Showing posts with label Phước An Thy. Show all posts
Showing posts with label Phước An Thy. Show all posts

Thursday, March 27, 2025

Người Già và Người Trẻ


Tôi đi dự đám cưới con của một người quen, nhưng lòng không vui lắm vì bị xếp ngồi chung bàn với những ông bà lớn tuổi. Đối với tôi đó là một cơn ác mộng vì đa phần thời gian buổi tiệc, toàn là nghe những lời than của các cụ.

Người già được tôn trọng nên được sắp xếp ngồi gần sân khấu. Vừa ăn các cụ vừa than vãn về âm thanh lớn quá, về con cái ít quan tâm đến cha mẹ, về đã qua rồi cái thời đám cưới làng quê, tuy các món ăn không cao lương mỹ vị như đám cưới ở Mỹ này, nhưng gần gũi, đầm ấm tình nghĩa bà con họ hàng, xóm giềng... Các cụ chỉ mong cô dâu, chú rể và gia đình hai họ nhanh chóng đến chào bàn, để tặng quà và kết thúc ra về. Chịu không nổi sự tra tấn của âm thanh, dù tiệc mới hơn nửa chừng mà các cụ đã lần lượt bỏ ra về sau khi tặng quà, chỉ còn mình tôi ngồi với “một cõi bơ vơ”.

Nhìn sang bàn tiệc của đám thanh niên, họ nói chuyện rôm rả, cười đùa khanh khách, những nụ cười thật tươi trên khuôn mặt họ khiến tôi ngậm ngùi, rướm nước mắt vì thấy mình già nua. Chỉ cách có mấy bàn mà không khí thật khác biệt đến vậy. Một cậu thanh niên thấy “nỗi đau” ngồi một mình buồn bã của tôi nên đến mời tôi qua bàn của cậu ta. Tôi vui mừng vì tránh được thời gian còn lại của buổi tiệc trôi qua trong nhàm chán. Cử chỉ hào hiệp, biểu lộ lòng tốt đó còn đáng trân trọng hơn cả tiền bạc. Hạnh phúc đôi khi đến từ những điều nhỏ nhặt như thế.

Gia chủ sắp xếp mỗi bàn tiệc có một chai rượu mạnh. Bàn tôi toàn ông bà cụ, không ai uống nên chai rượu vẫn còn nguyên. Tôi xách chai rượu qua ngồi cùng bàn với các thanh niên kia. Vừa bước vào bàn, tôi không thể thờ ơ trước tấm lòng tốt của những thanh niên nên liên tục rót rượu mời họ uống.

Thật tuyệt diệu khi những người lạ chỉ cần cụng ly, uống với nhau vài chung rượu là đã trở thành bạn. Nhịp cầu kết nối giữa một người già như tôi và các thanh niên kia được thiết lập ngay từ lúc "chú chú cháu cháu" cụng ly, rót rượu vào miệng. Dù trước khi nhập bàn, tôi đã dặn lòng phải chuẩn bị tâm lý của một người lớn tuổi, vậy mà chỉ mới uống có mấy ly, tôi đã quên bén mình già. Tôi uống đến mức ngà say.

Các đám cưới của người Việt thường tổ chức tại các nhà hàng, trong các phòng tiệc sang trọng kiểu Mỹ hay kiểu Việt. Dù ở đâu, đám cưới vẫn mang đến cho người tham dự một cảm giác thân mật và thoải mái.

Có chút hơi men, tôi mạnh dạn bước ra nhảy đầm cùng đám trẻ và cũng “quậy” tới bến không thua gì chúng nó. Đám thanh niên trong bàn khen tôi có tửu lượng cao, nhảy đầm đẹp. Không biết chúng khen thật hay chỉ để an ủi kẻ già, nhưng lòng tôi vẫn vui vì những lời khen đó. Sau buổi tiệc, trên đường về nhà, tôi nghĩ, những thanh niên đó là những chàng trai tốt. Họ nhạy cảm, biết yêu mến và tôn trọng những người già hơn.

Trước đây, tôi cũng đã từng làm... thầy giáo “bất đắc dĩ”! Chuyện bắt đầu khi tôi thất nghiệp vì công ty “dọn nhà” sang Mexico. Tôi được chính phủ Hoa Kỳ và công ty cũ hỗ trợ tài chính cho đi học lại. Tôi chọn học nghề điện tử tại một trường tư, vì nghĩ mình cũng đã “lăn lộn” với nghề này nhiều năm rồi, học lại chắc dễ hơn.

Vào lớp, tôi gặp hai người thầy. Thầy dạy điện DC là một thanh niên Mỹ, còn thầy dạy điện AC là người gốc Ấn Độ. Trình độ lý thuyết của cả hai thì khỏi bàn, nhưng thực hành thì như kể truyện cổ tích! Họ chỉ dạy đúng theo sách, thiếu thực tế, thành ra mỗi lần tôi đặt câu hỏi cái gì ngoài sách giáo khoa là họ ú ớ như bị ngã vào tổ ong vò vẽ.

Cuối cùng, không chịu nổi “áp lực” những câu hỏi hóc búa của tôi, cả hai thầy mời tôi lên văn phòng. Họ yêu cầu:

- Anh làm ơn bớt hỏi, để tụi tui dạy trơn tru một chút, có được không?

Tôi vui vẻ gật đầu, nhưng sau đó, bản tính “tài lanh” không cho phép tôi dừng lại và tiếp tục đặt những câu hỏi “hack não”. Một tháng sau tôi lại được mời lên văn phòng. Tôi nghĩ trong bụng, chắc nhà trường cho tôi nghỉ học. Nhưng lần này, có cả ông hiệu trưởng, ông nghiêm túc đề nghị:

- Hay là anh vừa học, vừa làm trợ giáo thực hành nhé? Anh sẽ được trả lương.

Nghe tới chữ “lương”, mắt tôi sáng lên, gật đầu cái rụp:

- Yes sir!

Lớp tôi có một nhóm học viên Việt Nam lớn tuổi, đa phần họ đều tóc muối tiêu, ánh mắt uể oải như đèn LED sắp hết pin. Mục tiêu học tập của họ thật lạ. Trong giờ giải lao, khi tôi hỏi tại sao lại tham gia lớp học, các cô chú thẳng thắn chia sẻ:

- Tham gia lớp học không phải để trở thành kỹ sư hay chuyên viên điện tử, mà chỉ để đủ điều kiện nhận khoản trợ cấp từ chính phủ.

- Học cho vui, không đi làm vì có ai mà mướn thuê người già.

- Học cho có bạn bè trò chuyện, còn được thêm tiền trợ cấp. Tiện cả đôi đường.

- Học để nhận tiền là chính, còn bằng học là phụ.

- Biết đâu mai mốt sửa được cái quạt ở nhà, đỡ tốn tiền gọi thợ!

Phần lớn họ tiếng Anh yếu, thành ra học rất vất vả. Thấy vậy, tôi hay giải thích thêm bằng tiếng Việt cho mấy cô chú, nhưng các học viên nước khác tỏ vẻ khó chịu nên tôi thôi không chêm tiếng Việt vào nữa. Một thời gian sau, tôi nhận thấy các cô chú dần “mất tích”. Hỏi ra mới biết, họ đã chuyển sang một trường khác, ở đó có thầy người Việt dạy tiếng Việt, dễ hiểu hơn.

Nghe xong, tôi cảm thấy bị “bỏ rơi”, nhưng các cô chú tặng tôi một câu an ủi:

- À, trường đó đang thiếu giáo viên. Cháu qua đó dạy đi, lương cao lắm!

Tôi nghe chữ “lương cao”, lập tức hỏi xin địa chỉ. Làm trợ giảng lương bèo mãi thì sao sống được! Và thế là hành trình “dạy học bất đắc dĩ” của tôi bước sang chương mới!

Các bài học điện tử thường khô khan và khó nhớ đối với các cô chú lớn tuổi. Vì vậy, một hôm, tôi nảy ra ý tưởng “sáng tạo” đặt tên các động vật cho các linh kiện điện tử trong buổi học thực hành. Tôi hào hứng giảng giải:

- Bây giờ chúng ta sẽ gọi các mạch điện là đường cao tốc. Tụ điện là ếch, lưu trữ năng lượng sau mỗi lần nhảy. Công tắc bướm, khi nó vỗ cánh, mạch sẽ đóng mở. Bóng đèn LED là gà con, khi mạch có điện, nó sẽ nháy sáng. Điện trở chuột, điều chỉnh dòng điện khi cần. Ăng-Ten chim, thu phát sóng… Các cô chú học viên hăng hái, tích cực tham gia vào sáng kiến này. Với đôi tay run run, các cô chú bắt đầu thực hành đấu dây, hàn lắp mạch, gắn linh kiện vào mạch điện. Họ lôi kính lúp ra soi từng dây dẫn nhỏ, có người cẩn thận dán nhãn từng đầu dây bằng băng keo đủ màu...

Ai ngờ, cái sáng kiến “độc đáo” đó lại là thảm họa! Kế hoạch là đặt “chuột” vào các mạch nhỏ, để khi điện chạy qua, nó sẽ thay đổi điện trở. Nhưng vừa bật mạch, “chuột” liền cháy tán loạn. Thay vì “gà con” sáng nhấp nháy, chúng giật mình rồi cháy đen khét lẹt. Còn “chim” thì hoảng sợ, bay thẳng lên trời, kéo theo cả bộ nguồn!

Chưa hết, một bác hét lên:
- Thầy ơi, ếch nhảy bị chập mạch, nổ bụng rồi!

Một chú ôm đầu, càu nhàu:
- Con bướm này đậu lên mạch, không chịu vỗ cánh, cả cao tốc kẹt rồi!

Một cô phán:
- Bướm bị quá tải!

Một chú khác la lớn:
- Hỏng rồi! Chuột cắn tan nát cao tốc!

Tôi đứng giữa “bãi chiến trường”, thở dài nói với các cô chú:
- Thôi, từ giờ cứ gọi theo tên của nó, sáng tạo mệt quá!

Cả lớp cười rần rần. Buổi học thực hành đó là một kỷ niệm khó quên và nó cũng cho thấy sáng tạo là cần thiết, nhưng đôi khi việc giữ mọi thứ đơn giản, rõ ràng lại hiệu quả hơn.

Kết thúc khóa học, lớp được tổ chức một buổi thi lý thuyết và thực hành. Kết quả là hầu hết các cô chú đều được trường cấp chứng nhận hoàn thành khóa học. Lớp học tuy không đào tạo ra những kỹ sư điện tử xuất sắc, nhưng chắc chắn đã mang lại nhiều niềm vui, như các cô chú nói: Học để khám phá và để thấy cuộc đời còn thú vị lắm!

Một ngày nọ, một cụ than thở với tôi:

- Cuộc sống ở đây buồn chán quá! Lòng nhớ nơi chốn cũ, đầu óc rối rắm vì mọi thứ hoàn toàn mới lạ và những ước mơ tuổi trẻ đã rời xa.

Tôi ngắm nhìn ông cụ và quan sát kỹ từng biểu cảm. Qua lời nói và nét mặt buồn bã, tôi hiểu và thông cảm với nỗi niềm của ông. Nhìn ông cụ héo hắt như một cái cây lớn bị bứng khỏi gốc rễ, đem trồng vào một vùng đất xa lạ, tôi động lòng và đề nghị:

- Nếu bác muốn, cháu sẽ chở bác đi chơi.

Ông cụ nhìn tôi thoáng ngạc nhiên, nhưng vẫn đồng ý. Đến ngày hẹn, sáng sớm tôi lái xe đến nhà đón ông. Tôi sửng sốt vì không phải chỉ có mỗi ông cụ mà còn có thêm ba cụ khác nữa. Các cụ ai nấy đều diện áo quần mới đẹp, đầu đội nón rộng vành, tay cầm gậy chống, tay xách bao đựng các lọ thuốc cùng mấy chai nước uống. Ông cụ đưa tay chỉ một bà cụ, giới thiệu với tôi:

- Đây là người yêu của bác. Còn hai người này là bạn.

Tôi hỏi:
- Các bác muốn đi đâu chơi?

Họ đồng thanh đáp:
- Đi sòng bài.

Tôi quyết định chở các cụ đến một sòng bài gần nơi sinh sống. Các cụ hào hứng bước lên xe với vẻ mặt rạng rỡ. Sau khi tất cả đã ổn định chỗ ngồi, tôi phóng xe đi. Cụ bà lớn tuổi nhất tươi cười nói:

- Cháu bật nhạc bolero cho các bác nghe nhé!

Thế là xe lăn bánh trong tiếng cười vui rộn rã và tiếng nhạc bolero dập dìu. Ra đến đường cao tốc, tôi tăng ga chạy nhanh để tạo cảm giác mạnh, vì tôi nghĩ điều đó sẽ giúp các cụ đỡ buồn chán. Thật ra, tôi luôn thích chạy nhanh như thế. Tôi mê tốc độ và lái xe rất rất bạt mạng. Hồi trẻ ở Việt Nam, mỗi lần chạy xe máy đi xa, đến nơi hoặc về nhà, cổ ống pô xe của tôi đỏ rực như cục gạch đang nung. Lúc ấy, đừng để cái gì đụng vào, vì ống pô sẽ gãy rụng ngay. Qua Mỹ lái xe hơi, tôi vẫn quen thói lái xe với tốc độ cao.

Ban đầu, các cụ vui vẻ, trò chuyện rôm rả, nhưng dần dần, không cò ai nói gì nữa. Tôi nghĩ, có lẽ các cụ đang tận hưởng cảm giác mạnh chăng? Xe đang chạy ngon trớn, bỗng cụ bà ngồi ghế sau đập vào vai tôi và nói:

- Cháu ơi, bà muốn đi vệ sinh!

Tôi tấp xe vào một tiệm thức ăn nhanh để các cụ giải quyết. Đi thêm một đoạn, một cụ ông lại rụt rè lên tiếng:

- Tôi cũng muốn đi vệ sinh!

Vì đoạn đường cao tốc này khá hoang vắng, tôi miễn cưỡng tấp vào lề đường để các cụ đi vệ sinh sau những lùm cây cỏ. Khi mọi người đã lên xe, tôi lại lướt đi với tốc độ nhanh hơn hẳn, thay đổi làn đường liên tục khiến các cụ ngồi bên trong chao đảo. Ông cụ nói:

- Sao cháu chạy như bị ma đuổi thế?

Mắt vẫn dán vào con đường phía trước, xe tiếp tục lao nhanh vun vút, lòng tôi lâng lâng một niềm vui thầm lặng, gọi thành tên là “trai tốt” cứ dâng tràn. Để đáp lời ông cụ, tôi trích một câu trong bài Mưa Hồng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:

- Cuộc đời đó, có bao lâu mà hững hờ. Các bác có thấy phấn khích chưa?

Bà cụ ngồi ghế sau, tay bám chặt vào ghế, giọng run run:
- Già rồi, còn sức đâu mà phấn khích.

Một bà cụ khác cố giữ giọng bình tĩnh:
- Cháu muốn đưa tụi tui đi chơi hay đưa về gặp ông bà tổ tiên vậy?

Tôi dịu giọng, đùa:
- Mình phải máu một chút, thế mới sống lâu chứ!

Tôi nghĩ chạy tốc độ cao sẽ giúp chuyến đi thêm phần phấn khởi, giúp các cụ có cảm giác phiêu lưu, nhưng dường như tốc độ bình thường của tôi hơi quá “bóng vía” của các cụ rồi. Tôi từ từ giảm tốc độ, xe chậm lại. Quay đầu nhìn các cụ, tôi nói:

- Giờ cháu sẽ chạy chậm, cẩn thận như đang chở trứng vàng, để các bác ngắm cảnh nhé!

Tôi nghe tiếng các cụ thở phào. Một cụ bà vẫn còn run giọng:
- Chỉ cần đi đến nơi, về đến nhà còn nguyên vẹn là mừng lắm rồi!

Nhưng chưa được bao lâu, trên đoạn đường cao tốc vắng xe, bản tính mê tốc độ của tôi lại trỗi dậy. Tôi vô thức nhấn mạnh ga, xe lại lao nhanh như đang bay trên đường. Cụ ông nói:

- Sao cháu chạy nhanh như thể kịp giờ gặp ông bà vải thế?

Các cụ vội lấy thuốc và nước ra, chia nhau uống. Nếu tai tôi nghe không lầm, hình như có tiếng lẩm bẩm cầu nguyện ở hàng ghế sau.

Đến sòng bài, tôi hẹn các cụ 4 giờ chiều sẽ về, rồi đứng bơ vơ nhìn họ dắt tay nhau hòa vào dòng người tấp nập.

Khi đưa các cụ về tới nhà, tôi nói:
- Lần sau rảnh cháu lại đưa các bác đi chơi nữa nhé!

Các cụ đồng loạt lắc đầu, rụt vai cười khúc khích. Ông cụ hiền lành nói:

- Đúng là một chuyến đi tràn ngập niềm vui và hạnh phúc. Cảm ơn cháu đã dành thời gian cho, nhưng không dám làm phiền cháu nữa đâu.

Dù chuyến đi có làm các cụ hơi run sợ, nhưng nó cũng đã giúp các cụ thêm chút kỷ niệm, có lẽ sẽ còn nhắc mãi về sau và kể nhau nghe vào những buổi hoàng hôn nhàn rỗi.

Có lần, thấy một bác trai lớn tuổi thường đi bộ đến trường, tôi quyết định cho bác ấy quá giang. Tôi tấp xe vào lề và mời bác ấy:

- Bác lên xe cháu chở đến trường luôn.

Chờ bác ấy thắt dây an toàn xong, tôi nhấn ga, lái xe chạy vù vù và thể hiện các kiểu lạng lách háo thắng rất mượt mà. Bác ấy ngồi trên xe không nói năng chi, mặt mày tái mét, hai tay nắm chặt vào tay cầm của xe. Đến trường, tôi nói:

- Học xong, bác để cháu chở về nhé!

Bác ấy lắc đầu:
- Hôm nay tôi phải ở lại trường làm bài tập.

Sáng hôm sau, thấy bác ấy lại đi bộ đến trường, tôi tấp xe vào lề, nhưng bác ấy cứ bước đi tiếp, làm ngơ như không trông thấy tôi. Tôi bước xuống xe, đi theo bác ấy và gọi ơi ới:

- Bác ơi bác ơi!

Nghe tiếng tôi gọi, bác ấy càng đi nhanh hơn, làm như không nghe vậy. Tôi giận và không thèm mời nữa vì bác ấy đã không để cho tôi được làm “trai tốt”.

Mỗi người đều có cách riêng của mình để tìm niềm vui và sự hạnh phúc. Đôi khi niềm vui không phải ở chỗ chúng ta đi đến đâu, mà là có ai cùng đồng hành bên cạnh là cảm thấy ấm áp và hạnh phúc rồi.

Sự khác biệt giữa người già và người trẻ đôi khi tạo ra khoảng cách, nhưng chỉ cần một chút thấu hiểu, mở lòng thì mọi người đều có thể kết nối và vẫn có thể tạo niềm vui cho nhau.

Phước An Thy

Tuesday, March 19, 2024

Ký Ức Một Thời

Phước An Thy

Thật không dễ để nói hết những cảm xúc của mình khi nhớ về một thời, bỗng dưng cuộc đời trở thành “bể dâu”, và cũng khó để diễn tả được tâm trạng sung sướng như thế nào khi đang sống trong cảnh nghèo hèn, bỗng nhiên trở nên giàu có còn hơn cả trúng số độc đắc.

Cuộc đời “dâu bể”, lúc tôi mới 15 tuổi với sáu đứa em nheo nhóc mà đứa út chưa tới một tuổi. Chưa đầy một năm, sau ngày 30/4/1975, chúng tôi như bầy chim non đang chập chững, rạn rỡ tươi sáng thì bỗng nhiên mẹ chết, cha bị bắt. Đang ở nơi thành thị đầy đủ tiện nghi, phút chốc chúng tôi bị ném vào giữa rừng sâu, trên núi cao làm láng giềng với những người dân tộc thiểu số. Tôi không nhớ rõ hết cảm xúc của tôi lúc đó là gì, chỉ biết tuổi thơ ấu, thời vui vầy của chúng tôi đã chấm dứt.

Khi cha đi tù, mẹ con chúng tôi bị đi “kinh tế mới” và chỉ mấy tháng sau mẹ chúng tôi chết vì bị bệnh sốt rét cấp tính. Đúng là “mồ côi mẹ lót lá mà nằm”. Tuy còn cha nhưng cũng “như nhà không có nóc, như con nòng nọc đứt đuôi”. Còn cha, nhưng không “gót đỏ như son” mà “gót con đen sì”. Anh em chúng tôi lúc ấy chịu chung cảnh “Nước mất, nhà tan”, khốn khổ cùng bao người.

Sau một thời gian khóc mẹ, nhớ cha, tiếc thương những ngày đầm ấm đã mất, anh em chúng tôi cũng phải đào bới kiếm miếng ăn để tồn tại. Chúng tôi đành chấp nhận hoàn cảnh, không còn sợ hãi và không còn khóc mỗi đêm dưới ngọn đèn dầu leo lét, trong túp lều tranh giữa rừng già.

Dù mùa hè nắng chói chang hay mùa đông gió rét căm căm, chúng tôi cũng phải phơi mình dưới trời để làm rẫy hay đi rừng. Chúng tôi chặt củi, chặt lồ ô, chẻ thành hom đem xuống các làng bán lấy tiền mua thực phẩm. Thời gian đầu, vì chưa quen nên tay anh em chúng tôi bị bọng nước, bị cắt khứa chằng chịt. Vết thương cương mủ, làm độc đau đến nổi các ngón tay không co vào được. Không cầm được chén đũa, chúng tôi phải kẹp chén vào giữa hai bàn tay, ngửa mặt lên trời mà húp thức ăn.

Nhờ có đói khổ, chúng tôi mới biết sung sướng khi tìm được những thứ có thể ăn được ở trong rừng, thấy hạnh phúc như thế nào khi cầm những củ khoai, củ mì do tự tay mình trồng ra.

Vì tuổi còn nhỏ và bận kiếm thức ăn, áo mặc nên anh em chúng tôi không có nhiều thời gian để nghĩ cuộc sống của mình đau khổ như thế nào và xem đó là chuyện bình thường. Nhưng những hôm bị bệnh sốt rét, nằm bẹp dí trong căn lều tranh hiu quạnh, tôi mới có thời gian suy ngẫm hoàn cảnh của anh em mình.

Sáng sớm trời lạnh, tôi nằm lặng nhìn ra màn sương mù bao trùm khắp nơi. Nhìn các em thức dậy, đi làm vệ sinh, mặc những bộ áo quần rách vào người, nhét mấy lát mì khô luộc, nắm bắp rang vào trong túi rồi vác dao rựa lên vai, đi vào rừng. Nhìn bóng dáng bé nhỏ các em lẫn vào màn sương trông thật tội nghiệp. Khi ấy tôi thấy thương cho mình và các em phải sống thiếu thốn, chịu khổ cực đến như vậy.

Sau khi nôn ra cả mật xanh, mật vàng, thân thể mệt mỏi rả rời, nước mắt tôi chợt chảy ra, tôi nghĩ thà anh em tôi sinh ra và lớn lên ở vùng rừng núi này thì cũng đành và đỡ băn khoăn nghĩ ngợi hơn về cuộc đời của mình. Trong khi tuổi thanh xuân của chúng tôi phải sống với những gian khổ và sự thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần trên vùng rừng núi hoang vu này thì chúng tôi biết ở một nơi nào đó, vẫn có những người thật là may mắn, có cuộc sống đầy đủ tiện nghi, sung sướng hơn rất nhiều so với mình ở đây.

Bệnh sốt rét làm lạnh đến nỗi dù đắp bao nhiêu là mền mà cũng không thể nào dừng người bớt run lên, răng bớt lập cập. Rồi nhiệt độ tăng cao, đến cơn nóng sốt, mồ hôi đổ ròng ròng. Sau cơn sốt lạnh nóng, người thấy dễ chịu hơn và tôi rơi vào cơn ngủ chập chờn với những giấc mơ huyễn hoặc.

Sau cơn sốt tôi trở dậy ăn uống, rồi đi làm lại bình thường, nhưng nỗi buồn và những suy nghĩ khi bị bệnh vẫn còn ở lại trong đầu.

Sau gần 20 năm sống dưới chế độ Cộng sản, rồi điều may mắn, hạnh phúc trong cuộc sống đã đến với chúng tôi là được đi Mỹ, nhờ những năm tháng tù tội của cha. Ngày đi, mỗi người chúng tôi chỉ có vài bộ quần áo sờn rách làm hành trang để đi từ vùng “kinh tế mới” hoang dã đến một thế giới văn minh tiến bộ bậc nhất thế giới. Vì sao tôi viết, đang sống nghèo hèn bỗng nhiên trở nên giàu có còn hơn cả trúng số độc đắc? Bởi trúng số độc đắc mình chỉ có tiền, còn chúng tôi bỗng dưng được sống ở Mỹ, giàu cả vật chất và tinh thần.

Bây giờ ở Mỹ đã hơn 20 năm, nhưng khi nghe hay xem một bản nhạc được ghi nổi tiếng từ tháng năm nào, tôi thường nghĩ, năm đó mình đang ở đâu và đời mình như thế nào. Mỗi khi cầm viên thuốc hoặc chén cơm trắng lên, tôi lại nhớ đến hạt gạo khó kiếm và viên thuốc quý giá như thế nào khi còn sống vùng “kinh tế mới” ở Việt Nam.

Đôi lúc những kỷ niệm đau khổ hay hạnh phúc tưởng chừng đã rất xa xưa, bỗng dưng quay về, khơi gợi lại nhiều nỗi niềm buồn vui trong lòng tôi. Tôi muốn viết ra, lưu lại phần nào những ký ức, những suy nghĩ và cũng muốn được chia sẻ để cảm thấy ấm áp nếu có người đồng cảm với mình.

Một hôm, trên đường đi đến nhà ông bà ngoại xin gạo, bắp đem về ăn vì đói quá, chúng tôi được một mục sư Tin lành làm nghề bán kem cây dạo, đưa về nhà cho ăn cơm. Sau “giải phóng”, nhà của mục sư là một chòi tranh nép sau lưng nhà máy cưa, trên triền đồi nghiêng nghiêng khô cằn.

Mục sư kể cho vợ nghe hoàn cảnh của chúng tôi, rồi hối vợ nấu cơm. Dưới ngọn đèn dầu vàng vọt, vợ mục sư dọn lên bàn một nồi đầy cơm trắng và một dĩa cá kho. Mục sư cầu nguyện xong rồi bảo anh em tôi ăn cơm. Tôi mắc cỡ vì các em tôi xuýt xoa “ Cơm tinh, cá kho” và vừa thổi phì phì vừa ăn xì xụp. Anh em chúng tôi đói đến cầm chén cơm mà run cả tay, bụng sôi cào lên, tay gắp miếng cá kho rớt lên rớt xuống. Chưa bao giờ chúng tôi ăn ngon và nhiều đến thế.

Dọn dẹp chén bát xong, vợ chồng mục sư trải chiếu dưới nền nhà cho anh em chúng tôi ngủ. Vợ chồng mục sư và hai con nhỏ ngủ bên trong phòng ngủ được ngăn cách bằng một tấm ván mỏng. Nằm chừng vài tiếng đồng hồ chưa kịp ngủ, tôi thấy vợ chồng mục sư dậy, rón rén cầm đèn dầu đi ra nhà sau. Họ lôi ra nhiều ống tôn tròn, dài gấp đôi cán dao và một cái chậu nhôm lớn hình bầu dục, hai đầu túm lại, đáy hơi cong trông như một chiếc đò nhỏ đựng đầy nước muối. Vợ mục sư pha bột với đường nấu kem, mục sư kéo một bao tải đựng nước đá dưới đống mạt cưa ra, chặt nhỏ bỏ vào chậu nước muối hình bầu dục. Đợi nước kem nguội, hai vợ chồng mới chế vào những ống tôn tròn, hai đầu ống được bịt ni-lon, cột bằng dây thun. Sắp đầy những ống kem vào chậu nước muối trộn đá, hai người ngồi hai đầu kéo chậu nhôm lên xuống, qua lại khiến nước muối trộn đá và những ống kem chao đi đảo về liên tục.

Không biết đến bao giờ kem mới đông, nhìn cảnh vợ chồng mục sư gập lưng đung đưa chậu kem qua lại trong đêm, tiếng lục cục đều đều của những ống kem va vào nhau làm mắt tôi xụp xuống, trôi vào giấc mộng có hình dáng hai người níu kéo một chiếc thuyền kem.

Tôi giật mình thức giấc bởi tiếng ồn ào bên nhà máy cưa, trời đã sáng. Không thấy mục sư đâu, chắc đã dắt xe đạp đi bán kem. Anh em chúng tôi rửa mặt chuẩn bị ra ga xe lửa, vợ mục sư đưa cho tôi một gói cơm và hai cây tiền. Hai cây tiền là những đồng tiền tròn mười đồng bằng kẽm, cuộn tròn trong tờ giấy học trò. Vợ mục sư nói, các em mua vé tàu mà đi. Có lẽ vợ chồng mục sư đã cho chúng tôi số tiền để dành phải lâu lắm mới có. Tôi cám ơn rồi dẫn các em bước vội xuống đồi để ngăn những cảm xúc có thể trào ra trên mắt mình. Trên đường đi ra ga xe lửa, tôi vừa đi vừa nhìn quanh hy vọng sẽ thấy mục sư bán kem đâu đây để nói lời giã từ, nhưng không thấy. Đó là một trong những kỷ niệm nằm sâu trong ký ức, theo tôi suốt cuộc đời.

Tuy có nghĩ là sẽ không ai quan tâm các kỷ niệm của riêng mình, nhưng vì muốn mở rộng trái tim ra khỏi không gian riêng của mình và cũng để lưu lại phần nào những ký ức cho chính bản thân, nên tôi mạnh dạn viết ra. Như tôi đã viết trong một bài trước, “đa số những kỷ niệm của tôi ở Việt Nam là những kỷ niệm buồn, còn những kỷ niệm trên đất Mỹ thì ngược lại. Mặc dầu vậy, tôi lại thường nhớ đến những kỷ niệm ở Việt Nam hơn, có lẽ chúng đã có đủ thời gian để thấm nhập, bám chặt vào ký ức của tôi”, nay tôi xin kể thêm một kỷ niệm đã bám chặt vào ký ức của tôi.

Từ ngày nơi nơi đều vào hợp tác xã nông nghiệp, đến mùa gặt, anh em chúng tôi được dịp đi mót lúa. Trời mờ mờ sáng, cầm vài lát sắn khô luộc, ôm thúng rỗ tre, anh em chúng tôi đi hàng mấy cây số, xuống những cánh đồng của các hợp tác xã để mót lúa.

Không phải ngày mùa gặt lúa nào cũng như trong sách, nào ngày mới nắng lên rực rỡ, đồng lúa trĩu hạt vàng tươi, người gặt kẻ đập hát cười vang cả cánh đồng... nhưng thực tế có nhiều ngày gặt thật buồn thãm, bầu trời xám xịt, gió hây lạnh, mùa màng thất bát, đồng lúa hạt vàng chen nhiều hạt trắng. Anh em chúng tôi và nhiều người mót lúa, chẳng ai nghe thấy tiếng cười hát ở đâu. Mọi người cúi gầm mặt xuống tìm nhặt những bông lúa sót lại trên mặt ruộng đã gặt xong, mắt dáo dát trông chừng kiểm soát viên của hợp tác xã.

Vì các ban quản trị hợp tác xã không muốn sai chính sách, không muốn bộ mặt “ Ăn nên làm ra ” của hợp tác xã bị hoen mờ bởi những con mót và cũng để dành lúa rơi rớt nuôi đàn vịt của hợp tác xã nên họ cấm mót lúa. Hợp tác xã ra lịnh nếu xã viên hay con em xã viên đi mót lúa bị bắt thì một phạt thành mười, sẽ trừ vào công điểm nên nhiều người ở hợp tác xã này đi qua hợp tác xã khác mót lúa vì khi bị bắt chỉ bị tịch thu lúa chứ không bị trừ công điểm. Ngược lại, ban quản trị hợp tác xã khuyến khích kiểm soát viên nào bắt được con mót thì một thưởng thành mười, nên các kiểm soát rất tích cực trong việc rình mò, rượt bắt bọn con mót chúng tôi.

Chúng tôi phải chạy đua bì bõm trên ruộng sình lầy dành ăn với đàn vịt, chậm chân để đàn vịt đi qua trước thì một hạt cũng không còn chứ đừng nói gì một nhánh lúa rơi. Chúng tôi cắp rổ bên hông, chạy trốn mấy kiểm soát viên đang la hét vang khắp cánh đồng. Trên đồng trống, chúng tôi luôn giữ một khoãng cách an toàn với kiểm soát viên. Như mèo với chuột, nếu họ đi từ từ tới, chúng tôi lui từ từ, nếu họ rượt chúng tôi chạy. Con mót thì đông, kiểm soát viên chỉ vài người nên người nào xui lắm mới bị họ bắt.

Chiều đến, khi tất cả xã viên gặt lúa đã ra về hết, dù lạnh cóng anh em chúng tôi vẫn tha thẩn như những cái bóng trên cánh đồng, tìm bắt ốc bưu, hái rau dại trên bùn lầy đầy dấu chân. Khi không còn nhìn thấy bàn tay, bàn chân, chúng tôi mới băng đồng về để tránh những kiểm soát viên rình rập, núp trong các bụi rậm trên đường đi. Chúng tôi đã từng bị rình bắt như vậy, tha hồ khóc lóc, xin xỏ mà vẫn bị tịch thu cả thúng lẫn lúa.

Sau nhiều ngày mót lúa, chúng tôi đạp lúa, sàn sẩy, phơi khô cũng được hơn chục ký lúa. Năm nào cũng vậy, ngày đầu giã gạo nấu cơm, chúng tôi tạm quên thói hà tiện, nấu một nồi cơm không độn một thứ gì, chúng tôi gọi đó “cơm tinh”. Thời ngăn sông cấm chợ, cả năm chỉ ăn rau lá, khoai sắn dính vài hạt cơm mà cũng không có đủ, nay tay bưng chén cơm nóng trắng muốt, anh em tôi mhìn nhau, không thể tả hết được cảm xúc lúc ấy. Từng hạt, từng nhánh lúa rơi vương vãi trên ruộng đồng, góp nhặt thành chén cơm trắng tinh. Mùi cơm nóng bốc lên mũi đánh tan mùi bùn lầy, mùi tanh của máu bị đỉa cắn, xóa đi hình ảnh những ngày lạnh lẽo chạy lúp xúp trên cánh đồng. Ăn hạt cơm mềm, thật ngon, dù ăn với nước mắm nấu lại, loại nước mắm từ ba muỗng nước mắm nấu với một lít nước lạnh, vài giọt nước màu và nữa chén muối hột. Một năm chúng tôi chỉ có vài lần được ăn chén cơm không độn một thứ gì như vậy mà thôi.

Ở Mỹ, anh em chúng tôi vẫn giữ truyền thống gia đình như khi cha còn sống là gặp nhau trong những ngày lễ của gia đình, cũng như những ngày lễ lớn của nước Mỹ. Vì mỗi người đều có những công việc riêng, dành nhiều thời gian làm việc để có cuộc sống ổn định và cũng vì có vài người em lấy chồng, cưới vợ ở xa nên việc gặp nhau đầy đủ trong những ngày lễ là một điều khó khăn.

Ngay cả một gia đình nhỏ muốn ngồi ăn chung với nhau cũng không dễ, vì cả vợ lẫn chồng đều phải đi làm, mà hãng xưởng lại cách xa nhau, thời gian làm thì chênh lệch, còn con cái cũng phải đi học, đi làm thêm... Thường thì cả gia đình chỉ có thể ngồi quây quần bên mâm cơm trong dịp cuối tuần hay những ngày lễ lớn được nghỉ làm việc.

Tuy khó khăn để có những buổi họp mặt với nhau như vậy, nhưng anh em chúng tôi vẫn cố gắng thực hiện những buổi sum vầy bên nhau, để anh em, con cháu được gắn kết tình thân ái với nhau hơn. Trong những bữa cơm gia đình đó, chúng tôi chia sẻ với nhau những sung sướng, vất vả, vướng mắc của mỗi người ở trên đất Mỹ này và ôn lại những năm tháng khó khăn trong cuộc đời của mình ở Việt Nam.

Chúng tôi rất trân trọng từng giây phút bên nhau. Chúng tôi dùng thời gian sum họp, quây quần ăn uống bên nhau để hồi tưởng lại những tháng ngày quá khứ khổ cực, để nhắc nhở nhau biết trân quý cuộc sống tương đối ổn định, no ấm mà mình đang có. Nhất là để con cháu sinh ra ở đây, nay lớn lên, đang học, đã ra trường đi làm hay đang phục vụ trong quân đội, biết đất nước này đã cưu mang, giúp đỡ gia đình mình từ những ngày mới nhập cư như thế nào.

Chúng tôi thường hay kể lại với nhau về khoảng thời gian nỗ lực học hành, cần cù làm việc của mình để có cuộc sống ổn định và cũng nhắc lại thời kỳ đói khổ để thấy mình bây giờ đã giàu có như thế nào. Tôi tự nhận mình giàu, vì tôi hài lòng với những gì mình đang có, vì tôi có cố gắng kiếm bao nhiêu là tiền, nhưng không cảm thấy mình giàu thì mình vẫn nghèo.

Tôi tự tin cho rằng mình giàu có vì tôi đang so sánh cuộc sống hiện tại của mình với những người nghèo về nhiều mặt, thiếu thốn của cải vật chất cũng như tinh thần ở những nơi khác.

Chắc chẳng bao giờ tôi thấy hoặc cảm nhận được sự đói khổ thực sự của người khác là như thế nào, nếu cuộc đời tôi chưa từng cùng kiệt. Khi xem trên TV hay trên báo chí các hình ảnh những thân xác gầy ốm, da bọc xương, đói rách dành nhau những miếng nhỏ thức ăn thì tôi có thể tưởng tượng ra họ đói và sống khổ cực tới mức nào.

Vì tôi đã được nhiều ân nhân, những người không sống dựa trên mối quan hệ giá trị vật chất, giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn nên tôi không chỉ định giá giàu nghèo qua mỗi vật chất mà tôi còn định giá giữa giàu và nghèo qua lòng nhân hậu và sự quảng đại. Chính các ân nhân, những người sống với tình yêu thương giản dị, chân tình đã giúp tôi giữ được niềm hy vọng trong lòng, nhờ đó mà tôi tự tin để vượt qua những khó khăn trong đời.

Tuy nhìn lên tôi không bằng ai, nhưng nhìn lại quá khứ và nhìn xuống nhiều người, tôi phải cảm tạ ơn trên đã cho tôi quá nhiều may mắn và tôi cảm thấy mình giàu có quá rồi.

Cho đến bây giờ, sống nơi đất khách quê người đã hơn hai mươi năm mấy qua, vật đổi sao dời, số phần mỗi người anh em chúng tôi đã khác, nhưng mỗi lần anh em sum họp ăn cơm chung, bưng chén cơm lên tôi lại nhớ những chuyện xưa cũ.

Những kỷ niệm xưa cũ ấy luôn âm thầm len lỏi ở trong lòng tôi, những kỷ niệm mà không có tiếng cười nói lao xao sum họp như bây giờ. Những kỷ niệm cúng giỗ mẹ chỉ bằng những trái cây hái trong rừng và nén hương là lòng lặng lẽ trong đêm, cầu xin Thiên Chúa đưa linh hồn mẹ về trời. Những kỷ niệm dành giụm tiền, với những bao khoai sắn khô làm quà thăm nuôi để đi thăm cha ở tù ngoài miền Bắc. Những kỷ niệm đón Tết, thay tiếng pháo bằng tiếng gõ vào nồi niêu, thúng rỗ để mong xua tan buồn bã đượm đẫm cuộc sống nơi rừng sâu, chốn hẻo lánh buồn thiu. Ngày đầu năm, anh em chúng tôi xuống làng, đến những nhà có đốt pháo để xem. Các em tôi ngây ngô hốt những xác pháo đỏ hồng trước sân nhà người ta, đem về rải đều trước hiên nhà mình để cầu may mắn và mong quên được những ngậm ngùi của một năm đã qua...

Niềm vui trong những buổi họp mặt của anh em là kể cho nhau nghe những ngày xa xưa khi còn cha mẹ hạnh phúc, khi ấy trong nhà có đầy đủ mọi thứ. Kể lại chỉ để níu kéo, cố tìm lại những ngày của tuổi ấu thơ sum vầy đã qua mà bây giờ chẳng bao giờ còn có được. Cứ mỗi lần họp mặt, chúng tôi lại kể cho nhau nghe những chuyện cũ, thời mới lớn, tuổi thanh xuân bỗng dưng đã phải khắc khoải, sống lạc lõng giữa rừng xanh.

Để không làm nỗi mừng vui của những buổi sum họp trên quê hương mới này vơi đi, anh em chúng tôi đã dặn nhau, thôi nhắc chuyện xưa và đừng kể một thời đã qua nữa, nhưng khi mở rượu ra, câu chuyện loanh quanh một hồi rồi những kỷ niệm cũ kỹ vẫn lãng đãng quay về trong lòng mỗi người. Có lẽ, lòng chúng tôi đã già!
 

Saturday, November 4, 2023

Đàn ông không nhiều chuyện

Đang ngồi bàn ăn uống với mấy thằng bạn, tôi đứng lên đi nhà vệ sinh. Tôi vừa vào nhà vệ sinh nam thì ngẫu nhiên các bà kéo nhau đến trước cửa nhà vệ sinh nữ “họp chợ” tán gẫu. Tôi không thể tin vào tai mình được khi tình cờ nghe các bà vợ xúm lại than thở với nhau chuyện vô tâm của mấy ông chồng.

Tôi có một nhóm bạn, phần lớn là những cặp vợ chồng. Chúng tôi hay đi chơi dã ngoại, dự tiệc chung với nhau và thường ngồi tách riêng ra hai nhóm nam nữ.

Đàn ông chúng tôi không rủ nhau đi nhà vệ sinh nên tôi cứ thắc mắc, tại sao trong buổi tiệc các bà vợ thường rủ nhau đi nhà vệ sinh cùng một lúc. Giờ tôi mới biết các bà đi nhà vệ sinh là một công hai chuyện, trước giải quyết nhu cầu của cơ thể và sau để tâm sự với nhau.

Ngồi trong nhà vệ sinh, tôi vừa nghe các bà nói chuyện vừa thấp thỏm lo lắng, sợ bị phát hiện. Sau khi nói chuyện thời trang, làm đẹp, giá cả shopping, các bà vợ chuyển qua đề tài chồng con. Mấy bà vợ nói nhiều chuyện lắm, nhưng tôi chỉ xin kể một số chuyện tôi còn nhớ thôi.

Tôi được cái là nghe sao kể lại vậy, không thêm mắm thêm muối. Sẽ mang “nghiệp quật” lớn lắm, nếu thêu dệt không nói có cho chuyện các bà hài tội chồng rất “linh thiêng” này.

Một cô vợ than:
- Mấy ổng tán dóc tào lao với nhau hàng giờ thì được, nhưng nói vài lời ngọt ngào, yêu thương vợ thì khó. Làm như trong đầu mấy ổng không có những từ thương yêu vậy.

Cô khác nói:
- Đôi khi chỉ cần chồng quan tâm và coi trọng thì đã mang lại thật nhiều hạnh phúc cho vợ rồi hen.

Một chị nói:
- Chồng tao bảo tao tàn nhẫn và chẳng để ý gì đến tâm hồn lão ta vì tao hay la mắng làm lão bị tổn thương.

Một cổ nói:
- Nếu em tranh luận với anh ấy, ảnh nói em muốn thông minh hơn chồng, còn im lặng thì ảnh nói em kiêu ngạo và khinh thường anh ấy. Bây giờ, suốt ngày em cứ mở nhạc cho ảnh nghe bài hát, “Anh muốn em sống sao”.

Bà khác nói:
- Còn chồng chị thì hiền khô, chị nóng lên là hắn ta im re hà. Chỉ có ngày nào hắn lãnh check lương về, trước khi đưa check tiền cho chị, mặt hắn cứ câng câng lên thấy ghét. Hắn hạch sách bắt bẻ đủ điều, nào là cơm sao trắng, nước mắm sao mặn... Nhưng thôi, tháng có hai ngày lãnh lương hà, cho hắn vênh váo, làm dóc làm tướng chút xíu.

Một giọng khác vang lên:
- Đi làm về kể những vất vả khó khăn cho chồng nghe, anh ta vô tâm nói, phụ nữ là chúa nhiều chuyện. Tao trách móc, anh ta nói, tao muốn làm bảo mẫu.

Một giọng nữ trẻ:
- Tớ ăn mặc hở có chút xíu à, lão ấy bảo tớ muốn khiêu gợi đàn ông khác. Tớ mặc kín đáo, lão ta chê, giống bà Sơ bà Vãi. Khổ thân không cơ chứ.

Một bà vừa cười vừa nói đùa:
- Sao loài vật con đực lại dễ thương hơn giống đực loài người nhể.

Giọng cô khác:
- Ông xã em đi làm về, hết bật TV xem lại ôm máy tính, chẳng bao giờ biết lau chùi cái toilet. Liên hợp quốc có ngày lễ toilet thế giới, còn ông xã em chẳng có ngày nào.

Một bà chị bày vẽ:
- Em cứ khen chồng đẹp trai, phong độ, tài ba, cao thượng, hào hùng thì sai lau chùi hay làm việc gì ổng cũng làm.

Cô vợ khác:
- Tớ nói thì anh xã tớ có nghe đâu. Anh xã tớ lái xe, tớ nói anh chạy lạc đường rồi thì anh xã quát, im lặng cho người ta lái. Anh xã tớ ráng chạy tìm đường cả tiếng đồng hồ mới chịu là mình lạc đường. Một chị nói:

- Đời chị như câu ca dao, có con phải khổ vì con, có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng. Buồn.

Chị khác tiếp lời:
- Cả cuộc đời mình chỉ là yêu thương và hy sinh cho chồng con mà có ai biết đến đâu. Chẳng bao giờ chồng nói một câu nhẹ nhàng, dịu dàng cho mình vui. Có lần mình nhờ chồng tìm giùm mắt kính đọc sách của mình. Chồng lục tung trong nhà ngoài xe, tìm kiếm một hồi lâu rồi vào nói một câu cộc lốc phũ phàng, “Kính bà gắn trên đầu mà bắt tôi đi tìm nãy giờ”.

Tôi không phải thể loại người buôn chuyện, ăn không ngồi rồi săm soi chuyện nhà người khác, nhưng quả thật tôi không thể chịu đựng được khi vô tình nghe mấy bà vợ của bạn than phiền chồng như vậy, nên các bà vừa đi tôi liền chạy về bàn kể hết cho mấy thằng bạn nghe.

Nghe tôi kể xong, cả đám bạn ngồi im chả nói gì. Bỗng một thằng phá lên cười sằng sặc:
- Vợ ai chứ vợ tao không đời nào than phiền tao chút nào. Mày đừng bịa chuyện làm ảnh hưởng đến danh dự của tao.

Biết là nó gắng gượng cười, nhưng tôi vẫn bực mình đáp:
- Tao không có đức tính ngồi lê đôi mách. Mày cũng có danh dự à?

Một gã chuyên gia nói tướng, than thở:
- Có lần tao thả nhẹ một câu để nhắc khéo vợ thì bị bả mắng xối xả. Bả nói, thay vì ngồi không so sánh tôi với vợ người khác thì ông tìm việc làm, kiếm thêm tiền, có phải tốt hơn không.

Gã khác lắc đầu nói:
- Chắc mày hết muốn sống mới đi so sánh vợ mình với vợ người.

Một khứa kể:
- Tao nói với vợ, em làm ơn bớt đay nghiến nghiệt ngã với anh được không? Vợ tao nhếch mép cười, khinh khỉnh không thèm trả lời, coi tao như con không bằng.

Một thằng ông có tật nói ấp úng, nhưng nói xấu vợ thì nó nói rất suôn sẻ:
- Người khôn ăn nửa bụng, uống rượu nửa chai. Người chồng đẳng cấp là chửi nửa câu để vợ khờ tưởng đâu mình khen nó.

Lão khác vội góp chuyện:
- Tao không quan tâm những gì người khác nói, nhưng vợ tao nói câu nào làm tao cảm xúc câu đó. Gây gổ nhau, đấu võ mồm, tao mắng chục câu mà mặt nàng không đổi sắc, vẫn tỉnh queo, còn nàng chửi lại một câu thì shock đến tận óc mày à.

Một đấng, giọng chua ngoa hơn cả mẹ chồng:
- Vợ tớ cái gì cũng tốt, chỉ có cái là nông nổi và không nghĩ tới hậu quả. Nàng ấy thích bàn tán chuyện thiên hạ, thậm chí chuyện nhà mình cũng tâm sự với người khác. Cô nàng không giữ được bí mật, tớ nói hay làm gì sai, nàng để ý góp nhặt, rồi đem kể hết cho nhà nàng nghe. Tức không?

Một thằng làm ra vẻ quan trọng, nói rất hăng:
- Bọn mình đàn ông phái mạnh, tầm nhìn cao rộng, phải đảm đương những việc to lớn, còn chuyện nhỏ nhặt dành cho phụ nữ.

Thằng khác liền đáp lại:
- Ừ, trước đây cũng vì suy nghĩ như vậy mà vợ chồng tao xảy ra bao chuyện hiểu lầm. Hàng ngày, chỉ nội cãi cọ nhau chuyện nào lớn chuyện nào nhỏ cũng đủ làm gia đình xào xáo rồi. Để cơm lành canh ngọt, tao cứ nấu ăn, rửa chén bát, lau nhà cho yên chuyện mày ơi.

Một bạn tài lanh, dạy khôn:
- Vợ giận chồng bớt lời, chẳng đời nào đói.

Các bạn nghe tiếp lời mấy ông bạn của tôi nhé:
- Vợ tao tài lắm, cô nàng có thể làm nhiều việc cùng một lúc. Trong khi đang làm bếp nấu nướng, mắt nàng vừa xem TV, tai nghe radio, miệng nói điện thoại kẹp nơi cổ, còn tay thì lia lịa lật sách báo xem các món hàng giảm giá. Kết quả thức ăn ngon hay dở là do hên xui.

- Vợ tao ghen kinh lắm, cấm tao không được mang điện thoại vào nhà vệ sinh, sợ tao trốn trong đó chát với cô nào.

- Vợ tớ nói, tớ sẽ không hiện hữu nếu không làm ra tiền. Tớ tự ái lắm, nhưng đành cắn răng, nín thở qua sông.

- Đi làm về, tao dịu dàng hỏi vợ, thức ăn đâu em? Vợ lạnh lùng nhìn mặt tao, tay chỉ vào tủ lạnh nói, trong đó chứ đâu, muốn đút tận miệng à.

- Nhiều lần mình suy nghĩ nát óc vẫn không biết mình đã làm gì mà vợ giận hờn không nói, không ngủ chung giường đến mấy ngày.

Thằng ông bị tật ấp úng phán:
- Phụ nữ lúc nào cũng là con gái, không có cái gọi là đàn bà. Bất kể tuổi tác, vợ không bao giờ già, không bao giờ xấu nghe các cậu. Một lần tớ vô tình nói chạm đến số tuổi hơi nhiều và sự không còn trẻ của vợ thì tớ bị bỏ đói, phải ăn mì gói suốt tuần đấy.

Một lão bạn già, giọng buồn buồn tâm sự:
- Đôi khi tao cần một ngày đặc biệt để tìm lại cảm giác của thời mới yêu nhau, muốn hâm nóng tình yêu sau những ngày đợi chờ. Tao nói với vợ, em ơi ra sân ngồi ngắm nụ hoa mới nở với anh. Vợ liền đáp vào mặt tao, ông điên à hay quên uống thuốc.

Một đứa cười khùng khục trong họng:
- Già còn bày đặt chơi trò lãng mạn.

Lão ấy rưng rưng tâm sự tiếp:
- Nghe vợ nói vậy, kỳ lạ thay, niềm hứng thú của tao tụt xuống như diều đứt dây, lòng tự hào của đàn ông tự dưng biến mất. Thế rồi tao lo lắng, tao nghi ngờ và phân vân tự hỏi, mình có điên không ta?

Lão bạn già ấy nói, làm tôi giật mình, vội liếc nhìn mặt từng người bạn. Nghe ông bà xưa nói, mặt người điên thì lơ láo như khách lỡ đò, còn tướng đàn ông nhiều chuyện thì tai nhọn như dơi, môi mỏng như giấy, mắt lồi như ếch. Tôi quan sát kỹ lưỡng mặt mấy thằng bạn, đâu thấy đứa nào có những đặc điểm giống như trên mà sao khùng và nhiều chuyện dữ vậy trời.

Thật tình tôi thấy mấy bà vợ than trách chồng rất ý nhị, còn các ông bạn tôi nói nghe cứ như lời thị phi.

Để giữ sự bí mật, an toàn tính mạng và tránh những điều tồi tệ xảy ra cho các ông chồng nên tôi không dùng tên mà chỉ viết ông, lão, đấng, gã, khứa, đứa, thằng... Sợ lỡ có chị em nào đọc được thì chúng tôi có nước nhịn đói và ra nhà để xe mà ngủ thôi.

Mấy tuần trước, thấy cặp vợ chồng kia cãi nhau hoài, không ai chịu thua rồi lôi nhau ra toà ly dị, nay nghe tin vợ chồng bạn tôi đang giận nhau, tôi vội chạy đến tìm cách khuyên lơn bạn. Sau khi ngồi tán gẫu với nó một hồi, tôi nói:

- Tao không phải là loại người nhiều chuyện đâu, nhưng nghe nói vợ chồng mày cãi nhau ầm ĩ hả?

Bạn tôi im lặng một đỗi lâu rồi mới nói:
- Tao không phải loại vạch áo cho người xem lưng, nhưng thấy bế tắc nên tao kể cho mày nghe.

- Ừ, chuyện buồn giận để bụng lâu quá dễ bị ức chế, có hại cho sức khoẻ đó. Vợ chồng giận nhau là điều không thể tránh khỏi, muốn hạnh phúc chỉ cần hai người bớt lời, nhường nhịn nhau là được.

- Tao kể, nhưng không cần mày khuyên răn. Okay?

Tôi uh-huh gật đầu. Nó kể:
- Vợ tao kỳ này ảo tung cả chảo, cứ chụp hình rồi đưa lên Facebook khoe. Tao nói đến thì vợ tao chuyện bé xé ra to, làm cho vợ chồng gây lộn.

- Việc đăng hình ảnh lên Facebook cũng bình thường, có gì mà gây.

- Không bình thường ở chỗ, vợ tao bỏ ra hàng giờ dùng app photoshop mỗi tấm hình rồi mới đưa lên Facebook. Tao nói với vợ, “Hình béo thì cứ đưa lên béo vậy đi, hơi đâu mất thời gian tẩy xóa thêm bớt, bóp eo kéo chân, để thời gian lo việc nhà có tốt hơn không”. Tao chỉ nói có vậy mà nàng la toáng lên, rồi giận ngút trời cả tháng nay. Vợ tao có thói quen, hễ mỗi lần cãi nhau là ngủ riêng. Để trừng phạt tao, nàng chơi trò chiến tranh lạnh, im lặng không nói chuyện.

Tôi nói:
- Chiến tranh lạnh đỡ hơn chiến tranh khói lửa. Rồi mày làm gì?

- Tao đâu phải dạng vừa, ngủ riêng thì ngủ riêng, không nói thì thôi, sợ gì.

- Nhà mày ai làm chủ gia đình.

- Vợ tao.

- Vậy là mày sai rồi, ai lại nói với người đầu gối tay ấp chủ nhà như vậy, chẳng khiêm tốn chút nào. Mày chưa nhận thức được chủ gia đình là gì rồi. Vợ mày hiền đó, gặp con khác nó tát cho lật mặt.

- Cả tháng nay tao cũng thấy ân hận, day dứt, nhưng có chết tao cũng không xin lỗi trước.

- Vợ làm đẹp là đẹp cho chồng chứ cho ai. Đáng ra gặp vợ photoshop ảnh như vậy thì mày phải bấm like, “Ảnh đẹp quá! Béo mà khéo tay”. Còn khi vợ giận la mắng thì comment, “Tuyệt vời quá! Béo lại khéo nói”.

Bạn tôi giọng mơ màng:
- Tao ước gì được trở lại giãn cách xã hội thời Covid, không phải ra ngoài, vợ chồng suốt ngày hạnh phúc bên nhau.

- Để tao kể cho mày nghe một câu chuyện. Có hai vợ chồng kia giận nhau vì những chuyện lặt vặt. Ban ngày, hai người không thèm nói với nhau câu nào, ban đêm phòng ai nấy ngủ. Sau một tháng, cả hai vợ chồng đều muốn làm hoà, nhưng vì tự ái nên không ai chịu lên tiếng xin lỗi trước. Cuối cùng, cô vợ chịu không nổi nên nói với chồng, “Em xin lỗi, anh tha thứ cho em nghe”. Anh chồng mừng quá, vội nói, “Anh tha thứ cho em tất cả”. Cô vợ hỏi, “Anh tha cả chuyện đêm qua em ngủ nhà ông hàng xóm hả anh?” Anh chồng thét lên một tiếng “Hả”, rồi ngã lăn xuống đất bất tỉnh.

Kể xong, tôi gắng gượng nở nụ cười:
- Để vợ mày vui vẻ trở lại, mày có thể kể cho vợ nghe chuyện này, chỉ cần đổi nhân vật anh thành em và em thành anh. Chúc may mắn.

Tôi đứng dậy đi về, để mặc nó ngồi trầm tư mặc tưởng.

Khi nghe tin vợ chồng bạn đã hoà thuận, tôi mừng lắm, nhưng không được lâu. Bạn tôi gọi tôi ra quán, nó tâm sự:

- Tao đang giận vợ. Vợ tao kỳ này ít cung kính với tao quá.

Tôi hỏi:
- Chuyện gì nữa đây?

- Đang ăn cơm, vợ tao nhăn mặt nói, “Anh giữ lịch sự tối thiểu chút được không”. Thấy tao nhướng mày kinh ngạc, vợ hỏi, “Anh làm gì mà vừa ăn vừa nói, muốn văng cơm vô mặt tui vậy”? Tao im re không trả lời.

Trời thường tác thành vợ chồng thật hợp lý. Kẻ chậm chạp lấy được người lanh lẹ, người muốn chỉ huy gặp người hay lam hay làm, kẻ khù khờ gặp được người khôn ngoan. Bạn tôi nói nhiều, may mắn lấy được cô vợ ít nói. Nó hay than thở với tôi, tao ra ngoài nói lỡ lời, mọi người chỉ im lặng mỉm cười, còn ở nhà nói hớ một tí thì vợ chỉnh sửa ngay. Vợ chỉnh sửa hoài nên tao bị ám ảnh chuyện mình nói nhiều và bị hố.

Thằng bạn thổ lộ tiếp:
- Hôm qua, tao quyết định không nói nữa. Tao cắn chặt răng, không nói nguyên ngày. Thế rồi vì nghiến răng mạnh quá, tinh thần căng thẳng và nỗi ám ảnh nói nhiều bị vợ la vần vũ trong đầu, khiến cơ hàm tao co cứng không há mồm ra được.

Tôi thốt lên “Ối trời ơi” để nó có hứng kể tiếp. Nó kể:

- Nhìn thấy thức ăn bánh trái ê hề mà không ăn được, tao nổi điên lên. Tao lấy một trái táo đập vào mồm, chà qua chà lại lên hai hàm răng, nhưng chẳng ăn được chút nào. Sự khổ sở vì không ăn được, không khổ bằng việc không được nói. Muốn nói gì thì chỉ phát ra những tiếng ú ớ trong cổ họng.

- Rồi mày có đi bác sĩ không?

- Không. Tao lo sợ quá nên cầu Trời khẩn Phật. Trời Phật làm phép lạ ngay, tao liền tỉnh giấc, thì ra tao ngủ mơ. Thức dậy, mừng quá, tao vừa ăn vừa nói liên tục như đã nhịn cả tháng nên vợ tao mới nói, anh giữ lịch sự tối thiểu chút đi là thế.

Hơi thất vọng vì chuyện chỉ là giấc mơ, tôi hỏi:

- Có vậy thôi mà giận cái gì?

- Tao đã nhịn, ngồi im re, nhưng vợ vẫn chỉnh sửa tao như dạy con trẻ. Vợ tao dạy, “Vừa ăn vừa nói là mất lịch sự”. Tao cãi lại, có hai vợ chồng chứ có ai đâu mà mất lịch sự. Vợ cao giọng, “Không ai muốn, kể cả tui, nhìn thấy miệng anh nhồm nhoàm ăn như bò ngốn cỏ. Lại còn phùng má trợn mắt, nói thao thao như đang mớ ngủ”.

- Mày nhịn tiếp à?

- Ừ, tao muốn hoà bình nên gắp thức ăn bỏ vào chén vợ, nhưng vợ cất chén, không cho tao thể hiện lịch sự. Vợ tao dạy tiếp, “ Ăn thì bớt bát, nói thì bớt lời. Nhai thì nên nhỏ nhẹ, nghiền kỹ thức ăn trong miệng trước khi nuốt kẻo sặc nghẹn, hóc xương. Vừa ăn vừa nói có hại cho sức khỏe và đường tiêu hóa”.

Tôi cười không thành tiếng. Thấy tôi cười, nó ấm ức nói:

- Chuyện chẳng có gì mà vợ tao cằn nhằn hết cả buổi. Nhục vì bị vợ dạy như dạy con, nhưng tao dằn lòng bỏ đi và gọi mày ra tâm sự cho vơi bớt. Tao tiếc nhớ cái thuở mới gặp nàng, nàng hiền lành nói với tao, “Thấy anh có tài ăn nói nên yêu”.

Tôi cù cưa an ủi:
- Nhớ làm chi cái thuở ban đầu ấy cho thêm cay đắng. Từ nay mày đừng vừa ăn vừa nói xô bồ là được rồi.

Các bạn cũng biết, tôi không phải là ông Tám hay bà Tám, nhưng vì tôi hiểu nỗi niềm u uẩn trong lòng bạn nên kể ra đây, mong rằng vợ nó biết được mà thông cảm cho nó.

Đức Phật từng nói “Đời là bể khổ”. Lúc còn là tình nhân thì đàn ông là người khổ, thành vợ chồng, đàn ông cũng là người khổ! Biết thế, nhưng Kinh Thánh ghi, “Đàn ông ở một mình không tốt”.

Phước An Thy

Wednesday, March 8, 2023

Có Phải Là Số Phận

Tôi xin kể cho các bạn chuyện hai người bạn của tôi, họ có tính cách và tư duy trái ngược nhau. Tuy cả hai đều học cùng lớp với tôi, nhưng họ lại không chơi thân với nhau.

Vừa qua Mỹ, tôi vào trường học tiếng Anh và học nghề điện tử. Ở trường tôi quen nhiều bạn bè, trong đó có hai bạn A và B. (Tôi xin giấu tên).

Bạn A qua Mỹ theo diện HO, cùng chuyến bay với tôi.

Có nhiều bạn học cho là A hay phô trương, nhưng với tôi, A không có vẻ gì như thế. A học giỏi so với bạn cùng lớp vì A đã tốt nghiệp đại học ở Việt Nam và có bằng TOEFL điểm cao nên nói tiếng Anh lưu loát. Thỉnh thoảng bạn ấy được thầy nhờ thông dịch cho các học sinh Việt Nam mới qua, không theo kịp bài giảng tiếng Anh của thầy. Trong lớp, A hay giơ tay hỏi và phát biểu ý kiến của mình khiến vài bạn khó chịu. Họ nói với nhau là A khoe mẽ giỏi tiếng Anh. Giờ nghỉ, A chủ động đi bắt chuyện làm quen với học sinh các lớp khác và những học sinh người nước ngoài.

Có lần sau giờ học, bọn con trai chúng tôi rủ nhau mua đồ ăn, ra biển chơi. Ăn xong, A nói:

- Tụi mình xuống tắm biển đi.

Chúng tôi, ai cũng lắc đầu quầy quậy vì nước biển ở đây rất lạnh, không như biển nơi khác hay ở Việt Nam. A nói tiếp:

- Mình phải tắm một lần cho biết cảm giác tắm biển lạnh như thế nào chứ.

A cởi áo quần, nhảy ào xuống biển. Vừa bơi lội A vừa ngoắt tay, kêu gọi chúng tôi xuống tắm. Chúng tôi chỉ dám thử cảm giác mạnh nửa vời là xắn quần lội xuống nước ngang đầu gối thôi. Vậy mà chúng tôi vẫn bị sóng biển làm cho ướt lạnh. Lên bờ, áo quần đứa nào cũng bị ướt, chỉ có A là khô ráo vì A đã cởi áo quần bỏ trên bờ trước khi xuống nước.

Một hôm A nói với tôi:
- Tao thích kinh doanh nên tao sẽ đi tìm cơ hội.

Bạn ấy chào tạm biệt tôi và bỏ học từ đó.

A và bạn gái mở dịch vụ gửi tiền và hàng hoá về Việt Nam. Khi ấy chưa có nhiều cơ sở tư nhân kinh doanh gửi tiền hàng như bây giờ. Khởi đầu, A và bạn gái không có tiền mướn nhân viên nên nhờ anh em, người nhà ra phụ giúp. Họ mau chóng thành công và mở thêm nhiều chi nhánh ở những nơi có nhiều người Việt sinh sống, nên A phải mướn thêm nhân viên. A có mời tôi ra làm việc cho A, nhưng tôi từ chối vì tôi thích công việc kỹ thuật điện tử hơn.

Chỉ một thời gian ngắn, A và bạn gái trở nên giàu có, tuy vậy họ vẫn không quên bạn bè. Ngày tổ chức đám cưới, A mời tất cả bạn bè xưa cùng đến tham dự. Dự đám cưới tôi mới biết, bạn bè mới của A toàn những đại gia, qua Mỹ đã lâu. A đã bước chân vào môi trường của giới nhà giàu tại Mỹ. A dám nghĩ và đã nỗ lực thực hiện được câu bạn ấy nói với tôi, “Có ngày, tao sẽ làm chủ và giàu có”.

Bạn B qua Mỹ trước tôi vài tháng và đã sắm xe hơi rồi. Bạn ấy lúc nào cũng ăn mặc lịch sự, chỉnh tề, xách cặp táp sang trọng như giám đốc vậy. B nói:

- Ở Việt Nam tao làm việc thành công thì tao cũng sẽ thành công ở đây.

Tôi biết tính B hơi “nổ” một chút, nhưng tốt bụng. Khi tôi chưa có xe, B thường cho tôi quá giang đến trường và thỉnh thoảng chở tôi đi chơi.

Xe của B bị hư bộ phận làm tan sương mù, nên sáng sớm chạy đến trường, cứ năm ba phút tôi lại phải lấy khăn lau hơi nước bên trong kính xe. Trong xe của B, chỗ ngồi phía trước cũng như phía sau chất đầy sách vở tiếng Anh, sau cốp xe lúc nào cũng có mấy thùng mì gói và nước uống.

Một hôm trên đường đến trường, tôi tò mò lật xem các quyển sách để dưới sàn xe mà tôi đang đặt chân lên chúng. Lật đến cuốn dưới đáy sàn, tôi giật mình kinh hoảng khi thấy mặt đường bên dưới lướt qua rào rào. Tôi vội lấy sách che đậy lỗ thủng lớn hơn bàn tay ở sàn xe lại như trước, vì sợ chân mình lọt xuống đường.

Một lần B chở tôi đi chơi các thành phố lân cận. Đi chơi mấy tiếng đồng hồ, khi về thì bị lạc đường. B tấp xe vào lề, lấy tấm bản đồ quận hạt, to gần bằng nửa cái bàn ra xem, rồi chạy tiếp (Khi ấy chưa có Hệ thống Định vị hay Google maps). Chạy hết đường cao tốc này qua cao tốc khác mà vẫn chưa thấy đường về nhà. B lại mở bản đồ ra xem, rồi lái xe như phát rồ. Tôi nói:

- Sao mày không vào cây xăng hay gặp người dân hỏi đường.

B lắc đầu:
- Không cần, tao rành mà.

B lái xe chạy mải miết đến gần hết xăng, phải vào cây xăng đổ thêm. Tôi giục:

- Mày vào hỏi đường xem sao.

Thấy B và anh nhân viên cây xăng người Mỹ vừa nói vừa quơ tay lia lịa có vẻ như không hiểu nhau, nên tôi cầm tấm bản đồ đi vào. Tôi trải tấm bản đồ ra, chỉ vào thành phố nơi chúng tôi sống và hỏi anh nhân viên bán xăng:

- Tụi tao muốn đi đến nơi đây, hiện tụi tao đang ở đâu trên bản đồ này?

Anh nhân viên nhìn bản đồ một hồi, rồi chỉ ngón tay ra khỏi ngoài tấm bản đồ và nói:

- Tụi mày đang ở ngoài tấm bản đồ này rồi.

Sau đó, anh nhân viên cây xăng chỉ đường cho chúng tôi về. Trên đường về, tôi nói huyên thuyên đủ thứ chuyện để B bớt “quê độ”. B nói:

- Ơ! Mày đang đánh trống lảng à.

B hay nói với vẻ tự đại, “Tao sẽ nổi tiếng khi các đại gia công nghệ Mỹ mời tao vào làm việc cho họ”. Tuy B học lấy được nhiều bằng cấp, nhưng đến bây giờ, hơn hai mươi năm nộp đơn xin việc và chờ đợi mà vẫn chưa có một đại công ty công nghệ nào mướn bạn ấy. B cho là thời cơ chưa tới, nên làm tạm những công việc không phụ hợp với bằng cấp và B vẫn hy vọng có ngày, các đại gia công nghệ sẽ thấy được tài năng “xuất chúng” của mình.

Còn phần tôi, khi ở Việt Nam, tôi luôn muốn vượt trội hơn các bạn cùng trang lứa và thích được nổi tiếng khắp xóm làng. Hàng ngày, sau những giờ làm ruộng rẫy, tôi chịu khó đọc sách. Tôi đọc nhiều sách chỉ để hiểu biết hơn so với chúng bạn và muốn chứng tỏ cho mọi người thấy tôi là xuất chúng, là nhà “bác vật” tinh thông mọi thứ trên trời dưới đất.

Như “ngựa non háu đá”, tôi đã thử tài với các bộ môn nghệ thuật như vẽ, làm thơ, viết văn, viết nhạc, đánh đàn. Tôi học làm mọi thứ không vì nghệ thuật mà chỉ mong được cái danh họa sĩ, thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ, “đàn sĩ”.

Tôi xin vào đội văn nghệ xã, đánh đàn guitar được mấy lần trong các buổi biểu diễn của đội. Anh đội trưởng nói với tôi:

- Em qua diễn kịch đi.

Có thể, anh thấy tôi đàn không hòa chung với ban nhạc, nhưng không nói thẳng. Tôi hỏi:

- Anh thấy bản nhạc em sáng tác được không?

Anh ấy đáp:
- Có nửa bài coi được.

Từ “đàn sĩ, nhạc sĩ” tôi thành “kịch sĩ”. Qua nhận vai kịch, tôi chỉ toàn đóng vai phụ. Chờ hoài mà không được lên vai chính, tôi từ giã đội văn nghệ vì đội không biết trọng “nhân tài” gì hết.

Có lần tôi mua được một bức tranh chân dung vẽ bằng màu nước, không có tên tác giả. Tôi sắm các dụng cụ cọ, bút, giấy, màu, sơn để tập vẽ bằng cách họa lại bức tranh đó. Khuôn mặt của người đàn ông trên bức tranh tôi mua, đăm chiêu, toát lên vẻ uyên bác, còn khuôn mặt tôi vẽ thì nhăn nhó như đang đau bao tử. Tôi vẽ chồng lớp này lên lớp khác, cọ sát đến sờn nát mặt giấy mà vẫn không giống được.

Tôi chuyển qua vẽ trên vải. Tôi vẽ đi vẽ lại, vật lộn với bức tranh, màu nước dính loang lổ đầy người. Vậy mà bức tranh nào tôi vẽ ra cũng đau khổ, không vì bệnh này thì bị bệnh khác. Chán nản, tôi vất bỏ các bức tranh vào thùng rác.

Có đứa bạn đến nhà tôi chơi. Thấy bức tranh tôi mua và các vật dụng hội họa, nó tưởng lầm tôi vẽ nên nói:

- Mày vẽ đẹp quá mà giấu nghề nghe.

Tôi chưa kịp nói gì thì nó lại khen lấy khen để làm tôi không có cơ hội đính chính. Rồi không hiểu sao, chắc có lẽ để loè thằng bạn, tôi mỉm cười và chẳng nói gì như kiểu họa sĩ khiêm nhường.

Thế rồi tin đồn tôi là họa sĩ vang ra khắp xóm làng. Nhiều người mang hình ảnh đến nhờ họa lại, tôi từ chối bằng nhiều lý do. Từ chối không được, tôi trốn tránh như con nợ. Tôi lâm vào tình cảnh họa sĩ khiêm nhường khổ sở. Đúng là mình làm cho mình khốn đốn mà.

Thấy mình không có năng khiếu vẽ, tôi chuyển qua làm thơ, viết văn. Tôi mày mò viết được mấy đoản văn và làm được vài bài thơ tình cảm sướt mướt. Tôi đọc cho bạn bè nghe, chúng khen quá trời trời. Những lời khen làm tôi híp mắt, sướng ngây ngất đến mấy ngày. Tôi lập đi lập lại từng lời khen của các bạn trong đầu đến thuộc lòng.

Trong các buổi tụ tập đông người, tôi gợi ý với bạn:
- Trong những bài thơ của tao, mày thấy câu nào hay nhất?

Nếu nó khen thì tốt, tôi có cớ để lôi các bài thơ ra đọc. Nếu nó không nói gì, tôi cũng lấy các bài thơ ra đọc để mọi người biết được tài làm thơ của tôi hay ho như thế nào.

Có vài bạn xin chép lại các đoạn văn, bài thơ, tôi không cho vì sợ chúng ăn cắp bản quyền. Tôi gửi mấy bài thơ lên toà báo và chờ đợi ngày cả nước được đọc những áng thơ bất hủ của mình. Ngày vinh quang của tôi đến rồi.

Tôi chờ hoài, mua bao đợt báo mà không thấy các bài thơ của tôi đâu. Những bài thơ của tôi trốn trong tủ đến lên mốc lên meo. Cuối cùng tôi chấp nhận, mình cũng không có khiếu về thơ văn. Niềm hứng thú văn chương và thi ca của tôi vụt “tắt lịm như ngọn đèn trước cơn bão tố”.

Dù làm nhiều việc kết quả không được như mong muốn, nhưng nếu buông xuôi, không làm gì thì tôi sống không vui. Tôi dặn lòng, đừng để niềm tin đạt được danh hiệu cỡ “trạng nguyên” của mình bị sứt mẻ.

Qua đến Mỹ, tôi chợt nhận ra, chỉ cần được sống bình thường thôi là đã hạnh phúc lắm rồi. Hơi đâu mà phiền muộn vì hư danh không đạt được trong cuộc sống. Các danh xưng chỉ nhất thời, trong khi đời còn những điều khác có giá trị hơn chúng nhiều.

Từ đó tôi biết, thói hám danh chỉ như đuổi hình bắt bóng nên đã làm nhiều cách để thuần bỏ nó. Nói thì dễ, nhưng bệnh hám danh khó chữa trị lắm các bạn ạ, loại bỏ nó không phải một sớm một chiều mà được. Thói háo danh luôn chờ đợi cơ hội để quấy rối cuộc đời mình, dù trẻ hay già. Cũng may, não của tôi chưa xác lập háo danh thành một thói quen xấu. Nếu bạn nào lỡ mắc phải thói háo danh hão như tôi thì xin chúc thành công trong việc từ bỏ nó nhé.

Bây giờ, tôi sống thực tế hơn nhiều, không quá tự tin hay quá tự phụ. Tôi hài lòng làm một nhân viên kỹ thuật trong một công ty tư nhân và hạnh phúc với những gì mình đang có. Mỗi người có một mục đích riêng trong cuộc sống. So sánh với hai bạn tôi, tôi không đạt kết quả to lớn thấy rõ như bạn A và cũng không lâm vào cảnh dở khóc dở cười như bạn B. Bản tính có thể thay đổi, nhưng một số người không thay đổi hoàn toàn, vì vậy cuộc đời chúng tôi không giống nhau.

Có phải là số phận hay vì bản tính, tư duy và cách sống mà từ đó cuộc đời mỗi người đi đến thất bại hoặc thành công khác nhau.

Phước An Thy

Blog Archive