Showing posts with label Lê Như Đức. Show all posts
Showing posts with label Lê Như Đức. Show all posts

Saturday, April 15, 2023

NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA

LÊ NHƯ ĐỨC
Tôi gặp anh là duyên số. Anh gặp tôi là cố tình. Dù duyên phận hay cố ý, tôi vẫn luôn sung sướng khi biết được anh. Cho dù chỉ ở với anh chưa đến hai ngày tôi vẫn nhớ mãi những kỷ niệm thật đậm đà, nhẹ nhàng đến từ anh, từ gia đình anh và cả từ thành phố anh ở, El Paso.

Tháng 7 năm 1998, gia đình tôi qua California làm. Công ty chỉ cho gia đình tôi bốn người mướn một cái xe. Khi tôi lái xe đi làm, vợ con tôi bị treo giò, nằm ở nhà ngóng. Nhiều khi cần đi chợ hay đi học, vợ tôi lại phải chở tôi tới sở sáng sớm. Nhìn hai cô con gái còn ngái ngủ phải thức dậy sớm, tôi chịu hết nổi. Một buổi chiều thứ năm, nhân nghỉ lễ cuối năm, tôi phóng ra phi trường, lấy vé bay về Houston rồi một mình lái xe qua lại California.

Đường từ Houston qua tới Huntington Beach dài khoảng 1550 dặm Anh. Tôi tính lái đi tổng cộng hai ngày, rời Houston từ sáng sớm hôm thứ sáu và sẽ tới California vào chiều thứ bẩy. Theo lịch trình thì ngày đầu tiên tôi sẽ lái một nửa, khoảng hơn 750 dặm tới thành phố nằm tận cùng của tiểu bang Texas, El Paso. Tôi sẽ tìm một quán ăn Việt nam, dùng bữa cơm chiều thật xôm tụ để lấy sức rồi kiếm một khách sạn nghỉ qua đêm. Sáng hôm sau thức dậy lúc mặt trời chưa mọc, vừa phóng xe đi vừa ăn sáng thì có lẽ sẽ tới California trước bữa cơm chiều.

Có lẽ đối với dân Mỹ thì bữa cơm chiều là quan trọng nhất. Thường thì người Mỹ ăn trưa trong sở làm. Một miếng bánh mì sandwich kẹp vài ba miếng thịt nguội, một trái táo và lon nước ngọt. Có người bỏ luôn bữa trưa, chỉ ăn bữa sáng thật nhiều rồi nhịn cho tới bữa ăn chiều.

Với dân Việt nam thì ba bữa sáng, trưa, chiều đều quan trọng như nhau. Ngày còn nhỏ, tôi nhớ sáng sáng thường làm một bụng đầy trước khi đi học. Lúc thì cơm tấm, khi lại bánh xèo, nào bánh tầm bì, nào bánh cuốn rồi bánh mì thịt nguội. Trưa đi học về, cả nhà quay quần chung quanh bàn ăn với đầy đủ các món trước khi làm một giấc ngủ trưa dài. Chiều, trời chưa tối gia đình chúng tôi lại quay quần chung quanh bàn ăn một lần nữa. Thỉnh thoảng ngủ trưa dậy tôi lại ra đầu xóm làm một tô bánh canh giò heo nóng hổi. Tối khuya, có lúc bố tôi kêu đói, anh em chúng tôi lại lục đục lên xe đi tới quán mì. Không mì xào cây dừa thì cũng mì xào cây me. Cây nào anh em chúng tôi cũng xơi. Tính tới tính lui, tôi nhớ có ngày ăn đến năm lần. Anh em chúng tôi vẫn không mập.

Qua đến Mỹ, ngày ngày phải đi làm tám tiếng, nên buổi trưa đối với tôi giấc ngủ quan trọng hơn miếng ăn. Do vậy bữa ăn chiều phải thật thịnh soạn, phải đầy đủ chất bổ dưỡng. Với bữa sáng, nhiều khi ly cà phê cần thiết hơn miếng bánh mì. Tuy nhiên phải có một chút xíu vô bụng thì mồm miệng mới thơm tho, ăn nói mới thông. Ngày còn nhỏ, bố tôi thường dậy anh em chúng tôi sáng phải có chút gì vô bụng để bịt cái hơi hôi, thông từ ruột đi lên. Cho dù mình có đánh răng, nạo lưỡi hay xúc nước thơm cách mấy, không có chút gì vô bụng, mở miệng nói vẫn nặng mùi. Mùi hôi xông từ bao tử, từ ruột non, ruột già đi lên không thuốc thơm nào trị được.

Chỉ cần một miếng bánh donut nho nhỏ hay nửa củ khoai lang đóng cái cửa thông hơi, hơi miệng bảo đảm sẽ không bay mùi. Cà phê chỉ để tỉnh ngủ chứ không chữa được hết mùi. Do đó tôi thường chỉ ăn một chút xíu vào buổi sáng sớm để ăn nói cho ngọt ngào chứ chẳng phải cho no. Bữa ăn trưa thường lè phè, có ít ăn ít, có nhiều ăn cũng ít để lẹ cho giấc ngủ trưa. Tất cả tôi đều tập trung vào bữa ăn chiều. Tôi phải tới El Paso và California trước bẩy giờ tối để sửa soạn cho bữa cơm chiều.

Tôi tới El Paso sớm hơn dự tính, trước sáu giờ chiều. Kiếm được một khách sạn thuận tiện nằm cạnh quốc lộ số 10. Quốc lộ số 10 có lẽ tất cả dân của mọi tiểu bang phía nam nước Mỹ ít nhiều cũng phải một lần đi qua. Nó chạy từ tiểu bang Florida qua tới California. Nối Thái Bình Dương với Đại Tây Dương. Cái khách sạn be bé xinh xinh, chỉ có khoảng năm chục phòng là cùng. Tôi thích chọn khách sạn nhỏ với một tầng trệt để đậu xe ngay trước cửa phòng, khỏi mất công khiêng đồ lên xuống. Đi với vợ con thì tôi phải chọn khách sạn lớn, đầy đủ tiện nghi vì con tôi thích cầu thang máy và vì vợ tôi sợ không được an toàn.

Vừa lấy được phòng ngủ là tôi vội tìm cuốn sách niêm giám điện thoại. Hầu như ngày nay bất cứ cuốn sách niêm giám điện thoại của mọi thành phố trên đất Mỹ đều có họ Nguyễn và bất cứ người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản cũng đều có họ hàng sống ở Cali. Lựa một tên thật bình thường tôi bấm số hỏi địa chỉ nhà hàng Việt Nam. Đầu dây bên kia, giọng người đàn bà trả lời ngắn một tiếng Hello. Tôi lên tiếng :
- Xin lỗi có phải nhà Việt Nam không ạ "

Người đàn bà ngập ngừng giây lát rồi bập bẹ trả lời tôi:
- Ông ..đợi ..chút ..chút.

Khoảng hai phút sau, giọng người đàn ông vang trong điện thoại:
- A-lô, ai đó "

Tôi lập lại câu hỏi cũ :
- Xin lỗi có phải nhà Việt Nam không ạ "

- Đúng vậy. Anh tìm ai "

Tôi vội giải thích:
- Thưa anh, em lái xe từ Houston qua Cali, giữa đường ngừng nghỉ ở El Paso tối nay. Em muốn tìm một quán ăn Việt Nam. Em coi trong cuốn điện thoại thấy tên anh nên gọi hỏi đường. Anh có thể chỉ giúp em quán ăn Việt ở vùng này "

Người đàn ông cười trả lời:
- Vùng này có vài quán nhưng họ lại nấu lai theo kiểu Mễ để câu khách Mỹ, khách Mễ. Chú ăn không được như ở Houston hay Cali đâu. Có một tiệm tạm tạm được nhưng đường đi lại hơi khó, tiệm lại không có bảng hiệu rõ ràng. Chú hiện giờ đang ở đâu"

Tôi nói tên khách sạn của tôi đang mướn. Người đàn ông tiếp:
- Anh biết chỗ chú ở rồi. Cũng gần nhà anh thôi. Chú đợi khoảng mười lăm phút anh tới dẫn chú đi.

Tôi chưa kịp trả lời chỉ nhờ anh chỉ đường để khỏi làm phiền thì anh đã nhanh cúp điện thoại. Nằm dài trên cái giường to nhìn lên trần nhà, tôi nghĩ vớ vẩn đến người đàn ông kỳ lạ này. Mình chỉ hỏi đường, anh đòi tới dẫn mình đi. Chưa kịp nói số phòng, anh đã cúp phôn. Hình như anh đã biết tôi là ai và sẽ phải làm gì. Tôi bước vào phòng tắm xả nước nằm ngâm mình cho bớt cơn mệt nhọc sau hơn mười tiếng đồng hồ lái xe mà lòng vẫn băng khoăng nghĩ tới người đàn ông lạ kỳ này.

Chưa đầy mười lăm phút, điện thoại phòng tôi reo vang. Tôi nghe giọng anh vang rền trong máy:
- Chú ra văn phòng chính của Hotel. Anh đang đợi chú ở ngoài này đây.

Vẫn vội vã như lúc trước, tôi chưa kịp trả lời, anh đã cúp điện thoại. Tôi khóa trái cửa phòng, lững thững đi ra văn phòng của khách sạn tôi đang mướn. Ngay chỗ quầy làm giấy tờ cho mướn phòng, một người đàn ông Việt Nam tuổi dễ qúa năm mươi, người to lớn, đang đứng phân trần với nhân viên của khách sạn. Tôi bước lại gần thấy họ nói với nhau bằng tiếng ...Mễ. Người đàn ông Việt Nam bỗng nhiên ngưng nói, quay qua nhìn tôi như ra lệnh:

- Chú đưa credit card cho nó đi. Nó bằng lòng hoàn lại tiền phòng cho chú rồi. Nhà anh dư phòng, chú tới ở đêm nay, đỡ được hơn sáu chục bạc.

Tôi ú ớ chưa biết trả lời ra sao, thì anh lại tiếp:
- Chú mới mướn phòng chưa được nửa tiếng đồng hồ nên có quyền lấy lại hết tiền.

Anh nhìn cái đầu ướt của tôi rồi cười hì hì:
- Theo luật thì chú không được tắm đâu. Nhưng anh nói với tên ngố này chú chưa đụng gì đến đồ trong phòng. Ngay cả cái thùng rác. Lẹ lẹ lên không nó đổi ý, lại mất công giải thích. Mình phải đánh thật mau, rút thật lẹ mới được.

Tôi ngập ngừng:
- Anh đừng lo. Tiền khách sạn, công ty của em sẽ hoàn lại. Ngay cả tiền ăn dọc đường nữa. Em chỉ cần tìm tiệm Việt Nam để ăn tối nay.

Anh lắc đầu, quơ tay liên tục:
- Có trả cũng về nhà anh ở. Vừa rộng rãi, thoải mái, vừa an toàn đóng quân hơn nơi đây nhiều. Chú nghe anh nói, đưa credit card cho nó đi.

Thấy anh hối mấy lần, tôi phải đưa thẻ tín dụng của tôi cho người nhân viên khách sạn. Hình như anh ta cũng không muốn cãi lộn bằng tiếng Mễ với người Việt nữa nên nhận lấy thẻ nhanh nhẹ quẹt vào máy, trả tiền lại cho tôi trong tích tắc. Khi người nhân viên khách sạn đưa tờ biên nhận hoàn lại tiền cho tôi, anh cẩn thận nhắc nhở:

- Chú coi cho kỹ đó. Lộn tới Cali gọi kiện nó không chịu trả đâu. Có lấy lại được thì cũng tốn gần hết tiền cho điện thoại long distance. Đừng để địch nắm đằng chuôi.

Anh theo tôi về lại phòng ngủ để dọn đồ đạc ra xe. Vừa đi anh vừa tự giới thiệu mình:
- Anh ở đây dễ cũng tới hai chục năm hơn. Ngày xưa lúc mới qua cũng trấn ở Cali một thời gian. Rồi không thích ồn ào bay về đây ở ẩn. Án binh bất động.

Tôi cười tiếp lời anh:
- Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người xuống phố Bô-sa.

Anh cười lớn lặp lại câu thơ ... thẩn của tôi rồi bỗng thấp giọng:
- Đây đàn bà Mễ nhiều lắm, lại chịu đàn ông Việt mình nên không phải là nơi vắng vẻ đâu. Chú nhớ đấy, đàn bà Mễ hành quân còn mạnh hơn cả cánh ta ở Cali nhiều.

Tôi khuân đồ ra xe rồi lái theo anh về nhà. Nhà anh cách cái khách sạn tôi mướn chỉ khoảng năm dặm Anh thôi, nhưng trời đã xẩm tối nên anh lái thật chậm sợ tôi theo không kịp. Khi tôi tới được nhà anh thì đường phố đã lên đèn, nhà nhà đều đèn đuốc sáng trưng. Trước cửa nhà, một người đàn bà và hai đứa con trai vội mở cửa ra đứng đón khi nghe tiếng còi xe anh bấm lúc chúng tôi đậu xe vào bãi đậu xe của nhà.

Căn nhà anh vừa vặn, xinh xắn sơn mầu xanh nhạt. Vườn trước rộng mênh mông với bãi cỏ lớn, hợp đúng tiêu chuẩn của tiểu bang Texas. Một cây cổ thụ lâu đời mọc giữa bãi cỏ như che phủ lấy căn nhà. Thân cây cắm hai lá cờ: cờ Việt Nam Cộng Hòa và cờ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Trước cửa vào nhà là một dãy hàng hiên dài với cái ghế xích đu treo lủng lẳng và vài ba cái ghế nhựa mầu xanh lá cây đậm để ngổn ngang gần cửa ra vào.

Anh mở cửa xe bước xuống, hai đứa bé chạc mười tuổi chạy vội ra ôm anh. Chúng nhìn tôi lễ phép khoanh tay chào. Giọng Việt nghe rõ ràng. Người đàn bà đứng yên nơi cửa chào đón. Từ xa tôi cũng đã nhận đoán chị không phải người Việt Nam qua vóc dáng cao lớn của chị. Nếu mang giầy hơi cao gót, tôi chắc chắn chị sẽ cao hơn anh. Mái tóc hơi ngả mầu vàng, chị trông lối bốn mươi hơn.

Thường thường, người đàn bà Mễ không giữ được thân hình thon gọn sau khi lấy chồng sinh con. Có lẽ vì dân Mễ thích ăn đậu, ưa ngồi nhiều nên dễ phì. Người đàn bà Mễ đang đứng trước mặt tôi là một ngoại lệ. Dáng chị cao lớn nhưng không xồ xề, thân người to nhưng không thô, tay chân dài nhưng không thừa thãi. Chị nhìn tôi mỉm cười nhẹ, nói bập bẹ vài ba câu xã giao tiếng Việt:

- Mời anh vô nhà. Mời anh nghỉ. Anh đi xe có mệt không"

Tôi có bạn gốc Mễ, được dạy nói vài câu xã giao vớ vẩn, nên trả lời câu hỏi của chị bằng tiếng Mễ. Anh và chị đều cười to khi thấy tôi pha trò. Hai đứa bé không hiểu mấy nên ngẩn mặt tò te. Có lẽ anh ít bạn tới nhà chơi nên chúng có vẻ không được tự nhiên với tôi nhiều. Riêng anh và chị thì thoải mái hơn. Anh vừa kéo lê cái va-li hành lý của tôi vào nhà vừa chỉ chị và hai đứa con giới thiệu tên:

- Đây là Silvia. Tụi nhỏ tên An và Lộc. Chú đóng quân ở đây rộng rãi không sướng sao. Tội chi ẩn vào cái Hotel đó. Anh nói chú nghe. Nhân tiện chú đi ngang qua đây, ở chơi với anh mấy ngày rồi hãy về Cali.

Tôi cười thoái thác ngay:
- Anh cho em ở một đêm thôi. Mai phải lên đường. Em có nhiều chuyện lắm. Sáng thứ hai đi làm sớm, không ở lâu được đâu. Khi lái xe về lại Houston, có nhiều giờ hơn em sẽ ở lâu hơn.

Anh lắc đầu liên tục:
- Mấy khi có dịp. Chú đừng dùng kế hoãn binh. Mai thứ bẩy chú ở lại đây một ngày. Sáng sớm chủ nhật lái xe đi sớm, tới Cali vào lúc xế chiều. Sáng thứ hai dậy đi làm lại. Anh tính chú thấy sao"

Tôi vẫn lắc đầu từ chối :
- Mệt lắm anh ạ. Em muốn tới sớm, có một ngày nghỉ cho khoẻ

- Thanh niên như chú thì đánh đấm Việt cộng sao nổi. Tới Cali chỉ cần ngủ một đêm thôi là mai có thể đi làm được rồi. Ngày xưa đi đánh giặc, chúng tôi chỉ ước được vài tiếng nghỉ mà chả có. Nhiều khi thức trắng đêm đến sáng thức tiếp. Ngủ nhiều là có thể ...ngủ luôn.

Thấy anh có lòng, tôi im lặng chấp nhận. Tính tôi dễ dãi. Ngày xưa, lúc mợ tôi còn sống thường nói tôi là con cừu, muốn sao cũng được, không thích làm trái ý ai.

Trong nhà anh đồ đạc bầy đơn sơ, không kiểu cách mấy. Phòng khách nhỏ với bộ nghế xa lông có lẽ trên chục năm hơn đã ngã mầu xanh lá cây đậm thành lạt. Cái vô tuyến truyền hình đặt góc phòng cũng kiểu xa xưa với hai cây ăn-ten cao lêu nghêu để trên nóc. Dàn máy nhạc cũ kỹ để cạnh với cái gía nhỏ đựng dĩa và băng nhạc. Phía trong là nhà bếp bốc khói nghi ngút. Tôi ngửi được mùi bún riêu thoang thoảng cộng lẫn mùi nồng nồng của mắm tôm. Phía trái của phòng khách là phòng ăn với cái bàn gỗ mầu vàng nhạt và sáu cái ghế đặt chung quanh. Hai đứa bé lo phụ mẹ bầy chén đũa lên bàn. Người đàn bà Mễ đương hý hoáy nấu đồ ăn Việt Nam trong bếp. Anh nhìn tôi quảng cáo:

- Hôm nay anh cho chú thưởng thức món bún riêu nổi tiếng của vùng này. Đặc sản thuần túy của dân Việt Nam do đầu bếp... ngoại quốc nấu. Chả có tiệm nào ở đây nấu đồ ăn Việt Nam bằng Silvia đâu. Khỏi phải đi đâu kiếm tiệm chi cho mất công. Nhà này là tiệm ăn số một của vùng El Paso.

Trong cuộc đời, tôi may mắn sống nhiều nơi, đi nhiều chỗ và cũng được ăn nhiều món lạ. Có thể nói tôi rất hài lòng khi có được một cuộc sống đa dạng và trôi nổi. Tôi đã từng sống trong tù vượt biên, lúc lang thang ngủ trên nóc xe lửa cả tháng trời, khi lại nằm trong khách sạn thật sang trọng, mắc tiền tuần lễ hơn. Từng phá rừng Long Khánh, đốn cây trên đảo tỵ nạn Mã Lai, rồi một ngày lại được ngồi họp trong những phòng ốc tối tân nhất của thế giới. Có lúc khổ cực phải bươi khoai mì ăn sống, nhiều khi tôm hùm, đồ biển lại ngập bàn. Đi nhiều, thấy nhiều, nhưng có lẽ hình ảnh người đàn bà Mễ có chồng Việt Nam đứng trong bếp nêm nước mắm vô nồi bún riêu là một thích thú đặc biệt nhất trong cuộc sống lưu vong của tôi.

Nó vừa là hình ảnh của một sự buồn bã chia cắt sống lưu lạc nơi xứ người phải lấy vợ ngoại quốc, vừa lại là một sự kết hợp hạnh phúc giữa các sắc dân nơi vùng đất tạm dung. Nó là sự chấp nhận thay đổi với cuộc sống mới nhưng lại không quên được quê hương qua những mùi vị của chai nước mắm, của lọ mắm tôm. Silvia sẽ mãi mãi không nấu bún riêu ngon bằng chị tôi hay vợ tôi nấu. Nhưng chiều hôm đó tôi đã có được một bữa ăn đầy hương vị của đất nước tôi. Tô bún của tôi có cả rau muống chẻ, có tía tô, kinh giới, có hành phi cháy dòn, và có đậu hũ chiên chấm nước mắm nguyên chất hiệu một con cua. Tôi còn nhớ mãi lời anh dặn:

- Nước mắm phải là đúng hiệu một con cua, tuy hơi đắt nhưng ăn mới đúng điệu. Ba con cua rẻ hơn nhưng không đậm đà bằng. Nước mắm mực chỉ dùng để nêm vô nồi nước lèo chứ không thể chấm ăn được. Chú nhớ đấy.

Buổi tối mùa đông trời El paso chuyển lạnh xuống thật mau. Anh và tôi bước ra ngoài hàng hiên trước nhà ngồi ghế xích đu, uống cà phê phin, ngắm trời xứ người. Hai lá cờ, Mỹ và Việt, gió lộng thổi tung bay phần phật trước mặt chúng tôi. Hình như tối nào sau bữa cơm chiều anh cũng đều ra đây ngồi ngắm chúng. Đã hơn hai mươi năm sau ngày nước mất, hình ảnh cuộc chiến vẫn chưa phai nhòa trong anh.

Ngồi càng lâu sương khuya xuống càng đậm, anh càng ít nói. Giọng anh lạc hẳn khi hỏi tôi hay tự hỏi chính mình:

- Tại sao một quân đội hùng mạnh, thiện chiến vào bậc nhất của thế giới lại vất súng đầu hàng một lũ người ngu dốt, người không ra người, ngợm chả ra ngợm" Không bắn được một viên đạn mà phải bỏ chạy. Cho đến giờ nghĩ lại anh cũng không thể tưởng tượng nổi ngày đó lại đến qúa mau như vậy.

Tôi chưa nghĩ được câu trả lời thì anh lại lẩm bẩm tiếp:
- Nếu nói Mỹ cố tình sắp đặt thì tại sao những tướng lãnh, chỉ huy của mình lại nghe họ bỏ súng đầu hàng. Mình vẫn còn dự trữ đạn dược dùng cả năm trời cũng chưa hết mà.

Đêm càng khuya càng lạnh. Anh vẫn ngồi yên lặng trên cái ghế xích đu, trầm tư nhìn hai lá cờ nghĩ về cuộc chiến năm xưa. Anh đã ngồi như vậy mỗi buổi tối suốt hơn hai mươi năm qua.
Cuộc chiến đã kết thúc, nhưng nó vẫn hằng in đậm trong tâm hồn của kẻ tới chiếm lẫn người ra đi. Ai ai cũng thấy cái thất bại của phe mình, cái gía phải trả cho cuộc tương tàn. Đoàn quân chiến thắng kéo từ rừng rú về thấy được sự phồn thịnh, tự do của những người bỏ cuộc. Kẻ mệnh danh đi giải phóng người trông thật ngu ngơ, tồi tàn hơn người được giải phóng. Người vất súng bỏ chạy uất ức thua vì sự ngu dốt của quân đội Bắc phương, sự lừa bịp của đám lãnh tụ về một chủ nghĩa không tưởng. Cả hai bên, thắng và thua, cũng đều thua đậm trong cuộc chiến. Người lính bên tôi ngày ngày ngồi ôm đầu trách mình sao bỏ súng qúa nhanh. Người lính bên kia, xưa lấy thân lấp lỗ châu mai, chống Mỹ cứu quốc nay đứng ngẩn ngơ nhìn các lãnh tụ mà một thời mình sùng bái hèn hạ dâng không đất cho đàn anh kết nghĩa ruột thịt. Thật thương cho sự hy sinh của người thua và tội nghiệp cho sự ngu dốt của kẻ chiến thắng.

Tôi chậm rãi bâng khuâng trả lời câu hỏi của anh:
- Có thể chúng ta thua vì bọn chúng quá... ngu chăng "

Sau ngày nước mất, tôi có được nghe một câu chuyện thật khôi hài, đầy mỉa mai về một cán bộ cấp tá vào miền Nam thăm người em trai của mình. Ông mang chức vụ trung tá chỉ huy cả một sư đoàn sao đỏ tới thăm em chỉ là một công chức quèn của chế độ cũ với chiếc túi xách nặng chĩu trên vai. Vì lịch sự, gia đình người em không hỏi gì về cái túi cả. Một tuần sau, chả thấy người anh nhắc gì đến nó, vợ người em thắc mắc nhờ chồng hỏi vì sợ bác có đồ dơ áy náy không dám nhờ giặt dùm. Người anh đỏ mặt ấp úng chối quanh. Người em vội mở túi xách ra thấy toàn giấy báo cũ xếp thật gọn gàng. Người anh đành thú thật:

- Nghe chúng tuyên truyền trong nam Mỹ, Thiệu rất ác, người dân khổ sở thiếu thốn mọi thứ. Ngay cả giấy đi cầu cũng không cho, bắt phải chùi bằng lá chuối nên đít ai cũng lở không ngồi được. Mỗi ngày tôi lấy báo cũ trong sư đoàn tích lại, tính vào đây cho gia đình chú. Vào đến đây thấy nhà cửa của chú tôi mới biết mình cũng bị tên chính ủy sư đoàn lừa luôn.

Một vị sĩ quan mang cấp bậc trung tá mà còn ngây thơ và đần độn đến nỗi bị lừa phỉnh một cách ấu trĩ như vậy thì thử hỏi tại sao không có cả một quân đội chục triệu quân ngu dốt cứ đâm đầu sinh Bắc tử Nam cho vài tên ác độc, bịp bợm ngồi hưởng lộc tại Bắc bộ phủ.

Nghe xong câu chuyện của tôi, anh gật đầu đồng ý:
- Cùng có thể lắm. Chúng ta thua vì chúng qúa ngu. Ngu không tưởng được nên mới nghe lời dụ dỗ thật nhảm nhí như vậy. Càng ngày càng đói nhe răng mà lúc nào cũng mơ sống trong thiên đường cộng sản, đồ ăn vất đầy đường không ai thèm lượm. Thật là ...ngu. Nhưng mà nếu nói mình thua vì chúng qúa ngu thì ai mà tin được.

Buổi sáng tôi thức giấc trễ hơn mọi ngày vì El paso trễ hơn California một múi giờ đồng hồ. Cả gia đình anh thức giấc từ lâu. Họ đã dùng xong bữa ăn sáng và đang ở vườn sau tưới cây, nhặt cỏ. Hơn một phần ba vườn, anh làm nhà kính bao chung quanh để trồng rau miền nhiệt đới. Tôi trông thấy được cả những cọng rau muống thật to và dài. Anh chỉ tôi, hãnh diện khoe:

- Chú thấy đấy. Mùa nào gia đình anh cũng có đầy đủ các loại rau. Chỉ cần chịu khó một tí là tha hồ có rau tươi ăn quanh năm. Còn các bà thì càng dễ hơn. Cứ huấn luyện vài lần thì Mỹ, Mễ gì cũng nấu được bún ốc, quấn được chả giò ngay. Nếu biết cách chỉ huy là xong thôi.

Trưa hôm đó tôi được ăn bánh xèo, quấn rau cải đắng chấm nước mắm pha nhạt. Anh còn bẻ cho tôi vài ba quả ớt tươi trồng trong nhà kính của anh. Buổi chiều xuống chúng tôi lại ra ngồi trước cửa ngắm trời và nghe anh kể chuyện chinh chiến năm xưa. Chúng tôi lại kết thúc câu chuyện bằng câu hỏi của ngày hôm qua:

- Tại sao một quân đội hùng mạnh, thiện chiến vào bậc nhất của thế giới lại vất súng đầu hàng quá nhanh"

Trước khi đi ngủ anh còn cẩn thận lôi ra cho tôi coi bộ đồ trận anh mặc trong ngày bỏ nước ra đi từ đáy chiếc rương cũ. Nó được xếp thật ngay ngắn với cái mũ bê rê đỏ đặt lên trên. Anh đã sửa soạn để mặc lại nó trong ngày ra đi lần thứ hai: trở về nước hay từ bỏ kiếp làm người. Không một bộ đồ nào khác anh muốn mặc. Một ngày khoát bộ quân phục làm người lính Việt Nam Cộng Hòa, một đời chỉ muốn chết cho tổ quốc, cho quê hương. Tôi sờ nhẹ lên mép của cái áo như thấy được cả một cuộc chiến trôi nhanh qua. Mùi thuốc súng và mùi mồ hôi thoang thoảng đâu đây. Tôi nhìn anh, thương thật nhiều cho người lính của nước tôi năm xưa.

Sáng hôm sau, ngày chủ nhật, tôi dậy sớm để sửa soạn cho nửa cuộc hành trình còn lại. Gia đình anh cũng vẫn dậy sớm hơn tôi. Anh giúp tôi mang hành lý ra xe. Hai đứa bé ôm chân mẹ đứng trước cửa nhà nhìn ra im lặng. Anh đứng cạnh cửa xe tôi bùi ngùi chúc:

- Chú đi đường bình an.

Tôi gật đầu đáp lại lời anh:
- Anh, chị và hai cháu khoẻ luôn.

Anh nhìn tôi một lúc bỗng dưng mỉm cười hỏi tôi câu cuối:
- Chú còn thắc mắc gì về anh cứ việc hỏi, không đi đường suy nghĩ vớ vẩn dễ đụng xe. Con người của chú mang nhiều tình cảm, hay suy nghĩ.

Tôi ngần ngừ giây lát, không nhìn anh, ấp úng hỏi:
- Một điều em không hiểu. Người như anh, tại sao có người lại ...chê, bỏ ...anh đi.

Anh im lặng nhìn về hướng trước như ôn lại quá khứ rồi chậm rãi trả lời:
- Những ngày mới qua còn thiếu thốn khổ cực. Lại thêm cái buồn mất nước, cái nhục thua trận. Nhiều khi anh nóng nẩy, có lời lẽ không được nhẹ nhàng. Lỗi do anh cả.

Lời anh ngắn, nhưng tôi thấy được cả nôĩ khổ dài bao năm của người lính nước tôi đã trải qua: nước mất đến nhà tan. Tinh thần lẫn thể xác đều tổn thương. Anh trầm tư thêm giây lát rồi bỗng vỗ mạnh vào thành xe tôi nói to:

- Chú đi không trễ. Khi nào muốn trốn đời, về lại El Paso tìm anh.

Tôi từ từ lái xe ra khỏi sân. Ngoái lại nhìn mọi người lần cuối như muốn thu tất cả hình ảnh vào trong lòng. Xe tôi đi xa vẫn thấy anh đứng yên đấy. Nhìn qua cái kính chiếu hậu hông xe, tôi thấy được cả cái ghế xích đu mà chiều chiều anh ngồi vò đầu nhìn hai lá cờ để tìm câu giải đáp về một cuộc chiến đã tham gia. Hai lá cờ vẫn lộng gió tung bay như thách thức câu trả lời. Hai đứa bé vẫn ôm chân mẹ đứng nhìn hiện lờ mờ trên kính sau anh. Tên của chúng gợi tôi nhớ đến hai câu thơ nói về một địa danh đẫm máu và một binh chủng bách thắng mà năm xưa, một lần đã được ghi vào quân sử.

An Lộc địa sử lưu chiến tích,
Biệt Kích Dù vị quốc vong thân.

Lê Như Đức

Wednesday, January 15, 2020

Người Vợ Thứ Ba

Lê Như Đức /vietbao.com

Điện thoại rung, tôi coi thấy Dũng gọi. Biết Dũng chưa bao giờ đi làm sở, sẽ gọi lại nhiều lần nếu không được trả lời nên tôi khẽ đứng dậy bước ra phòng họp gọi bấm phône hỏi:

- Có chuyện gì không Dũng?

- Chiều nay anh có rảnh không? Tới em. Em làm vài món, mình làm lai rai vài lon. Thứ hai nhà hàng em đóng cửa.

- Được ông chủ nhà hàng nấu là nhất rồi. Chết cũng phải mò tới. Anh đang bận họp. Tí anh gọi lại em. 

Xong họp, tôi ngồi lại phòng họp gọi Dũng:

- Tối thứ hai có Monday Night Football. Anh mê coi football. Em có chuyện gì nói trên phôn cũng được. Khỏi phải mất công em nấu nướng.

- Sau bếp em có cái phòng nhỏ đầy đủ TV, bàn ghế. Cả giường ngủ nữa. Lâu lâu lười, em ngủ luôn đây, không về nhà. Khi anh tới đi vòng ra sau. Em để cửa mở.

Thấy Dũng có chuyện muốn nói, tôi trả lời:

- OK. Tối nay anh tới em. Anh làm ra trễ, khoảng 6 giờ chiều. Về nhà phải làm một giấc nhẹ mới hết mệt. Chắc khoảng 7 giờ anh sẽ tới em.

- OK. Em đợi. 

Bẩy giờ hơn tôi mới tới được nhà hàng của Dũng. 

Dũng là em họ Cường, bạn học của tôi năm xưa. Cường thua tôi bốn tuổi và lên trường học sau tôi hai năm. Khi Cường lên trường chưa được một năm thì người yêu từ giã lên xe hoa. Tôi phải vừa làm bác sĩ tâm lý khuyên nhủ, vừa làm thầy kèm vì Cường nghĩ học một thời gian khá dài. 

Sau khi ra trường, chúng tôi mất liên lạc vì thời đó chưa có Cell phone. Năm 1997, Boeing gửi tôi qua nam California tính toán cho chương trình phi đạn Delta 4, thì gặp lại Cường đang làm trong nhóm structure design. Chúng tôi thất lạc sau gần mười năm. Cường ôm chặt tôi cự nhoi:

- Sư mày. Mày ra trường là đi luôn. Chả cho đứa nào biết chút gì tin tức. Tao tìm mày gần chết. Chỉ nghe lơ mơ mày lên LockHeed làm cho máy bay F16, F111. Sao giờ lại đổi qua Delta 4?

Hai chị em Cường vượt biên, được chú ruột bảo lãnh về sống ở Dallas. Chị của Cường là Huyền làm Nail rồi lấy chồng cùng làm chung tiệm. Hai vợ chồng không chịu làm công mãi nên nhảy ra mở tiệm, làm ăn rất khá. Có tiền, ông chồng sinh đủ tật. Tứ đổ tường chưa đủ, ngài còn cộng thêm cá độ football thì ba cái tiệm nail cũng đi đoong, nữa là một. 

Huyền chịu đựng hết nổi nên ly dị chồng rồi qua thủ phủ Sacramento mở tiệm làm ăn rất phất, xây bốn tiệm Nail ở Sacramento và hai cái ở Los. Huyền mua chung cư và hai căn nhà to ngay trên đường Westminster cho mướn. Gặp lúc giá nhà, giá đất ở California lên như diều gặp gió, Huyền trở thành “đại gia”, mua cả strip mall.

Cường học xong, cũng qua Nam Cali vừa làm cho Boeing vừa giúp chị thu tiền nhà và trông tiệm Nail ở Los. Cường được Huyền giới thiệu một cô xinh xắn làm trong tiệm ở Sacramento. Trước ngày cưới một tuần, cô bé đổi ý “say sorry” để về lại với người yêu xưa. 

Đang lúc vết đau lòng xé ra thêm thì Cường gặp lại tôi. Huyền gọi tôi kể chuyện Cường và nhờ tôi khuyên bảo Cường thêm một lần nữa. Tôi phải ra tay hành nghề cũ, làm lại ông bác sĩ tâm lý bất đắc sĩ như năm xưa. Làm xong việc của Boeing và chữa bệnh “yêu” cho Cường chín tháng, tôi về lại Houston đổi qua làm cho chương trình Space Shuttle, rồi di cư lên Tulsa làm cho Spirit Aerosystems. 

Cường và tôi lại mất liên lạc hơn mười năm. 

Đi giang hồ, đánh contract từ Tây qua Đông, Nam chí Bắc một thời gian khá dài, tôi mệt mỏi nên quay về lại Oklahoma làm cho Boeing ở Oklahoma City (OKC), để sống gần hai cô con gái đầu đang học tại Oklahoma University. Mỗi cuối tuần, cha con tôi lái xe về Tulsa thăm vợ và cậu con trai. Chúng tôi dự định hai năm sau sẽ di chuyển tất cả lên OKC khi cậu con trai hoàn tất Trung học.

Một cuối tuần, vừa lái xe, vừa nói chuyện với nhà tôi, tôi đi lạc, lái qua thành phố Crushing. Ghé vào đổ xăng, gặp lại Cường đứng bán tiệm chạp phô. Cường lại ôm chặt tôi, cự tiếp:

- Sư mày. Mày mò tới cái thành phố nhỏ như cái lỗ mũi này làm gì? Tìm tao hả?

Hỏi Cường, tôi biết được khi tôi rời Cali, Cường lại buồn đời nên hay…say sưa. Sẵn tiền của Huyền và của mình, Cường ăn chơi rồi sinh ra nghiện ngập. Huyền gửi Cường vào trường “Phục hồi nhân phẩm” cai nghiện. Cường gặp Thùy cũng bị mẹ gửi vào clinic cai thuốc và rượu. Đồng bệnh tương lân nên hai anh chị quyết chí bỏ thành phố xa hoa Thiên Thần Los Angeles qua Crushing vừa ở ẩn, vừa giúp cậu Thùy trông coi tiệm chạp phô.

Ông cậu là sĩ quan tác chiến năm xưa, qua OKC tỵ nạn với vợ năm 75 rồi ly dị. Buồn đời, ông cũng lên Crushing ở ẩn và mở tiệm chạp phô, bán lẻ và bán xăng cho phần lớn những người lái xe lạc qua thành phố như tôi. Ông mất vài năm sau, để lại cả tiệm lẫn nhà cho vợ chồng Cường.

Nghe Cường kể chuyện “tình yêu mới” xong, tôi chọc Cường:

- Cái này gọi là tình “Phục Hồi” đấy.

- Sư mày. Im đi cho tao nhờ.

Cường lên OKC mua đồ mỗi cuối tuần cho tiệm chạp phô nên hay ghé thăm tôi. Chúng tôi thường hẹn gặp nhau ở nhà hàng Dũng. Dũng bận nấu nướng sau bếp nên ít có dịp ngồi nói chuyện với nhau. Y thường bước vội tới bàn chào Cường và bắt tay tôi xong là lui xuống bếp nấu nướng tiếp. 

***

Tôi đậu xe trước cửa nhà hàng rồi đi vòng qua phía sau vô gặp Dũng. Dũng sửa soạn mọi thức ăn bày trên cái bàn nhỏ, kể cả mở TV sẵn chờ tôi tới vừa ăn chiều, vừa coi football. 

Cái phòng sau bếp được bố Dũng sửa lại nên cũng khá rộng. Phía trái phòng là cửa đi thông lên tiệm trên. Bức tường đối diện bàn ăn treo cái TV, tường phía bên phải kê cái bàn thờ nhỏ để hình bố mẹ Dũng. Dũng con một, mẹ mất sớm. Hai cha con qua Mỹ theo diện HO, được một người bạn cùng đơn vị năm xưa kéo về OKC sống. Hai cha con Dũng cùng vào làm nhà hàng cho người bạn. 

Người bạn về hưu sớm, bán rẻ nhà hàng cho bố con Dũng. Hơn chục năm sau, ba Dũng mất vì những đột thương âm ỉ từ những năm trong trại tù của cộng sản. Dũng tiếp tục kinh doanh nhà hàng mình ơn. Dũng mướn hai cô Việt Nam xinh đẹp và một anh Mỹ trẻ chạy bàn. Dũng kiêm cả đầu bếp chính lẫn phụ sau bếp với ba anh Mễ giúp rửa chén, hâm đồ ăn, hầm nồi nước lèo và một chị Mỹ đen phụ giúp lặt rau sống, lau chùi nhà hàng sau khi đóng cửa.

Dũng mở lời trước:

- Mọi thứ xong rồi. Mình vô bàn đi anh.

- OK. Cám ơn em.

Tôi ngồi xuống, so đũa gắp thức ăn rồi phân trần:

- Anh không uống được nhiều đâu. Nửa lon là đủ.

- Em biết. Em cũng uống được hơn một lon là xỉn. Anh cứ dzô được bao nhiêu thì dzô, còn lại bao nhiêu, em cân cho.

Uống được vài ngụm bia, Dũng mở lời, hỏi tôi trước:

- Anh chị có mấy cháu. Rồi anh gặp chị trong trường hợp nào?

- Hai cô, một cậu đó em. Anh thấy chị lần đầu khi theo người bạn đi coi văn nghệ của trường đại học cộng đồng. Chị lên hát bài “Dĩ Vãng” của Trịnh Nam Sơn. Anh thích bài đó. Mấy tháng sau, bạn rủ đi trại hè. Anh chả muốn đi, nhưng cứ gần đến ngày đi, anh cảm thấy như có ai thôi thúc anh phải đi. Anh cũng không muốn đi cho tới ngày cuối, bốn người bạn tới tận nhà vác anh lên xe. Vào trại hè rút thăm nhẩy buộc chân, trúng ngay tên chị. Ba tuần sau, anh tới chỗ chị làm, anh nhớ ra cái áo chị đang mặc là cái áo ngày chị lên hát bài “Dĩ Vãng” nên nhắc lại. Anh be ra thêm là suốt đời sẽ không quên ngày đầu tiên gặp chị “tinh tú quay cuồng”, làm chị cảm động đến sững người. Sau này chị biết anh có ký ức rất tốt, nên thường chọc anh là bị mắc lừa chứ cái gì mà tinh tú quay với cuồng. Trại hè, sợi dây buộc chân và cái áo mặc ngày hát bài Dĩ Vãng là ông bà mai.

Tôi hỏi lại Dũng:

- Còn em thì sao? Anh thấy hai cô Việt Nam làm trong nhà hàng này rất xinh đẹp. Bộ muốn tìm thêm bà thứ ba hay sao? 

Dũng không trả lời tôi mà lại làm một ngụm bia rồi nhẹ gục gặc đầu, lẩm bẩm như tự hỏi:

- Bà vợ thứ ba. Bà vợ thứ ba…

Im lặng một lúc, Dũng ngước nhìn tôi hỏi:

- Anh Cường chưa nói cho anh nghe chuyện về người vợ thứ ba của em à?

- Em nói chuyện giỡn à? Cường có bao giờ nói với anh là em có vợ đâu.

- Để em kể cho anh hay về chuyện của em. Em có hỏi anh Cường. Ảnh nói chuyện của em lộn xộn lắm, chả muốn có ý kiến. Ảnh nói em hỏi anh vì anh có nhiều kinh nghiệm, cho nhiều ý kiến. 

- Haha. Em muốn hỏi anh chuyện một vợ, anh đã muốn chạy xa. Giờ lại ba vợ, thì chắc phải dzô thêm ba chai bia.

Dũng mỉm cười rồi từ từ kể:

- Em qua đây trễ. Học chữ cũng chả nhớ, học việc cũng không thông. May nhờ bạn ba kéo về làm cho nhà hàng này chứ không hai cha con cũng không biết làm gì mới khá được. Ba em thì đi lính xong, đi tù. Còn em thì má chết sớm nên cứ lang thang sống qua ngày bằng đồ chị Huyền lâu lâu gửi về cứu đói. Qua đây, hai cha con tính qua Cali làm nail cho chị Huyền. Nhưng thấy làm cho nhà hàng với bạn ba, quen thân như anh em, nên ở lại OKC luôn cho tới nay. Khi xưa mới qua, không biết lái xe, chưa rành đường, tiếng Anh, tiếng Mỹ lại không thông thì ai thèm lấy. Sau này ba sang được cái nhà hàng này thì hai cha con làm liên tay vì mở một tuần sáu ngày. Được một ngày nghỉ không lo ngủ lấy sức thì cũng phải giúp ba đi mua thực phẩm, rau, xương về hầm nấu, sửa soạn cho sáu ngày bán. Do đó mà em có giờ hay có cơ hội quen cô nào đâu mà có vợ. Mà có quen thì chưa chắc gì mấy cô xinh xinh chịu lấy người chuyên phụ bếp, lau bàn như em. 

Dũng nâng ly, làm thêm một ngụm bia rồi kể tiếp:

- Ba khuyên em nên về Việt Nam kiếm vợ đẹp dễ hơn. Em có nói mấy cô bên đó chỉ muốn lấy để qua đây hai năm, có thường trú dân rồi ly dị. Lúc đó khổ cho cả mình lẫn con mình. Ba nói cứ về nói thẳng với mấy cô bên đó nếu bằng lòng qua đây vừa làm vợ hai năm, vừa giúp cha con em làm nhà hàng thì em lấy. Sau hai năm, nếu hợp thì tiến tới, không hợp thì cứ ký giấy ly dị, tự nhiên ra đi. Ba sẽ trả lương và lo cho chỗ ăn ngủ. Điều kiện là phải uống thuốc cho không có con. Ba nói em không sợ ly dị vì mọi thứ đứng tên ba. Em chỉ có cái quần xà lỏn thôi. Mất gì đâu?

Tôi tỉnh bia ngay, ngước vội qua nhìn tấm hình người đàn ông trên bàn thờ rồi ngập ngừng hỏi Dũng:

- Em tính về Việt Nam lấy cô thứ…ba? 

- Không anh. Cô thứ ba em lấy hơn hai năm trước đây rồi.

Tôi trợn tròn mắt hỏi thêm:

- Hai cô xinh xinh làm trong nhà hàng là…vợ ly dị của em?

- Vâng anh. Đó là cô đầu tiên và cô thứ ba. Cô đầu tiên sau hai năm làm nhà hàng với em rồi quyết định ra đi, qua Texas sống. Cô lấy chồng, rồi lại chia tay. Cô làm nail ở Houston thấy không khá mấy, lại sợ đụng hoá chất bị ung thư nên gọi cho em xin về làm lại cho nhà hàng. Cô mướn phòng gần đây, sống riêng mình. Cô thứ hai qua Cali lấy chồng giàu có. Giáng sinh nào cũng gửi thiệp thăm ba và em vì cô qua đây khoảng lúc lễ Giáng Sinh. Cô không cho địa chỉ, nhưng em thấy dấu bưu điện đóng bên Cali. Cô kể đã có hai con. Cô nói cuộc đời của cô hoàn toàn thay đổi vì nhờ em nên suốt đời nhớ ơn em. Cô đặt tên con trai đầu lòng tên em. Em vẫn chưa làm giấy ly dị cô vợ thứ ba. 

Tôi ngập ngừng hỏi:

- Cô ba muốn ly dị…chia đôi cái nhà hàng này của em hay sao?

Dũng lắc đầu lia chia, khua tay trả lời:

- Không đâu! Không đâu! Anh hiểu lầm rồi. 

Dũng đỏ mặt, gãi đầu giải thích:

- Hết hạn hai năm, cô có hỏi có thể để cho cô ta ở lại trong nhà em cho tới khi cô thứ tư tới không? Cô muốn gia hạn cái “contract” tới khi em không muốn cô ở nữa. Nhưng không hiểu sao với cô thứ ba này em thấy...thương thương quá. Hình như cô cũng thương…em. Ba mất lâu rồi mà cô vẫn nhan hương thắp ba đầy đủ. Em không muốn về Việt Nam lấy vợ nữa đâu. 

- Em thương cô ta, cô ta cũng thương em như em kể thì cứ ký cái “contract” thành suốt đời đi chứ còn ngại ngùng gì nữa mà hỏi anh? 

- Anh Cường nói nên hỏi anh trước khi quyết định có con. Ảnh có kể anh có mấy người bạn về Việt Nam lấy vợ gia đình đều tan nát cả, mất vợ, mất luôn con. Mất tiền em không tiếc, em chỉ sợ mất con thôi. Em chịu được cực khổ chứ không chịu được khi thấy con mình khổ. Ly dị thì cuộc sống của con mình sẽ chả ra gì. Em đã từng sống không cha, không mẹ nên biết.

Tôi cười to, tiếp lời Dũng:

- Cường nói thiếu rồi. Anh cũng có nhiều bạn lấy vợ bên này có bằng cấp đầy đủ, học rất cao rồi cũng ly dị. Ly dị không kỳ thị địa lý, học vấn, tiền bạc, tuổi tác, chức tước, ngôn ngữ hay mầu da. Có điều anh thấy cô ta còn rất trẻ. Hai mươi năm sau em quá sáu mươi, cô ta mới hơn bốn mươi chút chút. Tuổi tác chênh lệch quá xa sẽ là vấn đề. Khác nhau mười tuổi thì OK, nhưng hai mươi tuổi trở lên sẽ gặp nhiều chuyện trở ngại sau này. 

Anh có bạn về VN lấy cô vợ trẻ chỉ được trên mười lăm năm rồi chia tay. Cô vợ có bạn trai đón tại sở làm, chở về ôm hôn nhau ngay trước cửa nhà. Y ngồi trong nhà thấy, tức mình tặng cho cô vợ một quả đấm thôi sơn khi cô vợ vừa bước vào nhà. Anh bạn trai ngồi ngoài xe bấm 911. Bạn anh được toà mời ra khỏi nhà của mình, đi chỗ khác sống. Cô vợ đón anh bạn trai vào sống chung với cô con gái y. 

Anh cũng có bạn về VN lấy cô vợ chỉ thua có muời tuổi thôi. Sau khi có quốc tịch, có nghề nghiệp vững chắc cô ta cũng đòi ly dị và bạn anh lên cơn tim chết. Cô cứ tỉnh bơ lãnh tiền bảo hiểm nhân thọ của Boeing rồi bảo lãnh cả nhà anh bạn trai xưa bên VN qua. 

Anh có người bạn có vợ yêu nhau từ Trung học bên VN. Lấy nhau cũng chục năm hơn, cô ta mang anh bồ Mỹ về nhà ngủ ngay trong nhà luôn. Nói chả ai tin đâu. Y có bằng tiến sĩ, chức tước rất cao. Biết bao hãng máy bay anh làm thèm chữ ký của y để máy bay được phép cho bay. 

Dũng ngẫm nghĩ một hồi rồi hỏi tôi:

- Như anh thấy thì làm sao mà tránh đươc ly dị sau khi có con? Anh cũng thấy cô vợ...chưa cưới của em rồi. Anh nghĩ cô ta có tin được không?

- Dũng ơi, nếu anh chỉ nhìn người là đọc được tương lai thì đã thành tỷ phú lâu rồi. Anh lên New York mua stocks mà biết sẽ lên cao tháng sau là thành…“đại gia” ngay. Theo anh thì vợ chồng là duyên nợ. Có duyên gặp nhau nhưng không nợ cũng không thành. Tuy nhiên, nếu nói là có số mạng phải trả nợ thì mình cứ hút sách, bồ bịch thả giàn thì số không ly dị sẽ cản được ly dị, nghe không thông, phải không em? Người đàng hoàng, có tư cách, có nghề nghiệp vững chắc lấy nhằm cô vợ tính toán, chỉ muốn qua đây hay mê cơ rô chuồn bích thì cuối cùng cũng ra toà ly dị thôi. Cường không có câu trả lời cho em nên đẩy qua cho anh đó. Y biết về VN lấy vợ bằng giao kèo chứ không bằng tình yêu thì rất dễ bị lừa đảo sau này. Tính theo tỷ lệ trung bình thì chắc chắn đúng vì lấy nhau bằng tình yêu sẽ ít ly dị hơn lấy nhau bằng hợp đồng mua bán. 

Tôi làm thêm ngụm bia, rồi tiếp: 

- Em không nên về VN làm chuyến thứ tư. Cho dù em làm chuyện này trải dài trong hơn 12, 13 năm, nhưng đừng nghĩ sở di trú của Mỹ không biết. Họ biết hết đấy, nhưng chưa làm vì chưa đủ chứng cớ hay có thể chưa phải lúc làm. Khi họ làm là em sẽ vào tù như chơi. Chuyện của em làm, đứng về phía pháp luật, chắc chắn là sai rồi. Về phía luân lý cũng sai luôn vì hôn nhân không là mua bán. Anh có cậu con trai. Anh thà để y không vợ suốt đời chứ không cho y về VN ký giao kèo hôn nhân như em. 

Tuy nhiên, nếu nói sai thì tại sao có cô lại cám ơn em suốt đời, có cô chịu trở về làm lại nhà hàng với em. Giờ có cô thương em, muốn sống thêm với em. Nói việc em làm sai thì cũng thấy sai, mà nói việc em làm đúng thì nhìn ở một góc độ nào đó cũng thấy chẳng sai mấy. Nó giống như chuyện casino bên Texas với Oklahoma đó. Texas cấm đánh bạc, bước qua đường biên giới Oklahoma chỉ vài bước là thấy cái casino cao to nằm ngay bên. Florida cấm hút thuốc phiện, nhưng Colorado cho bán marijuana líp ba càng. Hôm xưa Mỹ cấm nấu rượu nhưng giờ cho mở hãng làm rượu khắp nước. Hôm nay Mỹ cấm mại dâm nhưng xưa kia cho thả giàn. Chuyện mua bán hôn nhân của em là trái luật pháp nhưng lại có kết quả tốt, cứu được không những nhiều người phụ nữ mà cả gia đình của họ nữa. Nó tốt gấp trăm lần phải qua Hàn quốc, Trung cộng làm dâu hay lao động osin. Nhiều phụ nữ Việt phải đứng đường, bán thân hằng đêm bên Mã Lai, Thái Lan để cứu gia đình. Đúng sai, sai đúng tùy hoàn cảnh, tùy suy nghĩ và tùy thời gian nữa. Anh chả muốn bàn thêm mà cũng chả dám có kết luận chuyện em làm.

Tôi quay đề tài Dũng muốn hỏi:

- Giờ anh muốn trở lại chuyện sợ ly dị. Có người so sánh chuyện hôn nhân như là đánh bạc. Người khôn ngoan cũng phải ra hầu tòa ly dị, kẻ khù khờ nhiều khi sống hạnh phúc suốt đời. Anh chỉ có lời khuyên em nên tìm lấy người mình yêu thương và cố tìm hiểu coi có yêu thương mình không. Nếu có, thì em cố gắng hết sức xây dựng tổ ấm, lo cho gia đình con cái, đừng rượu chè rồi đánh đập, văng tục chửi thề, đừng mèo chuột hay bủn xỉn coi thường giá trị của vợ mình. Đừng ỷ mình kiếm được nhiều tiền rồi tự ý muốn cua cô nào thì cua. Sau này, nếu cô ta có dị tâm, bỏ đi thì cũng đành chịu thôi. Không ai có cách phòng ngừa được chuyện ly dị đâu. 

Cô vợ đầu tiên của em ly dị chồng trở về làm với em có thể vì một lý do mà em không thể ngờ được. Nhiều anh trông tướng tá to lớn, ngon lành, ăn nói bặt thiệp nhưng vào phòng the lại ủ rũ như gà nuốt dây thun. Gươm gãy lúc hoa chưa nở. Có anh lại bịnh hoạn thích hành hạ, đánh đập vợ. Anh có người quen lấy vợ rất đẹp rồi tối ngày đi làm về là vác đàn đi hòa nhạc với bạn thâu đêm. Sau khi ly dị rồi đi tu, y tâm sự: “đêm động phòng thấy sao ái ân…gớm khiếp quá vậy”. Có đứa sau khi ly dị than với anh: mày có hứng khi ôm cái cột nhà không? Nó cứ nhắm tịt mắt nằm xụi lơ à. Em thấy đó. Có cả trăm chuyện chia ly trong hôn nhân mà không ai ngờ được sau ngày cưới. Em cứ hết sức lo xây dựng gia đình, nuôi con ăn học, sống tử tế với tư cách cao và lòng tự hào của người chồng và người cha. Chuyện ly dị sau này, hãy để thượng đế tính. Nếu có lời khuyên cho em thì anh thấy cô đầu không xa tuổi em mấy, cô lại một lần dang dở nên biết cách cư xử, có nhiều kinh nghiệm, trải đời hơn cô ba. Tuy nhiên, như anh đã nói, em nên lấy vì tình yêu, chứ đừng lấy vì trẻ đẹp hơn. Một khi em đã quyết định tiến tới hôn nhân rồi thì cứ mạnh dạn bước tới để chứng tỏ em rất yêu cô ta.

Tôi bước ra khỏi nhà hàng của Dũng gần nửa đêm bỗng thấy lời nhắn của vợ tôi trên Cell: 

“39 Người Thùng đều là người Việt”. 

Tôi bấm phôn trả lời: 

“Làm Di tản nhân, rồi Thuyền nhân, Hát Ô nhân, Dâu Hàn quốc, bồi bàn nhân, Osin nhân, người Rơm giờ lại có thêm tên Thùng nhân. Ôi! Làm dân Việt sao nhục thế này? Tại sao những tên thường vỗ ngực tự xưng đi giải phóng người không biết nhục nhỉ? Chắc chúng bẩm sinh thiếu thần kinh nhục”.

Lập Đông năm 2019
Lê Như Đức

Sunday, December 8, 2019

Công Tử Vượt Biên 

Lê Như Đức
Sàigòn, vào những năm 1977, 78, nếu có ai lỡ lời nói hai chữ vượt biên thì mọi người đều e de,sợ sệt. Chỉ cần lỡ lời vài ba câu có dính líu đến hai chữ vượt biên là có thể cải tạo mút mùa. Vậy mà y lại có cái biệt danh thật là ngộ nghĩnh và hết sức ngang tàng: Công tử vượt biên.

Tôi biết y rất rành, rành hơn bất cứ người bạn thân thiết nào của y, là vì một lý do rất đơn giản. Nhà tôi là chỗ trú chân đầu tiên của y mỗi lần vựơt biên thất bại, trốn về Sàigòn chờ móc nối chuyến kế. Mỗi lần như vậy, nhiệm vụ của tôi là đạp xe tới nhà y báo cho gia đình chuyến đi lại thất bại, cần thêm tiền chi tiêu và không quên nhắn thêm câu: "ba má, tìm cho con mối khác".

Mỗi lần thất bại như vậy, tôi lại càng thấy rõ sự trưởng thành và quyết tâm của y. Bẩy lần vượt biên không làm y nản chí mà trái lại càng làm y thêm kinh nghiệm và mưu lược hơn. Trong cuộc đời tôi, y là người bạn tôi mến phục và học hỏi được nhiều nhất. Người bạn mà có lẽ khó kiếm được trong lúc sống dưới chế độ mà "cái cột đèn nếu có chân nó cũng vượt biên". Tôi không biết được tình bạn ngày xưa đối xử giữa Bá-Nha và Tử-Kỳ như thế nào. Riêng tôi, lúc nào khi nghĩ tới y tôi đều nhủ thầm. Một trong những cái may mắn nhất trong đời tôi là được quen y. Tôi gặp y vào năm cuối cùng của trung học, trường Nguyễn Bá Tòng, Gia-định, lớp 12C1.

Tôi còn nhớ ngày đầu tiên gặp y trong sân trường Nguyễn Bá Tòng. Y là học sinh duy nhất chuyển từ trường tư Lasan Taberd tới. Chúng tôi thì ngược lại, phần lớn chuyển từ trường công Hồ Ngọc Cẩn qua. Sáu chúng tôi, băng con nhà nghèo hiếu học, đang đứng chơi trước cửa lớp, thì thấy y. Y tuy tới một mình nhưng rất là tự nhiên và tự tin. Trong khi đó băng chúng tôi thì lại e dè, ngại ngùng khi đối mặt. Có lẽ là vì tại Tường, một người bạn trong đám chúng tôi khi thấy y, nói nhỏ:

"Cái thằng đó con trường Tây. Ông già nó giầu có tiếng trong xóm tao đó. Chị tao ngày xưa làm thợ dệt cho nhà nó. Nó con út, số bọc điều. Giầu tiền xài không hết. Tao nghe nói nhà nó bị kiểm kê đến hai ba lược rồi. Vậy mà nó vẫn phây phây như thường".

Minh, người học sinh giỏi nhất trong đám tôi nhìn Tường hỏi:
"Thế nó học cừ không""

"Tao không biết. Nhưng mà mấy thằng Tây con chắc chẳng học hành gì đâu. Tối ngày đi chọc gái rồi mút xúc-cù-là."

Tôi nhìn y từ trên xuống dưới để cố tìm xem có chất xúc-cù-là trong người y như Tường nói không. Cảm tưởng đầu tiên của tôi về y là giữa hai chúng tôi là hai thái cực. Y dáng dong dỏng cao, mái tóc bồng bềnh, quăn tự nhiên. So với chiều cao của người Việt Nam, thì y bỏ xa. Tôi thì ngược lại. Bạn bè thường gọi là "Lùn Mã tử". Tóc tôi lại thưa, loại rễ tre, xỉa thẳng đứng lên trời. Y đẻ trong gia đình giầu có, nhà tôi thì lại thiếu ăn hàng ngày. Tôi con cả, y con út. Có lẽ chúng tôi chỉ có một điều giống nhau. Học tầm thường, chả có gì đặc biệt. Tôi nhủ thầm như vậy trước khi bước vào lớp học đầu tiên của niên khóa 1978-79.

Không những tôi lầm, mà cả Tường cũng lầm luôn. Sự học vấn và kiến thức của y làm ngạc nhiên không những chúng tôi mà cả thầy chủ nhiệm Vật Lý Nguyễn văn Lành. Tôi còn nhớ thầy có nói: "Em rất có khiếu về Vật lý. Sau này có cơ hội nhớ theo nghành này. Em nhé". Chỉ trong hai tuần lễ học, bọn chúng tôi phần lớn chuyển từ Hồ Ngọc Cẩn qua, đã phải bầu y nắm một chức vụ quan trọng nhất trong lớp, đó là trưởng ban học tập.

Sở dĩ chức này quan trọng là vì trưởng lớp do chi đoàn chỉ định, trưởngban học tập do học sinh bầu. Trưởng ban học tập phải là tay cự phách. Nó đòi hỏi không những thầy cô tin yêu mà anh em nể phục. Trưởng lớp phải là chi đoàn hay cảm tình đoàn. Trưởng ban học tập không cần nhưng phải là tay chiến, dám đối mặt với cả thầy cô lẫn chi đoàn. Y không những không chi đoàn mà còn lại là thành phần chế độ bất dung. Tư bản mại sản.

Có lẽ y chiếm được hết cảm tình của lớp chúng tôi qua cách đối xử đặc biệt đầu tiên với cô Hóa-Học Nguyễn thị Hoàng-Hoa, phó chủ nhiệm lớp. Sau một tuần lễ học, cô khảo bài bốn học sinh trong lớp. Tất cả đều không thuộc bài. Cô tức giận đỏ mặt, hét ầm ầm. Cả lớp im lặng. Y bỗng nhiên đưa tay lên xin phát biểu. Cô gật đầu. Y nói:

"Thưa cô, chúng em không thuộc bài thật là không đúng. Nhưng thái độ của cô đối xử với chúng em cũng không được hoàn toàn lắm".

Cả bọn chúng tôi đều trố mắt nhìn y như một con quái vật. Cô nổi tiếng là dữ nhất trường. Thầy giám hiệu cũng phải kiêng. Cô đẹp, giỏi, hơi lớn tuổi, chưa lập gia đình nên ... chẳng sợ ai. Tôi nhớ mặt cô đang từ đỏ chuyển sang tái xanh. Cô vừa nói vừa thở:

"Em nói rõ tôi nghe chỗ nào tôi đối xử không đúng"

Y ung dung trả lời:
"Chúng em không thuộc bài, cô la thì đúng nhưng không vì vậy mà cô tức giận, nhăn nhó. Cô sẽ già lẹ, đau tim, chết sớm. Chúng em không thuộc bài, cô có quyền la nhưng không có quyền tự hành hạ thân thể mình như vậy."

Cô nhìn y một lúc rồi không nhịn được phải phì cười. Cả lớp chúng tôi phá lên cười theo. Đời cô từ đó cũng thay đổi nhiều vì học được một nhân sinh quan mới từ y.

Y học giỏi không chỉ một vài môn mà đặc biệt ở tất cả các môn học. Từ Toán, Lý, Hóa, cho đến Luận văn, Anh văn, Sinh vật, và cả ...Chính trị nữa. Thầy Khải tập kết, chuyên dậy môn Chính Trị học, có lần ngạc nhiên hỏi: "Kiến thức em về Bác thật là uyên bác. Có nhiều chuyện về Bác không hiểu em đọc từ đâu mà thầy cũng chưa từng nghe tới bao giờ".

Sau này, Tường có kể tôi nghe y nói y lấy từ những chuyện danh nhân và lãnh tụ nổi tiếng trên thế giới rồi cứ việc sửa George Washington, Charles De Gaule thành... Giặc Hồ.

Không mời mà y tự nhiên coi như đã nhập vào băng chúng tôi. Không những thế mà thái độ y như đứng đầu băng chỉ huy anh em. Minh ức lắm. Vì y bị giáng chức, xuống thứ hai. Minh có biệt danh là Đại Tướng vì tên họ là Dương văn Minh. Một trong những Đại Tướng có ảnh hưởng rất lớn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt-nam. Phạm Tất Đồng tự Thủ Tướng đứng thứ ba. Kế tới là Tường Kiếm Hiệp, Khánh Khổ, Sáu Luận và tôi "Lùn Mã Tử".

Chúng tôi thường gọi y là Công Tử. Sau vài lần vượt biên hụt, đổi thành Công Tử Vượt Biên. Biệt danh của Sáu Luận sau bị Công Tử đổi thành Luận Bò. Lần đầu nghe, tôi thích lắm vì nghĩ Công Tử giống tôi, cho sức học của tôi hơn nó. Công Tử giải thích: "Không đâu, nó vẫn hơn mày, nhưng tại nó cứ hay cãi bậy với tao. Nó biết sai vẫn cãi cối. Nên là con bò rừng."

Luận Bò hình như rất thích cái biệt danh này hơn. Được có tiếng hay tranh cãi với Công Tử là một vinh hạnh. Tôi buồn bã trở lại vị thứ bẩy của mình. Tuy đứng cuối trong nhóm nhưng vẫn là thứ bẩy của lớp. Tôi vẫn đứng trên nhiều người lắm, trên cả thằng chi đoàn trưởng lớp. Công Tử, dĩ nhiên đứng đầu lớp.

Một lần Tường Kiếm Hiệp khám phá ra trường Lê Văn Duyệt có một cô học sinh rất mi nhon, hay đạp xe ngang qua trường tôi đi học. Hôm đó cả bọn ở lại trễ chờ. Cô bé tuyệt vời, nhỏ nhắn, xinh đẹp thật vừa xứng với kích thước… của tôi.

Tôi đang ngây ngất ngắm thì bỗng Công Tử phán: "Con nhỏ này, tưởng gì chứ cho tao ba ngày là tao sẽ ẵm em đi học ngay." Cả bọn nhao lên, chửi bới um sùm. Công Tử nói: "Tụi bay dám cá không, nếu tao làm được thì từ đây sẽ là đại ca nhóm. Còn không, bao tụi mày một chầu. Đi đâu ăn cũng được." Chúng tôi đồng ý.

Ba ngày sau, Công Tử đạp xe chở nàng ngang qua trường chúng tôi. Tôi nhìn nàng ôm eo ếch của Công Tử thật tự nhiên và tình tứ. Phải chi trong đời tôi được một lần đạp xe chở nàng đi học nhỉ" Từ đó tất cả đều phục tùng tuy rằng sau này khám phá ra cô bé là em họ của Công Tử.

Chuyến vượt biên đầu tiên của Công Tử vào cuối tháng mười một năm đó. Chúng tôi được tin, hùm tiền, đãi Công Tử bữa tiệc cuối cùng tại vườn nhà Tường Kiếm Hiệp vào chiều thứ bẩy. Sở dĩ nhà Tường được chọn là vì ở cuối xóm dưới. Chung quanh nhà là ruộng rau muống. chúng tôi tha hồ phóng xú uế tới chế độ mà không sợ sự soi mói của mấy tên công an phường.

Căn nhà Tường nhỏ ba gian, vá víu bằng đủ mọi loại vật liệu kiếm được. Mái nửa lá nửa tôn, thỉnh thoảng chen vài viên ngói mẻ, vách chỗ gạch chỗ đất, có chỗ vá cả bằng miếng các tông bự. Tường sống với ba và chị. Ba Tường và Tường chuyên môn cắt, bó rau muống để chị Tường đem bán ngoài chợ nhỏ. Trước khi mất nước, chị Tường làm thợ dệt cho nhà Công Tử. Ba Tường phải kiêm luôn việc bán rau. Giữa nhà đặt một cái bàn nước cọc cạch, mấy cái ghế xiêu vẹo và hai tấm phản hai bên để ngủ và ngơi. Đặc biệt chung quanh vách nhà là những giá sách với đầy áp sách...kiếm hiệp. Bố con Tường mê đọc chuyện kiếm hiệp và ...cắt rau muống. Đặc biệt dù nghèo cũng không muớn, mà chỉ mua chuyện về đóng thành sách, trưng khắp nhà.

Hôm đó chúng tôi đãi Công Tử bằng một con gà luộc, một đĩa dồi chó và ba chai bia quốc doanh. Thủ Tướng nói phải cho Công Tử ăn món quê hương để suốt đời nhớ ...Việt cộng.

Công Tử ở lại nhà Tường mãi tới đêm khuya để nói chuyện với ba Tường. Tôi tưởng họ đang bàn chuyện đất nước hoặc kinh tế thế giới. Sau nghe mới biết họ đang nói chuyện ...kiếm hiệp.

Tối Chủ nhật hôm sau, Công Tử đáp chuyến xe lửa đi Nha-Trang rồi xuống ghe ra khơi. Ngày thứ hai kế là ngày dài nhất của bọn chúng tôi. Ngồi nhìn chỗ trống của Công Tử trong lớp, bọn chúng tôi lúc bồi hồi, lúc phập phồng, lúc lo lắng. Chúng tôi phải báo cáo láo với thầy Lành là Công Tử bị ốm nặng.

Qua sáng thứ năm, Công Tử lù lù bước vào lớp, cả bọn nửa buồn nửa vui. Buồn vì Công Tử đi chưa được, vui vì lại gặp được người mình muốn.

Giờ ra chơi, cả bọn bu lại hỏi. Công Tử kể:
"Tao xuống ghe nhỏ để ra ghe lớn. Đợi tới gần sáng chả thấy ghe mẹ gì mới biết bị lừa, nên về thăm tụi mày lại."

Tháng sau, Công Tử lại từ gĩa chúng tôi để đi Phan-Thiết. Mặc dù tài chánh eo hẹp, chúng tôi cũng cố gắng tổ chức lại một bữa tiệc tiễn tại vườn nhà Tường. Lần này thiếu món dồi vì nghe nói thịt chó ăn sui.

Hình như thịt gà cũng sui nên Công Tử lại trở về đi học lại. Hai lần sau đó, chúng tôi chỉ đãi uống chứ không ăn. Khánh Khổ than với tôi: "Khổ quá, Công Tử chưa tới Mỹ thì mình đã phải khai phá sản". Lúc nào y cũng có thể than khổ.

Lần thứ năm Công Tử đi ở Vũng-Tầu thì bị bắt và đưa vào Bình-Ba cải tạo. Chúng tôi không thể dấu được trường mãi. Lúc đó thầy trò trong trường mới biết tới một nhân vật có biệt danh "Công Tử Vượt Biên".

Chi đoàn họp liên tục, phê bình, kiểm điểm sáng tối. Bọn chúng tôi thủ khẩu như bình. Huy"n thoại về Công Tử được mọi người mọi lớp truyền tụng hơn cả huyền thoại về ...Bác.

Mỹ-Ngọc, hoa khôi của trường tuyên bố sẵn sàng ra đi với Công Tử bất cứ lúc nào dù là đi ... kinh tế mới. Bích-Huyền, Bích-Ca, hoa hậu song sinh đều đồng ý nâng một khăn, sửa một áo nếu Công Tử có... sức. Thầy chủ nhiệm bị giám hiệu gọi lên khiển trách vì để Công Tử nghỉ ốm nhiều mà không báo cáo. Cô Hồng-Hoa thỉnh thoảng trong lúc giảng bài đi xuống ngồi vào chỗ trống của Công Tử, thương nhớ về một người học trò ưu tú của mình.

Bốn tháng sau, bố mẹ Công Tử tìm được mối chạy năm cây vàng để công an thị xã Vũng-Tầu lén chở Công Tử về Sàigòn.

Sợ phường khóm gây rắc rối cho nhà mình, Công Tử tới nhà tôi trú ngụ vì bố tôi là tổ trưởng tổ dân phố có thể biết trước ngày nào phường khóm tới khám nhà.

Công Tử, tôi và đứa em kế chia nhau căn gác lửng cuối nhà. Căn gác nhỏ chỉ kê vừa hai cái bàn học và trải cái chiếu gai. Vậy mà Công Tử ở đó hơn nửa năm.

Trong năm đó Công Tử vượt biên hụt hai lần nữa. Lần sau nhờ có kinh nghiệm nên không bị tó. Tôi trở thành người đưa tin giữa Công Tử và gia đình. Mỗi lần sang nhà Công Tử nhắn tin, tôi đều ghé lại nhà Luận Bò để cho tin tới mọi người trong nhóm.

Đối diện nhà Luận có một bông hoa sống mà Luận theo đuổi từ hồi mặt mới mọc mụn. Luận thường tự hào gọi nàng là "Thiên hạ đệ nhất Niên".

Niên thường ngồi cạnh cửa sổ nhà để xếp hàng nhà Niên dệt mướn. Thỉnh thoảng cuồng chân, nàng đi dạo vài vòng trước nhà. Lúc nào Niên cũng mặc áo vàng in bông cúc nổi và quần xa tanh bóng đen. Tôi thắc mắc, Luận thất tình trả lời: "Hỏi Công Tử đó. Tao tốn cả đời theo đuổi không thành. Công Tử chỉ nhập nhóm ca với em mấy ngày là em mê tít. Mẹ kiếp, giọng Công Tử bắc kỳ the thé vậy mà mắt em cứ lim dim, phê giọng trầm và ấm".

Đó là lần đầu tiên tôi mới hiểu tại sao Luận hay so đo, ghen tương với Công Tử.

Niên dáng thanh và cao. Nếu mang guốc cao gót, tôi chắc Luận chỉ đứng tới tai Niên. Công Tử đứng với Niên thật là xứng đôi, như Rồng với Phượng. Niên đứng với Luận như Phượng với ...Ngưu. Tôi chắc chính Luận cũng biết vậy. Khi tôi về là Luận vội chạy qua nhà Niên để cho tin và cũng để...chiêm người đẹp.

Chiều hôm ấy tôi cố tình nói chuyện về Luận rồi đưa đẩy tới Niên. Tôi có hỏi sao Công Tử không tìm cách liên lạc với Niên. Công Tử trả lời:

"Mày nghĩ tao đang nghỉ hè hay sao mà thăm với viếng. Việt Cộng biết chuyện giữa tao và Niên. Tao chắc nó bám Niên kỹ lắm. Nếu tao gặp Niên là sẽ gặp ...Bác. Cuộc đời có những cái mình phải hiểu để sống. Số tao sinh ra là để vượt biên, đi Mỹ học, số Niên là ở đây hát ...xây dựng chủ nghĩa. Hai đường đi hai nẻo, phải dứt khoát thì mới làm được cái mình muốn".

Rồi Công Tử kể tôi nghe chuyện tình với Niên. Câu chuyện tình đầy tính chất ...xã hội chủ nghĩa.

Mùa hè năm trước, tất cả các học sinh trong phường phải đăng ký sinh hoạt. Như thường lệ Công Tử ra trình diện trễ hai ngày. Tên ủy viên thanh niên gai gai, cho Công Tử đứng chờ chơi. Đang lúc đó thì Niên tới phàn nàn là tổ ca của nàng thiếu nam, chỉ toàn mấy em gái choai choai mười hai mười ba thôi. Công Tử kể: "Tên ủy viên nghe xong, sực nhớ tới tao, nó đưa hàm răng vàng ố, ám khói thuốc lào ra cười hô hố chỉ tao nói: "Đồng chí xung phong vô tổ ca ngồi kia kìa". Tao đứng dậy tính phản đối, thấy Niên quay qua nhìn, tao gật đầu ngay."

Cũng như mọi chàng trai đất Việt, lần đầu tiên gặp người đẹp, Công Tử bỡ ngỡ nói một câu hết sức ...lãng mạn cách mạng. "Dân Việt nam ăn toàn bo bo không, sao lại có người như Niên, xinh đẹp như vậy". Niên đỏ mặt, đổi đe tài, hỏi nhà Công Tử ở chỗ nào trong phường để nàng biết tới gọi đi họp. Công Tử kể tiếp: "Tao chỉ nhà, Niên không tin nói nhà tao chỉ đến bà chị kế tao là hết. Tao nói ông gìa anh mới nhận anh làm con nuôi tối qua."

Hôm sau Niên đi hỏi dò trong xóm mới biết Công Tử là con út, ít khi ra đường nên phần lớn mọi người không biết tới. Gặp Công Tử, Niên hỏi: "Anh làm gì mà tối ngày cứ ru rú ở trong nhà không"" Công Tử đáp: "Tại chưa gặp Niên nên không muốn, bây giờ thì lúc nào cũng nằm ngoài đường."

Từ đó phường 7, quận Phú-Nhuận có chuyện tình để mọi người kháo cho qua những tháng ngày vô vị dưới chế độ ba khoan. Khoan sống, khoan hưởng và khoan yêu. Họ nhìn Công Tử và Niên để ước sao cho cuộc tình được êm đẹp và thành tựu. Hình như Công Tử và Niên cũng thấy. Họ lúc nào cũng quyến luyến và ước mơ.

Mùa hè chấm dứt, chị phụ trách sinh hoạt phường, tổ ca, Quách thị Cẩm-Niên đặt bút phê vào sổ sinh hoạt của Công Tử: tiên tiến vượt chỉ tiêu. Tên ủy viên thanh niên phường gầm gừ phản đối ngầm.

Một ngày cuối đông năm 1979, Công Tử đưa tiền cho đứa em gái tôi dặn ra chợ Phú-Nhuận mua xôi và thịt vịt. Hôm đó nhà chúng tôi được thưởng thức một món mà mọi người ưa thích. Tôi có linh cảm thật nhiều. Tối hôm đó Công Tử nói: "Bố mẹ tao đóng tiền bán chính thức xong rồi. Ngày mai em họ tao tới đón tao xuống Rạch-Gía."

Công Tử đưa tôi thẻ căn cước mới có tên tầu là Lý Phu Trình. Tôi nói: "Công Tử Vượt Biên giờ trở thành Cái Nị Dượt Piên". Chúng tôi cười nói nhiều tới khuya.

Ba tháng sau, không thấy tin tức gì của Công Tử, tôi ghé qua nhà hỏi. Bà mẹ Bắc-Kỳ, thật Việt Nam, thấy tôi ôm mừng khóc "nó đã tới được Mã Lai rồi con ạ." Tôi từ gĩa vội để chạy qua nhà Luận báo tin.

Mọi lần thì khác, nhưng lần này vừa thấy chiếc xe đạp Mỹ mà Công Tử để lại cho tôi đậu trước nhà Luận, Niên có linh cảm, chạy vội băng qua đường.

Đó là lần đầu tiên tôi giáp mặt Niên. Niên có gương mặt trái soan. Cặp mắt không to không nhỏ, rất đi đôi với khuôn mặt. Mũi Niên hơi cao, có sóng, không tẹt như mũi người Việt nam. Mái tóc dài ngang lưng, không dầy không thưa nhưng đen nhánh như hai hàng lông mi của nàng. Da Niên trắng tựa như người sinh đẻ ở Gia-Nã-Đại. Mái tóc đen dài, gương mặt trái soan, làn da trắng, chiếc áo vàng in hình bông cúc nổi, cái quần xa tanh bóng đen, những thứ ấy tương xứng, đối chọi làm Niên đã đẹp càng đẹp thêm. Không chỉ đẹp, dáng Niên cao cao trông sang và quyền qúi. Phải nói Niên là một kỳ công tuyệt mỹ của Tạo hóa. Bây giờ tôi mới hiểu hết câu nói đầu tiên, ngớ ngẩn của Công Tử khi gặp Niên. "Dân Việt nam ăn toàn bo bo không, sao lại có người như Niên, xinh đẹp như vậy."

Niên bước vào nhà Luận, căn nhà tự nhiên sáng hẳn ra. Không hiểu từ mái tóc Niên hay từ thân thể Niên, cũng có thể từ sự tưởng tượng của tôi, tôi như thấy một mùi thơm ngọt dịu thoảng qua. Niên không để ý gì cả, chỉ hỏi vội: "Ảnh có tin gì chưa anh"" Tôi gật đầu đáp: "Tới Mã Lai rồi". Chưa đầy một phút sau, hai dòng nước mắt đã chảy dài trên gương mặt xinh đẹp của Niên. Tôi không cầm được nước mắt. Luận Bò cũng khóc. Chúng tôi nhìn nhau khóc thật dễ dàng.

Chín tháng sau tôi mới nhận được lá thư đầu tiên của Công Tử gửi từ một nơi có cái tên lạ hoắc của tiểu bang Texas. College Station.

Thủ Tướng gật gù giải thích: "Thì đúng rồi, Công Tử phải ở chỗ những người giỏi của nước Mỹ. College Station là chỗ của những người ít nhất phải có bằng Đại học ở." Chúng tôi đều nhất trí.

Tôi mang thư qua nhà Công Tử khoe. Hai ông bà nhìn tôi một lúc rồi khẽ nói:

"Hai bác có chuyện muốn nói với cháu. Trước khi nó đi, hai bác có đóng thêm một chỗ, phòng nếu đi không xong sẽ có mối khác cho nó. Lúc nó đi có nói nếu trót lọt thì để dành cho cháu để cám ơn gia đình cháu đã giúp nó. Tiền bác đã đóng rồi, lấy về cũng không được. Cháu về thưa với bố mẹ, rồi sang cho hai bác hay."

Trên đường về, tôi bàng hoàng như người bị say sóng. Bố tôi nghe xong nói: "Trời Phật thương gia đình mình rồi con ơi. Cơ hội ngàn vàng con đừng bỏ. Con phải đi để cứu các em con và cứu cả bố mẹ. Con đi bố chỉ mất chức... tổ trưởng là cùng. Chức cái quái gì, toàn là làm không công cho tụi nó không. Đã vậy chúng con phê bình bố là không quản lý tốt."

Hai tuần sau, tầu tôi cập bến Mã Lai. Tôi cũng được chuyển qua đảo Pulau Bidong như Công Tử.

Vì thuộc diện hốt rác nên tôi ở đảo gần hai năm. Sau khi từ chối cả Úc, Pháp, Ý và Thụy Sĩ, tôi mới được Mỹ hốt. Tôi tới Houston vào cuối đông năm 82. Trời năm đó lạnh và u ám.

Công Tử ra đón tôi ở phi trường. Vẫn phong thái và kiểu nói của năm xưa, tôi thấy trời đất chuyển ấm và sáng dần.

"Lùn Mã Tử, tao trốn mày gần nửa vòng trái đất, vậy mà mày cũng bám theo. Làm sao tao có thể dứt mày được đây""

Tôi trả lời:
"Khánh Khổ nói số mày đẻ bọc điều, sinh ra để sống trong nhung lụa. Số tao với nó là số khổ, do đó tao phải bám sát mày. Chỉ cần một tí cái bọc điều của mày, là hưởng suốt đời không hết."

Đúng như Đại Tướng đoán trước, chương trình học bốn năm của Đại học Mỹ, Công Tử chỉ tốn ba năm hơn. Tôi vào trường được hơn một năm, Công Tử tốt nghiệp kỹ sư cơ khí và chuyển lên Fort Worth làm cho một hãng máy bay quốc phòng nổi tiếng.

Ngày tôi ra trường, Công Tử lái xe về mừng. Gặp tôi, Công Tử thành thật:

"Tao tính mua tặng mày một món quà thật lớn. Nhưng tuần sau tao xong Cao học, mày lại phải trả nợ, mua đồ mừng tao. Do đó đổi ý không mua gì cả. Mày mới ra trường chưa có nhiều tiền, chơi cái trò tư bản này không xong đâu."

Tôi có hỏi Công Tử có tiếp tục học lên Tiến Sĩ không" Công Tử trả lời: 
"Phải ngưng một thời gian, ba má tao nói ngưng học, đi lấy vợ học mới...thông ra thêm. Ông bà cũng gìa rồi, tao tính về thăm một chuyến, tiện thể tính bề gia thất."

Ngập ngừng một lúc tôi mới nói Công Tử một điều mà tôi đã giấu hơn sáu năm nay:

"Niên đã lấy chồng lâu rồi, chắc giờ con cũng đã lớn."

Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi thấy mặt Công Tử đổi sắc. Công Tử nhìn tôi một lúc như muốn hỏi điều gì, nhưng rồi thôi, chỉ quay đi nhìn về một hướng xa xa.

Tôi hiểu Công Tử muốn hỏi gì nên khẽ đáp:
"Luận Bò."

Houston, đầu Đông, năm 2000

Lê Như Đức

Monday, November 11, 2019

Bốn Mươi Năm …Nhớ Về…

Lê Như Đức

– Đức nè, mày có về Việt Nam thì lẹ lẹ đi chứ vài năm nữa tụi việt cộng nó hiến nước mình cho mấy thằng chệt là mày hết về luôn.

Liên gọi cho tôi. Bố Liên làm rất lớn trong đảng cộng sản VN. Sau tháng Tư năm 75, gia đình Liên là một trong những gia đình cán bộ gộc được gửi vô Sàigòn sớm nhất. Bố Liên được cấp một căn biệt thự to đường Duy Tân với đầy đủ đồ đạc do người chủ di tản để lại. 

Liên chỉ học với tôi duy nhất năm lớp 10 trường Lasan Taberd rồi trường bị giải thể vì cứ bị học sinh ném lựu đạn cay. Chúng tôi mất liên lạc từ đó. Tuy dân việt cộng thứ gộc nhưng Liên lại sớm giác ngộ hơn ai hết. Có lẽ do ảnh hưởng của ông bố. Tôi nhớ có lần Liên tâm sự với tôi:

– Ba tao tối nào cũng lén nghe nhạc vàng miền Nam ngày xưa. Tao hỏi. Ông thở dài ngao ngán: Nhạc này mới là nhạc. Mới gọi là thưởng thức, chứ nhạc ngoài kia toàn là thứ gì đâu. Mày biết có lần ông hỏi tao tại sao họ ngu quá để đánh mất miền Nam. Tao cũng tiếc cho dân miền Nam. Sàigòn đẹp quá. Bỏ xa Hà Nội.

Tôi trả lời Liên:
– Nhạc của VC ngoài đó không phải là nhạc. Nó là cái gì đó mà chẳng ai biết gọi là gì vì nó không có tiếng gọi trong ngôn ngữ Việt Nam. Có người gọi nó là hiếp dâm âm nhạc. Còn lý do chính yếu mất miền Nam, theo tao nghĩ là do kế hoạch của Ngũ Giác Đài quyết định bỏ miền Nam chứ không phải tụi mày hay ho gì đâu. Mày cứ hỏi ba mày coi tại sao quân miền Nam không được Bắc tiến mà cứ phải trải quân cố thủ mọi nơi để cho tụi việt cộng tha hồ tập trung quân đánh. Rồi nữa, mùa nước lũ, miền Bắc có con sông Hồng, đê cao hai chục thước. Nếu máy bay B52 Mỹ thả dọc cái đê thì cả miền Bắc ở dưới nước ba thước. Quân miền Nam ngồi hút thuốc cũng thắng. Mày có biết tại sao phi công Mỹ không được phép thả bom vào con đê của sông Hồng không?

Liên lắc đầu. Tôi tiếp:
– Tại vì nếu miền Nam thắng. Trung cộng có cớ đánh Việt Nam thì cuộc chiến sẽ trở thành người Mỹ giúp dân Việt đánh Tàu phù chứ không phải người Mỹ giúp dân miền Nam bảo vệ tự do, ngăn cộng sản. Các cường quốc lúc nào cũng tránh đụng nhau. Mỹ tránh Tàu. Tàu tránh Nga. Nga tránh Mỹ. Do đó chúng phải tìm trái độn để thử sức nhau. Mày thấy Bắc Hàn và Nam Hàn cũng như vậy. Quân đội Nam Hàn rất hùng mạnh. Muốn dập thằng Bắc Hàn chỉ vài ngày là xong. Nhưng Mỹ không cho. Lúc nào cũng có hơn năm chục ngàn quân Mỹ đóng tại biên giới Nam Bắc. Tiếng là phòng ngừa hai bên đụng độ nhưng thật ra ai cũng biết là sợ mấy ông Nam Hàn nổi điên vác quân qua Bàn Môn Điếm đập. Lúc đó Trung cộng có cớ sẽ tràn quân qua giúp anh em Xã Hội Chủ Nghĩa. Cuộc chiến sẽ biến dạng thành Mỹ giúp Hàn quốc đánh Trung quốc. Cái này cả Ngũ Giác Đài lẫn Mạc Tư Khoa đều không muốn.

Sau này nhờ Internet và Facebook, Liên tìm được tôi và rủ về Việt Nam. Tôi hỏi Liên tình hình trong nước. Liên nói:

-Ba tao nói chúng nó ký bán nước trong đại hội Thành Đô tháng 9 năm 1990 lâu rồi. Năm 2020 chúng sẽ giả bộ trưng cầu dân ý nên theo chệt hay Mỹ. Dân bầu xong chúng cho thùng phiếu vào thùng rác rồi đưa thùng khác trưng ra cho mọi người thấy hơn 99% dân đồng ý theo chệt. Chúng sẽ ra lệnh cho quốc hội soạn thảo văn thư gửi cho Trung quốc xin được làm một tỉnh. Thằng chệt sẽ giả bộ từ chối lần đầu ra đây ta không thèm. Rồi chúng lại gửi văn thư khác năn nỉ thêm một lần nữa. Thằng chệt sợ từ chối hoài làm mất lòng người anh em môi hở nanh lạnh nên đành đứt ruột miễn cưỡng gật đầu. Sau này lịch sử sẽ không bắt tội đảng cộng sản của chúng bán nước vì chúng nói cái này là toàn dân nhất trí đồng ý bình bầu và quốc hội chỉ làm theo ý dân thôi.

Tôi thở dài, không biết nói gì vì nếu Việt cộng chơi cái chiêu dân bầu quốc hội viết đơn xin thì nước mất là cái chắc. Bốn mươi năm qua chúng đầy đọa hành hạ người dân Việt Nam không biết bao nhiêu mà kể giờ còn muốn bán nước luôn. Vừa tham, vừa hèn vậy mà cứ vỗ ngực tự khen ta đây anh hùng, đánh thắng đế quốc Mỹ.

Trưa ngày 30 tháng 4 khi tiếng súng chấm dứt, anh em tôi đứng trên lầu nhà chú ruột tôi trên đường Chi Lăng buồn bã nhìn những người lính Việt Nam Cộng Hòa cởi bỏ áo lính, mặc áo thun trắng cúi đầu lặng lẽ đi dọc hai bên đường. Tôi còn thấy nhiều người hàng xóm âm thầm leo lên mái nhà mình giấu đồ có liên hệ tới chê độ cũ.

Đài phát thanh Sàigòn ì à vang lên giọng ca nhạt nhẽo của Trịnh công Sơn với bài “Nối Vòng Tay Lớn” thật mỉa mai.

Chiều hôm đó, đoàn quân mường mán, ngơ ngơ ngáo ngáo đi ngay chính giữa con đường Chi Lăng để vào bùng binh Sàigòn. Nhìn chúng nhe răng cười toe toét, bố tôi thở dài than với anh em chúng tôi:

-Cậu tránh chúng tất cả ba lần. Cuối cùng cũng không thoát khỏi cái giống khốn nạn này. Lần đầu bỏ làng trốn vào Hưng Yên được năm năm. Rồi bỏ Hưng Yên trốn vào Nam được hai mươi mươi năm. Tính bỏ Việt Nam đi Mỹ nhưng lại không thành.

Chỉ ngày hôm sau thôi, tôi thấy được những đổi ngược hoàn toàn không những trong luân lý cổ truyền của dân tộc mà cả trong ngôn ngữ hằng ngày nữa.

Cũng trên con đường Chi Lăng, tuần sau tôi được chứng kiến hai cô gái bị chúng bắt tròng cái bảng to ghi ba chữ “tôi làm điếm” trước ngực rồi cho đám con nít kéo dây buộc cổ lôi đi. Cuối đám đông, một tên cầm cái bảng ghi chiến tích chúng tóm được: “Mỹ Ngụy để lại hơn một trăm ngàn điếm”.

Ông anh cả tôi nói nhỏ với tôi: “Phải tìm đường vượt viên chứ ở với cái lũ vô học này thì thà chết còn hơn”. Vô học cộng thêm vô thần thành thứ vô liêm sỉ và vô lương tâm.

Để xoá bỏ những thành tích của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, các cán ngố bầy trò đốt sách văn hoá đồi trụy. Bao nhiêu sách vở văn chương lẫn khoa học đều được tịch thu, chất thành đống giữa đường rồi cho các em thiếu nhi quàng khăn đỏ châm lửa đốt. Tôi còn nhớ trước khi đốt, tên cán bộ ốm tong, đen thui như khúc củi, nhe hàm răng vẩu cầm cuốn tạp chí có hình hai người hôn nhau đưa cao lên hét: “Đốt hết thứ văn hóa đồi trụy này. Xem nè. Mỹ Ngụy nó đang…bú mồm”.

Dân Sàigòn phải nhức đầu khi bệnh viện Từ Dũ chuyên khoa về sinh sản bị đổi tên thành “Xưởng đẻ”. Đồng hồ tự động, được các đồng chí phán thành đồng hồ không người lái, hai cửa sổ. Nhà vệ sinh nam, nữ bắt viết lại thành “ỉa nam, ỉa nữ”. Bộ đội mở miệng ra là “hồ hởi, phấn khởi” những “cụm từ kách mệnh” nghe thật “bức xúc” vì nó “hiển thị” một “sự cố” mà không thể “triển khai” mọi “phẩm chất” hầu “kích cầu” hay “tiếp thu” được. Dân miền Nam cứ phải nghe những danh, động, tĩnh và trạng từ quái lạ mà không có cả trong văn chương bình dân lẫn ngôn ngữ dân gian. Để rồi cuối cùng, hiểu hay không hiểu, thì Sàigòn cũng phải mang tên con cáo (hồ) đuôi to (vĩ đại), xác bị ướp lạnh.

Những câu hò tình tự, những bài thơ yêu đương, những văn phẩm trữ tình nay trở thành văn chương hiện thực Xã Hội Chủ Nghĩa: “Vừa thấy Đỉnh bước vào sân nhà mình, cái Đẹp quẳng cái gánh hai thùng phân to xuống, đáp ngay: Em muốn anh quản lý đời em. Thế anh có chịu tiếp thu em không?”. Chuyện tình mà đọc cứ nghĩ như chuyện buôn bán phân bón. Bốn mươi năm nay dù uống thuốc xổ liên tục, tôi cũng vẫn không tiêu được cái văn phong “cách mạng lãng mạn” này được.

Nói theo đúng ngôn từ của các cán ngố là “giải phóng” làm dân Sài thành “phỏng cả giá..”.

Để dậy các cán “giải phóng” học cách ăn nói của người văn minh thành thị, dân miền Nam làm thơ, chế nhạc và viết vè cho các cán nghe chơi. “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý. Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”. Hai câu thơ trên đã nhanh theo những người vượt biên đi khắp nơi trên thế giới vì nó vừa thốt lên một thực trạng của hai con đường nổi tiếng Công Lý và Tự Do bị đổi tên, vừa cay đắng nói lên tình trạng nhân quyền trong nước của người dân bị chà đạp. Người trong ngoài nước không ai không biết đến hay một lần nghe qua câu thơ để rồi mãi mãi không quên cùng với bài vè “Cây đinh” để nói đến tình trạng thiếu lương thực và kiểm soát chặt chẽ cái bao tử của người dân:

“Ở với Hồ Chí Minh. Cây đinh phải đăng ký. Trái bí cũng sắp hàng. Khoai lang cần tem phiếu. Thuốc điếu phải mua bông. Lấy chồng phải cai đẻ. Bán lẻ chạy công an. Lang thang đi cải tạo. Hết gạo ăn bo bo. Học trò không có tập. Độc Lập với Tự Do. Nằm co mà Hạnh Phúc”.

Không những dân miền Nam mà chính ngay những người lính bị Việt cộng buộc “sinh Bắc, tử Nam” phải đau đớn than những tàn nhẫn của Việt cộng gây ra. Anh lính Nguyễn Văn Được, 19 tuổi, của Đoàn 215 Đặc công thủy bộ, đã lén viết lên một mẩu giấy bao thuốc Nam Định: “Dép râu dẫm nát đời son trẻ. Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai”.

Muốn thâu tóm tất cả các sĩ quan của chế độ cũ vào các trại cải tạo, nhà nước Việt cộng dùng cái chiêu lưu manh lừa đảo rẻ tiền. Đầu tiên họ ra thông cáo hạ sĩ quan và lính chỉ học ba ngày và học ngay địa phương mình đang ở. Sau ba ngày họ thả những binh lính cũ về để làm mồi nhử các sĩ quan ra trình diện. Sau đó họ ra thông cáo cho những sĩ quan đi học tập mười ngày. Mọi người tới nơi tập trung tại các trường học. Tối hôm đó xe tải tới chở tất cả vào rừng sâu để thanh lọc. Một số lớn bị đày ra Bắc, sống trong rừng hơn hai mươi năm.

Ngoài các sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, có một số không nhỏ cũng vào các trại cải tạo để học tập tốt, hầu hiểu biết hết những nghị quyết của “kách mệnh”. Ông chủ tiệm phở Hiền Vương ở cuối đường Duy Tân là một thí dụ điển hình. Ngày xưa ông ỷ có chút ít công giúp đỡ cho một số đồng chí đặc công nằm vùng ven đô. Khi đóng cửa tiệm vì giá gà tăng lên vùn vụt, ông làm một cái bảng thật to dán ngay trước cửa tiệm nói rõ lý do đóng cửa. Ông được công an thành xuống mời đi giữa đêm khuya.

Sau hơn hai năm học tập tốt, ông được thả về. Ông thấu hiểu được câu châm ngôn “thứ nhất ngồi lì, thứ nhì đồng ý” nên kể từ đó ông không nói năng gì dù chỉ là một lời không đáng chi. Gà để dành bồi dưỡng cho cán bộ cao cấp mà ông còn muốn nấu cho nhân dân xơi, kiếm lời kiểu tư sản mại bản thì thật là không hiểu công ơn của đảng một chút xíu nào cả. Lại còn bầy đặt viết giấy tuyên truyền chọc quê chính sách nhà nước dán trước cửa.

Bỏ tù các sĩ quan xong, bước kế là vẹm tìm cách tống người dân ra khỏi thành phố để chiếm nhà bằng chương trình kinh tế mới, thủy lợi và thanh niên xung phong. Thanh niên xung phong đi thủy lợi, đi xây dựng những khu kinh tế mới để người dân tự nguyện hiến nhà trong thành phố cho các cán rồi thanh thản chui vào rừng sâu an nhàn sung sướng hoà mình sống với lý thuyết cộng sản.

Nghe đảng ca ngợi các công trình thủy lợi dắt nước vào nông trường cải tạo đất phèn và thanh niên xung phong cất nhà lá cấp cao trong khu kinh tế mới mà toàn dân phát thèm, đều nhường nhau và đẩy nhau đi trước. Được vài tháng sau, gia đình nào cũng tự động xung phong về lại thành phố.

Bà Thu trong xóm tôi sống bằng nghề bán đậu hũ nấu đường mỗi tối. Gia sản bà chỉ có cái gánh chè bán đậu hũ và cái chòi nhỏ dựng bên hông nhà của một người di tản tháng tư. Căn nhà người di tản được cấp cho đồng chí Ba Kiếm, trưởng công an phường. Bà Thu sinh sống, ăn ngủ, tắm rửa và nấu đậu hũ trong một diện tích không quá sáu mét vuông bên hông nhà đồng chí cấp cao trông không đúng tinh thần vô sản chút nào cả. Do đó bà bị kết tội tiểu tư sản, làm ăn cá thể nên phải đi “kinh tế mới” để hông nhà đồng chí cán bộ không có tụi tư bản phản động dòm ngó.

Những đổi thay ngu muội, những oan khiên tù đày, những lừa bịp tham lam chiếm của cướp đất đã đẩy người dân Việt tìm đường vượt biên cho dù biết được chỉ có một phần ba sống sót, theo ước tính của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc.

“Cái cột đèn nếu có chân cũng phải bỏ nước ra đi”. Một thuyền nhân đã trả lời phóng viên đài BBC một câu nói lịch sử khi lên án chế độ cộng sản tại Việt Nam sau năm 1975.

Theo thống kê của Red Cross thì khoảng 750,000 thuyền nhân và hơn 50,000 người đi đường bộ thành công. Như vậy hơn 1.6 triệu người đã bỏ xác trong biển Đông và trong rừng Cam Bốt khi đi tìm tự do. Không một dân tộc nào liều mình chết cho tự do như dân Việt Nam.

Trong cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 chỉ có 40,000 người chết mà người ta đã phải than: “Tự do, tự do. Người ta đã nhân danh mày mà phạm bao nhiêu tội ác”. Vẫn hai chữ “Tự do”, bốn mẫu tự, cướp mất 1,600,000 sinh mạng của người dân Việt. Vậy mà giờ đây có nhiều người vẫn chưa thấy được họa cộng sản, còn muốn bắt tay hy vọng chúng thay đổi.

Tôi vượt biên bẩy lần. Lần thứ năm tôi bị thị đội Vũng Tầu bắt nhốt rồi đưa vào trong rừng Bình Ba, đất Long Khánh cải tạo bốn tháng. May mà mẹ tôi tìm được mối chạy năm cây vàng cho bà đại tá thanh tra công an toàn miền Nam nhận làm cháu bảo lãnh về cải tạo tại gia để “thị đội” thả tôi về Sàigòn.

Trong tù vượt biên tôi biết được nhiều chuyện cười ra nước mắt. Chuyện đi tù của bác Vị làm tôi cứ mỗi lần nghĩ tới bác là không nhịn được cười. Bác Vị bỏ xứ Quảng nghèo đói để vào Vũng Tầu kiếm sống sau khi vợ bác mất. Xui cho bác là ngay cái ngày bác đáp xe đò vào thì công an miền Trung đánh điện vào Vũng Tầu báo cáo sẽ có một nhân vật chỉ huy phục quốc vào Vũng Tầu để xây đựng hạ tầng cơ sở. Nhân vật này có ba đặc điểm rất dễ nhận diện cho dù trong bến xe đò đông người: đi một mình, da đen và thấp người. Bác Vị bị Ba Giao, trưởng phòng công an, nhận diện khi bước xuống xe đò.

Bác Vị bị thị đội tó ngay. Sau hai năm biệt giam và bị tẩm quất tới thổ cả máu tươi không tra ra được gì, bác được cho ra ở với đám tù vượt biên chúng tôi. Bác Vị kể: Tao hỏi Ba Giao có thấy thằng nông dân nào da trắng không? Ăn không đủ làm sao không bé người? Vợ tao mới chết thì có con nào nó khùng mới lấy cái thằng nghèo xác nghèo xơ không nhà cửa như tao? Mà nó có muốn lấy, tao cũng không dám vì tao nuôi thân tao chưa xong thì sao dám lấy ai? Vậy mà nó cũng không tin. Nó còn hỏi sao đi có một mình? Tao tức quá hoá liều nên trả lời: vợ chết thì đi một mình chứ đi cặp với vợ mày hả? Nó lại đánh tao tiếp.

Tôi hỏi bác Vị sao chúng tại chịu tin bác, không tra tấn bác nữa. Bác trả lời: Thì bị đánh tao đau quá, tao ức nên cứ khai tầm bậy tầm bạ chơi. Tao cứ cho chúng một số tên công an ngoài miền tao ở. Nó gọi ra trung báo cáo. Công an ngoài đó nói đó là cán bộ bí thư quận hay phường trưởng. Bị vài vố, chúng không tin những gì tao khai nữa, nhưng ít đánh hơn. Một hôm, phúc đáo tâm linh, tao nghĩ ra nên nói với Ba Giao là nó phải ăn mừng nếu tao thật là nhân viên chỉ huy phục quốc. Nó hỏi tại sao? Tao nói nhân viên chỉ huy mà chỉ học tới lớp năm, không biết đọc bản đồ, không biết ăn nói thuyết phục thì chỉ huy ai. Phục quốc sẽ chẳng làm gì được cả nếu có người chỉ huy như tao nên phải ăn mừng là đúng rồi. Nó nghe lọt tai nên đổi tao từ tù phục quốc thành tù vượt biên để khỏi báo cáo bắt lầm người. Thật ra đánh tao hoài cũng chán, chả có được gì. Tao đâu còn thịt nữa đâu mà đánh.

Việt cộng muốn có nhiều vàng hơn nên tổ chức bán chính thức cho những người muốn ra đi mà không sợ bị bắt tội vượt biên. Tiếng là cho những người Việt gốc Hoa hồi hương nhưng thật ra ai có tiền đóng là thành Hoa kiều ngay. Tôi được đổi tên thành Lý Phu Trình, xuống Rạch Giá rồi vào Tắc Cậu vượt biển qua Mã Lai.

Sau chín tháng sống trong trại tỵ nạn Mã Lai Pulau Bidong hay Buồn Lo Bi Đát, anh chị em tôi tới định cư tại thành phố Houston, tiểu bang Texas năm 1980. Được tổng thống Reagan ký cho học bổng với tiền mượn học nhẹ phân lời, phần lớn các sinh viên thời đó vào các đại học Mỹ học ngành kỹ sư cho lẹ. Tôi chọn ngành học tôi thích, kỹ sư cơ khí, vì gia đình tôi chuyên nghề dệt. Từ nhỏ tôi đã thấy máy móc và dính dầu nhớt đầy người.

Sau này tôi mới thấy may mắn hơn vì ngành cơ khí dễ xin được làm contract hơn các ngành khác. Làm contract được trả lương gấp đôi, làm overtime thì được tính 1.5 lương. Làm direct ngày hôm nay không còn lợi như xưa vì hầu hết các công ty hủy bỏ lương hưu (pension). Đã vậy nhiều hãng còn bắt làm free nữa. Tôi vừa đi làm contract, vừa mở hãng riêng để không bị các công ty môi giới ăn chận.

Gần ba mươi năm sống và làm trên đất Mỹ, tôi thấy người Việt mình tài giỏi và chăm chỉ vô cùng. Năm xưa tôi đang làm cho chương trình trạm không gian quốc tế (International Space station) thì được hãng Boeing gửi qua California để mang toàn bộ chương trình phi thuyền con thoi (Shuttle) về Houston sau khi Boeing mua lại phần hành không gian của hãng Rockwell. Tôi được quyền vào coi tất cả những tài liệu và thấy tên người Việt rất nhiều. Ngoài những họ lớn như Lê, Lý, Nguyễn, Trần, Phạm, Trương.. tôi còn thấy cả những họ lạ như họ Thạch, họ Phí. Có thể nói các kỹ sư Mỹ gốc Việt đã có đóng góp không ít cho phi thuyền con thoi. Riêng trạm không gian quốc tế thì nhiều hết biết. Tôi thấy cả kỹ Đức gốc Việt, Pháp gốc Việt nữa. Nhìn về cố quốc nghĩ mà đau lòng, chế cái xe gắn máy cũng không được.

Trong khi chuyển tiếp tài liệu và hồ sơ về Houston, có một kỹ sư Mỹ gốc Tàu tên Greg Chung làm cho Rockwell hơn hai mươi năm chuyển qua làm cho nhóm tôi. Greg Chung ăn cắp hết tài liệu về Shuttle và Space Station gửi về Tàu cộng. Ngoài ra không biết làm sao mà Greg mò vô được cả chương trình phi đạn Delta 4 của Boeing ăn cắp tài liệu nữa. Tôi bị phiền hà rất nhiều vì chỉ có account của tôi mới có thể vào cả ba chương trình: shuttle, space station và Delta 4. Tôi lại là dân Asian.

Greg Chung bị bắt và xử 15 năm tù (muốn biết thêm về Greg xin vào Google đánh tên Greg Chung). Trước mặt quan tòa, Greg la lên “Tôi có làm gì sai đâu. Tôi yêu nước này mà”. Nhưng Greg sợ quá nói lộn. Greg chỉ yêu Trung quốc thôi.

Sau này mỗi khi làm với kỹ sư gốc Tàu, tôi thường để ý thấy họ hay bị dính vào cái bánh vẽ “Một nước Trung Hoa Lớn” của đảng cộng sản Trung quốc như Greg. Tôi giả bộ chửi tư bản Mỹ là họ dính kế tôi chửi theo ngay. Lúc nào họ cũng muốn làm nước Mỹ tan nát hầu đưa Trung quốc lên số một.

Có một lần tôi hỏi Jerry Hou, một anh Tàu du học xong xin được ở lại Mỹ làm như Greg Chung:

– Tại sao anh không xin về Tàu làm để xây dựng đất nước? Anh cứ ở Mỹ rồi chửi tư bản Mỹ ác độc là làm sao? Anh xin vào quốc tịch Mỹ để làm gì? Anh đưa tay tuyên thệ trung thành với đất nước này xong quay qua chửi nó. Anh đã gian dối với chính lương tâm cùa anh.

Ai mà chả muốn nước mình mạnh, dân mình giàu. Nhưng tìm cách hại và ăn cắp tài nguyên của nước khác thì quá hèn mạt và vô lương tâm. Chửi tư bản nhưng cứ bám lấy tư bản để moi tiền là đặc tính cố hữu của người cộng sản. Tham lam, độc ác và ngu dốt là bản chất ruột của công an và chính quyền vô sản. Tuyên truyền dối trá, áp dụng chính sách ngu dân và thắt chặt cái bao tử người dân là chính sách để trị của Mác Xít Lê Nin Nít.

Tôi không biết lịch sử sau này sẽ phê phán cựu tổng thống Nguyễn văn Thiệu ra sao. Tuy nhiên chỉ câu nói bất hủ của ông: “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” đủ để cho ông xứng đáng đứng vào hàng ngũ lãnh đạo chống họa cộng sản.

Tôi rời hãng Boeing một phần cũng vì vụ Greg Chung. Cũng may chương trình phi đạn Delta 4 không thành công mấy làm mấy cái phi đạn của Trung cộng bắn lên cũng xìu xìu ển ển theo bác Mao lao xuống lòng đại dương. “Thiên bất dung gian” mà nị.

* * *
Thấy tôi ngần ngừ mãi không trả lời, Liên chán nản:
– Chắc mày cũng thấy ba tao nói đúng. Nước mình sẽ mất vào tay mấy thằng chệt rồi.

Tôi bừng tỉnh, trả lời Liên:
– Cũng chưa chắc đâu. Trung cộng trông giàu mạnh chứ thật ra như nằm trên thùng thuốc nổ. Sự phân chia giàu nghèo trong xã hội ngày càng cách xa nên bất mãn ngày càng tăng. Luật lệ thì tù mù, đảng nói sao cũng đúng. Cướp đất của nông dân rồi đến cướp nhà công nhân. Nền kinh tế dựa trên độc tài, dối trá và tham nhũng thì chẳng bao lâu cũng loạn. Chỉ cần một nhóm lửa nhỏ khơi lên, Trung quốc sẽ trong biển lửa. Tàu cộng nát, thì việt cộng tan. Hội nghị Thành Đô vô thùng rác. Thế cờ sẽ khác. Tao sẽ về nước thăm mày.

– Nếu được như vậy thì may cho nước mình. Khuya rồi mày đi ngủ đi. Tao đi làm đây.

Sáng hôm sau, tôi mở Facebook ra, Liên viết gửi tôi bài thơ Việt kiều với lời nhắn:

– Tao lén đọc được bài thơ này trên internet nên gửi tặng thằng bạn vượt biên của tao.

Ngày đi, đảng gọi “Việt gian”,
Ngày về thì đảng chuyển sang “Việt kiều”.
Chưa đi: phản động trăm chiều,
Đi rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng!

Lê Như Đức
Nguồn: http://sinhhoatdoisong.blogspot.com

Blog Archive