Showing posts with label Nguyễn Thụy Long. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Thụy Long. Show all posts

Thursday, August 19, 2021

GIỮA ĐÊM TRƯỜNG - Nguyễn Thụy Long 

(một bài viết cũ... nhưng thỉnh thoảng nên đọc lại để khỏi quên...)

Có người hỏi, viết lách của cậu bây giờ ra sao rồi? Tôi trả lời viết lách bây giờ là chuyện khó, nhất là đối với các nhà văn nhà báo thuộc chế độ cũ, hòa nhập được là chuyện rất khó, vì không được “đào tạo trưởng thành trong chế độ cách mạng”, nói theo danh từ thời thượng. Vô hình chung họ bị gạt ra ngoài lề. Mặc dầu vẫn nghe lời tuyên truyền xoen xoét “rằng thì là ” cửa ngõ văn nghệ mở rộng như cửa chùa, ai muốn vào thì vào, ai ra thì ra. Ra thì dễ chứ vào thì khó đấy, bao nhiêu cửa ải phải vượt qua, có thể có đến “thập bát La Hán” trấn cửa. Lọt qua được cũng phờ râu tôm, cuối cùng mềm như bột, người ta muốn bóp nặn theo hình dạng nào cũng được.

Viết và lách, danh từ này không biết có từ đời thuở nào, nhưng cũng đúng ra phết. Có thể có từ thuở nước Đại Việt có trường thi cho các cụ đồ muốn thi cử đậu đạt để được ra làm quan. Làm một bài văn thi cử, phải nghiêm túc, lời lẽ trác tuyệt là lẽ đương nhiên mà còn phải biết kỵ húy, thí sinh phải nhớ tên nhớ tuổi cả dòng họ nội ngoại nhà vua, cả một triều vua đến bao nhiêu đời. Bị phạm húy là sổ toẹt, cho dù văn sách của anh hay đến mấy, anh vẫn bị “dê rô” điểm, ôm lều chõng về quê đuổi gà chăn lợn cho vợ. Muốn thi cử nữa thì ăn năn hối cải rồi tiếp tục dùi mài kinh sử. Một lời ngông cuồng thôi cũng đáng phạt đòn, nhẹ thì cứ tú đụp tú kép đến mãn đờ, ông dở ông, thằng dở thằng.

Bất mãn thì làm thơ, làm câu đối chửi đời cho đỡ vã, như nhà thơ Tú Xương ở thành Nam. Hoặc như Ba Giai, Tú Xuất đẻ ra chuyện tiếu lâm giễu đời chơi ở đất Hà thành:

Trời sinh ông Tú Cát
Đất nứt con bọ hung

Thuở đổ tưởng đã xa xôi rồi, một thế kỷ đã trôi qua. Nay sắp bước sang thế kỷ thứ 21, năm 2000. Thế giới kêu gọi tự do dữ lắm, nhưng đó là chuyện của thế giới. Tự do hay gì gì không phải là con “vi rút” muốn xâm nhập đâu cũng được. Có người ở hành tinh xanh chúng ta đã nói như thế. Nói theo kiểu dân giả thì cứ “phép vua thua lệ làng ” cho tiện. Tôi chịu thôi chẳng nói nữa là hơn.

Có một vị đầu nậu chuyên nghề in sách ở thành phố Hồ Chí Minh, anh ta giàu bạc tỉ, thấy tôi nghèo khổ lại mất sức lao động, không tài cán bon chen với đời. bèn tỏ lòng thương hại, đề nghị với tôi:

– Chú có tay nghề, chú viết đi, cháu in cho, trả tiền nhuận bút chú đàng hoàng. Mình là người viết chuyên nghiệp thì phải biết lách, đừng bỏ phí chất xám mà chú có…

Cha mẹ nội ngoại nhà tôi ơi! Tôi phải làm sao đây, lách kiểu nào cho lọt? Vị đầu nậu đề nghị tôi viết tiểu thuyết diễm tình, ướt át, chẳng đụng chạm gì suất cả, tránh luôn cả những chuyện gì đụng chạm đến chính trị, phản động. Tôi chịu thua, không làm được chuyện đó. Vì tôi mà viết tiểu thuyết diễm tình thì chỉ thối hoăng lên thôi. Vị đầu nậu lại đề nghị tôi để tên khác, chẳng ai biết mà lại tiện việc sổ sách. Tôi lại thua nữa.

Vị đầu nậu là người tốt vẫn còn thương hoàn cảnh tôi, bèn đề nghị cho tôi một việc khác, có trả lương. Tôi sáng vác ô đi tối xách ô về, y như một công nhân viên chân chỉ hạt bột ở ngay cơ sở của ngài.

Tôi cao lm62, xấp bản thảo ngài đầu nậu giao cho tôi đọc cao một thước tám, tròm trèm hai thước. Ngài nói liền không đáy, văn chương đắt giá, chú là người có tay nghề mới giao cho chú đọc. Ngài lệnh cho tôi đọc trong vòng một tháng, được quyền sửa lỗi chính tả, sửa chữa nội dung chút đỉnh, ngài xin giấy phép xuất bản ngay từ bây giờ, tôi đọc và sửa chữa xong là có giấy phép liền. Kho sách hết lại có, không sợ hết việc, những nhà văn tự do của ta làm việc kinh lắm, luôn luôn vượt chỉ tiêu.

Tôi thất kinh khi dí đôi mắt cận thị vào chồng bản thảo ấy. Từng bộ tiểu thuyết kiếm hiệp rõ ràng là của Tầu mà nay nó biến thành truyện võ hiệp của đất Lạc Việt, các hiệp khách Lạc Việt đánh chưởng với các đại võ sư danh trấn giang hồ của Mông Cổ thời nhà Nguyên ở bên Tầu. Mới sáng nay còn nhận lệnh của Đinh Tiên Hoàng đế ở kinh đô thành Đại La, chiều đã phi hành cái rẹc đến sa mạc Gô bi ở Mông Cổ đánh chưởng mù trời với đại sư Tây Tạng, đại sư Tây Tạng tết đuôi sam giống quan quân nhà Mãn Thanh. Ngược lên mạn Bắc cực đấu kiếm với võ sĩ Samurai của Minh Trị Thiên Hoàng Nhật Bổn. Cuối cùng bằng một chiêu thức bí truyền của dân lộc, hiệp sĩ Lạc Việt thắng trận ròn rã. Công chúa xứ Tây Vực cảm kích bèn cưới làm phò mã. Kinh thế đấy, sử liệu không biết nhà văn lấy ở đâu ra mà lung tung beng, tôi điên cái đầu

Lại một truyện khác nữa, bộ này coi có vẻ đường được dù là mang một tên khác nhưng tôi cũng nhận ra bộ Mười Hai Sứ của Vũ Ngọc Đĩnh, một ông bạn già của tôi. Tội nghiệp anh! Tôi chỉ biết thất kinh và làm đơn xin nghỉ việc vì tôi bất tài mà những tác phẩm vĩ đại như vậy còn quá nhiều. Vị đầu nậu tức cành hông, chửi vào mặt tôi:

– Muốn thương chú mà thương không nổi, chú thật vô tích sự. Rõ ràng tác giả viết đề cao tinh thần dân tộc như vậy còn đòi gì nữa, mà có phải chú viết đâu mà rộn lên vậy. Chú không làm thì tôi thuê người khác, thiếu gì. Chú làm thiệt hại tôi bạc triệu, giấy phép có rồi mà không có đầu sách ra, bao nhiêu là chầu bia ôm, bao thơ. Biết thế tôi đi làm sách giáo khoa hay kỹ thuật cho xong, làm văn nghệ khổ thế đấy.

Tôi nhận lỗi và xin lỗi vị đầu nậu, không quên hứa hẹn:

– Chừng nào anh lại thu mua phế liệu ve chai như hồi ở vương quốc ve chai Tân Phú, tôi sẽ mang bọc ni lông nhặt được bán cho anh.

Tôi bị mắng một trận vì dám xúc phạm đến một người làm nên vóc dáng văn nghệ dù tôi chỉ vô tình nhắc tới sự thật về tiền thân vị đầu nậu này nguyên là ông chủ thu mua phế liệu ở Tân Phú.

Tôi thuở còn sức lao động đi nhặt bao ni lông từng bán hàng cho anh, vài ba ký ni-lông hàng hắc quẩy mỗi ngày có là bao. Một ngày kia tôi nghe xúi dại cầm lại bút, nhưng tôi thất bại ê chề. Trong trận văn rừng bút, tôi gặp lại ông chủ vựa ve chai, nay là một ngài đầu nậu văn nghệ kiêm nghề xuất bản theo cách thuê mướn tên nhà xuất bản, gọi là chuyện làm ăn. Tôi được chiêu hiền đãi sĩ, kiểu như thế.

Nhưng chuyện thuê mướn cái kiểu này không phải chỉ có mình tôi gặp.

Nhà văn Uyên Thao cũng đã tâm sự với tôi, anh từng được những tay đầu nậu văn nghệ đề nghị thuê mướn để biến một bộ tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung với giá hai chục triệu đồng, rất không may là anh lại từ chối món hời đó. Lý Phật Sơn từng đi viết thuê… ăn khoai luộc gọi là “chiêu hiền đãi sĩ”. Rất ít văn nghệ sĩ cũ ở miền Nam có chỗ ngồi coi tạm được. Chuyện này phải gọi là kinh doanh nghề viết hơn là làm văn nghệ hay sáng tác, dù anh có được đưa đi tập huấn ở trại sáng tác, có đi thực tế. Chuyện sáng tác tối tác là chuyện khác, chẳng nên nói đến cho xong. Chuyện cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm thiếu gì. Bây giờ tôi nói sang một chuyện khác, chuyện cải lương, cũng dính dáng đến văn nghệ vậy.

Gần đây cơ quan tuyên truyền văn hóa thông tin của nhà nước kêu gọi nên phục hồi nền cải lương mà quần chúng mộ điệu dần quên lãng. Nguy cơ cho nền văn nghệ có một thuở vàng son ấy bị chết dấm chết dúi, rạp cải lương thì tiêu điều xuống cấp trầm trọng, dù có hát chùa cũng chẳng ai xem. Các nghệ sĩ nói chung, đào hát kép hát hàng đầu lui dần vào bóng tối. Lớp tài năng trẻ chưa xuất hiện. Hãy đẩy mạnh phong trào lên. Nếu cần thì mở cửa rạp cho quần chúng coi chùa, phục hồi thuở vàng son của sân khấu cải lương. Món ăn tinh thần mà người Nam bộ nào cũng khoái, cũng say mê. Nhưng sao đến nay vẫn chẳng rôm rả tí nào. Chẳng ai làm nổi nền văn nghệ cải lương phục hồi nói chi đến chuyện đi lên.

Người viết tập hồi ký này vào miền Nam rất sớm, chính xác là sống tại Sài Gòn vào thuở thịnh thời của cải lương. Quần chúng say mê cải lương đến độ đi đến đâu cũng nghe lời ca tiếng hát, khắp hang cùng ngõ hẻm. Người người vẫn có những mơ ước trở thành đào cải lương tài sắc, hoặc “kép độc” cải lương.

Thuở đó có những đào kép sáng chói trên sân khấu cải lương, những soạn giả vang danh, chỉ cần tên tuổi của anh ghi ngoài “băng đờ rôn” là rạp hát không đủ chỗ chứa khách mộ điệu, dù rằng một ngày có tới mấy xuất diễn. Điều đó đương nhiên nảy sinh ra nạn vé chợ đen, nhưng khán giả chấp nhận. Tiền cát sê của nghệ sĩ, đào kép, soạn giả, đạo diễn cao không ngờ, phải tính bằng kim cương hột xoàn. Kép Út Trà Ôn chơi bi da bằng kim cương, những ông vua, những bà hoàng cải lương. Nhớ thuở nào đào Bạch Tuyết được coi là “cải lương chi bảo”, rồi Thanh Nga, Thành Được, Hữu Phước, Hùng Cường và bao nhiêu tên buổi khác. Những tên tuổi cải lương coi như báu vật, được tôn vinh. Một thuở vàng son không thể nào quên.

Tuổi nhỏ, tôi ở trong con hẻm sở rác Nguyễn Tấn Nghiệm (nay là đường Trần Đình Xu) chung xóm với một thằng bạn có tên là Hùng Cường. Hùng Cường là thằng Bắc Kỳ “dốn” như tôi. Nó có khiếu ca hát, giật giải nhất thi hát ở đài phát thanh Pháp Á. Đầu tiên nó thành công trong ca tân nhạc, sau nó xoay sang ca cải lương và rồi nó trở thành một nghệ sĩ lẫy từng lên tuổi.

Sau năm 1975, tôi gặp nó ở Cà Mau. Nó mưu đồ vượt biên, bỏ quê hương. Tôi hỏi nó sao vậy? Nó trả lời không sống được bằng nghề nó hằng đeo đuổi, cải lương chết mất. Tôi lại hỏi tại sao? Nó nói cứ nhìn khán giả vào rạp cải lương thì biết, vắng hoe à. Đâu còn những tay chuyên nghiệp đi bán vé chợ đen nữa. Tuồng tích dở quá, ai còn thèm xem nữa. Mấy vở diễn như Đời Cô Lựu cũ mèm cũng không vực dậy nổi sân khấu cải lương đang tụt dốc. Bây giờ toàn tuồng tuyên truyền thì cần chi đến nghệ sĩ tài danh. Nhiều năm rồi suy nghĩ lại về những lý do ấy tôi thấy có lý. Sự vực dậy, làm sống lại sân khấu cải lương quả là khó khăn.

Nguyên nhân chẳng cần tìm đâu xa, không thể đổ “tại, bị ” gì được hết. Nguyên nhân là tự nó thôi.

Khách mộ điệu miền Nam phải bỏ cải lương, quên dần những thần tượng của họ cũng đau lòng lắm.

Ở ven thành phố bây giờ có một viện dưỡng lão cho các nghệ sĩ. Sống được là nhờ tình thương của nhiều người, không thuần là khán giả mộ điệu cải lương, sân khấu.

Ở đó có nhiều tên tuổi từ hồi nào đến giờ. Họ là những cụ già neo đơn, ngồi hồi tưởng lại thuở vàng son dưới ánh đèn sân khấu. Thấy sân khấu cả trong giấc mơ già. Gảy lên những tiếng đàn ghi ta phím lõm. Giọng ca mùi rệu thuở nào nay đã run giọng, ít hơi, xuống nổi câu xề muốn đứt hơi luôn.

Các cụ như những di tích để trong viện bảo tàng, cho đời sau con cháu còn “tham quan”. Ở thế kỷ đó, tại mảnh đất Nam bộ Việt Nam đã từng sinh ra một nền văn nghệ sân khấu cải lương. Có những tên tuổi đào kép v.v và v.v… Nền cải lương ấy đã chết, lý do có Trời biết.

***
Đầu niên học nào cũng vậy, tôi xanh xao cả người, chạy lo cho ba đứa con đi ăn học. Ba cháu đều học trường công, tức là trường của nhà nước lập ra cho dân. Nhưng cũng mệt lắm, tốn kém lắm. Có năm tôi phải mang giấy nhà đi cầm để có tiền đóng góp cho con đi học. Mảnh giấy cầm nhà đó tôi vẫn giữ làm kỷ niệm. Từ đầu hè, chờ cho các con được đủ điểm lên lớp hay lưu ban cũng phải “chõm” vào một mối nào đó lo tiền học cho con. Hoặc gia đình ăn mắm mút dòi để dành dụm cho con nhập học. Thôi thì đủ thứ đóng góp cho nhà trường, trong ngày hội cờ rong trống mở ấy, truyền hình quay phim, báo chí đăng, nhất định đó là một ngày trọng đại. Kìa trống trường điểm, đích thân thầy hiệu trưởng đánh trống khai mạc cho niên học mới, diễn văn nêu cao thành tích đạt được trong niên học cũ, năm nay thì phải đạt chỉ tiêu mà trên đã đề ra.

Quán tính thôi, các vị phụ huynh cứ tự động lo, chẳng có thông cáo nào báo trước hết. May nhờ dại chịu, y như là đánh số đề, may thì trúng không may thì trật. Tôi nói gì mà làm xàm vậy? Tôi xin được giải thích mà tự tin rằng không phải là ngụy biện. rút kinh nghiệm đã nhiều lần, biết bao nhiêu lần trật vuột, mới hiền khô mới dễ ăn dễ bảo như ngày hôm nay, những mong ăn mày được tí chữ thánh hiền” cho con cái. Tôi muốn nói đến chương trình học của học sinh và các loại sách giáo khoa các cấp mà bây giờ in ấn, xuất bản tràn lan, kể cả in lậu. Tôi không hiểu tại sao, lý do gì mà người ta lại giấu chương trình học mỗi năm và các cuốn sách dành cho bầy trẻ như giấu bí mật quốc phòng. Mãi đến lúc nhập học rồi, các cháu mới biết tên các cuốn sách phải mua cho đúng. Ai mua trước may ra thì trúng mà không may ra thì trật, như tôi đã nói. Hàng năm việc phát hành sách giáo khoa là việc của Bộ Giáo Dục và Sở Giáo Dục. Hai cơ quan này thường xuyên đấu đá nhau vì quyền lợi phát hành sách quá lớn lao. Bao nhiêu triệu học sinh và cần bấy nhiêu triệu cuốn sách trên toàn quốc. Sách gần như thay đổi qua từng niên học, nên sách của con chị đã học qua không thể để lại cho thằng em. Đất nước tiến bộ mà, không phải thuở lỗi thời ôm mãi cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư từ thế hệ này sang thế hệ khác. Rồi đồng phục, giày dép, mũ mãng, quần áo thể thao, mỗi trường một khác. Toàn là những màn trình diễn cho có vẻ văn minh tiến bộ.

Khổ nhất bao giờ cũng là phụ huynh học sinh. Đóng góp đủ thứ tiền, thu nhập của cha mẹ lại không cao. Như hoàn cảnh tôi, mỗi niên học đều phải cầm thế giấy chủ quyền nhà với lãi xuất cao để đóng góp cho các con ăn học, không có một sự giảm thiểu nào. Nhiều trẻ phải bỏ học, cha mẹ không lo nổi, mặc dầu nhà nước ra rả kêu gọi xóa nạn mù chữ. Nhưng đó là chuyện ai nấy làm.

Hàng năm nhà nước vẫn có những con số triệu triệu các học sinh tới trường. Không lẽ tôi là người trong cuộc mà lại nói sai, nói láo. Xuân thu nhị kỳ họp phụ huynh học sinh. Dầu niên học họp một thùa kêu gọi phụ huynh đóng hội phí. Cuối niên học họp một thùa nữa tổng kết. Tổng kết cái gì? Chẳng gì cả!

Những ý kiến đóng góp của phụ huynh học sinh đầu niên học có ghi biên bản, nếu nói một cách tiêu cực thì chẳng giải quyết gì. Đâu vẫn hoàn đấy, kêu gọi và đóng góp, điệp khúc ấy trở nên nhàm chán. Nhiều phụ huynh học sinh chán chẳng còn phát biểu gì nữa, thụ động và chẳng muốn tham gia vào bất cứ một lời kêu gọi nào. Vô tình tôi cũng trở thành một thứ phụ huynh học sinh như vậy.

Tôi mất sức lao động lại chuyên nghề “làm thinh”, nên thu nhập không là bao. Bạn bè nhiều người thương mà giúp đỡ. Có ông bạn đầu niên học giúp cho cháu bộ sách giáo khoa, nhưng đến ngày nhập học mới được biết, năm nay cháu không dùng sách của Sở mà dùng sách của Bộ. Lại một thùa chạy tiền mua sách cho con. Cùng một chương trình, nhưng sách này và sách kia chỉ sai khác một dấu chấm, phẩy cũng không được… Đầu năm các cháu ghi chép vào sổ báo bài dài dằng dặc những món tiền đóng góp để các cháu trở thành học sinh: Bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm y tế, giúp học sinh nghèo vùng sâu vùng xa… Bố ai biết được nó như thế nào. Học sinh đi đái đi ỉa cũng phải đóng tiền vệ sinh. Trong trường học không có phòng y tế, cũng chẳng có lấy một lọ dầu cù là bố thí, nhưng vẫn phải đóng liền bảo hiểm tai nạn. Bảo hiểm y tế đóng không nhiều lắm nhưng nếu có được bồi thường chỉ có một số bệnh trạng nào đó do hãng bảo hiểm qui định… Chuyện lấy được tiền bảo hiểm cũng trầy da tróc vẩy.

Đầu niên học này, tôi nhận được giấy mời đi họp hội phụ huynh học sinh. Tôi chán nản quá, tính chỉ đến nộp sổ liên lạc của con rồi về. Vì tất cả những gì nhà trường cần đến đều đã ghi vào sổ báo bài. Thầy cô giáo mời mãi, nể quá tôi đành vào họp. Chẳng có gì khác như gần mười năm nay tôi từng đi họp. Phần phụ huynh phát biểu, hình như chẳng ai muốn nói gì, cuối cùng có một vị đứng lên.

Ông ta hết lòng ca tụng nền giáo dục tiên tiến, ca tụng sự kêu gọi đóng góp rất hợp lý của nhà trường, ca tụng thầy cô và nhiều điều muốn ca tụng khác, như kêu gọi phụ huynh nên đóng góp cho bảo hiểm y tế…

Toàn thể phụ huynh, tôi là 39 người ngơ ngác nhìn nhau. Thật gần mười năm trời nay tôi mới thấy một vị phụ huynh học sinh năng nổ như vậy. Một vị phụ huynh ngồi cạnh, nói với tôi:

– Lại có một con chim mồi.

Ông ta hót hay lắm, hay đến đi ra ngoài tuồng luôn, chẳng ai buồn nói gì, nhưng món bảo hiểm y tế vẫn ế khứa… Cô giáo thì than trời vì từng bị phụ huynh tới hạch sách về chuyện đóng góp cho nhà trường. Cô chỉ làm theo lệnh… trên. Lương của cô giáo chỉ được hai trăm ngàn đồng một tháng mà thôi, cô dạy học vì yêu nghề. Tôi có ba đứa con theo học mà từ nhiều năm nay tôi chưa từng biết vị hội trưởng và chi hội trưởng. Mãi đến cuối niên học, các vị ấy mới xuất hiện, tặng sách vở cho các cháu nghèo. Cũng nằm trong tiền hội phí của phụ huynh học sinh đóng góp. Tiền liên hoan chia tay thầy trò bạn bè cũng do học sinh nã tiền bố mẹ đóng góp.

Ở đây tôi chỉ nói sơ qua về nền giáo dục, tôi không thể nói nhiều được vì có nói gì cũng không lại.

Tôi mang những chuyện này tâm sự với ông cụ Mạnh. Ông bạn già Mạnh là một vị đức cao vọng trọng. Ông pha một bình trà ngồi uống với tôi lắng nghe tôi nói. Cụ chậm rãi nói:

– Như thế hệ chúng ta, cho con cái học mong cho ấm thân chúng nó, may mắn thì chúng đỗ đạt ra làm quan. Nhưng nay thì khác, làm quan rồi mới đi học. Anh không thấy bao nhiêu là lớp bổ túc văn hóa cho các quan chức đó sao. Giữ những chức vụ quan trọng về kinh tế mới học về kinh tế tại chức.

Ông cụ đứng nhìn vườn cây cảnh và hòn giả sơn mà cụ khoe mới đắp. Cụ khuyên tôi nên giữ gìn sức khỏe vì biết tôi có bệnh cao áp huyết. Đời này thiếu gì kẻ múa rối mà tưởng mình vũ ballet.

***
Hình như đất nước tôi năm nào cũng có bão lụt thiên tai, dân cư khổ trăm bề. Những ngày tháng cuối năm, từ tháng 7 âm lịch trở đi, bão táp thiên tai hơi nhiều, liên tiếp hết cơn bão này đến cơn bão khác. Đầu tiên thì gọi là áp thấp nhiệt đới. Những cơn mưa dầm dề tối trời thối đất rồi mới tới những cơn bão, tùy nó đến đâu và đổ bộ vào đâu.

Sài Gòn mấy ngày nay mưa dầm dề, tôi không thể ra đường hoặc đi đâu được. Tôi đành ngồi nhà.

Ngồi nhà thì buồn quá, tôi phải giải trí gì cho đỡ buồn. Tôi lục tìm trong đống băng Vidéo, bắt gặp vở kịch Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt của Lưu Quang Vũ. Đúng rồi, một vở kịch hay, tôi cũng đã xem, bây giờ xem lại nữa cũng chẳng sao. Vở kịch hay, nếu khen ngợi thì tôi chỉ còn biết nói là hết ý.

Câu chuyện dựa theo một chuyện cổ Việt Nam, lại biến thành kịch. Tài năng và bút pháp của kịch tác gia xuất thần, một con người đầy kinh nghiệm sống đã làm nên một kịch bản tuyệt vời. Tôi nhớ nội dung của câu chuyện cổ chỉ là chuyện lầm lẫn của Thiên Tào và Bắc Đẩu bắt lầm hồn của ông Trương Ba, sai thì phải sửa sai, bèn cho ông Trương Ba sống lại, mượn xác của một người mới chết, anh hàng thịt. Tâm hồn, đúng của ông Trương Ba, nhưng thể xác lại là anh hàng thịt, một tay đồ tể chuyên nghiệp. Cái rắc rối là ở đó.

Tác giả đã dẫn dắt người xem từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Dàn diễn viên nhà nghề, tài năng đã đưa vở kịch lên đỉnh cao. Nói được tất cả những gì tác giả muốn nói, những lầm lẫn, những mẩu đời sống thật mà thời nào cũng có, cũng giống nhau đã được thể hiện mạch lạc chặt chẽ, khiến người xem cười ra nước mắt. Tác giả của vở kịch bây giờ không còn nữa, anh đã chết cùng vợ con trong một tai nạn thảm khốc.

Tôi đã được xem một đoạn phim phóng sự về bà mẹ già của Lưu Quang Vũ nước mắt ngắn, nước mắt dài cắm nhang lên bàn thờ của con, dâu và cháu nội, một người già neo đơn, số phận phải như vậy. Cuối vở kịch, hồn Trương Ba, trong thể xác anh hàng thịt phải gào lên:”Sống như thế này mà là sống à?”. Cuối cùng Trương Ba xin được chết, trả lại cái xác cho anh hàng thịt.

Có đầu thai nữa hay không cũng cóc cần. Trong nhiều năm nay, tôi ít khi xem được một vở kịch hay như vậy, tôi cũng không hiểu tại sao vở kịch đó lại ra đời được, như một số sách, truyện, phim khác mà nhiều người mến mộ, nhắc đến như nói chuyện bí mật.

Việt Nam còn nhiều tác phẩm hay lắm. Rất nhiều tài năng còn ở đâu đó, vì vốn sống của Việt Nam khá nhiều và khá phong phú trong một chiều dài lịch sử đất nước bi thương có thừa. Văn nghệ nó sẽ phản ảnh tất cả.

Hãy chờ xem.

***
Phải chăng tôi là một anh già hay gây gổ và lắm điều? Thật ra tôi không hẳn như vậy. Có gì đó tôi mới ra lời, nếu không tôi làm thinh cho yên. Tôi muốn yên vì tôi lười, đơn giản thế thôi. Vậy mà có những chuyện chẳng đặng đừng, muốn yên mà không yên được.

Mới ngày hôm qua đây thôi, tôi lái chiếc xe Vélo Solex của tôi trên đường đông, có một chị trông cũng bảnh lắm lái xe Dream. Lúc qua mặt tôi, chị nhổ một bãi nước bọt, bãi nước bọt có lẽ của người bị ho gà nên có đờm. Bãi nước bọt bay thẳng vào mặt tôi dính nhằng nhằng. Tôi lộn liệt, nhả hết ga đuổi theo, cũng may gặp đèn đỏ ở đầu đường, tất cả xe cộ phải dừng lại. Tôi đuổi kịp chị la. Tôi nói một câu rất là có văn hóa:

– Này chị coi, bận sau đi xe trên đường không nên nhổ nước bọt bừa bãi như thế, vừa mất vệ sinh vừa không lịch sự

Chị ta nhìn thẳng tôi, lầu bầu câu gì đó trong miệng, tôi tưởng sẽ nhận được một lời xin lỗi nhưng không, chị khạc thêm một câu khác vào mặt tôi:

– Biết là mất vệ sinh sao không chùi đi, lại còn lo bắt lỗi, muốn bắt đền hả, rõ là lắm điều.

Tôi sững sờ, chưa kịp có phản ứng gì thì đèn xanh bật. xe cộ nối đuôi nhau chạy mất. Tôi dạt vào trong lúc, đứng chùi bãi nước bọt trên mặt. Tôi đã không kịp nổi nóng, như đã mất nhiều dịp nổi nóng, mọi chuyện xảy ra nhanh quá.

Hồi đầu giải phóng tôi từng bị anh cán bộ cưỡi xe đạp chẹt tôi ngã văng cả kính trắng còn mắng cho một trận vì không chịu nghe tiếng “ếp ếp của anh, sau này dắt xe qua đường suýt nữa bị một ông trẻ mà làm lớn lái ô tô con xồ đến cán phải, còn bị chửi là thằng già chán sống. Đại khái là những việc như thế, tôi chẳng biết phải làm sao. Tôi muốn lắm điều mà không thể lắm điều được tốt hơn hết là làm thinh.

Tôi dừng thiên hồi ký ở đây.. nhưng tôi chưa gác bút.

nguyenthuylong
Gác Bút 12.1999

Thursday, February 8, 2018

Người Xây Lò


Nguyễn Thụy Long 


Nhà văn Nguyễn Thụy Long, sinh ngày 9 tháng 8 năm 1938 tại Hà Nội mất ngày 03.9.2009 tại Sài Gòn.

Ông là tác giả của nhiều cuốn truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng như Vác Ngà Voi, Loan Mắt Nhung (đã được thực hiện thành phim), Chim Trên Ngọn Khô, Trong Vòng Tay Đàn Ông, Vết Thù, Bà Chúa Tám Cửa Ngục, Đêm Đen, Gái Thời Loạn, Nữ Chúa, Nợ Máu, Ven Đô, Sầu Đời, Gió Hú, …

Tôi không nhớ ai là người giới thiệu cho tôi vào làm việc ở công ty thủy tinh. Hiện tôi là một công nhân viên thuộc công ty. Một công nhân viên không biên chế, nghĩa là một anh cu li, nếu nói theo thời thực dân tôi là một thằng cu li hạng bét. Có được việc làm thời mới giải phóng miền Nam là may mắn rồi, bao nhiêu người thất nghiệp, hoặc bị ngưng việc ngang, công việc làm không thích hợp hoặc chưa thể thích hợp được, vì chưa được học tập đường lối chính trị của nhà nước. Nhưng lao động là vinh quang, lang thang là chết đói, hay nói thì ở tù.. Khẩu hiệu khuôn vàng thước ngọc đã đề ra như vậy, đừng có lôi thôi. Anh làm bất cứ nghề gì, miễn là có việc làm, lại được cơ quan nhà nước chứng nhận là công nhân viên, lương hướng dù không đáng bao nhiêu, nhưng cũng đáng kể đấy. Người không chê việc mà việc không chê người. Đừng có ỷ ôi lựa chọn, kiểu việc này thích hợp, kiểu việc kia không thích hợp.. Mọi con người bình đẳng. Hình như hiến chương Liên Hiệp Quốc đã ghi, bác Hồ đã nói trong tuyên ngôn độc lập như vậy. Người ta sẽ tìm ra ngọc trong đá thôi. Anh có thể trả lời với nhà cầm quyền ở phường anh là người lao động có cơ sở chứng minh, không ăn bám ai cả, công an và mấy vị chức sắc ở phường để anh yên thân, anh không bị đòi lên Công An phường làm kiểm điểm vì tội chây lười lao động, hoặc anh bị tống đi làm thủy lợi đào kinh vét mương, tự anh lo lấy miếng ăn cho anh, đuổi khỏi nhà anh cho đi xây dựng vùng Kinh Tế Mới, một công việc được coi là ăn cơm nhà vác ngà voi. Không chấp hành thì anh phải trốn chui trốn nhũi ra chợ trời buôn gian bán lận. Tất cả đều là quốc doanh. Ắn tô phở phải mua phiếu, phải đứng xếp hàng chờ cả tiếng đồng hồ, đồng một loạt phở bò lèo tèo mấy tiếng thịt chín, nước lèo lạt thếch, đục ngầu ngầu, lại phải tự hầu lấy mình, bưng tô lấy đũa. Ôi còn đâu thuở ăn phở tái chín nạm gầu, nước béo hành trần, tương ớt rau giá ăn thả cửa. Thuở đó cách nay không lâu, nhưng cũng coi như lâu lắm rồi. Một kỷ niệm khi nghĩ đến khiến chảy nước mắt, nhưng chỉ nên khóc thầm thôi, anh khóc thật thì bị mang tội phản động đấy, liệu cái thần hồn. Tư tưởng anh lệch lạc anh có thể được đi học tập cải tạo mút mùa Lệ Thủy, khi nào anh học tập tốt nhà nước khoan hồng cho anh về sum họp với gia đình. Anh chọn cách sống nào thì chọn, tôi chọn làm thinh.

Lao động suốt tám tiếng đồng hồ một ngày, tôi đẩy hàng mấy chục xe thủy tinh vỡ bể vào nhà kho cho mấy chục nữ công nhân lựa chọn, mầu thứ nào ra thứ nấy. Tiếng bánh xe sắt ở chiếc xe cút kít tôi đẩy nghiến trên đường cót két như một điệp khúc buồn nản. Cán bộ chấm công đứng dọc đường đi miệng quang quác hối thúc, động viên:’Khẩn trương, khẩn trương nên, không được nề mề, vượt chỉ tiêu nào…

Anh ta chính là cai cu li, trên tay chỉ thiếu cái roi quất cu li túi bụi, nhưng đủ khiếp rồi, lời anh hót còn sót sa còn hơn roi vọt. Chớ ngu dại mà gọi anh là cai cu ly, mang họa đấy. Phải gọi anh là trưởng ban thi công cho ra vẻ cách mạng. Cũng đừng gọi anh ta là ‘đại ca’ xách mé giang hồ kiểu Đơn Hùng Tín của người miền Nam. Tốt hơn hết là làm thinh, mặt mũi ngu độn một chút cho hợp thời. Ngu độn thôi chứ đừng làm mặt khổ. Không ai chấp nhận cái mặt khổ của anh, có cuốn sổ chấm công, giá một xu một xe đẩy đầy có ngọn. Cũng chẳng thiếu gì người vượt chỉ tiêu, được phong anh hùng lao động. Thèm một đĩa cơm bình dân đầu đường ghê, mà tôi không mua nổi. Cơm cũng phải bán ‘chui’ ngoài cửa xí nghiệp. Ly cà phê bắp rang cháy cũng vậy. Cũng bán chui. Tôi không dám ăn uống thứ lương thực xa xỉ ấy. Bữa cơm trưa của tôi là mấy củ khoai lang sùng đắng nghen nghét và bình nước lạnh mang theo.. Khoai mẹ tôi phải đứng xếp hàng mua ở tổ Hợp Tác Xã phường. Không có tên trong sổ lương thực, anh phải có tên trong hộ khẩu. Cái tên đó có thể bị gạch xóa đi bất cứ lúc nào, nếu anh bị ghét bỏ, phường không chịu quản lý con người anh nữa thì bỏ mẹ. Không khí hãi sợ trùm lên tất cả mọi người. Tôi ở tuổi 40 rồi, sức lao động cũng kém đi, chưa bao giờ tôi đạt chỉ tiêu qua những chuyến xe đẩy thủy tinh vỡ. Tôi là nhà văn tự gác bút, mấy anh bạn đồng hành đẩy xe với tôi, người là luật sư, dược sĩ, người là nhà giáo ‘mất dậy’, thay phiên nhau đứng hạng bét, dù cố gắng thế nào cũng không đạt chỉ tiêu trên đề ra, chứ chẳng mong gì đạt chỉ tiêu hoặc vượt chỉ tiêu. Anh hùng lao động chỉ là điều mơ ước, khó còn hơn làm luận án thi tiến sĩ.

Con đường chúng tôi đi từ cổng vào đến nhà kho, lẩn thẩn mà tính ra cũng phải đẩy xe cả trăm cây số mỗi ngày. Thuở mới đổi tiền, từ tiền Ngụy sang tiền Cách Mạng, tỉ lệ một ăn mười. Đồng tiền không vàng bảo chứng cũng quí giá vô cùng. Tìm ra nó khó ngàn lần vào rừng ngậm ngải tìm trầm.

Giờ nghỉ giải lao buổi trưa chỉ có một tiếng đồng hồ vừa ăn vừa nghỉ. Bình nước ni lông tôi mang theo uống từ sáng đến giờ đã hết, tôi ra bể nước vục bình xuống múc. Cái bình chứa hơn phân nửa nước vẫn nổi lềnh bềnh trong bể.. Tôi nghịch ngợm nhấn chìm xuống, thả tay ra, cái bình vẫn nổi lên như cái phao. Nghĩa là bình còn một phần không khí chứa bên trong thì cái bình vẫn nổi. Có một người đang đứng nhìn tôi nghịch ngợm, anh kỹ sư xây lò của công ty. Nghe đâu anh ta là người chế độ cũ, làm việc ở công ty này lâu năm, nay được cách mạng lưu dùng (lưu dùng chứ không phải lưu dụng). Hành động đùa nghịch của tôi giờ nghỉ nên sẽ không bị khiển trách hay phê bình. Anh đứng xem tôi nghịch ngợm, rồi nở nụ cười, buột miệng nói:’Cám ơn nhà văn, anh đã cho tôi ý tưởng hay.’

Tôi ngừng chơi, tròn xoe mắt nhìn anh, không nói được mà chỉ há hốc miệng. Một lát sau tôi mới lắp bắp chối: ’Không anh nhầm rồi tôi là..là cu li không công nhân viên.’

Anh kỹ sư vẫn cười: ‘Thôi đừng chối nữa, tôi biết mà, tên anh có trong kia, tôi không lạ gì anh, tôi từng là độc giả của anh.. Tôi không phải công an, đừng lo. Anh ăn cơm chưa?’

Tôi hoàn hồn, lắc đầu:’Không ăn được, mấy củ khoai sùng đắng nghét.’

‘Vậy tôi mời anh ra cổng ăn đĩa cơm bình dân chui với tôi, uống ly cà phê bắp rang.’

Tôi toan từ chối, nhưng anh đã thân mật vỗ vai tôi:’Đừng từ chối, tôi người Nam, thật tình đó.’

Thế là tôi với anh cùng nhau ra cổng. Đĩa cơm chui rưới nước mắm ớt, đậu que xào loáng thoáng mỡ, ‘chạy qua’ hàng thịt mà ngon lành làm sao. Xong bữa cơm anh lại mời tôi qua đường uống cà phê đen, đường tán cạo ra xúc được nửa thìa vừa đắng vừa thiếu ngọt, hút điếu thuốc rê vấn sẵn.

Anh kỹ sư chẳng thèm hỏi đến thân phận cùn mằn của tôi bây giờ ra sao, có lẽ anh cũng thừa biết rồi. Anh hỏi tôi: ’Mấy ngày hôm nay anh có thấy những phái đoàn đến thăm cơ sở của ta không?’

‘Có, đi xe ô tô con, có vệ sĩ đi hộ vệ nữa.’

Anh hớp một miếng cà phê đắng nghét, nhăn mặt:’Cho thêm tí đường đi, đắng quá.’

Cô hàng cà phê xúc cho thêm tí đường tán cạo, anh kỹ sư có vẻ hài lòng, không còn xin thêm chất ngọt nữa.

‘Còn hơn là uống cà phê quốc doanh, đắng xin thêm tí đường mà sợ bỏ mẹ. Thằng bảo vệ nhìn mình chằm chằm như muốn ăn tươi nuốt sống. Đừng coi thường chúng nó, chúng có thế có quyền đấy, có ô dù che chắn..’

Tôi đồng ý với anh, vì tôi từng thấy cảnh này. Anh kỹ sư như chợt nghĩ lại chuyện các phái đoàn đến công ty. Anh nói:’Toàn những cấp lớn, phái đoàn bự.’

‘Họ tới chi vậy?’

‘Tới vì việc xây lò nấu thủy tinh, xem bản vẽ thiết kế xây lò của tôi.’

‘Vậy hả, chính anh là người thiết kế xây lò?’

‘Ờ chính tôi, tôi đã làm việc này nhiều năm, có tay nghề.’

‘Mừng cho anh.’

Anh kỹ sư gắt lên:’Mừng cái mẹ gì, tôi đang lo này.’, ‘Lo gì?’

‘Chuyện lắm thầy thối ma.như thế nào tôi không biết sao. Đúng là lắm thầy thối ma, nhiều cha con khó lấy chồng. Ông nào cũng to cũng có quyền hết.. Tôi giải thích, thậm chí lấy chuyên môn ra lý luận cũng không xong. Tôi mang tiếng là cãi lệnh cấp trên, chống đối lại ý kiến xây dựng của lãnh đạo. Tôi đành phải chiều theo ý kiến xây dựng của họ. Nhưng tôi yêu cầu họ ký tên vào sự sửa đổi ấy ngay dưới bản vẽ, vị nào cũng xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Tôi không thể làm ngần ấy cái cửa lò trong một cái lò. Tôi sẽ lấy ý kiến cuối cùng, ý kiến ấy mới có ở phái đoàn sáng nay. Tôi biết sẽ thất bại, sẽ không ổn nhưng cũng đành phải nghe theo thôi. Lò sẽ nổ tung hay xụp đổ vào ngày khánh thành, đốt lò.. Khi đó chẳng ai chịu trách nhiệm hết ngoài thằng kỹ sư xây dựng lò là tôi. Vứt đi hàng bao nhiêu ngàn viên gạch chịu nóng, loại gạch đặc biệt phải mua của nước ngoài giá đến mười đồng mới đổi một viên chứ có ít đâu, chưa kể phải kê giá lên cao theo lệnh cấp trên.”

Tôi há hốc miệng nghe anh kỹ sư tả oán. Tôi không có ý kiến gì, vì tôi dốt đặc cán mai về nghề xây lò. Tôi dụt dè hỏi anh kỹ sư:’Anh đã có cách nào thoát khỏi ‘kiếp nạn’ này chưa?’

Anh mỉm cười gật đầu: ’Có rồi, mới trưa nay thôi, khi nhìn anh đổ nước vào bình.’

Trời đất ơi, tôi có liên quan gì đến chuyện này, tôi thầm kêu lên như vậy. Nhưng anh không giải thích cho tôi, anh quay sang một chuyện khác: ’Tôi có một người bạn làm thợ máy không quân. Sau giải phóng anh chạy không kịp nên được lưu dùng, làm việc tại phi đoàn trực thăng, vẫn công việc sửa máy bay của anh ta xưa kia. Ai cũng nói anh được may mắn, có công việc làm, không phải đi học tập cải tạo. Một ngày kia, anh nhận thấy loạt bu gi của máy bay đã hết hạn xài, vì thứ đó cần được thay thế vì đã xài đến hằng ngàn giờ bay rồi, phải liệng đi thôi, thay thế cái mới. Kho tiếp liệu lại hết đồ, anh đành lên báo cáo với tân chỉ huy trưởng phi đoàn. 

Chỉ huy trưởng không giải quyết chuyện này mà chỉ ra lệnh vắn tắt: ‘Khắc phục! Anh cạo bu gi, mài lại vít lửa, báo cáo với tôi làm gì, rồi chờ Liên Xô viện trợ thì thay thế. Anh cứ thi hành lệnh của tôi, tôi chịu trách nhiệm. Anh không làm thì có người của chúng tôi làm, anh có thể xin nghỉ việc, không phải chỉ anh mới là người giỏi, tôi không thể bao che cho anh mãi được, cách mạng từng chế ra tên lửa bắn rơi được B52 của Mỹ, nữa là cái chuyện vặt này có gì quan trọng đâu.’. 

Hú hồn, anh ta làm đơn xin nghỉ việc liền, mới đây tôi gặp anh ta ngồi lề đường sửa xe gắn máy, xe đạp. Anh tha hồ cạo bu gi, phục hồi bu gi và mài vít lửa. Anh hiểu chứ, chiếc Honda đang chạy trên đường bỗng nhiên chết máy còn giắt bộ mang đi sửa được. Chứ cái máy bay đang bay bỗng nhiên bị tịt ngòi bu gi giữa trời khắc phục cái nỗi gì.’

Dứt câu chuyện, anh kỹ sư cười hì hì:’Tôi thì không có may mắn bằng người lính thợ bạn tôi, vì tôi không được phép làm đơn xin nghỉ việc. Mãi ngày hôm nay tôi mới tìm ra cách thoát thân, một sống một chết mà. Cùng tắc biến, biến tắc thông phải không anh. Sắp đến giờ lao động rồi, chúng ta vào thôi. Mai Chủ nhật rảnh mời anh sang nhà tôi chơi. Tôi ở Nhà Bè, tôi chỉ đường cho dễ tìm lắm. Thứ Hai này khởi công xây lò rồi. Tôi bận mất mấy ngày.”

Tôi tìm nhà anh kỹ sư xây lò nấu thủy tinh ở Nhà Bè không khó, anh đã chỉ dẫn đường đi nước bước cho tôi cặn kẽ, cặn kẽ từng chi tiết, vả lại bấy giờ chưa đổi tên đường. Tôi cọt kẹt đạp chiếc xe đạp cũ rích sang nhà anh chơi. Anh đón tôi ngoài cửa nhà cười toe toét. Căn nhà của anh là một chiếc bè, thả nổi trên sông, neo ngay cạnh bờ, lối lên xuống là chiếc cầu gỗ vững chãi, nhưng cũng tiện lợi, có thể điều khiển được, rút cầu lên, chiếc cầu ở trên bè, bởi vì anh ta là một người khoa học, hình như chiếc bè ấy còn di chuyển được. Tôi nhìn thấy một cánh buồm cuốn lại, không biết còn máy móc gì khác không. Trước mắt tôi là một căn nhà gỗ đơn sơ nhưng khá vững chắc. Đời sống của con người này, một vợ và một con nhỏ có vẻ bụi đời. Nhưng thực ra chẳng bụi đời tí nào, khi vào hẳn căn nhà của anh tôi mới rõ. Một căn nhà đầy đủ tiện nghi, có máy phát điện riêng, cầu tiêu buồng tắm, bếp núc, kho chứa lương thực nước ngọt. Tôi dạo chơi thăm căn nhà anh một vòng, tôi rất hài lòng và ao ước có một căn nhà như thế, cây kiểng xung quanh nhà được trồng trong chậu sành, bè là những thân gỗ lớn, ghép lại bằng bù loong và dây xích sắt.

Tôi hỏi anh:’Sao anh lại có căn nhà này, mới đây hay từ lâu rồi?'

"Mới đây thôi, từ khi tôi bán căn nhà ở đường Trịnh Minh Thế.” 

"Tại sao anh phải bán căn nhà đó?”

"Nhà tôi rộng nên Cách Mạng xin vào ở chung, làm nhà tập thể, tôi không muốn sự chung chạ nào, cũng không thích tập thể, phiền lắm.”

’Làm cách nào mà anh bán được căn nhà anh đang ở?’

‘Một người cách mạng lớn cần một căn nhà cho phù hợp với địa vị của ông ta, tôi bán với giá bèo ấy mà, tiền bạc ấy tôi xây dựng cái bè này, làm nhà cây lên trên, vậy là cả gia đình tôi ở được. Tôi muốn di chuyển đi đâu cũng dễ, về quê chẳng hạn, cả gia đình tôi cho chạy về quê, chỉ cần nhổ neo giong buồm lên, cần thì máy đuôi tôm hỗ trợ. Miền nam mình thiếu gì sông ngòi. Cả gia đình tôi như con ốc, đi đâu mang theo cái nhà của mình, chắc ăn.’

‘Tại sao anh có sáng kiến ấy, nhà anh có hộ khẩu không?’

‘Có chứ, hộ khẩu thành phố đàng hoàng. Sáng kiến làm căn nhà biết bơi này tôi cũng mượn ý qua một chuyện ngắn ‘Căn nhà biết đi’ đăng trên báo, cũng do chuyện đó tôi xin hộ khẩu tại căn nhà này, như nhân vật nào đó trong truyện ngắn xin hộ khẩu trên toa xe lửa bỏ hoang, vô tình toa xe lửa ấy của hỏa xa, bị kéo đi ra Nha Trang sửa chữa, thế là chủ hộ khẩu mất nhà. Trường hợp tôi thì không, tài sản này của tôi không thể mất được, vì chính tôi làm chủ hộ khẩu và chủ căn nhà. Thời buổi này gạo châu củi quế phải không, tôi vẫn sống đầy đủ đó anh, cần gạo thì tôi về nhà quê rồi lên, không lẽ người ta khám xét nhà tịch thu gạo, tịch thu đồ kho dự trư”

Tôi khen:’Ý kiến anh rất hay, sống ngay trong thành phố mà anh tự do, không theo luật lệ nào hết, nhiều người ao ước như vậy mà không được đấy. Anh coi chừng bị kết tội là phản động.’

‘Ấy không, tôi vẫn đi họp tổ dân phố đều đặn, có điều lương thực tôi được phép mua nhường lại cho người khác thôi. Tôi là một công dân hợp pháp.’

Anh kỹ sư cười với tôi: ‘Hôm nay anh ở lại đây ăn với tôi một bữa cơm thịt cá, cơm trắng gạo Long An, cá tươi tôi mới lưới đêm qua, nhậu rượu đế Gò Đen, tráng miệng bằng xoài, thơm Bến Lức, để anh biết Nhà Bè là như thế nào. Miền Nam ta là xứ chim trời cá nước, đừng ép nhau quá. Tôi nguyên là gốc nông dân từ mấy đời nay, tôi không sợ đói, không cần lệ thuộc vào một thế lực nào hết. Cần lúa gạo thì trời cũng cho. Hẳn anh có nghe tại miền Nam này có loại lúa mọc tự nhiên, không phải do người gieo trồng mà trời cho. Hoàn cảnh khó khăn này tôi sẽ sống như thế đấy ..Hoàn cảnh của tôi còn may mắn hơn Robinson Crusoé lạc trên đảo hoang. Tôi phải tồn tại.’

Tôi tưởng chừng như đã lâu lắm mới được ăn một bữa cơm ngon như vậy. Đúng là tôi đã gặp một quái nhân, sống khắc phục trong mọi hoàn cảnh. Anh không hề than phiền về đời sống hiện tại.

Rượu vào lời ra, ly rượu đế nếp Gò Đen thơm ngon nhậu với gỏi soài xanh khô cá lóc bắt đáo để. Chẳng mấy chốc chúng tôi trở nên thân thiết, bóc ruột bóc gan ra với nhau, tinh thần tôi vốn dĩ nhiễm tinh thần người Nam Kỳ. Tôi nói với anh:’Anh buồn gì nào, đời sống anh đầy đủ như thế này khối người thèm đấy, buồn thì anh về quê. Còn như tôi có quê đâu mà về, nay thống nhất rồi, quê tôi ở miền Bắc xa xôi, nay khác lắm rồi.’

‘Quê tôi ở miền Nam, nhưng bây giờ cũng vậy cả thôi, rập khuôn một mẫu mã, nhiều con người họ hàng bà con cũng đã thay đổi, không giống thời gian tôi sống và lớn lên. Họ phải sống theo thời như thế mới tồn tại được. Tôi buồn là vậy đó, tôi muốn đi khỏi đất nước này từ mấy tháng trước. Yêu quê hương thì có yêu chứ, nhưng cũng đành thôi. Tôi cứ nấn ná mãi cho đến lúc nhận lệnh xây cái lò, tưởng rằng mọi chuyện xuông xẻ, không ngờ?. Chính vậy, tôi có xây cái lò theo ý tôi được đâu, tức là theo kinh nghiệm chuyên môn mà tôi đã làm từ hai chục năm qua. Làm cái đếch gì cũng bị biên tập thì làm sao nổi, nó sẽ ra cái quái thai nào. Họ ngoan cố mà có giáp trụ phòng thân, tôi thì có gì, như anh vậy, anh có gì? Lần này thì tôi đi xa, mang cả vợ con đi. Tôi ở đây không toi mạng thì cũng tù mọt gông. Cũng vì công việc xây lò, tôi biết chắc chắn rằng cái lò của tôi thiết kế thế nào cũng tiêu vào ngày khánh thành. Vậy thì ‘tẩu vi thượng sách’. Dù có bao nhiêu chữ ký đi nữa, nhưng rồi khi có ‘sự cố’ xảy ra thì tôi người xây lò vẫn phải chịu sự ‘truy cứu trách nhiệm hình sự’. 

Biết vậy nên tôi phải tìm cách trốn đi bằng chính chiếc bè nhà tôi. Chuyện vượt biển không phải chuyện dễ, nhưng tôi phải liều thôi, tìm cái sống trong cái chết. Nói theo người miền Nam thì ‘nhất chín nhì bù’. Tôi đã lo liệu mọi thứ cho sự an toàn ‘chỉ mành treo chuông’ này, nhưng còn một thứ tôi ưu tư là lượng nước ngọt mang theo những ngày còn lênh đênh trên biển, sợ không đủ dùng. Ngày hôm qua, nhìn anh cho nước vào bình, anh nghịch ngợm, nhấn chìm mãi cái bình nước mà cái bình không đầy nước cứ nổi lên lềnh bềnh, tôi nẩy ra sáng kiến, chứa nước vào những thùng phuy, đổ vào mỗi thùng phuy chỉ 2/3 phuy thôi, gắn xuống đáy bè, khi nào dùng đến nước uống thì cứ việc bơm lên thôi, tôi an tâm ở chuyến ra đi này, dù rằng phiêu lưu đó, giao cả sinh mạng của mình và sinh mạng vợ con cho biển cả. Khi cần thì tôi chạy bằng máy, khi chạy bằng buồm, tôi hy vọng rằng tôi chỉ ra khỏi hải phận là thoát.’

Anh kỹ sư có vẻ tin tưởng, anh nói với tôi rằng anh sẽ không có mặt vào ngày khai trương lò, dặn tôi tránh xa lò khi người ta đốt lò. Anh mơ mộng không, hay hoang tuởng trong một vụ thoát thân? Như gần dây có tin đồn có người đã thoát thân được bằng khinh khí cầu tự chế. Chuyện ấy có thật hay không, nhưng lời đồn đại thì um xùm trong thành phố, chốn chợ trời, có người tin và người không tin, nhưng lời đồn thì có đó.

Tôi không được chứng kiến và tham dự ngày khánh thành lò nấu thủy tinh, nên không được biết kết quả lành dữ ra sao, dù tôi rất muốn chứng kiến ngày trọng đại ấy. Tôi không có cái hân hạnh, vì chỉ một tuần lễ sau, tôi bị vồ ở chợ trời, do giao du với những phần tử phản động. Tôi lên trại học tập cải tạo, những năm tháng chán nản tôi cũng muốn quên đi, điều duy nhất tôi còn quan tâm là số phận anh kỹ sư và gia đình anh có thoát được không? Dù chuyện ấy rất phiêu như người thoát thân bằng khinh khí cầu, treo người trên cái giỏ cần xế, mặc cho gió đưa đi rồi hạ cánh xuống đâu cũng được, miễn là xa dời được quê hương yêu dấu. Như những người vượt biên bằng chiếc thuyền chỉ dài mười hai thước, mỏng manh như chiếc lá giữa đại dương, có thể bị sóng to gió lớn vùi lấp bất cứ lúc nào, không kể bọn côn đồ trên biển, bọn hải tặc Thái Lan mất nhân tính, đe dọa tính mạng, trinh tiết của phụ nữ. Người ta vẫn cứ ra đi, tâm niệm tất cả những người ấy đều giống nhau qua câu’ tự do hay là chết’. Đồng bào tôi đau khổ quá, như tôi vậy, bỗng nhiên mang thân tù tội, không biết ngày nào ra, dù rằng từ cái lồng nhỏ ra cái lồng lớn hơn.

Một ngày kia, trại học tập tôi đang ở tiếp nhận một đám tù mới từ trại nào đó chuyển tới. Tôi nhận ra một người quen, anh ba luật sư làm cu ly với tôi ở công ty sành sứ thủy tinh hồi nào. Việc đầu tiên tôi hỏi anh về số phận cái lò nấu thủy tinh, anh cho biết cái lò ấy vì xây không đúng qui cách nên nóng quá đã sụp rồi. Tác giả cái lò bị qui trách nhiệm là phá hoại và bị truy nã, vì anh ta đã trốn mất tiêu với gia đình, không biết anh ta đi đâu. Riêng tôi biết anh ta đã trốn ra biển, việc thoát được hay không, tôi không biết, vì nhiều năm sau không nghe một trường hợp thoát thân như thế.

Hai mươi lăm năm đã trôi qua, một phần tư cuộc đời.
__

Blog Archive