Showing posts with label Chu Lynh. Show all posts
Showing posts with label Chu Lynh. Show all posts

Sunday, October 15, 2017

Quê hương của tôi


Ngày rời Việt Nam, mẹ tôi đưa cho tôi một nắm đất lấy từ sau vườn. Không hiểu sao mỗi lần nhìn lại nắm đất đựng trong chiếc hộp nhựa trong suốt, tôi luôn luôn nghĩ trong nắm đất có giọt nước mắt mẹ tôi. Mẹ tôi bảo khi đến nơi lạ, nướng nắm đất lên rồi nấu nước uống, sẽ tránh được bệnh “lạ nước lạ cái”.

Tôi không làm theo lời mẹ tôi khi đến nước Mỹ. Tôi muốn giữ nguyên nắm đất quê nhà. Tôi cũng không muốn nước mắt mẹ tôi tan loảng vào thứ nước lạ. Dường như nắm đất đã đem lại cho tôi những may mắn nào đó trên bước đường tha hương, nên di chuyển đến nơi nào, tôi cũng mang theo. Lúc nào nắm đất cũng nằm cạnh hình ba tôi trên bàn thờ.

Tôi sinh ra bên kia bờ vĩ tuyến, cuộc đời nổi trôi dọc theo chiều dài đất nước. Một tuổi thơ bơ vơ nơi làng quê nghèo đói, được kết thúc bằng chặng đường cam go để vượt qua giòng Bến Hải gặp lại ba tôi. Những năm tháng miệt mài trong các trường nội trú. Nghiệp thư sinh đầy hứa hẹn đành dang dở để đi theo tiếng gọi của non sông. Hết chiến tranh, tôi bị lùa vào hơn mười trại tập trung đầy ải và thù hận của Bắc quân. Ra khỏi vòng lao lý là những ngày mưu sinh cùng cực bằng đũ phương kế để sống sót. Rồi bổng nhiên như có tấm thảm thần đưa tôi đến một thế giới khác.

Những năm tháng cuối đời tha hương, ngày lao đao với sinh kế, đêm về bồi hồi nhớ người nhớ cảnh, cái đau thân xác sao bằng cái đau trong hồn. Có khi nghĩ về cuộc đời bèo dạt của mình đã gắn liền với vận nước, như đứa bé bám vào vú mẹ đầy thương tích trên quốc lộ máu trong chiến trận Bình Long. Người mẹ cuối cùng đã chết, nhưng đứa con mồ côi phải sống. Tự thâm sâu của lòng mình, như có một chất liệu còn sót lại, không là hoài bảo ngày xưa, không là mưu cầu hôm nay, cũng chẳng phải là ước vọng ngày mai cho riêng mình: tình yêu quê hương và món nợ đất nước.

Tôi muốn về thăm mẹ tôi lần cuối trước khi bà ra đi.

Trước ngày trở về, tôi nhìn nắm đất hằng giờ, ước hẹn ngày trùng phùng một quê hương đã bỏ lại sau lưng. Quê hương chính là người mẹ đưa tôi vào đời, dẫn tôi đến trường, nhắn nhủ ngày tôi lên đường nhập ngũ, vỗ về tôi trong cơn tuyệt vọng chốn lao tù, và đôi khi trong đêm tối loé sáng mời gọi về tương lai.

Như chuyện thần thoại bí ẩn hay chuyện võ lâm hoang đường, ai đã cấy vào lòng đứa bé một hạt giống ngày cất tiếng khóc chào đời: làng quê tôi. Mảnh đất chôn nhau cắt rốn ấy đã ấp ủ tôi, nuôi tôi khôn lớn, và theo tôi suốt cuộc đời.

Làng tôi nghèo nhất vùng, không có sông, chẳng có núi, chỉ có những mảnh ruộng nhỏ. Nuôi sống dân làng vào mùa khô là những gánh củi, bó mây, lấy từ những cánh rừng rất xa. Nghề đan lát là sở trường của dân làng giúp miếng cơm manh áo vì lúa khoai không đũ ăn. Mùa đông, những ngọn gió thổi từ Lào qua lạnh thấu xương. Không có chăn mền, anh em tôi phải vùi vào lớp rơm vây quanh dưới giường. Không manh áo, lạnh run với cái quần cụt, chiều chiều ngồi ở ngạch cửa, anh em tôi ngóng chờ mẹ trở về từ cánh đồng Lâm Xuân hay từ ngôi chợ Hòa Ninh ở đâu đó thật xa.

Khi ba tôi trốn chạy Việt Minh rồi biền biệt phương Nam, thì ở quê nhà mẹ tôi tất bật với ruộng đồng nuôi đàn con thơ dại. Những khi nghe ai hát bài Bà Mẹ Quê, tôi cứ nghĩ bà mẹ trong bài hát chính là mẹ tôi vất vả trăm chiều nuôi một đàn con chắt chiu – bà mẹ quê, hôm sớm không nề hà chi – bà mẹ quê, ngày tháng không ao ước gì, nhỏ giọt mồ hôi, vì đời trẻ vui …

Nhưng rồi, mẹ và anh em tôi phải rời quê cha đất tổ, theo đoàn người di cư vào Nam. Tôi mang theo trọn vẹn hình ảnh ngôi làng quê và những kỷ niệm tuổi ấu thơ.

Anh em tôi gặp lại ba tôi mừng mừng tủi tủi, khi ông trở về từ một cuộc hành quân dài ngày ở Quảng Trị. Một đời cho gia đình, thế mà ba tôi đành biệt âm trong Nam mấy năm trời, sau này tôi mới biết, nếu ở lại quê nhà, ba tôi sẽ bị quy chụp là phản động, làm sao thoát được những màn đấu tố man rợ của Việt Minh. Đối với tôi, ba tôi là hình ảnh của lòng chung thủy, là cây đại thụ của gia đình. Những ngày cuối cùng trên giường bệnh, trong cơn đau nát ruột của căn bệnh, với trí nhớ khác thường, ba tôi đã kể lại cho tôi nhiều chi tiết về giòng họ, để có cuốn gia phả đầy đũ ngày hôm nay.

Từ miền Trung xuôi về Nam như đi trong khung trời mới thênh thang, nhưng dường như vẫn có gì trống vắng, như thể nửa phần hồn tôi đã để lại quê nhà.

Ngày đi học ở Tam Kỳ, một hôm tôi bỏ học theo một đứa bạn cùng lớp, lang thang vào một ngôi làng. Lạc đường, mỏi chân, đói bụng, hai đứa ghé vào một ngôi nhà tranh. Nghe tiếng chó sủa, một bà cụ già chầm chậm chống cửa lên. Khi biết chúng tôi đi lạc, bà kêu một đứa cháu dẫn đường.

Trước khi đi, bà lấy cây sào chọc trái đu đũ chín cho chúng tôi ăn. Bà nhìn hai đứa bé đói ăn sạch trái đu đũ. Tôi ngước mắt nhìn lên khuôn mặt bà. Ôi chao, khuôn mặt bà sao giống khuôn măt bà cố ngoại tôi ngày tiễn gia đình tôi vào Nam. Da nhăn nheo, mái tóc bạc, mắt xa xăm, nhưng sao nét mặt đầy nhân hậu. Phải chăng, đó là nét nhân hậu trên mọi khuôn mặt những người mẹ Việt Nam.

Năm lớp ba Tiểu Học ở Mộ Đức, để đến trường, tôi phải đi bộ mỗi ngày gần bốn cây số đường làng. Ngôi trường mái ngói chỉ một gian dành cho hai lớp học chung nằm giữa ruộng mía. Giơ tay xin thầy đi tiểu là tôi lọt giữa ruộng mía ngọt lịm tha hồ mà cạp.

Thầy Ba thương tôi nhất lớp vì tôi không can dự vào việc chia phe đánh lộn. Tan học, thầy bắt tôi đi theo thầy một đoạn trên đường về, đôi khi mưa gió, tôi được nép sát vào lòng thầy. Một hôm, sau bài tập đọc Ngày Nay Học Tâp, Ngày Mai Giúp Đời, thầy xoa đầu tôi và hỏi tôi lớn lên có muốn làm tổng thống không. Cho đến bây giờ, đã học qua bao nhiêu thầy, đối với tôi, thầy Ba là người thầy tôi ngưỡng mộ nhất, vì thầy đã gieo vào lòng tôi ý niệm giúp đời ngay từ khi còn nhỏ.

Tôi không được làm tổng thống như thầy mong muốn, nhưng tôi hãnh diện đã đứng trong hàng ngũ cầm vũ khí bảo vệ mảnh đất quê hương mình. Ước gì tôi được về lại Mộ Đức tìm thăm mộ thầy để thắp một nén nhang của đứa học trò thầy thương nhất lớp. Thầy Ba, chẳng bao giờ con quên được thầy, dù đã hơn năm mươi năm trôi qua.

Tết Trung Thu ở Sa Kỳ, trường tổ chức rước đèn. Trên đường quê leo lét những ngọn đèn dầu, đoàn người với những lồng đèn Trung Thu đũ loại, xen kẽ những con ngựa giả đi một vòng ngôi làng. Đi qua mỗi nhà, lại thấy dân chúng và trẻ con thích thú nhập vào giòng người.

Trở về lại trường, học sinh reo lên khi nhìn một dảy thúng kẹo của quân đội mang đến. Đứa nào cũng căng đầy túi bánh kẹo. Chiến tranh ở một nơi nào đó, còn xứ Sa Kỳ này vẫn thanh bình êm ã. Không phải ngôi làng tôi, nhưng sao tôi yêu thương mảnh đất này như chính nơi mình đã sinh ra.

Năm 1962, trường Thiên Hữu ở Huế tổ chức đi xe đạp xuyên tỉnh. Hơn ba mươi học sinh vượt đường dài sáu mươi cây số, ghé Quảng Trị một đêm, sáng hôm sau đi xe đò ra Bến Hải. Đứng bên này cầu Hiền Lương, tôi nhìn lá cờ thật dày cứng đơ bên kia sông, trong khi lá cờ vàng bên này uốn lượn trong gió ban mai. Nhìn về xa xăm, tôi tự hỏi, làng tôi đâu đó cuối chân trời, bây giờ ra sao? Bà cố tôi còn sống hay đã đi vào lòng đất?

Mấy anh lính chèo đò đưa học sinh ra gần giữa sông. Lảng vảng gần giữa giòng vài chiếc thuyền nhỏ. Một người lính cho hay, đó là thuyền của những nhân viên hợp tác xã miền Bắc, nhưng họ là những tên do thám thay nhau dò chừng phía Quốc Gia. Tôi hỏi người lính làm sao có thể về thăm quê tôi, anh trả lời: “Họ sẽ cho em về, nhưng không bao giờ em được trở lại miền Nam”…

Tôi thầm thì với nắm đất, như thì thầm với bà con nội ngoại ngày xưa đã nuôi tôi khôn lớn…

Số phận tôi luôn luôn sống xa gia đình. Ngay từ ấu thơ, tôi đã không có vòng tay ba tôi. Di cư vào Nam, tôi ở với gia đình được vài năm, sau đó ba tôi gởi vào các trường nội trú. Khi lớn lên, ba mẹ tôi vào lập nghiệp mãi tận rừng già Bình Long, tôi vẫn ở lại Huế đi kèm trẻ để có phương tiện tiếp tục học hành. Bước vào quân ngũ, tôi đóng quân những đơn vị xa nhà. Những ngày về phép đối với tôi quý như vàng. Tôi thích lẩn quẩn bên gia đình vui đùa, ăn uống, chụp hình kỷ niệm. Đôi khi tôi tự hỏi, sao các anh em khác luôn luôn được sống bên cạnh ba mẹ, mà tôi lại chịu cảnh xa gia đình. Có phải vì thế mà tôi thường hay tủi thân mỗi khi nhìn thấy một gia đình ấm cúng.

Đời lính ngang dọc, đi qua những ngôi làng, tôi thường liên tưởng đến ngôi làng nghèo đói của mình. Tiếng chó sủa về đêm, tiếng khóc trẻ thơ, ruộng bắp sắp đến ngày hái, những ống quần xăn cao trên cánh đồng vào mùa cấy lúa, những ánh mắt ngây thơ hay những khuôn mặt nhăn nheo là những hình ảnh dễ làm tôi xúc động. Một đôi khi, nhớ tuổi thơ, ao ước một ngày nào đó được về lại quê mình, tôi thường rướm rướm nước mắt như một đứa bé.

Lúc còn dưới mái học đường hay khi đã vào lính, tôi thường nắn nót chép lại những bài hát về quê hương. Tôi thích những bài hát nói về xóm nghèo, cánh đồng, cây đa đầu làng, những con đường xưa lối cũ, hát lên là nghe rung động từng đường gân thớ thịt…

Tôi ngắm nhìn nắm đất quê hương, muốn một lần tạ tội với tổ tiên bởi mình đã không được làm gì để ngăn giòng thác bạo lực…

Một miền Nam đang sống no ấm với ruộng đồng, bỗng nhiên những kẻ lạ mặt đến ép buộc tiếp nhận những điều họ không bao giờ cần đến, và bị tước đoạt đi những thứ họ đang cần cho cuộc sống. Tàn phá và gieo chết chóc được biện minh cho những nhu cầu xây dựng một thiên đường xa vời. Trong đầu óc non nớt, đứa bé như tôi chỉ thấy sự tàn ác và phi lý. Người lính chết ngoài trận địa, nhưng bom đạn cũng không tha người dân quê. Nhà cháy, cầu sập, những thi thể máu me của người dân lành đã tạo ra những câu hỏi nhức nhối cho cậu bé còn trên ghế nhà trường. Tôi chưa hiểu được những nguyên nhân gây nên chiến tranh, nhưng tôi mơ hồ những thôn tính miền Nam được điều khiển từ một nơi nào đó rất xa. Có lẽ những đêm đấu tố ở làng Thọ Linh anh em tôi chứng kiến trước ngày di cư vào Nam như là những cảnh báo một miền Nam yên lành sẽ đến phiên mình.

Cuộc đổi đời bắt đầu từ ngày 30 tháng tư năm 1975, đã tạo ra một thảm kịch toàn diện. Kẻ ra đi chia lìa thân thuộc, để tìm hơi thở tự do bất chấp sống chết trong rừng sâu hay biển rộng. Người ở lại bị tước đoạt gia sản, bị kiểm soát lối sống và cả giòng tư tưởng. Những người vô sản từ rừng núi nào đó chui ra thành phố, trong phút chốc nghiểm nhiên thành những tay giàu có, mà hai mươi năm trước đây chính họ đã mở chiến dịch đấu tố.

Một khuôn mẫu tổ chức kỳ lạ vay mượn từ một nơi xa lạ, bỗng nhiên áp đạt vào một xã hội được xây dựng từ hằng ngàn năm nay. Nền móng bị xới tung, thay vào đó những luật lệ kỳ quái, những lời dạy bảo của những con người rừng rú không cần chữ nghĩa. Gia đình, đạo đức, truyền thống, tình tự dân tộc trở thành vô nghĩa. Cướp bóc, tận diệt, dối trá trở thành những tiêu chuẩn đạo đức của một chủ thuyết lạ lùng không có huyết thống nào với dân tộc. Cùng khắp miền Nam phủ trùm nỗi sợ hãi, khiến có người hăng say phất cờ mọi nẽo phố chứng tỏ đồng tình, rút vào rừng sâu làm kẻ tiền sử, hay đành phó mặc số phận cho chủ nhân mới định đoạt.

Có phải họ là những sứ giả đến từ địa ngục? Họ say sưa triệt phá xã hội hiện tại, hứng thú thiết lập xã hội mới, sẽ đi về đâu có lẽ họ cũng chưa hình dung được. Họ gọi đó là xã hội chủ nghĩa. Từ đây, bào thai mới tượng hình hay cụ già cong lưng trên thửa ruộng cần phải được thay máu mới. Họ gọi máu đó là tư tưởng mác lê. Theo lời họ, thiên đường cộng sản với thế giới đại đồng, một ngày không xa nữa, chỉ cần đưa tay ra là có thể đón lấy..

Tôi hăm hở trốn chạy cái thiên đường đó, bỏ lại gia đình, quê hương, ngôi làng. Tôi không nghĩ mình sẽ có ngày trở lai. Ngày rời quê hương, tôi không biết mình may mắn hay bất hạnh. Ngôi làng tôi, quê hương tôi dường như đã thuộc về quá khứ.

Nhìn nắm đất, tưởng như đây là nắm đất thành Sion mà dân Do Thái mơ về, những ngày lưu đày bên bờ sông Babylone.

Suốt một tuần lễ chăm sóc mẹ tôi vừa thoát cơn bệnh thập tử nhất sinh, hầu như tôi không có thì giờ để nhìn sự đổi thay của đất nước. Cho đến khi về Sài Gòn chuẫn bị về quê, tôi mới giật mình. Xứ sở này đang thay đổi với tốc độ chóng mặt. Chiều hướng thay đổi rõ ràng không nhắm vào những công ích xã hội hay những người nghèo khổ, mà như chỉ phục vụ tầng lớp cầm quyền.

Ngoài đường xe cộ đũ loại lao đi như bị một lực phía sau thúc đẩy, để phóng đến những mục tiêu nào đó thật xa không định hình được. Nhà cửa nguy nga mọc lên phô diễn quyền uy của những chủ nhân mới. Trên đường phố, trong chợ, nhan nhản hàng giả bày bán công khai. Sự gian dối trong buôn bán hay giao tiếp như một nhu cầu để sống còn.

Trong câu chuyện với những người tiếp xúc, tôi không gặp được mấy người lưu tâm đến sinh tồn của đất nước. Đôi khi họ mù mờ về những thông tin trong nước mà người hải ngoại biết rất rõ.. Giới trẻ hối hả lao vào những dịch vụ mới lạ có thể đem về lợi tức nhanh chóng. Có lẽ bởi không còn khả năng nhồi nhét lý thuyết không tưởng vào giới thanh niên, để sống còn, người cộng sản đành dùng sách lược cuối cùng, là tạo ra một lớp người chỉ biết kiếm tiền và hưởng thụ để tiêu diệt mọi mầm mống thay đổi hay phản kháng.

Trong một quán phở ỏ ngoại ô Sài Gòn, một em bé đến mời tôi mua vé số.. Trên ngực còn phù hiệu học sinh, cô bé khoảng mười tuổi, hơi nhỏ con, mắt rất sáng nhưng tiếng nói lại quá nhỏ. Tôi lấy một tấm vé và đưa cho em tờ hai mươi đô. Em ngơ ngác không dám nhận, em nói chưa bao giờ thấy loại tiền này, chỉ xin một ngàn đồng tiền Việt. Tôi hỏi thăm em vài câu trong lúc vét hết mớ tiền Việt trong túi.

Cha em đạp xích lô vừa bị tai nạn đang nằm bệnh viện, mẹ em bỏ gánh hàng rong vào nuôi người bệnh. Hai đứa em nhỏ gởi ông bà nội. Tan học là em ra đại lý nhận vé số đi bán, mỗi ngày kiếm được mấy lít gạo cho gia đình.

Cầm mấy trăm ngàn trong tay mà môi em run run, mắt em ươn ướt. Em lí nhí cám ơn, rồi lặng lẽ ra đi. Trước khi khuất vào một con hẻm, em còn ngoái lại nhìn tôi thật lâu. Ước gì có một tay nhiếp ảnh nhà nghề lúc này. Ông ta sẽ làm mờ đi mọi thứ chung quanh, điều chỉnh máy vào đôi mắt của em, để có tấm hình về một sản phẩm của xã hội. Trong đôi mắt em, có nét đẹp của lòng hiếu thảo, có nét ngây thơ của thiên thần, thiên thần bị đọa đày xuống trần gian Việt Nam. Có khác chi tấm ảnh đã phổ biến rộng rãi trên truyền thông, vào giai đoạn thế giới đã cạn nguồn từ tâm với những người tỵ nạn khốn khổ: tấm hình đứa bé ngồi sau hàng kẻm gai trại tỵ nạn Hồng Kông trước ngày đóng cửa.

Tận cùng một con hẻm ở quận Ba, tôi gặp một cựu viên chức chế độ miền Nam. Ông nguyên là giáo sư Sử Địa. Ông quanh quẩn trong căn phòng với sách vở, dạy dỗ con cháu, chiều chiều làm bạn với bông hoa. Ông thường không trả lời các câu hỏi, chỉ thở dài. Ông nói ông không muốn dạy địa lý cho con cháu, e rằng không thể cầm phấn mà vẽ lại bản đồ Việt Nam. Ông cũng không muốn dạy lịch sử, e rằng không còn đũ sức nói hết pho sử của những tên gian hùng thời đại. Ông lại thở dài. Ông chỉ dạy con cháu đạo lý làm người.

Cuối cùng, ông cũng có cái nhìn rốt ráo về những người đang cai trị: đừng mong cảm hoá người cộng sản. Nói rồi ông lại thở thật dài..

Tôi ra về, bị ám ảnh về tiếng thở dài sau năm 1975. Một cán bộ cao cấp của Mặt Trận Giải Phóng bị lột sạch công lao, bị tước đoạt mọi quyền làm người, chỉ được tự do … đi lại trong nhà, không một phản ứng nào ngoài tiếng thở dài. Một điệp viên nhị trùng sau khi hoàn tất sứ mạng trong lòng đối phương, tưởng rằng sẽ trở thành anh hùng đi vào lịch sử, đâu ngờ phải ký tên vào bản cam kết im lặng cho đến khi bước qua thế giới bên kia. Đành thở dài cho hết kiếp. Một cán bộ “Câu Lạc Bộ Kháng Chiến”, ngao ngán tình đồng chí, bị cô lập, ôm mớ huy chương trong tay mà thở dài.

Tôi đi giữa phố phường, bàng hoàng nhìn lớp son phấn mới, bỗng thấy mình như một Từ Thức từ cảnh tiên trở về, không phải ngỡ ngàng nhìn quê hương không còn người xưa cảnh cũ, mà nghĩ đến những câu thơ của nhà thơ Trần Dần:

Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ.”

Tôi trở về ngôi làng yêu dấu của tôi. Mới đó mà đã năm mươi năm như bóng câu qua cửa. Câu hỏi lẩn quẩn trong đầu tôi suốt chặng đường dài xuyên Việt: làng tôi, ai còn ai mất?

Đón tôi ở nhà ga Minh Lệ, những người bà con vẫn với cái giọng miền quê ngồ ngộ, họ ôm chầm lấy tôi như vừa tìm lại đứa con thất lạc nửa thế kỷ nay. Tôi đã về lại giữa vòng tay của thân thuộc và xóm làng. Một vài đứa em lặng lẽ lau nước mắt. Bút nào tả hết cái tình người cùng quê cha đất tổ, chỉ có những người trong cảnh ngộ mới hưởng được thứ hạnh phúc đẫm nước mắt này.

Việc đầu tiên là nhờ mấy cậu dẫn tôi tìm lại căn nhà ba mẹ tôi. Tất cả đã thay đổi. Mảnh đất hiện do một người người cậu tàn tật ở, với căn nhà tranh xiêu vẹo, khác xa với căn nhà ba gian xinh xắn ngày xưa, cột bằng gỗ lim, mái bằng cây vọt, với hai cây mít sây trái sau nhà.

Chỉ còn vết tích cây khế cuối vườn, ai đã cưa đến tận gốc, nhưng vẫn còn mọc ra những nhánh con xum xuê. Tôi đứng lặng người nhìn cây khế mà nhớ đến ba mẹ tôi đã đổ bao mồ hôi gầy dựng cơ ngơi này.

Tôi nhắm mắt lại hồi tưởng những ngày thơ dại. Ôi chao, đây là mảnh đất tôi đã sinh ra, lớn lên giữa vòng tay nội ngoại. Một tuổi thơ nghèo đói nhưng êm ái biết dường nào. Cho đến khi Việt Minh về làng mở những cuộc đấu tố ngay trước nhà thờ, bắt trẻ con học nhảy những vũ điệu Trung-Xô, thì tuổi thơ tôi là những ngày nơm nớp sợ hãi. Co ro trong đống rơm dưới giường, anh em tôi cứ mơ tưởng ba tôi trở về đem mấy mẹ con đến một nơi nào đó.

Tôi đã về lại với những dấu tích xưa. Nhưng dường như những dấu tích ấy đang bị phủ lên một màu sắc kỳ lạ. Toàn thể ngôi làng được phân từng lô nhỏ vì dân làng sinh nở đông đảo, cây lúa được cấy sát vách nhà vì không đũ đất. Lủy tre xanh, con đường um tùm cây dứa xuyên qua làng dẫn đến một đầm nước nổi tiếng nhiều ma trơi, hai cây ngô đồng trước nhà thờ, nơi diễn ra những cuộc đấu tố cuối cùng, tất cả đã biến mất. Cái nghèo dường như còn nghèo hơn năm mươi năm trước. Cảnh vật cũ không còn nữa mà là một bức tranh xa lạ. Ngôn ngữ dân làng dùng trong giao tiếp mang một âm điệu khó nghe. Cung cách nói năng như phải tuân theo một khuôn mẫu nào đó.

Chỉ còn một thứ quen thuộc: tiếng chuông nhà thờ. Nhưng là tiếng chuông mời gọi tín đồ đến sám hối, nghe ra không là tiếng chuông loan báo điềm lành tương lai. Những kẻ tội đồ của dân tộc sao không đến tòa giải tội, mà nạn nhân lại cầu xin Chúa thứ tha? Thôi thì nghe theo lời một linh mục, việc Chúa làm người thế gian không tài nào hiểu được.

Buổi sáng từ giả, đứng trên mảnh đất thân yêu, nước mắt lưng tròng, tôi mơ hồ làng quê tôi đã mất. Chiếc túi đang mang trên vai đựng máy chụp hình, máy quay phim, trở thành vô dụng. Thôi thì tất cả hình ảnh thu được bằng mắt hôm nay hảy để vào một góc trong tâm tưởng.

Quê hương tôi, sau ngày im tiếng súng, tưởng đã thấy hòa bình, lại vỡ ra từng mảnh. Mẹ lên núi tìm xương con mình, con bỏ trường bỏ lớp bươi rác kiếm ăn, cha đi hết trại giam nầy đến trại tập trung khác.. Mảnh vỡ văng bốn phương trời, qua các nhà chứa trên đất Miên, đến hòn đảo xứ Tàu làm nô lệ, trôi dạt mãi tận phương Tây mà sống sót, và một mảnh vỡ bất hạnh đã chìm xuống tận biển sâu làm những oan hồn lịch sử. Bên kia biển Thái Bình, ruột đã đau chín chiều, về đây lòng bỗng quặn thắt.

Nhưng người Việt Nam sẽ không là người Do Thái bên bờ sông Babylone, than khóc thành thánh Sion. Người Việt Nam nặng nợ với non sông biết mình sẽ phải làm gì để mời gọi con cháu dự phần vào việc xây dựng tương lai Việt Nam. Một Việt Nam cho dân tộc Việt Nam, với màu lúa chín vàng rực, không là màu máu đang nhuộm lên đất nước này.

Tôi có một người bạn đến cư ngụ tại tiểu bang Massachussetts, lúc mà đốt đuốc ngày đêm mới tìm được vài người Việt Nam. Anh cảm thấy lạc lõng từ ngoài đường phố, nơi làm việc đến khi về nhà. Một hôm ghé vào tiệm thuốc tây, anh chợt nghe phía sau kệ hàng tiếng hai mẹ con nói chuyện. Giọng nói nghe quen quen. Lại gần, anh sững sốt nhận ra họ nói tiếng Việt.

Bà mẹ trẻ chưa đến ba mươi, đứa bé gái khoảng sáu bảy tuổi. Anh lặng lẽ theo sau họ một khoảng cách thật lâu, cho đến khi hai mẹ con hốt hoảng biết có người theo dõi. Anh luýnh quýnh, thú thật bao nhiêu năm nay không được gặp một người nào nói tiếng mẹ đẻ của mình. Đối với anh, nghe họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt như thấy lại được quê hương.

Lần đầu tiên trong đời, tôi tổ chức mừng sinh nhật cho mình. Tôi không mời một ai ngoài con cháu. Nhìn mấy đứa cháu ngoại quanh quẩn bên mình, tôi cảm nhận một thứ hạnh phúc lạ lùng vượt lên những hạnh phúc riêng tư đời thường. Ðứa nhỏ nhất bốn tuổi, đứa lớn nhất đã lên tám. Sau cái chết tức tưởi của đứa con đầu lòng, hôm nay tưởng chừng Thượng Ðế đã bù đắp lại cho tôi bằng những đứa cháu xinh ngoan. Chúng nói tiếng Mỹ như suối chảy ở trường học, chúng ăn đồ ăn Mỹ mỗi ngày, chúng hưởng tiện nghi dồi dào của xã hội, nhưng chúng vẫn nói tiếng Việt mỗi khi sà vào lòng tôi.

Hôm nay tôi cũng hưởng được thứ hạnh phúc tuyệt vời như người bạn khi nghe bên tai những đứa cháu líu lo tiếng mẹ đẻ – tiếng của quê hương ngàn đời, từ lúc chào đời đến khi về với lòng đất. Trong nỗi đau chín chiều nơi xứ lạ quê người, tôi vẫn còn quê hương bên mình.

Nén hương lòng cho người đã sinh ra con.

Chu Lynh

Thursday, March 30, 2017

Xứ Người Hồn Việt


blank
Một góc của dàn đại hợp xướng Ukraine tại Kyiv đang trình diễn tác phẩm “Ca Ngợi Tự Do” của nhạc sĩ Lê Văn Khoa.

Viết từ Ukraine

Thứ Sáu ngày 23.9.2016.

Lần thứ hai tôi đến Kyiv. Năm năm trước là để thu hình ban nhạc National Presidential Orchestra trình diễn bản Quốc Thiều Việt Nam cho phim tài liệu Hồn Việt. Lần này vừa thu hình các buổi trình diễn nhạc Việt của Kyiv Symphony Orchestra, vừa phỏng vấn một số nhân vật cột trụ trong giới âm nhạc Ukraine cho cuốn phim về nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Họ là nhạc sĩ, giáo sư âm nhạc, nhạc trưởng, nhà nghiên cứu về âm nhạc nổi tiếng của Ukraine, một đất nước vừa thoát khỏi bóng ma cộng sản sau khi Nga sô sụp đổ.

Xuống phi trường, cứ nghĩ sẽ có một người da trắng cầm bảng tên đón vợ chồng chúng tôi như lời dặn trong email, nhưng lại thấy hai bàn tay vẫy của anh Khoa và chị Ngọc Hà.

Lên taxi về thành phố, thấy khuôn mặt tài xế hao hao giống ông Putin, nhưng tướng tá rất hiền lành. Đưa tay bắt, tôi nghe anh nói Thank you, rồi không nói thêm câu nào nữa. Phần tôi vốn liếng tiếng Ukraine cũng chỉ có một tiếng Dyakuyu thay cho tiếng cám ơn. Chúng tôi nhìn nhau cười thông cảm.

Khung cảnh quen thuộc hiện ra. Đường sá và nhà cửa của thủ đô Kyiv vẫn không thay đổi mấy so với năm năm trước đây. Vẫn là những chung cư cũ kỹ, đường phố thưa thớt người. Có vẻ như phương Tây vẫn chưa hào hứng đầu tư nhiều vào Ukraine. Vì súng vẫn còn nổ dọc theo biên giới miền Đông hay vì Ukraine chưa thực sự mở tung cánh cửa cho phương Tây? Nhìn bước đi chậm rãi của người dân trên đường phố, tôi có cảm tưởng người Ukraine đang gánh trên hai vai vết thương của quá khứ và cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ.

Sau bao năm chịu đựng gông cùm cộng sản, bây giờ Ukraine ra sức phát triển tôn giáo và âm nhạc một cách có hệ thống, dù chiến tranh đang khuấy động miền Đông, hay bị mất đi phần đất quý giá Crimea. Các trường âm nhạc được vực dậy và phát triển quy mô, cùng lúc tượng Lenin trên khắp Ukraine lần lượt bị giật sập trong tiếng reo hò của dân chúng.

Chuyến đi lần trước hay lần này đạt kết qủa là nhờ sự sắp xếp chu đáo của Taras. Anh là nhạc sĩ, nhạc trưởng, giáo sư âm nhạc của Kyiv National University of Culture and Arts, phụ trách giao dịch các hợp đồng trình diễn âm nhạc và là người nói tiếng Anh khá trôi chảy trong giới âm nhạc.

Nhưng hôm nay Taras rơi vào hoàn cảnh thật thương tâm. Taras không đi đón chúng tôi, vì chiếc xe của anh nát bấy trong tai nạn cách đây một năm. Taras và ba đứa con bị thuơng nhẹ, trong khi bà vợ chịu thương tích khá nặng phải chuyển đến bệnh viện Ba Lan vì Kyiv không có đủ phương tiện chữa trị. Tình trạng Kateryna nguy kịch đến độ Taras gần như mất hết hy vọng. Anh lặp lại nhiều lần khi nói với chúng tôi là không ai có thể cứu nổi vợ anh ngoài Thiên Chúa.

Và phép lạ đã xảy ra. Kateryna thoát khỏi tử thần, nhưng phải qua mấy lần giải phẫu, và sang năm còn phải thêm một hai lần nữa. Cô là nhạc sĩ nổi tiếng về sử dụng cây đàn dân tộc Bandura, và là người trình diễn xuất sắc bản dân ca Trống Cơm và Se Chỉ Luồn Kim do anh Khoa soạn cho đàn Bandura độc tấu với dàn nhạc giao hưởng.

Khi Taras báo tin buồn, từ Hoa Kỳ anh chị em trong Vietnam Film Club cùng một số thân hữu đã kịp thời giúp gia đình anh một ít viện phí. Mối giao tình càng thêm đậm đà khi gia đình Taras biết chúng tôi trở lại Kyiv lần thứ hai.

Còn nhớ ngày tổ chức sinh nhật 80 của anh Khoa tại California năm 2013, tôi đã hối thúc anh thực hiện cuốn phim này, nhưng anh cứ chần chờ. Bốn năm sau, có lẽ anh đã hiểu ra tại sao Vietnam Film Club muốn thực hiện cuốn phim về anh.

Năm 2013, các thân hữu của anh Khoa đã thực hiện một cuốn sách đồ sộ có tựa đề Lê Văn Khoa – Một Người Việt Nam. Cuốn sách tổng hợp nhiều bài viết và hình ảnh giá trị về sự cống hiến của anh cho đất nước về các lãnh vực giáo dục thiếu nhi, tôn giáo, nhiếp ảnh và âm nhạc.

Tuy nhiên, người đọc khó có thể “nghe” âm nhạc qua văn viết. Từ nhu cầu đó, Vietnam Film Club muốn thực hiện cuốn phim như một thư viện trên không (YouTube), để nhạc của anh được nhiều người thưởng thức và những dữ kiện về âm nhạc cần được lưu giữ cho những ai quan tâm đến việc phát triển nhạc Việt.

Khi hiểu được những năm tháng còn lại của anh có thể đếm trên đầu ngón tay, chúng tôi ráo riết thu thập tài liệu, gấp rút phỏng vấn những nhân vật liên quan đến sự nghiệp của anh.

*
Thứ Bảy, ngày thu hình và thu âm ban nhạc Kiyev Symphony Orchestra trình diễn các bản nhạc cho CD của anh Khoa tại studio chính đã được tân trang lại. May mắn lần này có nhạc sĩ Lê Minh Khải, trưởng nam của anh Khoa từ Thượng Hải bay qua. Anh sẽ phụ giúp anh Khoa về nhạc và giúp tôi chụp hình các buổi trình diễn.

Chuyến đi lần này của chúng tôi nhằm hỗ trợ cho cuốn phim nói về những đóng góp về nghệ thuật trên 60 năm của anh Khoa cho đất nước. Trong đó sẽ nhấn mạnh đến nỗ lực của anh khi ra hải ngoại: đem nhạc Việt đến với thế giới.

Thu âm và thu hình kéo dài đến ba ngày. Công việc khá phức tạp. Trước khi trình diễn, ban nhạc còn phải tập dợt thêm nhiều lần. Nhạc trưởng điều khiển ban nhạc, nhưng lại tuỳ thuộc sự kiểm soát của chuyên viên thu âm. Anh Khoa thỉnh thoảng trao đổi với nhạc trưởng về một sai sót nào đó. Thật đáng nể phục khi nhìn thấy kỷ luật, thiện chí, kiên nhẫn vì nghệ thuật của các nhạc sĩ. Để được một bản nhạc giao hưởng thu âm trọn vẹn là cả một khổ công của tất cả nhạc sĩ và chuyên viên.

Xen kẻ trong những ngảy này là các cuộc phỏng vấn được thực hiện tại các địa điểm khác nhau: Chủng viện St. Michael, Ukrainian National Philharmonic, Lysenko Boarding School, Studio của Kyiv, và tại chung cư chúng tôi trú ngụ. Các nhân vật trong giới âm nhạc được phỏng vấn gồm:

Dmytro Stepovk, Tiến sĩ về Art Science, Philosophy và Theology.

Taras Stolyar, Nhạc sĩ Bandura.

Violetta Dutchak, Tiến sĩ, Trưởng Phân Khoa Dân Nhạc của V. Stefanyk Carpathian National University.

Svyatoslava Semchuck, Nhạc sĩ độc tấu Violin của Ukrainian National Philharmonic.

Alla Kulbaba, Nhạc trưởng chính của National Opera và Kyiv Symphony Orchestra.

Irina Starodub, Giáo sư Piano của Tchaikovsky National Academy of Music.

Yuri Pogoretsky, Nhạc sĩ Cello.

Lyudmila Chychuk, Nhạc sĩ Piano, Giáo sư Nhạc Thính Phòng của Lysenko Boarding School, trường dành riêng cho thần đồng nghệ thuật.

Nội dung các cuộc phỏng vấn xoay quanh các chủ đề: Nghệ thuật hoà âm và phối khí của nhạc sĩ Lê Văn Khoa – Sử dụng cây đàn dân tộc Bandura của Ukraine để trình diễn dân ca Việt Nam – Nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa đã dùng âm nhạc để đưa hai nền văn hóa Đông Tây lại với nhau. Và sau hết là cái nhìn từ các nghệ sĩ Ukraine về nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa.

Nhạc của anh Khoa đã được trình diễn và giảng dạy tại một số trường âm nhạc Ukraine. Điều quý hơn nữa là họ đã hiểu được hoàn cảnh lịch sử của dân tộc Việt Nam, có lẽ vì hai dân tộc đều là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản.

Phỏng vấn các nghệ sĩ Ukraine mới thấy họ quý mến tư cách và cảm phục tài năng âm nhạc của anh Khoa. Cô Lyudmila thì cứ gọi anh là Bố Bố. Cô nói rằng trình diễn xong rồi mà nhạc của anh Khoa cứ lẩn quẩn trong đầu.

Tiến sĩ Violetta Dutchak, Trưởng Phân Khoa Dân Nhạc của V. Stefanyk Carpathian National University khi hay tin chúng tôi đến Kyiv, đã mua vé xe lửa từ miền Tây vượt quảng đường bảy tiếng đồng hồ để gặp anh Khoa và trả lời cuộc phỏng vấn của Vietnam Film Club. Xong công việc, bà đi ăn tối với chúng tôi rồi quay lại trạm xe lửa trở về cho kịp hôm sau đi dạy học.

Là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc lâu năm, bà đưa ra nhận xét:

“Đối với tôi, những bản nhạc soạn cho đàn Bandura của Lê Văn Khoa quả là biểu tượng cho sự hội tụ của hai nền văn hoá Đông Tây, cho sự kết hợp các quốc gia lại với nhau”.

Trong lúc đi bộ trong thương xá, chúng tôi thấy có hai người đang chơi đàn Bandura. Cảnh này khiến anh Khoa kể lại câu chuyện các nhạc sĩ mù ngày xưa đã dùng tiếng đàn Bandura để kích động lòng yêu nước trong dân chúng. Ảnh hưởng của họ đã làm Stalin khiếp sợ nên tìm cách gom lại một chỗ hằng trăm nhạc sĩ mù trên toàn quốc rồi giết hết.

Nhạc trưởng Alla Kulbaba cũng đã hoãn chuyến bay đi trình diễn tại Hòa Lan để đến Studio điều khiển ban nhạc. Xong phỏng vấn, bà đi ngay ra phi trường cho kịp chuyến bay.

*
Chúng tôi dành hai ngày để ra ngoài, trước hết là đến công viên sát bờ sông gần chung cư. Đây là chỗ rất thơ mộng cho những cặp tình nhân chụp hình, với nền cảnh sau lưng là con sông phẳng lặng như giòng sông Hương Việt Nam. Chỉ thiếu con đò với tà áo dài trên sông.

Chúng tôi lên taxi đến thăm Đài Tưởng Niệm 10 triệu nạn nhân chết vì nạn đói do Stalin gây ra. Một công trình nghệ thuật độc đáo. Ngôi tháp cao ngự trên mặt phẳng rộng, từ đó du khách có thể nhìn bao quát một cảnh trí hùng vĩ. Chúng tôi đi xuống tầng hầm. Nơi đây dành cho nghi thức tưởng niệm các nạn nhân. Không gian im lặng, chỉ có những ngọn nến leo lét làm trung gian chuyển lời cầu của người sống đến người chết.

Sau đó chúng tôi viếng Viện Bảo Tàng Đệ Nhị Thế Chiến (National Museum of the History of Ukraine in the Second World War) toạ lạc trên một vị trí cao có thể thưởng ngoạn khung cảnh rộng lớn của thủ đô. Đặc biệt, tôi thấy khá nhiều người trẻ đến đây.

Trong khi mọi người say mê chụp hình, thì Lyudmila dẫn tôi vào trong Viện Bảo Tàng. Nhìn những bức hình nạn nhân Ukraine, những dụng cụ tra tấn, không thể không nghĩ đến những nạn nhân của chiến dịch đấu tố tại miền Bắc thập niên 50, càng không thể quên được mấy ngàn người bị chôn sống trong cuộc thảm sát tại Huế năm 1968. Vietnam Film Club cũng đã thực hiện Video tài liệu về hai đề tài này trên Youtube, một nơi tạm thời ghi nhớ tội ác trước khi có một viện bảo tàng được thiết lập trong tương lai.

Nếu các viện bảo tàng tại các xứ cộng sản được dựng lên để kích động hận thù nơi người xem, thì nơi đây, tôi chỉ thấy nét ngậm ngùi trên khuôn mặt du khách. Trước mắt tôi là chứng tích về những khổ đau và chịu đựng của một dân tộc. Hiểu biết tội ác trong qúa khứ để không cho nó tái diễn trong tương lai, tôi nghĩ đó là thông điệp chính của Viện Bảo Tàng.

Ngày hôm sau, chúng tôi đến thăm khu chợ trời. Đây là khu buôn bán hàng hóa bình dân của người Việt xen lẫn với những sạp hàng của người bản xứ. Cũng có người Việt lập gia đình với người bản xứ và cả nhà cùng ra đây buôn bán. Tuy nhiên vào thời điểm này hàng hoá bày ra nhiều nhưng khách mua rất thưa thớt.

Chúng tôi ghé một tiệm ăn, đúng hơn là một chỗ nhỏ hẹp để bán thức ăn. Chú quán cho biết đa số khách ăn là chủ các sạp hàng, ít khi thấy khách du lịch đến đây.

Một thanh niên Việt tâm sự. Tuy lợi tức không được bao nhiêu, nhưng anh vẫn bám nơi này, vì không có khả năng làm các công việc văn phòng, và cũng rất khó tìm ra việc. Ở đây chỉ việc đóng thuế cho chủ chợ mỗi tháng là xong, không phải đút lót cho bọn bảo kê hay công an khu vực như ở Việt Nam. Theo anh nói, thà sống qua ngày ở đây còn hơn trở về Việt Nam.

Một thanh niên khác có ý mời chúng tôi về nhà anh chơi, nhưng đành từ chối vì chúng tôi không có nhiều thì giờ. Nói chung, người Việt ở đây lo làm ăn, không có chuyện trồng cần sa, buôn lậu, buôn người, bảo kê như ở Tiệp Khắc hay Ba Lan. Sau đó, chúng tôi mời họ chụp chung vài tấm hình. Dù thế nào họ và chúng tôi là những kẻ tha hương, cầu thực hay tỵ nạn, đều chẳng biết quê nhà là đâu.

Hôm sau, Taras tổ chức đi thăm dinh cựu Tổng thống Viktor Yanukovych, là nhân vật trong biến động năm 2014 bị dân chúng áp lực phải rời nhiệm sớ rồi trốn qua Nga. Trong bốn năm trị vì, ông đã chiếm khu vực rộng lớn này, nguyên trước đây là một tu viện, biến thành dinh thự riêng với những tiện nghi xa hoa. Hiện nay địa điểm này lôi cuốn rất đông khách du lịch.

Chúng tôi phải thuê một chiếc xe để có thể nhìn được các cơ sở như dinh Tổng thống, nhà khách, công viên giải trí, và nhiều kiến trúc phục vụ cho nhà lãnh đạo Viktor Yanukovych. Khu vực nằm cạnh con sông lớn với hàng rào sắt kiên cố. Có thể nói không nơi nào rộng lớn, với một môi trường thiên nhiên đẹp như khu vực này.

Trở về chung cư, chúng tôi rũ nhau ra siêu thị mua thực phẩm về nấu ăn. Không biết tiếng Ukraine nên toán người Việt này như những kẻ nhà quê ra tỉnh. Cuối cùng rồi cũng có một người đến chỉ cách sử dụng máy trả tiền. Dường như ngưởi đàn ông đã theo dõi toán người ngớ ngẩn này ngay từ đầu. Chúng tôi lại có dịp dùng chữ Dyakuyu nhiều lần để cám ơn người đàn ông tử tế.

Ra khỏi siêu thị, thấy mấy người đàn bà bán những món hàng thủ công và các loại nông sản. Họ bình thản mỉm cười như một lời mời. Không có săn đón, mời mọc, lôi kéo. Tôi tự hỏi, họ kiếm được bao nhiêu tiền mỗi ngày trong khi chỉ bày bán vài thứ lặt vặt. Như một thú vui giữa trời chăng?

Tôi thích ngắm người dân Ukraine thong thả đi bộ trên đường phố. Không có nét hấp tấp, cãi vã ồn ào. Không có nét xa hoa hay phô trương nơi các toà nhà, hay trong cách ăn mặc. Trong chung cư hay trong siêu thị, ngoài đường hay trên xe buýt, tôi không thấy cảnh chen lấn, mọi người đi lại, ăn nói từ tốn. Thời tôi đi học, đường phố Sài Gòn và hôm nay đường phố Kyiv, gần như cả hai khung trời và con người đều giống nhau.

Dường như họ bằng lòng với những gì đang có, và không phiền trách xã hội chậm phát triển. Nhìn phong cách của họ, tôi có cảm tưởng họ vẫn còn nỗi buồn quá khứ về một giai đoạn lịch sử đau thương, khiến họ phải cẩn thận hơn khi mà hiện tại chưa phải là mảnh đất bình yên.

Bỗng nhiên tôi thấy mình gần gũi với những người Ukraine này. Họ nghèo nàn, nhưng đời sống họ không bị xáo trộn và xã hội không bất ổn như Việt Nam tôi hiện nay. Đất nước họ không có đấu tố, không có cướp đoạt đất đai tài sản mỗi ngày, không có những cán bộ vung tay nhảy xổm lên đầu người dân hò hét vinh quang hay tự hào vô lối những gì mình không có.

Bước vào phòng được một lúc, thì cả gia đình Taras đến thăm chúng tôi. Có thể thấy ngay đây là một gia đình đạo đức và hạnh phúc. Hai cậu con trai đến chào từng người, trong tay là hộp chocolat làm quà cho chúng tôi. Hai cậu bé có dáng dấp như hai công tử quý phái. Đến lượt Kateryna xuất hiện. Khuôn mặt cô khác với trước đây, nhưng cô vẫn tươi tắn và tự nhiên. Cô luôn miệng cám ơn chúng tôi đã hỗ trợ gia đình cô sau tai nạn năm ngoái.

Tối thứ Năm, chúng tôi đến studio để nghe lại việc thu âm, mới thấy sự vất vả của chuyên viên thu âm. Anh Khoa ngồi bên cạnh người nghệ sĩ, cùng xem lại từng đoạn nhạc để điều chỉnh. Đây chính là giây phút người nghệ sĩ Ukraine chờ đợi cái gật đầu của người nhạc sĩ Việt Nam để cả hai hoàn tất trọn vẹn những tác phẩm nghệ thuật. Nhanh chóng, tôi cầm máy quay lên lặng lẻ thu hình.

Hai người nghệ sĩ đã vượt lên trên biên giới đất nước mình, biến âm nhạc thành một ngôn ngữ để thưởng thức, để chia sẻ, và để cảm thông. Nếu nhân loại cần một thức ăn mời gọi mọi người từ các nơi về, thì âm nhạc chính là món ăn cần thiết cho đời sống.

Trước ngày đi Ukraine, anh Khoa nói đây là chuyến đi cuối cùng. Vậy mà bây giờ ý nghĩ ấy biến mất. Taras vừa mở ra một cánh cửa mới: một buổi trình diễn âm nhạc quốc tế, trong đó dành một phần riêng để trình diễn nhạc của Lê Văn Khoa, dự trù sẽ tổ chức năm 2017 tại Ukraine. Họ cho biết chương trình tổ chức sẽ không thiếu phần diễn thuyết của anh Khoa về âm nhạc.

*
Trên đường ra phi trường, nhìn anh Khoa rồi nhìn Taras, tôi chợt thấy một điều lý thú. Con người Nam Bộ Lê Văn Khoa và con người Taras từ hai phương trời Đông Tây, cùng một đam mê âm nhạc, cùng một tâm nguyện phục vụ xã hội, đang hội tụ nơi một miền đất đầy khát vọng hòa bình.

Một sự trùng hợp khác nữa. Anh Khoa sinh năm con gà 1933, năm có 10 triệu nạn nhân Ukraine chết đói. Tôi sinh năm con gà 1945, năm có gần hai triệu người Việt chết đói. Bây giờ cả hai cùng đến đây để làm một cuốn phim không phải để hận thù qúa khứ, mà để đưa nhạc Việt cất cao trên vòm trời âm nhạc của thế giới.

Anh Khoa đã từng ước mơ:

“Tôi chỉ có niềm kiêu hãnh về dân tộc Việt và mong muốn góp một phần khiêm nhường trong việc đưa văn hóa Việt ra khỏi biên cương Việt Nam, đồng thời hy vọng được mở một cánh cửa nhỏ cho nhạc Việt tung bay. Hy vọng thế hệ tiếp nối sẽ đi xa hơn để gieo nhạc Việt vào lòng người yêu nhạc trên khắp thế giới”.

Viết từ nước Mỹ

Lâu lắm rồi tôi không xem chi tiết trên Youtube về các phim tài liệu của Vietnam Film Club, chỉ hằng ngày nhìn qua số lượng người xem của từng Video. Hôm nay tôi muốn đi một vòng.

Bỗng giật mình. Số người xem trong nước trên 80%, cao nhất so với toàn cầu. Khác xa với hai năm trước đây là Hoa Kỳ dẫn đầu. Đáng nói hơn nữa là độ tuối người xem từ 18 đến 34 vào xem nhiều nhất, thay vì người lớn tuổi như tôi nghĩ.

Phải hiểu như thế nào đây? Giới trẻ đã quay lưng lại với truyền thông nhà nước cộng sản để hướng ra bên ngoài tìm sự thật? Những hiện tượng thay đổi mới đây của người dân trong nước có xu hướng nhìn lại văn hóa của xã hội miền Nam trước năm 1975 hay hiện tượng người dân không còn sợ hãi bạo lực trấn áp của nhà cầm quyền như trước đây, tôi nghĩ tôi có thể trả lời câu hỏi của chính mình.

Thì ra những cuốn phim tài liệu của Vietnam Film Club tưởng như cần một thời gian dài cho mưa thấm đất, bây giờ đã thấy tín hiệu của kết quả. Nghĩ lại mà thấy con đường dài nhiều khó khăn của tổ chức từ ngày thành lập, và cũng vui mừng vì anh em đã không mặc cảm phải có bằng cấp chuyên nghiệp, ngân khoản tài trợ sẵn sàng mới thực hiện được. May mắn, chúng tôi đã tạo được một mạng lưới với các nhà nghiên cứu, các nhân chứng để thu thập tài liệu và được hỗ trợ các nhu cầu khác. Với chúng tôi, đối tượng của các phim tài liệu ưu tiên hướng về người dân trong nước. Họ cần thông tin thật để thay thế cho hệ thống tuyên truyền từ hơn nửa thế kỷ nay.

Thật là một nghịch lý cho nghề nghiệp khi đặt ưu tiên là đề tài và nội dung của dự án thay vì tài chánh. Liều lĩnh chăng, khi mà trước mắt bao nhiêu là nhu cầu, chưa nói đến kiến thức chuyên môn và thời giờ cần đầu tư cho các dự án. Máy móc trang bị để làm phim, tốn phí di chuyển nhiều nơi để phỏng vấn, và những nhu cầu khác suốt hành trình thực hiện. Không có một nhà tài trợ, chỉ có tự lực cánh sinh. Vậy mà như một chuyện khó tin, đến hôm nay không một ai trong Vietnam Film Club mắc phải nợ nần.

Vậy thì phải cám ơn Trời, cám ơn những người đã hỗ trợ chúng tôi bằng nhiều hình thức, về tinh thần hay phương tiện, trực tiếp hay gián tiếp, trong nước hay tại hải ngoại, người Việt Nam và cả người ngoại quốc.

Chúng tôi muốn đưa lên cao một đối tượng khác cần phải cám ơn một cách đặc biệt. Nước Mỹ. Cưu mang và hỗ trợ. Nước Mỹ. Một môi trường thuận lợi. Nước Mỹ. Những phương tiện hữu hiệu và những con người tốt bụng.

Tôi nhớ lại hai cuốn phim tiêu biểu trong hàng chục cuốn phim của Vietnam Film Club đã thực hiện: Hồn Việt và Hồn Tử Sĩ. Hai cuốn phim này có sự tương quan đến kỳ lạ. Năm 2003, tôi về thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, thu hình được 15 phút về hiện trạng của nghĩa trang, trong khi tứ phía là bộ đội canh gác hạn chế mọi thăm viếng và chụp hình bị nghiêm cấm.

Toàn nghĩa trang là một cảnh tượng hoang phế và bị phá hoại đến nát lòng người viễn xứ. Tôi đã nhìn thấy một bia mộ có sơn lá cờ vàng bị đục nát. Hình ảnh đó in vào tâm trí tôi để 10 năm sau cuốn phim Hồn Việt và 13 năm sau là phim Hồn Tử Sĩ được thực hiện về lá cờ vàng và Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà.

Có những may mắn và thuận lợi đến ngạc nhiên khi thực hiện hai cuốn phim này. Như khi chúng tôi qua Sundre, ông Roy Cummings, cựu thị trưởng Sundre ở Canada và hai nghị viên thành phố bất ngờ đến gặp chúng tôi và muốn được phỏng vấn, chỉ vì họ là những nhân vật chủ chốt cho phép treo cờ vàng trên thành phố Sundre.

Hay như ông Craig Van Hoy, người đầu tiên cắm lá cờ vàng trên đỉnh núi Everest năm 2004. Ông không yêu cầu chúng tôi đến Seattle mà tự lái xe chở ba đứa con về Portland giúp chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn.

Có thể nào chúng tôi thực hiện được những cuốn phim tài liệu này ngay tại Việt Nam hôm nay?

Cám ơn nhiều lần Nước Mỹ, quê hương thứ hai của người Việt tỵ nạn.

Viết từ trái tim Việt

Từ lầu bảy, tôi nhìn xuống phố Shirlington chìm trong màn tuyết trắng xoá. Có lẽ đây là trận tuyết cuối cùng trên vùng thủ đô nước Mỹ. Đường phố buổi sáng chưa có một dấu chân đi qua. Mùa đông và mùa xuân như đang cùng nhau sắp xếp sinh khí mới cho những ngày xuân đang lảng vảng quanh đây.

Tôi đến sở làm hơi sớm, nên có thì giờ ngắm tuyết. Năm nào tôi cũng háo hức đón mùa tuyết, dù mưa tuyết lất phất quyến rũ hay bảo tuyết làm trở ngại lưu thông. Với tôi, nhà cửa vắng lặng dưới khung trời tuyết thường tạo nên cảm giác bình yên.

Đột nhiên hình ảnh mẹ tôi chợt hiện ra trong màn tuyết, như một tín hiệu khó hiểu đưa tôi về quá khứ của mẹ. Mẹ tôi ra đi đã năm năm, nhưng tôi cảm thấy năm năm này tôi lại gần gũi với mẹ tôi hơn hết trong đời. Có thể vì ngày mẹ mất, tôi đã không có mặt để tiễn biệt. Có thể vì mỗi đêm tôi có vài phút trò chuyện với mẹ trên bàn thờ, trên đó vẫn còn nắm đất quê hương mẹ đưa cho tôi ngày tôi rời Việt Nam qua xứ người.

Trước mắt tôi bây giờ là một bà mẹ quê như hình ảnh người mẹ trong bài hát Bà Mẹ Quê của Phạm Duy. Đôi khi tôi nghĩ tác giả đã sáng tác bài này cho chính mẹ tôi. Mẹ tôi tần tảo nuôi mấy anh em ngoài Bắc trong khi ba tôi biền biệt trong Nam. Những chuyến tôi theo mẹ vào Nam thăm ba tôi qua những con đường đầy mạo hiểm giữa hàng rào kiểm soát của Việt Minh. Những cuộc chạy loạn trong rừng giữa bom đạn và đói khát. Những ngày mẹ mòn mỏi trông ngóng ba anh em tôi trở về từ các trại tập trung. Rồi những ngày cuối đời mẹ lặng lẻ trên chiếc xe lăn nhìn vào xa xăm khi mà anh em tôi trôi dạt nơi quê người.

Nhưng trên hết những cảnh lặn lội đầy hiểm nguy hay thương tâm ấy, là một bà mẹ suốt đời sống vì đất, vì gia đình. Một đời mẹ tôi chỉ biết chồng con và làng xóm. Vậy mà bà mẹ quê, đã nuôi chúng tôi ăn học thành người, để rồi ngang dọc đời lính, và cuối cùng được sống trong một khung trời tự do.

Tôi nhìn nắm đất quê hương trên bàn thờ. Bỗng tôi giật mình. Có phải mẹ tôi đã ngầm nhắn nhủ điều gì đó khi đặt nắm đất vào tay tôi trước ngày ra đi?

Quê nhà là đâu? Là khi có mẹ bên mình. Bây giờ mẹ ở xa quá, nên quê nhà của tôi cũng xa vời vợi. Nhưng tôi vẫn thì thầm với mẹ tôi, bà mẹ quê, bà mẹ Việt Nam muôn thuở, hình ảnh đẹp nhất của quê hương và của đời tôi, hãy theo tôi những năm tháng còn lại nơi xứ người.

Virginia, ngày 5.3.2017

Chu Lynh

Blog Archive