Showing posts with label Ngôn ngữ. Show all posts
Showing posts with label Ngôn ngữ. Show all posts

Saturday, August 15, 2026

Chữ nghĩa thời nay

Lứa tuổi của tui được liệt vào thế hệ trước. Tui được đi học cách đây đã lâu lắm rồi. Hồi đó Thầy Cô dạy môn Quốc Văn dạy kỹ lắm. Kỹ từng chút về lỗi chính tả, từng dấu chấm dấu phết, kỹ từng lỗi văn phạm, kỹ từng chữ về cách sử dụng từ ngữ….

Thầy Cô còn dạy hãy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Chúng tôi, ai cũng cố gắng nhớ lời Thầy Cô. Tui còn nhớ tới những chi tiết rất nhỏ trong nhiều bài học. Thí dụ tên người, tên địa danh thì luôn phải viết hoa. Không được viết tắt những chữ không được phổ biến (nếu phải nhắc đi nhắc lại một cụm từ nào đó trong một bài viết thì “được quyền” viết tắt với điều kiện có mở ngoặc đơn để ghi chú cho người đọc hiểu). Còn khi viết thế kỷ thứ mấy thì con số phải được viết bằng số La Mã sau chữ thế kỷ. Thí dụ: thế kỷ XV chẳng hạn. Khi đó dù không có chữ “thứ” trước số XV chúng ta vẫn đọc là thế kỷ thứ mười lăm. Còn nếu viết bằng số bình thường thì phải ghi chữ “thứ” trước con số. Thí dụ: Thế kỷ thứ 15.

Loáng một cái mấy chục năm trôi qua…. Chữ nghĩa bây giờ được sử dụng một cách vô tội vạ, đọc mà thấy hồn vía giật tanh tách. Thí dụ một bữa tiệc linh đình thì được nhiều người nói là “ăn hoành tráng”. Còn tên người, danh từ riêng hoặc tên địa danh thì rất nhiều người viết thường không viết hoa khiến người đọc phải khựng lại một hồi mới hiểu được ý nghĩa của câu văn. Đã vậy còn gặp những chữ viết tắt theo ý riêng của người viết thì phải căng con mắt ra mà đọc và xé cái não ra để suy nghĩ rất mất thì giờ may ra mới hiểu được.

Chưa kể có nhiều từ ngữ được sử dụng lộn tùng phèo về ngữ nghĩa, nhưng lâu rồi thành quen nên những từ ngữ đó được mặc nhiên công nhận.

Tui có lụm được một số từ ngữ. Xin đưa ra đây để cùng “mua vui cũng được một vài trống canh”.

Thí dụ:
1/ Em sẽ THIẾT KẾ một buổi gặp mặt cho anh/chị với ông A.

2/ Vô quán ăn, khách chưa có chỗ ngồi. Người phục vụ nói:”Em sẽ CƠ CẤU cho anh hai ghế.”

3/ Người nầy quánh người kia thì được nói là “Thằng A TÁC ĐỘNG VẬT LÝ lên đầu thằng B.”

4/ Nghỉ làm việc theo quy định thì được nói là NGHỈ CHẾ ĐỘ.

5/ Nhà giàu có hoặc khá giả gọi là NHÀ CÓ ĐIỀU KIỆN.

6/ Một người nghèo nào đó được vay tiền ngân hàng thì gọi là TIẾP CẬN NGUỒN VỐN. (Trong khi chữ tiếp cận được dùng trong trường hợp tiếp cận mục tiêu, một nơi chốn nào đó).

7/ Rồi từ đâu không biết, bỗng dưng xuất hiện chữ bức xúc để thay thế cho tất cả những khái niệm về sự giận dữ hoặc không hài lòng. Trong khi về trạng thái tâm lý nầy có nhiều mức độ khác nhau. Từ trạng thái không hài lòng dẫn tới bực mình, dần dần tới ghét, căm t.h.ù… vân vân, cuối cùng tất cả những trạng thái tâm lý đó được gọi chung là bức xúc. 

8/ Chữ hoàn cảnh để chỉ cho tình thế mà một người nào đó đang gặp phải chuyện không may hoặc đáng thương. Thí dụ: Chị B đang rơi vào hoàn cảnh rất là bi đát.

Nhưng “ngôn ngữ mới” bây giờ thấy ai đó rơi vào hoàn cảnh éo le chẳng hạn thì nhiều người cho rằng “Anh ấy rất là hoàn cảnh.”

9/ Chữ tâm trạng thường được dùng để chỉ trạng thái tình cảm của ai đó. Ngày nay chữ tâm trạng lại được nhiều người thay cho một thái độ không vui hoặc băn khoăn suy nghĩ của ai đó. Thí dụ: Anh ấy rất là tâm trạng.

10/ Ngày xưa còn có Câu Lạc Bộ Bơi Lặn Dưới Nước Bến Nghé nữa! Nghe sao mà dài dòng, từ ngữ bị sử dụng rườm rà. Trời đất quỷ thần ơi! Mắc cái chi mà phải ghi rõ là đã bơi thì phải lặn? Lại phải lặn dưới nước chớ không được lặn trên khô. Chi bằng cứ ghi đơn giản hai chữ Hồ Bơi rồi ai muốn bơi thì bơi, muốn lặn thì lặn - không lặn cũng không sao. Không ai bị bắt nằm dài ra phạt trăm hèo vì bơi mà không lặn. Rồi ai muốn tắm khô thì tắm, muốn tắm ướt thì cứ tha hồ.

11/ Về hưu thì chỉ dùng một chữ gọn lỏn là “về”.

12/ Ăn ở tiệm xong, gọi tính tiền thì nói là “thanh toán” nghe mà tóc tai dựng ngược vì tưởng….

Tui không phải là người giỏi về ngôn ngữ nên cách phân tích của tui chỉ theo suy nghĩ cảm tính của riêng tôi nên có thể có nhiều chỗ không chính xác. Đó chỉ là cảm nhận của riêng tôi vì thấy nhiều chuyện ngược ngạo với những gì tui đã được học và ngược với những gì được quy định trước đây.

Nếu có gì sơ xuất xin các bậc giàu chữ nghĩa bỏ qua cho và góp ý thêm. Rất chân thành cảm ơn.

Đừng coi thường những lỗi trên đây nếu chúng ta muốn giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Xuan Huong

Tiếng Nam Kỳ !


Người xưa có câu "nét chữ, nết người", chuyện cái nết xài chữ nghĩa nó cũng y chang vậy.

Chữ nghĩa cất lên như cái mộc đóng vô thịt da, vừa thốt ra lời là thấy rõ gốc gác, nguồn cội của người nói ở đâu, đặng mà biết hành xử cho hợp.

Chỉ cần đọc một bài viết, hay nghe loáng thoáng mấy câu bình luận là biết liền người này mang căn cốt Sài Gòn, người kia là dân TPHCM, ông này rặt nết Nam Bộ, bà kia mang hơi hướm miền Trung, hay ông đó mang ngữ điệu đất Bắc.

Nó hiện lên tỏ tường từ cách nhấn nhá từ ngữ, lối buông lời bộc bạch, cho tới phong cách.. sai chánh tả cũng mang cái hồn cốt rất riêng của từng xứ sở.

Ở đây, chỉ xin nói chuyện cái nết ăn nói của người miền Nam mình, so với cái lối xài chữ "hầm bà lằng" thời nay.

Cùng một ý niệm, người miền Nam quen xài chữ Quân lực, thì ở chỗ khác lại chuộng chữ Quân đội.

Chuyện đi quân dịch xưa với đi nghĩa vụ quân sự nay, xét về bổn phận thì cũng vậy thôi, nhưng cái hồn cốt đàng sau mỗi chữ lại gợi lên hai ý niệm hoàn toàn khác biệt.

Trong bản nhạc "Chiều mưa biên giới" có câu:

- "Người đi khu chiến thương người hậu phương".

Nghe hai chữ khu chiến là thấy liền nét diễn đạt thân quen, dư vị khác hẳn với chữ chiến khu.

Lại như danh xưng Thủy quân lục chiến khi chuyển thành Lính thủy đánh bộ, hay Hàng không mẫu hạm đổi thành Tàu sân bay, nghe qua thấy có chút lạ lẫm. Chắc tại người ta muốn tìm một lối diễn đạt gần gũi hơn.

Nhưng xét về cái lý của chữ nghĩa, nếu muốn tìm sự mộc mạc tuyệt đối, sao không đồng nhất là "Lính nước đánh bộ" cho trọn nét bình dân?

Cũng trong mạch đổi dời đó, hàng loạt danh từ quen thuộc như Phi cơ, Phi trường, Phi đạo, Phi thuyền lần lượt nhường chỗ cho Máy bay, Sân bay, Đường băng, Tàu vũ trụ.

Nhưng lạ cái, tới chữ Phi công với Phi hành đoàn thì lại giữ nguyên trạng. Hình như cái gì chưa tìm ra chữ thuần Việt vừa tai thì ngôn ngữ tự biết dừng lại để chờ..

Nói qua tới chuyện hành chánh và đời sống thường nhựt, cái nét dung hòa của tiếng Nam Kỳ lại càng lộ rõ.

Người miền Nam vốn quen tai với âm Chánh: Chánh phủ, Chánh quyền, Công chánh, hay tánh nết chánh trực.

Giờ đây đa số đã chuyển thành Chính, vậy mà các chức danh như Chánh án, Chánh Thanh tra, Chánh Văn phòng từ xưa tới nay vẫn giữ nguyên, như một nấc trầm chưa bị khỏa lấp.

Trong đời sống thường ngày, có những danh từ nghe qua là nhận diện được nết sống miền Nam cũ, vừa bài bản mà lại mang nét cổ kính như:

- Sổ thông hành, Hồng Thập Tự, Tư dinh, Ngũ Giác Đài, Tòa Bạch Ốc, Bắc phần/Trung phần/Cao nguyên Trung phần, Hoa Thịnh Đốn, Nữu Ước, Mạc Tư Khoa...

Có nhiều người nói thẳng rằng không ưa cách hô địa danh Hán-Việt như vậy, còn dè bỉu.

Mà ngộ, khi cần cất lời ca ngợi, người ta vẫn hát "Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò xứ Nghệ", nghe vừa lạ mà cũng vừa quen.

Hay như tấm Thẻ Căn cước, sau nhiều chặng đường thay đổi danh xưng từ Chứng minh thư thành Chứng minh nhân dân rồi Căn cước công dân, rốt cuộc cái tên nguyên bản đó vẫn đường hoàng trở lại như xưa.

Rồi Nhà bảo sanh, cái tên nghe nhẹ nhàng và tràn đầy tình thương, ai đời lại gắn cho cái tên cứng ngắc: Xưởng đẻ! Nghe như đang tạo ra những sản phẩm công nghiệp từ khuôn mẫu vậy.

Ngó ky vô lối ăn nói của nhiều bạn trẻ miền Nam bây giờ, sẽ thấy vướng vô không ít hư từ lai căng, làm lạt đi cái nết mộc mạc của tiếng xứ mình. Người Nam Kỳ xưa muốn tả cảm xúc mạnh thì nói "dữ chèn", "quá chừng", "thấy ghê", chứ đâu có chêm chữ "vãi" nghe thô ráp và dung tục.

Hay thường đệm chữ "kiểu" (kiểu như là, kiểu kiểu vậy). Nhờ ai cái gì bao giờ cũng nói ngọt xớt: "đưa dùm tui với" hay "làm dùm chút xíu", chứ không ai nói cộc lốc "đưa dùm cái" "cái" là cái gì?

Cái thần và cái nét hay của ngôn ngữ miền Nam xưa vốn nằm ở sự nhịp nhàng, uyển chuyển.

Khi cần sự nghiêm cẩn thì ngôn từ đài các, trang trọng. Còn quay về với đời thường thì mộc mạc, dung dị.

Người ta ít khi nói mấy chữ hùng hồn như khẩn trương, xử lý hay thanh toán, mà chỉ đơn giản là: nhanh lên, giải quyết cho xong, hay tính tiền dùm.

Ngôn ngữ là lớp áo mặc trên mình, thể hiện bản sắc vùng miền. Mỗi nơi chốn có sắc thái riêng, đừng gắn gượng đắp áo của mình lên kẻ khác.

Chim xa cây còn nhớ nhánh, người xa tiếng nói sao đành quên quê...Mong sao qua bao biến đổi của thời gian, người Nam vẫn giữ được cái hồn cốt chân phương của tiếng nói quê nhà, để mỗi lần cất tiếng lên, ta không phải mỏi mắt tìm đồng hương trên chính quê hương mình.

( Không đề tên tác giả )

Monday, August 10, 2026

NHỮNG LỖI DỊCH THUẬT ANH-VIỆT VỀ QUÂN ĐỘI MỸ

5/8/2026
—-

Với bằng cử nhân Anh Văn chính quy từ đại học Khoa Học và Nhân Văn Sài Gòn năm 1998, bằng TOEFL thi năm 1998 đủ điểm để được nhận vào đại học Mỹ, và tiếng Anh đủ chuẩn ngoại giao quốc phòng Mỹ, mình muốn viết bài này dành riêng cho các bạn học tiếng Anh, các phóng viên báo chí, và ngay cả các bạn lớn lên ở Mỹ muốn dịch tiếng Anh sang tiếng Việt.

Cách gọi các cấp bậc và chức danh của quân đội Mỹ là vấn đề rất phức tạp. Một quân nhân Mỹ gốc Việt dù đi lính hết 20 năm cũng không nắm rõ hết. Một chuyên gia dịch thuật có thể dịch cả trăm cuốn sách tiếng Anh, nhưng khi đụng tới ngôn ngữ quân đội Mỹ thì vẫn có lúc sai như thường.

Nói tóm lược thì danh xưng các cấp bậc của quân đội Mỹ chia làm 2 nhóm:

- Nhóm 1 là lục quân (Army), không quân (Air Force) và thuỷ quân lục chiến (Marine Corps/Marines)
- Nhóm 2 là hải quân (Navy) và Tuần Duyên (Coast Guard)

Chú thích:
- Coast Guard ở Việt Nam dịch là Cảnh Sát Biển. Coast Guard có chức năng và nhiệm vụ nhiều hơn là chỉ thi hành pháp luật (law enforcement) của cảnh sát. Cảnh sát biển phải dịch qua tiếng Anh là Maritime Police. Maritime là từ dành chung cho lĩnh vực hàng hải.
- Lục quân là cách gọi quen thuộc của người miền Nam. Sau năm 1975 ngôn ngữ chính thức thường gọi là bộ binh. Nếu là lính bộ binh thì thuỷ quân lục chiến cũng có lính bộ binh (infantry), nên dùng chữ lục quân sẽ phân biệt được với chữ thuỷ quân lục chiến. Trong nước với nỗ lực phi Hán Việt hoá nên họ gọi là lính thuỷ đánh bộ.

Nhóm 1 gọi sĩ quan quân đội Mỹ như sau:

- Second Lieutenant (O-1): Thiếu Uý
- First Lieutenant (O-2): Trung Uý
- Captain (O-3): Đại Uý
- Major (O-4): Thiếu Tá
- Lieutenant Colonel (O-5): Trung Tá
- Colonel (O-6): Đại Tá
- Brigadier General (O-7): Chuẩn Tướng (1 sao)
- Major General (O-8): Thiếu Tướng (2 sao)
- Lieutenant General (O-9): Trung Tướng (3 sao)
- General (O-10): Đại Tướng (4 sao)

Ghi chú:
- O là viết tắt của Officer, tức là sĩ quan quân đội Mỹ
- Cựu thiếu tướng lục quân Lương Xuân Việt đeo lon Major General trước khi về hưu cách đây vài năm.

Nhóm 2 gọi sĩ quan quân đội Mỹ như sau:
Ensign (O-1): Thiếu Uý
Lieutenant Junior Grade (O-2): Trung Uý
Lieutenant (O-3): Đại Uý
Lieutenant Commander (O-4): Thiếu Tá
Commander (O-5): Trung Tá
Captain (O-6): Đại Tá
Rear Admiral Lower Half (O-7): Phó Đề Đốc (1 sao)
Rear Admiral Upper Half (O-8): Đề Đốc (2 sao)
Vice Admiral (O-9): Phó Đô Đốc (3 sao)
Admiral (O-10): Đô Đốc (4 sao)

Ghi Chú: Phó đề đốc là cách gọi của quân đội VNCH. Cách gọi của VN sau năm 1975 là chuẩn đô đốc, tương đương với chuẩn tướng.

Từ cách gọi này, có vài sự hiểu lầm nhưng lặp lại rất nhiều lần. Đó là cấp bậc đại tá của hải quân (Captain/O-6) lại trùng với cấp bậc đại uý của lục quân (Captain/O-3).

Chữ Captain trong hải quân Mỹ cũng có nghĩa là hạm trưởng, dù hạm trưởng của 1 khu trục hạm chỉ đeo lon Trung Tá (Commander/O-5).

Sự nhầm lẫn này phổ biến khi Trung Tá Lê Bá Hùng, khi đó là hạm trưởng của 1 khu trục hạm ghé thăm Đà Nẵng, nhiều báo gọi anh ta là Đại Uý (Captain/O-3), và nhiều nơi gọi anh ta là Đại Tá (Captain/O-6). Tất cả đều sai.

Tóm lại, dù cách gọi như thế nào thì cấp bậc của họ cũng tương đương trong toàn quân đội Mỹ, nhận lương bằng nhau nếu có thời gian phục vụ quân ngũ như nhau. Đại Tá hậu cần hay Đại Tá đặc nhiệm hải quân đều nhận lương cơ bản như nhau nếu có thời gian phục vụ quân ngũ bằng nhau. Lương bổng của quân đội Mỹ không phải là tài liệu bí mật, ngược lại nó công khai trên Internet hay văn bản tuyển mộ lính.

Một sự nhầm lẫn khác mà hầu như 100% báo chí Việt ngữ đều dịch sai. Lính hải quân gọi là sailor, lính lục quân gọi là soldier, lính không quân gọi là airman, lính thuỷ quân lục chiến gọi là marine. Ai cũng là lính Mỹ nhưng vì trong các ngôn ngữ khác, đặc biệt là tiếng Việt, chỉ có một từ là ‘lính’ nên họ chỉ dịch soldier là lính, còn Sailor là thuỷ thủ.
Trong tiếng Việt, thuỷ thủ có thể là thuỷ thủ của tàu hàng, tàu du lịch, tức bên dân sự.

Tới đây chắc mọi người đã hiểu tại sao tôi nói có tới 90% báo chí Việt ngữ viết về quân đội Mỹ không chính xác rồi chứ. Khi rảnh rỗi tôi sẽ viết thêm về cấp chuẩn uý (warrant officer) và các cấp bậc của lính Mỹ.

FB Uyen Vu


Tuesday, August 4, 2026

CHUYỆN “CON KINH” CHỨ KHÔNG CÓ "CON KÊNH"

Miền Nam ngày xưa chỉ nói "con kinh" chứ không có nói "con kênh" tràn lan như bây giờ. Nhiều lúc thấy tức cười, cầu Kinh Thanh Đa cái biển ghi rõ vậy mà lên truyền thông bị biến thành cầu Kênh Thanh Đa, nghe phát mệt!

Con kinh là con sông nhỏ, lấy nước từ sông lớn vào đồng ruộng, thông với những con sông khác. Miền Nam có kinh Bảo Định, kinh Vĩnh Tế, kinh Tàu Hủ, kinh Nhiêu Lôc, kinh Thanh Đa, kinh Nước Mặn, kinh Ông Cò...
Nghe "Bên dòng sông Trẹm" có khúc:

"Tới bên bờ kinh Tân Bằng, Cán Gáo
Ngồi trên đất giồng qua thương chiều lững lơ về
Tình yêu sông nước duyên quê
Nói sao cho vừa miếng trầu gửi bạn tình chung thủy chung"

Kinh Cán Gáo ở Cà Mau là con kinh thẳng như cái cán gáo múc nước. Kinh Cán Gáo nối sông Cái Lớn với rạch Cái Tàu.

Kinh Nước Mặn ở Cần Đước là con kinh dài chỉ 1,9 km, nối sông Vàm Cỏ (sông Bao Ngược) với sông Cần Giuộc (sông Rạch Cát).

Kinh Nước Mặn rút ngắn đáng kể thì giờ trên con thủy lộ độc đạo từ Sài Gòn về miệt dưới Nam Kỳ.

Kinh Nước Mặn dài 1,9 km, cắt cái eo nhỏ của làng Long Hựu, tổng Lộc Thành Hạ, tỉnh Chợ Lớn, ngày nay là Cần Đước Long An, vô tình biến làng Long Hựu từ bán đảo thành ra một đảo nhỏ giữa sông.

Bến đò Kinh Nước Mặn ra đời từ đó và kéo dài tới những năm 2010 khi có cầu thay thế.

Để kiểm soát quân sự thủy lộ, trấn giữ phòng thủ thành Sài Gòn, năm 1903 Pháp xây một pháo đài lớn nhứt Việt Nam tên là Rạch Cát ở đầu làng Long Hựu,mặt nhìn ra 3 nhánh sông.

Kinh Nước Mặn do ông Đỗ Hữu Phương (Tổng đốc Phương) trực tiếp chỉ huy đào.

Trong "Lịch sử khẩn hoang Miền Nam" Sơn Nam viết:

"Tổng đốc Đỗ Hữu Phương.Năm 1878, điều khiển việc sửa con kinh Nước Mặn, bắt dân ở tổng Lộc Thành Hạ làm xâu, dân vùng này nổi tiếng là cứng đầu."

Người Nam Kỳ gọi là kinh Nước Mặn,bằng chứng là kế bên có ngôi chợ rất lớn tên là Chợ Kinh Nước Mặn, nhưng sau 1975 ghi trên bản đồ, trên biển cầu là Kênh Nước Mặn.

Kinh xáng Xà No là con kinh đào dài gần 34 km nối từ Cần Thơ đến Hậu Giang trổ qua tới tỉnh Rạch Giá.

"Hò ơ!
Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No
Anh có thương em thì mua một con đò
Để em qua lại
Hò ơ!để em qua lại thăm dò ý anh"

Kinh được Pháp cho xáng múc từ 1901 - 1903, mặt rộng 60 m, đáy rộng 40 m, kinh phí 3,6 triệu francs.

Xà No là từ tiếng Khmer là Sok Snor có nghĩa là xóm cây điên điển. Xáng thời này đốt bằng củi, tạo ra hơi nước.

Kinh xáng Xà No là đường thủy lớn nhứt Nam Kỳ, quan trọng ngang với đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho.

Từ kinh Xà No, Pháp đào những con kinh nhỏ chạy ngang dẫn nước vô điền, cứ vài trăm mét lại đào một con kinh, địa danh Một Ngàn, Ngàn Rưỡi, Bảy Ngàn, Tám Ngàn tới Mười Bốn Ngàn Rưởi… có từ đó.

Trong văn minh lục tỉnh thì chữ "Xáng" đã trở nên quen thuộc, có một vị trí thân thuộc.

Ở Long Định Tiền Giang có con kinh Xáng và cây cầu Kinh Xáng rất lớn. Ở Tri Tôn An Giang cũng có kinh xáng. Cà Mau có kinh xáng Đội Cường, kinh xáng Bà Kẹo...

Xáng do chữ Pháp chaland (xà lan) mà ra. Do người Pháp đặt cái máy đào có cái hàm cạp đất trên một cái xà lan trên sông nên dân Nam gọi là xáng.

Người Nam Kỳ miệt Sài Gòn, Long An, Gò Công gọi là xáng cạp, Hậu Giang gọi xáng múc, và sau này có thêm xáng thổi.

"Ăn như xáng múc làm như lục bình trôi"

Liệt kê các chợ dọc kinh xáng Xà No như sau : chợ Vàm Xáng, chợ Một Ngàn, chợ Bảy Ngàn, chợ Cái Nhum, chợ Hỏa Lựu, Cầu Xáng, Xáng Mới, Xáng Chìm, Xáng Nổ, Xáng Bộ, xáng Lái Hiếu, xáng Nàng Mau.

Ở Cần Thơ có hồ Xáng Thổi và Búng Xáng

Búng (không phải bún) là cái hồ có con rạch thông với sông. Búng Bình Thiên ở An Phú là nó, còn chợ Búng ở Lái Thiêu cũng là nó, ai nói chợ Búng Lái Thiêu xưa làm bún là sai bét.

Nhờ con kinh xáng, văn minh đã về miệt này, chợ búa, trường học, nhà máy xay lúa, chành chứa lúa gạo đã đem lại văn minh sông nước.

Củ năn ngăn trong lòng son đỏ
Mấy lời to nhỏ: bạn bỏ sao đành
Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành
Tàu Tây kia liệt máy, anh mới đành bỏ em”

Tân Hiệp Kiên Giang có những con kinh mang số. Nhưng tại sao có chợ Kinh 8 mà lại có chợ Kênh 5? Có Bến Đò Kinh 3A lại có Bến Đò Kênh 4?
Vì bị lây con kênh ở vùng khác đem vô.

Nam Kỳ Lục Tỉnh mình miệt nào cũng là miền sông rạch chằng chịt.
Sông thuộc loại lớn có Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ sông Tiền, sông Hậu, sông Cái Lớn, những sông lớn xen kẻ vô số kinh rạch nhỏ không làm sao kể xiết.

Rạch Giá là tên Việt hoàn toàn do ông bà mình đặt. Rạch là con sông nhỏ, Giá là cây giá. Rồi Rạch Nhum, Rạch Đỉa, Rạch Gầm, Rạch Rích, Rạch Thầy Phó, Rạch Sung cũng hoàn toàn Việt.

Khém là cái lạch, cái xẻo hẹp, có cầu Vàm Khém, có khém Rạch Già, sông Khém, cầu Khém Dưới, cầu Khém Trên, kinh Khém Lớn, rạch Khém Vườn.

Vàm là từ gốc Khmer “péam”. Vàm là đầu con rạch ăn thông với sông lớn.
Vàm Láng Gò Công xưa thuộc làng Kiểng Phước, nằm mé bên sông Soài Rạp đổ ra cửa Soài Rạp.

Soài Rạp tức Lôi Lạp xuất xứ từ tiếng Khmer vì đất Gò Công xưa thuộc vương quốc Phù Nam, sau đó bị nhập vào Thuỷ Chân Lạp.

Vàm Láng là một làng mà dân sống bằng nghề đi ghe, đi biển.

“Anh đi ghe lúa Gò Công
Vô vàm Bao Ngược, bị dông đứt buồm”

Lung có gốc từ tiếng Khmer là chỗ trũng quanh năm có nước đọng ở giữa đồng hoặc giữa rừng. Có Lung Tràm, Rạch Lung, cầu Lung Âm, rạch Lung Ấu, Lung Chà Ngo, Lung Ngọc Hoàng.

Nhà văn Bình-nguyên Lộc, một người viết văn có 70% là tiếng Miền Nam, còn 30% còn lại ông bị lây tiếng Bắc.

Thí dụ trong "Đò dọc" ông bị lẫn nhiều tiếng Bắc.

Trái sao, trái dầu bay đẹp mà rơi cũng đẹp. Nhưng trái trắc bay trông lại buồn cười"

Người Sài Gòn nào nói "trông buồn cười", đó là kiểu Bắc, Miền Nam sẽ nói "nhìn thiệt là tức (mắc) cười"

Trong "Căn bệnh bí mật cua nàng" Bình-nguyên Lộc cài chữ "nhà thương", “thích nhứt" nhưng ông lại viết thủ tiêu chữ "bịnh" mất tiêu luôn, thay bằng bệnh và ốm, còn "vâng" và "anh ạ" nữa chứ!

Cụ thể là:

"Vâng, tôi vừa ốm khỏi anh ạ! Mà cả nước Pháp đều không biết tôi mắc bệnh gì, cái mới nguy cho chớ!"

Trong bài "Thơ Ba mén" nhà văn Miền Nam “thổ ngơi thơm phức hồn ma cũ”có câu:

"Bến Ông Lãnh màn mưa bao phủ
Ghe thương hồ ủ rũ dưới kia
Ghe ơi, vài bữa ghe về
Nhắn người dưới ruộng, cô Quì còn không?"

Như đã từng nói, người Miền Nam không đặt tên con là Vượng vì đọc chữ Vượn hay Vượng đều như nhau.

Thì cũng không có người Miền Nam nào đặt tên con là "Quì" vì nó đồng nghĩa với quỳ gối, quỳ mọp. Viết i ngắn là thói quen người Miền Nam, nhưng dù viết "Quì" cũng không trúng.

Người Miền Bắc thích chữ "quỳ" lắm, vì trong Hán ngữ chữ quỳ có nghĩa là đường lớn hoặc là hoa dã quỳ.

Nhưng Nam Kỳ ngại chữ quỳ trong "quỳ gối", sợ tên con sẽ mọp xuống cả đời như mấy cái tủ chưn quỳ.

"Dù ai trăm khéo ngàn khôn
Đến cửa nhà l.. quỳ gối chống tay"

Người Miền Nam chưng Tết cũng không xài tắc và cam.
Cây tắc, chữ tắc làm dân Nam Kỳ sợ sẽ bị bế tắc, tắt thở cả năm. Thành ra tắc kiểng bán nhiều ở khu Tàu, khu Bắc vì họ kêu là cây quất.

Nam Kỳ cũng kỵ chưng cam trên bàn thờ vì nó cam phận, chỉ chưng quýt chưng bưởi, nhưng nghĩ vầy, cam là trái nuôi người bịnh, Tết nhứt thấy trái cam là nghĩ tới cái cảnh lê lết ở bịnh viện nên kiêng.

Bình-nguyên Lộc có viết "Quyển gia phổ". Khi nói người Miền Nam không lập gia phả thời một vài bạn lấy cuốn "Quyển gia phổ" này ra khẳng đinh người Miền Nam có lập "gia phổ". Lý luận sai

Người Miền Nam kêu "cuốn sách" chứ không kêu quyển sách.

Nam Kỳ không có lý trưởng, không có cảnh ông lý đập ba ton lên đầu người dân đi trên đường, Nam Kỳ không có làng xã kiểu lũy tre làng, không có cảnh mỏ làng xử án ná thở ở đình làng, không có cảnh cạo đầu thả bè chuối trôi sông gái chửa hoang.

Nam Kỳ không lập gia phả. Một xã hội mở, một xã hội không có lũy tre làng, chủ trương bán họ hàng xa mua láng giềng gần, một xã hội chỉ thờ cúng có ba bốn đời, không có tộc trưởng quyền uy, không mả tổ, không nhà thờ tổ thì lập gia phả để làm gì? nếu có nó cũng không có vai trò gì như kiểu ở ngoài Bắc.

Như đã nói, có một số dòng họ Nam Kỳ có gia phả, nhưng rất sơ sài và không có tính viết tiếp, nó cứ đứt đoạn rồi mất tích, sau này tìm không ra.

Nhiều nhà theo phong trào gia phả những năm gần đây viết lại.

Một số dòng họ làm quan, làm điền chủ cũng ghi gia phả nhưng cái đó không phải tính cách thực chất của tổ tiên Nam Kỳ xưa.

Người Miền Nam nào có "gia phổ" thường là gốc Bắc di cư và họ quản lý rõ từng đời, đời đầu tới đời hiện tại.

Trong "Quyển gia phổ" thì gia đình này gốc Bắc ăn tết bằng bánh chưng. Nhân vật Khoa kể thói quen mà người từ Đàng Ngoài vào đất mới giữ,đó là viết gia phổ.

Cái quyển gia phổ dòng họ bị cháy nên:

Anh Tồn anh ấy khổ sở thế vì quyển gia phổ ấy giúp ảnh bằng cớ để mà tự hào về dòng họ cổ nhứt miền Nam của chúng tôi: còn mồ mả những mười hai đời và gia phổ chép những mười lăm đời. Ảnh tự hào rồi mải vướng bận vì những bảo vật ấy. Tình quyến luyến ấy theo tôi cũng không hại gì cho lắm. Ác một cái là nó kéo theo cả bầy lũ những tình ý khác, cái nào cũng cổ kính như ngôi mộ đóng rêu...”

Nói ra tới đây rồi, xin nhét vào thêm vài chữ nữa cho các bạn trẻ "nhột" mà nhìn vấn đề.

Phong trào "bỉm" và "mẹ bỉm sữa" làm nhiều người Sài Gòn gốc thấy tức cười.
Các bạn Miền Nam viết "có mang" là của miền Bắc, hãy xài chữ "có bầu", “có chửa".

"Có chửa thì đẻ, có ghẻ đâu mà sợ gãi"

Đừng "bế con" mà hãy bồng con, ẵm con:

"Thôi thôi đã lỡ ra rồi
Bồng con ra ngồi coi thử giống ai
Cái mặt thì giống tuần Hai
Cái vai Tư Chõng, xương sống giống biện Tài
Chân mày giống Tám Lịch
Cái đít giống hịt bầu Khuê
Cái đề giống Tư Đũi
Cái mũi giống Ba Hầu
Cái đầu lại giống Ba Phó
Còn cái chứng ngó thì thiệt giống Mười Trương"

Hãy xài tiếng mình, nói và viết tiếng quê mình đặng giữ quê mình thì ngại gì mà không nói, chẳng ai có tội khi cố giữ tiếng ông bà mình.

*Nguyễn Gia Việt

Saturday, August 1, 2026

CHỮ NGHĨA THỜI THƯỢNG

Đường Bà Huyện Thanh Quan buổi sáng trong lành mát mẻ, hàng cây cao hai bên xanh mướt, nhìn suốt con đường đẹp làm sao. Trên đường xe cộ cũng nhiều, người ta tất bật ngược xuôi. Lee còn đang nhìn ngó quanh quất, tâm trí thầm thì: “Người đâu mà đông thế? Đã vậy lúc nào cũng hối hả như thể ai đuổi sau lưng”. Bất chợt thằng Tùng thắng cái két khiến Lee dập mạnh vào lưng nó, nhìn về phía trước thì thấy chiếc xe máy sợt ngang qua chỉ cách chừng gang tay. Hai người đàn ông trên chiếc xe ấy dừng lại và nhảy xổ về phía Tùng, vẻ mặt hùng hổ, xưng xỉa:

– Mày có biết bố mày là ai không? Mày mù à? Chạy xe bố náo thế!

Tùng phân bua:

– Hai anh chạy cắt mặt tui, nếu tui không thắng kịp là xảy ra tai nạn rồi!

– Bố mày đếch cần biết, chúng mày tông bố mày là chúng mày toi cả nũ đấy nhá!

Biết đụng phải cô hồn miệt ngoài, Tùng đành chịu lép vế, cãi cọ với thứ ấy chỉ thiệt thân, chấp nhận tránh voi chẳng xấu mặt. Hai thằng cô hồn thấy Tùng không nói gì nữa nên cũng bỏ đi nhưng còn thòng thêm câu:

– Lần sau bố mày không tha đâu nhé!

**
Quán cà phê Green Field đông đầy khách, nhóm Tùng ngồi ngoài hiên để ngắm cảnh phố phường. Tùng càm ràm:

– Mới sáng đụng phải cô hồn sống, nó hỏi có biết bố nó là ai không? Mệt với cái tụi này, bực mình hết sức!

Thằng Thọ cười to:

– Mệt thiệt đó, giờ tụi nó có mặt khắp nơi, ngang tàng, côn đồ, chẳng biết phải trái gì cả, chẳng nể già trẻ…đụng ai cũng lôi bố ra dọa.

Nhóm bạn cười rần rật như quên mất thằng Lee. Thằng Vân vỗ vai, hỏi:

– Về hồi nào vậy mậy? Ở chơi bao lâu?

– Ờ, được mấy ngày rồi, chắc chơi được ba tuần.

– Sao ít vậy? Tao thấy nhiều khứa về chơi cả mấy tháng luôn.

– Ờ, thì cũng tùy hoàn cảnh, có lẽ họ làm nghề tự do nên đi bao nhiêu mà chẳng được.

Thằng Đức nói:

– Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi kiểng mày ơi! Hơi đâu so sánh, có nhiêu chơi bấy nhiêu.

– Ờ, thì tao thấy sao nói vậy thôi mà! Tao thấy dạo này “trình” ngôn ngữ của mầy “ngon lành cành đào” quá đấy! Ngày xưa đi học đâu có được như vậy, mỗi lần nghe nó nói phát “chán như con gián, oải như con lãi lòi luôn”.

Thằng Quang xía vô:

– “Trình” của nó khác là phải rồi, sống ở nước ngoài đâu có bị “vênh” ngôn ngữ như xứ mình. Lee chưa kịp nói gì, chợt thấy một cô gái dắt em bé đi ngang qua bàn của cả nhóm. Cô gái đẹp và em bé rất xinh khiến thằng nào cũng nhìn và trầm trồ khen. Thằng Vân nhanh nhảu:

– Một “chiếc” em bé rất là “cu te”.

Lee hơi ngớ người ra, không hiểu thằng Vân nói gì tuy nhiên Lee cũng ngờ ngợ là ý Vân muốn nói em bé kia xinh xắn dễ thương. Thằng Quang đoán mò:

– Em chân dài này chắc có “bố đường”?

Đến đây thì Lee bí, bèn quay qua hỏi Vân:

– “Bố đường” là gì vậy mậy?

Cả bàn cà phê cười toáng lên. Thằng Vân khẳng định:

– Đúng là nó sống ở nước ngoài nên “trình” chữ nghĩa của nó khác “trình” tụi mình. “bố đường” nghĩa là sugar dad đó. Giờ xứ mình mấy em chân dài tìm “bố đường” làm cha nuôi để được chu cấp ăn chơi. Mấy anh “sáu múi” thì tìm “mẹ đường” hay “bà đầm già” để đào mỏ. Mấy khứa lão tuy già nhưng có tiền thì tìm “bé đường” để “nuôi”… Đây là chuyện thiệt, chuyện hiện thực chứ hổng phải tin “fa ke” đâu nghen mậy!

Lee lại hỏi:

– “Fa ke” là gì?

Thằng Vân cười cười dấm dẳng chứ chưa chịu trả lời. Thằng Thọ chửi:

– Đ.M, gì cũng hổng biết hết ráo vậy mậy! “fa ke” tiếng Anh là giả, là xạo sự!

Nghe thế, tự nhiên Lee ngộ ra, trong bụng thầm reo: “Thì ra một “chiếc em bé cu te” là em bé dễ thương, xinh xắn”. Lee vỗ trán:

– Tụi bay giờ nói nhiều từ ngữ chữ nghĩa lạ quá.

Thằng Thọ đáp liền:

– Thời buổi “kỷ nguyên người” phải vậy chứ mậy! Nước mình giờ hiên ngang bước vào “kỷ nguyên xanh, kỷ nguyên số, kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thịnh vượng…” thì chữ nghĩa cũng phải “hoành tráng” chứ mậy.

Lee không nói gì, nâng ly cà phê chiêu một ngụm nhỏ, nhìn quanh thấy toàn “trai xinh gái đẹp”, chân dài và sáu múi lượn lờ “tăm tia” để “thả thính”. Những ánh mắt liếc quan sát, thăm dò, giao tình…rất dễ nhận ra, tuy nhiên với Lee thì có cái gì đấy khó hiểu, dù cho bọn bạn giải thích nhiều rồi. Lee cũng thấy thích vì ở đây nhiều em đẹp quá, dáng thanh, eo thon, chân dài, ăn mặc toàn hàng hiệu danh tiếng: Gucci, Prada, LV, CK…Không biết họ làm nghề gì mà ăn chơi xài sang như vậy. Thoáng nghĩ thế và Lee nhớ lại ngay chữ “bố đường”, “mẹ đường”… ! Chiêu ngụm cà phê nữa, công nhận họ pha cà phê rất ngon tuy có hơi mạnh, có lẽ độ đậm của caffein nhiều hơn cà phê Mỹ. Nghe Lee nói cà phê Việt đậm quá, thằng Vân chê ngay:

– Cà phê Mỹ hay cappuccino của Ý nhẹ hều, tuy có đẹp nhưng uống hổng phê, ngọt và béo quá.

Nó nói đúng, cappuccino khác với cà phê Việt, rõ ràng cà phê Việt rất mạnh. Lee uống một ly là bụng dạ cồn cào, có hôm phải buộc đi vô nhà vệ sinh. Lee uống cà phê Việt từ sáng mà đến chiều vẫn còn hưng phấn, tim đập mạnh, người cứ nôn nao. Lee cầm ly cà phê nhìn ngắm, so sánh hai gu cà phê tây ta. Chợt bàn bên có một giọng nữ chả chớt:

– Ê nói nghe nè bồ! Tui có người thân ở bển dzìa mang theo mớ “hàng xách tay” gồm có “thực phẩm chức năng” và “thực phẩm dưỡng nhan”…Bồ có cần tui để lại cho một ít.

Mấy cô bạn kia tíu tít hỏi han có vẻ thích thú lắm, ở xứ mình hễ nghe nói “hàng xách tay” là khoái vô cùng. Ai ai cũng chuộng “hàng xách tay” vì tin tưởng chất lượng của những món ấy, nhất là “hàng xách tay” từ Mỹ, Canada, Úc, Nhật…. Lee không hiểu “thực phẩm chức năng” là gì nhưng hỏi nhiều quá tụi bạn nó khi dễ hoặc nó cho mình giả nai nên Lee lặng lẽ lắng nghe và quan sát. Cô gái vừa nói ấy bày ra bàn những hũ vitamin, collagen, glucosamine, protein…Trong bụng Lee thầm reo lên: À, thì ra “thực phẩm chức năng” là những loại này. Lúc bây giờ thằng Thọ nói với tụi bạn:

– Giờ xứ mình ai cũng mê “thực phẩm chức năng” coi nó như thuốc tiên. Người ta tin “thực phẩm chức năng” đem lại sự khỏe và đẹp nên chịu chi để mua. Ngoài ra người ta còn cuồng lên với “chè dưỡng nhan”, “gội đầu dưỡng sinh”, “điêu khắc chân mày phong thủy”…

Nói xong nó nốc vội hết ly cà phê rồi vội vàng đi trước, trước khi đi nó còn bảo thằng Tùng:

– Mầy nhớ đem theo hai cái “áo mưa phương tiện”, Sài Gòn mùa này chợt nắng chợt mưa, mầy ướt cũng không sao nhưng tao lo cho thằng bạn dziệt kiều ướt mưa Sài Gòn.

Nghe thằng Thọ khịa nhưng Lee cười thôi, giờ “trình’ chữ nghĩa của Lee không đủ để ăn thua đủ với nó. Thằng Thọ bước xuống tam cấp thì một chiếc BMW vô cùng bóng loáng trờ tới, đậu ngay trước cửa quán cà phê, tiếng máy êm ru. Thằng Tùng trầm trồ:

– “Con xe” “bế em về” này không dưới mười “tỏi”, nội tiền lo giấy tờ cũng hết vài chục “củ”, tiền “nuôi” “con xe” hàng tháng cũng vài chục “chai”, ngay cái vị trí nó bao để đậu xe trước quán cũng chục “xị” mỗi lần…

Lee thật sự “điếc”, không biết thằng bạn nói gì. Lee hiểu là giá tiền nhưng cụ thể bao nhiêu thì đành “bó tay chấm cơm”. Từ trong xe BMW bước ra một cặp đúng nghĩa “trai xinh gái đẹp” “chân dài, sáu múi”…Khách uống cà phê ai cũng nhìn với ánh mắt ngưỡng mộ, càng làm cho cả hai bước đi điệu đà thêm cứ như là đang đi trên sàn diễn thời trang.

Thằng Tùng nói:

– “Diễn sâu” quá! Đời giờ toàn hàng “fa ke”, thật giả khó biết, nhìn thì “xịn mịn”. “sang chảnh như con cá cảnh”, “chất như nước cất” nhưng thực chất khó biết. Báo chí đưa tin nhiều cặp “xịn sò” vậy nhưng té ra toàn buôn “mai thúy”.

Lee buộc miệng:

– Buôn “mai thúy” là gái hả?

Cả bàn lại cười ngặt nghẽo, thằng Vân vỗ má Lee:

– Thằng bạn dễ thương gì đâu á! “mai thúy” không phải gái mà là ma túy, thuốc lắc… đó! Mới đây có bốn em chân dài làm tiếp viên hàng không xách “mai thúy” thuê cho trùm ma túy bị bắt quả tang. May là mấy em đó “con cháu các cụ cả” nên không bị tội, chỉ bị khiển trách “thiếu tinh thần trách nhiệm” nên được “hạ cánh an toàn”. Quan chức nói mấy cổ không có “động cơ không trong sáng”, “đạo đức trong veo” hà!

Thằng Vân nói xong, quay qua thằng Tùng:

– Mầy nhớ chở thằng Lee đi ăn “chè dưỡng nhan” quán chè A Xìn “ngon nhức nách”, quán có cô em gái “chân dài tới nách” con nhỏ tuy “xắc xéo” và “tinh tướng” nhưng “đẹp dã man”. Dân chơi thường ghé đó “ăn sập mặt”. Rảnh thì chở Lee đi “gội đầu dưỡng sinh” để nó biết mùi đặc sản quê mình. Nó ở bển lâu lâu mới dzìa nên giờ hổng kịp “đu trend”. Nếu nó muốn “tút tát” nhan sắc thì chở nó tới mấy tiệm “điêu khắc chân mày phong thủy”, nó sẽ đẹp trai hơn và làm ăn phát tài, “quất” một phát “điêu khắc chân mày phong thủy” chỉ vài “chai” chứ mấy, dziệt kiều nhiêu đó nhằm nhò gì
Lee giơ hai tay kêu trời:

– Chắc tao phải học thêm một khóa bổ túc để nâng “trình” chữ nghĩa chứ giờ tao theo hổng kịp tụi bay!

Thằng Vân cười:

– Lo gì, chỉ cần mầy ở đây một thời gian ngắn là “trình” chữ nghĩa của mầy cũng sẽ như mọi người thôi, tha hồ “chém gió” hoặc trở thành “anh hùng bàn phím” như chơi.

Cả đám bạn cười thoải mái, Lee kể lại chuyện lúc sáng bị hai thằng côn đồ hỏi “biết bố mày là ai không?” khiến lũ bạn cười to hơn.

Thằng Quang nhìn Lee:

– Vậy cũng còn may là nó chưa “tác động vật lý”, nếu nó “tác động vật lý” thì giờ này mầy ở trong bịnh viện hay lên phường “uống trà” để tường trình “sự cố” rồi.

Lee trầm ngâm một lát rồi nói trổng trơ:

– Chắc tao đổi vé máy bay, ở lại lâu sợ lên máu chịu hổng nổi rồi “tác động vật lý” linh tinh thì khổ.

Thằng Vân la to:

– Mầy “tào lao bí đao” dễ sợ, chuyện đâu còn có đó, ngôn từ “xịn sò” vậy mà bày đặt chịu hổng nổi! Dzìa bển làm gì có thức ăn đường phố “ngon nhức nách” tha hồ “ăn sập chợ”. Ở bển có gái đẹp “chân dài tới nách” nhưng làm gì có cái dzụ “hát karaoke mỏi tay”, ráng ở cho đủ ba tuần để “chữa lành” rồi dzìa bển cày, còn nhiều chuyện “cười tẹc ga” luôn chứ hổng phải “cười rô đa” đâu nha mậy!

Tiểu Lục Thần Phong
Ất Lăng thành, 0626


Monday, July 27, 2026

Vì Sao Tôi Viết "Mỳ Quảng" Mà Không Viết "Mì Quảng" ?

Khi viết về ẩm thực quê nhà, nhất là món Mỳ Quảng, tôi vẫn giữ cách viết “mỳ” với chữ y dài, thay vì “mì” theo chính tả hiện hành. Một chi tiết nhỏ thôi, nhưng nhiều lần gây tranh luận.

Có người góp ý rất chân tình. Có bạn đồng nghiệp nhắc nhẹ rằng tôi viết sai chính tả. Cũng có người cẩn thận gạch đỏ chữ “mỳ” như một lỗi cần sửa ngay. Nhưng tôi vẫn viết như vậy. Không phải vì cố chấp, mà vì đó là một lựa chọn có gốc rễ.

Tôi viết “mỳ” trước hết vì ký ức. Đó là cách tôi đã nhìn thấy trên những bảng hiệu cũ ở xứ Quảng, là cách tôi từng nghe trong tiếng rao quen thuộc mỗi sáng, là một hình ảnh đã in sâu vào trí nhớ. Với tôi, “Mỳ Quảng” không còn chỉ là một từ ngữ. Nó là một dấu hiệu văn hóa.

Chữ “Mỳ Quảng” vì thế cũng nhiều lần trở thành đề tài tranh luận trong chính cộng đồng người Quảng. Ngay dưới bài viết gần đây của tôi về ca khúc Ai mỳ Quảng không, đã có một cuộc trao đổi ngắn nhưng khá thú vị giữa nhà báo Lê Minh Quốc và anh Lê Minh Dương. Anh Dương hỏi vui: “Vì sao anh Tiểu Vũ vẫn viết chữ ‘mỳ’ dù người đàn ông đẹp trai nhất Việt Nam Lê Minh Quốc và nhà báo Lý Đợi đều viết đúng chính tả là ‘mì’?”

Câu hỏi nghe như đùa, nhưng chạm vào một vấn đề rất thật. Nhà báo Lê Minh Quốc, từ góc nhìn chuẩn mực ngôn ngữ, cho rằng chỉ có “mì” mới đúng theo quy định tiếng Việt. Trong khi đó, anh Lê Minh Dương lại nghiêng về phía ký ức cộng đồng. Anh cho rằng có những thứ vượt ra ngoài khuôn khổ ngữ pháp, và “Mỳ Quảng” là một trường hợp như vậy, bởi ở quê Quảng, rất nhiều bảng hiệu vẫn viết là “mỳ”.

Cuộc trao đổi ấy cho thấy ngôn ngữ không chỉ là chuyện đúng hay sai trong từ điển. Ngôn ngữ còn là ký ức sống của một cộng đồng. Và trong trường hợp này, chữ “mỳ” không xuất hiện ngẫu nhiên. Nó đi cùng một thói quen nhìn, một cách gọi, một cảm thức văn hóa đã tồn tại từ lâu trong đời sống người Quảng.

Chỉ cần đi dọc nhiều nơi ở xứ Quảng và Đà Nẵng, từ Tam Kỳ, Hội An, Ái Nghĩa, Điện Bàn, Duy Xuyên cho đến chợ Cồn hay chợ Hàn, sẽ thấy phần lớn bảng hiệu đều ghi là “Mỳ Quảng”. Từ quán nhỏ đến nhà hàng lớn, chữ y dài xuất hiện rất tự nhiên. Nó không mập mờ, cũng không lẫn lộn. Trong tiềm thức của nhiều người Quảng, “Mỳ Quảng” gần như là cách gọi mặc định.

Nếu cần lý giải sâu hơn, thì cũng có thể bắt đầu từ chính món ăn này. Sợi Mỳ Quảng không làm từ bột mì. Nguyên liệu chính của nó là gạo. Gạo được ngâm, xay thành bột, tráng thành lá bánh rồi xắt thành sợi. Từ nguyên liệu đến cách làm, tất cả đều gắn với nông nghiệp lúa nước, với làng quê, với bàn tay thủ công và kinh nghiệm truyền đời. Nó không phải một món mì theo nghĩa phổ biến của các sản phẩm làm từ bột mì công nghiệp hay ẩm thực du nhập.

Người Quảng thực ra không hề lẫn lộn giữa “mì” và “mỳ”. Họ vẫn viết đúng là bánh mì, mì tôm, mì Ý, mì cay. Nghĩa là với những món làm từ bột mì hoặc thuộc về hệ ẩm thực khác, chữ i ngắn vẫn được dùng bình thường. Chỉ riêng với Mỳ Quảng, nhiều người vẫn giữ chữ y dài. Điều đó cho thấy đây không phải một sự nhầm lẫn, mà là một cách gọi có ý thức, gắn với bản sắc riêng của món ăn.

Vì vậy, theo tôi, “Mỳ Quảng” đã vượt khỏi vai trò của một danh từ chung để gần với tính chất của một tên riêng. Mà tên riêng thì nhiều khi không thể chỉ đo bằng quy tắc chính tả. Nó còn được giữ lại bằng thói quen cộng đồng, bằng lịch sử sử dụng và bằng ký ức văn hóa. Cũng như khi nhắc tới một địa danh hay một món ăn đã thành biểu tượng, người ta không chỉ gọi tên sự vật, mà còn gọi cả phần hồn nằm sau cái tên đó.

Tôi viết “mỳ” vì tôi lớn lên cùng chữ ấy. Tôi từng thấy nó trên vách chợ, trên xe hàng, trên bảng gỗ, trên những tấm bạt cũ trước hiên nhà. Chữ ấy có thể không nằm trong chuẩn chính tả hiện hành, nhưng nó thân thuộc. Mà nhiều khi, chính cái thân thuộc ấy mới là thứ giữ cho một cộng đồng còn nhận ra nhau.

Có thể rồi sẽ đến lúc những thế hệ quen với sách vở và chuẩn chính tả chỉ còn viết “mì Quảng”. Điều đó không sai. Nhưng với tôi, khi viết “Mỳ Quảng”, tôi không chỉ viết tên một món ăn. Tôi viết lại một cách gọi đã đi cùng ký ức quê nhà, đi cùng thị giác của người Quảng, đi cùng cảm giác gần gũi của một cộng đồng.

Vì thế, tôi vẫn viết “Mỳ Quảng”. Không phải để chống lại chính tả, mà để giữ một cách gọi đã trở thành dấu vết văn hóa. Với tôi, đó không chỉ là con chữ. Đó là ký hiệu của quê hương.

Tiểu Vũ


Monday, July 20, 2026

CHUYỆN DÀI NGÔN NGỮ MIỀN NAM ĐÃ DẦN BỊ BẮC CỘNG HÓA!

Sau ngày 30/04/1975 thì ngôn ngữ quái dị của miền Bắc đã lan truyền khắp miền Nam và bây giờ người dân miền Nam đã quên hay cố tình quên 2 chữ “Đá Banh” và thay vào đó là 2 chữ dị hợm - “Bóng Đá”! Bóng làm sao biết Đá ….

- “Thắng Xe” mà lại gọi là “Phanh Xe” ….
- “Vỏ Xe” mà lại gọi là “Lốp Xe” …
- “Chiếc Xe Hơi” mà lại gọi là “Con Xe hoặc Ô Tô” ….
- “Bảng Số” mà lại gọi quái gở là “Biển Số” … ở ngoài Biển làm gì có số? ….
- “Trái” mà đổi lại gọi là “Qủa”.
- “Quẹo Phải hoặc Quẹo Trái” mà lại nói là “Rẽ Phải - Rẽ Trái”.
- “Đậu Xe” mà lại nói là “Đỗ Xe”.
- “Xe Đò” quen thuộc cũng biến mất, thay vào đó là “Xe Khách”.
- “Khoảng 4 giờ”, thay vào đó là nói “Tầm” (Tầm 4 giờ chẳng hạn).
- “Một Đôi hay Một Cặp” mà lại cố tình nói SAI là “Cặp Đôi” tức là 4 … (Cặp là 2, Đôi cũng là 2).
- “Thập Niên” tức là 10 Năm mà bây giờ lại nói SAI là “Thập Kỷ” tức 1000 năm … (Century là 100 năm tức 1 Thế Kỷ … 9 Thế kỷ là 900 năm và 10 Thế kỷ là 1000 năm).
- “Đài Truyền Hình” mà lại nói là “Kênh Truyền Hình - Kênh Youtube”.
- “Phát Thanh hoặc Phát Hình” mà lại nói là “Phát Sóng”. Sóng làm gì có âm thanh và có hình mà phát!
- “Hợp Ca” mà lại nói là “Tốp Ca” và hai chữ “Hòa Âm” cũng bị thay vào đó là “Phối Âm”.
- “Bảo Đảm” mà đổi ngược lại nói là “Đảm Bảo”.
- “Hộp Thư” mà lại nói là “Hòm Thư”.
- Cái “Rương” đựng quần áo đổi lại gọi là cái “Hòm”.
- “Ly Bia” mà lại nói là “Cốc Bia”.
- “nước Dùng” chứ không nói là “nước Lèo” (nấu Hủ Tíếu, nấu Phở).
- “Căn Nhà” mà bây giờ lại nói là “Căn Hộ”.
- “Passport” không còn gọi là “Sổ Thông Hành” mà lại gọi là “Hộ Chiếu”.
- “Biên Giới” tức là giới ranh thì lại nói quái dị là “Cửa Khẩu”.
- “Quan Thuế Phi Cảng, Quan Thuế Hải Cảng”; thay vào đó thì ở Phi Trường hay ở Bến Cảng đều gọi là “Hải Quan”.
- “Phi Đạo” thì cũng gọi theo miền ngoài là “Đường Băng”.
- “Hàng Không Mẫu Hạm” mà chỉ biết “Tàu Sân Bay”
- “Chiến đấu cơ F35B thì lại gọi là “Tiêm Kích”.
- “Diễn Hành” nói là đi “Diễu Hành” tức là đi diễu cợt làm trò hề cho thiên hạ xem.
- “Đánh Nhau hay Đánh Lộn” mà bây giờ lại nói là “Tác Động Vật Lý”!
- "Người Điều Khiển Chương Trình”, thay vào đó là “Người Dẫn Chương Trình”.
- “Bực Mình hay “Bực Bội Khó Chịu” thì lại nói là “Bức Xúc”.
- “Bùng Binh” đổi lại gọi là “Vòng Xuyến”.
- “Chợ Đêm Saigon” gọi là “Phố Đêm Saigon”.
- “Ga Xe Điện” (Platform) gọi là “Ke Ga”, từ ngữ quái đản thô kệch.
- “Bàn Ủi”, thay vào đó gọi là “Bàn Là”.
- “Chích Ngừa” mà đi “Tiêm Chủng”.
- “Điều Tra” gọi là“Vào Cuộc”; vào cuộc là như thế nào? vào tham gia cuộc chơi hay sao?
- “Hồi Âm” như thế nào? thay thế vào đó 2 chữ “Phản Hồi” quái dị!
- “Đáp Số” cũng thay vào đó 2 chữ “Đáp Án”.
- “Số Điểm” đổi ngược là “Điểm Số”.
- “Hành Hung” mà chỉ biết nói “Tương Tác” xuất xứ từ ngoài vĩ tuyến.

Còn rất nhiều những ngôn ngữ quái đản của lũ khỉ rừng dốt nát chế ra … như “trộm vía”, “dư địa”v.v … không thể nói hết ở đây được!

Riêng những người Việt ở hải ngoại cũng đã bị Bắc hóa về ngôn ngữ không thua kém gì dân miền Nam, nhất là những người làm truyền thông và những trường học dạy tiếng Việt toàn dùng từ ngữ SAI bét…

Coi như tiếng Việt, chữ Việt phong phú trong sáng thanh tao càng ngày càng bị biến đổi và biến mất.

Buồn thay cho một nền ngôn ngữ của một vùng miền đang bị lãng quên dần!

DIỆP HẢI DUNG


Blog Archive