Showing posts with label Tuấn Khanh. Show all posts
Showing posts with label Tuấn Khanh. Show all posts

Sunday, August 9, 2026

TÔI LÀ AI?

Ns Tuấn Khanh

Phú Quý bất năng dâm
Bần Tiện bất năng di
Uy Vũ bất năng khuất ...

Tưởng cũng nên biết qua Nhạc sĩ Tuấn Khanh: Nguyễn Tuấn Khanh sinh 1968 (khác NS Tuấn Khanh trước 75 "Hoa Soan Bên Thềm Cũ", "Chiếc Lá Cuối Cùng"). 

Ông sinh tại Saigon, tốt nghiệp nhạc viện SG, phóng viên, nhạc sĩ, viết văn, làm đài truyền hình. Ông nhận giải thưởng Rai International Ý, được một tạp chí East Magazine bầu chọn "10 nhân vật trẻ Đông Nam Á có ảnh hưởng cộng đồng, giám khảo chương trình VN Idol....

NS Tuấn Khanh có nhiều bài viết thao thức với thời cuộc rất được ngưỡng mộ trong nước và hải ngoại. Bài viết dưới đây thể hiện sự can đảm, sống thực với chính mình.

TỪNG THIÊN-NIÊN KỶ, KHÂU VÁ LẠI MÌNH

Tôi là ai, giữa dòng định mệnh mang tên Việt-Nam? Câu hỏi đó vẫn theo đuổi tôi, buộc tôi phải luôn nhìn lại mình, nhìn những khát vọng co rút lại như miếng da lừa, và đếm lại tuổi trẻ hoang phí, ngu ngơ trước cối xay gió thời cuộc bên đường!

Ký ức lớn nhất của những ngày thơ ấu mà tôi luôn bị ám ảnh, đó là một buổi sáng nắng gắt, trên mặt đường đầy quân trang vứt la liệt khắp nơi. Tiếng người gọi nhau. Tiếng xe hỗn loạn. Tay mẹ nắm chặt tôi như sợ tôi vụt mất đi, y như một quốc gia miền nam Việt-Nam đã tan biến kỳ lạ sau cuộc chiến tranh dai dẳng hai mươi năm!

Từ lúc đó, tôi lớn lên, loay hoay nhiều năm với việc lựa chọn mình phải là gì, phải như thế nào để được chấp nhận là một sinh linh hợp pháp trong một quốc gia mới, có tên Cộng-Sản.

Cuộc sống của một người Việt-Nam không đơn giản đâu bạn ạ. Nếu mười năm hay hai mươi năm nữa, khi được hỏi, tôi cũng sẽ nhắc lại, y như vậy không khác gì. Nhưng chúng ta vẫn có thể vẽ lại nó!

Năm lớp ba, tôi học ở ngôi trường cách không xa trung tâm Sài-Gòn, nhưng hẻo lánh và nghèo nàn như một ngoại ô. Thằng bạn cùng tuổi có cuốn truyện tranh của chế độ mới, kể về anh bộ đội chiến đấu giỏi, mà tôi mượn mãi không được. Cuối cùng thì nó đồng ý cho mượn xem, nếu như tôi mang đồ ăn cho nó. Ấy vậy mà sau khi ngồm ngoàm hết món tôi đưa, nó vẫn không cho mượn. Giận quá, tôi gào lên với nó bằng một câu nói mà thời đó, tôi hay nghe người lớn chỉ vào mặt nhau: “Đồ bợ đít Cộng-Sản!”.

Thằng bạn cũng nổi giận - dường như câu nói đó vào cuối những năm 1970 là rất nặng nề thì phải. Nó lập tức chạy vào lớp và kể với cô chủ nhiệm rằng tôi đã gọi nó là “Cộng-Sản”! Bà cô nghiêm mặt, trầm giọng nói tôi ở lại cuối giờ để nhận mức trừng phạt!

Tôi sợ hãi, co ro ở cuối lớp và chờ sự trừng phạt vào chiều hôm ấy. Thế nhưng kỳ lạ thay, cô chủ nhiệm nhìn quanh khi không còn ai, bước tới nắm tay tôi, nói dịu dàng và lo lắng: “Con không được nói như vậy nữa, rất nguy hiểm biết không?”. Sau này, tôi mới biết cô có người em trai là sĩ quan của chế độ cũ phải đi tù - mà nhà nước mới gọi là 'Học-Tập Cải -Tạo!'

Nhà trường vẫn là nơi đổ đầy vào đầu trẻ con miền Nam những câu chuyện thú vị về những con người mới đến từ miền Bắc, về một ông Cụ có râu dài, da mặt hồng hào được gọi là Bác Hồ!

Là trẻ con, tôi cũng bị hút theo những điều mới lạ như vậy. Một ngày kia, tôi đeo khăn quàng đỏ chạy về nhà ăn cơm với Mẹ và các chị. Tôi khoe học được rất nhiều điều, và kể cho Mẹ tôi “Bác Hồ biết nói đến sáu mươi thứ tiếng, trong khi Đức Giáo-Hoàng chỉ biết có năm thứ tiếng thôi, thầy con nói vậy!”. Cả nhà tôi im lặng ăn, không ai nói với ai tiếng nào. Nhà tôi lúc đó vắng người. Các anh rể thì đi 'Học-Tập Cải-Tạo', còn các chị thì đang ngồi tù vì vượt biên không thành!

Sau các câu chuyện kể từ bài học mới của tôi, mang từ nhà trường Xã-Hội Chủ-Nghĩa về, ở nhà có thêm những tiếng thở dài!

Dù chỉ là trẻ con, tôi vẫn nhận ra có những điều gì đó mâu thuẫn, rách nát trên một bề mặt cuộc sống được đậy kín, ca vang những bài ngợi ca đời mới tươi đẹp. Nó là tiền đề để tôi nhìn, nhận thức của mình bị cào cấu, và cuối cùng nát vụn mọi thứ trong tôi qua từng niên kỷ, khiến tôi phải tự khâu vá đời mình cho đến hôm nay!

Cuộc sống niên thiếu trôi qua lãng đãng trong thống khổ. Tôi nhớ những chén bo-bo dành cho ngựa ăn với đường chảy mà Liên-Xô viện trợ cho Việt-Nam vào những mùa miền Nam đói quặn! Tôi nhớ những ngày xếp hàng rã rượi để lãnh được mấy ổ bánh mì theo nhân khẩu, vác vội về nhà rồi ăn ngấu nghiến như ngày mai là tận thế! Tôi nhớ những đêm bọn trẻ đua xe đạp điên cuồng, gào thét trong những đêm cúp điện triền miên để giải trí!

Nhà trường, các anh chị cán bộ dạy dỗ nói rằng tội ác xâm lược của bọn bành trướng Bắc-Kinh khiến người Việt-Nam phải chịu khổ như vậy! Mọi người nghe, và hò hét vỗ tay như trò giải trí của bọn trẻ chúng tôi vào những đêm cúp điện, nóng hực.

Rồi mọi thứ dần đổi thay, tôi cũng đổi thay!
Thật cám ơn những thùng sách vở từ chế độ cũ mà gia đình tôi, Mẹ tôi quyết tâm giấu giữ lại, bất chấp việc truy lùng, bắt, đốt của chính quyền như thời chống dị giáo! Như đứa trẻ may mắn tìm được lối đi bí mật đến được vùng đất phép thuật Narnia, tôi tìm thấy một thế giới khác cho mình, chìm đắm vào đó. Thậm chí có những ngày tôi trốn học về nhà chỉ để ôm sách ra vườn đọc.

Sách giúp tôi vượt qua những bữa ăn cơm độn khoai lẫn cát. Sách giúp tôi chỉ hô vang một lần ở những buổi mít-ting bắt buộc, rồi dành thời gian để quan sát đám đông đỏ mặt, hổn hển vô nghĩa!

Từ sách, tôi biết nước Việt mình rõ hơn. Biết số phận dân tộc mình nhiều hơn, và ý thức được về bản thân mình trong một nhà nước Cộng-Sản là như thế nào? Và tôi cũng biết nhiều hơn về ông Cụ có bộ râu dài, da mặt hồng hào, mà mọi người gọi là Bác Hồ!

Không biết từ khi nào, tôi đã bị ám ảnh về sự thật. Và thật may mắn- hay xui rủi, tôi cũng không biết- tôi lại khao khát muốn được sống cuộc đời cống hiến cho hiện thực! Tôi muốn làm một công dân Việt nói lên sự thật và trình bày những gì tôi thấy, bất chấp điều đó có thể tước quyền, không cho tôi làm thần dân trong vương quốc Cộng-Sản!
Tôi là ai vậy? Có lúc tôi tự hỏi!

Mang trong đầu đầy những điều khác lạ so với các bài giảng, với nhà trường, với các buổi học chính trị, và âm thầm khác biệt ngay cả trong thời kỳ tôi được ưu ái, bầu chọn là phó bí thư Đoàn Thanh-Niên Cộng-Sản, được coi là “Hạt Giống Quốc-Gia”!?

Những ngày tháng đó, tôi cũng đã tự hỏi mình: phải ra sao? Và khi nào thì có thể sống nguyên vẹn là mình mà không cần tung hô, là một người Việt-Nam thuần túy với Danh-Dự, Trách-Nhiệm và duy chỉ Tổ-Quốc mà thôi!?

Nhiều năm trước, khi được gọi là nhà báo và là nghệ sĩ, tôi thấy mình quá mệt mỏi với trò hai vai trong một vở kịch đời, nên tôi tự quyết định rút lui và chỉ chọn một bộ mặt để sống! Một trong số rất đông học trò của tôi lúc ấy, dũng cảm nói thẳng vào mặt tôi rằng “Tội nghiệp Thầy, nếu Thầy không Phản-Động, Thầy đã có hết mọi thứ!”.

Thật là một nhận xét đáng nhớ và cần thiết!
Tôi có hèn yếu không, khi không gánh nổi cái trò một đời-hai vai mà hàng triệu người già trẻ Việt-Nam vẫn đang làm, hay bị buộc phải vào vai? Chọn một bộ mặt đúng như mình muốn, tôi đã nếm thất bại rất nhiều, từ chuyện bị đuổi việc liên tục hết nơi này đến nơi khác, bị hành hạ tinh thần bởi các cơ quan Văn-Hóa lẫn An-Ninh…

Hóa ra, đôi khi không nhận hai vai, mọi thứ lại còn phức tạp hơn, nhất là trong Cuộc-Sống phải được CHO PHÉP từ một Nhà Nước Độc-Tài!?

Có những lần nghĩ ngợi như vậy, tôi thường tự đặt câu hỏi rằng, một trí tuệ như đại công thần Nguyễn-Trãi, khi đón Lê-Thái-Tông ở Chùa Côn-Sơn, ắt đã biết lành ít dữ nhiều! Vậy sao Nguyễn-Trãi không cúi đầu van xin, không quỳ xin sống? Người có thể viết một bản văn, đã xua được cả một đạo quân phương Bắc lại không cất lời thuyết phục Vua?

Chắc chắn vì Nguyễn-Trãi không thể sống hai vai. Kẻ sĩ có thể mang nhiều giai đoạn của thời thế trong đời mình, nhưng chỉ có một bộ mặt để ngẩng lên và cất tiếng cười ngạo nghễ với đời.

Thầy Thích-Tuệ-Sỹ cũng ghi lại những câu chuyện như vậy, và trong bài Trí-Thức Phải Nói, Thầy viết: “Nhưng tôi biết rõ một điều, và điều đó đã được ghi chép trong lịch sử: trí thức chân chính của Việt-Nam không bao giờ khiếp nhược!”.

May mắn thay, tôi biết viết, biết đọc, và hơn nữa, tôi là người Việt-Nam. Giờ thì tôi chỉ còn phải cố gắng tập để mình không khiếp nhược, và giới thiệu sự không khiếp nhược đó cho những người chung quanh, đặc biệt trước Thời-Đại CÁI ÁC ngày càng lộ nguyên hình!

Ai đó đã gửi đến một câu hỏi cho tôi “Người Việt hiện nay cần nhất là điều gì?”. Đó là câu hỏi rất lớn, mà cũng rất nhỏ.

Người Việt hôm nay đã có đủ tất cả, và thậm chí dư thừa hơn ngày trước rất nhiều. Từng bữa ăn của đầu thập niên 1980, gia đình tôi phải dành miếng thịt ít ỏi có được cho Bà Ngoại, đau yếu quanh năm! Nhưng những đưa trẻ hôm nay đang phát ốm vì được ép ăn quá nhiều thịt. Không những vậy, hãnh tiến nhiều hơn, chia rẽ nhiều hơn và thù hận vì lý tưởng cũng được tổ chức công phu hơn ở cấp nhà nước!

Người Việt cần nhất điều gì? Tôi chỉ xin chọn một điều, đó là người Việt trở về là người Việt, biết chọn lẽ phải và sự thật, biết nổi giận trước cái ác và biết nhục khi còn bao biện trong việc QUỲ GỐI trước Cường-Quyền!

George Orwell kể rằng khi những con lợn con được nuôi dạy và quay lại trang trại, chúng chỉ còn biết máng ăn và tuân lệnh!

Người Việt phải là người Việt thì mới có thể chọn những thứ khác hơn là máng ăn và thuần phục! Người Việt phải là người Việt mới có thể nhìn vào núi sông, tổ tiên ngàn năm đã đổ máu để gìn giữ sự tự do cho con cháu hôm nay!

Vì sao đó là điều cần nhất?
Vì bởi một tương lai sẽ tới của một dân tộc Việt tự do và trường tồn với lòng kiêu hãnh, không cần những kẻ đã quen làm nô lệ, không cần những kẻ hai vai, hai mặt. Đất nước phát triển lộng lẫy làm gì khi con dân Việt trở thành bầy đàn đớn hèn và chỉ còn biết máng ăn của mình?

Khi đọc đến đây, ai đó sẽ nói rằng tôi đang chống Cộng? Nhưng đúng nhất, là tôi chống sự mất mát của người Việt, mất mát màu da, tiếng nói mà tôi đã nhận mình là một phần trong đó!

Sinh ra làm người Việt là điều không thể chọn, tôi thấy mình đã đứng trong đời Việt như một định mệnh đầy biến động và trắc trở! Nhưng dù định mệnh như thế nào, thì chúng ta vẫn có thể chọn không làm kẻ hèn, không làm nô lệ cho bất kỳ ai, cho triều đại nào!?!

Cộng-Sản cũng là những người đã chọn hai vai: Giả vờ yêu nước và mưu mô cầm giữ quyền cai trị mãi mãi với dân tộc! Nhưng rồi cũng đến lúc họ phải chọn một, và một đó thuộc về SỰ THẬT!

Không có gì không thể thay đổi- lịch sử đã cho thấy như vậy- và mỗi người Việt đều có thể thay đổi bản thân mình từ một kẻ vong quốc, vô dân tộc ngay trên quê nhà, trở lại là một người Việt đúng nghĩa!

Từng niên kỷ, tôi đã đập vỡ sự hào nhoáng ngu muội của mình, bật máu, rồi khâu vá lại mình!

Một buối sáng mùa Xuân, tôi soi lại mình trong gương. Tôi là tôi tầm thường, tôi dại dột giữa khó khăn, tôi không thể nhận ơn huệ từ kẻ khác, nhưng tôi đã trên con đường trở về nơi chốn của mình: tôi là người Việt.

image

Saturday, July 11, 2026

SÀI GÒN: KÝ ỨC KHÔNG THỂ THAY TÊN !


Trong di sản âm nhạc gắn liền với ký ức của người miền Nam Việt Nam, cái tên Sài Gòn có một vị trí đặc biệt, và hiếm có thành phố nào lại có một ca khúc như mở ra thời kỳ thịnh vượng của mình, rồi cũng có một ca khúc như khép lại cả một thời đại bằng lời từ biệt, cất lời chia tay thảng thốt.

Ai đã biết đến dòng nhạc vàng, ắt phải biết đến Sài Gòn của Y Vân (bài hát thường bị gọi nhầm là Sài Gòn đẹp lắm). Bài hát ẩn trong các ca từ là niềm tự hào về việc lựa chọn nơi sống, hòa mình vào cuộc sống và tự gắn nó với đời của các thế hệ đã đến, đã an sinh và thuộc về. Còn Sài Gòn ơi vĩnh biệt của Nam Lộc là một lời chào từ giã da diết với kỷ niệm, và cũng là lời chào, khép lại một đoạn đời, thời gian của tự do, của tuổi trẻ và những điều yêu dấu.

Điều thú vị là Sài Gòn được viết đầu năm 1965, còn Sài Gòn ơi vĩnh biệt của Nam Lộc được sáng tác vào cuối năm 1975. Mốc thời gian này như cánh cửa mở và đóng chuỗi hoài niệm của biết bao người Việt xa xứ, cũng như ở lại.

Nếu nghe được sự tự hào, niềm vui rộn ràng của Y Vân rồi kết thúc bằng hy vọng và những lời hứa như di ngôn "tôi vẫn không bao giờ quên" của Nam Lộc, ngàn lời nói cũng không thể bằng một thoáng ngậm ngùi.

Năm 1976, khi Sài Gòn đổi tên, việc chuyển đổi ký hiệu địa lý đột nhiên khiến cái tên Sài Gòn bật lên trong câu nói, câu hát nhiều đến lạ kỳ.

Người ta đếm được rất nhiều những bài hát gắn với cái tên Sài Gòn bùng phát trong suốt nhiều năm, được ngân nga hát lại ở mọi nơi, kể cả với người đang sống trong nước. Sài Gòn niềm nhớ không tên (Nguyễn Đình Toàn), Đêm nhớ về Sài Gòn (Trầm Tử Thiêng), Cho thành phố mất tên (Phạm Đình Chương)…

Mỗi bài hát như tiếng chuông nhỏ, ngân khẽ trong giấc ngủ, mà lại xoáy vào tim, khiến người thức dậy có thể thấy mắt mình đã ướt tự bao giờ.

Chị bạn sống ở Philadelphia kể rằng, có những ngày mới đến Mỹ, lái xe một mình vào trời chập choạng tối, nghe giai điệu Đêm nhớ về Sài Gòn cất lên, chị phải tấp xe vào lề vì mắt nhòa lệ.

Lần ghé thăm Nguyễn Đình Toàn, ông giới thiệu bản làm mới ca khúc Nước mắt cho Sài Gòn của mình, đột nhiên ông bỗng lặng im khi nghe lại những câu hát về thành phố hôm qua. Không ai dám hỏi hay nói gì.

Lúc sau, ông như sực tỉnh, cười nhẹ, nói:

- "Tôi nhớ những con đường mình đi ngày xưa." Không ai biết con đường đó tên gì, nhưng chắc chắn, ắt phải là một con đường ở nơi ấy, Sài Gòn.

Với nhiều người miền Nam, đặc biệt là những ai đã sống qua giai đoạn trước 1975 rồi rời quê hương sau đó, Sài Gòn không đơn thuần là một thành phố đã đổi tên trên bản đồ. Đó là nơi giữ lại nhịp thở hồn nhiên của tuổi trẻ (Biết đến thuở nào, Tùng Giang), những giấc mơ hoang dại trong buổi súng đạn ập đến rền vang (Vết thù trên lưng ngựa hoang, Ngọc Chánh, Phạm Duy), có cả những nỗi cô đơn phố thị thấm đẫm chủ nghĩa hiện sinh (Đêm dài, Nguyễn Trung Cang)
.
Sài Gòn hiện lên trong từng câu hát, đôi khi không gọi tên nhưng hiện ra với những con phố, những quán cà phê, những buổi chiều mưa. Đó là cuộc sống hồn nhiên đang có, tận hưởng và rồi bàng hoàng khi mọi thứ không còn.

Những điều ấy, không chỉ trong kỷ niệm riêng của từng người mà còn trong ký ức chung của cả một thế hệ với đường Duy Tân cây dài bóng mát, với Sài Gòn không ngủ, tiếng gõ mì vang trong đêm, len giữa ánh đèn neon và tiếng xe cộ chập chờn.

Âm nhạc ở Sài Gòn phát triển từ 1954 đến 1975, đã gắn chặt người miền Nam với nhịp thở của đời mình, và rồi sau đó, chính sự tìm nghe, ủng hộ của một số lượng lớn người Việt không chấp nhận lìa xa quá khứ đã khiến nền âm nhạc của người Việt hải ngoại ra đời.

Bản thân âm điệu cũ, dòng nhạc cũ, văn hóa quen thuộc vang lên, gợi lại, khiến người nghe lại muốn níu vào đời mình thêm chút nữa, để giữ lại những điều đẹp nhất.

Các trung tâm băng nhạc hải ngoại như Trung tâm Asia, Thúy Nga Paris, Làng Văn ngoài chuyện thương mãi, đột nhiên lại có thêm vai trò là gìn giữ, xiển dương một di sản vàng son độc đáo đã có.

Trong nửa thế kỷ, vô hình trung các trung tâm này đã nuôi dưỡng tình yêu với Sài Gòn qua vô số lần thu âm, cùng của ca sĩ Sài Gòn một thời, như Khánh Ly, Elvis Phương, Tuấn Ngọc, mỗi con người, mỗi nơi như thế đã giữ lại từng phần của Sài Gòn trong trái tim người. Ngay cả tiếng hát, thanh âm của họ cũng trở thành ký ức bất tử của đô thành.

Đã có nhận định rằng âm nhạc của người Việt hải ngoại sau năm 1975 không chỉ là nghệ thuật giải trí mà là chiếc cầu nối tinh thần, là liều thuốc chữa lành nỗi đau thực tế. Nó xoa dịu nỗi đau mất mát, nỗi nhớ quê hương, và gìn giữ bản sắc văn hóa cho cộng đồng người Việt trên toàn thế giới.

Trong một bài nói chuyện về âm nhạc Việt ở hải ngoại sau 1975, phát thanh vào năm 2014, đài RFA đã có thống kê không chính thức là ước tính khoảng 1.000 bài hát mới được ra đời, nhưng số bài ngụ ý, hay nhắc tên Sài Gòn có thể chiếm đến hơn 20%.

Âm nhạc của thời Việt Nam Cộng hòa, được sản sinh từ Sài Gòn, nếu nhìn lại, quả thực đã trở thành một không gian tinh thần, tồn tại song song, bất biến, nơi mà thời gian dường như ngừng lại ở khoảnh khắc trước ngày thôi tiếng súng. Người ta có thể nghe, và trở về thăm mọi nơi trong trí tưởng, đi trên những con đường quen thuộc. Âm nhạc giúp cho Sài Gòn bất diệt trong ký ức, trong những câu chuyện kể lại cho con cháu.

Với thế hệ đầu, có thể đó là nỗi buồn từ chuyện đời mất mát trực tiếp; còn với thế hệ sau, âm nhạc Sài Gòn dần trở thành một di sản tinh thần được truyền lại, là một lời nhắc nhở về cội nguồn.

Nhiều người trẻ sinh sau năm 1975, thậm chí sinh ở nước ngoài, chưa từng đặt chân đến Sài Gòn của những ngày tháng cũ, vẫn có thể hình dung về nơi chốn ấy qua âm nhạc.

Và mãi về sau, đối với các thế hệ mới, Sài Gòn trước năm 1975 sẽ không đến với bài lịch sử chính trị bắt buộc buồn chán, mà luôn bắt đầu bằng một giai điệu ngọt ngào.

Ngày tháng trôi đi, không có gì là vĩnh cửu. Một cái tên có thể không còn trên bản đồ hành chính, nhưng đi cùng với âm nhạc, cái tên Sài Gòn đã bất tử như những bài học giáo khoa không cần được cho phép, luôn khơi gợi trí tò mò của thế hệ mới khi nghe.

Những gì được tìm thấy qua những câu hát về Sài Gòn là một điều bất biến, không có quyền lực nào tước đoạt được.

Trong lịch sử thế giới không thiếu những thành phố đổi tên. Nhưng Sài Gòn là một trường hợp đặc biệt, nó được hát nhiều hơn cả khi không còn, thậm chí còn chuyển tải ký ức của hàng triệu con người về sau.

Bởi Sài Gòn đã đẹp lắm trong trái tim người, đã được hát lên đầy kiêu hãnh, nên dù có phải hát lời vĩnh biệt, thì đó cũng chỉ là cảm giác phút giây nghẹn lời, cho ai đang mang một tình yêu quá lớn.

Đó là lý do vì sao, dù nửa thế kỷ đã trôi qua, cái tên Sài Gòn vẫn sống – không phải trên các ghi chú bắt buộc, mà trong từng câu hát, từng giọt nước mắt rơi xuống, và những điều thì thầm kể lại, khi nghe lại một giai điệu như không bao giờ cũ.

Có thể chúng ta sẽ còn nghe những mô tả đầy tranh cãi về Sài Gòn và giá trị của nó, nhưng sau những ồn ào đó, thật khó để lên tiếng ngược chiều với từng câu hát làm rung động ký ức của muôn người.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh ( Tác Giả )


Wednesday, May 27, 2026

NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH: NGƯỜI TIẾT LỘ NHỮNG CHUYỆN ĐỘNG TRỜI…

Giới văn chương không chịu sự kiểm soát của Nhà nước, đã công khai bày tỏ sự thương tiếc với tin nhà văn Trần Đĩnh từ trần ngày 12 tháng năm năm 2022 tại nhà riêng ở Sài Gòn, hưởng thọ 93 tuổi.

Trên các trang cá nhân, nhiều người đã viết những dòng kính trọng với một nhà báo, nhà văn suốt đời lận đận vì sự thật. Không thấy có dòng nào đưa tin về sự ra đi của ông trên báo chí nhà nước.

Tác phẩm gây sốc dư luận của nhà văn Trần Đĩnh, là bộ sách Đèn Cù. Trong một lần trò chuyện tại Sài Gòn, ông cho biết đã ôm ấp ý tưởng viết bộ ký lịch sử này, và thực hiện trong hơn 10 năm. Năm 1991, ông tạo những phác thảo đầu tiên và đến năm 2014, khi dàn khoan HD981 của Trung Cộng xuất hiện ở vùng biển thuộc chủ quyền kinh tế thuộc Việt Nam, ông quyết định gửi đi in tại Mỹ (nhà xuất bản Người Việt Books). Tức thì cuốn sách gây rúng động với những câu chuyện kể đời làm báo của ông, và những điều mắt thấy tai nghe liên quan đến nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao Động và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giải thích việc gửi ra nước ngoài in sách, ông Trần Đĩnh nói rằng “Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau.”

Cuộc đời của nhà văn Trần Đĩnh, người cầm bút hơn 70 năm, bắt đầu với công việc ký giả cho tờ Sự Thật – một tờ báo chủ đích tuyên truyền do Trường Chinh làm Tổng biên tập. Nhà văn Trần Đĩnh sinh năm 1930. Năm 16 tuổi ông tham gia Việt Minh theo lời kêu gọi yêu nước, chống Pháp. Do làm việc trong một cơ quan báo chí cao nhất của Đảng, ông có cơ hội gặp gỡ hầu hết các khuôn mặt của chế độ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, tới Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng, Đỗ Mười… và những quan hệ này – theo như ông tâm tình trên BBC – đã giúp ông sớm nhận ra khuôn mặt thật của giới lãnh đạo cộng sản.

Trần Đĩnh thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Ông là người được tin cậy để được trao nhiệm vụ chấp bút viết tiểu sử của ông Hồ Chí Minh, chấp bút những tự truyện của nhiều nhân vật như Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm, Nguyễn Đức Thuận… nên những gì ông kể trong bản văn Đèn Cù, là có thể tin cậy được.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đưa vấn đề chọn lựa tư tưởng Mao để chống xét lại, tức là chống lại chủ trương sống chung hoà bình do Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ là Nikita Khrushchev đưa ra, theo Trần Đĩnh, ông đã ủng hộ lập trường của Khrushchev và chống tư tưởng Mao, nên bị ghép vào tội “chống đảng”. Mặc dù không bị bắt như anh ruột ông là Trần Châu, hay như những người khác như Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, hoặc phải sống lưu vong như Nguyễn Minh Cần…, nhưng ông bị đày đi cải tạo lao động. 

Sau đó, tuy ông được xét làm báo trở lại nhưng với điều kiện: Không được ký tên Trần Đĩnh, chỉ viết về nông nghiệp, và không được viết anh hùng, chiến sĩ thi đua và cấp ủy cao. Cuối cùng là không được ở gần thanh niên, bởi sẽ gây tiêm nhiễm tư tưởng phản động cho thế hệ trẻ. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 Trần Đĩnh bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bộ sách 600 trang của ông Trần Đĩnh đã tiết lộ nhiều chuyện “động trời”, trong đó, một trong những chuyện được nhiều người Việt trong và ngoài nước đọc qua, đã bàn tán không ngớt như chuyện ông Hồ Chí Minh và Trường Chinh cải trang đến tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.” (trang 84).

Đã có lần trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi là những điều ông kể có chứng cứ không, ông Trần Đĩnh đã bật cười nói “Nó là cuộc đời tôi, diễn ra chung quanh tôi. Rất nhiều người cùng thời với tôi chứng kiến nay đã chết, họ đã mang những chứng cứ đó xuồng mồ, nên tôi phải viết lại”.

Câu trả lời thú vị nhất của ông, là khi được hỏi ông viết cuốn hồi ký với nhiều chi tiết gây sốc này, với mục đích gì. “Đèn Cù là tiếng kêu đau của tôi”, nhà văn Trần Đĩnh nói. Ông mô tả rằng người ta làm và sống với những điều tự nhiên, như đau thì phải kêu, và thấy sự thật, phải kể lại. “Đến lúc tôi phải viết xuống vì không thể để ai bịa đặt hay muốn nói như thế nào cũng được”, nhà văn Trần Đĩnh nói.

Lúc sinh thời, trong thời gian sống và làm việc tự do ở Sài Gòn, nhà văn Trần Đĩnh còn là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học, như Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Ngầm của Murakami Haruki.

Sau khi sách Đèn Cù trở thành một cú chấn động trong đời sống của người đọc sách, người quan tâm chính trị, báo chí nước ngoài gọi điện thăm hỏi rằng ông có bị khó dễ gì vì bộ sách này hay không, ông trả lời “Tôi đã đến tuổi không còn thấy điều gì làm khó được mình”.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh


Sunday, August 10, 2025

NHẠC SĨ TUẤN KHANH

Tưởng cũng nên biết qua Nhạc sĩ Tuấn Khanh:

Nguyễn Tuấn Khanh sinh 1968 (khác NS Tuấn Khanh trước 75 “Hoa Soan Bên Thềm Cũ", "Chiếc Lá Cuối Cùng").

Ông sinh tại Saigon, tốt nghiệp nhạc viện SG, phóng viên, nhạc sĩ, viết văn, làm đài truyền hình.

Ông nhận giải thưởng Rai International Ý, được một tạp chí East Magazine bầu chọn "10 nhân vật trẻ Đông Nam Á có ảnh hưởng cộng đồng, giám khảo chương trình VN Idol....

NS Tuấn Khanh có nhiều bài viết thao thức với thời cuộc rất được ngưỡng mộ trong nước và hải ngoại. Bài viết dưới đây thể hiện sự can đảm, sống thực với chính mình.

TỪNG THIÊN-NIÊN KỶ, KHÂU VÁ LẠI MÌNH

Tôi là ai, giữa dòng định mệnh mang tên Việt-Nam?
Câu hỏi đó vẫn theo đuổi tôi,
buộc tôi phải luôn nhìn lại mình,
nhìn những khát vọng co rút lại như miếng da lừa, và đếm lại tuổi trẻ hoang phí, ngu ngơ trước cối xay gió thời cuộc bên đường!

Ký ức lớn nhất của những ngày thơ ấu mà tôi luôn bị ám ảnh,
đó là một buổi sáng nắng gắt,
trên mặt đường đầy quân trang vứt la liệt khắp nơi.
Tiếng người gọi nhau.
Tiếng xe hỗn loạn.
Tay mẹ nắm chặt tôi như sợ tôi vụt mất đi, y như một quốc gia miền nam
Việt-Nam đã tan biến kỳ lạ sau cuộc chiến tranh dai dẳng hai mươi năm!

Từ lúc đó, tôi lớn lên, loay hoay nhiều năm với việc lựa chọn mình phải là gì, phải như thế nào để được chấp nhận là một sinh linh hợp pháp trong một quốc gia mới, có tên Cộng-Sản.

Cuộc sống của một người Việt-Nam không đơn giản đâu bạn ạ.
Nếu mười năm hay hai mươi năm nữa, khi được hỏi, tôi cũng sẽ nhắc lại,
y như vậy không khác gì.
Nhưng chúng ta vẫn có thể vẽ lại nó!

Năm lớp ba, tôi học ở ngôi trường cách không xa trung tâm Sài-Gòn, nhưng hẻo lánh và nghèo nàn như một ngoại ô.
Thằng bạn cùng tuổi có cuốn truyện tranh của chế độ mới, kể về anh bộ đội chiến đấu giỏi, mà tôi mượn mãi không được. Cuối cùng thì nó đồng ý cho mượn xem, nếu như tôi mang đồ ăn cho nó.
Ấy vậy mà sau khi ngồm ngoàm hết món tôi đưa, nó vẫn không cho mượn. Giận quá, tôi gào lên với nó bằng một câu nói mà thời đó, tôi hay nghe người lớn chỉ vào mặt nhau:
“Đồ bợ đít Cộng-Sản!”.
Thằng bạn cũng nổi giận
- dường như câu nói đó vào cuối những năm 1980 là rất nặng nề thì phải. Nó lập tức chạy vào lớp và kể với cô chủ nhiệm rằng tôi đã gọi nó là “Cộng-Sản”!
Bà cô nghiêm mặt, trầm giọng nói tôi ở lại cuối giờ để nhận mức trừng phạt!
Tôi sợ hãi, co ro ở cuối lớp và chờ sự trừng phạt vào chiều hôm ấy.
Thế nhưng kỳ lạ thay,
cô chủ nhiệm nhìn quanh khi không còn ai, bước tới nắm tay tôi,
nói dịu dàng và lo lắng:
“Con không được nói như vậy nữa, rất nguy hiểm biết không?”.

Sau này, tôi mới biết cô có người em trai là sĩ quan của chế độ cũ phải đi tù - mà nhà nước mới gọi là
‘Học-Tập Cải -Tạo!'

Nhà trường vẫn là nơi đổ đầy vào đầu trẻ con miền Nam những câu chuyện thú vị về những con người mới đến từ miền Bắc, về một ông Cụ có râu dài,
da mặt hồng hào được gọi là Bác Hồ!
Là trẻ con, tôi cũng bị hút theo những điều mới lạ như vậy.

Một ngày kia, tôi đeo khăn quàng đỏ chạy về nhà ăn cơm với Mẹ và các chị. Tôi khoe học được rất nhiều điều,
và kể cho Mẹ tôi
“Bác Hồ biết nói đến sáu mươi thứ tiếng, trong khi Đức Giáo-Hoàng chỉ biết có năm thứ tiếng thôi, thầy con nói vậy!”.

Cả nhà tôi im lặng ăn, không ai nói với ai tiếng nào. Nhà tôi lúc đó vắng người. Các anh rể thì đi 'Học-Tập Cải-Tạo', còn các chị thì đang ngồi tù vì vượt biên không thành!

Sau các câu chuyện kể từ bài học mới của tôi, mang từ nhà trường
Xã-Hội Chủ-Nghĩa về,
ở nhà có thêm những tiếng thở dài!

Dù chỉ là trẻ con, tôi vẫn nhận ra có những điều gì đó mâu thuẫn, rách nát trên một bề mặt cuộc sống được đậy kín, ca vang những bài ngợi ca đời mới tươi đẹp.

Nó là tiền đề để tôi nhìn, nhận thức của mình bị cào cấu, và cuối cùng nát vụn mọi thứ trong tôi qua từng niên kỷ, khiến tôi phải tự khâu vá đời mình cho đến hôm nay!

Cuộc sống niên thiếu trôi qua lãng đãng trong thống khổ.
Tôi nhớ những chén bo-bo dành cho ngựa ăn với đường chảy mà Liên-Xô viện trợ cho Việt-Nam vào những mùa miền Nam đói quặn!
Tôi nhớ những ngày xếp hàng rã rượi để lãnh được mấy ổ bánh mì theo nhân khẩu, vác vội về nhà rồi ăn ngấu nghiến như ngày mai là tận thế!
Tôi nhớ những đêm bọn trẻ đua xe đạp điên cuồng, gào thét trong những đêm cúp điện triền miên để giải trí!
Nhà trường, các anh chị cán bộ dạy dỗ nói rằng tội ác xâm lược của bọn bành trướng Bắc-Kinh khiến người Việt-Nam phải chịu khổ như vậy!
Mọi người nghe, và hò hét vỗ tay như trò giải trí của bọn trẻ chúng tôi vào những đêm cúp điện, nóng hực.

Rồi mọi thứ dần đổi thay,
tôi cũng đổi thay!

Thật cám ơn những thùng sách vở từ chế độ cũ mà gia đình tôi, Mẹ tôi quyết tâm giấu giữ lại, bất chấp việc truy lùng, bắt, đốt của chính quyền như thời chống dị giáo!

Như đứa trẻ may mắn tìm được lối đi bí mật đến được vùng đất phép thuật Narnia, tôi tìm thấy một thế giới khác cho mình, chìm đắm vào đó.

Thậm chí có những ngày tôi trốn học về nhà chỉ để ôm sách ra vườn đọc.

Sách giúp tôi vượt qua những bữa ăn cơm độn khoai lẫn cát.
Sách giúp tôi chỉ hô vang một lần ở những buổi mít-ting bắt buộc,
rồi dành thời gian để quan sát đám đông đỏ mặt, hổn hển vô nghĩa!
Từ sách, tôi biết nước Việt mình rõ hơn. Biết số phận dân tộc mình nhiều hơn, và ý thức được về bản thân mình trong một nhà nước Cộng-Sản là như thế nào?
Và tôi cũng biết nhiều hơn về ông Cụ có bộ râu dài, da mặt hồng hào,
mà mọi người gọi là Bác Hồ!
Không biết từ khi nào, tôi đã bị ám ảnh về sự thật.
Và thật may mắn- hay xui rủi,
tôi cũng không biết- tôi lại khao khát muốn được sống cuộc đời cống hiến cho hiện thực!
Tôi muốn làm một công dân Việt nói lên sự thật và trình bày những gì tôi thấy, bất chấp điều đó có thể tước quyền, không cho tôi làm thần dân trong vương quốc Cộng-Sản!

Tôi là ai vậy? Có lúc tôi tự hỏi!
Mang trong đầu đầy những điều khác lạ so với các bài giảng, với nhà trường, với các buổi học chính trị, và âm thầm khác biệt ngay cả trong thời kỳ tôi được ưu ái, bầu chọn là phó bí thư Đoàn Thanh-Niên Cộng-Sản,
được coi là “Hạt Giống Quốc-Gia”!?
Những ngày tháng đó, tôi cũng đã tự hỏi mình:
phải ra sao? Và khi nào thì có thể sống nguyên vẹn là mình mà không cần tung hô, là một người Việt-Nam thuần túy với Danh-Dự, Trách-Nhiệm và duy chỉ Tổ-Quốc mà thôi!?

Nhiều năm trước, khi được gọi là
nhà báo và là nghệ sĩ, tôi thấy mình quá mệt mỏi với trò hai vai trong một vở kịch đời, nên tôi tự quyết định rút lui và chỉ chọn một bộ mặt để sống!

Một trong số rất đông học trò của tôi lúc ấy, dũng cảm nói thẳng vào mặt tôi rằng
“Tội nghiệp Thầy, nếu Thầy không Phản-Động, Thầy đã có hết mọi thứ!”.
Thật là một nhận xét đáng nhớ và cần thiết!

Tôi có hèn yếu không,
khi không gánh nổi cái trò một đời-hai vai mà hàng triệu người già trẻ
Việt-Nam vẫn đang làm, hay bị buộc phải vào vai?
Chọn một bộ mặt đúng như mình muốn, tôi đã nếm thất bại rất nhiều,
từ chuyện bị đuổi việc liên tục hết nơi này đến nơi khác, bị hành hạ tinh thần bởi các cơ quan Văn-Hóa
lẫn An-Ninh…

Hóa ra, đôi khi không nhận hai vai, mọi thứ lại còn phức tạp hơn,
nhất là trong Cuộc-Sống phải được CHO PHÉP từ một Nhà Nước Độc-Tài!?

Có những lần nghĩ ngợi như vậy,
tôi thường tự đặt câu hỏi rằng,
một trí tuệ như đại công thần
Nguyễn-Trãi, khi đón Lê-Thái-Tông ở Chùa Côn-Sơn, ắt đã biết lành ít dữ nhiều! Vậy sao Nguyễn-Trãi không cúi đầu van xin, không quỳ xin sống? Người có thể viết một bản văn, đã xua được cả một đạo quân phương Bắc lại không cất lời thuyết phục Vua?

Chắc chắn vì Nguyễn-Trãi không thể sống hai vai. Kẻ sĩ có thể mang nhiều giai đoạn của thời thế trong đời mình, nhưng chỉ có một bộ mặt để ngẩng lên và cất tiếng cười ngạo nghễ với đời.

Thầy Thích-Tuệ-Sỹ cũng ghi lại những câu chuyện như vậy,
và trong bài Trí-Thức Phải Nói,
Thầy viết:
“Nhưng tôi biết rõ một điều,
và điều đó đã được ghi chép trong lịch sử: trí thức chân chính của Việt-Nam không bao giờ khiếp nhược!”.

May mắn thay, tôi biết viết, biết đọc, và hơn nữa, tôi là người Việt-Nam.
Giờ thì tôi chỉ còn phải cố gắng tập để mình không khiếp nhược, và giới thiệu sự không khiếp nhược đó cho những người chung quanh, đặc biệt trước Thời-Đại CÁI ÁC ngày càng lộ nguyên hình!

Ai đó đã gửi đến một câu hỏi cho tôi “Người Việt hiện nay cần nhất là điều gì?”.

Đó là câu hỏi rất lớn, mà cũng rất nhỏ.
Người Việt hôm nay đã có đủ tất cả, và thậm chí dư thừa hơn ngày trước rất nhiều. Từng bữa ăn của đầu thập niên 1980, gia đình tôi phải dành miếng thịt ít ỏi có được cho Bà Ngoại, đau yếu quanh năm!

Nhưng những đưa trẻ hôm nay đang phát ốm vì được ép ăn quá nhiều thịt. Không những vậy, hãnh tiến nhiều hơn, chia rẽ nhiều hơn và thù hận vì lý tưởng cũng được tổ chức công phu hơn ở cấp nhà nước!

Người Việt cần nhất điều gì?
Tôi chỉ xin chọn một điều,
đó là người Việt trở về là người Việt, biết chọn lẽ phải và sự thật,
biết nổi giận trước cái ác và biết nhục khi còn bao biện trong việc QUỲ GỐI trước Cường-Quyền!

George Orwell kể rằng khi những con lợn con được nuôi dạy và quay lại trang trại, chúng chỉ còn biết máng ăn và tuân lệnh!
Người Việt phải là người Việt thì mới có thể chọn những thứ khác hơn là máng ăn và thuần phục!
Người Việt phải là người Việt mới có thể nhìn vào núi sông, tổ tiên ngàn năm đã đổ máu để gìn giữ sự tự do cho con cháu hôm nay!

Vì sao đó là điều cần nhất?
Vì bởi một tương lai sẽ tới của một dân tộc Việt tự do và trường tồn với lòng kiêu hãnh, không cần những kẻ đã quen làm nô lệ, không cần những kẻ hai vai, hai mặt.

Đất nước phát triển lộng lẫy làm gì khi con dân Việt trở thành bầy đàn đớn hèn và chỉ còn biết máng ăn của mình?

Khi đọc đến đây, ai đó sẽ nói rằng tôi đang chống Cộng?
Nhưng đúng nhất, là tôi chống sự mất mát của người Việt, mất mát màu da, tiếng nói mà tôi đã nhận mình là một phần trong đó!
Sinh ra làm người Việt là điều không thể chọn, tôi thấy mình đã đứng trong đời Việt như một định mệnh đầy biến động và trắc trở!
Nhưng dù định mệnh như thế nào,
thì chúng ta vẫn có thể chọn không làm kẻ hèn, không làm nô lệ cho bất kỳ ai, cho triều đại nào!?!

Cộng-Sản cũng là những người đã chọn hai vai:
Giả vờ yêu nước và mưu mô cầm giữ quyền cai trị mãi mãi với dân tộc! Nhưng rồi cũng đến lúc họ phải chọn một, và một đó thuộc về SỰ THẬT!
Không có gì không thể thay đổi- lịch sử đã cho thấy như vậy- và mỗi người Việt đều có thể thay đổi bản thân mình từ một kẻ vong quốc,
vô dân tộc ngay trên quê nhà,
trở lại là một người Việt đúng nghĩa!

Từng niên kỷ, tôi đã đập vỡ sự hào nhoáng ngu muội của mình,
bật máu, rồi khâu vá lại mình!

Một buối sáng mùa Xuân,
tôi soi lại mình trong gương.
Tôi là tôi tầm thường, tôi dại dột giữa khó khăn, tôi không thể nhận ơn huệ từ kẻ khác, nhưng tôi đã trên con đường trở về nơi chốn của mình:
tôi là người Việt.

Nguồn fb Tuấn Khanh

Friday, May 23, 2025

Có một Nick Út mà tôi biết


Ảnh: Ông Nick Út về nước ra sách và thân tặng cho lãnh đạo Việt Cộng.

Câu chuyện về nhà nhiếp ảnh Nick Út và bức ảnh “Em bé Napalm”, trước khi bị đưa ra ánh sáng, đã có nhiều bài viết khẳng định rằng bức ảnh này không phải của ông ta.

Năm 2015, nhà bình luận Đức Hồng (*) viết trên BBC tiếng Việt, đã khởi đi rất nhiều tranh luận của người Việt trong và ngoài nước về sự thật ai là tác giả của bức ảnh này. Bằng giọng văn thuyết phục và quả quyết, ông Đức Hồng cho thấy sau bức ảnh “Em bé Napalm” đó còn nhiều điều chưa nói hết, khiến lâu nay nhiều người Việt Nam vẫn lầm tưởng.

Bài viết đặt một câu hỏi – rất hiển nhiên – mà cũng rất cay đắng, vì sao cái gọi là nạn nhân chiến tranh xâm lược của Đế Quốc Mỹ, cô Kim Phúc, cuối cùng đã tìm cách đào thoát và được giúp tị nạn ở phương Tây, chứ không ở lại Việt Nam. Nạn nhân đó cũng không muốn được hưởng vinh quang như một biểu tượng chống chiến tranh.

Câu hỏi đặt ra là cô Kim Phúc, nhân vật chính trong bức ảnh đó, có hài lòng cho cuộc đời trở thành điểm tựa đẹp nhất về tuyên truyền cho quân đội miền Bắc Việt Nam hay không ?

Sự thật là năm 1992, cô Kim Phúc đã thoát khỏi Việt Nam, tị nạn ở Canada để không biến mình thành công cụ truyên truyền cho một phía. Cũng như tác giả Đức Hồng đặt lên một câu hỏi rất đáng chú ý rằng năm 1972, những người lính Cộng sản Bắc Việt đang làm gì ở đất của miền Nam, trong một hiệp định phân chia đất nước vẫn còn hiệu lực. Và vì sao “các em nhỏ ấy lại chạy về phía lính Việt Nam Cộng Hòa để kêu cứu mà không một chút sợ sệt, sao các em không chọn những người lính Cộng sản Bắc Việt cũng đang lẩn trốn ở ngay gần đó ?”

Sự thật ít người biết là gia đình cô Kim Phúc cũng bị đánh tư sản vào năm 1975. Cả nhà sống rất khó khăn. Năm 1982 khi một phóng viên người Đức đến Việt Nam để tìm lại nhân vật lịch sử trong bức ảnh “em bé Napalm” thì Kim Phúc bị đẩy thành một nhân vật tuyên truyền cho giai đoạn sau chiến tranh. Mọi thời gian sinh hoạt của cô Kim Phúc lúc bấy giờ đều bị công an kiểm soát chặt chẽ. Thậm chí Kim Phúc bị buộc thôi học trường đại học Y khoa ở Sài Gòn, về sống ở quê Trảng Bàng để tiện dễ kiểm soát ngôn ngữ tuyên truyền.

Sau đó, khi lấy chồng là một du học sinh sống ở Cuba, nhân một chuyến đi, máy bay ngừng chặng ở Gander, Newfoundland (Canada), Kim Phúc cùng chồng trốn khỏi sự kiểm soát của công an viên đi kèm và xin tị nạn. Mọi sự kiện này không là lời kể miệng, mà được bày tỏ công khai trên trang web riêng của Kim Phúc tên là Kim Foundation, quỹ từ thiện do cô sáng lập và cũng như trong quyền hồi ký The Girl in the Picture, hiện vẫn còn bán online trên các nhà sách lớn, như Amazon.

Cùng với những câu hỏi của tác giả Đức Hồng, cũng có một câu hỏi khác được đặt ra, là một người phóng viên của AP, vì sao từ vị trí là một nhiếp ảnh gia ghi chép sự kiện một cách trung dung, ông Nick Út dần dần biến mình thành một người quảng bá sai ý nghĩa của bức ảnh, biến mình thành một nhân vật tuyên truyền hơn cả cô Kim Phúc?

Trong cuộc tranh cãi về sự kiện ông Nick Út trở lại Việt Nam hồi Tháng Sáu 2015, họa sĩ Trịnh Cung nêu một ý kiến khác. 

“Nếu là một phóng viên có đạo đức, Nick Út đã phải có một thái độ khác. Trái lại, ông Út đã biến cơ hội giữ lại khoảnh khắc thương đau của một sinh mệnh, tạo hào quang cho mình, mà không đứng về sự thật của nạn nhân trong suốt nhiều năm liền”. 

Họa sĩ Trịnh Cung nói, ”giả sử khi được trao giải Pulitzer, ông Nick từ chối và trao tặng cho nạn nhân mà ông chụp được, có lẽ ông đã giải bày được một cách khiêm tốn về cơ may – hơn là tài năng – và tỏa sáng gấp bội lần hơn lúc này”.

Nhưng điều quan trọng là bên cạnh sự thật ít ai biết về cô Kim Phúc khi phải đào thoát sang Canada – trong số ít đó có ông Nick – thì dường như ông cũng tảng lờ việc đứng về phía nỗi khổ và khó khăn của cô Kim Phúc. Ông chỉ bám chặt vào bề mặt bức ảnh, lấy câu chuyện để nuôi ánh hào quang cho mình, phản bội lại đạo đức nghề nghiệp báo chí, là phải nói thật về điều mình thấy, trình bày sự thật mà mình biết.

Đạo đức nghề nghiệp đó, đã từng được chứng minh như chuyện nhà nhiếp ảnh Eddie Adams với bức ảnh chấn động thế giới về tướng Nguyễn Ngọc Loan khi bắn phục binh Bắc Việt Bảy Lốp vào năm 1968. Sau khi biết được sự thật, nhất là khi nghe tin tướng Loan qua đời, Eddie Adamas đã nói với báo chí rằng ông đã rất hối hận vì bức ảnh đó làm hại một tướng quân và làm hại một chế độ.

Đạo đức con người cũng đã được thể hiện, khi diễn viên Jane Fonda đi ra miền Bắc Việt Nam cổ vũ cho cuộc chiến tranh tương tàn vào năm 1972. Nhiều năm sau, nhiều lần, người diễn viên này đã bày tỏ sự hối hận vô bờ bến về hành động này khi biết rõ tác hại từ chuyến đi của mình. Bà Jane Fonda vẫn lặp lại lời xin lỗi đến các cựu chiến binh Mỹ, mỗi khi có dịp.

Nhưng Nick Út thì khác. Ông quay lại Việt Nam để làm triển lãm riêng, ra sách, chụp hình với các quan chức và đặc biệt là tảng lờ về cuộc đời thật của cô Kim Phúc mà ông lúc nào cũng quảng bá là thương mến và thân thiết.

Trong các buổi ra sách, và ký tặng, ông Nick cũng chưa bao giờ nói về sự thật của cuộc đời cô Kim Phúc, cũng như luôn mỉm cười im lặng, như một sự tán đồng với hệ thống truyên truyền Nhà nước rằng đó chính là bức ảnh ông chụp như để tố cáo tội ác xâm lược của đế quốc Mỹ.

Khi được hỏi về việc bị thế giới phát hiện ông là “kẻ cắp” của bức ảnh lừng danh, Nick Út nói ông sẽ đòi công lý “với nỗi đau của mình”. Nhưng có nỗi đau nào bằng chuyện công sức của một người bị cưỡng đoạt suốt nửa thể kỷ, và ông Nick Út thì bao giờ cũng cười tươi che hết ống kính khi nghe nhắc về bức ảnh này. Cũng như có nỗi đau nào diễn đạt được thành lời, khi cô Kim Phúc luôn bị ông giấu trong bóng tối, để làm sáng lòa hơn gương mặt của ông trước báo chí và ống kính truyền thông Việt Nam.

Tuấn Khanh
17.05.2025

Wednesday, April 9, 2025

Sài Gòn ‘nghèo đói’ và được giải phóng? 


Tuấn Khanh – 15 tháng 3, 2025
Sài Gòn xưa. (Hình minh họa: Facebook “Ký ức Sài Gòn xưa”)

Trong xu hướng hưởng ứng phong trào mừng 50 năm thống nhất, do nhà nước đề ra, có không ít những ngôn luận bầy đàn, chọn một cách tấn công: cứ nhắm vào các diễn đàn, hay bài viết đăng lại những hình ảnh của Sài gòn hay của miền Nam xưa. Những nơi này bị các lực lượng dư luận viên, thành phần tuyên truyền cực đoan góp lời chê bai là “phồn vinh giả tạo”, “chỉ sống dựa vào tiền viện trợ”… Dĩ nhiên, nói một cách ngu xuẩn và không suy nghĩ thì có muôn vàn hình thái.

Bài dưới đây, tổng hợp những dữ liệu đã có, để nói về cụm từ gọi là “phồn vinh giả tạo,” mà gần đây ông Đảng trưởng Tô Lâm cũng đã có dịp đính chính và trân trọng về “Hòn ngọc Viễn đông” của thời gian đó, nhưng nay lại đang bắt gặp nhiều trong các comment định kiến đây đó. Xin được post lại bài, giữa những ồn ào phỉ báng có chủ đích thấp kém về ý nghĩa “miền Nam được giải phóng.”

———–
Miền Nam trước 1975 có là “phồn vinh giả tạo”?

Sau năm 1975, một trong những cách mô tả của báo chí nhà nước mới về sự thịnh vượng của miền Nam là một xã hội “phồn vinh giả tạo”. Cách dẫn giải của cụm từ này, đơn giản là do đô-la của đế quốc Mỹ đổ vào, sự ăn xài phủ phê có tính giai đoạn, quan chức tham nhũng giàu có, bọn tư bản mua bán lũng đoạn… nên xã hội miền Nam Việt Nam có vẻ đầy sức sống nhưng trong lòng của xã hội là sự nghèo kém và lạc hậu vì bị áp bức, bóc lột.

Những quan điểm như vậy, dù thiếu tính nghiên cứu khoa học và được dẫn đường bằng cái nhìn đay nghiến vô cớ, cũng khiến không ít người tin vào điều này, thậm chí là căn bản lý luận của những luận văn gọi là khảo sát miền Nam hoặc báo chí trong suốt một thời gian dài.

Cho đến khi ngôn luận đời sống xã hội được mở rộng, đặc biệt là sau khi các mạng xã hội, blog… phát triển, luận điệu này chìm dần, nhưng không có ai nói lại, xin lỗi hoặc có một sự tự trọng nhất định để cải chính về đời sống thật của người dân miền Nam, nếu không nói đó là loại ngôn luận phủ định đầy xúc phạm.

Mới đây, trong một bài viết của nhà báo Trương Huy San, có nói về thời kỳ phát triển viễn thông sau 1975 với một số quan chức có ý thức về tương lai đất nước, bài viết có dẫn con số về đầu điện thoại sử dụng ở hai miền trước 1975. Theo bài viết, con số thống kê được chính quyền mới ghi nhận lại, cho thấy trong thập niên 1960, điện thoại tư nhân đã tăng rất nhanh ở miền Nam: Năm 1965, 23.377; năm 1966, 24.837; năm 1967, 27.082; năm 1968, 30.964; năm 1969, 36.150; năm 1970, 34.889; năm 1971; 38.133 máy.

Những con số này cho thấy sự phổ biến trong đời sống dân sự Việt Nam. Đồng thời gian, các tài liệu về lịch sử viễn thông – phương tiện điện thoại cố định ở Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba,Thái Lan… cho thấy điện thoại cố định (landline telephone) là hầu như chỉ dành cho các văn phòng công sở, không phổ biến cho dân dụng. Dĩ nhiên, miền Bắc thì lại càng không có, do mọi nguồn lực đều tập trung phục vụ cho chiến tranh chứ không là phát triển truyền thông đại chúng. Bên cạnh, việc quản lý nghiêm ngặt các phương tiện liên lạc này vì sợ gián điệp, cảnh giác… khiến điện thoại chỉ có ở các cơ quan, nhưng không đều.

Trong bài viết, nhà báo Trương Huy San lập lại vài chi tiết mà nhiều người miền Nam đã biết, là “ngày 30 tháng Một 1966, lần đầu tiên người dân Sài Gòn được xem một bộ phim Mỹ, vừa có tiếng Việt vừa có tiếng Anh, qua 1.000 máy vô tuyến truyền hình được đặt ở những địa điểm đông người tại Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Tín hiệu được phát đi từ hai máy bay hiệu Constellation bay vòng quanh Sài Gòn. Hôm sau, ngày 31 tháng Một 1966, Tháp vô tuyến truyền hình đã được khánh thành tại số 7 đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai). Cuối thập niên 1960, máy vô tuyến truyền hình trở thành phổ biến ở các đô thị lớn và bắt đầu về tới các vùng nông thôn miền Nam.

Ngày 7 Tháng Chín 1970, miền Bắc mới cho phát thử một chương trình truyền hình đen trắng và phải sau ngày 30 tháng Tư 1975, một số người dân ở Hà Nội, mới được “xem vô tuyến” nhờ các máy thu hình đưa từ miền Nam ra chuyển hệ hoặc đưa từ Liên Xô và các nước Đông Âu. Truyền thông báo chí, ngay cả của nhà nước cũng phát triển rất hạn chế ở miền Bắc. Trong thập niên 1960, trong một xã may ra có ông chủ tịch hay bí thư là có được chiếc máy thu thanh hiệu Xiong Mao hoặc Orionton. Sau năm 1975, những chiếc radio bán dẫn Nhật như Standard, National… được các anh bộ đội, các cán bộ vào Nam công tác đưa ra nhưng nó vẫn là một mặt hàng bị “nhà nước quản lý”.

Trong ký ức nhạt nhòa, tôi vẫn còn nhớ những buổi chiều chủ nhật đón xem các bộ phim cao bồi và siêu nhân trên truyền hình ở Sài Gòn. Bọn trẻ con vẫn hò hét và tán chuyện với nhau về những tình tiết hấp dẫn trên TV. Truyền hình là phương tiện giải trí mắc tiền và riêng tư nhiều hơn cả điện thoại gia đình, nhưng theo một bài viết của nhà báo Phạm Công Luận, thì lúc đó, 

“Máy truyền hình đã xuất hiện tại VN, lần đầu tiên, năm 1966. Một chiếc Denon, 12 inches, giá 16.500 đồng, 19 inches: 30.000 đồng… Mặc dù kỹ thuật còn lỉnh kỉnh, như: vô tuyến truyền hình, chương trình cao su, hát nói nhiều hơn hình ảnh, ti vi – một danh từ mới – đã được “khán thính giả” VN chiếu cố kỹ. Nhà nhà đều có ti vi. Ai không có thì đi coi cọp. Ăng ten mọc như mắc cưởi, hướng loạn trên các mái nhà, nhất là ở các tỉnh. Chương trình được hâm mộ nhất là… cải lương và… đài Mỹ. Batman xuất hiện khắp hang cùng ngõ hẻm. Lúc đó điện còn yếu, mỗi nhà một survolteur cho ti vi”. Một thống kê khác, cho thấy lúc đó sức mua của người dân miền Nam rất mạnh, nên cho đến đầu thập niên 70, cứ 50 người thì có một gia đình sở hữu truyền hình.

Năm 1980 chính quyền mới thử nghiệm phát truyền hình màu lần đầu, cố gắng nối kết giữa các hệ phát hình xã hội chủ nghĩa và tư bản như NTSC, Secam, Pal… Năm 1983, ông thầy của tôi làm việc ở Sài Gòn, gom góp tiền bạc mua được chiếc tivi màu 14 inch JVC vỏ đỏ. Ông kể chuyện mình dành dụm mãi mới mua với giá gần 1, 4 lạng vàng. Mua xong, ông gửi về quê ở Hà Nội để cho ông cụ thân sinh xem giải trí, vốn cả đời chưa thấy truyền hình màu là gì. Thế nhưng chỉ qua tháng sau, ông nhận lại chiếc truyền hình ấy với thùng, bao còn mới tinh. Hỏi ra mới biết, khi ông cụ nhận được quà không bao lâu, thì xóm làng biết chuyện. Phía hội, đoàn, cả công an khu vực cũng ghé nhà, thuyết phục cụ mỗi đêm nối dây mang ra sân cho cả xóm mấy mươi người cùng xem vì tình nghĩa xóm làng. Đột nhiên từ chỗ có của, nhưng không được vui hưởng, mà trở thành người hàng đêm phải quét sân, dọn tivi ra, rồi hết giờ lại dọn vào… quá mệt mỏi nên ông cụ gửi trả tivi về Sài Gòn, nói rằng ông chỉ muốn được yên.

Về điện thoại cố định, từ giữa những năm 80, khi liên lạc viễn thông không còn bị nhìn với ánh mắt nghi kỵ, và nằm trong kế hoạch phát triển 1995-2000, với mục tiêu 100 người dân/1 điện thoại, người Sài Gòn dù trải qua nhiều đợt vô cùng khốn khó, đã dẫn đầu cả nước để đóng tiền “cọc”, đưa điện thoại cố định về nhà. Cần phải nói, mỗi điện thoại lúc đó bị yêu cầu thế chân 4 đến 5 triệu đồng, tương đương 4-5 cây vàng (năm 2005, giá vàng là 955.000 đồng/chỉ), nhưng đến giờ, hầu như không ai lấy lại được số tiền thế chân đó.

Chắc là Sài Gòn không chỉ là “phồn vinh giả tạo” đâu, vì sau năm 1980, ở các chợ điện tử của quận 5, quận 1, quận 10… mọc lên như nấm các cửa hàng chuyển hệ truyền hình của phương Tây, sang các hệ màu xã hội chủ nghĩa đang phát. Sự phát triển của các cửa hàng này cũng chứng minh một điều là các phương tiện bị gọi là xa xỉ vào lúc đó, đều là tài sản có sẵn của nhiều gia đình miền Nam, còn lại sau các chiến dịch đánh tư sản X1, X2, X3 mà khiến bộ mặt xã hội trở nên mệt mỏi và kiệt quệ… Cái cách sống và chọn tiện nghi cho mình, đắt tiền nhưng vẫn chấp nhận sau giai đoạn chiến tranh kết thúc, rõ là một xã hội đã quen với nhu cầu và mức sống như vậy. “Phồn vinh giả tạo” quả là không có ý nghĩa gì, khi ít phút nhìn lại lịch sử bằng sự thật.



Wednesday, August 14, 2024

Ta phải vô địch, ngay cả thua cũng ‘vô địch’

Tác Giả : Tuấn Khanh Nguồn: Báo Tiếng Dân 
Ngày nào, khi báo chí đất nước Việt Nam thanh bình, các nhà tâm lý học và tâm thần học nên đi thăm lại những nhà báo đương thời hôm nay, để tìm hiểu thêm về vấn nạn thủ dâm tư tưởng, công khai và lố bịch ngày càng nhiều. Đặc biệt với thể thao ở kỳ Olympic này.

Việc ca ngợi và tự hào như trẻ nhỏ không hiểu nổi nghĩa trưởng thành, ngày càng nhiều. Vận động viên bắn súng được điểm thì được mô tả ngạo nghễ là khiến cả chục đối thủ khác “khuỵu gối,” mà đến đợt bắn kế tiếp, thì chính vận động viên này cũng bị loại, khuỵu gối thật!

Chuyện khác, tay vợt thi đấu không thành công thì được “ca” là đấu xuất thần, và phải rời cuộc thi đấu sớm là “chia tay đẹp,” nhưng không rõ là đẹp ở chuyện gì.

Tôi không để tên những vận động viên này vì có lẽ chính họ cũng cảm thấy ngại ngùng với cái kiểu bơm thổi lố bịch, nhưng bất lực với trào lưu bịt mắt tự hào, lôi xềnh xệch họ vào dòng dư luận. Mà Việt Nam cũng đã có bài học điển hình tráo trở và bất nhân của báo chí Việt Nam đối với nữ vận động viên bơi lội Ánh Viên, trong lần thi đấu không thành công cuối sự nghiệp của cô. Sau một thời gian dài theo đuổi và ca ngợi những thành công của nữ vận động viên Ánh Viên trên trường quốc tế, rồi sau đó trong một trận đấu không thành công, báo chí đồng loạt cùng một giọng chỉ trích cô là kẻ “về bét”.

Những chuyện nói quá, cũng như sỉ vả người không được thành công như ý, là chuyện khá quen thuộc, không chỉ ở kỳ Olympic này, mà dễ thấy nhất là với bóng đá lâu nay. Đặc biệt sự coi thường, hạ thấp đội hay người tạm thời thua cuộc với Việt Nam đã trở nên là điều “ngạo nghễ cần thiết” một cách bình thường.

Một người bạn trên Facebook Nhắc tôi về cách diễn đạt của báo chí Thể thao Việt Nam trong một lần thi đấu bóng đá và thua đội bạn, sự thất bại được mô tả là “đội tuyển Việt Nam thất bại trong tư thế ngẩng cao đầu”. Dường như trong cách mô tả của thể thao Việt Nam vẫn còn mùi súng đạn và niềm khao khát chiến thắng một kẻ thù.

Không nói nhưng chắc ai cũng biết, ngạo nghễ vô cớ, cũng là dấu hiệu của mặc cảm thấp kém lâu năm, nên phải bù đắp và tưởng tượng ngôn từ.

Có những ngành nghề mà khi kể ra thì rất dễ mủi lòng, như vận động viên hay nghệ sĩ xiếc. Họ sống trong một hệ thống bao cấp cầm hơi, giữ lý tưởng, nuôi hy vọng và cống hiến thầm lặng cả tuổi xuân của mình và biết trước, biết rõ khoảng bù đắp trống rỗng về sau của đời mình. Nên nói lố và phủi tay là cách ứng xử vô cùng tàn nhẫn.

Hồi đầu thế kỷ 20, các nhà khoa học Anh đã từng có một nghiên cứu về loài ngựa, và thí nghiệm cho ngựa đeo một đôi kính chỉ nhìn thấy màu xanh lá cây, rồi đưa mạt cưa cho ăn. Ngựa lầm mạt cưa là cỏ, nên ăn đến đoạn suýt bội thực. Nhưng rồi dù đeo mắt kính màu xanh nhưng nó vẫn nhận ra rằng đó không phải là thức ăn ngày thường của mình, nên từ chối, không ăn nữa.

Người làm báo trong thời đại hôm nay cũng nên đừng tự bịt mắt mình bằng một đôi kính màu hồng, đừng để mình bội thực với loại ma túy ảo tưởng vô địch, và vấy bẩn chữ nghĩa của cha ông để lại.

Điều quan trọng là con người, thì nên quan sát bằng cặp mắt của chính mình.

----------

Blog Archive