Showing posts with label Pha Lê. Show all posts
Showing posts with label Pha Lê. Show all posts

Saturday, September 3, 2022

Dưới Ánh Sắc Mầu Cờ

Tác giả Quán Quân Orchid Thanh Lê trao Giải Danh Dự cho tác giả Pha Lê tại Lễ Phát Giải VVNM 2021.

Từ cổ chí kim con người được sinh ra và lớn lên, dù ở bất cứ thời đại nào, và tại bất cứ nơi đâu, dù đó là một cường quốc rộng lớn hùng vĩ bao la, hay chỉ là một quốc gia nhỏ bé nằm khiêm tốn trên một miền đất hẻo lánh xa xôi, đều có một TỔ QUỐC riêng cho chính mình. "Tổ Quốc" hai chữ nghe thật trừu tượng nhưng biết bao dân tộc đã sẵn sàng hy sinh xương máu, thậm chí dám đánh đổi cả mạng sống của chính mình để bảo vệ gìn giữ tổ quốc của họ. "Tổ Quốc" đã được cụ thể hóa qua lá Quốc Kỳ của từng mỗi quốc gia. Lá cờ là biểu tượng hồn thiêng sông núi của một đất nước, là hình ảnh đặc trưng cho truyền thống, và niềm tự hào tinh thần của một dân tộc.

Quốc Kỳ của một quốc gia dĩ nhiên luôn luôn phải được tôn kính, yêu mến và trân trọng từ người dân của đất nước đó, bởi mỗi một đất nước vĩnh viễn chỉ có một Tổ Quốc và một Màu Cờ, nhưng bất hạnh thay lịch sử đã ghi lại biết bao nhiêu quốc gia sau cơn binh biến, hay sau những cuộc chiến tàn khốc, đất nước đã phải thay tên đổi họ, và lá quốc kỳ cũng đành ngậm ngùi thay hình đổi dáng cho phù hợp với tình trạng đất nước. Việt Nam của Thu Quỳnh cũng cùng chung số phận bi đát đau thương như thế khi cuộc chiến Nam Bắc tương tàn vừa kết thúc.

Đó là khoảng thập niên 60-70, Thu Quỳnh sinh ra và lớn lên tại Saigon, thành phố mà hình ảnh chiến tranh chỉ lúc ẩn lúc hiện qua những lần "...Đại bác đêm đêm vọng về thành phố..." ở một cô bé tuổi vừa mới lớn, ăn chưa no lo chưa tới, thì những trăn trở về cuộc chiến hay những băn khoăn lo lắng vì hiện tình đất nước chỉ là một thoáng trong cô. Thế giới của cô chỉ vây quanh trường lớp bè bạn. Mỗi sáng thứ Hai đầu tuần trường cô có lễ Thượng Kỳ, nói nôm na là lễ cháo cờ đầu tuần, và mỗi chiều thứ Bẩy là lễ Hạ Kỳ. Đố ai tìm được hình ảnh nghiêm trang của đám "thứ ba học trò" này vào những buổi chào cờ trong sân trường! Có đứa xoay qua xoay lại, có đứa ngáp ngắn ngáp dài, có đứa đứng lặng yên nhưng miệng đang lẩm bẩm bài sử ký của giờ học sắp tới, thậm chí còn có đứa lợi dụng cơ hội cột chung tà áo dài của hai đứa bạn khác vào nhau để sau khi buổi lễ chào cờ chấm dứt sẽ có màn cãi nhau chí chóe cho dù trên bầu trời trong xanh của buổi sáng, lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đang phần phật tung bay trong gió. Nói chung Thu Quỳnh và đám học trò non nớt này vẫn chưa hiểu rõ nỗi cảm xúc khi được ngắm nhìn lá quốc kỳ của chính đất nước mình. 

Một lần Thu Quỳnh ngồi xem tin tức trên TV cùng ba mẹ loạt phóng sự những ngày tháng kinh hoàng của Tết Mậu Thân tại Cố Đô Huế. Nhìn hình ảnh từng hàng dài những chiếc quan tài phủ quốc kỳ VNCH với tiếng than khóc thảm thiết bi thương của thân nhân những người quá cố, Thu Quỳnh đã hoảng hốt đến độ cô phải lấy tay che mắt vì không còn đủ can đảm xem thêm những đoạn phim kế tiếp. Hình ảnh lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ phủ kín màn ảnh TV cùng tiếng thở dài của ba và những lần cúi mặt làm dấu Thánh Giá của mẹ khiến Thu Quỳnh chợt cảm nhận lá quốc kỳ của đất nước cô thật hào hùng vì đã được hun đúc từ anh linh của những người đã hy sinh nằm xuống cho sự tự do và hạnh phúc ấm no của người dân Miền Nam.

Cô càng xúc động hơn khi cô đã ôm vai người bạn cùng lớp trong buổi tang lễ ngập tràn nước mắt của người anh trai đã ngã gục nơi chiến trường Quảng Trị Đông Hà. Linh cửu anh được "gói" trong một bọc ny lông bao phủ bằng lá quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ. Bây giờ thì Thu Quỳnh đã thật sự trân trọng và yêu quý lá cờ của Tổ Quốc Việt Nam hơn bao giờ hết. Cô ao ước khi cô đủ lớn, cô sẽ làm một điều gì đó tô điểm thêm hùng khí cho lá cờ mà mỗi sáng thứ hai cô đã đứng thật trang nghiêm khi Bà Tổng Giám Thị cất lời: Lễ Chào Quốc Kỳ bắt đầu.

Nhưng những ước mơ dù thật nhỏ nhoi của Thu Quỳnh mãi mãi chẳng bao giờ thực hiện được vì đại nạn kinh hoàng tháng 4 năm 75 ập đến đã phá tang hoang một đất nước tươi đẹp, từ xã hội, gia đình cho đến cả học đường đều bị đổi thay nhấn chìm xuống tận cùng của sự nghèo khó đói rách lầm than, và dĩ nhiên lá cờ vàng thân thương cũng bị nổi trôi theo vận nước. Những năm tháng còn ngồi trong lớp học, biết bao lần Thu Quỳnh đã xốn xang căm phẫn đến muốn rơi nước mắt khi nhìn lá cờ màu đỏ như màu máu bay lượn lờ trong góc sân trường như lời cảnh báo cho một tương lai mịt mù tối tăm u ám đang bầy ra trước mặt cô. Nhớ lời bác lao công già kể lại ngày lá cờ vàng Ba Sọc Đỏ trên cột cờ nơi góc sân trường được tháo xuống, bác ngậm ngùi nói:

- Hôm đó đâu khoảng gần cuối tháng 4, cờ Quốc Gia mình còn tung bay ở cuối sân, trong trường chỉ còn lác đác vài ba thầy cô giáo, tui nhớ hình như có thầy Đoàn, các thấy cô gọi tui lên để tháo gỡ lá cờ xuống, nhiều lần tui đứng chào cờ thấy mấy cô tháo dây cột để kéo cờ xuống hay bung cờ lên thiệt dễ dàng cái rột, nhưng lần này thầy Đoàn và tui hì hục gần 15 phút mới tháo được mấy cái nút đầu tiên, mà thiệt là kỳ cục, lá cờ tụt xuống một khúc lại ngừng lại, cứ như vậy tới ba bốn lần, thầy Đoàn cười buồn nói có lẽ chính lá cờ cũng biết số phận bi đát của mình nên còn quyến luyến chưa muốn rời đi, tui nghe thầy nói mà muốn rơi nước mắt. Lá cờ tui gấp gọn lại bỏ trên bàn bà Giám Học, tính mang dzìa nhà cất nhưng bà xã tui la quá trời. Mỗi ngày từ bên hông vườn nhà tui nhìn sang trường học, thấy cái cột cờ đứng trơ trọi bơ vơ trông tội nghiệp hết sức.

Tuyết Hương là đứa tình cảm nhất bọn buột miệng hỏi:

- Vậy cái ngày lá cờ đỏ lè được treo lên bác có mặt ở trường không, Bác kể tụi con nghe xem sao.

- À cái lá cờ đỏ như mồng gà chọi đó hả?

Bác lao công ngừng nói vì cả bọn phá lên cười sau câu nói ví von của bác, chờ vài phút bác xăng xái kể tiếp:

- Cái ngày hôm đó là 1 tây tháng 5, tui còn nhớ như in. Đâu khoảng giữa trưa tầm khoảng 2 giờ có hai chú bộ đội vào trường, trong trường hôm đó đâu có ai, hai chú di loanh quoanh một hồi thì tui bước ra, mấy chú nói có nhiệm vụ treo lá cờ "giải phóng" này trong trường, nói xong họ moi trong bao một lá cờ nửa xanh nửa đỏ, tui giắt hai chú đến chân cột cờ, đứng đó nhất định không giúp một tay treo cái lá cờ dị hợm đó lên, loay hoay mò mẫm một hồi hai chú cũng kéo được lá cờ lên cao, lá cờ nhàu nát nên không bay nổi, cứ rũ xuống như gà mắc mưa!

Lại cười nhưng Thu Quỳnh cảm nhận có một nỗi xót xa cay đắng đang âm ỉ trong lòng. Cô chợt thở dài vì biết rằng sẽ khó có một cơ hội cho cô nhìn ngắm lại được lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ thân quen thuở nào.

Rồi Thu Quỳnh may mắn thoát khỏi Việt Nam trong một chuyến tàu vượt biên vào cuối năm 78, bây giờ cô đã trưởng thành sau những năm tháng nhọc nhằn cay đắng tranh sống nơi quê nhà. Những kinh nghiệm đau thương từ lá cờ đỏ như máu cũng như những kỷ niệm cô ấp ủ và trân trọng từ lá quốc kỳ ngày xưa sẽ chỉ là quá khứ, Thu Quỳnh hướng về tương lai và điều khiến cô bàng hoàng đến độ bật khóc chính là hình ảnh lá cờ Mỹ mà cô và mọi người trên chiếc ghe nhỏ bé giữa đại dương mênh mông nhìn thấy đúng lúc chiếc ghe đang gồng mình chống chọi với từng đợt sóng nhấp nhô như sẵn sàng đập nát chiếc ghe mỏng manh. Khi 67 thuyền nhân được cứu vớt và đưa lên tàu một cách an toàn, mọi người được biết đây chỉ là một chiếc tầu chở hàng hóa của Hoa Kỳ, và việc cứu giúp cũng như chuyên chở thuyền nhân sẽ gây rất nhiều khó khăn và tốn kém cho họ trong việc cập bến cảng để bốc rỡ hàng hóa, nhưng có sao đâu, vị thuyền trưởng đã chậm rãi giảng nghĩa:

- Hàng hóa còn đó, nằm thêm vài ngày thì đã sao, nhưng các bạn, chỉ chậm thêm vài giờ là tất cả sẽ chìm lỉm xuống biển sâu, không cách nào cứu kịp, vậy các bạn thấy "việc" nào cần kíp hơn để làm.

Thật đúng là ý tưởng và hành động của những người có tấm lòng nhân từ, bác ái; với trái tim quảng đại, hào phóng.

Những ngày tháng sống nơi trại tỵ nạn Paulau Bidong chờ ngày đi định cư tại Mỹ, Thu Quỳnh đã được nghe hàng trăm câu chuyện về sự hào hiệp của người dân Hoa Kỳ trước những đau khổ mất mát mà người Việt tỵ nạn đã trải qua. Rất nhiều những gia đình VN nheo nhóc rách nát tả tơi đã được những gia đình Mỹ tốt bụng bảo trợ không chút nề hà đắn đo cốt chỉ để tạo lại một cuộc sống mới cho những con người tỵ nạn bất hạnh khốn khổ này.

Trong khi chờ đợi được định cư tại đệ tam quốc gia, nước Mỹ luôn là quốc gia mà tất cả người tỵ nạn đều mong mỏi được sống và lập nghiệp tại xứ sở này. Một câu hỏi mà mọi người muốn được đi Mỹ đều phải trả lời là tại sao bạn lại chọn nước Mỹ để định cư, và dĩ nhiên có đến hàng trăm cách cũng như hàng ngàn câu trả lời cho câu hỏi “cắc cớ” này, nhưng lời đối đáp của một người dân đánh cá ven biển đã khiến cả phái đoàn bật cười. Tâm, anh chàng với khuôn mặt đem nhẻm, nụ cười đơn sơ hiền hòa đã trả lời:

- Dù tui vẫn chưa biết đất Nước Mỹ như thế nào, người dân Mỹ ra sao, nhưng tui vẫn thiết tha muốn được đi Mỹ vì tui yêu lá cờ của nước Mỹ.

Ngừng một vài giây, anh cảm thấy khó khăn khi anh bắt gặp ánh mắt thoáng chút giễu cợt của người Mỹ đang phỏng vấn anh, thở một hơi dài, anh cố lấy thêm can đảm nói tiếp:

- Trên thế giới hầu hết các quốc gia lá cờ của họ thường chỉ hai ba mầu, chia đôi chia ba gì gì đó trên lá cờ, khó nhớ và khó biết thấy mồ, nhất là mấy nước ở bên Âu Châu Lúc xuống ghe tui dặn dò mấy anh em tài công hễ thấy cờ gì hai ba mầu thì đừng kêu cứu, rủi gặp tàu liên Xô hay mấy nước láng giềng của nó là chết chùm cả nút. Cờ Mỹ của quý ông thì khác hẳn, ngôi sao hơn nửa lá cờ, lại thêm những đường kẻ trắng đỏ, từ xa tít tui cũng nhận ra ngay lá cờ Mỹ của quý ông!

Bây giờ tui còn hiểu thêm ý nghĩa của 13 đường kẻ trắng đỏ cũng như những ngôi sao trên lá cờ nước Mỹ của quý ông! Tui nghĩ một đất nước có một lá quốc kỳ đặc biệt như vậy, chắc chắn phải có một truyền thống... đặc biệt, và phải là một dân tộc cũng phải... đặc biệt luôn. Đó là lý do tui ước mong được đi Mỹ để được sống tại Mỹ.

Câu trả lời đơn sơ nhưng gọn bân của anh chàng đã thuyết phục được phái đoàn Mỹ, vài tháng sau anh và vợ cùng 3 người con thơ thới lên máy bay về Miền Đất Hứa là Hoa Kỳ. Riêng với Thu Quỳnh, cô hiểu về nước Mỹ nhiều hơn anh Tâm nên chắc chắn cô sẽ nhìn về nước Mỹ không phải chỉ với sự trọng vọng ngưỡng mộ, nhưng với cả một tấm lòng biết ơn, như lời tuyên thệ hôm nao trước lá Quốc Kỳ Mỹ rằng...

“...Là công dân Hoa Kỳ, tôi sẽ hỗ trợ và bảo vệ Hiến Pháp và Luật Pháp của Hoa Kỳ chống lại tất cả kẻ thù trong và ngoài nước...”

Pha Lê

Saturday, February 5, 2022

Hạnh Phúc Chênh Vênh

Pha Lê

Một hồi chuông giáo đường vang lên như để báo hiệu Thánh Lễ Misa buổi sáng vừa chấm dứt, cha Hiền, vị linh Mục Chánh xứ vẫn đứng trầm ngâm bất động bên khung cửa sổ giáo đường. Như thông lệ, mỗi buổi sáng, sau khi cử hành thánh lễ xong, ngài thường đến phòng ăn dùng bữa sáng với một vài chủng sinh của giáo phận, nhưng hôm nay cha Hiền không cảm thấy đói, trái lại cái cảm giác bồn chồn, xen lẫn cả sự bối rối khiến ngài không thể chú tâm vào bất cứ việc gì.

Buổi gặp gỡ tối qua với ông Nguyễn và sáng nay với ông Trần khiến Cha Hiền hoang mang tột cùng. Cả hai ông đều là con chiên rất ngoan đạo trong giáo xứ của cha, nhưng khi hai ông cùng đến gặp cha, dù khác ngày, nhưng chung một mục đích, cả hai ông đều muốn ly dị vợ!

Cha Hiền còn nhớ cha đã sửng sốt đến độ suýt làm rơi quyển sách thánh cha đang cầm trên tay. Sao có thể như thế được chứ, cha Hiền nhìn thẳng vào mắt ông Nguyễn và nghiêm khắc hỏi lý do có phải có người thứ ba chen vào khiến ông đi đến quyết định như vậy, ông Nguyễn cười buồn nói:
- Cha biết tính con gần 20 năm rồi, sao cha lại hỏi con như vậy!

Còn ông Trần khi cha hỏi ông câu đó, ông chỉ bật cười và nói:
- Nếu cha muốn, con sẽ đặt tay trên bible cho cha tin!

Như thế là làm sao, cha Hiền khổ sở không biết phải giải quyết thế nào. Nhìn đồng hồ mới hơn 10 giờ sáng, Cha Hiền quyết định sẽ đến hỏi hai ông, cha bấm số phone của ông Trần và ông Nguyễn, sau hơn 10 phút trao đổi, cha vui mừng vì tối nay cha sẽ đến tận nhà mỗi ông để hỏi cho ra lẽ. Cha tin tưởng với tài thuyết giảng của cha, ông Nguyễn và ông Trần sẽ từ bỏ ý định ly dị, cha tự nhủ, chẳng lẽ một con chiên ngoan đạo lại có thể quên câu giáo điều "Sự gì Thiên Chúa Đã kết hợp, loài người không được phân chia".

Bây giờ cha Hiền đang ngồi trong khu vườn nhà ông Nguyễn. Trời vừa chập choạng tối nhưng hương hoa ngọc lan đã tỏa nhẹ trong không gian. Cảm thấy lòng mình thanh thản được đôi chút, cha đưa mắt nhìn quanh, khu vườn được chăm sóc khá chu đáo, mỹ thuật nhưng không cầu kỳ.

Cha Hiền đã đến nhà ông Nguyễn rất nhiều lần, căn nhà luôn gọn gàng, sạch sẽ và ngăn nắp, trên mặt bàn kính hay ngay cả trên những nóc tủ, cha Hiền khó bao giờ trông thấy bụi bặm như nhiều nhà cha đã ghé qua. Một điều mà cha Hiền ngưỡng mộ nơi bà Nguyễn là sự hài hòa mầu sắc trong cách bài trí đồ đạc trong nhà, và nhất là, dù xuân hạ thu đông, trong nhà bà luôn luôn có một bình hoa tươi do chính tay bà chưng cắm, mùa nào hoa nấy. Một lần nhìn bình hoa trên bàn ăn, cha hơi thắc mắc bình hoa có 4 đóa hoa hồng vàng mảnh mai được cắm cạnh một khúc thông già khô khốc, sần sùi, bà Nguyễn giải thích:

- Cành thông già tượng trưng cho người quân tử: mạnh mẽ và dũng cảm, nhưng cứng ngắc, còn hoa hồng vàng để chỉ hình ảnh người phụ nữ, bà Nguyễn ngập ngừng rồi tiếp, mỏng manh và dễ vỡ.

Cha Hiền đã đi và đã sống rất nhiều nơi, nên cha hiểu để có một mái ấm như thế này, người nữ chủ nhân của căn nhà phải là một người vừa khéo léo lại, vừa nhẫn nại chịu thương chịu khó. nhiều lần cha thường nói đùa với ông Nguyễn: "May mà có em đời còn dễ thương."

Cha Hiền thẫn thờ suy nghĩ: một gia đình thật đẹp, vậy mà..."

Cha Hiền vẫn ngồi yên lặng chờ đợi, một lúc sau ông Nguyễn mới lên tiếng:
- Con xim cám ơn cha đã đến gặp con đêm nay, nhưng trước khi cha cho con những lời khuyên, xin cha cho phép con được kể sơ về sinh hoạt của gia đình cũng như cuộc sống của vợ chồng con.

Cha Hiền khẽ gật đầu, ông Nguyễn sửa lại thế ngồi cho thoải mái hơn, ông duỗi hai chân, đầu hơi nghẻo về phía sau, giọng ông đều đều:

- Chúng con lấy nhau gần 20 năm, ba đứa con của con, đứa lớn nhất vừa vào Đại học, đứa nhỏ nhất cũng sắp vào trung học năm tới, nói chung, cuộc sống của chúng con cũng đã ổn định.

Ông Nguyễn ngừng nói, nâng ly trà thơm ngát mùi mạn sen lên môi hớp một ngụm nhỏ rồi nói tiếp.

- Chúng con quen nhau từ thuở còn trong đại học, 6 tháng sau khi ra trường, chúng con lấy nhau. những năm đầu vợ con vẫn đi làm, nhưng khi chúng con có đứa thứ hai, cháu sinh thiếu tháng nên vợ con quyết định ở nhà chăm sóc cháu.

Cha Hiền ngắt lời:
- Nhưng ông có muốn bà nghỉ việc ở nhà không?

- Vâng thưa cha, ông Nguyễn đáp, lúc đầu con nghĩ nàng chỉ ở nhà vài năm, nhưng khi chúng con có thêm đứa thứ ba thì con muốn nàng ở nhà chăm sóc con cái không cần phải đi làm, vả lại lúc đó công việc con khá ổn định.

Kể đến đây, ông Nguyễn cúi mặt trầm ngâm, rồi ông thở dài nói tiếp:
- Những năm tháng ở nhà làm nàng thay đổi hẳn, vợ con sống khép kín hơn.

Cha Hiền cúi mặt và tự nhủ: có lẽ mấu chốt của vấn đề là đây.

Giọng nói của ông Nguyễn bỗng chợt trầm xuống:
- Mỗi buổi tối con đi làm về, bước vào nhà, căn nhà vắng lặng như một căn nhà hoang dù 4 thành viên của gia đình con vẫn ở trong đấy, ông Nguyễn khẽ nhếch môi cười chua chát, khi con ngang qua phòng khách, có khi vợ con ngồi ngay đó đang xem TV hay cũng có lúc nàng đang mải mê online, nói chung, nàng chẳng bao giờ để ý con về lúc nào. Con thay quần áo thật nhanh rồi bước ra bếp, đi ngang qua chỗ vợ con ngồi, con hỏi nàng ăn tối chưa , mắt vẫn dán chặt trên TV hay trên màn computer, nàng trả lời: em ăn rồi, phần cơm của anh bên cạnh microwave. Vì ngồi ăn một mình nên con thường bỏ tất cả mọi thứ trong một cái tô , ăn rất nhanh, bữa cơm tối một mình của con thường chỉ không quá 10 phút.

Ông Nguyễn ngừng nói vì dường như có một vật gì chặn ngang cổ ông, cố gắng thở một hơi dài, ông Nguyễn lại tiếp:

- Xong bữa cơm tẻ nhạt, con bước về phòng ngủ, đi ngang qua mặt vợ, con không thể không hỏi nàng, Nhà có gì lạ không em? À, lần này thì nàng mới rời mắt khỏi TV hay computer và câu trả lời luôn là: Không, chẳng có gì hết, everything is fine, why?

Vì biết trước câu trả lời của nàng, nên con lặng lẽ bước về phòng.

Ông Nguyễn lại ngừng nói, cha Hiền ngẩng đầu nhìn, dưới ánh trăng chênh chếch, khuôn mặt ông Nguyễn lộ thoáng nét đau đớn, ông tiếp tục kể:

- Khi đi ngang qua phòng con trai của con, con gõ cửa và bao giờ cũng phải gõ ít nhất 10 lần, chờ đợi gần 5 phút, cửa phòng mới bật mở và cái đầu con trai con thò ra với một câu bất di bất dịch: Oh, bố hả, do you need me for anything? ' con vội trả lời no no, bố chỉ make sure con có cần gì bố không, và cha biết không, câu trả lời luôn là: everything is fine, why?

Con lại bước sang phòng con gái của con, cũng sau 10 tiếng gõ cửa, và 5 phút chờ đợi, một cái đầu thò ra và rồi cũng vẫn "everything is fine, why?".

Nhiều buổi tối, con ra đây ngồi một mình, con cứ suy nghĩ rồi lại suy nghĩ mà không biết, không hiểu vợ con, con con nghĩ gì, con cảm thấy giữa con và họ là 2 thế giới riêng biệt."

Cha Hiền ngắt lời:
-Có bao giờ ông rủ bà ra đây ngồi để cùng thưởng thức ngắm trăng, để ông có thể giãi bầy những điều khúc mắc trong lòng ông không?

Sao không, ông Nguyễn vẫn còn nhớ mãi buổi tối hôm đó, trăng thật sáng, ông và bà ngồi kề cận bên nhau, đêm đó ông rất vui vì những dự án của ông vừa được phê chuẩn, nay mai có thể ông sẽ làm việc tại New York hay Chicago. ông say sưa vẽ ra viễn ảnh ông và bà sẽ sống ở những đô thị sầm uất, nhưng lạ quá, bà không vui chút nào, bà dịu dàng nói:

- Em lại mơ ước một cuộc sống thanh thản, không bon chen. Dăm bẩy năm nữa con cái xong xuôi, anh và em move tới môt thành phố nhỏ, sống một cuộc sống êm đềm, giản dị, khi bước qua tuổi 60, anh sẽ thấy tiền tài danh vọng sự nghiệp chỉ là phù du.

Ông Nguyễn nhìn sững vợ mình. Ngày xưa còn đi học, nàng là một sinh viên rất hăng say, từ những hoạt động "Một Chút Gì Cho Thuyền Nhân " trong trường, cho đến những cuộc biểu tình bên Pháp, bên Úc chống cưỡng bức hồi hương nàng đều hăng hái tham gia, nàng còn mở những lớp dậy tiếng Việt cho các em bé trong thành phố, nói chung, nàng rất năng nổ và nhiệt tình, vậy mà...

Trời tối nên bà Nguyễn không nhìn được sự biến đổi trên khuôn mặt của ông, giọng bà pha chút hài hước:
- Lúc đó, anh với em sẽ “thu ăn mang trúc, đông ăn giá. Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao!”

-Tại sao em kỳ quái như vậy, ông Nguyễn nghiến răng, gằn giọng nói. nhiều người vợ mong chồng thành đạt để một bước lên đài danh vọng, phú quý vinh hoa, còn em...

Ông hừ một tiếng rồi tàn nhẫn nói tiếp:
- Bây giờ không ai ăn giá với ăn măng nữa đâu, thiên hạ ăn sushi, ăn steak, tắm cũng vậy, người ta đi spa, tắm hơi, làm gì mà hồ với ao ở đây!

Vừa nói ông vừa nhìn thẳng mặt nàng, bỗng ông chợt giật mình vì hình như từ trong đáy mắt bà hiện lên nỗi đau đớn xót xa, nhưng chỉ vài giây sau đó, bà lấy lại bình tĩnh, nhỏ nhẹ bà nói:
- Tùy anh, em sao cũng được!

Sau câu nói đó, bà im lặng mà ông cũng không biết phải nói gì, không khí ngột ngạt bao trùm, gần 10 phút sau, bà lặng lẽ đứng lên, hôn nhẹ lên má ông và nói đùa:
- Giang hồ hiểm ác, sống chết khôn lường, anh gắng bảo trọng!

Sau đêm đó, cũng vài lần bà ra vườn với ông, nhưng ông với bà chỉ còn "hai đứa ngồi, ngồi đó như hai hòn bi", ông nhớ có một lần và chỉ một lần duy nhất, khi ông bà ngồi im lìm bên nhau, bỗng bà cất tiếng nói, âm thanh có một chút bi thương, ai oán:

- Chúng ta lấy nhau gần 20 năm, nhưng hình như những năm sau này, anh và em hoàn toàn cách biệt, chúng ta vẫn sống chung dưới một mái nhà, vẫn sóng đôi bên nhau trong những buổi lễ lạc, chúng ta vẫn " có nhau ", nhưng anh có nhận thấy, bà Nguyễn ngập ngừng, anh nghĩ gì, anh làm gì em không bao giờ biết, và ngược lại anh cũng chẳng bao giờ quan tâm đến những gì xảy ra bên em, chúng ta sống như... hai đường thẳng song song không bao giờ gặp nhau!

Với một thái độ ngạc nhiên, ông Nguyễn sẵng giọng:
-Anh đã làm tất cả vì mái gia đình này, tiền tài danh vọng ngày hôm nay anh làm là cho em và cho các con, vậy mà em còn muốn gì nữa, ngừng một giây ông tiếp, mà muốn gì, em phải nói ra chứ.

Bà Nguyễn cúi mặt để ông không nhìn thấy trong khóe mắt bà đã long lanh ngấn lệ, "NÓI ", nhưng nói làm sao và nói cái gì.

Ông bà lấy nhau gần 20 năm, những lúc ông thở hắt là bà hiểu ông đang buồn bực nóng giận, hay cái chau mày của bà, ông phải hiểu điều ông đang nói làm bà buồn lòng, giữa ông và bà hôm nay phải là sự cảm thông, không cần phải nói. Bà hiểu công việc của ông đã rất bận rộn, nhiều áp lực, có lần ông vừa cười vừa đọc: "Thương trường là chiến trường". Bà biết ông từng nuốt những viên thuốc chống stress trước khi ông bắt đầu buổi họp, bà lo lắm chứ, nhưng có bao giờ ông nghe lời khuyên của bà. Bà muốn ông bỏ bớt công việc, vui thú điền viên, nhưng khi bà vừa mở lời, ông đã cau có gắt:

- Anh còn sung sức như vầy mà em muốn anh làm Lã Vọng ngồi câu cá sao.

Một lần khi tới nhà một người bạn, bà vô tình xem được một đoạn trong phim bộ Hongkong khi vị chưởng môn phái Thiếu lâm Tự nói về hai chữ "buông bỏ", vì là phim truyện nên lời nói pha nhiều câu hài hước dí dỏm, không khô khan cứng ngắc như những bài thuyết pháp mà vài lần ông bà có dịp nghe qua, bà vội mượn và mang về nhà để ông xem, hy vọng ông sẽ thay đổi được chút nào chăng.

Tối hôm đó bà rủ ông ngồi xem phim "Tầu" với bà, ánh mắt ông toát ra vẻ vừa ngạc nhiên vừa khó chịu, nhưng ông vẫn bằng lòng ngồi xuống, chưa được 10 phút, khi ông chưa nghe kịp nghe những lời khuyên nhủ "...Ta phải dứt khoát biết những gì ta cần BUÔNG. thì ta mới can đảm "BỎ" được...", ông đã dứng lên càu nhàu:

- Anh đâu có dư giờ mà xem mấy cái nhăng nhít này, em thật...

Rồi ông đứng lên bước thẳng về phòng, và cũng từ hôm đó bà không còn muốn thay đổi con người ông nữa.

Cha Hiền vẫn yên lặng kiên nhẫn chờ đợi, cha đoán ông Nguyễn chắc đang có những dằn vặt nội tâm, chợt từ bên hàng xóm có tiếng chó sủa vọng lại đưa ông Nguyễn "qua cơn mê", ông ngượng ngùng nói:

-Có vài lần tụi con ngồi ngoài này với nhau, nhưng toàn là trống đánh xuôi, kèn thổi ngược thôi cha ơi!

Thở hắt ra, bỗng ông Nguyễn nói với một giọng giận dữ:
- Tại sao vợ con và những đứa con của con không biết mọi thứ tiện nghi nhà cao cửa rộng mà họ đang hưởng là nhờ con mà ra. Không một người nào trong gia đình này biết sự hiện hữu của con, con sống trong thế giới của con, còn vợ con, những đứa con của con sống riêng trong thế giới của họ, con muốn tất cả vợ chồng con cái con sống trong cùng một thế giới, con muốn vợ chồng con phải đọc được ý nghĩ của nhau, chúng con tuy hai nhưng phải là một, NẾU CON CỨ PHẢI SỐNG MÃI NHƯ THẾ NÀY, CON SẼ ĐIÊN MẤT. "

Từ giận dữ, giọng ông Nguyễn bỗng trở nên não nề, cha Hiền ngồi bất động, trước khi cha tìm được câu an ủi, bỗng từ chiếc TV trong phòng khách, do sự ngẫu nhiên bà Nguyễn xem phim bộ Hồng Kông tối nay, một giọng phụ nữ ỏn ẻn cất lên :

“Phu quân, thiếp xin cùng chàng đi đến cuối cuộc đời, thiếp sẽ chia xẻ cùng chàng những đắng cay, ngọt bùi của cuộc sống, và những đau thương của cuộc đời!”

Tiếng nói nàng sao mà êm như mơ, ông Nguyễn thầm nghĩ, rồi với một giọng cả quyết, ông Nguyễn ngẩng đầu nói với cha Hiền:

- Con cần một người đàn bà như thế để đi với con nốt quãng đời còn lại, con mong cha hiểu cho con!"

Một lần nữa cha Hiền lại cúi đầu, cha nén tiếng thở dài. Nhìn dồng hồ, cha Hiền thấy cũng sắp tới giờ cha phải đi gặp ông Trần. cha đành cáo từ sau những câu động viên an ủi, xiết chặt tay ông Nguyễn, cha hứa sẽ cầu nguyện cho gia đình ông qua khỏi cơn gian nan thử thách này.

Bây giờ cha Hiền đang ngồi trong vườn nhà ông Trần, cùng trong một khu phố nên kiến trúc 2 căn nhà cũng tương tự nhau, nhưng vườn nhà ông Trần không gọn gàng và mỹ thuật như vườn nhà ông Nguyễn, khóm hoa hồng góc vườn cũng được cắt tỉa nhưng có vẻ chủ nhân làm một cách miễn cưỡng hơn là thích thú.

Ông Trần từ trong nhà bước ra với 2 ly trà nóng trên tay, đặt ly nước trà của mình xuống bàn, hai tay ông Trần nâng ly trà còn lại kính cẩn mời cha.

Kéo chiếc ghế lại sát bên cha Hiền, ông Trần tha thiết:
- Con xim cám ơn cha đã đến đây tối nay để con có thể giải bầy những uẩn khúc trong cuộc sống của chúng con.

Cha Hiền chỉ khẽ gật đầu và yên lặng chờ đợi, Ông Trần bắt đầu:
- Chúng con lấy nhau gần 20 năm, hai đứa con của con đứa lớn nhất sắp ra trung học, đứa bé cũng vào trung học năm tới, nói chung, cuộc sống của chúng con cũng đã ổn định. Khi mới qua Mỹ, vợ con ở nhà chăm sóc con cái, khi các cháu đã đủ lớn, vợ con muốn đi làm nhưng không phải là dễ vì phần tuổi tác cao, phần trở ngại tiếng anh, nên vợ con đành ở nhà luôn cho tới giờ.

Cha Hiền cúi đầu suy nghĩ: "có thể đây là nguyên nhân của sự đổ vỡ chăng ?"

Ông Trần thở hắt ra rồi bắt đầu kể:
-Mỗi tối con đi làm về, ngay ngoài garage con đã nghe tiếng nhạc ầm ĩ từ phòng con trai con vọng lại, ngoài cửa nhà con thì ôi thôi cả một rừng giầy dép hỗn độn. Ông Trần ngừng nói để nhấp một ngụm trà, khi con bước vào nhà, vừa thoáng thấy bóng con, vợ con đã gay gắt hỏi: "anh đi đâu mà giờ mới về nhà, tan sở lúc 5 giờ rưỡi, mà bây giờ hơn 6 rưỡi rồi'. Con luôn phải phân trần: " kẹt xe em ơi", rồi con vội vàng thay quần áo để chạy ra ăn cơm với nàng, thường thì con của con ăn trước, nên bữa ăn bao giờ cũng chỉ còn 2 vợ chồng con.

Cha Hiền khẽ nhíu mày và thầm nghĩ có vợ có chồng trong bữa ăn là thật hạnh phúc rồi, không biết ông Trần này muốn gì đây. nhưng giọng ông Trần bỗng trở nên thảm thiết:

- Cha biết không, trong suốt bữa ăn, vợ con nói liên tu bất tận, từ chuyện dì Út cãi nhau với chồng, tới chuyện bà ngoại mua được ký tôm on sale, thậm chí cả chuyện con chó hàng xóm chạy lạc sang vườn nhà con, con làm 12 tiếng một ngày, cái tai con muốn nổ bung, nhiều lần bất chợt nàng hỏi lại và con trả lời ú ớ, thế là nàng kể lại lần nữa. Bây giờ con "khôn" ra rồi, mỗi khi nàng kể, con chỉ cần đệm vô câu "trời ơi rồi em làm sao", hay là "em làm vậy là đúng" mặc dù câu trả lời của nàng cho những cái "rồi em làm sao, em làm vậy là đúng" con chẳng bao giờ để tâm!

Môi ông Trần thoáng diểm một nụ cười hóm hỉnh, Cha Hiền thắc mắc :
-Nếu muốn tránh phải nghe nhiều chuyện như vậy, sao ông không ăn cho lẹ rồi ra phòng khách mà nghỉ?

Ông Trần trợn mắt và nói:
- Con đã làm vài lần, mà còn thê thảm hơn cha ơi, vợ con thấy con ngồi không, "bả" còn tìm việc cho con làm, cho nên con thà điếc tai còn hơn nhọc xác cha ơi!

Ly trà đã nguội ngắt từ bao giờ nhưng cha Hiền nhấp một ngụm lớn, giọng ông Trần mỗi lúc một thê lương hơn:

- Cha biết không, nhiều tối gần 10 giờ đêm con mới xong những chuyện trong nhà mà vợ con muốn con làm, con mang ly trà nóng ra ngoài này ngồi cầu mong được vài phút yên bình, vậy mà vợ con đâu có tha cho con, bả cũng bước ra theo, trước khi ngồi yên, bả còn chạy ra chạy vô chục lần, khi thì lấy hạt dưa ra cắn, khi thì mang đậu phụng ra nhai, và cái bả không bao giờ thiếu là mở máy NÓI, riết rồi con cũng hết muốn ra ngoài nay ngồi luôn .

Rồi ông Trầøn đổi giọng diễu cợt:
-Có lần con ngồi ngoài này đúng vào đêm rằm, không gian êm đềm tĩnh lặng vậy mà vợ con vẫn nói, con nhớ có lần trong bài giảng cha có đọc bài thơ gì gì lặng thinh đừng nói...

Cha Hiền mỉm cười đọc bốn câu thơ của Hàn Mạc Tử:

Em hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới đáy nước hồ reo
Để nghe tơ liễu run trong gió
Và để xem trời giải nghĩa yêu.

Cha vừa dứt lời, ông Trần chặc lưỡi khen:
- Bài thơ hay nhất là câu đầu tiên "em hãy làm thinh chớ nói nhiều", chắc ông nhà thơ này cũng có bà vợ lắm mồm, nói nhiều như bà xã con!

Lần này thì cha Hiền không giữ được, cha bật cười thành tiếng.
Thấy cha vui vui, ông Trần kể tiếp:

- Ngày thường còn đỡ, tới weekend con còn khổ trăm ngàn lần, dĩ nhiên những chuyện cắt cỏ, dọn vườn, sửa sang nhà cửa con sẵn sàng làm, nhưng cái mục đi shopping với vợ con làm con khốn đốn vô cùng, lần nào cũng như lần nào, đi gần gẫy chân, lòng vòng gần chục tiệm quần áo, khi vợ con chọn được cái áo hay cái váy bả thích, bả hỏi ý kiến, con đưa ý kiến, bả thường trề môi "anh không biết một tí gì về fashion hết!", như vậy bả cần gì con phải đi shopping với bả!

Đêm đã khuya, mùi hương hoa hồng tỏa nhẹ trong gió, bỗng giọng ông Trần trở nên giận dữ:

- Tại sao vợ con và những đứa con của con không biết những tiện nghi vật chất, nhà cao cửa rộng mà họ đang hưởng đều nhờ con mà có...

Cha Hiền mở to đôi mắt, đây cũng là câu nói thê lương của ông Nguyễn vừa nói với cha vài giờ trước đây. Cha nín thở chờ đợi, tiếng ông Trần vẫn đầy sự phẫn nộ:

- Tại sao vợ con và các con của con lại bắt con sống trong thế giới của họ, đành rằng gia đình cần có sự chia xẻ, nhưng con cần có được một khoảng không gian riêng, một giây phút riêng, không làm gì hết, con chỉ muốn được ngồi yên một chỗ, không có tiếng vợ con léo nhéo bên tai, con chỉ muốn đơn giản như vậy mà cũng không được, tại sao vợ con lại muốn con phải nghĩ giống bả, sống như bả, NẾU CON PHẢI SỐNG MÃI NHƯ THẾ NÀY, CON SẼ ĐIÊN MẤT.

Cha Hiền cảm thấy như có một tảng đá to đè trên lồng ngực, hơi thở cha đứt quãng, cha cố trấn tĩnh và định lên tiếng an ủi ông Trần, thì bỗng cửa patio bật mở, tiếng bà Trần lanh lảnh, phá tan khoảng không gian tĩnh mịch, êm ả :

- Con xin lỗi cha, nè anh, hồi chiều tưới cây, nước chẩy yếu xìu, chắc ống nước có chỗ lủng, ngày mai đi làm về sớm, anh thay ống nước khác nghen, để nước chảy rỉ rỉ như vậy, tiền bill nước trả sao nổi.

Nói xong bà kéo cánh cửa cái rầm. Ông Trần đưa mắt nhìn cha Hiền như thầm bảo, đó, cha thấy chưa.

Cha Hiền lại cúi mặt, buổi nói chuyện chỉ vài tiếng dồng hồ mà cha đã cúi mặt biết bao nhiêu lần.

Ông Trần đợi mãi vẫn không thấy cha nói lời nào, ông nhìn lên trên trời cao, bầu trời đen thẫm lấp lánh ngàn ánh sao, bỗng dưng ông ước gì có một phép mầu cho ông chắp cánh bay cao bay cao, ông sẽ ngự trị bình yên trên một hành tinh xa xôi nào đó, và ở đó ông tin chắc ông sẽ có "riêng một góc trời".

Cha Hiền vẫn im lặng, cha xoay xoay chiếc nhẫn trên ngón tay áp út. Khi cha thụ phong linh mục, chủng viện đã trao chiếc nhẫn cho cha và cha đã đeo nó gần 25 năm. Chưa lúc nào bằng lúc này, cha Hiền mới cảm nhận và thấm thía câu nói: "Tu là cõi phúc". Cha cảm thấy chua xót và đau lòng trước sự rạn nứt để đi đến đổ vỡ của hai gia đình mà cha rất quý mến.

Biết khuyên nhủ họ như thế nào bây giờ, cha Hiền bần thần suy nghĩ, chẳng lẽ bảo: rằng hạnh phúc là CHO chứ không phải là NHẬN, rằng hôn nhân là đồng nghĩa với thương yêu, hy sinh và chịu đựng, rằng lời thề trước bàn thờ ngày thành hôn là sẽ thương yêu nhau khi gian nan hay lúc hoạn nạn, khi thinh vượng hoặc lúc nghèo đói. Nhưng gia đình ông Nguyễn và ông Trần vừa giầu sang, vừa yên bình, vậy mà họ sắp bỏ nhau đấy sao.

Cha Hiền cảm thấy mình bất lực trước quyết định của hai ông, cha nhìn lên chợt bắt gặp khuôn mặt ngơ ngơ của ông Trần, cha tự hỏi không biết ông có hiểu ly dị vợ là tan nát cả một gia đình, là kéo theo những đau khổ chồng chất mà những đứa con ông sẽ là người chịu nhiều cay đắng, khổ đau nhất.

Ông Trần chợt lên tiếng:
- Bây giờ cha khuyên con phải làm sao thưa cha?

Cha Hiền lại thở dài, lời khuyên thì cha không có, nhưng nếu cho cha quyết định, dĩ nhiên chỉ trong ý tưởng của cha thôi, chứ không thể nào thực hiện được, là cha sẽ bắt ông Nguyễn và ông Trần mỗi ông sắp một vali quần áo, hai ông sẽ đổi nhà cho nhau và sẽ ở đó một tuần, thì tự khắc hai ông sẽ "biết đá biết vàng".

Pha Lê

Saturday, October 30, 2021

Cậu Bé Lạc Loài Trong Khu Thương Xá Sầm Uất

29/10/2021
Pha Lê
Hình minh họa. (nguồn: www.pixabay.com)

Tôi đi như chạy trong hành lang của thương xá đang đóng cửa vắng tanh không một bóng người vì cơn Đại Dich Covid-19. Đây là Mall lớn và duy nhất trong thành phố Lafayette của tôi nhưng đã đóng cửa từ đầu tháng 3 do lệnh từ tiểu bang để chống lại sự lây nhiễm của Con vi rút Corona này ! Mall chưa bao giờ đóng cửa suốt gần 60 năm, cho nên đây chính là biến cố thê thảm nhưng dĩ nhiên không phải chỉ cho thành phố êm đềm của tôi, mà cho cả thế giới !

Tuần trước tôi cần trở lại tiệm lấy vài thứ giấy tờ, cho nên khi bước vào tiêm của tôi ngay sát cửa mall, dù đã biết mall đóng cửa hơn một tháng, nhưng tội vẫn khựng lại vì khung cảnh hoang vắng không một bóng người, ngay cả nhân viên trực ban bảo vệ. Một cảm giác ơn ớn kỳ lạ khiến tôi vội vã bước thật nhanh vào trong tiệm, với tay chụp những xấp hồ sơ cần thiết, tôi hối hả bước ra khỏi tiệm. Bây giờ thì ngoài cảm giác gai gai lành lạnh, tôi rõ ràng cảm nhận hình như có ai đó đang đứng sát cạnh tôi, chắc chắn đậy không phải là do sự tưởng tượng của tôi (có ai mà muốn tưởng tưởng được GẶP ma bao giờ !), nhưng đã hai, ba lần kinh nghiệm tiếp xúc với thế giới bên kia nên tôi biết chắc khi " Họ" hiện diện và muốn cho bạn biết họ đang quanh quẩn nơi đây thì không gian sẽ chợt như khô quánh lại, và bạn sẽ run run nổi gai ốc như tôi lúc này. Không một phút chấn chờ, tôi phóng người như bay về phía cửa Mall, và càng kinh hoàng hơn, cùng với tiếng chân tiếng thình thịch của tôi, rõ ràng còn tiếng dép lép bép sau lưng nghe như tiếng chân của một đứa bé đang cố chạy theo tôi .

Khi đã ngồi yên lành trong xe, tôi rồ máy cho chiếc xe lao vút ra khỏi bãi đậu xe trống lốc của Mall, tôi cảm thấy đôi chân tôi vẫn run lẩy bẩy cho nên tôi phải quẹo xe vào một bãi đậu xe của CVS, nơi có một vài chiếc xe cũng đang đậu nơi đó . Tôi nhắm mắt nhớ lại tiếng bước chân đuổi theo tôi lúc nãy, đúng là tiếng chân của một đứa bé, và tôi thật sự cũng đã biết và đã nghe về lai lịch của Johnny, tên của cậu bé này, và cậu đã hiện hữu trong khu thương xá này hơn 60 năm.

Tôi vẫn nhớ mãi cách đây hơn 3 năm, vào một buổi tối khi chúng tôi sửa soạn đóng cửa, tôi vẫn đang ngồi trong văn phòng tính toán nốt công việc, phía trước tiệm vẫn có hai cô bé sinh viên tôi mướn làm Thâu ngân viên, bất chợt Christy, cô bé người làm bước vào văn phòng tôi hỏi :

- Trong Bathroom không có ai nhưng cái máy quạt làm khô tay lâu lâu vẫn bật lện chay ù ù.

Khẽ nhún vai, mắt vẫn không rời máy computer, tôi trả lời một cách qua loa:

- Chắc bị mát điện hay gì gì đó, sáng mai cô sẽ báo văn phòng cho họ gửi thợ điện tới sửa.

Nói xong tội chờ cô bé quay ra, nhưng cô bé vẫn đứng yên, khuôn mặt ngại ngùng, hai bàn tay cô xoắn vào nhau như thể có điều gì đang trăn trở trong lòng, vài phút sau cô bé nói tiếp :

- Con không nghĩ như vậy, hai đứa con đều cảm thấy hình như có ai ở trong bathroom ! có vẻ như có người nào đó đang nghịch cái máy quạt khô tay đó .

Tôi bật cười, đứng lên xoa đầu cô bé và trấn an :
- Có ai vào đây, người khách cuối cùng đã ra khỏi tiệm mình cả tiếng đồng hồ rồi mà.

Rồi tôi khôi hài nói tiếp :- Hay con nghĩ tiệm mình có ma !

Nói xong câu đó, tôi cảm thấy ngay tức thì hình như có một làn hơi lạnh buốt chạy dài từ sống lưng xuống đôi chân khiến tôi loạng choạng suýt ngã, liếc nhìn cô bé người làm, tôi thấy mặt cộ bé tái xanh khiến tôi cũng hoảng hốt theo.

Không cần nói nhiều, tối hôm đó tiệm tôi đóng cửa sớm hơn thường lệ .

Sáng hôm sau tôi vội vàng ghé qua văn phòng Mall để báo cáo sự việc, tôi hầu như quên hẳn chuyện ma cỏ đêm qua, điều tôi lo ngại nhất là có thể chạm điện gây ra hỏa hoạn. Rồi với một giọng e dè ngại ngùng, tôi kể cho Nickkie , người quản lý của mall, cái cảm giác kỳ lạ tối hôm qua lúc tôi nói đùa về chuyện có ma trong mall, thì thật vô cùng bất ngờ, thay vì bật cười như tôi mong đợi, Nikkie nghiêm mặt trả lời tôi thật chậm rãi :

- Đó là Johnny , hai ba tháng nay nhiều người gặp "nó" lắm !

- Johnny? Johnny là ai, và nhiều người gặp nó, nhưng nó là đứa nào?

Trước những câu hỏi dồn dập và khuôn mặt ngơ ngác của tôi, Nikkie ngạc nhiên hỏi lại :

- Ms Mai, Cô làm trong Mall hơn 7 năm mà cô chưa gặp hay chưa nghe kể về Johnny sao? Đó là một cậu bé khoảng độ 5, 6 tuổi gì đó. Cậu bé đã mất hơn 60 năm qua rồi, nhưng vẫn lang thang xuất hiện trong Mall, nhiều người đã nhìn thấy cậu bé đó, nhất là những nhân viện trực đêm trong mall.

Ngừng vài giây Nikkie kể tiếp :

- Johnny thường xuất hiện khoảng gần giờ Mall đóng cửa, khoảng giờ hôm qua ở tiệm của cô, hình ảnh johnny là một cậu bé vóc dáng nhỏ nhắn, mặc một chiếc quần short đen dài ngang đầu gối và môt áo T- shirt màu trắng dài. Cậu bé đội một chiếc mũ xùm xụp qua trán nên chưa một ai nhìn thấy rõ khuôn mặt của cậu bé. Nói chung, Johnny là một hồn ma trẻ con nên chẳng làm hại ai, nhưng đã là ma thì cũng vẫn phá phách nghịch ngợm,

Tôi bật cười khi nghe đến đây và thật sự cảm thấy bớt ơn ớn về cậu bé Johnny này, Nikkie cũng cười theo tôi và vui vẻ kể tiếp :

- Rất nhiều tiệm đã báo cáo là quần áo trên kệ, trên những giá treo đều bị ném tung xuống đất, thậm chí nhiều đồ dùng trong tiệm không cánh mà bay, hoặc bị đổi chỗ cất loạn xà ngầu, báo hại nhân viên phải dọn dẹp hoặc đi tìm suốt cả ngày trời. Dĩ nhiên những trò đùa này chẳng gây hại cho ai, tuy nhiên nhiều người làm đã xin nghỉ việc khi biết chuyện cậu bé Johnny này. Nở một nụ cười hóm hỉnh, Nikkie tiếp lời, dù có thân thiện cách mấy nhưng Johnny vẫn là một bóng ma, ai mà không sợ !

Nghe câu kết luận của Nikkie tôi bỗng nhớ tới cô bạn Bích Diễm pháp sư cầu cơ năm xưa với câu nói : " Dù hiền hay dữ, âm dương cách biệt đôi đường, ma vẫn là ma, đừng tiếp xúc cũng như đừng giỡn mặt, có ngày hối không kịp !"

Nhìn Nikkie tôi hỏi một câu thật ngớ ngẩn :

- Nếu Johnny vẫn ghé qua tiệm tôi thì theo Nikkie tôi phải làm sao ?

- Có lẽ tốt nhất chúng ta gỡ cái máy làm khô tay đó xuống là tiện nhất, không còn đồ chơi, hy vọng Johnny sẽ không ghé thăm !

Ngay chiều hôm đó Nikkie cho người tới tháo bỏ chiếc máy như là đồ chơi của cậu bé Johnny. Đứng trong văn phòng tôi cúi đầu lâm râm cầu nguyện cho Johnny và mong sao hồn ma cậu bé nghich ngợm này hiểu được lý do tôi phải tháo bỏ chiếc máy này. Tôi cũng không kể cho người làm của tôi về Johnny, nhất là với hai cô bé thâu ngân viên đêm hôm trước đã nghe tiếng máy ù ù trong bathroom, vì điều rất giản dị là tôi không muốn người làm tôi lo lắng và sơ hãi.

Những ngày sau đó cậu chuyện cậu bé Johnny cũng nhạt dần trong tiệm của tôi. Bất ngờ một buổi sáng Christy cô bé người làm đêm trước bước vào tiệm, cô chạy thẳng vào văn phòng tôi run run nói :

- Con vừa nghe bên mall người ta kể về một bóng ma, hình như là một cậu bé, chuyên đi nghịch những máy làm khô tay, giống như hôm trước ở tiệm mình. Vậy là có ma ở đây cô ơi !

Tôi cố giữ khuôn mặt thật bình thản nhưng tôi hỏi lại :

- Nhưng con đã nghe những gì, lúc nào, ở trong Mall thì dĩ nhiên rồi, nhưng chỗ nào?

Cô bé trầm giọng kể :

- Một nhân viên quét dọn, bà Stacey , một tối sau khi thương xá đã đóng cửa, bà lau chùi dọn dẹp khu nhà vệ sinh. Dù mall không còn một ai vì đã đóng cửa, nhưng bà Stacey liên tục nghe tiếng máy kêu sè sè bên trong phòng vệ sinh phụ nữ, nhưng khi bà bước vào kiểm soát thì máy ngừng chạy và trong phòng vắng ngắt không một bóng người ! Suốt 2 đêm liền bà gặp hiện tượng như thế, dù rất sợ hãi nhưng bà vẫn cố làm xong công việc dọn dẹp của mình. Đến đệm thứ ba, khi vừa nghe tiếng máy kêu rè rè trong phòng vệ sinh, bà Stacey cúi đầu lâm râm cầu xin "ai" đó hãy để yên cho bà làm việc, ngay sau khi bà vừa dứt lời van xin. tiếng máy cũng ngưng ngay và bà nghe tiếng chân cùng tiếng cười nắc nẻ trong veo như của một cậu bé còn nhỏ. Sau đêm đó, bà Stacey đã xin nghỉ việc !

Ngừng lại vài phút như để lấy hơi, Christy nói tiếp :

- Người ta còn kể nhiều đêm cậu nhỏ này hiện ra chạy lung tung trong mall. Nhiều nhân viện trực đêm, nhiều người lao công đã từng nhìn thấy nó, có lúc nó cũng phá mấy người này như khóa bên ngoài cửa văn phòng của nhân viên bảo vệ khiến họ bị nhốt trong đó tới gần sáng, hay đá đổ những xô nước lau nhà lênh láng trên sàn khiến những người lao công phải làm việc suốt đêm. Chưa hết, có lần chính mắt những người đi shopping trông thấy một cậu bé chạy lon ton trên nóc của mall, mọi người hoảng hốt gọi 911, khi cảnh sát tới, hơn 10 nhân viên cảnh sát lục tìm khắp mọi nơi trên nóc nhà, trong những lỗ hổng của máy lạnh vẫn không có bóng dáng của cậu bé.

Tôi vẫn ngồi lặng thinh nghe cô bé kể, vì đã nghe và biết về cậu bé Johnny này, cho nện lòng tội vẫn dấy lên một sự thương cảm cho số mệnh bạc hạnh của cậu bé. Tôi thở dài dè dặt hỏi Christy :

- Con có cách nào tìm được lai lịch hay một chút chi tiết về cậu bé này , hay về Mall mà chúng ta đang làm không ?

Rất mau mắn, Christy bước tới bên computer của tôi, cô bé bấm bấm, tìm tìm, kiếm kiếm chỉ trong vài phút trước mắt tôi hiện ra những điều mà tội cần biết. Cảm ơn Christy tôi nghiên đầu cắm cúi đọc ...

Vào khoảng những năm 1945 cho tới 1955 nơi này là một cô nhi viện được quản trị và chăm sóc bởi các vị Nữ Tu dòng Đức Mẹ Bác Ái ( Our Lady of Charity ). Có hơn 100 em cô nhi khoảng chừng từ 3 đến 12 tuổi được nuội dưỡng tại đây.

Cuối năm 1955, một cơn bão rất lớn( được gọi chung một tên Atlantic Hurricanes ) thổi qua Lafayette. Những trận mưa thật lớn và dai dẳng đã làm mực nước con sông Vermillion River dâng cao tạo thành một trận lụt kinh hoàng cho thành phố, và bất hạnh nhất là toàn thể khu vực cộ nhi viện hoàn toàn chìm trong ngập trong trận lụt này, tất cả hơn 100 em cô nhi và khoảng 20 người nữ tu không một ai sống sót.

Khoảng năm 1970 thành phố Lafayette tu sửa và don dep khu đất này để xậy dựng lên khu thương mại cho thành phố, và những gì còn sót lại từ cô nhi viện năm xưa cũng đã được san bằng, phá bỏ.

Ngày 28 tháng 3 năm 1979, một khu thương xá được có tên Acadiana Mall được khánh thành.

Nhìn vào sơ đồ bản vẽ, nhiều người nhận ra rằng khu thương xá này được xậy dựng ngay trên phần đất cô nhi viện năm xưa, và cũng bắt đầu từ những ngày tháng đó, nhiều hiện tượng kỳ quặc, khó hiểu không thể giải thích được bắt đầu xảy ra.

Tôi thở một hơi dài vì cảm thấy trái tim tôi như vừa nhẩy sai một nhịp, và mạch máu trong tôi như muốn đông cứng lai. Như vây Johnny và gần 100 em bé cô nhi bất hạnh cùng 20 vị nữ tu đã chết tức tưởi trong đau đớn vì trận cuồng phong bão tố đêm hôm ấy. Hơn 60 năm đã qua, linh hồn các em và các vị nữ tu có lẽ đã siêu thoát về miền an bình, cực lạc. Nhưng tại sao cậu bé Johnny đáng thương vẫn còn vương vấn nơi này, cậu bé còn nỗi trăn trở khúc mắc nào chưa hoàn tất xong, hay cậu bé còn lưu luyến cuộc sống trần gian mà cậu bé chưa được an hưởng, hoặc cậu bé đang mang một sứ mạng thiêng liêng nào đó để hoàn thiện cho một thế giới đầy bất công, nhục nhằn khổ đau này.

Rồi câu chuyện về Johnny cũng chìm dần vào quên lãng vì công việc bận rộn lu bu từng ngày. Cò những buổi sáng tôi phải lên mall trước giờ mở cửa, một mình ngồi trong văn phòng làm việc đôi lúc tôi cảm thấy như có "ai" đó đang hiện hữu lẩn quẩn quanh tôi, cái cảm giác gai gai lành lạnh khiến tôi luôn lâm râm cầu nguyện "ai" đó xin hãy trả lại sự bình an cho tôi, và thật kỳ diệu, muôn lần như một, sau lời khấn vái của tôi, không gian trong phòng trở lại êm ả bình thường. Nhiều lần tôi lẩn thẩn suy nghĩ nếu đây là Mall của người Á Đông, rất có thể người ta sẽ lập một...miễu thờ cúng hay giải oan cho linh hồn cậu bé Johnny đáng thương. Với tôi, không cần biết, cũng không muốn tìm hiểu nguyên nhân vì sao Johnny vẫn còn lưu lạc nơi này, Tôi vẫn hằng cầu nguyện cho em, cho linh hồn của một cậu bé ngây thơ vô tội, nhanh chóng hồi hướng về nơi an lac, yên bình.

Ba năm qua, câu chuyện về cậu bé Johnny tôi chỉ muốn chia xẻ cùng vài người thân quen với một lời nhắn nhủ hãy cầu nguyện cho cậu bé đáng thương này. Nhưng khi nghe tiếng bước chân như của một đứa bé đằng sau lưng mà tôi biết chắc đó là của Johnny, tôi đã suy nghĩ suốt đêm và tôi nhận ra rằng có lẽ hơn một tháng qua Mall đóng cửa im ỉm, không còn cảnh nhộn nhịp mua sắm của những người đi shopping mà cậu bé Johnny vẫn nhìn thấy mỗi ngày, có lẽ cậu bé cảm thấy thật lẻ loi cô độc cho nên vừa nhìn thấy tôi, bóng ma Johnny đã vội tới gần như một lời chào đón. Nghĩ như thế tội chợt nẩy ra ý định viết lên câu chuyện về cậu bé lạc loài cô độc trong Mall để hy vọng mọi người hãy cùng nhau góp lời cầu nguyện cho linh hồn Johnny mau chóng thăng hoa.

Rồi từ câu chuyện linh hồn Johnny vương vấn cõi trần, tôi chợt nghĩ đến cơn Đại Dịch Covid-19 đang xảy ra kinh hoàng trên thế giới đã cướp đi hơn 4 triệu sinh mạng những người vô tội. Ngay tại nước Mỹ ngày hôm nay đã có hơn 750 ngàn người ra đi. Cái chết của họ thật oan khiên tức tưởi, liệu hàng triệu triệu những hương hồn đó có được hồi hướng tìm về nơi cõi an bình cực lạc, hay họ sẽ vẫn mãi vất vưởng lang thang trên cõi trần gian khổ luy này.

Tôi chắp tay khấn nguyện cho họ từng ngày và ước mong chúng ta mỗi ngày chỉ dành ra vài phút cùng nguyện cầu cho những linh hồn bạc hạnh đó nhanh chóng siêu thoát vào cõi VĨNH HẰNG.

Đức Đalai Lama đã viết: "Người chết cũng đã đi rồi, nhưng nỗi đau của những người ở lại có lẽ sẽ kéo dài vô tận ..."

Nguyện xin Đấng Tối Cao cất đi những mất mát khổ đau, và xoa dịu những sự tang tóc bi thương mà chúng ta đang oằn mình chống trả trong cơn Đại Dịch kinh hoàng này.

Pha Lê

Tuesday, May 5, 2020

30 Tháng 4 , Ngày Ấy..... Bây Giờ


Buổi tối thật im lắng, tháng 4 vẫn còn những cơn gió lành lạnh của cuối mùa xuân. Tôi ngồi lặng lẽ trước màn ảnh tivi vẫn đang trình chiếu những chương trình đặc biệt cho ngày 30 tháng 4. Không gian chung quanh tôi thật êm ả bình an, nhưng lòng tôi thật sự đang cuồn cuộn dậy sóng như những ngọn thủy triều nhấp nhô khi nhìn lại những hình ảnh, và khi đọc thêm các bài viết về kỷ niệm của hàng ngàn người Viêt Nam cho một ngày bi thảm, nghiệt ngã : 30 tháng 4 ,1975.

Suốt hơn 45 năm qua, 30 tháng 4 như một dấu mốc lịch sử mà có lẽ tất cả mọi người Việt Nam đều không thể nào quên. Từ những đổ vỡ, mất mát cho đến những đau thương, khổ ải, tù đầy, và cả sự chết chóc luôn được nhắc đến trong sự chua xót, ngậm ngùi mỗi đô tháng 4 về, để rồi chúng ta nhớ đến tháng 4 như một nỗi oan khiêng, bất hạnh của mọi người Việt lưu vong. 

Trong tận đáy lòng của mỗi người Việt Nam chúng ta, 30 tháng 4 không chỉ là một nỗi đau, nhưng còn là một sự tiếc nuối đến độ ân hận vì chúng ta đã để mất đi một đất nước với một truyền thống dân tộc hào hùng, với một nền tảng văn hóa giáo dục rất nhân bản. Chúng ta đau khổ vì ngày 30 tháng 4, nhưng cũng cùng một ngày đó, 75 năm trước đây cả thế giới hân hoan vui mừng, toàn dân tộc Đức vỡ òa trong niềm hạnh phúc tột cùng khi nhà độc tài điên loạn Adolf Hitler vừa tự sát, chấm dứt một chế độ Phát xít độc tài, bạo tàn. Như thế tháng 4 với những biến cố lịch sử trọng đại không phải chỉ có người Việt Nam chúng ta tưởng nhớ, mà nhiều nơi trên thế giới cũng đã ghi khắc lại trong những trang sử sách của dân tộc họ.

Nhưng tháng 4 hôm nay bỗng trở thành một trong những tháng mà toàn thế giới hoang mang hỗn loạn khi cơn Đại Dịch kinh hoàng Coronavirus pandemic, bùng phát từ thành thố Vũ Hán bên Trung Quốc, đã lây nhiễm với mức độ khủng khiếp từ Âu sang Á, từ Đông sang Tây, bất kể quốc gia nào, lãnh thổ nào. Sự lây lan từ nước Ý với con số tử vong tăng vọt từng ngày theo cấp số nhân, sang đến Pháp, qua Tây Ban Nha, và nhiều quốc gia trong vùng Bắc Âu đã phải đối mặt với sự lây lan không biên giới của con virus Covid-19 này.

Rồi nước Mỹ hùng vĩ cũng không thể nào tránh thoát được" Cô Vy "19 cái xuân xanh này. Trên tấm bản đồ đang trải rộng trước mắt tôi đều nhuốm một màu, hoặc không đỏ ửng thì cũng vàng cam đến chóng cả mặt. Những gam màu sắc nói lên mức độ lây nhiễm trầm trọng của mỗi tiểu bang với những dãy số dài dằng dặt bên dưới báo cáo về mức độ lây lan kinh hoàng của con Virus Corona. Này là New York với một thống kê đến lạnh gáy vì số người nhiễm bệnh và số tử vong vẫn đang tăng lên từng ngày. Còn đây California cũng toàn là những tin tức thật tang thương bi thảm, và nhiều, nhiều lắm, mỗi một nơi, một vùng là một hoàn cảnh thê lương, là một thảm trạng đau thương mà suốt hàng bao thế kỷ chưa từng xảy ra.

Đêm hình như đã khuya lắc, nhưng trên màn ảnh tivi bản tin thời sự cuối tuần vẫn đang tiếp tục. Mắt tôi cay xé khi một đoạn phim ngắn chiếu về một chiếc tàu vượt biển mỏng manh bị sóng đánh vỡ, sắp chìm, và đám Thuyền Nhân nhỏ nhoi, tội nghiệp đáng thương đó đang vùng vẫy , loi ngoi cố chiến đấu giành lai mạng sống cho chính mình trong nỗi tuyệt vọng khi cố ngụp lặn cố bơi, cố lết vào bờ. Tim tôi như vừa nhảy sai một nhịp và như muốn ngừng đập khi trước mắt tôi là hình ảnh những dẫy quan tài xếp thành hàng dài bên đất nước Ý, hay những thân xác chỉ được quấn vội trong những tấm vải bạt nằm chồng chất lên nhau vì mức độ tử vong tăng lên từng ngày, từng giờ ,và tất cả chỉ chờ để được mang vào những lò hỏa thiêu .

Cái chết đến với con người chúng ta thật bất ngờ và đôi khi rất thê thảm, nhưng tôi chợt nghiệm ra một sự tương quan thật kỳ lạ giữa sự tử vong của các thuyền nhân ngày xưa, và của những nạn nhân Covid-19 hôm nay. Khi những bệnh nhân xác định có mầm mống Coronavirus trong cơ thể, chẳng cần phân biệt chủng tộc nào, quan điểm chính trị ra sao, giầu sang hay nghèo khó, ngay tức khắc họ sẽ bị cách ly với xã hội bên ngoài, và ngay cả với chính những người thân trong gia đình. Rồi trong suốt thời gian điều tri, họ vẫn hoàn toàn không có một cơ hội, dù chỉ vài phút ngắn ngủi, gặp lai những người thân thương yêu. Nếu họ bạc phước và kém may mắn, họ sẽ ra đi trong lẻ loi, cô độc, không một vòng tay ôm đưa tiễn của thân nhân, không một cái xiết tay vĩnh biệt của bạn bè., đôi khi không có lấy một lời cầu kinh cho những người xấu số đó.

Tôi lại liên tưởng đến những thuyền nhân Việt Nam khốn khổ phải rời bỏ đất nước ra đi tìm tự do, họ phải hồi hộp trốn chui trốn nhủi trong các lùm cây, bụi rậm, trong các túp lều tranh rách nát ven sông mà thời gian không thể xác định là bao lâu, một ngày, một tuần, hay đôi khi cả một tháng, trong sự hãi hùng, lo sợ vì không biết sẽ đi về đâu. Họ không thể, hay đúng ra là không dám liên lac với gia đình vẫn đang từng giây từng phút nôn nóng trông chờ tin tức người thân của mình trong chuyến hải hành lành ít , dữ nhiều này. Như thế, thật sự những thuyến nhân này cũng đang bị " cách ly" với thế giới bên ngoài, với gia đình, và cả với bạn bè đấy chứ. Rồi khi chiếc thuyền mỏng manh lênh đênh trên biển cả mênh mông, những thuyền nhân này có thể sẽ phải bỏ mình trước những cơn sóng gió phong ba vùi dập. Cái chết của họ cũng rất âm thầm, tức tưởi không một bóng dáng người thân yêu, không cả bạn bè đưa tiễn, cũng không một chút nhang khói, hoặc một lời cầu siêu cho họ.

Tháng 4 với tôi vẫn đầy ăm ắp những kỷ niệm, tưởng rằng đã quên, nhưng khi bất chợt nghe lại một đoạn nhạc cũ, nhìn được những tấm hình xưa, hay bước qua một khu phố cổ, thì tất cả những tiếc nuối, nhớ nhung, vẫn dấu kín tận đáy lòng tôi, sẽ tuôn chảy như một dòng thác lũ, để dìu dắt tôi trở ngược lai vùng trời ký ức năm xưa....

Sàigòn tháng 4 năm ấy là khoảng thời gian vừa chớm vào thu, ngoài những con đường ngâp đầy lá vàng, Sàigòn bắt đầu có những cơn mưa rơi rớt vào mỗi buổi chiều, lại thêm cái không khí thoang thoáng oi bức khiến SG như uể oải chậm dần lại. Tin tức chiến sự mỗi ngày một nóng bỏng dồn dập hơn, và số người dân chạy loạn từ khắp nơi đổ về làm thay đổi bộ mặt đường phố SG. Mọi sinh hoạt gần như đình trệ . Ban đêm nhiều lúc ngồi học bài, tôi nghe văng vẳng xa xa có những tiếng " Đại Bác Đêm Đêm vọng về thành phố ", Chiến tranh hình như đã rất gần kề. Chúng tôi chỉ là những học sinh non nớt cho nên khi 30 tháng 4 ập đến, khi mà đại nạn tai ương đổ xuống đất nước kéo theo biết bao nhiêu khổ luy, đau thương, nhọc nhằn thi chúng tôi cũng nghiệt ngã lao đao theo. Ngày ngày chúng tôi đến trường không còn vô tư " ...Làm học trò không sách vở cầm tay ..", mà thay vào đó là nỗi lo lắng, cùng sự sợ hãi vì những đổi thay từ trường lớp cho tới bạn bè, nhưng dù sao trường học cũng vẫn là nơi mà chúng tôi còn tìm được chút hạnh phúc, niềm vui qua những thương yêu lo lắng của bạn bè, của thầy cô, để chúng tôi có thể chia xẻ cho nhau những lo âu khốn khó của cuộc sống nhọc nhằn bi thương này.

Chúng tôi vẫn cười đùa nghịch phá, nhưng vẫn mang mang một cảm giác " .. Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai". Rồi chúng tôi cũng ra trường, cuộc sống với những lo toan cơm áo, từng ngày đã nghiến nát, dập tắt những ước mơ tươi đẹp của những người trẻ chúng tôi.

Hai năm sau tôi bỏ nước ra đi trong một chuyến vượt biển hải trình đầy gian nan, nguy khốn. Chúng tôi được đưa đến đảo tỵ nan Pulau Bidong chờ ngày đi định cư tại một đất nước khác.

Kỷ niệm đáng nhớ nhất với tôi là ngày 30 tháng Tư trên đảo Bidong. Không cần sân khấu, cũng chẳng có màn che, chúng tôi chỉ có vài ba ngọn đèn chiếu sáng trên bãi biển, và khán giả cũng chỉ là những thuyền nhân ngối xổm hoặc nằm dài trên cát, nhưng chúng tôi đã làm hàng ngàn người rơi lệ, òa khóc với những hoạt cảnh " Đêm Chôn Dầu Vượt Biên ", " Ngày Mai Đi Nhận Xác Chồng ", hay chúng tôi cũng tạo nên những tràng cười bất tận với những vở hài kịch vui nhộn " Cái Nồi Ngồi Trên Cái Cốc ", nhưng có lẽ cảm động nhất vẫn là bài nói chuyện của vị bác sĩ trưởng trại. Ông đã kể lại những tang thương mất mát, những đớn đau bi lụy từ ngày 30 tháng Tư, và ông khẳng định Tháng Tư sẽ là dấu mốc lịch sử mà không người Việt Nam nào có thể quên được.

Mỗi năm khi tháng 4 về, người Việt Nam chúng ta vẫn thường có những buổi lễ tưởng niệm cho ngày Quốc Hận 30 tháng 4. Nhưng năm nay, như một điều ngẫu nhiên thật kỳ diệu, nếu như ngày 30 tháng 4 năm 1975 được tưởng nhớ như một ngày đau thương, một ngày đánh dấu cho sự sụp đổ, mất mát tan hoang cho dận tộc Việt Nam, thì ngày 30 tháng 4 năm 2020 đã được chọn là một ngày để phục hưng lại NIỀM TIN trên đất nước này, trong một cuộc chiến đầy cam go, thử thách có lúc tưởng gần như tuyệt vọng, để chống lại Cơn Đại Dịch Toàn Cầu Coronavirus. Tháng 4 ngày 30 này nhiều tiểu bang có thể sẽ gỡ bỏ sắc lệnh Lockdown và Shelter in Place ( Đóng cửa mọi chỗ, Ở Yên Một Nơi ), hy vọng mọi sinh hoạt thường nhật sẽ từ từ từng bước ổn định lại.

Trong cơn Quốc nạn vì Đại Dich Coronavirus, tôi càng cảm nhận nước Mỹ trong tôi vẫn luôn VĨ ĐẠI vì có những con người rất vĩ đại. Họ là những vị Bác sĩ, y tá, nhân viên y tế đang cật lực làm việc ngày đêm trong tuyến đầu chống Dịch, cho dù có thể phải hy sinh chính mạng sống của mình để cứu chữa những bệnh nhân đang thoi thóp trên giường. Họ cũng là những người rất bình thường, ngồi may hàng ngàn chiếc khẩu trang để gởi đến những nơi đang thiếu thốn như bệnh viện, nhà dưỡng lão, các tu viện. Họ có thể là những sinh viện, học sinh dùng kiến thức của mình để chế ra những sản phẩm cần kíp cho sự cứu trợ như bào chế hàng ngàn gallons thuốc rửa tay sanitizer từ những nguyên liệu có sẵn trong phòng lab của trường, hay dùng thời gian của mình giứp đỡ, và phân phát những bữa ăn cho những người vô gia cư.

Nhưng một điều vĩ đại hơn nữa có thể thấy được đó chính là sự chiu đựng thật phi thường của những người dân trong việc tuân thủ mọi biện pháp , mọi sắc lệnh do chính phủ đưa ra nhằm ngăn chặn việc lậy nhiễm của Covid-19 trong cộng đồng. Những sắc lệnh chưa từng bao giờ được ban ra trong lịch sử Hoa Kỳ như lệnh cách ly ( quarantine ), lệnh đóng cửa mọi nơi ( lockdown), lệnh Ở yên tại chỗ ( Shelter in place ), nhất là lại còn được thi hành tại những thành phố Không-bao-giờ-ngủ như New York, Las Vegas, Chicago, đều được mọi người dân kiên nhẫn chấp hành nghiêm chỉnh.

Trong tinh thần lạc quan, mỗi người chúng ta luôn tin rằng cuộc sống thường nhật, cũng như mọi sinh hoạt hằng ngày rồi sẽ dần dần từng bước trở lại nhịp sống như xưa. 

Sự đoàn kết và lòng quyết tâm của trên 300 triệu dân, cùng với sự nỗ lực làm việc không ngơi nghỉ của các vị lãnh đạo, chắc chắn nền kinh tế hiện đang kiệt quệ sẽ được nhanh chóng phục hồi. Nước Mỹ sau ngày 30 tháng 4 này sẽ thực sự trỗi dậy và PHỤC SINH để tái dựng lại một đất nước hùng mạnh hơn, vĩ đại hơn

Nhìn vào những lời quyết đoán của những vị chức sắc có thẩm quyền trong những tuần lễ sắp tới,Tôi rất lạc quan tin tưởng một ngày mai tươi sáng không còn bao xa. HY VỌNG là nguồn mạch cho cuộc sống của chúng ta, như Đức Dalai La Ma đã nhắn nhủ rằng :

"... THẢM HỌA NÊN ĐƯỢC XỬ DỤNG NHƯ MỘT NGUỒN SỨC MẠNH, bất luận dù khó khăn có thế nào, kinh nghiệm đau khổ có ra sao, nếu chúng ta đánh mất niềm HY VỌNG, đó mới là thảm họa thật sự..

"...Tragedy should be utilized as a source of the strength . No matter what sort of difficulties, how painful experience is, if we lose our hope, that's our disaster.

Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền,
Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn trong nước mắt
Hy vọng đã vươn dậy trong lóng anh, trong lòng tôi, trong lòng ai
Hy vọng đã ươm dậy TRONG NGÀY QUA, SANG NGÀY MAI, QUA NGÀY SAU

Tháng 4, 2020

Friday, March 6, 2020

RỒI SẼ ĐẾN MỘT NGÀY


Hoàng khẽ kéo tấm che cửa sổ máy bay xuống vì những tia nắng gay gắt bên ngoài hắt vào mặt chàng, thở một hơi dài, chàng nhắm mắt và lẩm bẩm:

- Phải cố ngủ một giấc thôi, còn khoảng ít nhất 16 tiếng nữa mới đến nơi .
Phải, Hoàng đang ngồi trên một chuyến bay trở về VN. Đây là một quyết định chắc chắn sẽ làm thay đổi cả cuộc đời còn lại của chàng. Dù trong suốt gần 6 tháng dài, Hoàng đã suy tinh, đắn đo thậm chí chàng còn gặp gỡ những chuyên viên, bác sĩ tâm lý, điều mà rất ít khi người đàn ông VN thường làm, để nhận những lời khuyên bảo, những câu cố vấn cho những xung đột, bất hòa trong gia đình chàng, nhưng tất cả rồi cũng chẳng đi dến đâu. Sự rạn nứt âm ỉ để rồi cuối cùng đưa đến một sự đổ vỡ hoàn toàn không cách gì cứu vãn được của một cuộc hôn nhân dài gần 25 năm. Cho đến bây giờ Hoàng vẫn nghĩ chàng và Ngân, vợ chàng, là hai thái cực hoàn toàn khác biệt, từ quan niệm sống, sở thích cho đến ý niệm về tôn giáo, tất cả mọi thứ đều trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, vậy mà họ đã đi bên nhau gần 25 năm ! 

Tiếng cô tiếp viên hàng không nhắc nhở mọi người cột lại dây an toàn vì máy bay sắp bay vào vùng có độ áp suất thấp đã cắt ngang dòng tư tưởng của Hoàng, chàng lại thở dài ! Khẽ liếc sang người hành khách bên cạnh , đó là một người đàn ông trung niên có lẽ tuổi khoảng xấp xỉ trên dưới 60. Hoàng nhớ trước khi máy bay cất cánh, ông ta nói oang oang trong chiếc cell phone : 

- Anh đâu muốn dzià VN một mình mà không có em, bị má đau nặng quá, không dzià gấp, anh sợ không kịp, anh chỉ đi một tuần thôi, nhưng nếu bịnh má trở nặng, anh phải ở lại lâu hơn thì anh sẽ phone cho em !

Nói xong ông cười hỉ hả tắt phone, biết Hoàng đang chăm chú nhìn mình, người đàn ông nói tiếp :

-Xin cái visa ra khỏi nước thì dễ, nhưng cái visa ra khỏi ...nhà thì thiệt là khó trần ai !

Dứt câu ông phá lên cười khoái trá. Vì phép lịch sự, Hoàng cũng phải nở một nụ cười góp nhưng mắt chàng ánh lên một tia nhìn vừa bất mãn, vừa diễu cợt. Cho đến bây giờ, những câu chuyện trở về VN của những người như Hoàng, như người đàn ông này, là đề tài chẳng ai còn muốn nhắc nhở, nói đến nữa. Biết bao nhiêu thảm kịch đau thương đã xảy ra từ những chuyến về thăm quê hương như thế này. Gia đình tan nát, hận thù chất chồng, kiện cáo tứ tung, thậm chí còn dẫn đến những án mạng thê thảm, nhưng với Hoàng thì hoàn toàn khác, đây là lần đầu tiên chàng trở về VN. Chuyến đi này là một việc chẳng - đặng -đừng của chàng. Đúng vậy, vì ngồi đây, dù chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là máy bay sẽ đáp xuống VN, nhưng chàng chẳng một chút nào háo hức, chờ mong, trái lại lòng chàng vẫn ngổn ngang trăm mối trăn trở, băn khoăn.

Hoàng đến Mỹ cùng hai người em trai vào cuối năm 85 sau một cuộc vượt biển thập tử nhất sinh khi chàng vừa tròn 22 tuổi. Chàng và hai người em đã được một gia đình người Mỹ bảo trợ. Hành trang của Hoàng trên đất nước này chỉ là mảnh bằng Tú Tài và vài năm lèng bèng Đại Học. Không muốn là một gánh nặng cho người bảo trợ, chàng quyết định đi làm, chỉ để hai đứa em tiếp tục đi học, nhưng ông bà Allen, người bảo trợ của chàng mà sau này chàng trân quý như cha mẹ, nhất quyết bắt chàng phải trở lại trường tiếp tục học. Ông Allen thiết tha nói :

- Tôi nghe nói người VN các con rất cần cù, nhẫn nại và cũng rất chăm chỉ, thông minh. Đây chính là những ưu điểm và những yếu tố giúp các con thành công trên đất nước này.

Rồi ông mỉm cười khoan dung nói tiếp :

- Chính hai vợ chồng chúng tôi cũng là di dân từ bên Ý qua đây. Đất nước này là " Land of the opportunities ", các con hãy cố gắng cực khổ vài năm, rồi mọi ước mơ của các con rất có thể sẽ thành hiện thực.

Và như thế Hoàng đã ghi danh trở lại học trong một trường Đại Học của thành phố. Nơi đây chàng đã gặp Ngân, người vợ của chàng. Ngân qua Mỹ năm 75 cùng với cả gia đình, nàng phải học tiếp 2 năm trung học trước khi bước vào Đại Học, nhờ vậy khả năng nói và viết tiếng Anh của nàng thật lưu loát. Sau những buổi gặp gỡ, những lần Ngân giúp chàng những bài viết mà khả năng Anh ngữ của chàng không đáp ứng nổi, hoặc nhiều lần Hoàng đã cố vấn cho Ngân tổ chức những buổi họp cho các sinh viên VN trong trường, chỉ vẽ cho nàng làm những tờ bích báo mà ngày xưa thời trung học chàng đã từng say mê làm, sự liên hệ của Ngân và chàng ngày một thắm thiết hơn. Rồi Hoàng cũng tốt nghiệp, một năm sau khi Ngân vừa ra trường thì họ kết hôn.

Hai năm đầu của cuộc sống vợ chồng, chàng và Ngân làm việc cật lực để trả những món nợ như nợ nhà, nợ xe, nợ trường học, nhưng vợ chồng chàng vẫn có nhửng giờ phút chia xẻ ngọt bùi, ấm cúng bên nhau. Khi đứa con trai đầu lòng ra đời, Hoàng cảm thấy hạnh phúc tràn trề, chàng thường ngâm nga câu hát : ... Đêm về nghe con khóc vui triền miên !... "nhưng rồi đứa thứ hai, và đến đứa thứ ba thì chàng cảm thấy câu hát đó chẳng còn đúng tí nào ! Đúng lúc những đứa con chàng bắt đầu đi học thì Hoàng được đề bạt vào chức vụ mới, chàng thường xuyên vắng nhà do sự đòi hỏi của công việc. Ngân vẫn đi làm, lại vừa lo lắng chăm sóc con cái. Điều làm Hoàng cảm phục nơi vợ chính là sự chịu đựng, chưa bao giờ chàng nghe Ngân ta thán, kêu ca hoặc oán trách, so sánh những việc nàng phải làm. Nhiều lần trở về nhà sau chuyến công tác dài suốt mấy tuần, và sau bửa cơm tối đầm ấm gia đình, Hoàng ngồi xem TV nhưng chàng vẫn dỏng tai nghe Ngân và 3 đứa con ngồi nơi bàn ăn để làm homework. Tiếng cười nắc nẻ của cậu bé út khi Ngân đọc sai một chữ tiếng Anh, hoặc giọng nói dịu dàng của Ngân khi nàng giảng nghĩa cho các con một bài toán, làm Hoàng cảm thấy bực bội, khó chịu. Cái cảm giác bị gạt ra khỏi mái gia đình khiến chàng vừa đau khổ, vừa tức giận. Rồi sự liên hệ, gần gũi của hai vợ chồng chàng cũng bắt đầu nhạt dần, nhạt dần, nhưng vì con cái, chàng vẫn cố duy trì mái gia đình . Năm ngoái, khi đứa con út vào đại học xa, căn nhà bây giờ chỉ còn hai vợ chồng. Ngân càng sống khép kín hơn và dĩ nhiên Hoàng cũng ít khi về nhà hơn. Đúng lúc đó thì Diễm xuất hiện. 

Trong một lần lang thang trên Facebook, Hoàng bất ngờ tìm được Diễm, một cô bạn gái thuở xa xưa trong đại học. Diễm vẫn còn ở bên VN, và với những hình ảnh trên FB cho thấy nàng là một người rất thành đạt nơi quê nhà. Ban đầu chỉ là những câu chuyện trao đổi mưa nắng trên FB, nhưng rồi mưa lâu thấm đất, sự liên hệ của chàng và Diễm càng sâu đậm hơn qua những cú điện thoại từ bên kia bờ đại dương. Bằng giọng nói ngọt ngào pha chút nũng nịu, Diễm đã đưa Hoàng trở về quá khứ khiến chàng choáng ngập những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ. Hoàng biết cuộc đời thật ngắn ngủi, chàng cần phải có một sự chọn lựa và một quyết định. Sự lựa chọn chính là Diễm và một quyết định sẽ là sự chia tay với Ngân, vợ chàng !

Đêm hôm đó khi Hoàng nói ý định ly dị cho Ngân nghe, nhưng chàng khéo léo dùng chữ giải thoát cho nhau, Ngân vẫn ngồi yên lặng, mãi gần 5 phút sau, nàng mới cất tiếng, giọng nói nàng thoáng chút âm thanh run rẩy :

- Nếu anh đã quyết định như vậy thì em chỉ xin anh cho em, ngập ngừng vài giây, nàng nói tiếp, đúng hơn là cho chúng ta 6 tháng ly thân. Trong khoảng thời gian này, em sẽ không thắc mắc anh làm gì, anh ở đâu, ngược lại anh cũng không cần phải quan tâm đến em. 

- Nhưng rồi sẽ ra sao sau 6 tháng đó ? Hoàng thảnh thốt hỏi lại .

Bằng một nụ cười buồn , Ngân nhẹ nhàng đáp:
- Thì chúng ta sẽ chính thức ly dị .

Đó là lý do tại sao Hoàng cần về VN gặp Diễm, đã 5 tháng trôi qua, và chàng chỉ còn một tháng nữa mà thôi.

Hoàng bước ra khỏi máy bay trong sự chen lấn ồn ào. Chàng chỉ có một chiếc vali nhỏ, rất giản tiện và nhẹ nhàng. Ngay cả bộ quần áo chàng mặc trên người cũng chẳng giống một Việt Kiều tí nào : áo Polo, quần jean bạc màu, đôi giày tennis. Hoàng nhìn quanh quất tìm bóng dáng của Diễm, vì đã được nàng dặn trước nên Hoàng nhận ra Diễm ngay từ xa, nàng thật rực rỡ với mái tóc hung hung vàng, khuôn mặt trang điểm thật cầu kỳ sắc sảo, và nhất là mầu áo đỏ tươi khiến nàng nổi bật giữa những người quần áo lam lũ chung quanh nàng. Một cảm giác khó chịu kỳ quặt chợt đến trong lòng Hoàng, và hình ảnh khuôn mặt thật đơn sơ bình dị của Ngân bỗng hiện ra trong trí chàng. Ô hay, Hoàng tự nhủ, tại sao chàng lại nghĩ đến vợ trong lúc này.

Bước tới cạnh Diễm, Hoàng đọc được sự ngỡ ngàng của nàng khi nhìn cách ăn mặc giản dị đến độ rất ...bình dân của chàng. Hoàng mỉm cười cắt nghĩa: 

- Ngồi máy bay gần 20 tiếng, ai dại gì mà lên khung, áo bỏ thùng, phải không em ?

Nói xong chàng phá lên cười, Diễm cũng gượng gạo cười theo, nhưng ánh mắt nàng vẫn toát lên sự khó chịu, không bằng lòng. Cố lấy giọng tự nhiên, nàng nói :

- Đáng lý mời anh về nhà em, nhưng em bất ngờ có mấy đứa cháu từ quê lên chơi, cho nên em đã đặt phòng khách sạn cho anh. bây giờ anh muốn về hotel tắm rửa nghỉ ngơi, rồi tối em sẽ đón anh đi ăn, đi tham quan thành phố. 

Hoàng chưa kịp trả lời thì Diễm đã quay sang người tài xế taxi nãy giờ vẫn đứng im lặng chờ đợi, chàng ngạc nhiên khi giọng nói của Diễm trở nên sắc và lạnh :

- Mang hành lý ra xe, chở chúng tôi tới khách sạn, cho ông Hoàng vào, rồi chở tôi về nhà, khoảng 7 giờ tối ông quay lại đón ông Hoàng về nhà tôi.

Người đàn ông cúi đầu kính cẩn và đưa tay đón chiếc vali Hoàng đang đặt dưới đất, nhưng chàng giơ tay ngăn lại và bật cười nói : 

- Ông cứ để đó tôi mang cũng được, cảm ơn ông.

Hơi ngạc nhiên vì câu nói lịch sự nhã nhặn của Hoàng, người tài xế taxi khẽ cúi đầu nhưng ông cũng vừa nhìn thấy cái nhíu mày, mím môi không bằng lòng của Diễm.

Sau cái hôn phớt nhẹ trên tóc Diễm cùng câu cám ơn cho người tài xế, Hoàng kéo vali bước nhanh vào trong hotel. Chàng choáng váng vì sự trang hoàng xa hoa, lộng lẫy của khách sạn. Lúc nãy ngồi trên xe, chàng đã sững người khi nhìn thấy sự thay đổi không thể tưởng tượng nổi của đường phố Saigon. Chàng thầm nghĩ nếu chỉ nhìn VN qua sự hào nhoáng bên ngoài, đố ai dám đánh giá VN là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới ! Rồi chàng gần té ngửa khi nhìn tờ biên nhận của nhân viên khách sạn đưa cho chàng, trời đất, chàng suýt kêu lên, 175 dollars cho một ngày. Dĩ nhiên Hoàng đã ở những khách sạn đắt gấp mấy lần khách sạn này, nhưng đó là những thành phố lớn, mức sinh hoạt đắt đỏ, nhưng đây là VN, một nơi mà đôi khi chỉ 10 dollars cũng có thể nuôi sống một gia đình. Hoàng khẽ lắc đầu khi nghĩ đến Diễm.

Suốt tuần lễ sau đó, chàng và Diễm đã đi lang thang khắp đường phố Saigon, nhưng càng gần nàng, Hoàng càng cảm thấy sự cách biệt ngày một lớn hơn. Những lúc ngồi ăn ngoài vỉa hè, chàng thật xót xa, xúc động khi nhìn thấy những cụ già run run với xấp vé số trên tay cố mời chào mọi người mua. Chàng đã nghẹn ngào không thể nào thản nhiên tiếp tục ngồi ăn khi cạnh chàng là những đứa bé gầy guộc, lem luốc, đang chăm chăm chờ chàng buông đũa là nhào tới chụp những thức ăn còn sót lại trên đĩa, và bao giờ cũng vậy, chàng thường dúi vào tay những cụ già, các em bé đáng thương đó một ít tiền. 

Điều làm Hoàng buồn lòng vô cùng trước thái độ dửng dưng gần như vô cảm của Diễm đối với sự đau khổ bi thương của con người, và chàng lại nhớ đến Ngân. Ngày xưa khi các con còn bé, Ngân thường chở chúng đến những viện dưỡng lão cho các con đánh đàn, đọc chuyện, ca hát cho những cụ già cô độc không con cái thăm viếng. Vào tuần lễ Thanksgiving, Ngân thường thức trắng mấy đêm liền để làm hằng trăm chiếc bánh bông lan, chiên từng chảo cơm chiên thật đầy, rồi khệ nệ mang đến những trung tâm cho những người vô gia cư. Nhiều lần thấy vợ bận rộn với những công việc như thế, Hoàng đã cự nự :

- Em toàn lo làm những chuyện tào lao. Vô gia cư thì đã có chính phủ lo , mắc chi mà em vác cái nợ vào thân !.

Không chút giận hờn, Ngân chỉ nhỏ nhẹ nói :
- Em làm điều này là cho các con. Các cụ vẫn nói con gái nhờ đức cha , con trai nhờ đức mẹ mà anh !

Bây giờ xa cách nàng hơn nửa vòng trái đất, Hoàng chợt thảnh thốt nhận ra rằng chàng luôn nghĩ về vợ ngay cả những lúc có Diễm bên cạnh. Chàng nhớ từng cử chỉ từ tốn, nhẹ nhàng, giọng nói êm ái dịu dàng, và nhất là đức tính khoan dung, nhẫn nại, chịu đựng của Ngân. 

Sang đến tuần lễ thứ hai, do lời khẩn khoản mời mọc của vợ chồng cô cháu gái, Hoàng rời khách sạn về nhà cô ở tạm. Nơi đây, chàng lại chứng kiến một khía cạnh mới của cuộc sống lứa đôi. Hai vợ chồng cãi nhau suốt ngày, từ những chuyện rất vụn vặt chén bát để không đúng chỗ trong bếp của vợ, cho tới chuyện đi sớm về khuya của chồng. Chàng khẽ bật cười khi nhớ hai câu thơ rất hợp cho họ :

Tình chỉ đẹp khi còn dang dở 
Lấy nhau về ...nham nhở lắm em ơi !

Ngày đầu tiên mới dọn vào, nghe cãi vã suốt ngày, Hoàng muốn dọn ra ngay. Gia đình như một địa ngục, lúc nào cũng ầm ầm dầu sôi lửa bỏng, và chàng nhớ da diết đến căn nhà gọn gàng, ngăn nắp của chàng với khoảng không gian thật êm đềm, ấm cúng mà Ngân đã tạo ra cho chồng và các con. Hoàng chợt nhận ra chàng là người thật may mắn và diễm phúc có được một mái ấm gia đình, một người vợ chịu thương, chịu khó là Ngân.

Thắt lại dây an toàn, Hoàng sửa lại tư thế ngồi cho thoải mái hơn. Chàng đã đổi chuyến bay trở về Mỹ sớm hơn vài ngày. Hoàng nhắm mắt hồi tưởng lại buổi nói chuyện với Diễm đêm qua. Trên balcony nhà cô cháu gái, Diễm và chàng ngồi sát bên nhau, nhưng đôi tay Hoàng khoanh trước ngực, không choàng qua ôm nàng như mọi khi, hơi thoáng ngac nhiên, và chưa biết được những biến đổi, giao động trong lòng Hoàng mấy hôm nay, Diễm nói với một giọng thật tự tin, pha chút âm hưởng ra lệnh:

- Khi trở lại Mỹ , anh lo thủ tục ly dị càng nhanh càng tốt, nhà cửa, xe cộ. nói chung tài sản đều phải chia đôi hết. Rồi anh về bên này với em, mà em nói trước rồi nha, tính em rất thẳng, anh về đây mà còn léng phéng, em cho ra đường luôn đó.

Nói xong nàng bật cười khanh khách, nhưng Hoàng vẫn im lìm, chàng ngước mắt nhìn lên bầu trời đen thẫm chỉ lác đác vài đốm sao, chàng quay lại khẽ cầm tay Diễm lên, giọng chàng thật buồn :

- Anh về Mỹ nhưng sẽ không bao giờ quay trở lại VN, xin em hãy tha thứ cho anh, anh biết em sẽ oán hận, thù ghét anh, nhưng anh đành phải nói điều này, Hoàng ngập ngừng vài giây rồi nói tiếp, thật ra anh còn yêu vợ anh nhiều lắm. Tình yêu của anh và em hôm nay có lẽ chỉ là những rung động nhất thời từ những kỷ niệm xa xưa đưa đến, nhưng tình yêu của anh đối với Ngân là cả một chặng đường dài, và nhất là giữa anh và nàng còn nặng nghĩa phu thê, cái nghĩa vợ chồng này đã được vun xới và bồi đắp hơn 25 năm, Ngân đã đi bên anh suốt năm tháng dài đó, động viên an ủi mỗi khi anh gặp thất bại, cổ võ chia vui những lúc anh thành công. Anh cảm thấy anh NỢ nàng cả một cuộc đời.

Hoàng ngừng nói, giọng chàng nhuốm đầy xúc động. Diễm vẫn ngồi im không một phản ứng, bất ngờ nàng đứng bật dậy nghiến răng nói từng chữ :

- Rồi anh sẽ hối tiếc với quyết định sai lầm và rồ dại này .!

Sau câu nói đầy phẫn nộ , nàng xô ghế và bước ra ngoài.

Từ phi trường Hoàng vội vã gọi taxi về nhà. Quãng đường chỉ khoảng vài miles nhưng chàng cảm thấy dài vô tận, chàng hối hả dục dã người tài xế taxi có thể chạy nhanh hơn. Hoàng đã gọi và đã text cho Ngân cả chục lần nhưng nàng vẫn không trả lời. Bước vào nhà, không gian thật êm ả với mùi hương hoa ngọc lan quen thuộc khiến Hoàng thật sự bồi hồi xúc động, chàng cảm thấy như chàng vừa tìm lại được báu vật mà chàng đã đánh mất từ lâu, cảm giác này làm chàng rưng rưng muốn khóc. Ngân ngồi trong phòng khách, một thoáng ngạc nhiên khi nhìn thấy Hoàng, nàng hỏi :

- Em không nghĩ anh lại về nhà giờ này, gần 10 giờ đêm rồi, có điều gì bất ổn không anh ? 

- Anh có thật nhiều điều muốn nói với em, anh cần ...

Ngân nhẹ nhàng đứng lên, vẫn với một giọng dịu dàng :
- Vâng , nhưng anh cần tắm rửa, nghỉ ngơi và anh cần ăn một chút gì nữa chứ ?

Hoàng cảm động nhìn Ngân, vợ chàng đó, luôn ân cần, lo lắng, chu đáo và hiểu rõ những gì chàng muốn.

Bây giờ thì Hoàng cảm thấy thật an bình, thanh thản, điều mà suốt 2 tuần qua, đúng hơn suốt hơn 2 năm qua chàng không bao giờ có. Chàng đã từng ngụp lặn trong chiếc nôi êm ả hạnh phúc do tay Ngân vun xén trong suốt 25 năm mà chàng có nào hay biết, Nhưng vẫn chưa muộn, Hoàng vừa tự nhủ như thế vừa bước về phía phòng ngủ, Ngân đang đọc kinh, ngồi cạnh vợ, Hoàng lặng lẽ quan sát nàng, trên khuôn mặt khả ái nhưng thật đơn sơ đó đã bắt đầu ẩn hiện nhiều vết nhăn của thời gian, Hoàng biết những nếp nhăn đó không phải chỉ vì tuổi tác, mà một phần từ những đau khổ do chàng gây ra. Khẽ choàng tay qua ôm vai vợ, Hoàng chợt sửng sốt vì Ngân hình như gầy guộc hơn, và nhỏ bé hơn, trong vòng tay anh, Hoàng chua xót vì hiểu được nỗi đau của vợ, chàng tự nhủ chúng ta sẽ làm lại từ đầu em nhé.

Không muốn làm Ngân chia trí khi nàng đang cầu nguyện, Hoàng bước ra phía nhà bếp, chàng tin tưởng với sự nhiệt tâm hối cải của chàng, và nhất là với đức tính hiền hòa, dịu dàng, kiên nhẫn của Ngân, chàng sẽ có lại một mái gia đình thật êm ấm. Huýt gió một bản nhạc quen thuộc, Hoàng khe khẽ hát : ... Dù cho mưa, anh xin đưa em đến cuối cuộc đời ..."

Ngang qua phòng khách, chàng chợt nhìn thấy trên bàn một xấp hồ sơ mà Ngân đang đọc khi chàng bước vào nhà. Không dằn được lòng, chàng cầm xấp giấy tờ lên xem. Bây giờ Hoàng muốn ngã khụy, mắt chàng hoa lên, bàn tay run lẩy bẩy, tim chàng như muốn ngừng đập. Đây là xấp hồ sơ bịnh lý của Ngân, và vợ chàng đã bị ung thư máu, leukemia  với lời chuẩn đoán nàng chi còn hơn một năm nữa thôi !

Hoàng bước như chạy về phía phòng ngủ, dù chỉ cách vài bước chân nhưng sao chàng cảm thấy như dài hằng dặm. Trong phòng Ngân vẫn ngồi đọc sách, mái tóc dài nghiêng nghiêng đổ trên đôi vai thon gầy, dáng nàng thật nhẹ nhàng thanh thoát, nhưng cũng thật lẻ loi, cô độc. Hoàng quỳ sát bên vợ, giọng chàng khản đặc, tiếng nói chàng bi thương cùng cực :

- Anh không biết, anh không thể ngờ ... Hãy tha thứ cho anh, I am so sorry, anh rất tiếc, anh xin lỗi ...

Chàng nghẹn lời không nói tiếp. Ngước lên nhìn Hoàng bằng đôi mắt đen buồn sâu thẳm, Ngân dịu dàng nói, giọng nàng nhẹ như gió :

LOVE MEANS NEVER HAVING TO SAY YOU ARE SORRY !
YÊU CÓ NGHĨA KHÔNG BAO GIỜ PHẢI NÓI RẤT TIẾC !

Blog Archive