Thursday, July 2, 2026

Phiếm

Dạo gần đây mình lên Rednote (mạng xã hội của người Trung Quốc), trên này họ bắt đầu chia sẻ về cơ sở hạ tầng của Mỹ và nền kinh tế phát triển của Mỹ. Ở Trung Quốc đang phát triển thần tốc và với những gì báo chí nói xấu về nước Mỹ thì người Trung Quốc trẻ đang có những suy nghĩ rằng nước Mỹ lạc hậu và kém phát triển về mặt cơ sở hạ tầng giao thông, công trình công cộng. 

Nhưng sau khi xem các giải đá World Cup và xem các Vlogger chia sẻ về nước Mỹ, cư dân mạng Trung Quốc cảm thấy nhận thức của họ đang bị sai về nền kinh tế Mỹ và cơ sở vật chất ở Mỹ.

Họ nhận ra là nền thể thao Mỹ phát triển quá mạnh và có quá nhiều sân vận động đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế cho các sự kiện thể thao và chất lượng, họ khen là kinh tế phải mạnh đến mức nào mới có thể lấp kín được các sân vận động hàng trăm ngàn chỗ ngồi. Họ cũng khen rằng không khí World Cup cởi mở và người Mỹ rất thân thiện, không hề cảm thấy nguy hiểm như báo chí nói. Họ cũng nhận ra là dù nước Mỹ không có tàu cao tốc nhưng nhịp sống và việc đi lại chẳng làm chậm kinh tế của Mỹ. 

Một số bình luận còn nhận định là sức mua của Mỹ đang vượt xa Trung Quốc và các khía cạnh tệ nạn chỉ là một phần nhỏ của Mỹ. Còn có những bình luận khen tinh tế hơn nói rằng nền thể thao của Mỹ quá phát triển đến mức cảm thấy Trung Quốc vẫn còn ở quá xa.

Mình chia sẻ những gì mình quan sát trên mạng xã hội, có thể chưa phản ánh hết sự thật, nhưng mình muốn nói với độc giả rằng những gì báo chí nói (ở bất kỳ đâu, bất kỳ quốc gia nào) đang điều hướng bạn và nói dối bạn. 

Dạo này mình chẳng còn tập trung vào xem báo nữa, dù mình rất quan tâm chủ đề kinh tế chính trị, thay vì thế mình quan tâm vào góc nhìn của mỗi người thông qua những bình luận, những bài chia sẻ, những cuộc nói chuyện ngoài đời.

FB Tran Trung Hieu


"Vatican có tin vào phép lạ không?"

Nhân dịp sự kiện lớn Cha Trương Bửu Diệp được phong Chân phước, mình bàn đôi chút về chủ đề: "Vatican có tin vào phép lạ không?"

QUY ĐỊNH CỦA VATICAN VỀ CHÂN PHƯỚC VÀ HIỂN THÁNH

Vatican có một quy trình pháp lý và thần học rất chặt chẽ, có thể kéo dài hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Tiến trình này do Bộ Phong Thánh (Dicastery for the Causes of Saints) phụ trách.

Bốn giai đoạn trong tiến trình phong thánh:

Tôi tớ Chúa (Servant of God)
Đấng Đáng kính (Venerable)
Chân phước (Blessed)
Hiển thánh (Saint)

ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHONG CHÂN PHƯỚC

Để phong Chân Phước thì cần có một trong hai điều kiện:

Tử đạo: Nếu một người được xác nhận đã chết vì sự thù ghét đức tin (odium fidei) hoặc vì trung thành với đức tin, không cần có phép lạ để được phong Chân phước.

Nếu không tử đạo, thông thường phải có ít nhất một phép lạ được cho là nhờ lời chuyển cầu của người đó. Và phép lạ phải được Vatican điều tra và công nhận.

TRƯỜNG HỢP CỦA CHÂN PHƯỚC PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

Điều đặc biệt trong trường hợp của Cha Trương Bửu Diệp là có sự khác biệt giữa "những phép lạ được người dân truyền tụng" và "phép lạ được Vatican chính thức công nhận".

Từ sau khi cha Diệp qua đời năm 1946 đến nay, Nhà thờ Tắc Sậy và các tổ chức liên quan đã ghi nhận rất nhiều lời chứng của các tín hữu. Họ kể rằng sau khi cầu nguyện qua lời chuyển cầu của cha Diệp, họ đã:

* Khỏi bệnh hiểm nghèo.
* Thoát khỏi tai nạn.
* Có con sau nhiều năm hiếm muộn.
* Vượt qua khó khăn tài chính hoặc pháp lý.
* Tìm được việc làm hoặc đoàn tụ gia đình.

Nhiều video và sách về "Ơn Cha Diệp" cũng ghi lại các câu chuyện này. Tuy nhiên, lý do là cha Diệp được phong Chân phước theo diện tử đạo, chứ không phải là do phép lạ. Hiện tại Vatican chưa chính thức công nhận các phép lạ mà các nhân chứng công nhận, cần thêm thời gian kiểm chứng.

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (1897-1946) là một linh mục Công giáo thuộc Giáo phận Cần Thơ, được rất nhiều người Việt Nam kính mến vì tinh thần hy sinh bảo vệ giáo dân.

Theo các tài liệu của Giáo hội, vào ngày 12 tháng 3 năm 1946, trong bối cảnh chiến sự và xung đột tại miền Tây Nam Bộ, cha Diệp đã tình nguyện ở lại với giáo dân thay vì bỏ chạy. Khi lực lượng vũ trang bắt giữ một số giáo dân và đe dọa giết họ, cha xin được chết thay để họ được tha. Sau đó, cha bị sát hại. Chính sự hy sinh vì đức tin và vì đoàn chiên là nền tảng để Giáo hội xem xét ngài như một vị tử đạo.

Sau khi qua đời, mộ cha tại Nhà thờ Tắc Sậy (huyện Giá Rai, tỉnh Cà Mau; trước đây thuộc tỉnh Bạc Liêu) trở thành một trong những điểm hành hương Công giáo lớn nhất Việt Nam. Mỗi năm có hàng triệu người đến viếng, không chỉ người Công giáo mà còn nhiều người thuộc các tôn giáo khác hoặc không theo tôn giáo nào. Nhiều người tin rằng họ đã nhận được sự nâng đỡ hoặc những ơn lành sau khi cầu nguyện qua lời chuyển cầu của cha Diệp.

PHÉP LẠ TRONG TIẾN TRÌNH PHONG THÁNH LÀ GÌ? AI ĐÃ ĐƯỢC PHONG THÁNH GẦN ĐÂY?

Thông thường, phép lạ được hiểu là một biến cố:

* Không thể giải thích bằng kiến thức khoa học hiện có.
* Xảy ra sau khi người cầu nguyện chỉ xin sự chuyển cầu của vị đang được xét phong thánh.
* Có bằng chứng y khoa và nhân chứng đầy đủ.
* Phép lạ phải trải qua quá trình điều tra rất chặt chẽ của các bác sĩ, thần học gia và Bộ Phong Thánh của Vatican.
* Cuối cùng, Đức Giáo hoàng sẽ quyết định có tuyên phong Hiển thánh hay không.

Ví dụ phổ biến nhất là:

* Người mắc bệnh nan y được chữa khỏi hoàn toàn.
* Sự hồi phục xảy ra đột ngột.
* Không có phương pháp điều trị nào giải thích được.
* Người bệnh không tái phát trong nhiều năm.

Một vị nổi tiếng được phong Hiển Thánh gần đây:

Mẹ Têrêsa Calcutta được phong Chân phước năm 2003 và Hiển thánh năm 2016 (13 năm sau). Để được tuyên phong Hiển thánh, Mẹ Têrêsa Calcutta (Thánh Têrêsa thành Calcutta) đã có hai phép lạ được Vatican chính thức công nhận.

Phép lạ thứ nhất (để được phong Chân phước năm 2003):
Người được cho là nhận phép lạ là Monica Besra, một phụ nữ nghèo ở bang Tây Bengal, Ấn Độ. Monica mắc một khối u lớn ở vùng bụng, kèm theo nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Ngày 5 tháng 9 năm 1998, đúng một năm sau khi Mẹ Têrêsa qua đời, các nữ tu của Dòng Thừa sai Bác ái đặt một ảnh nhỏ và một huy chương có hình Mẹ Têrêsa lên bụng bà, rồi cùng cầu nguyện xin Mẹ chuyển cầu. Monica kể rằng trong đêm đó bà thấy một luồng ánh sáng phát ra từ bức ảnh, và sáng hôm sau khối u biến mất.

Vatican điều tra như thế nào?
* Hồ sơ được xem xét trong nhiều năm.
* Thu thập toàn bộ bệnh án.
* Lấy lời khai của các bác sĩ.
* Hội đồng y khoa của Vatican đánh giá.
* Hội đồng thần học xem xét việc cầu nguyện có thực sự hướng đến Mẹ Têrêsa hay không.

Đến tháng 12 năm 2002, Vatican kết luận rằng sau khi xem xét toàn bộ hồ sơ và ý kiến chuyên môn, sự hồi phục không thể giải thích đầy đủ bằng y học, nên công nhận đây là phép lạ theo tiêu chuẩn của Giáo hội.

Phép lạ thứ hai (để được phong Hiển thánh năm 2016)
Người được cho là nhận phép lạ là Marcilio Haddad Andrino, một kỹ sư người Brazil. Ông mắc nhiều áp-xe não (brain abscesses), tình trạng rất nguy hiểm. Ông được chỉ định phẫu thuật khẩn cấp.

Trước ca mổ, vợ ông cùng cộng đoàn giáo xứ cầu nguyện xin Mẹ Têrêsa chuyển cầu.

Theo hồ sơ, ngay trước khi ca mổ diễn ra:

* Các triệu chứng biến mất.
* Kết quả kiểm tra cho thấy các tổn thương đã hết.
* Ông hồi phục hoàn toàn và sau này vẫn có cuộc sống bình thường.

Sau nhiều năm điều tra, tháng 12 năm 2015, Đức Giáo hoàng Phanxicô phê chuẩn đây là phép lạ thứ hai. Nhờ đó, ngày 4 tháng 9 năm 2016, Mẹ Têrêsa được tuyên phong Hiển thánh với tước hiệu Thánh Têrêsa thành Calcutta.

TÓM LẠI

Qua quy trình phong Chân phước và Hiển thánh, có thể thấy Vatican không phủ nhận phép lạ, nhưng cũng không chấp nhận một cách cảm tính. Mỗi trường hợp đều phải trải qua quá trình kiểm chứng rất nghiêm ngặt trước khi được công nhận.

Khoa học, thần học và các ngành nghiên cứu khác đều đang tiếp tục tìm lời giải cho những điều con người chưa hiểu hết.

Nếu bạn yêu thích thần học, lịch sử tôn giáo hay huyền học, đừng ngần ngại học hỏi với một tinh thần cởi mở, tôn trọng chứng cứ và không ngừng tìm kiếm tri thức.

Hình là mình chụp nhà thờ St. Andrew's Church, nằm tại 73 Simcoe Street, Toronto. 

Được thành lập năm 1830, là một trong những giáo đoàn Trưởng Lão lâu đời nhất ở Canada. Công trình được công nhận là di sản theo Ontario Heritage Act nhờ giá trị kiến trúc và lịch sử. 

Dòng chữ trên bảng điện tử: "Out of the Cold - Take-Away Breakfast" - là chương trình phục vụ bữa sáng và hỗ trợ người vô gia cư, một hoạt động cộng đồng mà St. Andrew's đã duy trì nhiều năm

Jenny Dang

BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO MARCO RUBIO RA QUÂN "QUÉT" CÁC ĐƯỜNG DÂY DU LỊCH SINH CON

Chào bạn! Chính quyền Hoa Kỳ đang thực hiện những động thái quyết liệt nhằm siết chặt các quy định nhập cảnh. Bộ Ngoại giao vừa triệt phá một mạng lưới du lịch sinh con tinh vi tại Tây Phi, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc bảo vệ tính toàn vẹn của quốc tịch Mỹ.

Dưới đây là các chi tiết chính của vụ việc:

1 - CHIẾN DỊCH QUÉT PHÁ MẠNG LƯỚI BẤT HỢP PHÁP

* Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã chính thức đóng cửa một mạng lưới du lịch sinh con quy mô lớn tại khu vực Tây Phi.
* Hơn 100 thị thực (visa) đã bị thu hồi ngay lập tức đối với những cá nhân sử dụng visa du khách nhằm mục đích nhập cảnh để sinh con, từ đó cố gắng đảm bảo quyền công dân Mỹ cho con cái của họ.

2 - THÔNG ĐIỆP CỨNG RẮN TỪ BỘ TRƯỞNG MARCO RUBIO

* Bộ trưởng Ngoại giao Marco Rubio đã đưa ra tuyên bố đanh thép: "Không một người nước ngoài nào được phép sử dụng thị thực du khách với mục đích du lịch sinh con".

* Dưới sự chỉ đạo của Tổng thống Trump, Bộ Ngoại giao khẳng định quyết tâm bảo vệ tính toàn vẹn của hệ thống nhập cư và giá trị của quốc tịch Mỹ trước các hình thức lợi dụng chính sách.

GÓC NHÌN VỀ CHÍNH SÁCH NHẬP CƯ

Hành động này cho thấy xu hướng quản lý nghiêm ngặt hơn đối với các đối tượng lợi dụng lỗ hổng visa để đạt được mục đích nhập cư không đúng quy định. Đối với cộng đồng, việc hiểu rõ các quy định và tôn trọng tính hợp pháp của thị thực là vô cùng quan trọng để tránh những rủi ro pháp lý không đáng có khi nhập cảnh vào Hoa Kỳ.

Bạn có nhận định thế nào về việc chính phủ siết chặt các hoạt động liên quan đến "du lịch sinh con" để bảo vệ tính toàn vẹn của quốc tịch Mỹ?



Singapore tịch thu biệt thự 55 triệu SGD trong vụ nghi buôn lậu chip Nvidia

Lâm Yến•Thứ Năm, 02/07/2026

Ngày 1/7, Chính phủ Singapore đã tịch thu một căn biệt thự trị giá khoảng 55 triệu đô la Singapore (SGD) và truy tố những người liên quan với cáo buộc rửa tiền. Theo giới chức, vụ án có liên quan đến một đường dây bị nghi ngờ buôn lậu chip của Nvidia qua biên giới.

Căn nhà Singapore bị cảnh sát tịch thu. (Nguồn: Google Map)

Trong một tuyên bố, cảnh sát Singapore cho biết 2 nghi phạm Lim Jenny và Woon Guo Jie Aaron, bị cho là có liên quan đến hoạt động buôn lậu, đang phải đối mặt với các cáo buộc rửa tiền.

Vụ việc liên quan đến cuộc điều tra mà Singapore đã triển khai trước đó. Với sự phối hợp của Mỹ và Malaysia, cảnh sát Singapore cáo buộc Woon Guo Jie Aaron cùng 2 nghi phạm khác là Li Ming và Wei Zhaolun có hành vi gian lận trong quá trình mua sắm máy chủ.

Cả 4 người gồm Lim Jenny, Woon Guo Jie Aaron, Li Ming và Wei Zhaolun đều có liên quan đến một số công ty cũng bị truy tố trong vụ buôn lậu chip. Trong đó, Li Ming là công dân Trung Quốc, 3 người còn lại đều là công dân Singapore.

Kết quả điều tra cho thấy các cá nhân hoặc tổ chức liên quan đã khai báo gian dối khi mua máy chủ từ các tập đoàn công nghệ Mỹ Dell, Super Micro Computer (Supermicro) và nhà sản xuất điện tử Đài Loan ASUS, nhằm che giấu danh tính của người sử dụng cuối cùng.

Cảnh sát Singapore cáo buộc Lim Jenny, Woon Guo Jie Aaron và Wei Zhaolun đã “cấu kết thực hiện hành vi gian lận” để mua máy chủ từ 3 nhà cung cấp nói trên.

Wei Zhaolun còn bị truy tố về tội rửa tiền sau khi cảnh sát phát hiện tài khoản ngân hàng cá nhân của ông ta có khoảng 5,8 triệu SGD, trong đó một phần được cho là có nguồn gốc từ hoạt động phạm tội. Wei cũng bị cáo buộc sử dụng số tiền bất hợp pháp này để mua căn biệt thự hiện đã bị cơ quan chức năng tịch thu.

Cảnh sát đã ban hành lệnh cấm chuyển nhượng đối với căn biệt thự trị giá khoảng 55 triệu SGD. Ngoài việc phong tỏa tài sản, lệnh này còn cấm mọi hoạt động mua bán hoặc chuyển nhượng bất động sản.

Cảnh sát nhấn mạnh trong tuyên bố: “Cảnh sát áp dụng chính sách không khoan nhượng đối với các hành vi vi phạm pháp luật như vậy và sẽ kiên quyết trấn áp mọi cá nhân hoặc doanh nghiệp vi phạm pháp luật, nhằm bảo vệ vị thế của Singapore là một trung tâm tài chính và thương mại toàn cầu đáng tin cậy, được xây dựng trên nền tảng pháp quyền”.

Bốn bị cáo phải đối mặt với nhiều tội danh. Nếu bị kết tội trong vụ buôn lậu chip, họ có thể phải chịu mức án tối đa 20 năm tù và phạt tới 500.000 SGD.

Năm 2025, giới chức Singapore cho biết một số máy chủ chứa các chất bán dẫn thuộc diện kiểm soát xuất khẩu của Mỹ đã được vận chuyển từ Singapore sang Malaysia. Các thiết bị này có thể sử dụng chip trí tuệ nhân tạo của Nvidia. Mỹ hiện cấm xuất khẩu các loại chip AI tiên tiến này sang Trung Quốc.

Từ năm 2022, Mỹ đã cấm xuất khẩu các dòng chip cao cấp của Nvidia với lý do lo ngại chúng có thể bị chính quyền Trung Quốc sử dụng cho mục đích quân sự.

Theo Lâm Yến/ Epoch Times

nguồn trithucvn2.net. 

Tại sao mình chọn rời xa nước Úc – Một quyết định mâu thuẫn nhưng chân thật

Câu hỏi mình nhận được nhiều nhất từ ngày trở về là: "Tại sao lại chọn trở về khi Úc là giấc mơ của biết bao người?"

Thú thật, trong suốt 3 năm ở Úc, mình cũng đã tự hỏi bản thân câu ấy hàng trăm lần. Và hôm nay, mình muốn chia sẻ một chút trải lòng, không phải để so sánh hay phủ nhận, mà chỉ để gọi tên những cảm xúc mà có lẽ, chỉ người trong cuộc mới thấu hiểu.

Nếu nói về Úc, mình vẫn dành cho đất nước này sự ngưỡng mộ tuyệt đối. Một hệ thống an sinh nhân văn, nơi giá trị sức lao động được tôn trọng và sự tự do cá nhân được đặt lên hàng đầu. Đó là môi trường mà bất cứ ai cũng mong được trải nghiệm ít nhất một lần trong đời.

Nhưng, cuộc sống đôi khi không chỉ là những con số trong tài khoản ngân hàng hay những tiện ích xã hội hiện hữu. Đâu đó sâu thẳm, mình nhận ra một "chiếc trần vô hình" – một rào cản dày đặc ngăn cách mình với sự tự do mà mình hằng khao khát.

Đó là rào cản ngôn ngữ khiến mình đôi khi bất lực, không thể diễn đạt trọn vẹn những suy nghĩ sâu kín nhất. Đó là sự lạc lõng khi đứng giữa một concert, mọi người nhún nhảy theo giai điệu, còn mình như một khúc gỗ vô tri vì không "cảm" được thứ họ cảm. Đó là khi ngồi cùng đồng nghiệp sau giờ làm, người ta bàn về những bộ phim, những trò chơi, những ký ức tuổi thơ mà mình hoàn toàn xa lạ. Đó là những ngày ốm đau cũng không dám nghỉ, vì ở nơi đất khách, chỉ cần dừng lại một nhịp là mọi thứ dường như sẽ trượt khỏi tầm tay. Và đó là cảm giác khi nhìn thấy một cơ hội, một công việc trong mơ, nhưng cánh cửa đó dường như chưa bao giờ mở ra cho mình, dù mình đã nỗ lực gõ cửa hàng nghìn lần.

Mâu thuẫn thay, ở một đất nước tự do nơi người ta được phép sống là chính mình mà không sợ phán xét, mình lại thấy mình không thực sự có được "sự tự do lựa chọn" lối sống cho riêng mình. Mọi thứ dường như luôn đòi hỏi mình phải nỗ lực gấp đôi, gấp ba chỉ để giữ được sự cân bằng, khiến cho những lựa chọn về sở thích, về đam mê đôi khi trở thành những thứ xa xỉ.

Mình nhận ra, Úc cho mình những điều kiện sống tuyệt vời – những giá trị hữu hình có thể đong đếm. Nhưng đổi lại, mình phải đánh đổi những giá trị vô hình bên trong mà mình luôn theo đuổi để cảm thấy được là chính mình.

Trở về không phải vì Úc không tốt, mà vì mình nhận ra mình thuộc về nơi tâm hồn được gọi tên trọn vẹn bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, nơi những sợi dây kết nối văn hóa đủ sâu để mình cảm thấy thực sự thuộc về.

Viết những dòng này, mình muốn nhắn nhủ với những ai đang đứng trước những quyết định lớn của đời mình: Mọi lựa chọn đều có giá trị riêng. Đừng cảm thấy tội lỗi nếu một ngày bạn nhận ra mảnh đất mình đang đứng không phải là nơi dành cho mình. Mỗi hành trình đều là một bài học. Và quan trọng nhất, chúng ta đều xứng đáng được hạnh phúc – dù là ở bất cứ đâu.

Nguyen Vu Quynh Tram

Lan man: khi một địa phương bị mất tên

Có lần tôi đi ăn sáng ở một quán cơm tấm vỉa hè trong một con hẻm nhỏ tại Quận 1. Quán nhỏ, bàn thấp, xe gắn máy thỉnh thoảng ra vào hẻm, nói chung là một buổi sáng tiêu biểu của một thành phố vẫn ồn ào như hồi nào.

Tôi nhìn ra con đường trước mặt và buột miệng nói:
“Đây là đường Yên Đỗ ngày xưa.”

Chị bán cơm tấm nhìn tôi, hơi giật mình. Chị nói:
“Lâu lắm rồi mới có người nhắc đến cái tên đó. Anh chắc là ở nước ngoài?”

Tôi gật đầu.

Sau vài câu chuyện, tôi mới biết chị từng là giáo viên của trường Trung học Gia Long nổi tiếng trước năm 1975. Bỗng nhiên, giữa một buổi sáng bình thường, giữa dĩa cơm tấm và tiếng xe ngoài đường, có những cái tên cũ hiện về: Yên Đỗ, Gia Long, Sài Gòn.

Những cái tên đó như những cánh cửa nhỏ mở ra một địa danh đã lui vào trí nhớ.

Tôi nhớ hoài cái nhìn giật mình của chị. Cái giật mình đó cho thấy một sự thật: có những tên tưởng đã mất, nhưng thật ra vẫn còn nằm đâu đó trong lòng người. Chỉ cần ai đó gọi lên, chúng trở lại. Chúng trở lại cùng với tuổi trẻ, trường xưa, đường cũ, bạn bè cũ, và một đời sống đã bị lịch sử đẩy sang bên kia bờ.

Tên của một địa phương là như vậy. Nó là chiếc chìa khóa mở vào ky' ức. Nếu bạn từng xa quê và nghe lại tên làng cũ, tên đường cũ, tên trường cũ, tự nhiên bạn thấy lòng mình chùng xuống. Có khi trong một tiếng gọi ngắn ngủi có khi chứa cả một đời người. Có khi một cái tên tuy chẳng có gì sang trọng, như Sài Gòn hay Kiên Giang chẳng hạn, nhưng nó là cả một trời ky' ức. Có mùi vị và âm thành của buổi sáng cũ. Có bóng cây bên đường. Có tà áo mấy cô nữ sinh. Có tiếng trống trường. Có một người thầy, một người bạn, một người thân đã khuất. Có khi có cả một thời thanh xuân mà người ta tưởng đã quên.

Nói như vậy để thấy rằng địa danh nó mang nhiều hơn một tên gọi. Nói ví von, nó là nơi mà ky' ức trú ngụ trong ngôn ngữ. Người ta sống trong một thành phố, nhưng người ta cũng sống trong tên của thành phố đó. Người ta đi trên một con đường, nhưng trong tâm tưởng, con đường đó mang theo những lớp đời đã đi qua. Tên gọi nối người hôm nay với người hôm qua. Nối hiện tại với những gì đã khuất.

Đổi tên một địa danh là một cách sắp xếp lại ky' ức: từ nay nơi này phải được nhớ bằng một cái tên khác, một lịch sử khác, một trật tự khác. Bản đồ được in lại. Sách giáo khoa dùng tên mới. Người trẻ lớn lên với tên mới.

Nhưng trong lòng người cũ, có một sự đứt đoạn.
Những người từng sống với tên cũ bỗng thành những chứng nhân. Họ nhớ một cái tên mà người trẻ chưa từng nghe, như tôi nhớ đến Yên Đỗ mà anh tài xế Grab nghe như xa lạ.

Họ nói “ngày xưa chỗ này gọi là…” và câu nói đó tự nó đã mang một nỗi buồn. Nỗi buồn của người còn giữ chìa khóa, nhưng căn nhà cũ đã đổi bảng số. Nỗi buồn của người còn nhớ đường về, nhưng tên đường trên bản đồ đã khác.

Tôi nghĩ đến chị giáo viên Gia Long bán cơm tấm buổi sáng hôm đó. Với một người đi ngang, chị chỉ là người bán hàng. Nhưng khi nghe hai chữ Yên Đỗ, trong chị chắc có một miền ky' ức sống dậy. Có thể là sân trường Gia Long. Có thể là đồng nghiệp cũ. Có thể là học trò cũ. Có thể là những buổi sáng mặc áo dài đi dạy.
Cái tên Yên Đỗ hôm đó là một dịp như vậy.

Tôi nói ra một tên đường cũ. Chị ấy nghe được một tín hiệu từ quá khứ. Giữa hai người xa lạ bỗng có một sợi dây nối liền: sợi dây của một Sài Gòn cũ. Tôi ở xa về. Chị ở lại. Nhưng cả hai đều nhận ra rằng cái tên ấy từng có thật, từng thuộc về thành phố này, từng nằm trên miệng nói của bao nhiêu người.

Có lẽ sự mất mát lớn nhứt khi địa danh bị đổi tên là con người bị buộc phải sống trong hai lớp bản đồ. Một bản đồ hiện tại, dùng cho giấy tờ và đời sống hằng ngày. Một bản đồ khác nằm trong trí nhớ. Trên bản đồ thứ hai đó, những tên cũ vẫn còn nguyên: Tự Do, Công Lý, Hồng Thập Tự, Cộng Hoà, Yên Đỗ, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, v.v. Trường cũ vẫn mang tên cũ. Đường cũ vẫn mang tên cũ. Thành phố cũ vẫn hiện ra với giọng nói và những con người của nó.

Người đi xa thường giữ bản đồ thứ hai rất ky. Họ giữ tên cũ như giữ một mảnh căn cước. Vì nơi chốn đối với người xa quê thường bắt đầu bằng tên gọi. Nói “Sài Gòn” khác với nói một cái tên hành chánh “Thành phố Hồ Chí Minh”. Nói “Gia Long” khác với nói tên mới của một ngôi trường. Nói “Yên Đỗ” khác với nói tên hiện nay của con đường. Mỗi tên gọi mang theo một tinh thần riêng.

Tất nhiên, lịch sử luôn biến động. Đâu có ai tắm trên một dòng sông hai lần. Người xưa nói vậy. Tên đất, tên đường, tên trường có thể thay đổi theo thời gian. Nhưng cách thay đổi cho thấy thái độ của một xã hội đối với quá khứ. Một cái tên được cộng đồng chọn lựa qua suy nghĩ và thảo luận là một chuyện. Một cái tên bị gỡ xuống vì quyền lực muốn xóa một thời kì lịch sử là chuyện khác vì đó là một hình thức cắt ky' ức.

Mà ky' ức bị cắt thì lịch sử bị rời rạc.
Một dân tộc cần ky' ức để biết mình là ai. Ky' ức giúp người ta hiểu tại sao một con đường có tên đó, tại sao một ngôi trường được gọi như vậy, tại sao một dòng sông hay một khu chợ được nhắc đến bằng giọng thân thương. Khi những tên gọi cũ biến mất khỏi đời sống, người trẻ mất dần cơ hội hỏi về quá khứ. Họ đi qua một con đường mỗi ngày mà ít biết dưới lớp tên hiện tại còn có một lớp tên khác, và dưới lớp tên đó còn có một lớp đời sống khác.

Tôi rời quán cơm tấm hôm đó với một cảm giác lạ. Dĩa cơm đã ăn xong, đường phố vẫn ồn ào, thành phố vẫn tiếp tục trôi theo nhịp sống của nó. Nhưng trong tôi còn vang lại câu nói của chị:
“Lâu lắm rồi mới có người nhắc đến cái tên đó.”

Nghe như một lời than nhẹ. Cũng có thể như một lời mừng. Mừng vì cái tên đó vẫn còn người nhớ. Mừng vì giữa một thành phố đã đổi nhiều bảng hiệu, vẫn còn những người nhận ra nhau bằng một tên đường cũ.

Hôm nay (2/7/2026) ky niệm 50 năm ngày "Sài Gòn" thành "Thành phố Hồ Chí Minh" khiến tôi nhớ tới những lời nhạc trong ca khúc bất hủ "Sài Gòn niềm nhớ không tên" (mà ở Việt Nam ít ai nghe qua) của Nguyễn Đình Toàn. Ca khúc này nói lên rằng đổi tên một địa phương không chỉ là thay một danh xưng, mà là can thiệp vào ky' ức, bản sắc và 'cảm giác thuộc về' (sense of belonging) của cộng đồng.

Nguyen Tuan

"The Invisible Coup: How American Elites and Foreign Powers Use Immigration as a Weapon"

Với việc tuyên bố : Trẻ em sinh ở Mỹ là dân Mỹ của T́ối cao pháp viện đã làm cho quyển sách The Invisible Coup: How American Elites and Foreign Powers Use Immigration as a Weapon của Peter Schweizer/ Cuộc đảo chính ngầm: Giới tinh hoa Mỹ và các cường quốc nước ngoài sử dụng nhập cư như một vũ khí thành quyển sách bán chạy nhất của New York Times hiện nay. 

Quyển sách vạch trần nạn di cư ồ ạt như một mối đe dọa an ninh quốc gia. Với hơn 1 triệu công dân Mỹ đang sống ở Trung Cộng. Số cử tri này sẽ ảnh hưởng rất mạnh đến chính sách của Mỹ trong tương lai. Những nghiên cứu gần đây về số công dân Mỹ ở Trung Cộng chỉ vài chục ngàn người đều trật lật. Trung cộng đã lợi dụng kẻ hở của hiến pháp Mỹ trong 30 năm qua, không phải chỉ 1-2 năm như những nghiên cứu vừa đưa ra.

Số người cha hay mẹ là công dân Mỹ, đang sống ở Trung cộng trong 30 năm qua vẫn tiếp tục sinh đẻ và những trẻ con mới sinh sau sẽ là công dân Mỹ từ lúc mới sinh và họ cũng sẽ có cháu là công dân Mỹ, mặc dù cha mẹ họ không biết một tiếng Mỹ và họ cũng không sống trên đất Mỹ.

Chưa ai nói với bạn, trẻ em có quốc tịch Mỹ phải được chính phủ Mỹ cấp tiền tài trợ hàng tháng cho đến 18 tuổi. không cần biết đứa trẻ đang sống ở đâu.

Quyền sách này đang làm rúng động giới chánh trị Mỹ, cộng hoà cũng như dân chủ.

Chủ tịch Hạ viện Mike Johnson sáng hôm nay cũng vửa cho biết. Mỗi năm có 260.000 trẻ sơ sinh được tự động nhập quốc tịch mặc dù cha mẹ chúng là người nhập cư bất hợp pháp.

Nhìn lại kế hoạch chiếm Mỹ của Trung cộng không lâu lắm, mới chỉ có 30 năm. 30 năm nữa cũng không xa bao nhiêu.

Chỉ nhìn những người Hồi giáo vừa được Obama cho nhập cư vào năm 2010.

Chỉ 16 năm sau, Họ đang nắm quốc hội, quan toà, thị trưởng đang phá muốn banh nước Mỹ, thì sẽ thấy với kế hoạch 60 năm của Trung Cộng ghê gớm thế nào.

FB Le Hoang


The Invisible Coup: How American Elites and Foreign Powers Use Immigration as a Weapon – The New York Times Bestseller Exposing Mass Migration as a National Security Threat

Blog Archive