Showing posts with label Trương Tấn Thành. Show all posts
Showing posts with label Trương Tấn Thành. Show all posts

Wednesday, September 23, 2020

Anh Tộ

Trương Tấn Thành 

***
Nhất cận thân, nhì cận lân.

Xin được thưa ngay đây không phải là tên thật của anh. Tên thật của anh có nghĩa là “ sống được lâu dài.” Mà thôi, ta cứ gọi anh là anh Tộ đi cho nó tiện. 

Tôi không còn nhớ là tôi đã quen với Anh hồi năm nào. Chỉ nhớ ra sau khi ra trường năm hai ngàn, sau khi có job, tôi đi tìm mua nhà thì anh chỉ cho tôi căn nhà cách nhà anh một căn, đang để bảng For Sale by Owner của một bà cụ vừa mất do người con trai đăng bán. Lúc đó vợ tôi sắp qua nên tôi thấy cũng đúng lúc và giá bán cũng vừa khả năng tài chính của tôi nên đồng ý ký giấy mua. Thế là tôi trở thành láng giềng của anh từ đó. 

Trước bảy lăm, anh là sĩ quan Quân Cụ, vợ mất, sau khi bị cải tạo về, anh lập gia đình lại. Anh có bốn con với người vợ trước và qua Mỹ theo ‘diện’ H.O.. Anh phải hơn tôi ít nhứt là bảy tuổi nhưng còn rất khoẻ. Tính tình anh chân thật cởi mở, sẵn sàng giúp đở mọi người. Cũng như tôi, anh đi học lại. Anh học hai năm, ngành cơ khí ở trường Đại Học Cộng Đồng trong thành phố chúng tôi ở. Do có uy tín, tôi nghe hình như anh chị em sinh viên Việt ta trong trường lúc đó có bầu anh là Đại diện cho mình. 

Khi tôi đi học tiếp, thì sau hai năm anh ra trường và làm thợ máy cho hảng xe Ford gần dưới phố. Sau đó anh nghỉ việc ở hảng Ford, và làm thủ kho cho cơ sở bán xe Harley - Davidson gần nhà. Một người tay chân vụng về lại dốt nát về máy móc như tôi, ở kế bên anh thật là một điều vô cùng may mắn. Những chuyện lặt vặt trong, và cả việc sửa chửa mái nhà, cắt cành, làm mộc đều nhờ tới anh. Nhứt là việc sửa hai chiếc xe của chúng tôi như thay nhớt, thay bố thắng, câu bình điện khi xe không nổ máy vân vân, đều phải nhờ và may là có anh. 

Điểm cần phải ca ngợi anh là hể lúc nào cần tôi gọi là anh qua giúp liền. Có lần xe tôi bị ‘pan’ dưới phố, gọi anh thì một lúc sau, anh lái xe truck ra và giúp kéo xe về. Anh đâu có xe truck chuyên để ‘tow’ đâu mà dùng loại dây dù lớn kết thật chắc để cột vào xe tôi để dùng chiếc xe mini- truck của mình để kéo. Trên đường xe tôi bị quẹo đi quẹo lại vì chiếc dây kéo không đủ căng để cho xe tôi chạy được thẳng. Tôi ngồi kềm tay lái mà tóat cả mồ hôi lạnh, vừa sợ bị cảnh sát phạt, vừa sợ không biết lúc nào xe mình xe lụi vào xe khác! Phần anh, dù biết có những nguy hiểm có thể xãy ra như vậy nhưng anh vẫn sẵn lòng giúp tôi. 

Anh nhận sửa xe cho bà con ta tại nhà. Trình độ Anh ngữ của anh khá, tay nghề vững chắc, bản tính lương thiện trong giá cả nên bà con ta xa gần khi xe có bị vấn đề gì thì lại đem đến anh. Anh làm công việc với tất cả lương tâm và trách nhiệm. Tôi nhớ khi xưa có lần tôi nhờ anh thay bố thắng. Khi xong, tôi lên xe de từ nhà anh ra ngoài đường thì xe nó tuột không đạp thắng lại được. Tôi hoảng quá bẻ quẹo tay lái vào hàng rào lưới sắt của anh thì may sao xe nó kẹt đứng lại nơi hàng rào. Tôi hết hồn, còn anh thì cũng xanh mặt!. Đáng lẽ nếu anh de xe từ chỗ sửa ra đường cho tôi thì rủi ro đã không xãy ra. Lưới sắt hàng rào của anh bị thụng một chỗ lớn do đuôi xe tôi de mạnh vào. Sau khi anh em nói chuyện trái phải, mọi sự được dàn xếp xong. Mấy ngày sau, tôi thấy anh luị hụi cả mấy ngày kiên nhẩn đan, sửa lại mấy mắt lưới sắt của hàng rào. Một công việc đòi hỏi thật là vô cùng kiên nhẩn mới là được. Vậy mà anh làm xong. Tôi khâm phục anh sát đất!!!

Mái che phiá sau nhà của tôi bằng tôn củ đã hơn nhiều chục năm nên vị bể, dột. Tôi nhờ anh là lại dùm. Với sự phụ giúp của một anh bạn Mỹ, cái mái đã được đóng, phủ, lợp, một cách đẹp đẻ và chắc chắn. Mái được phủ các miếng nhựa tráng dầu hắc và anh sơn trắng mặt dưới mái phía trong nhà đâu ra đó đành hoàng. À, tới đây tôi mới nhớ đến mùa bão tuyết khốc liệt vài năm trước đây làm sụp cái mái che xe, phủ bạt của tôi. 

Chưa có bao giờ nơi tôi ở có một trận trời đổ tuyết thật kinh khiếp như năm đó. Cái mái che xe ngoài sân trước nhà tôi được lợp bằng mất tấm bạt lớn. Qua mấy mùa mưa tuyết nhờ được dựng và lợp chắc chắn – phải nói là nhờ anh Tộ - nên chẳng bị hề hấn gì. Thế mà đến mùa tuyết đó, trong ba ngày tuyết đổ ngày đêm liên tục khiến tôi cào xuống không nổi. Mấy tấm bạt bị mảng tuyết lớn đè nặng làm sụp đè lên chiếc xe tôi đậu bên dưới. Không cách nào cào tuyết ra và dọn dẹp một mình, tôi phải kêu cứư tới hàng xóm đến giúp. Cả bốn người hàng xóm đến cào tuyết, dọn dẹp giúp tôi trọn cả một ngày, tới xẩm tối mới xong. Mấy ngày sau đó mới tạm gọi là đâu vào đấy. Đúng là “ nhất cận thân, nhì cận lân” vậy. 

Không thể để hai chiếc xe đậu ngoài chiụ cảnh mưa nắng nên tôi nghỉ đến chuyện cất một mái che tôn đàng hoàng cho lâu dài. May nhờ có bảo hiểm nhà trả cho một ít tiền, tôi kêu nhờ đến anh Tộ. Sau khi qua quan sát và tính toán, anh nói anh nhận làm nhưng anh nói phải có một người phụ mới được. May sao tôi có quen với anh bạn cựu chiến binh người Mỹ đen tốt bụng nhận đến giúp. Mừng quá, tôi baó cho anh đề xúc tiến việc cất cái mái che. Sau hơn ba ngày, cái mái che được hoàn thành mỹ mản. Nhìn cái mái che được cất, tôi phải thầm cảm ơn công của anh Tộ và ngừơi bạn Mỹ đã tận tình và sốt sắng giúp cho. Anh Tộ làm việc ngoài yếu tố kỷ lưởng, tính toán hợp lý, thông minh, anh rất minh bạch trong việc tiền nong. Mọi vật liệu xây dựng anh đều giữ lại biên nhận và viết một bản tổng kê tiền công và tiền vật liệu, kèm theo tất cả các biên nhận đó từ Home Depot cho tôi xem khi thanh toán tiền. Cần phải nói thêm ở đây là anh nhận luôn việc chở cất vật liệu với chiếc xe mini truck của mình. 

Tuần rồi, ông hàng xóm ở nhà kế bên có phàn nàn về mấy nhánh của cây thông bên tôi ve ra phiá bên nhà ông. Tôi thì không có cưa máy và không leo cao được nên kêu nhờ đến anh Tộ. Anh đem dây cột và cái cưa điện nhỏ sang leo lên để mé mấy nhánh đó dùm tôi. Cưa nhánh xong, anh xắp lại thành đống gọn gàng để chờ khi nào tôi có người chở đi đem đổ. Sẵn thấy cái hàng rào ván lâu năm, cái gãy, cái bị xiêu vẹo, tôi nhờ anh luôn. Anh bỏ công ra hơn một ngày để đóng chỗ này, vá chỗ nọ và thay thế ván hư, tận dụng tối đa những gỗ ván mà tôi chưá trong kho để đở tốn tiền mua. Đây là cái hay khác của anh. Anh luôn biết tận dụng và tiết kiệm vật liệu chứ không mỗi thứ mỗi mua như người khác. 

Ai đi ngang sân cỏ phía trước nhà anh đều ngạc nhiên không thấy loại cỏ bông vàng bồ-công-anh mọc. Lý do anh có cây chiả ‘thần’ hai ngạnh mà anh thường xuyên nạy văng rễ chúng nên chúng không còn mọc lại được. Cứ lâu lâu anh đi hết sân kiểm soát, hể thấy ‘tên’ nào ló lên là anh nạy bật rễ của nó ngay! Phía sân sau của anh cũng sạch sẻ, đẹp đẻ. Muà hè này anh trồng thành công nhiếu loại rau cài, bầu bí để cho bửa ăn. Con người của anh như vậy đó. Một con người siêng năng, chân thật, tốt bụng, ngăn nắp và không từ chối giúp đở ai. 

Điều đáng nói là về mặt sức khỏe của anh. Gần bát tuần mà anh vẫn còn làm được việc tương đối nặng và sửa xe cho bà con. Nếu đem tôi ra so sánh thì ... thật là buồn cho tôi. Sức khỏe của tôi chỉ bằng phân nữa của anh là cùng! Bây giờ tôi mới nghiệm ra bí quyết tạo sức khoẻ của anh. Anh ăn uống rất kỷ nên không bị ‘ ba cao một thấp’ như các bạn đồng niên của mình. Anh năng vận động thường xuyên, thường tự nấu uống các loại thảo dược ‘ organic’. Mỗi khi làm nặng, tôi nhận thấy anh hít thở rất sâu để giữ sức và thải khí độc trong người ra. Có lẽ đây là thuật ‘điều khí của anh’ chăng?

Trong quân ngủ, anh ở cấp cao hơn tôi, tuổi đời anh cũng hơn tôi, năng khiếu về máy móc và kỷ thuật, anh cũng hơn tôi. Được sống gần người mẫu mực như anh tôi thấy mình thật là may mắn. Mỗi khi làm điều gì hấp tấp, vội vả, qua loa, tôi đều đặt câu hỏi cho chính mình: “Anh Tộ có làm như vầy không?” để chỉnh lại khuyết điểm của mình. Anh xứng đáng là một “sĩ quan C.H. gương mẫu” của quân đội chúng ta, khi anh còn ở trong quân ngủ cho đến hôm nay tại xứ người. Tôi học được ở anh Tộ vô số điều hay và thật là may mắn khi được sống gần anh.

Sept. 20’20.

Saturday, June 30, 2018


Dạy tiếng Mỹ ở đảo, rồi tiếng Việt ở Mỹ

Trương Tấn Thành, WA

Khoản cuối năm tám mươi khi lên được đảo Galang tôi bắt đầu ‘mở lớp dạy Anh văn’ liền cho người đi chung chuyến với mình.  “Lớp học”  lúc đầu là căn phòng trống phiá dưới một barrack với tấm ván tường làm bảng viết.  “Học sinh” có kẻ bồng người ẵm con ngồi bệt trên nền xi măng chăm chú học bài.  Nổi mừng tới được đảo và lòng hy vọng được đi định cư tràn trề  làm mọi người, cả thầy lẫn trò, hăng hái trong việc dạy và việc học hành.

Sau đó tôi được mời dạy cho chùa và một số hội đoàn trên đảo.  Có nơi số người học thật đông gây cho tôi thật nhiều hứng khởi.  Ngoài ra vì không có thân nhân ở ngoại quốc trợ giúp tiền bạc, tôi còn nhận dạy tư cho nhóm và cho cá nhân để kiếm tiền sinh sống trong thời gian dài hơn ba năm ở đảo.  Chưa lúc nào tôi thấy mình giúp ích được cho những người đồng cảnh ngộ với mình như trong thời gian này.  Đi đâu cũng được mọi người thân mến gọi bằng “thầy” làm tôi được vô cùng mản nguyện. 

Những nhóm dạy tư thường là ở một phòng nào đó trong barrack, chừng năm ba người tụ lại với nhau để học trong hai hay ba tiếng đồng hồ, vài ba ngày trong tuần.  Sách học thì gởi mua hay người này mua lại của người đã đi. Lớp học chú trọng vào loại Anh ngữ đàm thoại, ít nặng về văn phạm nhưng chú trọng về phần đàm thoại thực hành.  Vaò thởi điểm có lệnh của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên hiệp Quốc đóng cữa các trại tỵ nạn toàn quốc năm 89, làn sóng người vượt biển bổng dâng cao.  Ngày nào cũng có vài ba chiếc tàu vưột biển được nhận vào trại.  Theo đà nhân số vượt biển tăng, Galang 1 trước đây hoang tàn, bỏ phế  bổng trổi mình sống lại.  Từ Galang 2 trở ra Galang 1, lều trại bổng đầy nghẹt người tỵ nạn cuối mùa, số người học Anh ngữ tăng theo cấp số nhân.  Một trong những kỷ niệm dạy tiếng Anh ở đảo mà tôi nhớ mãi đến giờ là anh học trò tên Thông.

Thông lúc đó trên dưới ba mươi, sống chung với người bạn gái , ngừơi này có con riêng và người em, coi như một gia đình.  Thông có được đức tính siêng năng và tinh thần ‘’trọng sư’ đáng qúy.  Để kiếm thêm nguồn thu nhập cho gia đình, Thông vào mé rừng Galang 2 để xây một lò làm bún nhỏ cung cấp cho các tiệm ăn trên đảo.  Thức khuya dậy sớm để ra mẻ bún, xong  rồi Thông đội thúng bún đi giao hàng, còn dư lại thì để gia đình ăn.  Thông thường biếu cho tôi bún để tỏ lòng kính mến.  Quần quật, đầu tắt mặt tối như vậy mà tối đến Thông vẫn đến barrack tôi để học.  Con đường thương mại phồn thịnh có  thể  gọi là  “Lê Thánh Tôn - Galang2” thì có điện do các chủ tiệm mua nhưng các barracks ở thì chỉ có ánh sang nhờ đèn dầu thôi.  Vậy mà dưới ánh đèn dầu mù mù, Thông siêng năng, chuyên cần học với tôi cho đến lúc Thông và gia đình đi định cư ở Canada. Vài năm sau khi định cư ở Mỹ, tôi có dịp qua chơi ở Toronto và có đến thăm Thông và gia đình anh.  Lúc đó Thông mới mua chiếc xe Toyota mới tinh do đồng lương kiếm được với nghề làm thợ tiện trong khi tôi chưa có được một chiếc xe ra hồn để chạy.  Thật là một bài học về tính chuyên cần mà tôi phải học ở Thông.

Tôi tiếp tục dạy tiếng Anh nhiều chỗ, nhiều nơi , cho những ai có nhu cầu để kiếm sống cho đến ngày rời dảo đi định cư.

Qua Mỹ., với sự giúp đỡ tận tình của người bạn trẻ là Nhân, tôi lại được cắp sách đền trường.  Mỗi ngày hai anh em, Nhân chở tôi trên chiếc xe pickup hiệu Mazda màu đỏ để đi học tại trường đại học cộng đồng.  Cuối tuần thì hai anh em đi làm cỏ để kiếm tiền trả tiền mướn phòng và chi tiêu vặt.

Sau khi ra trường tôi vào làm ở trường dạy cho trẻ em ngươi Da đỏ nhưng vẫn liên lạc thường xuyên với trường cũ.  Một ngày nọ, khoản vào năm hai ngàn, tôi đọc được một thông báo của trường tìm người dạy tiếng Việt cho học sinh lớn tuổi ngươì Mỹ học vì nhu cầu giao tiếp và thương mại. Tôi nộp đơn ngay để được phỏng vấn.  Vì là cựu sinh viên của trường và đã có bằng bốn năm nên tôi được nhận.  Lớp khoản bảy người lớn, đủ thành phần.  Mỗi tuần hai buổi tối mỗi tối hai tiếng đồng hồ.  Tôi cũng áp dụng lối dạy đàm thoại với những đề tài thực tế sát với đời sống hằng ngày.  Tôi cũng đem những băng hình về văn hoá và xả hội, âm nhạc Việt để tạo hào hứng cho lớp học.  Lớp học keó dài được ba tháng rồi ngưng.

Tôi cũng có dạy một lớp Việt ngữ cho người Mỹ lớn tuổi với tính cách tự nguyện cho trường Việt ngữ Hùng Vương ở Olympia vào buổi tối.  Trong số học viên có anh  tên Jim là chủ tiệm ăn dưới phố có vợ là người Việt cần học để giao tiếp  với bên vơ của mình.  Có người là sinh viên cần học để tìm hiểu thêm về tiếng Việt vân vân.  Tôi yêu cầu mỗi học viên tự đặt cho mình tên Việt Nam để tạo không khí sát với thực tế. Tôi soạn bài học ngắn theo đề tài đi sát với thực tế hằng ngày rồi sau khi tôi đọc bài viết trên bảng,  họ lặp lại cho quen âm Việt .  Kế tiếp là  từng học viên thay phiên nhau giữ một vai trò tập đàm thoại với nhau.  Cái khó nhất là phần phát âm vì âm Việt có năm dấu mà hầu như âm Mỹ không có.  Hầu hết học viên Mỹ đều không phát âm đúng được từ có  dấu nặng.  Lớp học vui vẻ và hào hứng nhờ đề tài tôi chọn ra từ các đề tài có tính cách va chạm thực tế trong cuộc sống hằng ngày.

Ngoài ra tôi còn phụ trách lớp dạy Việt ngữ cho các em nhỏ lớn lên tại Mỹ cũng ở trường Việt ngữ Hùng Vương mỗi tối thứ Sáu.  Trở ngại của các em vẫn là phần phát âm tiếng Việt không được đúng vì lớn lên tại Mỹ.  Trong khi dạy ở trường Hùng Vương, tôi được biết một giáo viên đầy nhiệt tâm và tận tụy với các em trong việc dạy muá hát dân vũ và nhạc Việt lâu năm  tại trường mà chắc chị không buồn tôi khi đề cập đến tên của chị, đó là chị Dung.  Đoàn vũ nhà trường do chị , đào luyện hưóng dẫn công phu thuờng được mời đi trình diển trong các lễ hội trong quận.  Chị xứng đáng là một giáo viên có công to lớn trong việc giữ gìn văn hoá và bảo tồn tiếng Việt ở nước ngoài.

Tôi thấy mình mãn nguyện khi dạy tiếng Mỹ cho người đồng cảnh ở đảo và phổ biến tiếng Việt khi ở xứ này.  Ít ra tôi cũng đóng góp được một phần nào vào việc mang chữ nghĩa đến cho nhiều người.  Mỗi khi được nghe tiếng gọi “thầy”  nơi các học viên tôi cảm thấy mình đã làm được một cái gì đó, dù nhỏ nhưng được mọi người chấp nhận với lòng kính mến.  Như vậy là tôi đã không uổng công liều sống chết vượt biển và phụ lòng kỳ vọng của ba má tôi khi hai người còn sinh tiền.

Trương Tấn Thành

Wednesday, October 18, 2017

Cái Cell Phone

TT Thành WA

Hạnh và Đào là hai chị em con của ba Tâm và mẹ Vân. Gia đình sống ở Yelm, một vùng ngoại thành của Olympia, tạm đủ ăn với khu vườn rộng trồng hoa kiểng. Khi hai chị em ở tuổi hai mươi, Hạnh, ngươì chị cả, rời gia đình đi lập nghiệp ở New York trong môi trường đầu tư và thương mại. Còn cô em là Đào ở lại nhà với cha và mẹ trông coi vườn cây cảnh. Gia đình còn có sự phụ lực của Nhân, trước kia là một sinh viên y khoa, độc thân và chân thật mà ông bà coi như con trong gia đình ở gần nhà.

Trong thời kỳ kinh tế đi xuống, các công ty kinh doanh và đầu tư bị ảnh hưởng nặng nề. Một hôm ông giám đốc ở công ty New York Life Insurance mà Hạnh đang làm cho cô biết là công ty phải thu nhỏ lại và thải bớt nhân viên và chẳng may là trong đó có Hạnh. Nghe tin Hạnh choáng váng và vô cùng lo buồn chưa biết phải xoay sở ra sao…

Trở về thành phố Yelm.

Một ngày nọ, ba Tâm bất ngờ bị đột qụy và tắt thở tức thì trước cữa nhà. Đào báo cho Hạnh biết để về nhưng lúc nào cũng gặp lúc phone của Hạnh đang bận Trong lúc đó Hạnh đang chạy đôn chạy đáo để xin việc nơi khác. Nhà không đợi được làm đám tang và chôn cất ba Tâm. Ngay sau buổi sáng làm đám chôn cất xong thì buổi tối đó Hạnh về tới.

Lúc đó trời đã xẩm tôi. Hạnh xuống xe taxi chạy đến qùy khóc nức nở trước nâm mộ còn chưa ráo của ba mình. Nàng thấy hối hận và tự trách mình là đã không về đúng ngày chôn của cha. Bao nhiêu uất nghẹn tuôn tràn đầy tràn đôi mắt của nàng. Đúng lúc đó Đào lái xe tới và hai chị em ôm nhau khóc trước mộ cha.

… Bà Vân ngồi sửng sờ trước chồng giấy tờ của nhân viên nhà băng báo cho bà biết là ông đã đã cầm cố căn nhà khi còn sống. Ông nhân viên nhà băng còn cho biết là nếu không trả nợ đúng hạn thì nhà băng sẽ tịch thu căn nhà! BÀ Vân nghe như bị sét đánh ngang mày. Bà không thể naò tưởng tượng lại phải có ngày bị mình mắt đi căn nhà thân yêu này. Bà rên rỉ:

- Tại sao ổng lại làm như vậy mà không cho tôi biết hả Trời!?

Người đàn ông trả lời với giọng đầy an uỉ:

- Chính vì ông không muốn bà lo lắng trong cuộc sinh kế hằng ngày…

Hạnh và Đào ngồi kế bên nhìn nhau lo lắng không nói được nên lời gì.

Khi nhân viên nhà băng đã đi, bà Vân chạy nhanh vào phòng đóng sầm cữa lại.

Đào hỏi chị mình:

- Làm sao bây gời đây chị? Chúng ta đào đâu ra tiền để trả nợ đây? Em thật không còn biết nghỉ cách nào nữa.

Hạnh cố trấn tỉnh và nói :

- Hãy bình tỉnh em à. Còn nước còn tát. Chị sẽ ở lại để ta cùng nhau tìm lối thoát…Xem này…Chị thấy đất nhà ta trồngg đầy bông hoa đẹp…Hay là chị sẽ lập một cái website để trưng hình chụp các loài hoa trong vườn ta lên máy quảng cáo để mời gọi khách hàng?... Chị rành về việc này và chị sẽ chỉ cho em và mẹ cách dùng máy để liên lạc với khách hàng.

- Chỉ cho mẹ cách dùng máy!?... Chị có nói đùa không đó! Mẹ chưa bao giờ đụng tới máy điện máy tính gì cả…Còn em thì bận việc ở hợp tác xả nông nghiệp cả ngày…

- Không sao đâu em…chị sẽ chỉ cho mẹ cách dùng giản dị nhứt…

- Chị là sao thì làm. Mẹ đang buồn lắm đó và không muốn làm gì cả…

- À, nhà có đang xài maý computer không em?

- Em chỉ có xài cái máy bảng cầm tay này thôi.

Hạnh cầm cái máy tablet trong tay bấm lên :

- Cái máy này chỉ để chơi games thôi em, nó không đủ mạnh…

- Vậy thì làm sao giờ?...

Hạnh chỉ lắc đầu cũng không biết trả lời ra sao. Bổng Đào nhớ tời mấy cái máy computers ở hợp tác xả nơi mình làm việc.

- Mình sẽ mượn một máy đem về dùng. Đào nghỉ trong đầu.

…Hạnh đang lui cui ráp máy thì có tiếng nói sau lưng làm nàng giựt mình

- Chào Hạnh, về đây bận rộn quá đó nhe! Thì ra đó là Nhân.

Hạnh cười trả lời:

- Đang ráp máy để dùng trong việc lên hình quảng cáo bán bông hoa ở nhà đó anh. Anh mới tới đó hả?

Nhân ở trạc tuổi trên ba mươi, khoẻ mạnh, hiền hậu, đã giúp việc cho nhà bà Vân từ lâu. Cả hai ông bà xem Nhân như con trong nhà vì lúc nào cần việc gì đều có Nhân. Trước kia là một sinh viên y khoa, bây giờ Nhân về vùng này làm trong trạm xá và ngoài giờ thì chạy lại phụ việc chăm bón vườn tược cho gia đình. Từ khi ông Tâm qua đời, Nhân đến đây thường hơn để phụ với bà Vân vì Đào bận việc ở hợp tác xả suốt ngày. Đang noí chuyện thì Hạnh xin lỗi anh và bốc cái cell phone lên. Có cú gọi từ New York. Hạnh đang nộp đơn xin vào một công ty mới và thường liên lạc theo dỏi tình hình việc làm bên đó.

Hôm nay Hạnh và bà Vân ra ngoài vườn chụp hình các loại bông hoa để chọn kiểi đẹp để show lên mạng. Hạnh đã thiết đạt được một wwebsite và lấy tên là “Kỳ Hoa Viên.” Nàng cũng chỉ được cho mẹ các email và để gởii hình đi các nơi, các hội đoàn, cơ sở thương mại để quảng cáo. Ban đầu bà Vân còn bở ngở nhưng sau bà thấy thích thú trong việc sử dụng phương tiện kỷ thuật tân tiến này và nhờ Hạnh chỉ dẫn mỗi khi bà gặp trở ngại.

Một bửa nọ, đang ngồi trước máy, bà Vân rối rít gọi Hạnh:

- Hạnh ơi, con lại xem đây!

Hạnh bỏ chậu bông đang vô đất xuống chạy lại nình vào máy và đọc:

- “Hội chợ thành phố kỳ này xin mời sự tham dự của trại “Kỳ Hoa Viên” vào đầu tháng. Rất mong được sự dồng ý và xin quý vị nhanh chóng trả lời. Hội Đồng Thành Phố Yelm.” 

 Hạnh quay lại ôm chầm lấy mẹ trước tin mừng này.

Bà Vân ôm lấy ngực cố dằn xúc động:

- Thật là tin mừng. Nhờ có hai đứa con đó, nhứt là nhờ Hạnh đó nhe!

Mọi người đều mừng rở, lên tinh thần , Nhân đứng gần đó cũng thấy vui lây.

Mọi người vội vả trong niềm vui chỉnh trang lại khu vườn để ươm nhiều thêm hoa kiểng và chăm tỉa lại cây lá trong vừờn.

Một hôm Hạnh đang trèo trên giàn vói tay tiả xén mấy nhánh cây thì cây thang ngã, Hạnh mất thăng bằng té theo. Chân mặt bị kẹt vào cái thang, nàng không thể nào rút chân ra được. Nàng la lên kêu cứu thì may sao Nhân đang xúc đất gần đó chạy lại giúp và dìu nàng vào nhà.

Sau khi chân hêt bó bột, Hạnh tiếp tục việc chuản bị cho ngày triển lãm. Đang uốn mấy nhánh hồng thì cái cell phone reo:

_ Alô, Hạnh đây! Sao?!Tôi được nhận rồi hả? Thật không? Cảm ơn. Cảm ơn ông lắm nhe! Tôi sẽ mua vé máy bay ngay. Cảm ơn! … 

Nàng quăng cái kềm tỉa, chạy vào nhà, giọng đầy mừng rở:

_ Mẹ ơi. Mẹ ơi! Con được nhận vào làm rồi mẹ ơi!

Hai ngày sau, Hạnh từ giả mọi người để bay qua New York nhận việc.

... Hạnh đang ở trong phòng của apartment thì cái cell phone reo:

- Chào cô Hạnh. Tôi gọi cô để báo cho cô một tin không vui. Hảng chúng tôi vừa bị thua vụ kiện nên không thể nào tiến triển công việc như dự tính...Chắc cô cũng biết tôi muốn báo cô điều gì...Rất tiếc, mong cô thông cảm...

Hạnh cúp ngay cái phone. Nàng không muốn nghe gì nữa. Nàng ngồi bệt xuống giường, đầu óc như bị ngưng hoạt động. Một lúc sau nàng đứng bật dậy, xếp nhanh quần áo vào vali. Chạy nhan xuống văn phòng apartment trả chìa khóa
...
Nhân cảm thấy rất buồn và không còn hăng hái trong công việc hằng ngày từ khi Hạnh đi mặc dù ngày đi dự triển lãm gần kề. Bà Vân và Đào củng nhận thấy như vậy và thấy ái ngại cho Nhân. Sáng nay Nhân dậy trể, chàng ra sau kho xúc phân đổ vào mấy cái chậu để cấy bông hoa ra. Mãi lui cui nên chàng không thấy Hạnh đang xách vali đi vào.

Hạnh bước nhẹ đến sau lưng Nhân:

- Anh Nhân!

Nhân quay phắt người lại:

- Hạnh! ... Hạnh về hồi nào vậy? Công việc ra sao mà...?

Hạnh không trả lời chạy nhanh lại ôm lấy Nhân nước mắt tuôn trào:

- Em về đây sống với mẹ , với Đào và với anh...

Hạnh luồn tay nhẹ vào túi lấy cái cell phone trong túi ra và ném nó vào đống lá vì từ đây nàng không để nó làm mất đi hạnh phúc được sống những ngày yên vui với người thân của mình nữa.

Tuesday, November 1, 2016

Giải Phẫu Tuyến Tiền Liệt




Một người tỵ nạn như tôi có nhiều lý do để cảm ơn con ngừơi, thân cũng như sơ, người mình cũng như người bản xứ, và đất nước này. Từ khi dự viết về nước Mỹ, tôi đã có nhiều dịp bầy tỏ lòng biết ơn của mình và luôn hiểu là nếu không được sự gíup đỡ đó thì tôi không được như ngày hôm nay.

Hồi đầu tháng Mười này, tôi vừa trải qua việc phải vô bệnh viện giải phẫu tuyến tiền liệt, và thêm thêm một lần, lại thấy không thể không viết lên lòng biết ơn của mình.

Tôi bị chứng tuyến tiền liệt nở lớn làm đường tiểu bị hẹp lại, bị đi tiểu thường, ngày cũng như đêm, khi đi tiểu thì bị đau và khó khăn, như vậy đã nhiều năm rồi. Cách đây hai năm, khi đang trên đừơng về sau chuyến du lịch mười ngày, tôi bị nghẽn tiểu và bị đau thắt nơi bọng đái nên phải đựơc đưa ngay vào ngay bịnh viện để được đặt ống thông tiểu vào bọng đái. Lần đó tôi phải chịu đặt ống như vậy hơn một tháng trời mới gặp được y sĩ chuyên khoa.

Tháng Chín vừa rồi, tôi lại bị vào cấp cứu hai lần vì lại bị bí tiểu. Lần này y sĩ chiếu rọi bên trong và cho tôi biết là hai tuyến tiền liệt bị nở rất lớn và nếu không làm phẫu thuật thì tôi cứ bị bí tiểu như vầy và cứ phải đeo ống hoài.

Nghe nói đến phẫu thuật là tôi thấy không ưng chút nào vì không biết ra sao và ảnh hưởng sau khi hậu giải phẫu có gì đáng lo không vì nhiều người tôi quen nói là sau đó cũng có thể bị nhiều biến chứng. Thêm vào đó nỗi lo về vấn đề tiền chữa trị. Tôi đâm ra ngần ngừ cho đến khi vợ tôi hối thúc và khẩn khoản thì tôi không còn dừng được nữa.

Lần phẫu thuật này là để nạo nhỏ hai cái tuyến để chúng không còn chận hẹp để đường tiểu được mở rộng ra cho thông tiểu. Y sĩ giải phẫu cho biết là phẫu thuật sẽ diễn ra trong khoản tiếng rưỡi và tôi sẽ phải nằm ở bịnh viện qua đêm.

Đêm trước ngày tôi phải nhập viện để giải phẫu, vợ tôi điện thoại cho người em con bà Dì:

- Cường hả? Anh Thành mổ vào sáng mai. Em nhớ vô bịnh viện giúp chị nhe.

Cường là con của Dì Tư, bà dì của vợ tôi, lanh lợi, hoạt bát, tiếng Anh rành mà lại quen với cách làm việc của bịnh viện vì đã từng nhiều lần đi nuôi mẹ bị nằm viện lâu ngày.

Lần tôi bị đi cấp cứu mấy tháng trước Cường cũng có mặt gíup chúng tôi.

Bữa hôm giải phẫu vợ tôi chở tôi và bịnh viện St. Peter, Providence gần nhà. Sau khi làm thủ tục, chúng tôi ngồi ở khu chờ đợi. Chừng mười lăm phút sau, Cường đã có mặt thật sớm để giúp vợ tôi làm thủ tục, nhờ vậy tôi rất an tâm.

Một lúc sau y tá gọi tên tôi vào gặp y sĩ giải phẫu nói qua về tiến trình phẫu thuật và những rũi ro có thể xãy ra trứơc khi tôi vào phòng mổ. Ông cho biết sẽ dùng phẫu thuật gọt nhỏ tuyến tiền liệt của tôi và tôi phải nằm qua đêm để xem có biến chứng gì không, nếu mọi sự ổn định thì trưa hôm sau tôi về nhà nhưng vẫn phải mang ống thông tiểu đến thứ hai gặp lại ông tái giám định. Sau khi đẩy vào phòng mổ thì tôi không còn biết gì nữa. Gần hai tiếng sau tôi được dời vào phòng hồi lực, vợ tôi đã có mặt trong đó. Bà y tá trực cũng vừa vào.

Vừa thấy tôi nằm đó, bà y tá tự giới thiệu và tươi cừơi hỏi ngay:

- Sao? Ông thấy thế nào? Có cần thuốc giảm đau không? Bác sĩ nói phẫu thuật tốt lắm. Mừng cho ông đó... Ông cần gì cứ bấm vào cái nút màu đỏ trên cái remote này là tôi tới ngay, còn cái nút này là để xem TV... Ông có đói không? (Quay sang vợ tôi bà hỏi) Còn đây là...

- Đây là vợ tôi. Cổ sẽ ở qua đêm với tôi...

- Vậy sao? Tôi lại tưởng là con gái của ông, xin lỗi bà nhe... À, bà có cần giường nằm không? Chúng tôi có sẵn dù hơi lớn chút. Bà có đói thì gọi nhà bếp đặt thức ăn nhưng thân nhân thì phải trả tiền...

Bà nhìn vợ tôi với đôi mắt đầy thiện cảm rồi nói:

- Tôi có cái phiếu thực phẩm miễn phí đây để bà dùng đặt thức ăn nhe.

Sau khi bà đi ra vợ tôi nhìn tôi nói:

- Thiệt y tá bên này đối xử với bịnh nhân thật tốt. Bên mình thì có khi bọn họ mắng nhiếc tới tấp vào mặt mình.

Một lúc sau bà y tá trở lại đo nhiệt độ và huyết áp cho tôi và xả nước tiểu trong túi đựng ra. Bà cầm túi đựng nứơc tiểu lên, nhìn và nói:

- Nước tiểu ra nhiều lắm nhưng không có nhiều máu, như vậy tốt đó. Sau 12 giờ bác sĩ sẽ vào nói chuyện với ông.

Tôi thấy bà làm việc này một cách bình thản không có gì tỏ vẻ gớm tởm hiện ra trên nét mặt.

Khỏang độ bốn tiếng sau thì bà đổi ca cho một cô trợ y người Phi trực cho đến tối. Cô y tá người Phi này tuy kiến thức y học không cao nhưng cách đối xử với bịnh nhân không kém phần lịch sự. Khi tôi cần chỉnh lại nhiệt độ trong phòng thì dù cho đó là nửa đêm, cô vẫn mau mắn làm theo lời tôi yêu cầu. Vợ tôi ở lại nên cần chỗ nằm, cô và một y tá khác đem một cái giường loại dã chiến và kéo ra cho vợ tôi nằm. Dù vợ tôi ngại làm phiền họ nhưng các cô vẫn tận tình phục vụ đến mức ngoài sự mong đợi của chúng tôi.

Đến sáng thì có hai y tá khác lên ca trực. Cô trợ y thật là thân thiện, mau mắn và luôn có nụ cười trên môi. Cô theo lịnh của y sĩ tập cho tôi đi ngoài hành lang. Cô vừa đi với tôi vừa trò chuyện hỏi han vui vẻ. Thỉnh thoảng lại hỏi tôi có cần ăn uống gì không. Lúc gần sáng tôi phải đi vào nhà cầu trong khi phải đeo ống. Khi ở nhà cầu ra, đường tiểu bị rỉ nên nước tiểu lẫn máu chảy rớt trên sàn. Cô thấy vậy liền mở hộc tủ lấy ngay một cái quần lót và khăn lót đưa cho tôi trong khi lấy khăn lau sạch vết dơ trên nền nhà. Tôi lên tiếng xin lỗi thì cô nói đùa ngay:

- Không sao, không sao. You are my boss!

Tôi rất mến phục thái độ nhẫn nại và tận tâm với bịnh nhân của cô.

(Trước khi ra về, nhân viên văn phòng của bịnh viện vào làm thủ tục và có hỏi tôi có đề nghị ai là người chăm sóc xuất sắc nhất cho bịnh nhân không thì tôi nói ngay tên của cô y tá làm việc tận tâm cách xuất xắc này.)

… Xin cảm ơn tất cả bác sĩ và các y tá đã thực hiện đúng câu “lương y như từ mẫu ” này.

Buổi tối, sau khi được đưa sang nằm ở phòng hồi phục tôi bỗng bị chứng nấc cục dữ dội, cả đêm không ngủ được. Y tá trực có báo với bác sĩ nhưng ông cũng không hiểu lý do tại sao. Nửa đêm về sáng y tá có vào tiêm cho tôi một mũi thuốc và bấm huyệt ở tay nhưng cũng không bớt.

Mỗi lần tôi bị đau khi trở mình vợ tôi lại lo lắng hỏi thăm tôi hay bấm nút gọi y tá vào. Tôi còn phải nằm chưa tự ngồi dậy được nên khi bị nấc cục quá chịu không nổi, tôi phải nhờ vợ tôi đỡ dậy kê gối lên cao cho dễ thở. Rồi lúc tôi cần uống nước hay cần đắp thêm mền cho ấm, vợ tôi làm cả cho không có giờ nghỉ cho mình. Đến gần sáng thì nàng mới chợp mắt được một chút. Thật là đến lúc bịnh nằm trên giường ta mới thấy sự lo lắng và tình thương của người bạn đời là vô biên và qúi báu đến mức nào.

... Xin cảm ơn tất cả những bà vợ đã tận tình chăm sóc cho chồng mình trên giường bịnh không kể đến bản thân mình.

Gia đình bà dì ruột của vợ tôi cũng dành cho tôi sự trợ giúp đặc biệt. Không chỉ mình em Cường lui tới bệnh viện giúp anh chị, mà cả dượng Tư lẫn cậu Năm cùng vào bệnh viện thăm. Sau đó gần như ngày nào Dì Tư cũng đều hỏi thăm coi tôi ra sao. Dì Tư cũng đang mang nhiều bịnh trong người nhưng lúc nào cũng qua tâm đến người trong nhà cũng như người quen bên ngoài. Đó là một đặc điểm của dì mà tôi không tìm thấy được ở nhiều người khác. Tính của dì độ lượng cho dù người nào đó đối xử với dì tệ bạc. Dì luôn cho đi mà không hề cầu mong nhận lại. Nhờ dì mà vợ tôi có được sự hỗ trợ về tình cảm thật lớn lao trên xứ người.

Ngày đầu sau khi ở bịnh viện về, dì nấu canh trái su và ca ri gà và mấy túi trà sâm đem qua cho tôi vì biết vợ tôi phải chăm sóc tôi nên không có thì giờ nấu nướng.

... Xin cảm ơn gia đình và lòng rộng lượng của dì đã bỏ qua cho những khi cháu lỡ lời.

*

Một buổi sáng nọ sau khi tôi xuất viện được hơn ba ngày thì có chuông điện thoại reo.

Tôi bắt máy:

- Alô, Thành đây.

Tiếng chị Liêm vang lên dồn dả:

- Thành hả em, sao em mổ chưa? Mười hai tây này phải không?

Chị Liêm là bà chị trước kia tôi cùng hai vợ chồng chị share phòng trong nhiều năm. Chị là một bà chị đầy lòng từ tâm và lúc nào cũng sốt sắng giúp đỡ mọi người.

- Em mổ rồi chị ơi!

- Em mổ rồi sao? Vậy mà nghe em nói mười hai tây...

- Dạ, bác sĩ giải phẫu nói có chỗ trống nên ổng sắp cho em được mổ trước...

- Em thấy khỏe không? Chị đến thăm em được không? Giọng của chị gần như là khẩn khoản làm tôi xúc động.

- Dạ cảm ơn chị. Bây giờ em vẫn còn yếu, chị để đến tuần tới cho em thiệt khỏe...

- Nhớ nhe, tuần tới chị sẽ đến thăm em. Thôi nghỉ khỏe đi. Bye em.

... Xin cảm ơn sự lưu tâm của một bà chị nhân từ.

Trong mấy ngày nằm ở bịnh viện, có chị Anh và người em dâu cùng làm chung với vợ tôi đến thăm và sau đó có biếu tôi hai lố sữa Ensure... Chị The, vợ của người bạn đã quá cố của tôi là anh Được, cũng có tới nhà thăm và tặng tôi hai lần sữa Ensure để tôi bồi bổ. Tôi nhớ là sáng hôm đó, khi mở cửa ra thi tôi thấy một túi giấy in tên chợ Wal-mart để trước cửa, trong đó có hai lố sữa mà không thấy đề tên người gởi. Tôi không nghĩ là của chị The vì chị đã cho tôi trước đó một lần rồi. Nghĩ mãi không ra, tôi gọi hỏi dò từ nguời này đến người nọ sau cùng tôi nhớ lần trước chị cũng cho sữa đựng trong bao giấy dầu của chợ Wal-mart. Chắc là của chị nên tôi gọi hỏi, thì đúng là quà của chị The cho.

... Xin cảm ơn các chị đã có lòng tốt quan tâm đến chúng tôi khi tôi lâm trọng bịnh.

Buổi sáng sớm tôi đang chuẩn bị làm thì có phone gọi:

- Alô, Thành đây...

- Anh có sao không? Ngày hôm qua tôi gọi hỏi thăm ba lần mà đường dây bận hoài tôi không biết anh có sao không? Anh có sao không?

Thì ra đó là anh Tâm, bạn tôi gọi hỏi thăm sau khi biết tôi nhập viện. Tôi và Tâm thường dành vài phút để gọi thăm nhau gần như là mỗi ngày.

- Mình ok. Hôm qua đường dây bị bận hoài... Mình ok...

- Nghe vậy mừng cho anh vì không biềt anh mổ về có bị biến chứng gì không. Rán tịnh dưỡng nhe.

Xin cảm ơn rất nhiều người bạn thân luôn cùng chia sẻ vui buồn với mình trong cuộc sống tất bật và vô thường này.

Tôi nhớ vị nào đó đã nói rằng ta đừng nên coi những gì mình đang được hưởng ở đời là một điều “đương nhiên” mà phải biết cảm tạ những gì mình đang được hưởng, dù cho điều đó là nhỏ nhoi đến đâu. Đúng là những người đã giúp mình, quan tâm tới mình làm cho ta thấy cuộc đời này còn có nhiều lý do để vui sống, để cảm ơn người và cảm ơn đời. Tôi chợt nhớ lại câu: “Đếm phước đừng đếm họa và cảm tạ những ơn phước mỗi ngày.” Tôi nguyện sẽ thực hành đúng như vậy. Nhứt là đếm những ngày hạnh phúc sống bên người bạn đời của mình để mỗi ngày nói lên tiếng “Cảm ơn em.”

Trương Tấn Thành

Monday, September 19, 2016

Galang, Tình Xù và Cây Dù





Galang nổi tiếng “tình xù”
Galang cũng có cây dù dễ thương

Bạn nào từng ở trại tỵ nạn Galang thì chắc còn nhớ hai câu này. “Tình xù” là thứ tình có tính cách tạm bợ của những mối tình trên đảo, dù cho có thắm thiết đến mấy rồi cũng tan đi khi chàng và nàng đi định cư ở phương trời Âu Mỹ. Còn cái nắng cháy da ở Galang làm cho cây dù trở nên một biểu hiện, một hình ảnh không thể thiếu được của “dân trên đảo”... Giờ xin lui lại năm tám chín, khi tôi lên ghe vượt biển lần thứ bảy để tìm Tự Do.
...
Nhờ sự khuyến khích và cổ động của hai người bạn tốt là Đạt và Hoa, tôi bấm bụng làm một chuyến vượt biển chót sau bao lần thất vọng với nhiều lần bị tù tội.

Đạt là sĩ quan Hải quân, bạn thân của Hoa cùng đơn vị, thấy tôi bị bầm dập vì bao lần vượt biển không thành, Đạt giới thiệu tôi cho Hoa và một anh sĩ quan hải quân khác lúc đó sẽ là hoa tiêu cho chuyến taù vượt biển. Chuyến tàu này do một do người chủ tàu tổ chức trẻ có nhiều bản lãnh tên Hùng đem theo cả gia đình và thân nhân. Vì có cả gia đình đi nên chuyến đi được ngừơi chủ tổ chức thật chu đáo, với tàu mới, máy mới, dàn hoa tiêu là sĩ quan Hải quân, lương thực dầu, hải bàn đầy đủ và có cả “đồ chơi” phòng khi đụng độ với bọn du kích canh ở cửa ra sông. Với sự chuẩn bị chu đáo như vậy, tôi linh cảm là lần này, mình có nhiều hy vọng đến được bến bờ Tự Do…

Khi nghe tiếng từ trên vọng xuống:

- Bà con ngồi im nhe. Ghe đang vượt trạm biên phòng đó.

 Mọi người hồi hộp ngồi im thinh thít dưới hầm ghe, mặt tái xanh, miệng lầm rầm đọc kinh. Độ một tiếng đồng hồ sau, máy ghe chạy chậm lại, có tiếng đập trên nắp hầm:

- Qua khỏi trạm rồi nghe bà con!

Cả hầm ghe nhốn nháo lên tiếng reo cười mừng vui và vang lên lời cảm tạ Bề Trên... Khách trên ghe khi ra khỏi cửa Bình Đại là 169 người, lớn bé.

...Bốn đêm, năm ngày. Đêm thứ hai tôi được cho lên phía trên ghe hóng gió. Lúc đó trời tối đen đầy sao lấp lánh. Tôi bỗng nghe những tiếng gío hú kỳ lạ như tiếng người than khóc vọng lên từ đáy biển, cõi âm ty.

Tiếng ai oán vọng lên từ đáy biển
Của oan hồn, uổng tử chốn âm

Ghe tiếp tục chạy đến sáng chung quanh chỉ có trời và nước. Khoảng giữa trưa, khi tôi và một số người ngồi trên phía trên ghe thì thấy một chiếc tàu thật là to đang từ từ chạy hướng về chúng tôi. Cả ghe mừng rỡ reo hò, quơ tay, phất aó cuồng nhiệt hy vọng được tàu đến vớt. Khi chiếc tàu từ từ đổi hướng mọi người rũ người ra vì thất vọng. Chiếc ghe lại tiếp tục cuộc hải trình.

Đêm thứ ba, ghe neo đậu ngoài khơi vùng biển Hoa chỉ vào vùng có đèn sáng rực ở xa nói với tôi đó là Singapore. Sau khi thảo luận với hoa tiêu, người chủ tàu đồng ý cho ghe chạy vào vùng đảo Nam dương. Nghe nói ghe chạy vào Nam dương, tên “Galang” bổng hiện ra trong trí tôi như một lóe sáng của tột cùng mản nguyện:

- Phen này mình đến được đảo rồi! Cảm ơn Ơn Trên, cảm ơn tất cả mọi người.

Tôi còn nhớ mãi hình ảnh buổi sáng thật là đẹp trời ghi ghe đi và vùng đảo của Indonesia. Mọi người xôn xao, náo nước trong vui mừng. Bây giờ làm sao vào được Galang vì trên hải đồ không có ghi vị trí trại. Ghe chạy dò dẫm một hồi trong quần đảo, bỗng thấy một người đàn ông đang chèo chiếc thuyền nhỏ, mừng quá, ghe áp sát vào hỏi anh ta bằng tiếng Anh:

- Galang? Galang ở đâu?

Không biết anh ta hiểu hay không nhưng thấy anh ta chỉ vào vùng biển mé trong. Chủ ghe cảm ơn và tặng anh ta cái rađiô trăn-zít–to nhỏ, ghe tếp tục lái về hướng được chỉ.

Toàn thể 169 người trên ghe được lập hồ sơ và được xe nhà binh chở về trại tỵ nạn Galang với số hiệu là “Tàu SG 169”, một trăm sáu chín người trên chuyến tàu ra đi từ Sàigòn. Chúng tôi được Ban đại diện trại ra đón ở bến tàu chúc mừng và uỷ lạo. Sau đó từng nhóm được xe chở vào khu “Kiểm Dịch” nằm trong khu Galang 2. Khu có cổng bằng tôn luôn đóng kín nhưng tôi không thấy có lính canh.

Ở thời điểm gần cuốn năm tám chín này khi các nước Tự Do ngưng nhận thuyền nhân và đa số cac trại tỵ nạn đóng cữa, Galang đang trên đà suy tàn, xuống dốc. Cây hoang, cỏ dại mọc um tùm bao quanh khu Kiểm dịch trong cảnh giậu đổ, bìm leo. Theo quy định an toàn y tế, thuyền nhân mới tới đảo phải chịu bị cô lập một thời gian để được chích ngừa bệnh truyền nhiễm. Giờ thì không còn việc chích ngừa nữa vì không còn tài khoản khi các trại tỵ nạn đã bị đóng cữa nhưng chúng tôi vẫn phải chịu cô lập không được ra ngoài trong gần hai tháng. Thức ăn, nhu yếu phẩm sinh hoạt có đại diện tàu ra ngoài lãnh đem vào phân phối.

Nói chung thì các dãy trại bằng gỗ thông dán ép vẫn còn ở tình trạng khả dụng. Phía dưới căn trại là nền xi măng có cầu thang bước lên, tầng trên là khu ngủ tập thể tùy theo sự xắp xếp của ngừơi ở. Việc nấu nướng trong khu thì không cấm nhưng bị hạn chế. Dù hoàn cảnh sống chật vật như vậy nhưng mọi ngưừi đều hoan hỉ và rất lạc quan vì tới được trại tỵ nạn.

Một buổi sáng nọ, không kềm được sự tò mò, tôi leo rào tôn ra ngoài đi lên ngọn đồi trước khu trong buổi sáng tinh sương. Trước mặt tôi là một vùng đồi đầy hoa lá um tùm hoang sơ và thơ mộng. Có một loại hoa trắng nhỏ li ti thật là xinh, tôi hái gom thành một cụm để làm qùa tặng.

Để bớt đi cái nhàm chán hằng ngày trong khu, tôi nảy ra ý nghĩ tổ chức dạy Anh ngữ cho người cùng chuyến. “Lớp học” là khu trống dước căn trại với nền xi măng làm chỗ ngồi và tường ván ép làm bảng. Lớp học dã chiến đó được bà con hưởng ứng nồng nhiệt. Tôi hoan hỉ thấy mình làm được điều có ích cho ngừơi khác. Đây là lớp học đầu tiên của tôi mở đầu cho nhiều lớp học cho các đoàn thể khác trên đảo sau này.

Galang thường được biết qua hai khu: Galang 1 và Galang 2. Ngoài ra còn có “Khu Minors” dành cho các trẻ em vị thành niên không có cha mẹ đi theo và Khu Galang 3 nơi an nghỉ của thuyền nhân xấu số trên đảo. Khu Galang 2 có thể coi là khu hành chính và là trung tâm sinh hoạt của đảo. Nơi đây có chùa, nhà thờ, trừơng dạy nghề, có trụ sở của cơ quan JVA (Phòng Liên hợp Thiện Nguyện phục vụ cho Cơ qua Di trú của Hoa Kỳ) và các quốc gia Úc, Tây Âu khác. Nằm chung quanh là dãy nhà dành cho nhân viên Cao Uỹ Tỵ nạn, cơ quan P3V trong coi việc an ninh cho đảo của chánh quyền Indo và một nhà bưu điện nhận thư gỡi, phát thư từ, điện tín cho dân trên đảo. Một dãy trại được dành cho Ban Đại diện phục vụ cho dân trên đảo.

Ai đã từng ở Galang 2 chắc đều có lần đi trên “Đại lộ Nguyễn Huệ” trên đảo, xin gọi tên như vậy vì hai bên là hàng quán cà phê, hủ tiếu, cháo gà... và các sạp bán hàng tạp phẩm sầm uất do các chủ sạp lấy từ đảo Pinang kế bên về. Các chủ sạp và chủ quán cà phê là những thuyền nhân có vốn bỏ ra mua bán kiếm lời để sống trong nhiều năm chờ đợi được đi định cư ở quốc gia thứ ba. Galang 2 còn có một rạp xi nê và quán Cà phê Trên đồi rất nên thơ và trữ tình với những buổi tối có chăng đèn màu trong cảnh gió mát trăng thanh. Dân trên đảo ngồi uống cà phê, nghe nhạc vàng quen thuộc thân yêu, thưởng thức hương vị độc đáo như cần sa của của điếu thuốc lá Indo hiệu Garam để thấy mình quên hết những quảng đời khốn nạn khi xưa, trước khi được hưởng không khí Tự Do. Nói tóm lại, đây là một “tiểu đô thị” của đảo.

Nói đến Galang là phải nói đến các quán cà phê. Khi tôi tới đảo chỉ có Quán Cà phê Trên đồi nhưng càng về sau khi làn sóng người tỵ nạn lại dâng lên vào khỏan chín mươi và sau đó, thì qúan cà phê mọc lên như nấm để phục vụ nhu cầu giải trí của dân trên đảo. Quán nào cũng có TV để truyền hình phim chưởng được tiếp vận từ Singapore. Những phim ăn khách như “Cô Gái Đồ Long, Thần Điêu Đại Hiệp...” được liên tục phát chừng một tiếng đồng hồ mỗi đêm để thu hút khách vừa xem vừa uống cà phê. Dần dần quán cà phê mọc lan ra tới Galang 2 nằm ở những vị trí nên thơ và trang trí đầy mỹ thuaật. Thời gian chờ đợi được đi định và năm tháng qua nhanh ở đảo cũng nhờ những quán cà phê này. Xem phim xong, ta còn có thể ghé vào hàng chè cháo thơm lừng, nóng hổi đang chờ đợi phục vụ cho bao tử trước đêm tàn.

Bây giờ xin nói qua về các lớp Anh văn trên đảo. Kể từ lớp học bỏ túi lúc đầu, sau khi được ra khỏi Khu Kiểm dịch, tôi bắt đầu mở rộng thêm các lớp miễn phí cho từng nhóm nhỏ, sau đó cho các hội đoàn như Hội Hướng Đạo, cho chùa và lớp miễn phí cho bất cứ ai muốn học. Có lớp lên đến gần năm chục người, như ở Galang 1 hay ở chùa Long Hoa. Đây là thời gian đầy sung mãn và đầy nhiệt tình phục vụ người cùng cảnh ngộ của tôi. Tôi nhận thấy mình đã làm một việc hữu ích trong năm tháng dài trên đảo.

Ngoài ra để kiếm sống, tôi nhận dạy từng nhóm nhỏ những người được thân nhân gởi tiền phụ cấp để có tiền chi tiêu hằng ngày. Lớp đông thì tôi chú trọng và phần văn phạm, nhóm nhỏ thì tôi nhấn mạnh vào đàm thoại. Sự hăng hái và lòng hiếu học của mọi người cùng nổi vui tột độ sau khi thóat được Địa ngục Trần gian, tạo cho tôi một năng lực gần như là vô biên. Cũng nhờ có khả năng về Anh ngữ mà tôi được nhận vào phục vụ cho Cơ quan Thiện Nguyện Di trú Hoa Kỳ JVA trên đảo.

JVA là cơ quan thiện nguyện lo về việc nhập cư Hoa kỳ viết tắt của cụm từ “Joint Voluntary Agency.” Ai đã từng sống ở Galang thuộc diện được bảo lảnh đi Mỹ chắc đều biết JVA. JVA tổ chức, sắp xếp hồ sơ, lên lịch trình thẩm vấn người tỵ nạn xin đi Mỹ. Cứ khoảng sáu tháng có thẩm phán về di trú từ Singapore qua để phỏng vấn người và gia đình xin đi Mỹ. Nhân viên của JVA lo việc nhận đơn, làm hồ sơ, nhận danh sách, lên lịch trình và thông báo bằng loa phóng thanh cho người tới phiên được phỏng vấn cũng như làm việc thông dịch cho thẩm phán khi phỏng vấn các ứng viên. Cũng từ những cuộc phỏng vấn này mà đẻ ra từ “xù”.

Số là có anh chàng thẩm phán Mỹ tính tình ngông ngông, đầu tóc để xù lên như những dân da đen thuộc nhóm Black Panthers hồi thập niên sáu mươi. Anh chàng này hay hỏi những câu trớ trêu để đánh rớt người được phỏng vấn. Người nào nghe là mình bị “lên gặp đầu xù” thì nên lo run trước! Kể từ đó từ “xù” dùng luôn cho những mối tình cuối cùng bị bất thành, tan vỡ khi rời đảo, trong số đó có tôi. Ngoài những giải trí về vật chất, Galang còn có những cơ sở tôn giáo phục vụ về mặt tinh thần.

Chùa Long Hoa nằm trên ngọn đồi uy nghiêm nhìn ra cữa bể thật là u tịch, thoát trần. Sau khi leo lên mấy mươi bậc thêm lên đến chùa, ta đứng nhìn ra biển trong gió lồng lộng thổi thấy như là mình đang ở trên tiên cảnh. Chùa được những người ở Galang trước kia sau khi định cư gởi tiền về xây lên ngôi chùa uy nghiêm, bề thế này.

Galang 2 có nhà thờ nằm trong khuôn viên thanh tịnh với bức điêu khắc chiếc tàu vượt biển được sự tế độ của Đức Mẹ. Nơi đây mỗi sáng sớm phát loa vang lên toàn đảo buổi cầu kinh sáng sớm. Nhà thờ có ông cha người Indo lo việc phụng vụ và uỷ lạo những thuyền nhân mới vừa nhập đảo. Nhà thờ cũng có lớp dạy Anh ngữ riêng do giáo dân phụ trách.

Bên Tin Lành có hai vợ chồng mục sư trẻ người Indo có những sinh hoạt tiếp cận và thực tế với mọi người. Về sau này có Giáo Hội Hoà Hảo được dựng nên để thờ phụng Đức Thầy. Có một sự việc vô cùng ngạc nhiên và thú vị là tôi có gặp lại một anh bạn cùng đơn vị xây một “Cửu trùng đài” với cây chặt từ trong rừng để cùng tín hữu của mình hành đạo. Thật là một công trình mang tính cách tôn giáo lạ thường và hi hữu mà tôi thấy được.

Nói đến đảo thì phải nói đến biển, mãi cho đến giờ, tôi phải nhận rằng không có bải biển nào mà tôi biết qua đẹp cho bằng bải biển ở Galang.

Bải biển Galang đẹp vì vẻ hoang sơ và nên thơ của nó. Bãi cát trắng chạy lài ra biển, cội dương già vi vu trong gió, chòm cây bụi cỏ phủ xanh mát một một vùng. Trời xanh, biển rộng, ngọn sóng hiền hòa, không một nơi resort nào sánh bằng.

Từ Galang 2 đi bộ ra biển cũng phải hơn nửa tiếng nhưng cảnh vật thiên nhiên kỳ vĩ hai bên làm ta quên đi hết thời gian. Khi tới gần biển thì đã nghe tiếng sóng và mùi gió mặn đánh tan đi hết nỗi mệt nhọc. Rồi bãi biển rộng mở ra trứơc mặt với vùng cây cối xanh tươi với những cội dương già mọc rải đều ven bờ. Bãi biển dài cát trắng tinh trong nắng ấm như đang chờ đợi con người ở tha phương đến đùa vui với mình.

Thường thường dân trên đảo rủ nhau đi biển vào cuối tuần, mang theo món ăn, thức uống để vui chơi, tắm biển, phơi nắng từ sáng đến xế chiều. Tôi thường ở lại sau cùng tậm hưởng kho trời nước lúc hoàng hôn, khi mọi người đã ra về để đùa sóng trong màu vàng, đỏ ối của mặt trời tròn to đang lặn xuống ở chân trời.

Ôi cảnh mặt trời lặn sao huy hoàng trên biển
Cội dương già, cát trắng, sóng nước, chỉ còn ta
Có phải thần tiên hải đảo là đây?

Từ Tình Xù..

Trên chuyến tàu vượt biển chàng và nàng ngồi kế bên nhau trong bóng tối dưới hầm tàu và chỉ là hai người xa lạ. Khi cập bến vào hai người được biết nhau qua sinh hoạt hằng ngày trong Khu Kiểm Dịch. Hai người cảm thấy thật là tâm đầu ý hợp thì cảm tình bắt đầu nhen nhúm theo năm tháng dài sống chung trên đảo. Chàng và nàng sống với nhau như vợ chồng với ước vọng xây dựng một cuộc đời mới bên nhau khi sau này được định cư.

Sau đó chàng đi định cư trước ở Mỹ còn nàng sau đó, ở Canada. Những khó khăn khi vật lộn với cuộc sống mới, bắt đầu lại cuộc đời ở con số không dồn dập đến cho hai người. Năm tháng trôi qua, dù có thư từ nhưng đúng là “xa mặt thì cách lòng”. Cả năm sau chàng nóng lòng cố gắng bay qua thăm nàng để rồi thấy nàng đã có một mối tình mới.

Trở về với lòng ủ rũ ê chề, chàng đành phải nhận ra rằng, câu nói rao truyền trên miệng dân đảo ngày nào: “Galang nổi tiếng tình xù” hoàn toàn đúng sự thật!... Nhưng may mắn thay, Galang cũng có: tới “Cây dù dễ thương”

Ai đã từng sống ở Galang chắc còn nhớ cái nắng cháy da trên đảo. Phương tiện di chuyển trên đảo là đi bộ, dù là đi gần hay xa đều bằng đi bộ. Từ Galang 2 mà đi ra tới Galang 1 trong trời trưa nắng gắt, mất hơn nửa tiếng đồng hồ mà không có cây dù thì không mặt nám thì da cũng bị đen. Ai ra khỏi phòng, dù là nam hay nữ cũng đều dương dù lên để che nắng. Một thói quen không cần suy nghĩ. Nếu được nhìn từ xa và ở trên cao nhìn xuống, ta sẽ thấy lốm đốm những cây dù đủ màu sắc đang di chuyển thật vui mắt và dễ thương của những bóng hồng trên khắp nẻo đường trên đảo.

Sau ngày các trại tỵ nạn đóng cửa, thuyền nhân cặp đảo vào thời điểm này việc được đi định cư của mình và gia đình chưa có gì là chắc chắn cả mà còn phải qua thể thức do Cao Uỷ Tỵ Nạn đặt ra gọi là Sàng Lọc (Screening).

Uỷ Ban Sàng Lọc được kết hợp bởi chánh quyền Indo và nhân viên Cao Uỷ Tỵ Nạn nhằm loại ra những ai không hội đủ yếu tố của một “người tỵ nạn chánh trị” hay bị ngược đãi về tôn giáo hoặc thành phần bị coi là nguy hiểm cho chế độ Cộng. Những người đó sẽ bị liệt vào loại “tỵ nạn vì kinh tế” và sẽ bị trả về Việt Nam. Ở thời điểm này, dân trên đảo phải chờ hơn một năm để Ủy Ban được thành lập.

Trước thời điểm nghiệt ngã này, quân nhân và ai có thân nhân ở nước thứ ba bảo lảnh chỉ trong vòng sáu tháng đến một năm là đi định cư rồi. Bây giờ, cả quân nhân, công cán chính đều phải chịu qua thủ tục sàng lọc này với nhiều rủi ro, thời gian được đi định cư thì mờ mịt. Không biết bao nhiêu thuyền nhân và gia đình bị coi là không đủ điều kiện và bị trả về Việt Nam nơi mà họ đã liều chết bỏ ra đi.

Khi đến lượt tôi được vào phỏng vấn thì ban giám xét gồm có sĩ quan Indo và nhân viên Cao Uỷ. Lúc đó tôi mất hết giấy tờ, kể cả giấy ra trại sau nhiều lần vượt biển. May sao, trước đó, bên nhà ba má tôi gởi qua được một tấm hình chụp trong chuyến du hành ở Hoa Thịnh Đốn năm 1972, khi tôi được đơn vị mình gởi đi học khoá đào tạo Giảng viên Anh ngữ ở Căn cứ Không Quân Lackland, tại Texas và tờ biên lai mướn phòng trong Căn cứ trong thời gian học. Vì tôi đeo kiếng mát khi chụp hình nên viên sĩ quan Indo nhìn tới nhìn lui tấm ảnh rồi nói:

- Anh chụp hình mà đeo kiếng mát thì rất khó nhận diện đó!

Sau những câu hỏi về lý lịch và quá trình phục vụ trong quân đội của hội đồng thẩm vấn, tôi trở ra vẫn hoang mang, không yên tâm về câu nói của viên sĩ quan thẩm vấn. Sau đó tôi được chấp thuận là hộ đủ điều kiện là “người tỵ nạn chính trị”.

Một thời gian hơn cả năm sau, tôi mới gặp phái đoàn xét việc đi định cư ở Hoa kỳ và được chấp thuận cho đi định cư ở Mỹ sau sáu tháng bị nằm chở trong trại chuyển tiếp ở Phi, để “yes, yes, no, no rồi sáu tháng cũng go” như dân ta ở trại Bataan, thường nói đùa.

Hơn ba năm trời ở trại Galang với biết bao vui buồn và kỷ niệm thiết tha với những người cùng chung cảnh ngộ trên đảo và hình ảnh thân yêu ghi đậm mà mỗi khi nhớ lại đều có cảm tưởng là mình đang được sống lại ở chốn cũ và với những người đồng cảnh ngộ đã cùng nhau trải qua những năm tháng dài buồn vui trên đảo ngày nào.

Thân mến gởi lời thăm hỏi đến các bạn nào đã từng sống qua nhiều năm tháng ở đảo, cũng có mối tình xù nào đó và cũng từng đựợc ngắm những cây dù dễ thương.

Lacey, Tháng Chín, 2016.

Trương Tấn Thành

Blog Archive