cảnh.
  
- Thưa Bác, không phải con quơ đũa cả nắm đâu. Đa số, con nói đa số… đều đổ thừa cho hoàn cảnh.
  
Cô gái nầy lòng dạ thẳng ngay, nếu tiếp tục sẽ đưa đến chổ làm cô ấy mất vui.

Tôi lảng sang chuyện khác:
  
- Ông xã cô đâu… sao đi chỉ một mình vậy ?
  
- Con còn độc thân, đáng lý ra đôi khi con cũng muốn có một mái ấm riêng cho mình. Nhưng vì thương mẹ, con không muốn để mẹ sống một mình.
  
- Không phải tò mò, nhưng cho Bác hỏi…Ba, Má con vẫn sống hạch phúc phải không con.
  
- Dạ, Ba Má con vẫn bình thường, nhiều lần khuyên con lập gia đình, con vâng dạ cho ba má con vui nhưng… Cô gái bỏ lững câu nói, rồi đột nhiên lên tiếng: “trong tình trường có người may mắn chỉ gặp nhau một lần mà hạnh phúc cả đời. Có người lại lận đận…”
  
- Bác hỏi thật, có khi nào con gặp phải “lận đận”… không ?
  
- Dạ không, con chưa bao giờ cả, chỉ có điều…
Cô gái ngập ngừng… đầu hơi cúi xuống. Cô định nói gì đó nhưng rồi thôi.  
  
- Bác xin lỗi con, Bác cũng thuộc loại không nói nhiều nhưng vì thấy con tánh tình cởi mở vui tánh nên Bác…
  
- Không, thưa Bác không đâu ạ, trái lại khi vừa gặp Bác con đã có cảm tình ngay cứ như là bà con với nhau, Bác cứ tiếp tục, con thích nghe Bác nói lắm !
  
Không hiểu sao tôi cũng có cảm tình với cô gái nầy khi mới trao đổi nhau những câu nói đầu tiên. Giọng trầm buồn cô gái nói tiếp:
  
- Thưa Bác, gia đình con 4 người, ngoài cha mẹ… con còn có một người anh trai đã có vợ và 2 con. Hiện anh ấy là Bác Sĩ trong quân đội Mỹ. Con thì sống với Ba Mẹ ở Santa Ana. Ba con là một người đàn Ông lý tưởng, biết thương yêu và chăm sóc vợ con, mỗi khi mẹ con buồn Ông thường hay tìm chuyện nầy chuyện nọ chọc cho mẹ con vui.
  
- Một gia đình hạnh phúc như vậy thì… mẹ con có việc gì phải buồn hở con ?!
  
- Thưa Bác…

Cô gái ngập ngừng giây lát, hai môi hơi mím lại… rồi như quả quyết:
  
- Trước khi lấy Ba con, má con đã yêu một người !

Tôi hơi bất ngờ:
  
- Ba con có biết không ?
  
- Dạ thưa, biết !

Chuyện bỗng nhiên trở nên “ly kỳ”, tôi hỏi tiếp:
  
- Thái độ của Ba con ra sao ? Bác muốn hỏi lúc Ba con mới biết kể cả sau nầy nghĩa là bây giờ.
  
- Ba biết rõ câu chuyện tình của má con trước khi hai người lấy nhau cho đến bây giờ mà vẫn một mực yêu thương má con.
  
- Cho Bác xin lỗi hỏi con câu nầy nha. Có bao giờ…
  
- Con biết Bác muốn hỏi: Má con có làm điều gì có lỗi với Ba con, phải không Bác ! không Bác ạ, hoàn toàn không. Má con một mực kính trọng Ba của con và bà giữ đúng cương vị của một người vợ có tư cách. 
  
Như vậy có điều gì khiến cô bé nói với tôi: - “Những buổi hoàng hôn nắng tắt, mẹ con thường đứng một mình bên song cửa nhìn về hướng trời xa. Những đêm trăng mờ ảo má con cũng chỉ một mình. Hình như bà rất sợ ánh sáng và cả bóng tối.  

Đầu năm 1975, tin tức chiến sự ác liệt trên khắp chiến trường miền Nam cho đến ngày ông DVM tuyên bố đầu hàng, sau ngày đó những cuộc vượt biên tìm tự do có không ít chiếc thuyền bạc phước đã chìm giữa đại dương trong đêm tối mịt mờ. Ba con cũng đã tìm phương tiện cho cả nhà vượt thoát bằng đường biển, may mà thành công. Khi đã định cư ở Mỹ, tin tức trên báo chí, truyền hình đề cập đến những trại “cải tạo” do cộng sản dựng lên mà thực chất là những trại tù lao động khổ sai, đã có nhiều người chết vì bệnh tật, đói khát và kiệt sức. Mới đây một ông cựu Bác Sĩ Quân Y bạn của Ba con ghé thăm, mẹ con hỏi cuộc sống trong quân ngũ khi xưa có vất vả lắm không – Bác đó nói dù sao cũng là Bác Sĩ nên chuyện vất vả, hiểm nguy đâu có bằng những người ngoài mặt trận. Bác nói… cầm con dao giải phẫu trên tay đôi lúc phải kềm chặt lại để khỏi run khi nhìn thấy những vết thương xé cả lồng ngực người chiến binh, hoặc vết đứt rách cả vùng bụng không thể cứu sống được mà vẫn thều thào gọi tên người yêu! - Những lúc đó mẹ của con ngồi bất động, mắt nhìn ra cửa sổ và mấp máy đôi môi, bà lảm nhảm gì đó không ai hiểu bà nói gì. Chỉ có bà hiểu, bà âm thầm cầu nguyện cho một người lính đang băng mình ngoài kia nơi chập chùng lửa đạn…”.
  
Tôi hỏi cô gái:
  
- Ai đã nói cho con biết vậy ?
  
- Thưa Bác, sinh nhật năm con 20 tuổi, nghĩa là cách đây hơn 10 năm. Sau tiệc sinh nhật mẹ gọi con vào phòng, trên tay mẹ cầm một gói giấy nhỏ bọc nylon kỹ lưỡng, giọng thật buồn mẹ nói:
  
- Đây là quà sinh nhật mẹ tặng con, một gói quà vô giá bằng cả cuộc  đời mẹ. Mẹ giao cho con, đọc xong nhớ giữ kỹ cho mẹ nha con.
  
Cô gái tiếp:
  
- Đó là quyển nhật ký của mẹ con, nét chữ nắn nót thật đẹp nhưng cũng có những chỗ chữ viết xiêu vẹo, lem luốc. Đoạn văn thật xúc động, con đoán là những giọt nước mắt của mẹ làm trang giấy nhòe đi !
  
Giọng nói bỗng ngưng lại và cô ấy…khóc ! – Tôi tôn trọng những giây phút nầy nên cũng giữ yên lặng.
  
Hồi lâu, tiếng cô gái cất lên nhẹ như hơi thở:
  
- Con xin lỗi Bác… những lời mẹ viết ra khiến con xúc động nên…
  
- Nếu cần con cứ tự nhiên khóc, những giọt nước mắt sẽ giúp con vơi bớt xúc cảm trong lòng.
   
Cô gái nhìn tôi, ái ngại:
   
- Con xin lỗi Bác, tự dưng con đem chuyện buồn của gia đình con nói ra làm Bác cũng không được vui !
   
Tôi thoáng cười buồn, cả hai chúng tôi mỗi người lại yên lặng theo đuổi ý nghĩ của riêng mình. Chuyện gia đình nàng mà tôi tưởng chừng như chuyện của tôi, chỉ có tên họ và nơi chốn thì khác nhau.                                               
Tương tự,  câu chuyện của tôi và Hồng Gấm cũng thế: - Hồng Gấm lấy chồng, một Dược Sĩ con nhà giàu anh ruột của cô bạn thân cùng lớp. Nàng đã nhận lời lấy người mình không yêu chỉ vì mẹ nàng bị bệnh nan y, muốn chữa khỏi phải tốn cả triệu dollars. Gia đình nàng có 3 chị em, người chị đầu có chồng làm thư ký cho một hãng xuất nhập cảng, bà chị làm cô giáo mà phải nuôi cả hai đứa em còn đi học. Chị kế nàng là Hồng Nhung cũng bỏ học nửa chừng đi làm y tá để nuôi cô em út Hồng Gấm học cho đến nơi đến chốn. Hồng Nhung là bạn gái của anh Chuẩn Úy nghèo xác nghèo xơ là tôi, mối tình đẹp như mơ thì Hồng Nhung bị việt cộng sát hại.
  
Có lẽ do Trời sắp đặt, Cô em út là Hồng Gấm trở thành người yêu của tôi sau một buổi chiều đi thăm mộ Hồng Nhung về… có lẽ tình yêu thương tha thiết của cả hai chúng tôi đối với Hồng Nhung nên đã đưa hai đứa đến với nhau, nhưng Hồng Gấm còn bé quá, nàng chưa học xong bậc trung học. Tôi hứa với em là mình sẽ sống với nhau sau khi em tốt nghiệp Đ.H Sư Phạm rồi đi dạy học, như vậy em mới có đủ tiền nuôi anh lính nghèo nầy nữa chứ. Hồng Gấm cười ngượng ngùng rồi đưa ngón út lên móc ngoéo tay tôi.
  
Nhưng, ngày tốt nghiệp của Hồng Gấm cũng là ngày chị Hai nàng thay mặt gia đình nhận lời cầu hôn của gia đình anh Dược Sĩ trẻ, lúc đó tôi đang được Trực Thăng tải thương về Tổng Y Viện Cộng Hoà nằm ở phòng lựa thương chờ phân loại do đạn súng cối 82 ly của vc khi đồn bị  tấn công.
  
Đang nằm trên băng ca để Bác Sĩ xem xét vết thương thì Hồng Gấm đến, theo sau nàng độ mươi bước là anh Dược Sĩ “Người chồng tương lai” của nàng. Hồng Gấm hớt hãi đang dáo dác tìm rồi… em chạy nhanh đến gục xuống và òa khóc trên ngực tôi. Nước mắt của em như những vết dao đâm xuống lồng ngực đang thoi thóp vì vết thương, tôi lặng người giây lát định nói gì đó với em nhưng vết thương do súng đạn và vết thương “đến từ em” làm tôi tê liệt hoàn toàn. Tôi được chích thuốc mê, trong cơn nửa mơ nửa tỉnh, tôi thấy anh Dược Sĩ cúi chào tôi rồi đỡ Hồng Gấm dậy và hình như tôi cũng có… chào lại !

Nhìn nét mặt buồn thiu của cô gái, tôi nói:
  
- Chuyện con kể nghe sao buồn quá ! 
  
- Trước khi lấy vợ, Bác có trải qua cuộc tình buồn nào như vậy không hở Bác.
  
- Có, chuyện cũng buồn không kém chuyện của con !
  
- Giờ đây… Bác, có lẽ cũng phôi phai phần nào ?
  
- Không… con ạ !

Cô gái nhìn tôi, ái ngại:
  
 - Con xin lỗi vì đã vô tình gợi lên vết thương trong lòng Bác !
  
- Bác phải cảm ơn con mới đúng, con đã làm cho Bác sống lại kỷ niệm dù đau thương nhưng cũng vẫn đẹp vô cùng !
  
- Có phút giây nào Bác quên nghĩ đến, không Bác ?
  
- Không! nó đã trở thành một phần máu thịt trong bác, nó là hơi thở… con người không thể sống mà thiếu hơi thở.
   
 - Sao Bác không đi tìm người của Bác bằng cách nhắn tin trên sách  báo, trên online hoặc bạn bạn bè khắp nơi… thử xem.    
   
- Bác chỉ mơ ước một điều duy nhất là biết người đó còn sống và  hạnh phúc cùng với gia đình con cháu, như thế là quá đủ…!      
       
-----o0o-----
  
Ba giờ chiều xe đến Westminster, tôi chào từ giả cô gái rồi xuống sắp hàng lấy hành lý. Vừa lấy xong đi được mấy bước thì ai đó kéo tôi lại, hóa ra là cô gái đi cùng xe. Nàng hấp tấp nói:
  
- Cái túi xách đang mang trên lưng là của Bác phải không ?
  
- Vâng, của Bác.
  
- Tên trên túi xách là tên của Bác ?
  
- Đúng, là tên Bác, có việc gì… không con ?

Cô gái kêu lên: “Bác ơi !” rồi gương mặt biến sắc và tái đi làm tôi hoảng hốt: “Con, Con làm sao vậy !”. Sau làn kính mát hai hàng nước mắt cô gái chảy dài xuống đôi gò má, cô lắp bắp: “Cám ơn Bác, con cám ơn Bác !” rồi vụt bỏ chạy lẫn vào đám đông ở bến xe.
  
Tôi há hốc miệng nhìn theo cô gái chưa biết chuyện gì, trong trí tôi mường tượng đến câu chuyện tôi và cô gái kể nhau nghe trên xe đò, quên cả việc gọi bạn ra đón về nhà - Khoảng mươi phút trong khi chờ  bạn đến thì một chiếc xe ngừng ngay sát cạnh tôi. Trên xe có vài người, cô gái đi chung xe đò thò mặt ra, gương mặt rạng rỡ, miệng cười tươi như hoa nhưng cặp mắt vẫn còn đỏ hoe. Cô đưa tôi mảnh giấy và xe vụt chạy đi. Tôi ngẩn ngơ, chuyện xảy ra quá nhanh làm tôi quên nhìn bảng số xe.  
  
Trên mảnh giấy một dòng chữ ngắn làm tôi hoa cả mắt: “Thưa Bác,  mẹ con tên Hồng Gấm, ba mẹ con đã nhìn thấy Bác từ xa. Gởi lời hỏi thăm và chúc Bác vạn điều may mắn ! – Con, Hồng Phấn”. 

Lê Phi Ô 

Thursday, March 8, 2018

Chuyện hai người Lính

Lê Phi Ô

Đơn vị tôi nhận được lệnh hoán chuyển vùng hoạt động với đơn vị bạn, mấy ngày liên tiếp lo tu sửa hệ thống phòng thủ. Hôm nay rảnh rỗi, tôi và Trường rủ nhau vào Câu lạc bộ uống café.

Một anh lính ngồi gần bên nói: “Thưa hai ông thầy! (lính trẻ thường gọi cấp chỉ huy như thế) em thấy cách đây vài trăm thước trên đường xuống chợ có một quán café, cô chủ quán... đẹp ơi là đẹp!” . Anh ta vừa dứt lời là Trường vội hỏi ngay: “Ê, Long! đẹp bằng bồ của Thiếu úy Phi... không mậy?”, Long cười cười không nói. Tánh thằng Trường là như thế, hễ nghe tới gái là mắt nó sáng lên... có lẽ tôi cũng giống nó ở điểm này.

Tôi và Trường ở cùng xóm, thân nhau khi hai đứa còn con nít. Năm Đệ ngũ, trong lớp có cô bạn tên Sương cả hai đứa tôi cùng mê, nhưng khi thấy thằng Trường “đắm đuối” quá nên tôi tự động rút lui “nhường” cho bạn. Tình yêu học trò thật ngớ ngẩn, hai đứa gặp nhau chẳng biết nói gì ngoài các chuyện vớ vẩn như hỏi nhau mượn sách vở, mấy ngày nghỉ ở nhà làm gì, v.v. và v.v., chỉ bấy nhiêu chuyện mà mỗi lần gặp nhau nói chuyện hằng giờ cũng không hết. Có hôm thằng Trường trả cuốn vở cho Sương, hai đứa lỡ chạm tay nhau... mặt thằng Trường cứ nghệch ra còn Sương thì cúi mặt xuống bàn suốt cả buổi học.

Nhà tôi và Trường cách nhà Sương một con sông, nước chỉ sâu tới ngực. Người dân qua lại bằng đò, đến 08:00 giờ tối đò hết đưa, muốn qua sông chỉ có cách lội xuống nước. Thằng Trường thường rủ tôi qua thăm Sương, ban đêm trời tối om, tôi đang ngần ngừ không biết phải qua sông bằng cách nào cho quần áo khỏi ướt.

Thằng Trường lôi tôi vào một bụi rậm cả hai cởi hết quần áo và, hai con nhộng bắt đầu lội sông. Qua bên kia sông, hai đứa lại mặc quần áo vào và tiếp tục đi đến nhà Sương.

Chiến cuộc lan tràn đến tận làng quê của chúng tôi, gia đình Sương dọn lên Sài Gòn, Trường và tôi hai đứa cũng theo gia đình mỗi đứa một nơi, rồi một hôm chúng tôi gặp lại nhau cùng một đơn vị. Sương thì Trường không biết giờ này ở đâu, cuộc tình học trò... rồi xa... rồi quên!

Sáng sớm còn đang ngủ thì Trường đã dựng đầu tôi dậy: “Ê, Phi... dậy uống café mậy!”, tôi càu nhàu nhưng cũng nhảy xuống khỏi võng. Hai đứa tôi tà tà đi xuống quán người “đẹp”, quán lá thật xinh xắn nằm sâu trong vườn cau, trên vách treo vài giỏ Lan rừng. Cả hai đứa chọn cái bàn kê tận trong góc, ở đây rất gần quầy tính tiền của cô hàng café. Cô hàng nghe tiếng động khoát màn bước ra, cả hai chúng tôi cùng choáng váng. Một thân hình eo thon trong chiếc áo bà ba bằng lụa tím, gương mặt thanh tú dễ thương, mái tóc dài buông xõa... làm dáng nàng có vẻ liêu trai!

-Thưa... hai ông dùng gì?

Nghe chữ “dùng” tôi ngạc nhiên, à... thì ra cô nàng ở tỉnh thành nào dọn về đây chứ không phải dân địa phương, giọng nói nhỏ nhẹ thật dễ thương!

-Cô cho xin hai ly café đá.

Hai đứa tôi nhìn quanh một vòng trong quán, mắt tôi chạm vào hàng chữ viết cạnh bàn chúng tôi ngồi:

Phận em bưng nước, rửa ly
kính xin quý khách... đừng ghi sổ vàng !
- Quán nghèo.

Có lẽ quán này có người ăn chịu rồi quỵt luôn nên cô hàng mới viết như vậy. Tôi ghi thêm phía dưới:

Mai vàng nở khắp thôn trang
Quán không bán thiếu tôi càng buồn... hơn !
- Lính nghèo.

Ngồi một lát tôi để ý thấy thằng Trường cứ thỉnh thoảng liếc nhìn cô hàng, anh chàng này có vẻ “chịu đèn” rồi. Bỗng nhiên thằng Trường khe khẽ hát:

Gặp em trong quán nhỏ
Bên kia mưa sông dài...
Tóc em vương màu mắt
Khi Xuân về sớm mai

Tôi ngồi đan khói thuốc
Mưa....
.” *

Giọng nó hay quá... lời nhạc như một bài thơ ! Cô hàng cũng bị giọng hát thằng Trường lôi cuốn, tiếng hát tiếp tục đều đều:
.....

“Đời mình đâu dám hẹn
Mơ lại phút... tương phùng !”

- “Giọng Thiếu úy hay quá! Trâm chưa bao giờ nghe ai hát hay Như vậy!

À, thì ra cô hàng tên Trâm (Tôi và thằng Trường cùng la thầm như thế). Rồi từ đó, thằng Trường thường rủ tôi xuống quán uống café, đôi khi nó đi một mình, mấy lúc gần đây nó đi một mình thường xuyên hơn. Tôi thương nó như anh em ruột, nó chỉ có mẹ già và cô em nhỏ, nó thường tâm sự với tôi: “Mẹ tao muốn tao có vợ sớm để có cháu cho bả ẵm, không có tao bả nhìn thấy cháu nội cũng như thấy tao”. Một hôm thằng Trường lôi tôi ra chỗ vắng, mặt có vẻ nghiêm trọng, nó nói: “Lâu nay tao giấu mầy, vì khi nào chắc ăn... tao mới nói”, ngập ngừng một lát nó tiếp: “Tao và Trâm yêu nhau... cách đây một tháng tao có hỏi ý kiến Trâm và tao đã viết thư cho má tao, bả mừng rỡ... vô cùng! Sau cuộc hành quân này, tao xin phép vài ngày về rước má tao xuống nhà Trâm dạm hỏi... có thể chúng tao sẽ cưới nhau vào đầu Xuân năm tới”. Tôi ôm chặt hai vai bạn mình chia sẻ niềm hạnh phúc đang dâng trào trong nó.

-----o0o-----

Đơn vị tôi hành quân bước sang ngày thứ ba thì chạm nặng, địch quân cấp Tiểu đoàn đang vây chặt chúng tôi vào giữa, thiệt hại của ta mỗi lúc một tăng. Chúng tôi cố thủ trên một ngọn đồi, qua hôm sau được 2 Tiểu đoàn bạn cứu viện, địch bị đánh bật trở ra, bỏ chạy quên mang theo xác của đồng bọn. Đại đội của tôi thiệt hại trung bình, trong đó có hai sĩ quan bị thương nặng, tôi lo lắng cho Trường, linh tính như báo cho tôi tin chẳng lành. Tôi gọi máy liên tục và cuối cùng được biết sĩ quan bị nặng nhất đó là Trường.

Một dáng người nằm im lìm như xác chết, mặt tái nhợt, máu nơi ngực vẫn còn rỉ ra. Tôi hoảng hốt nhào lại quỳ xuống bên cạnh. Khi biết chắc đó là Trường tôi hét lớn, xô ngã người y tá qua một bên và gọi tên Trường rối rít. Một tay bịt chặt vết thương, một tay làm hô hấp nhân tạo, hai hàng nước mắt nhạt nhòa, tôi thảng thốt gọi tên Trường khan cả cổ họng. Bỗng nhiên Trường khẽ cựa mình mắt từ từ mở, tôi mừng rỡ bật lên tiếng cười trong vỡ òa nước mắt. Môi Trường mấp máy... tôi cúi xuống kê tai sát vào miệng Trường nhưng cũng không nghe được tiếng nói, tay Trường sờ soạng nơi ngực đầy máu và dừng lại nơi tấm thẻ bài, miệng nó mấp máy gọi tên người yêu nhẹ như gió thoảng. Tôi hiểu ý, đưa tay gỡ nhẹ bớt một tấm thẻ bài dính máu bỏ vào túi áo giáp của mình, Trường mỉm cười rồi thở hắt ra. Đôi mắt mờ lệ... tôi đứng thẳng người đưa tay chào vĩnh biệt người bạn của mình !

“... Có lẽ tao và Trâm sẽ cưới nhau vào đầu Xuân năm tới...

Mùa xuân sẽ mãi mãi không đến với mầy và Trâm... Trường ơi !

-----o0o-----

Về đến hậu cứ tôi ngủ vùi cho đến hôm sau, thay quân phục chỉnh tề, nhìn lại trong gương lần chót, tôi bước ra khỏi cổng đồn đi về hướng quán café của Trâm. Trên đường đi tôi suy nghĩ miên man... không biết phải nói với Trâm như thế nào, phải khởi đầu ra sao? Cổ họng tôi nghèn nghẹn, tội nghiệp cho Trâm quá... Trâm ơi!!!

Khi nghe tiếng Trâm tôi giật mình mới hay mình đã tới quán tự lúc nào: “Anh Phi..., anh về hồi nào vậy? Còn anh Trường đâu?” Tôi bối rối... lí nhí trong cổ họng: “Tr..ư..ờng có chút việc sẽ... tới sau”, Trâm hơi biến sắc: “Nghe mấy chị vợ lính nói đơn vị anh đụng nặng lắm phải không?”
-“Ờ, đụng nặng, à không, không... nặng lắm”. Tôi bước vội vào quán tới chỗ tôi và Trường thường hay ngồi,

-“Trâm cho xin hai ly café đá”,

Nghe hai ly café mặt Trâm tươi tỉnh trở lại, mắt cứ nhìn ra ngõ như trông chờ Trường. Nhìn chiếc ghế chỗ Trường bỏ trống lòng tôi buồn vô hạn, tiếng Trâm làm tôi chợt tỉnh: “Anh Phi, anh làm sao vậy, trông anh hình như... bịnh?” và Trâm đưa tay ngăn tay tôi lại: “Anh đừng khuấy nữa... ly café chưa bỏ đường”. Trâm xoay người đi vào trong, vừa đi vừa nói: “Để Trâm vào trong lấy thuốc cảm cho anh”.
Đến bây giờ tôi mới biết được rằng... tôi không thể nào báo tin Trường chết cho Trâm, tôi không đủ can đảm làm việc đó, không thể nào báo cái tin khủng khiếp đó, nó tàn nhẫn quá... tôi không thể nhẫn tâm giết chết cả niềm tin và hy vọng của một người con gái đáng thương như Trâm. Người tôi như run lên: “Trường ơi, mày tha thứ cho tao... tao không thể làm nổi ước nguyện của mày lúc lâm chung, tha thứ cho tao!”. Toàn thân tôi run rẩy, nghe tiếng bước chân của Trâm đi lên tôi vờ cúi xuống cột lại giây giày để Trâm không nhìn thấy cặp mắt đỏ hoe của tôi như chực khóc.

-“Thuốc cảm đây, anh uống đi!”

Tiếng Trâm nhỏ nhẹ... nghe như tiếng hát của Trường:
......................
Đời mình đâu dám hẹn
Mơ lại phút... tương phùng !”


Tiếng hát mượt mà của Trường như lớn dần... lớn dần, cuối cùng như một khối thuốc nổ nặng ký nổ tung trong đầu tôi... tan tác... bi thương! Tôi đứng bật dậy và như người chạy trốn... lảo đảo bước ra khỏi quán vóc dáng xiêu vẹo, bỏ lại sau lưng người con gái mắt tròn xoe... ngơ ngác trông theo !

-Viết để tặng bạn tôi, cố Trung úy Lê Đức Trường.
-Tặng những “Góa Phụ” chưa một lần lên xe hoa !

Lê Phi Ô

Tác giả ghi chú:

* Bài hát không biết ai là tác giả cũng như tên bản nhạc, tôi nghe phát ra từ Radio khi hành quân ngang qua một xóm nhỏ.

Monday, July 27, 2015

Nó & biến thiên cuộc đời

Lê Phi Ô



Chuyện thật kể về một người Lính VNCH trước và sau 30 tháng 04 năm 1975.

 
Tôi biết Nó từ khi hai đứa còn cắp sách đến trường ở bậc Tiểu Học, rồi cả hai chúng tôi cùng vào năm Đệ Thất trường Trung Học công lập Phan-Bội-Châu, Phan-Thiết.

Quê Nó tận ngoài xứ Huế xa xôi, Mẹ nó...một Cụ bà khoảng tuổi 50, sở dĩ tôi gọi là Cụ bà vì với tuổi tác của một đứa trẻ hơn 10 tuổi như tôi lúc đó, thì người lớn cỡ tuổi 50 đối với chúng tôi phải gọi là Bà. Bà cụ dáng vóc nhỏ nhắn, khi ra đường lúc nào cũng mặc chiếc áo dài, đôi khi người ta thấy Bà đeo một chiếc vòng nơi cổ theo như cách phục sức của hầu hết đàn bà xứ Huế. Bà có tài về gia chánh, Bà nấu những món ăn xứ Huế ngon tuyệt, nghe nói Ông Ngoại nó khi xưa làm Quan ở Triều Đình nên con cháu, nhất là con gái phải đi học về nữ công gia chánh. Ba nó lớn hơn Mẹ nó một con giáp, Ông cụ là một nhà Nho và là bạn rất thân với Cụ Tản-Đà Nguyễn-khắc-Hiếu. Trước 1945, Ông Hồ-chí-Minh mời Ba nó làm cố vấn cho Việt Minh ở Liên-khu 5 (Quảng-Nam, Quảng Ngãi, Bình-Định và Phú-Yên), Ông cụ không thích cộng-sản nên từ chối khéo. Khuyến dụ không được, bọn chúng bắt cóc Ông đưa vào vùng “kháng chiến”. Mãi cho đến khi Ông lâm trọng bệnh bọn chúng mới cho Ông về Đà-Nẳng để chửa trị...và Ông đã tìm cách trốn vào Sài-Gòn, Ông sống với nghề viết Báo và dạy kèm chử Nho (môn Cổ Ngữ) cho những người chuẩn bị thi Cử Nhân. Thời Pháp thuộc, ở Sài-Gòn có một tờ Nhật Báo “Thần Chung”, tên nầy do Ông đặt ra.

Khi Ba nó trốn đi, bọn Việt Minh cộng-sản bắt mẹ con Nó làm con tin và giữ hai mẹ con trong vùng rừng núi Quảng-Nam, dân địa phương gọi nơi đó là trên “Nguồn”. Lúc đó Nó chỉ mới 5 tuổi, Chi bộ Việt Minh ở đó, gom tất cả trẻ em từ 5 đến 12 tuổi, dạy cho bọn trẻ cách canh gác và báo động khi thấy lính Lê-Dương đi ruồng bố. Một hôm, vì ham chơi, bọn Lê Dương đến rất gần... Nó vừa kịp đưa nón lá lên quạt (ám hiệu báo động có lính Pháp) thì nhiều tiếng súng nổ chát chúa. Thằng nhỏ cùng tuổi với Nó trúng đạn chết ngay tại chỗ, riêng Nó bị té xuống mương nước nhưng ráng chịu đau... đứng dậy chạy dưới lằn đạn. Bọn lính Lê Dương mang đồ nặng và giày Đinh chạy dưới ruộng nước chậm chạp nên không bắt kịp Nó. Tai nghe văng vẳng tiếng Mẹ nó gào khóc từ xa: “Chạy con ơi!...chạy!”. Cả xóm độ vài ba chục người gồm người già, đàn bà và trẻ con chạy trối chết vào sâu trong núi trốn, mấy ngày sau mới dám mò về làng vì đói. Còn Việt Minh CS thì không thấy thằng nào cả, bọn nó bỏ cả dân chúng chạy trước để thoát nạn.

Vì rừng thiêng nước độc, đau yếu không có thuốc men, hai mẹ con bị sốt rét rừng đầu rụng hết tóc, da vàng như nghệ và coi bộ không sống nổi. Bọn Việt Minh CS mới cho mẹ con Nó về Nam-Ô (Quảng-Nam) để chữa trị, trên đường về phải luồn lách qua nhiều cánh rừng. Khi ngang qua một trảng trống có vài miếng ruộng nhỏ... máy bay Pháp thấy nên sà xuống bắn. Mẹ nó trốn trong bụi Dứa, còn Nó nằm nép sát bờ ruộng giả chết (theo lời dặn trước của Việt Minh). Khi máy bay đi xa, cả hai mẹ con chạy trối chết đến chiều mới ra được bờ sông, từ đây phải chờ ghe của mấy người đi vớt củi trên sông để đi nhờ về chợ Nam-Ô khoảng gần mười cây số.

Lợi dụng cơ hội hiếm có, cả hai mẹ con trốn thoát bằng đường biển vào Phan-Thiết sống nhờ bà con. Thời gian ở Phan-Thiết, mẹ con Nó nhiều lần vào Sài-Gòn tìm Cha. Ông giờ đây già yếu, Nó sống với Cha không bao lâu thì Ông chết. Dạo đó, báo chí Sài-Gòn trên tờ Phân-ưu có viết: 

“Cụ Lê Cương Ph. nhà Nho cuối cùng của làng báo Việt-Nam không còn nữa!”, 

trong lúc hấp hối, Ông cụ có viết để lại hai câu đối: 

Bể trầm luân theo chúng lội ra khơi, sáu mươi năm nào giận...nào cười...nào khóc...nào thương. lăn lóc vở tuồng trên vũ trụ 

- Cuộc phiền não khiến mình qua đủ cửa, ba thước đất hết dại...hết khôn...hết ngu...hết trí, rõ ràng hạt bụi giữa tang thương!”.

Số phận Nó long đong, ở Phan-Thiết cũng không bao lâu. Người bà con là một viên chức Chính-Phủ bị Việt Minh CS sát hại, người khác bị thương nặng trong một cuộc phục kích. Gia đình ly tán từ đó, mẹ con Nó dìu dắt nhau vào Sài-Gòn sống nhờ một gia đình bà con khác. Ông nầy là dân nhà Binh nên nay chỗ nầy mai chỗ khác. Nó đã từng theo Ông sống ở Thủ-Đức (trong trường Bộ Binh), rồi Vũng-Tàu, Cà-Mau, Cần Thơ, Mỹ-Tho, Gia-Định rồi Thủ-Đức..v..v.., do đó việc học nhiều lần cũng gián đoạn. 

Khi hai đứa chúng tôi còn học chung ở bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp, vào những dịp trại hè hoặc liên hoan ở trường, Nó thường lẻn trốn ra ngồi một mình nơi chỗ vắng. Tôi hiểu bạn tôi, tâm trạng của kẻ nghèo, mồ côi Cha...nhất là khi nhìn những người khác, cha mẹ đủ đầy, đi có người đưa...về có người đón. Trước khi Mẹ con Nó trốn thoát vào miền Nam, tài sản...tiền bạc bị bọn Việt Minh CS cướp sạch bằng chiêu bài “Ủng hộ kháng chiến”. Khi vào được trong Nam, tuy sống với bà nhưng Mẹ nó cũng phải làm việc để có tiền nuôi Nó ăn học, lúc nào Nó cũng chỉ đi, về một mình...!

Năm 1962, hai đứa gặp nhau ở Sài-Gòn, Nó cho biết là đã nộp đơn tình nguyện vào Khóa 15 Liên Trường Võ-Khoa Thủ-Đức. Mẹ nó già yếu lại mang bệnh suyễn, chút ít nữ trang dành dụm khi trốn thoát Việt Minh CS vào Phan-Thiết, tuy sống tiết kiệm tối đa nhưng nay cũng đã cạn kiệt... hơn nữa, ở Tỉnh nhỏ lúc đó chỉ có trường dạy đến lớp Đệ Tứ, muốn học Đệ Nhị cấp phải vào Sài-Gòn. Vừa hoàn tất bậc Trung Học ở Sài-Gòn thì mẹ Nó cũng không còn đủ sức để nuôi Nó ăn học. 

Trước đó 2 năm, Nó đã xin gia nhập vào “Biệt-Kích Nhảy Bắc”: Sở Bắc hay SB (Special Branch). Vì nghe đồn, đơn vị nầy trước khi đi vào lòng Địch (ở miền Bắc) sẽ được nhận trước 12 tháng lương tiền Tử-Tuất. Nó nghĩ, đi lính trước sau gì cũng chết... nhưng it ra, trước khi chết Nó đã có 12 tháng lương tiền Tử để lại cho Mẹ nó sống khi không còn có Nó! Nhưng là người Nam, muốn được chọn thì phải là người miền Bắc và nói giọng Bắc, nên Nó không được tuyển dụng.

Khi còn học ở Vũng-Tàu 1959, Nó quen một cô bạn cùng trường tên Ph.... khá xinh. Nhưng không lâu sau đó, ông Chú nhà binh của Nó đổi đi tận Cà-Mau, Nó phải đi theo. Cuộc đời của Nó là cả một chuỗi dài bất hạnh nối tiếp nhau, đôi khi muốn viết thư cho cô bạn nhưng sợ gia đình cô ấy biết được sẽ phiền phức cho cô ấy, nên Nó đành câm nín!

Đầu năm 1963, lúc còn đang học trong Quân trường Thủ-Đức, Nó viết thư cho Ph., và chờ đợi với niềm hy vọng mong manh... thời gian xa cách quá lâu, không biết Ph. còn ở Vũng-Tàu hay không, có còn nhớ đến người bạn mà, đã có lần hai đứa đã nép sát vào nhau dưới mái hiên dài vắng lặng trong một đêm mưa nặng hạt, với tiếng sóng biển rì rào và tiếng gió rít rợn người vọng về từ đỉnh núi...khiến Ph. sợ hãi nép sát vào người Nó hơn. Rồi cả hai thẹn thùng...khi nhận ra rằng vòng tay hai người đan nhau không biết tự bao giờ!!!

Hơn một tháng sau, trước giờ ra bãi học chiến-thuật Nó nhận được thư hồi âm của Ph., “May quá Ph. vẫn còn ở chỗ cũ!” thảng thốt gọi tên Ph. và với thái độ không được bình tĩnh, Nó mở thư ra xem... bỗng người Nó chao nghiêng, lá thư rơi xuống đất. Anh bạn đứng kế bên cúi xuống lượm lên trao cho Nó và, đột nhiên anh ta nói lớn với viên Sĩ-quan cán bộ: “Thưa Chuẩn-Úy, Anh P.O trúng gió!”. Tai Nó ù lên, nhiều tiếng nói lao xao...rồi tiếng xe Hồng Thập Tự thắng gấp, Nó được hai anh Quân Y đưa về bệnh xá.

Lá thư trong tay Nó là một thiệp cưới báo tin ngày Ph. lấy chồng!!! cuối thiệp cưới Ph. viết: “Ph. lấy chồng, P.O có buồn lắm không?!”. Từ đó, cho dù những buổi học Chiến-thuật hoặc Địa hình ngoài bãi tập mệt đến nhoài người... Nó vẫn cứ đều đặn mỗi tối xuống Câu-lạc-bộ “Diệm-Song”, gọi ly café đen với một gói thuốc lá, ngồi hút liên tục. Trước khi trở về doanh trại, Nó thường yêu cầu cô Cashier cho Nó nghe bản nhạc “Tà Áo Cưới” của Hoàng-thi-Thơ và Nó khe khẻ hát theo: 

Bâng khuâng trong gió bay tà áo, gió hỡi làm sao bớt lạnh lùng! - Tôi đi, đi mãi theo màu nắng, nắng để lòng tôi với quạnh hiu!

Sau ngày mãn khóa, Nó theo học khóa căn bản Tình Báo ở trường “Cây Mai” Sài-Gòn, và xin về phục vụ tại Phòng 2 Tiểu-khu Phước-Tuy. Lúc đó Vũng-Tàu chưa tách rời thành Thị Xã mà là một Quận của Tỉnh Phước-Tuy. Mỗi cuối tuần Nó thường thơ thẩn ở bãi trước đường ra bãi Dứa gần Dinh Thượng. Nơi đây bãi cát trắng phau xen kẽ những ghềnh đá mà mỗi cơn sóng vỗ làm tung những bọt nước trắng xóa. Nó, vẫn chỉ một mình ngồi cho đến khuya trong không gian tĩnh lặng, nghe sóng nước rì rào, nghe tiếng Thùy-Dương vi vu vọng về từ bãi trước... những vết chân tình in trên cát thuở nào nay đã mất dấu, cảnh cũ vẫn còn nhưng người xưa mãi mãi biền biệt phương nào!!!

Chiến cuộc lan tràn... trận đánh lớn nhất xảy ra tại Làng Bình-Giã, Quận Đức-Thạnh đã gây một số tổn thất cho quân của Chánh Phủ VNCH, trong đó Tiểu-đoàn 4 TQLC là thiệt hại nhiều nhất.

Phòng 3 Tiểu-khu Phước-Tuy quyết định thành lập những toán Thám-sát lấy tên là Quyết Tử, lính được tuyển chọn là những quân nhân gan dạ và tình nguyện từ các Đại-đội biệt lập hoặc thành phần cựu binh từ các Quân, Binh Chủng bị báo cáo đào ngũ với nhiều lý do khác nhau như Dù, TQLC, BĐQ..., Nó được chọn để chỉ huy đơn vị Thám-sát “Quyết Tử” nầy, ban đầu quân số chỉ ở cấp Trung-đội sau lên đến Đại-đội (-) khoảng trên 60 người.

Đang phục vụ trong nghành Quân Báo tương đối it nguy hiểm, nhưng không hiểu sao Nó làm đơn xin ra khỏi ngành và tình nguyện phục vụ bất cứ đơn vị tác chiến nào với lý do đơn giản: “Thích đánh giặc”! Trong thời gian còn làm việc ở ngành Quân Báo, Nó chỉ huy chỉ một Trung-đội, đôi khi một Tiểu-đội Tình Báo, đột kích vào sào huyệt việt cộng như Mật khu Minh-Đạm, Dinh Cố, Long-Mỹ, Núi Đất... nhất là vùng Long-Tân thuộc Quận Long-Lễ Tỉnh Phước-Tuy, nơi mà quân đội Úc hãnh-diện có một trận đánh để đời. Chỉ với một Tiểu-đội 10 người Nó đã gây hoảng loạn và tổn thất đáng kể cho các đơn vị địa phương việt cộng trong vùng mà bọn VC gọi là “Vùng giải phóng”, vì thế Nó được chọn chỉ huy đơn vị Thám-sát Quyết Tử.

Tình hình chiến sự trở nên tồi tệ sau ngày đảo chánh 01 tháng 11 năm 1963, những cuộc chỉnh lý tiếp theo của cấp Tướng Lãnh ở trung ương khiến tình hình ở địa phương càng thêm bi đát. Ấp chiến lược bị dẹp bỏ, lính tráng tự động rã ngũ hoặc đào ngũ, mỗi Đại đội quân số lúc đó không tới 40 người. Bọn cộng-sản lợi dụng tình hình rối ren của miền Nam mở rộng hoạt động phá hoại từ “Chiến tranh Du Kích” chuyển sang “Trận Địa Chiến”, điển hình là trận đánh Bình-Giã tháng 12 năm 1964. 

Mẹ nó, đêm đêm hướng mắt về vùng có Hỏa Châu soi sáng hoặc có tiếng Đại-Bác vọng về, Bà cầu nguyện cho đứa con duy nhất của mình được an lành trên đường dài chiến chinh. Trong một trận đánh lớn tại Xuyên-Mộc tháng 03 năm 1965, Nó bị thương nhưng không nặng. Sau khi xuất viện, Mẹ nó thường ước ao mong sao Nó lấy vợ sớm để Bà có cháu nội. Trong thâm tâm Bà, súng đạn vô tình, lỡ có mệnh hệ nào xảy ra cho Nó... Bà sẽ sống với ai! - Thương Mẹ, Nó lấy vợ và tháng 07 năm 1966... Bà đã có cháu nội để ẵm.

Cũng cùng thời gian đó, với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, với một lý tưởng Quốc-gia trong sáng và với bộ quân phục mặc trên người mà Nó luôn luôn hãnh diện. Thì cũng có, một vài cấp chỉ huy phe phái, chèn ép... Nó đã đụng độ với một sĩ-quan đồng cấp “người nhà” của “Xếp” lớn. Và, Nó bị thuyên chuyển đi nơi khác...nơi mà, rừng núi bạt ngàn, nơi mà việt cộng nhiều hơn lính, nơi mà có hai Quận (Chi-khu) hắc ám nhất: Tánh-Linh và Hoài-Đức (Võ-Xu, Võ-Đắt).

Cuộc chiến Việt-Nam chấm dứt ngày 30 tháng 04 năm 1975. Ngày bi thảm của lịch sử! Theo cùng vận nước nổi trôi... Nó cùng nhiều trăm ngàn Quân, Dân, Cán, Chính VNCH khác mà con số lên đến hàng triệu người... trở thành người tù của chế độ mới, chế độ cộng-sản man rợ trên tất cả sự man rợ. Bọn việt cộng muốn trả thù người Lính miền Nam qua mỹ từ “Trại cải tạo”.

Năm 1978 Tù “cải tạo” được giao cho công an cộng-sản giam giữ. Giáng sinh năm đó, tại trại tù Suối Máu, Biên-Hòa. Anh em tù nổi dậy, phá rào ngăn cách các trại giam, ca nhạc Giáng-sinh và nhạc Chính-Huấn VNCH suốt đêm. Nó tham gia tổ chức trừng phạt Ăng-ten, dạy bài học đích đáng cho những tên phản bội anh em, hoặc những người có thân nhân là việt cộng muốn lập công “để được cho về sớm”?!.

Vài tuần sau, bọn công an bắt đầu trả thù, Nó cùng 3 người khác, mỗi người bị nhốt riêng trong một thùng sắt Container, trên người chỉ duy nhất một chiếc quần xà-lỏn, ban ngày nóng như thiêu đốt, ban đêm lạnh cắt da của thời tiết mùa Đông. Cứ hai ngày thì bị công an dẫn đi thẩm vấn một lần, thỉnh thoảng bị đánh đập... Công an tha hồ chửi mắng, thoi, đạp bằng tay, chưn và cả báng súng, riêng Nó bị đánh nặng. Anh Trương quang Q. là bạn cùng khóa với Nó, hàng ngày mang cơm nước đến Container cho Nó, và ngày nào cũng mang cơm thiu về vì Nó bị công an đánh ói máu không ăn uống gì được. Anh Q. phải nấu cháo và hòa tan mấy viên thuốc trụ sinh vào trong cháo khuyên Nó ráng ăn để sống. Vài tuần sau, một người trong nhóm có tên là Long Ca-rô, vì anh chỉ có độc nhất một chiếc áo ca-rô mặc trên người, bị đánh bằng báng súng vỡ sọ chết. Từ đó những người còn lại không bị công an đánh nữa.

Chừng vài tháng sau ngày tù nhân Suối Máu nổi dậy, bọn công an thanh lọc những người tù có thành tích chống đối nhiều nhất, trong đó có Nó, giải giao về khám Chí-Hòa Sài-Gòn. Nơi đây, người tự xưng là cán bộ “chấp pháp” có tên là Trạc, lần lượt thẩm vấn từng người. Tù nhân bị dẫn đến phòng hỏi cung ban đêm, đầu bị trùm kín mít chỉ chừa 2 con mắt. Sau nhiều tháng nằm khu xà lim, tù được chuyển ra khu tập thể. Vào một đêm nhà tù Chí-Hòa đang chìm trong giấc ngủ, đám tù nhân nổi dậy ở Suối Máu bị đưa ra xe bít bùng, mỗi người được cấp phát một ổ bánh mì nhỏ với 2 cục đường tán, không có nước uống. Khi đọc đến tên Nó, thằng công an hằng học: “Anh làm tới Tiểu-đoàn Trưởng, chắc là phải giết nhiều người lắm!”, nhưng cũng nhờ đứng gần Nó đọc được nơi trang giấy trên tay thằng công an: “Họ, tên 163 can phạm trại Tân-Hiệp (Suối Máu)”, đây chỉ là danh sách đợt đi có mặt Nó. 

Trên đường đi, mỗi khi xe dừng lại để bọn áp tải tù nhân nghỉ ngơi ăn uống, đồng bào nghèo buôn thúng bán bưng biết được xe chở tù “Cải tạo” là họ kêu ầm lên: “Bà con ơi! xe chở mấy anh tù cải tạo, bà con ơi...!”, thế là, đủ loại bánh kẹo, trái cây, bánh tét, bánh ú, đồng bào liệng tới tấp lên xe, kèm theo lời nói làm anh em tù xúc động vì biết được rằng đồng bào vẫn còn thương những người lính miền Nam sa cơ: “Ăn đi mấy anh, ăn đi các con...!”, cảm động nhất là các em bé tuổi từ 10 đến 12, trong cái Nia hoặc Rổ nhỏ vỏn vẹn vài chục trái chuối nấu hoặc mía ghim, cả một “gia tài” nuôi sống gia đình trong ngày, các em hất hết lên xe biếu các chú tù!

Xe chạy đến chiều ngày hôm sau thì tới Xuân-Phước thuộc Huyện Đồng-Xuân, Phú-Khánh (tên gọi mới của việt cộng), tù phải lội bộ vài cây số mới đến trại mang bí số A20, còn có tên gọi khác là Trại Trừng-giới hoặc Trại Kiên giam...nơi kiên trì giam giữ những tù nhân “không cải tạo được” từ các trại giam khác (muốn biết trại giam nầy khắc nghiệt và tàn độc đến mức độ nào, xin tìm đọc cuốn sách: “Trại Kiên Giam” của nhà văn Nguyễn-chí-Thiệp cũng là người tù của trại A20).

Nó bị bộ đội cộng-sản bắt lúc 09:00 giờ sáng ngày 30 tháng 04 năm 1975 tại chợ mới Vũng-Tàu, trước khi Ông DVM tuyên bố đầu hàng. Bị đưa về giam tại hậu cứ Trung-đoàn 43/SĐ18BB tại Long-Khánh. Khi các người khác trình diện “Học tập cải tạo” (theo cách nói của VC) thì Nó bị nhập chung vào và bị giam giữ ở trại Hố-Nai. Giữa năm 1976 Nó bị chuyển về Suối Máu rồi Chí-Hòa. Từ 30 tháng 04 năm 1975 đến giữa năm 1979 (4 năm), Vợ Nó thăm hoặc gởi quà tất cả 6 lần.

Đầu năm 1976, khi còn bị giam tại Hố-Nai, Vợ nó báo tin Mẹ nó chết. Đau đớn đến tận cùng, Nó toan trốn trại mấy lần. Bất ngờ bị chuyển về Suối Máu nên ý định bất thành...và cũng thời gian nầy, những gia đình ở Bà-rịa thăm nuôi chồng, các bà xầm xì với chồng cũng là bạn tù của Nó về Vợ nó...it gởi quà hoặc thăm nuôi Nó, và cuối cùng Nó cũng hiểu được rằng: Vợ nó bây giờ không còn là của Nó nữa, tiếc rằng quá sớm, quá sớm để thay lòng đổi dạ một con người, chuyện xảy ra chỉ hơn một năm kể từ ngày Nó bước chân vào trại tù.

Nó lầm lì ít nói hơn, suốt ngày anh em thấy Nó may vá cái ba-lô lấy vải từ chiếc võng nhà binh đã cũ, nếu tinh ý sẽ thấy Nó đang chuẩn bị cho một cuộc trốn trại. Và, lũ chó săn (Ăng-ten) cũng có đứa tinh ý nên...chỉ trong vòng 4 tháng, Nó bị chuyển từ K2 đến K4, rồi K3 và về lại K2 (Trại tù Suối Máu có 5 khu, từ K1 đến K5). Cho đến đêm Giáng-Sinh năm 1978, cuộc nổi dậy của tù nhân Suối Máu khiến cho bọn VC sợ hãi điều động bộ đội và cả Trung-đoàn xe Tăng T54 bao vây bên ngoài...và, Nó có tên trong số tù nhân bị chuyển về nhà tù Chí-Hòa như đã nêu trên.

Ở trại tù A20 Xuân-Phước, mọi tù nhân đều bị lao động khổ sai, đào mương, vét cống, cuốc đất trồng khoai mì, kéo cày thay trâu v..v.. Mỗi người chỉ nhận được 2 chén khoai mì H34 với nước muối cho một bữa ăn, loại khoai mì H34 chỉ để dùng trong kỹ nghệ chế biến, cho heo ăn, Heo cũng không thèm ăn.

Suốt 6 năm tù sau cùng... Nó chỉ ăn toàn bắp, khoai mì H34 với nước muối. Vào dịp tết âm lịch, Nó cũng như mọi tù nhân khác được ăn hai bữa cơm, mỗi bữa 2 chén cơm lưng, với một cục thịt heo lớn bằng ngón tay, và chỉ có thế. Mẹ chết, Vợ bỏ, tứ cố vô thân không ai thăm hỏi, sức lực không còn, thêm vết thương tinh thần quá lớn làm Nó suy sụp thấy rõ. Một hôm đang lao động, Nó ngã gục vì kiệt sức, may nhờ có Bác-sĩ Trần-quý-Nhiếp Thiếu Tá Nhảy Dù ở chung một nhà tù với Nó cứu chữa kịp. Không có thuốc men gì cả, Anh Nhiếp châm cứu Nó bằng những cây kim làm bằng giây điện thoại lượm được khi đi lao động. Tình trạng đói khát và lao động khổ sai nầy nếu kéo dài... có lẽ Nó không thể nào sống nổi.

Một hôm đang đào ao cá trong trại, Nó gặp anh Ph. ở đội Văn Thể (Văn nghệ - Thể thao) rủ Nó xin về đội “Văn Thể” để đỡ phải lao động ngoài nắng. Anh Ph. là một kép hát cải lương (hiện còn ở VN), bị án tù 10 năm về tội “Phản cách Mạng” khi tham gia vào một phong trào phục quốc sau 30 tháng 04/1975. Anh Ph. biết rõ Nó có nghề Ảo thuật, Nó là bạn của Nhạc-sĩ Bảo-Thu tức Ảo-thuật-Gia Nguyễn-Khuyến. Chỉ còn con đường cuối cùng là vào đội Văn Thể may ra mới có thể sống còn để về với 4 đứa con, mà đứa lớn nhất 13 hoặc 15 tuổi (1981).

Gần cuối năm 1981, một anh trong đội “Văn Thể” gọi Nó lên nhận quà của gia đình gởi. Phản ứng đầu tiên là Nó giận dữ và cay đắng nói với anh ấy: “Anh còn cách nào đùa giữn hay hơn nữa không?!”. Ai cũng biết, nhiều năm nay Nó là “con Bà Phước”, những ai không bà con, họ hàng thân thích, không hề nhận được chút quà bánh nào từ bên ngoài gởi vào, anh em đều gọi là con Bà Phước. Nhưng thật tình Nó có quà thật, quà của “Vợ” nó gởi! một gói quà nhỏ gần 2 ký lô, trong chứa thức ăn để dành được lâu ngày vì người tù không có điều kiện để nấu nướng. Một anh bạn khác nhìn thấy Nó đang mân mê gói quà trên tay, anh mừng rỡ nói: “Mầy cũng có...quà hả?!”, câu nói đầy thiện ý, mừng giùm cho bạn nhưng sao Nó nghe như một lời mỉa mai: “Mầy mà cũng có quà nữa sao?”.


Những tấm lòng người dân VNCH đối với các cự tù “cải tạo”

Năm 1982, Nó có tên trong số người được thả về, trại tù cấp phát $70.00 tiền VC lúc đó, số tiền chỉ đủ để đỡ đói lúc đi đường thôi. Nó được công an trại tù chở bằng xe ra tới Ga xe lửa La-Hai, từ đây Nó đón Tàu về Biên-Hòa. Trên đường đi, mỗi khi Nó ăn uống gì xong, khi gọi tính tiền, những người bán hàng đều trả lời: “Có người trả rồi”, năn nỉ mãi người bán hàng cũng không chịu nói là ai đã trả tiền giùm Nó. Nó đành phải cám ơn người bán (người bán hàng có thể là một Ông già, một Chị, một cô Gái hoặc một em nhỏ tuổi chừng 15, 16). Một chút xúc động về tình người làm tim nó cảm thấy ấm áp, cái cảm giác mà Nó tưởng chừng đã tê liệt suốt những năm tháng tù tội. Hành trang của Nó khi ra khỏi trại tù cộng sản chỉ vỏn vẹn một bàn chải đánh răng đã cùn, một bộ đồ mặc trên người với hàng trăm mảnh vá, trên lưng áo cũng như hai bên ống quần còn nguyên dấu hai chữ “cải tạo” bằng sơn đen to tướng. Nhưng cũng nhờ thế, ai thấy cũng muốn giúp đỡ, ăn uống gì xong người bán đều trả lời: “Đã có người trả tiền!”.

Về đến chợ Biên-Hòa lúc 04:00 giờ sáng, có người chỉ cho Nó tìm mấy xe hàng chở Dưa Hấu, họ sẽ đi Bình-Giã chở Dưa lúc 06:00 giờ. Người Tài xế tốt bụng cho Nó đi nhờ xe về “quê vợ” Nó ở Bà-Rịa.

Hơn 08:00 giờ sáng xe tới Bà-Rịa, Nó lững thững đi bộ về “Nhà”. Khi ngang qua một tiệm bán Bún Bò Huế, một người gọi tên Nó: “Ê, P.O vào đây!”, Nó quay lại thấy X. “Pháo-Binh”, anh bạn nầy được thả về trước, trên tay cầm xấp vé số. X. lôi Nó vào quán, lần đầu tiên sau 7, 8 năm Nó mới được ăn một tô bún bò ngon như thế. Hai người ăn xong, đang xỉa răng thì X. ngập ngừng:

 “Trước hết, mầy hãy bình tĩnh nghe tao nói!”. 

Nó biết X. sẽ nói gì...vì từ lâu Nó đã chuẩn bị tinh thần để nghe chuyện nầy. X. tiếp: 

“Sau khi tao nói xong, mày muốn về thì...về, còn như không muốn về thì...mầy theo tao, ở tạm nhà tao rồi tính sau!”...

và, với giọng trầm buồn X. kể những điều nghe, biết về “Vợ” nó. Nó ngồi nghe X. kể với gương mặt giá băng và bất động, duy chỉ có ánh mắt là không thể nào dấu được nét xúc động!

Thằng X. thương bạn nhưng không biết phải làm sao! X. gọi café sữa đá cho hai đứa. Nó không thể nào uống nổi một hớp dù chỉ là một hớp nhỏ. Không gian như ngừng đọng, khi thằng X. lay khẽ tay Nó như chợt tỉnh, nói nhỏ với X. như nói với chính Nó: 

“Tao phải về, từ lâu... tao chưa được gặp con tao, tụi nhỏ bây giờ chắc... lớn lắm!”

Gần một tháng sau ngày về “Nhà” gặp được mặt con, người ta thấy Nó khiêng vác ở chợ cá Bà-Rịa. Ban đêm Nó ngủ ngồi ở sạp cá, dù mỏi mệt cách mấy Nó cũng không dám nằm, Nó không muốn người ta thấy Nó...tàn tạ như vậy! Vào những đêm trăng, mấy người đi Chùa ở Xóm Cát, khi ngang qua Nghĩa-địa Việt-Hoa, thỉnh thoảng có người nhìn thấy Nó ngồi... khóc trước Mộ của Mẹ nó... Nhiều người ở Bà-Rịa đều biết cái chết thảm thương của Bà Cụ, nhất là hai mẹ con cô Th..., Y-tá làm việc trong bệnh viện. Người ta nói, khi mẹ nó bị bệnh không biết nặng nhẹ, “Vợ nó” mang vào rồi quay lưng như người xa lạ. Bệnh viện thời việt cộng (tháng 01 năm 1976) không có trách nhiệm nuôi ăn bệnh nhân, các con của Nó thì còn quá nhỏ, đứa lớn nhất chỉ mới 9 tuổi, vài ngày sau Mẹ nó chết...vì đói!!! Đám ma mẹ nó chỉ có một người duy nhất mang hòm đi chôn, đó là Cậu em vợ của Nó. Người hàng xóm cho 4 tấm ván tạp để đóng hòm, tạm gọi là hòm vì 4 tấm ván kích thước, dày, mỏng khác nhau.

Đôi khi uất ức về cái chết thảm thương của mẹ nó, Nó đã gói sẵn con dao bén nhọn trong tờ báo... nhưng khi nghĩ đến những đứa con, Nó không muốn các con của Nó mồ côi Mẹ hoặc Cha, hoặc cả hai!

Năm 1988, Nó vượt biên bằng ghe và định cư ở California tháng 03 năm 1989.

Người đàn bà nguồn hy vọng cuối cùng của Nó khi ra khỏi tù, có với nhau 4 đứa con đã phản bội Nó trong những năm tháng bị tù đày, nghiệt ngã... trong nhà tù của Việt cộng, cùng sống trên mảnh đất nầy. Làm thơ, viết văn... lại được tán dương, ca ngợi hết lời!

Nó im lặng, thở dài, ngao ngán! Trường hợp của Nó, bạn bè đều biết, đôi lần muốn chia sẻ... nhưng Nó vẫn giữ im lặng!


Lê Phi Ô

Blog Archive