Showing posts with label Bùi Hồng Thúy Anh. Show all posts
Showing posts with label Bùi Hồng Thúy Anh. Show all posts

Tuesday, October 11, 2016

Duyên Gặp Gỡ



Bùi Hồng Thúy Anh

duyen-gap-go
Chuyến xe lửa không ngừng di động của cuộc đời, có những cái tất nhiên và ngẫu nhiên. Tất nhiên - những người có tiềm năng và khả năng thu hút người khác sẽ có nhiều người muốn đến ngồi gần, trò chuyện. Ngẫu nhiên – hai người được ngồi gần, cần được gặp nhau đúng lúc, đúng nơi. Trang và ông Dan Smith độc thân, nhưng không ế. Họ chẳng buồn chờ đợi tình yêu, không vội vã, cuống quít, tiếc rẻ những gì không thuộc về mình, không tư lụy bản thân. Họ gặp nhau,  lúc mà họ cảm thấy đang cần an nghỉ, đang tự nhủ: không gian và thời gian này là tạm bợ, “một cõi dừng chân”, chẳng muốn quan hệ lâu dài với ai cả, lúc này và nơi đây.

Trang là chuyên viên chữa trị phóng xạ, làm việc cho một văn phòng bác sĩ chuyên về da ở Austin, Texas được hơn một tháng. Hai loại ung thư da phổ biến nhất là ung thư tế bào đáy và tế bào vẩy, rất dễ được chữa trị bằng giải phẫu và phóng xạ - tỉ lệ, khả năng chữa trị khỏi, nhiều hơn 95%. Nàng chưa gặp ai đau đớn la hét, có nguy cơ tử vong. Người da mỏng và trắng, da lão hoá, ít tế bào hắc tố melanin ở lớp thượng bì, không có nhiều khả năng để chống trả với tia nắng mặt trời, rất dễ bị ung thư da. Chữa ung thư da bằng phóng xạ có thể dẫn đến một ung thư da khác 44 năm sau. Do đó, phần đông khách của Trang, lớn hơn 50 tuổi và là dân da trắng. Trang chưa bao giờ thấy khách Á Đông và Mễ, như tại các văn phòng y tế khác ở Texas. Trang cũng là nhân viên Á Đông duy nhất tại đây.

Ông khách Dan Smith, vừa qua sinh nhật 68. Dan không biết rõ về Trang, nhưng nàng biết khá rành mạch về ông ta: gia thế, nghề nghiệp, thuốc thang, bệnh tật, vân vân, dựa theo lý lịch mà bệnh nhân khai báo. Theo bộ luật HIPAA để bảo vệ quyền lợi của người bệnh, mọi thông tin y tế của bệnh nhân phải được bảo mật, và không được tiết lộ cho các cá nhân hoặc tập đoàn không cần biết. Trang không muốn, nhưng nàng đã thuộc lòng tiểu sử của ông Smith, chỉ vì một vấn để rắc rối nhỏ lúc đầu. Trong tuần lễ làm việc thứ hai của Trang, ông Smith đến văn phòng chữa trị lần đầu tiên, hai nhọt ung thư ở bắp vế và cánh mũi, do hứng nắng thường xuyên, rất lo lắng.  

- Cô có nhiều kinh nghiệm về phóng xạ da không vậy? 

Bản tính thật thà, không biết khoác loác của Trang thật là có hại. Thay vì nói tránh khéo đi, bảo đảm chắc nịch là nàng đã đi làm một năm, và thực tập hơn hai năm ở nhà thương MD Anderson lớn nhất thế giới; chữa trị những ca thật khó về ung thư của những cơ quan trong cơ thể như ruột, bao tử; phóng xạ chữa da chỉ vào sâu 5mm thôi, …,  Trang lúng túng, ú ớ thú nhận là nàng mới bắt đầu làm việc ở đây. Bão nổi lên rồi! Ông Smith đi méc với bác sĩ G, đòi ngưng chữa trị, đòi đổi văn phòng khác. Bác sĩ G khiển trách ông V, ông quản lý trực tiếp (chief radiation therapist) của Trang. 

Ông V yêu cầu khẩn cấp: Từ trưa hôm nay cho đến ngày mai, Trang phải làm mọi thứ, thuyết phục, để bệnh nhân Dan Smith tin tưởng tuyệt đối vào khả năng và sự hiểu biết chuyên môn của nàng. Ông Smith phải tự nguyện, yên tâm ở lại đây để được trị liệu ung thư vẩy nơi mũi và bắp chân. Trong bốn tiếng đồng hồ, quản lý V thật là tốt bụng, đã chỉ bảo cho Trang biết bao mánh khoé để lấy lòng bệnh nhân. Gặp khách, Trang phải khen họ tưới xượi về tóc tai, quần áo; hỏi thăm như bạn cũ mất liên lạc lâu năm. Trang phải tập nói đều đều, bằng một ngữ điệu thanh thản tự tin, không lấn át bệnh nhân, thật hùng hồn, và thú vị trong khi trị liệu, để bệnh nhân mải trò chuyện, quên lo và quên xoi mói sơ xuất của người chuyên gia y tế, nếu trường hợp này xảy ra. Trang phải bỏ quên bản chất Á Đông bề ngoài khiêm nhường của mình, phải lên tiếng là cái gì cũng tuyệt vời nơi đây, từ ảnh siêu âm đến cách trị liệu “look good and great, the best of the best”. Mình không tin tưởng được mình, không khen được mình thì làm sao thuyết phục được người khác? 

Ngay sau đó, Trang lò mò ôn lại nhiều bí kíp trong cuốn sách “How to Win Friends and Influence People” của nhà văn và nhà thuyết trình Mỹ Dale Breckenridge Carnegie. Nàng bỏ ra vài tiếng đồng hồ, khảo sát tình hình, tìm hiểu về ông Dan Smith để có thể đồng cảm với ông, và thiết lập được một mối liên hệ gần gũi. 

Hôm sau, Trang phải đối mặt và nói chuyện trực tiếp với ông Smith một mình! Cái ngày nghiêm trọng, tốn nước bọt và mồ hôi ấy - trong cuộc đời này, dễ gì mà Trang quên! Dĩ dật đãi lao (Lấy khỏe để đối phó với mệt) – Trang để ông Smith nói tràng giang đại hải, thấm mệt rồi, ngừng lại. Trang chờ nắm được “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để ra đòn quyết định và bắt đầu thuyết trình bài vở nàng đã soạn thật kỹ từ tối trước: phóng xạ không đau, không để lại sẹo to như phẫu thuật, bảo hiểm trả tiền gần như là hoàn toàn 100%... Dương Đông, Kích Tây – “Ông Smith ơi, bác sĩ G nổi tiếng mát tay, chữa cho nhiều bệnh nhân lành hẳn ung thư da hơn 10 năm rồi. Văn phòng này là nơi duy nhất ở Austin dùng máy SRT 100 Vision tối tân nhất. Tôi học Toán, Vật Lý để hiểu máy móc, phóng xạ, sinh vật, cơ thể người ta và ngay cả tâm lý học để có thể giúp đỡ được các bệnh nhân một cách hữu hiệu nhất ! 

Quản lý V còn bảo Trang treo hết bằng cấp lên tường loè thiên hạ. Khổ nhục kế - Chúng tôi có phương châm “bệnh nhân là ông bà hoàng”. Những bệnh nhân hiểu biết như ông sẽ làm việc chữa trị dễ dàng hơn, xin ông cho chúng tôi có cơ hội được hợp tác, và ông sẽ không thất vọng. Nhất tiễn hạ tam điêu (Một mũi tên hạ ba con chim) – Trang uốn ba tấc lưỡi, ông Smith chịu ở lại chữa trị, bác sĩ G và quản lý V hài lòng với công khó của Trang lắm. 

Sau đó, mọi việc dường như êm xuôi. Bàn tay thôi lóng cóng vụng về, mắt nhận diện kích thước của những miếng chì đủ cỡ thật mau, Trang không để bệnh nhân phải chờ lâu nữa. Nàng thường xuyên cười đùa trò chuyện, theo dõi những phản ứng phóng xạ của mọi bệnh nhân thật dễ dàng, báo cáo tường thuật đầy đủ với bác sĩ G, để đổi thay cách trị liệu khi cần thiết. Việc làm kể như tạm ổn. 
*
Trang lớn lên ở Việt Nam, sang Mỹ đã gần 30 năm. Tuổi thiếu thời của Trang nghèo khó, trong xóm nhà lụp xụp, bùn lầy, không điện nước – xài đèn dầu và nước gánh. Chất đạm bổ dưỡng, cần thiết,  thường xuyên là từ xương và đầu cá thác lác kho thật mặn, sau khi phần thịt ngon đã được nạo sạch, bán cho người khác để làm món chả cá. 

Nàng may mắn sang được Mỹ, chỉ là vì bị bắt theo lên tàu đi chui ở Rạch Giá, không thôi bị lộ, khi nàng đang đi lảng vảng gần đó. Ý chí mãnh liệt để thoát ra cảnh nghèo khó và thiếu hiểu biết đã nung nấu Trang từ lúc còn rất bé, chỉ có điều là nàng không biết làm sao, vì “cái khó bó cái khôn”. 

Cuộc đời nàng ở Mỹ là một cuộc rượt bắt thời gian, tranh thủ sống, học, làm - để đuổi kịp người ta. Ở Việt Nam, Trang chỉ có buổi đực, buổi cái đến trường, lo đi bán vé số phụ giúp gia đình. Ngày bước được vào trại tị nạn Mã Lai ở Cherating, người khác thì nhăn mặt, nôn oẹ vì mùa hôi hám, Trang quỳ xuống cám ơn trời đất, tự nhủ lòng là sẽ tận lực để phấn đấu vương lên. 

Ngay lúc đặt chân được trên miền đất nước tự do, Trang đứng bất động trong một góc phi trường.  Nhìn đám đông đủ màu sắc rực rỡ qua lại, rồi nhìn lên một mảnh trời xanh, nàng thề rằng mình sẽ phải hiểu, phải học, phải vươn lên.  

Joseph Conrad không hề nói tiếng Anh cho đến năm 20 tuổi.  Ông đã trở thành đại văn hào của thế kỷ 19, viết truyện tiếng Anh sau 33 tuổi, hưởng lộc nhờ viết lách lúc 57 tuổi. Grandma Moses bắt đầu vẽ từ năm 78, đã để lại biết bao nhiêu tranh ảnh nổi tiếng trên thiệp và tem. 

Trang học nhiều ngành, làm nhiều nghề, không vì sở thích như các nhân vật nổi tiếng chậm đó. Nàng thiếu người dẫn dắt, học thiếu căn bản, lại có trách nhiệm là chủ gia đình, có sức khoẻ và chịu khó. Ông Trời cho Trang tham dự trò chơi độc quyền (Monopoly) – đầu tư cổ phần, nhà cửa, đất đai, đóng thuế - và nàng là người thua cuộc nhiều phen. Nếu còn ở lại Việt Nam, Trang đã được làm lễ lên hàng lão, vì nàng đã hơn 50 tuổi. Trong những dịp hội hè đình đám, lão bà Trang, sẽ được ngồi riêng cỗ trên chiếu cạp điều ở chốn đình trung. 

Nhưng Trang đang ở Mỹ, nhìn trẻ trung, khoẻ mạnh; vẫn mặc quần đùi, áo sát nách và giang nắng đen nhẻm như thuở choai choai. Nàng lại vừa tốt nghiệp cử nhân lần thứ hai, vẫn còn gắng kiếm tiền. Vì thế, nhiều khi người ta lầm là nàng chỉ ngoài 30. 

Con đi đại học xa, ngoan và tự lập. Trang vừa ra khỏi cơn khủng hoảng về sức khoẻ, tài chánh và tinh thần. Đã có lúc Trang xây xẩm mặt mày, đầu óc quay cuồng, muốn nôn mửa, da rợn lạnh từng cơn. Nàng đã nghĩ là nàng bị bướu trong óc, tai, cổ, xương sống, có chất độc hoặc kích thích tố, dư, thiếu trong cơ thể. MRA, Ultrasound, PET, thử máu và nước tiểu,…, chưa ai chuẩn đoán được nàng bị bệnh gì cả. Cơ thể mảnh dẻ của nàng như đình công, không muốn chịu đựng và cố gắng, để tát cạn bể dâu nữa. 

Nàng dồn hết đồ đạc cần dùng, trong căn nhà kỷ niệm vào 6 cái thùng giấy - thùng đựng chuối chắc chắn, miễn phí từ HEB, có quai nắm đàng hoàng. Nàng thuê phòng rất đơn sơ, không bàn ghế, chỉ cần chỗ ngủ an ninh. Nàng  ăn, sống trong xe, dùng internet của Starbucks và McDonald, lắm khi viết lách cả ngày chẳng ai phàn nàn gì cả. Nàng tắm ở các chỗ tập thể dục 24 Hour Fitness khắp nơi. Nàng là hội viên với giá $150 một năm, tha hồ tập, xài xà bông, chỗ tắm hơi. Nàng uỷ thác cho đầu bếp HEB, Randalls, hoặc Whole Foods (siêu thị ở Mỹ)  nướng gà, hấp tôm cá, chỉ ăn rau sống và rau luộc bỏ lò vi sóng. 

Chế độ ăn uống kiêng cữ và thể dục đều đặn đã khiến mỡ, đường, huyết áp giảm đi. Việc làm dễ dàng, hết giờ thì về, tiền đủ sống. Cuộc đời đơn giản, không phải bận tâm: con cái, chó mèo, nhà cửa và người yêu. Đời Trang bớt căng thẳng, sau liên tục thất bại và thất vọng từ năm 2008.  Khủng hoảng tài chính toàn cầu, kinh tế suy đồi, thị trường chính khoán sụt giá, hãng xưởng xa thải, hôn nhân đổ vỡ - khiến Trang phải đi học lại chờ con lớn, để đi kiếm việc tại một thành phố khác.
*
Ông Smith nhìn trẻ: vẫn còn nhiều tóc, bụng không bự, răng chưa long. Tóc ông nâu, bóng - có lẽ nhờ thuốc gội đầu, nhuộm “Just for men” chỉ cần 5 phút. Răng ông trắng, bóng, đều; không sần sùi như đá hoa cương cũ, rạn cùng năm tháng – có thể là răng giả, bằng sứ rất tự nhiên. Ông Smith là tư vấn, làm việc với khách cần vay thế chấp với nhà băng. Vì đạo luật Homestead, tổ tiên của ông Smith, gốc Pháp và Bồ Đào Nha đã di cư vào Nebraska để đòi 640 mẫu anh đất, gần như miễn phí do chính phủ liên bang cung cấp năm 1862. Khi bé, ông thích ngắm hoa và bướm dại, bay nhảy trong những cánh đồng dài – bắp, lúa mạch, hướng dương - tưởng chừng như vô tận của Sidney, miền tây của tiểu bang Nebraska. Thằng bé Dan đi bắt rắn, chồn, đủ loại chuột về làm thú trong nhà, biết nuôi ong lấy mật, trồng đủ loại cây có mùi thơm và mật như “beebalm”, kim ngân hoa, ngải đắng, …, bẻ cành cây nhỏ làm tổ, để dụ chim ruồi và bướm.  

Ông Smith lớn lên trong thời Hippies 1960, tóc dài, quần loe, nghe nhạc Beatles, “rock and roll”. Thế hệ này nổi dậy chống lại những gì cũ kỹ và vô lý, chiến tranh Việt Nam với những phức tạp về đạo đức, tái định nghĩa lại giá trị xã hội cổ truyền. Phụ nữ dùng thuốc ngừa thai vào năm 1960 và mặc áo tắm hai mảnh từ năm 1963 sau phim Beach Party. Tổng thống Lyndon B. Johnson đã ký nhiều dự luật để bảo đảm quyền công dân và quyền bầu cho phụ nữ và da màu, bảo hiểm cho người nghèo, người già. Ông Smith lúc trẻ, tin tưởng vào hoà bình, tình yêu và hạnh phúc. Thằng bé Dan đã từng nghĩ là có một ngày: Cái xã hội hoàn hảo, lý tưởng nhỏ bé mà nó thích gầy dựng với thiên nhiên và súc vật, trong các đồng lúa rộng lớn của gia đình sẽ là khắp nơi. 'Hãy tưởng tượng không có các tôn giáo, không có các quốc gia, không có các nền chính trị' (1) . Dan chụp hình “Polaroid” tại quê nhà với những hình ảnh hạnh phúc – chim hót đầu non, chó hóng nắng cạnh chủ, lúa chín vàng ươm, hạt mẩy tròn chỉ chờ hái, và trai gái cười đùa bên nhau… 

Năm 1967, Dan đầu quân, làm phóng viên chiến trường cho quân đội Mỹ tại Việt Nam, tay cầm máy Nikon Fs và các ống kính dài ngắn. Nhóm nhiếp ảnh 4 người của ông đi khắp nơi, bổ sung vào các đơn vị để làm phim tài liệu về chiến tranh Việt Nam cho Nhiệm Sở Điện Ảnh Lưu Trú Quân Đội (Department of the Army Archives). Ông Smith ghi lại những hình ảnh lịch sử về chiến tranh giống như Robert Capa với “Omaha Beach, D-Day 1944”. Ảnh chụp không dễ dàng thay đổi (ngày xưa chưa có Photoshop), không giống như văn xuôi và tranh vẽ. 

Ông Smith miêu tả sự thật của xã hội Việt trong chiến tranh, qua một vài hình ảnh ngoài lề, không bị kiểm duyệt và thao tác – với cành cây ngọn cỏ bê bết máu, chó bơ vơ ghẻ gầy kiếm ăn trong các nhà hoang, và cặp mắt hoang mang của cô gái nhỏ bơ vơ nơi bến đò Sài Gòn đi lục tỉnh, tìm kiếm một nơi nương tựa. Các cô gái này sẽ có nhiều  tú bà và ma cô dụ dỗ, đem về nhà cho ăn ngon, mặc đẹp, rồi… vắt chanh, bỏ vỏ. 
*
Trang rất thích nghề của mình. Việc làm dễ dàng, lại cho nàng cơ hội được nói tiếng Anh cả ngày - linh tinh, với nhiều chủ đề lý thú với bệnh nhân. Ông X chơi cổ phiếu thần sầu, mỗi ngày khoe mua bán “option” thành công, không cần vốn nhiều. 

Phải chi Trang có tiền dư dả và chưa bị đời chua (đùa chơi) cho banh càng với stock, thì cũng đã thử mua bán cổ phần theo ông X. 

Cuộc đời nàng trôi qua, mỗi ngày đều đặn như the “Truman Show” (2) – ai cũng là diễn viên, biết rõ vai trò và đối thoại của mình. Trang và ông Smith ngơ ngáo, không đóng kịch, mà sống thật, nên mới xảy ra  nhiều cớ sự mà vẫn chưa … cứ sợ. 

Ông Smith và Trang có mối quan hệ  ngẫu nhiên, tuy xa mà gần, tuy gần mà xa. 

Hai người đều sanh cùng thế hệ của Baby Boomer, thời kỳ hậu chiến thứ hai – ông Smith đầu thế hệ, Trang cuối thế hệ. Ông Smith và Trang có liên hệ qua chiến tranh Việt Nam. Bố Trang là lính trơn, đi hành quân xa, chẳng thấy trở về. Trang lớn lên, bữa đói, bữa no; đòn roi vọt từ mẹ cũng nhiều; chẳng còn dư nước mắt khóc hàng xóm chết. Ông Smith chứng kiến nhiều thảm hoạ của chiến tranh. Người ta không biết là bạn hay thù, đứa nhỏ hay bà già đều có thể ôm bom tự sát để khủng bố. Người ta sợ hãi và tàn nhẫn. Việt Cộng tẩu thoát trong đường hầm vào rừng, để lại mìn và hầm chông. Số tử vong của binh sĩ Mỹ năm 1965 mới là vài ngàn,  đã tăng lên hơn 10,000 năm 1967. 

Sau mỗi trận chiến, ông Smith trở về Saigon, tương đối là an ninh với tâm hồn nặng trĩu. Ở đây, ông Smith không còn lo bị tập kích, bị bắn lẻ nữa, nhưng ông phải chiến đấu với lương tâm của mình. Ông lê đôi giày đinh, nhiều khi còn tàn tích của chiến tranh: “máu dân, lần khân cũng hoá bùn”. Ông bước trên những con đường của mộng mơ, với lá me bay và hàng cây đan kín rủ tóc - nhưng mộng mơ thì tan nát. Chiến tranh phi nghĩa! Lý tưởng và hy sinh của tuổi trẻ, là trò chơi cho nhiều tập đoàn  thao túng. Ngàn cặp mắt của người bản xứ miệt thị, theo dõi ông – kẻ xâm lăng. Nhiều kẻ muốn lân la, quen với ông; chỉ biết lương lính Mỹ quèn, cao hơn độ năm lần lương sĩ quan Việt Nam. Cô gái nhỏ mồ côi, ngồi bơ vơ ở bến đò lục tỉnh, buồn bã nhìn, lặng lẽ, không nhận chocolate và chewing gum từ tay người lính Mỹ. Cô hãy còn chìm đắm trong thiên đường nghèo khó, đã biến mất: tuy nghèo không đủ ăn mặc, nhưng còn có người thân chia xẻ mảnh đời bất hạnh. Ông Smith quỳ xuống, xin chụp ảnh, giúi vào túi cô bé mấy đồng đô xanh. Không còn anh lính Mỹ Smith can trường, chỉ có thằng bé Dan oà khóc. 

Đúng hay sai? Không còn tự vệ hay tấn công. Không cần biết đôi dép râu và bàn chân chai sần toé máu, hoặc đôi giày “botte de sault” bít bùng và đôi chân ủng nước. Ai cũng là nạn nhân của thời cuộc. Bàn tay nhỏ của cô bé nắm chặt tay ông Smith … Mỗi lần nói chuyện với Trang, nhìn vào đôi mắt hình hạnh nhân, đen sâu thẳm, ông Smith cảm thấy bình an. Có lẽ cô gái nhỏ năm xưa bình an, như ông từng cầu nguyện. Đây là chút ngậm ngùi ông sẽ mang theo, khi một mai nằm xuống…

Dẫu ở Mỹ no ấm, nhưng Trang và ông Smith vẫn thấy lạc lõng. Trang như bị liên tục giằng co giữa hai tư tưởng đông tây và không tìm được bến đỗ. Ông Smith trở về từ Việt Nam, là người hùng bước xuống sân bay không ai đón. Biểu tình chống chiến tranh, đả đảo những người lính góp phần vào việc viện trợ, cố vấn và trực tiếp tham chiến của Mỹ ở Việt Nam, diễn ra ngay trước mắt, bên kia hàng rào của sân bay. Ông Smith là người cứng rắn và có trách nhiệm, đã cố gắng quên, dùng GI Bill đi học lại. Ông may mắn kiếm được một người vợ hiền và hiểu biết. Bà là người bạn đồng hành và phụ tá đắc lực, nhưng lại mất sớm.

Bệnh nhân phải được chữa trị 24 lần. Ông Smith đến văn phòng mỗi ngày. Trang và ông Smith hợp chuyện vô cùng vì hai người chưa biết rõ về nhau - thiếu gì chuyện kể. Trang chỉ mới ở Austin được hai tháng. Ông Smith hay mách cho Trang những chỗ đi chơi và ăn uống của dân địa phương: Oasis, Shady Grove, Clarksville, mount Bonnel… Hai người cũng nói chuyện về con cái. Họ cùng đồng ý: khi con gọi mình nhiều - chúng đang buồn hoặc thất tình. Bố mẹ đi tìm, gặp, thăm những đứa con thành công và hạnh phúc thật khó. Người già dễ được sống thoải mái và vui vẻ, khi không tùy thuộc vào con cái về vật chất và tinh thần. Ông Smith hay nhắc đến DO, con chó “Labrador” săn đen, là người bạn đồng hành bây giờ. DO là tên ghép của ông và vợ: Dan và Oba. Ông Smith làm bạn với DO, nhớ vợ, nghĩ đến hơn 3800 quân khuyển Lab đã bị bỏ lại Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến duy nhất trong lịch sử nước Mỹ mà quân khuyển không được phép chính thức trở về nhà sau chiến tranh (7) . 

Trang để dành những ca chữa trị dễ, trước và sau cái hẹn của ông Smith. Nàng chữa mau cho các bệnh nhân này, và dành nhiều giờ cho ông Smith hơn. Ông Smith lúc nào cũng đến sớm. Trang vui tớn lên, quên chào hỏi, bị ông Smith nhắc khéo và trêu chọc mấy lần. 

- Why… do you come so early? - Trang không kềm được cảm xúc và suy nghĩ của mình

- Geez… Thank you. Is it the way that you great people?  - Ông Smith tinh nghịch lùi ra cửa. - Let start all over again.  Mình làm lại từ đầu nhé.

Trang lại phải diễn tuồng. “Hi, Mr. Smith. I am glad to see you. How are you?”…

Thế nào là “làm lại từ đầu”? Phải chi Trời cho ông Smith và Trang cơ hội và thời gian, gặp nhau 20 năm trước.  

Không hẹn nhưng đồng loã. Tư tưởng đụng độ và hoà hợp. Ngày nào hai người cũng có hơn nửa tiếng bên nhau. Trang cảm thấy mặt nóng bừng và nghe tim đập rộn rã khi thấy bóng ông Smith từ xa. Ông Smith cao lớn, nói chuyện phải cúi cuống, nhìn Trang bình thường nhưng không tầm thường đối với ông –“May mà có em, đời còn dễ thương” (8) . “Ung thư là bệnh rõ ràng, tương tư là bệnh của tôi thích nàng”. Tình cảm bắt đầu bằng nụ cười và những lần nói chuyện đầy ý nghĩa. 

Sau 10 ngày trị liệu, 12 lần gặp gỡ, ông Smith và Trang đều muốn gặp nhau nhiều hơn nhưng không ai dám mở lời trước. Hôm đó, ông Smith than là thuế nhà ở tiểu bang New Jersey NJ cao nhất nước Mỹ - 2.29% - khiến cho vợ ông di cư ra khỏi NJ để lập nghiệp 40 năm trước, và hai ông bà đã có duyên gặp gỡ nhau. Trang đồng ý với ông Smith về chuyện thuế cao ở NJ, nhưng nàng thắc mắc là tại sao chỉ có 2.2%, trong khi nàng đang phải trả thuế nhà ở Texas hơn 3.5%.  Thật sự là Trang không cố tình, nhưng có lẽ ông Smith cố ý, muốn đánh cuộc với Trang một bữa ăn. Ông làm ăn về vay thế chấp thì phải biết nhiều hơn Trang. Ông đang nói về thuế nhà liên bang, mà Trang thì nói về thuế tổng hợp (thuế nhà của liên bang và địa hạt). Đừng nói là một bữa ăn, tốn kém và phiền phức mấy cũng được. Hai người đang bị thu hút bởi nhau mãnh liệt, không cần biết ngày sau ra sao, chỉ biết được gặp nhau là thoả mãn khát khao.

Lần đầu tiên ông Smith và Trang hẹn gặp nhau đi chơi thứ bảy, trời đổ mưa tầm tã  từ sáng, đúng ra là từ ba ngày trước. Có lẽ con gái của Trang cãi nhau với bạn trai, buồn lái xe sáu tiếng đi kiếm mẹ, từ tối thứ sáu không báo. Trang không có giờ ăn sáng, trưa hoặc tối với ông Smith, chỉ có một buổi chiều dạo chơi Austin trong mưa. Trang ăn trưa với con gái và hẹn ăn tối nữa, cho con có dịp tâm sự trước khi trở lại trường học ngày mai. Ông Smith và Trang rủ nhau đi thư viện và bảo tàng viện LBJ (Lyndon Baines Johnson Library and Museum). Tổng thống LBJ có liên quan đến chiến tranh Việt Nam. Ông Smith thích vào đây, sống lại quãng thời gian lịch sử. Ông Smith nhận ra, có lẽ Trang không trẻ như ông nghĩ, vì nàng có vẻ như đã sống qua cuộc chiến tranh đó. Ông Smith ngạc nhiên, khi thấy Trang còn nhớ nước cam Tang, xe Citron con cóc, máy đánh chữ Smith Corona, của những thập niên 60-70…  

Cà phê Mozart là nơi lý tưởng để nói chuyện, nghe nhạc, làm bài, uống đủ loại giải khát (cà phê, trái cây, nước gừng), ăn bánh (cheesecake, brownies) trên hồ Austin. Ông Smith lại nói về những chỗ đáng đi thăm ở Austin. Thành phố Austin có phương châm là muốn mình lập dị (slogan: Keep Austin weird) - chơi nổi, để khácvới các thành phố khác. Thành phố Austin khác các thành phố lớn ở Texas (Houston, Dallas): có nhiều sông hồ, đồi núi, cao thấp, không phẳng lì, có cây xanh bao quanh những lối mòn đi bộ hằng chục dặm bên dòng nước, có đường riêng cho xe đạp, có hơn 18 state parks đi câu cá dọc theo sông Colorado, Lady Bird, hồ Travis, Bastrop, Georgetown. (9) Nếu bạn thích thiên nhiên, đời sống ngoài trời, thủ đô của âm nhạc sống, "The Live Music Capital of the World", nhìn thành phố hiền hoà, xanh biếc từ trên nhiều đồi cao, chiều tím rực rỡ khi mặt trời lặn xuống “City of the Violet Crown”,… xin hãy đến Austin! 

Trang đang ngồi bàn, đối diện ông Smith, nhâm nhi ly cà phê, lấy giấy bút, hí hoáy ghi chép. Mắt nàng khi mở to, khi mi dài rủ xuống… Ông Smith vẫn tiếp tục nói, nhưng ông đang cố gắng đè nặng cảm xúc của mình. Cô chuyên viên chữa trị phóng xạ này có cặp mắt của cô gái nhỏ nơi bến tàu Sài Gòn năm nào, giờ lại giống vợ ông quá. Bà Oba Smith hay ghi chép, viết lách, cố gắng xuất bản tập truyện ngắn trước khi mất, sau khi nhận được án tử hình không định ngày, từ căn bệnh ung thư máu quái ác. Ông Smith là độc giả đầu tiên.

Sau hôm đó, ông Smith vẫn lịch sự, vẫn đến sớm, vẫn nhìn Trang trìu mến, nhưng tuyệt đối không mời Trang đi chơi nữa. Trang có tự ái của nàng, cũng không hỏi. Nếu không phải thích nhau, thì si tình của mình sẽ là gánh nặng của người ta. Thêm vào đó, ở cương vị là một nhân viên y tế đối với bệnh nhân, nàng không muốn bị lôi thôi với luật pháp, là lạm dụng cơ hội để cầu lợi. Từ đầu, ông Smith đã không bốc điện thoại mỗi lần Trang gọi, chỉ xem nhắn tin và trả lời vào lúc sáng sớm. Ông Smith khoe đi xe đạp và uống bia với bạn trai. Trang nghĩ là ông Smith nói trái đi, thay vì nói bạn gái cho nàng đừng buồn. Ông Smith khuyên Trang đi xem sân khấu Zach và Esther's Follies, có nhạc kịch, ảo thuật, sau đó thì đi bộ dạo chơi đường số 6th về đêm. Con đường này có nhiều quán rượu, tiệm ăn chơi, nổi tiếng là vui nhộn ở Austin, xe hơi không được đậu và đi qua những tối cuối tuần. Động Texas Longhorn, động GeorgeTown, Arboretum, State Capitol …, những nơi ông Smith nhắc đến…,  mỗi cuối tuần Trang đã đi qua, thầm nghĩ phải chi có ông Smith bên cạnh thì vui biết bao. Ông Smith cũng miệt mài với con chó DO, ở  đường mòn “River Nature Trail”, lên đồi, xuống khe dài 5 dặm, có nhiều thác nước, đẹp như tranh vẽ của Thomas Kincade, vùng Tây Bắc của Austin. Labrador rất thích lội nước và bay nhảy thường xuyên. Ông Smith bôi kem chống nắng, đội mũ rộng vành, dán cả những miếng băng to trên mặt, trên chân. Ông nhớ lời Trang căn dặn - phải bảo vệ làn da mỏng đang được chữa trị. “Phóng xạ đã đốt da ông rồi, đừng để mặt trời đốt thêm nữa”. Ông tự đụng cánh mũi của mình, nuối tiếc bàn tay mềm mại của ai đã sờ lên đó.

Trang và ông Smith đang bị thu hút lẫn nhau hiện giờ, nhưng có chắc gì đã hoà hợp. Tình yêu dễ đến, nhưng muốn lâu dài, cần sự thỏa thuận và cố gắng từ cả hai phía, để làm nên sự tương đồng về tư tưởng và thể xác. Chỉ có Trang buồn vì ông Smith không trả lời điện thoại, chưa bao giờ ông phải buồn vì Trang tránh ông. Ông Smith cũng không muốn làm King Kong, yêu để chết vô lý. Trang cũng chẳng mong lập lại lịch sử của Anna Nicole Smith và nhà tỉ phú J. Howard Marshall II (11). Có thể là ông Smith có khả năng thu hút cả dị tính và đồng tính, hoặc có một bí mật đen. Tình cảm kỳ lạ, đôi khi vượt quá không gian và tuổi tác, nhưng cũng có giới hạn. Ông Smith và Trang, biết còn được bao nhiêu lâu nữa? 

Trang cứ làm chuyện vô lý, không định nghĩa tình yêu : “chờ máy bay, nhưng lại ngồi ở bến tàu”, thì sẽ muôn đời lận đận. Ông Smith và Trang không nên để cảm xúc của tình yêu bay bổng, rung động của con tim ve vuốt, khiến quyết định và đánh giá lệch lạc mọi sự việc. Một thời để yêu và một... đời để... trả nợ. Người ta thích thú chìm đắm trong sự huyền hoặc, nghiện ngập khoái trá của ma tuý yêu, để rồi rớt sâu vào vực thẳm ái ố. Cuộc sống vốn dĩ luôn khắc nghiệt, mình có thể thay đổi cách nhìn. Tại sao không để tình thương, không thuộc về mình như nắng gió, tràn ngập khắp nơi, mang tin yêu cho mọi người, thay vì phải giữ chặt làm của riêng? Con người sở dĩ không vui vẻ, sống trọn, chính là bởi vì họ toan tính quá nhiều.

13 ngày nữa đã trôi qua. Chỉ còn, gặp nhau hôm nay nữa thôi. Ông Smith theo Trang đi dọc hành lang vào phòng chữa bệnh. Ông ngắm mái tóc dài, mơ ước vẩn vơ “tóc nàng cột chặt chân anh”. Ông Smith không muốn nhắm mắt lại, để Trang dán miếng chì bảo vệ vào mắt. Ông có cảm tưởng mình là Richard Collier, sẽ biến mất vĩnh viễn trước người yêu Elise McKenna trong một chớp mắt giống trong phim “Somewhere in Time” (10), chỉ vì chàng không thể quên đi qua khứ và sống cho hiện tại.  Ông đã được bác sĩ tiên đoán về phình mạch hình túi (saccular aneurysm). Nhiều chỗ mạch máu đã phình to và mỏng trong sọ, có nguy cơ chết bất đắc kỳ tư

Lòng Trang cũng chùng xuống khi nhìn ông Smith nằm trên bàn, nghĩ đến mai đây không còn ông, “lonely table just for one” (10). 

- Tôi còn nợ ông một bữa ăn. Ông có thể mời người partner của ông đi ăn chung – Trang không nhận ra tiếng nói khàn đục của mình từ cổ họng khô đắng.  Lời Trang nói nhỏ nhẹ, như vang lên từ một cõi xa xăm nào đó.

Ông Smith hơi khựng lại một chút

- DO chăng? Tôi độc thân.

Năm chữ vỏn vẹn của ông Smith làm Trang thay đổi 180 độ, đang buồn thành vui, thấy bầu trời hồng trong căn phòng tối. Trang thấy đôi chân như đang nhảy lên qua trần nhà, mình bay thật cao chạm ánh mặt trời khi nghe ông Smith nói:

- Mình sẽ đi dạo nữa nhé!

Biết ra sao ngày mai? Có phải Trang đang chờ tiếng gọi từ một miền đất hứa? 

 9-22-2016

Bùi Hồng Thúy Anh

Chú Thích

1.  Lời ca "Imagine" của John Lennon: Imagine that there was no more religion, no more country, no more politics
2. Phim Sabrina (1995) 
3. The Truman Show" là một bộ phim khoa học viễn tưởng hài kịch Mỹ năm 1998 của đạo diễn Peter Weir và biên kịch Andrew Nicol.
4. http://www.tripline.net/trip/Viet nam_War_Key_Locations-2546113206731010AC64D7C3B152D668
5. Tục ngữ: Cứt trâu để lâu hoá bùn
6. https://en.wikipedia.org/wiki/La brador_Retriever
7. Bài hát: Còn chút gì để nhớ. Sáng tác: Phạm Duy
8. https://tpwd.texas.gov/ publications/pwdpubs/media/pwd_br_k0700_1216.pdf
9 .Trong phim “Somewhere in Time “ năm 1980
10. Lyrics to "The Way It Used To Be" song by Engelbert Humperdinck
11. https://en.wikipedia.org/wiki/ Anna_Nicole_Smith

Friday, September 23, 2016

Vòng Tay Của “Thế Hệ Te Tua”

Bùi Hồng Thúy Anh 

Với Thu, kỷ niệm và cả những đau thương một thời ùa về sau ngày đại hội Sương Nguyệt Anh tại Los Angeles, California.

Phương Thu và Thu Phương là cặp bài trùng trong lớp A3, trường trung học Sương Nguyệt Anh. Thu người Bắc, Phương dân Nam. Dáng Thu hao gầy; Phương tròn trịa. Thu ít bạn, thuộc loại người “thâm căn, củng đế” có nghĩa là nói ít mà chắc, trong khi Phương thì nhanh nhẹn, nói gì cũng xuôi tai - tào lao, bá xàm dễ dàng - và có nhiều người yêu mến. Nhà Thu bình thường, chỉ có mẹ, vất vả lo cho con no đủ; nhà Phương xuất nhập cảng xe đạp, khá giả, bố mẹ, anh Đức và Phương, tôi tớ đầy một nhà.

Hai đứa khác nhau nhiều lắm. Nhưng hai cái tên, đọc ngược xuôi đều có nghĩa, riêng và chung, trước và sau, tiền vận và hậu vận. Hai cái tên bắt đầu cho tình bạn của họ.

Phương Thu vừa chuyển trường về Sương Nguyệt Anh. Cô Nga chủ nhiệm bảo trưởng lớp Chí Tín dẫn Thu về chỗ ngồi bên cạnh Phương.

- Thu Phương, bồ nhận “Nửa Hồn Thương Đau” của bồ nè: Phương Thu. Chí Tín dõng dạc nói. Cả lớp cười ồ! “Nửa Hồn Thương Đau” là tựa đề một ca khúc cũ của Phạm Đình Chương, nay đã bị chế độ mới kết tôi là nhạc vàng mỹ ngụy.

Đám con gái xì xào trước cô học trò mặt gầy, da trắng xanh, tóc thề chấm vai, mắt nâu tròn, to, sáng bóng như hột nhãn. Thu cảm thấy bối rối trước 30 cặp mắt chăm chú nhìn mình. Phương nhoẻn miệng cười tươi, nhích vào nhường chỗ cho Thu:

- Thu ngồi đây. Cứ nghe cô Nga giảng đi, rồi Phương cho mượn bài vở bồ thiếu.

*
Thu và Phương lớn lên trong chiến tranh, không sống trọn thơ ngây, lâu lâu được nghe đại bác ru đêm - rền từ cõi xa xăm nào đó.

Đặc công cộng sản khủng bố bằng cách cho nổ mìn tại nhà hàng nổi Mỹ Cảnh, Vũ trường Tự Do tại Saigon và quán Đỏ ở thị xã Bạc Liêu vào năm 1965, làm chết chục người và cả trăm người khác bị thương. Pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy. Thảm sát trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 ở Huế. Mùa hè đỏ lửa 1972 và Đại Lộ Kinh Hoàng ở Quốc Lộ 1.

Từ nhỏ, Thu biết gia đình mình không trọn vẹn. Thỉnh thoảng, có tiếng mẹ thở hắt buồn đêm khuya. Mẹ Thu can đảm khước từ cuộc sống xa hoa trong đại gia đình của bố, với hai ba dòng thê tử, bồ bịch lăng nhăng chưa kể. Bố có hai mắt, hai tay, hai chân thì tốt, nhưng có những thứ mẹ không thể chấp nhận chung chạ, khi bố không có một. Nhờ có bằng tú tài Pháp, và biết nói tiếng Anh, mẹ được nhận làm thư ký cho hãng Shell của Mỹ ngay trên đường Thống Nhất.

Mẹ dạy dỗ Thu rất nghiêm khắc và theo sát nàng. Mẹ cho Thu học tiếng Pháp từ nhỏ ở trường dòng Saint Paul, nơi mẹ từng học nội trú. Ngôi trường tọa lạc trên đường Cường Để, gần các dòng tu kín khác, xa hẳn những quán cà phê Nguyễn Du lùm xùm, với những ánh đèn màu bí hiểm. Đường đi bộ đến trường, có những trái dầu đỏ trong tàng lá xanh, xoay xoay trong gió, có lá me bay, có trái me chín rớt trên đường (mà Thu giấu mẹ lượm ăn).

Sân trường Saint Paul có đầy những trái bồ hòn rơi rụng, có tròn, có méo, Thu thích lấy về làm xà bông nghịch. Lớp của Thu có cháu của ông Hoàng Đức Nhã (bí thư của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu), con tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tướng Lam Sơn. Thu ít nói vì gia cảnh của mình.

Mẹ không giàu, đủ ăn thôi, nhưng tầm với rất cao, nhất là cho con. Thu thuộc hộ nghèo trong lớp, có lúc tủi thân, ngắm nhìn đám bạn nhà giàu nhai nho táo giòn tan, trong khi mình chẳng có gì ăn trong giờ ra chơi, và họ hay khoe về bố mình! Tụi nó đi học tư thêm nên rất thân thiết với các cô giáo. Càng nói ít, càng nghe được nhiều. Thu không muốn nói điều bất mãn trong lòng, rất sợ làm mẹ buồn và phải lo thêm. Đời lắm bất công, không thay đổi được.

Nàng chỉ có thể sửa đổi chính mình để sống cho thích hợp. Học tiểu học ở Saint Paul khá vất vả (nếu học đàng hoàng) vì học sinh phải học suốt sáu buổi sáng tiếng Pháp và ba buổi chiều tiếng Việt trong một tuần. Mấy bà sơ thích cho học trò học từ chương, phải nhớ hết một bài thơ Pháp và một bài thơ Việt Nam thuộc lòng mỗi tối để trả bài sáng mai. Thu không có bạn gần nhà, chỉ có con chó cưng. Lúc rảnh, nàng thích đi chung quanh hãng Shell bắt bướm; đụng cây mắc cỡ để thấy lá e ấp khép kín; đi đập ruồi, rồi đem cho kiến càng ăn. Kiến càng với ngực to, mông nở tròn lẳn, kéo ra đầy gốc cây mận, mừng đón quân vương của chúng là Thu.

Mẹ Phương là chánh thất nhà giàu, không “lặn lội, gieo neo” kiếm tiền nhưng đã biết bao lần phải đánh ghen vì ông chồng bay bướm, trùm xuất nhập cảng xe đạp ở quận năm, Chợ Lớn. Bố Phương là đại gia “chuyên săn cá lạ”, thích đi mèo chuột phụ nữ “chim sa, cá lặn”. Phương hay ví von ba là Từ Hải trong truyện Kiều, “Râu hùm, hàm én, mày ngài” (3). Con hổ đực “Một cây gây dựng cơ đồ”(3), hổ cái ở nhà xác xơ chờ đợi, và cũng phải đi kiếm mồi nuôi con nữa. Ba là chim én, bay ngang dọc trong bầu trời tình ái, là bướm vờn hoa. Ba đã chọn lọc để biến hóa tự nhiên mà sinh tồn như Charles Darwin mô tả: loài động vật có vú, loài có cánh và loài côn trùng. (Kể ra, Phương cũng thuộc bài sinh vật của cô Bích Liên đó chứ).

Mẹ Phương quá mệt mỏi theo dõi ông chồng rồi, mở hai ba tụ, sòng bài tại nhà, vừa nghe ngóng tin tức, vừa có thêm tiền xâu, chẳng còn hơi sức nào mà để ý đến con nữa. Phương ở trong Chợ Lớn từ bé, đi học tiểu học ở trường Tàu Trí Dũng (tiếng Quảng phát âm là Tchi Dùng) gần nhà cho tiện.

Phương lớn lên với bà Bảy nấu Bếp, chị Mười vú em và anh Tài chuyên chở anh chị em nàng đi học bằng xe hơi. Nhà lúc nào cũng có khách khứa lui tới áp phe, đánh bài mạt chược và tam cúc. Phương đã quen tiếp xúc với đủ loại hạng người nên giao thiệp rất cởi mở. Nàng gặp ai cũng thưa bác, xưng con, trò truyện ngọt xớt, không thật lòng nhưng cho người nghe cảm giác thân thương. Phương có tính đại tỉ, bảo bọc che chở người khác; ăn to, nói lớn giống như tía của nàng. Anh Tài chở nàng đi học đàn tranh ở trung tâm Đắc Lộ, đường Yên Đổ, mỗi tuần một lần. Có tài xế, nên Phương rành đi chơi quanh Saigon, Chợ Lớn, Nhà Bè, Thủ Đức và ăn hàng từ bé.

Trường Nữ Trung Học Tổng Hợp Sương Nguyệt Anh (SNA) thành lập năm 1971, là ngôi trường nữ đầu tiên tại VN thử nghiệm lối giáo dục theo phương pháp tổng hợp, theo mô hình của các nước tiên tiến thời bấy giờ. Song song với việc giảng dạy như các trường công lập khác, trường còn dạy thêm Kinh tế Gia đình tức là nữ công gia chánh, may vá nấu ăn, môn doanh thương tức kế toán, đánh máy, âm nhạc gồm đàn tranh, piano, hội hoạ, nghệ thuật cắm hoa, và cả môn võ Aikido, Vovinam (4).

Nữ sinh Sương Nguyệt Anh là thế hệ tiền phong, văn võ song toàn; là người “tổ quốc mong cho mai sau”(5); là phái đẹp “vượng phu, ích tử”, biết tao luyện chồng con bằng võ thuật và nội trợ - đánh mà như múa; mắng mà như hát, đàn; đánh và mắng xong thì cho ăn ngon. Các nường không ngại quần con té rách đầu gối hoặc thủng đít, vì sẽ biết chỉ bảo cho trẻ hoặc chồng may vá. Các mợ làm kế toán rất kỹ, không để tiền bạc của gia đình thất thoát, nhất là về tay một bóng hồng khác. Phụ nữ SNA ngu dại chi mà làm hết; chồng con sẽ hư, và không gần, đó là “hình phu, khắc tử”.

Ngay sau 1975, Phương vừa xong tiểu học, vào trung học ở Sương Nguyệt Anh. Mẹ Thu đã hết làm hãng Shell nên chuyển về căn nhà nhỏ góc đường Nguyễn Trãi, Ngô Quyền sát bên cạnh nhà Phương. Tiếc là đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, đổi đời, nên trường hết tiền, học sinh nghèo, bố mẹ không cứu trợ, chính phủ bỏ quên. Thu và Phương không được học đàn, vẽ, cắm hoa và võ, không được học cả hai sinh ngữ Anh Pháp từ lớp sáu. Hai đứa cùng học ban Anh Văn lớp A3.

Thu và Phương ngồi gần nhau trong lớp, không hẹn nhưng lại có duyên ở sát nhà nhau; quen không bao lâu, nhưng thân ngay; vì đứa này là ước mơ không trọn vẹn của đứa kia.

Thu ước được bặt thiệp như Phương, mê cái lối nói chuyện cà rỡn, cà kê, dê ngỗng, cái tướng cà nghinh, cà ngang của cô bạn gái, trước thời biết đánh hơi trai. Phương mong được học “chì” như Thu. Phương tuy thông minh, “học một biết mười”, nhưng “học mười thì quên hết”, vì nàng không ngồi yên được.

Đối với Phương, học mà không quên thì là thầy cô giáo, không bao giờ ra được khỏi trường. Học lịch sử với cô Đinh Lê Ảnh chỉ là đơn thuần nhân vật vua quan sống chết năm nào. Vật lý của ông thầy Hiếu, thầy Quang làm cho người ta hết dám nằm dưới cây táo và đi xe lửa, sau khi biết Newton bị táo rớt trúng đầu rồi nghĩ ra sức hút của trái đất; tính mãi động tử ngược chiều, thuận chiều rồi hãi.

Thu thích sự hiếu khách của đại gia đình Phương, của người Nam; dễ dãi, nuông chiều và nói chuyện với con cháu ngọt xớt. Mẹ Thu người Bắc khắt khe, tuy thương, nhưng ít khi khen con, đã từng bắt nhặt nàng nhiều lần.

Gia đình Phương không nghĩ bằng cấp là cách duy nhất kiếm ra tiền, như mẹ của Thu. Phương thích lui tới căn nhà nhỏ vắng lạnh của Thu, nơi hai đứa có thể lên gác lửng trò chuyện mà không sợ ai nghe lóm.

Sau 1975, hãng Shell giải tán, mẹ Thu buôn bán mãi tối mới về. Hai đứa là tình Bắc, duyên Nam. Thu than “gầy” thì Phương bảo “ốm”. Thu cáo “ốm”, thì Phương khai “bệnh”. “Khoác lác, xạo ke”, “muốn ói, buồn nôn”, “ruốc, chà bông”, “quất, tắc”, “mền, chăn”… từ từ, hiểu rồi thì cũng không cần ai phải giải thích nữa.

Ở tuổi mộng mơ, Phương có thể nói với Thu mọi thứ vì Thu hiểu biết, không phải là đứa nhiều chuyện và nhiều bạn, nhất là Thu mê Phương như điếu đổ, thích nghe Phương nói. Thu tâm sự với Phương tất cả vì Phương là người bạn thân đầu tiên.

Anh em nhà Phương dư dả nhưng lúc nào cũng nghĩ đến cách làm thêm tiền. Ngoài dịch vụ buôn bán phụ tùng xe đạp, thu hụi, đánh bài chui, nhà Phương còn mở cửa hàng đan len, đồ may đo mẫu, cho khách đi ngoại quốc. Anh Đức của Phương còn vác thêm nghề sửa radio, hoặc đồ điện tử trên cái bàn nhỏ trong góc. Rảnh rỗi, Phương và Thu chia bài kiếm “bo”, đan móc đồ len, cũng đủ tiền đi ăn quà.

Đêm Giáng Sinh 1977, cũng là sinh nhật thứ 14 của Phương, Phương mời Thu đi nghe mình trình diễn đàn tranh lần đầu ở trung tâm Đắc Lộ, Đêm đó, Phương rất đẹp. Lần đầu tiên Phương mặc áo dài lụa xanh, tha thướt, nhẹ nhàng như mây trời, trông ra vẻ thiếu nữ lắm - tóc còn dài xõa kín lưng thon; mắt ngây thơ, chưa đỏ, chưa chua xót và lợn cợn bụi đời. Tim Thu nức nở theo tiếng đàn của Phương trong khúc Nam Ai, Bài Hát Ru Con. Đêm đó, Thu thao thức vẽ lại người đẹp trong tranh từ tiềm thức. Viết thêm mấy dòng mừng sinh nhật bạn.

Sáng hôm sau, bức chân dung vẽ Phương bằng bút chì được Thu mang tặng bạn. Phương lấy tập nhạc dày cộm và chiếc đàn tranh cũ tặng lại Thu, dặn dò là đàn tranh rất dễ chơi, nhưng lại khó chơi hay, nếu không có tâm hồn. Phương nghĩ là tính Thu siêng năng. Thu tập dợt nhiều, sẽ đàn rất hay.

Qua tuổi 14, Phương trổ mã, có thể là đứa con gái đầu tiên trong lớp, bắt đầu để ý đến con trai. Anh Đức của Phương học Chu Văn An. Đám con trai trường đó, cứ rảnh rỗi là đạp xe qua nhà hai đứa. Thu không dám bắt chuyện, nhưng Phương đưa đẩy rất hoạt bát và tự nhiên. Sau này, Phương cho vài anh chàng leo cây đau khổ. Nàng hẹn người ta ở một gốc cây rồi lên xe xế hộp sáng bóng với anh chàng khác.

Nhưng rồi dần dà Thu thấy Phương thẫn thờ không nói. Lớp A3, cũng không còn có Phương chơi “u” với Ngà đô và Linh ròm. Bích Hồng tha hồ rủ rê, đám con gái vừa lớn không đứa nào chịu bê cửa làm kiệu cho Hồng nữa. Liễu chân ống trúc căng dây đôi thật sát, mời mọc mãi, chẳng ai muốn tham dự cuộc chơi. Ba bốn nhỏ ngồi chùm hum, một số bắt đầu thì thầm chuyện vượt biển, chiến tranh Cam Pu Chia vừa bắt đầu.

*
Năm 1977, chiến tranh với Khmer Đỏ phía Nam, rồi Trung Quốc tấn công ở phía Bắc. Anh Đức của Phương bị động viên đi bộ đội đầu năm 1978. Đời sống khó khăn hơn. Đồ đạc trong nhà, thứ gì bán được, lần hồi bán đi, để kiếm chén cơm: chén bát, soong chảo, lò ga, tủ lạnh, đồng hồ đeo tay, đồ nữ trang…

Trước cổng trường Sương Nguyệt Anh, học sinh chỉ có thể mua lõi dứa để ăn vặt vì phần dứa ngon đem đóng hộp để xuất khẩu. Thu và Phương cũng hết thú ăn quà và đạp xe rong chơi. Tô phở ăn dở vừa đặt xuống, đã có người ăn xin đến vồ, húp lấy, húp để. Ruồi, muỗi không biết ở đâu ra đậu thành những bệt dài cạnh rác rưởi trên đường phố. Rồi lũ lụt, thiên tai, thất mùa, người dân ngày càng đói và rách hơn!

Thu và Phương đang học lớp chín, còn mấy năm nữa là lớn rồi, sẽ phải đi thanh niên xung phong, bộ đội, cán bộ hoặc gì gì đó rất “dao to, búa lớn”.

Gia đình Phương cũng bắt đầu phải lo lắng, bất an. Tin tức của anh Đức gửi từ chiến trường biên giới Tây Nam ngày càng thưa dần.

Trong một lá thư đưa tay từ Bến Sỏi, Tây Ninh, anh Đức kể là, thường sau khi ngâm bùn trong những cuộc giao tranh, áo quần của anh để khô có thể đứng trên đất một mình được. Anh khỏe, dù chỉ ăn bo bo và sắn. Anh chỉ mới được luyện tập quân sự được một tháng thôi, nhưng sẽ “được” cầm súng bảo vệ tổ quốc, đánh từ Tây Ninh, vượt qua tỉnh Kampong Cham đến sông Mê Kông và vùng lãnh thổ đông bắc Campuchia.

Rồi anh Đức không viết nữa. Tin cuối cùng gia đình Phương biết được là anh đã tử trận tại Kampong Cham, không tìm thấy xác. Anh chẳng có “danh gì với núi sông” ở tuổi 19, bỏ lại hoài bão được vào trường Đại học Bách khoa sau cuộc chiến Cam Pu Chia, như đã được hứa hẹn. Mẹ Phương ngã quỵ bệnh.

Đợt đánh Tư Sản Mại Bản X2 được Hà Nội tiến hành từ tháng Ba năm 1978, nhắm vào tư thương, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất nhỏ. Không còn nền công nghiệp nhẹ sản xuất đồ lô: nồi nhôm hiệu Ba Cây Dừa, xà-bông hiệu cô Ba, xe hơi hiệu La Đalat, hiệu đèn trang trí Nguyễn Văn Mạnh…. Chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị đã quốc hữu hóa toàn bộ đất đai của nông dân miền Nam vào tay nhà nước thông qua hình thức “Tập Đoàn Sản Xuất” dẫn đến nạn đói năm 1979 ngay liền sau đó, vì lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp bị sút giảm toàn diện tại miền Nam.

Đợt X3 đánh Tư Sản Mại Bản chủ yếu đập vào Sài Gòn. Chỉ sau một đêm, nhờ quốc hữu hóa, cả chục ngàn tiệm bị đóng cửa, một viên thuốc cũng không có mà mua. Song song với việc tịch thu nhà cửa, của cải, chính phủ tiến hành đổi tiền lần thứ hai 03/05/1978, mỗi hộ chỉ được 200 đồng.

“Họa vô đơn chí”, tai họa nữa lại ập vào sau khi anh Đức mất và mẹ Phương ngã bệnh. Công an, bộ đội vào nhà Phương ban đêm, tịch thu của cải, niêm phong nhà cửa: “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Gia đình Phương lãnh đủ trận đánh tư sản đợt X3.

Gia đình Thu nhỏ bé, nghèo nhất trên đường Nguyễn Trãi, Ngô Quyền trong Chợ Lớn. Nhà có hai tầng, bên cạnh những ngôi nhà 5, 7 tầng, buôn bán phát đạt. Mẹ đơn thân, Thu không cha, lại dưới tuổi vị thành niên 18. Mẹ Thu khôn khéo vào tổ hợp đan tre, lao động chăm chỉ. Nếu mẹ còn tiếc nuối ở lại khu nhà ở hãng Shell, bên cạnh xóm lao động, thì chắc cũng được liệt vào thành phần tư sản. Ở đây, người ta không biết gia đình Thu là ai trước 1975. Nhà Thu cũng nghèo đi nhiều, cơm chỉ còn rau dưa, nhưng vẫn còn mẹ con sớm tối có nhau.

Trong khi ấy thì gia đình Phương đã mất nhà mất cửa, bố Phương như người điên, thẩn thờ bên cạnh bà vợ bệnh hoạn, nương náu tạm bợ với họ hàng xa. Cảm thông được cảnh sẩy đàn, tan nghé của gia đình Phương, mẹ Thu chấp nhận cho Phương vào nhà ở cùng với Thu. Phương là đứa biết điều, lễ phép, biết làm lụng siêng năng.

Bố Thu đã định cư bên Pháp. Từ năm 1979, ông gửi tiền về liên tục, thúc giục vợ và con gái tìm đường vượt biên.

Mẹ từng kiếm mối cho Thu và Phương đi vượt biên chung ở Rạch Giá, Cà Mau, Phú Quốc. Hai đứa đi chui chung, biết bao lần trong đêm tối, mặc đồ đen - dầm nước, chờ tàu, lên tàu, vào tù, ra khám - mà chẳng bao giờ thoát cả. Ông thầy bói Vĩnh mù, giàu to ở Sài Gòn, chỉ nhờ biết phỏng đoán là người ta có số xuất ngoại hay không. Chạy chọt, móc nối, hối lộ. Mỗi lần người vượt biên được hứa hẹn cho đi, là tốn từ 2 cho đến 15 cây vàng. Thật có, lừa có! Nhiều gia đình khá giả của miền Nam đã hoàn toàn phá sản, lâm vào cảnh cùng đinh, sau những đợt đổi tiền, kiểm kê tài sản, và vượt biên.

Mẹ Thu chẳng bao giờ muốn xuất ngoại. Bà khôn ngoan nghĩ đến chuyện ở lại Chợ Lớn giữ nhà trong khi Thu và Phương ra đi. Nếu có gì trục trặc, hai đứa trở lại thành phố thì còn có nhà để ở. Bà lo, phải gặp lại chồng cũ ở nước ngoài, bố của Thu - Tuy mẹ Thu cũng cảm động khi thấy bố của Thu thật sự lo lắng cho mình và con, nhưng bố đã yên ấm trong một gia đình khác rồi, còn gì nữa mà trông ngóng.

Lần cuối cùng, Thu vượt biên thoát, đi bán chính thức, có công an Việt Nam hộ tống lên tàu đàng hoàng, tại cù lao Tắc Cậu ở Rạch Giá, là lúc Phương phải về Saigon đột xuất, để trông nom cho bố mẹ của mình. Mẹ Thu đã phải lên tàu trám chỗ của Phương vì tiền đã đặt trước rồi.

Tàu đi lênh đênh 6 ngày, 7 đêm, lẩn quẩn trong vịnh Thái Lan. Cướp ùa đến, 10 tên Thái Lan thôi, chỉ có giáo mác mà cũng đủ khống trị con tàu 15 thước với 350 người đầy kín, đang đói lả. Hai tên cướp hau háu kéo Thu lên boong từ dưới hầm. Mẹ đã chồm lên, để giằng lại Thu, rồi ngã gục xuống dưới cái mác của lũ cướp man rợ. Thu ngất rồi tỉnh dậy… Người trên tàu kể lại rằng sự can đảm của mẹ liều chết, để bảo vệ Thu làm thức tỉnh bản năng sinh tồn của đám người vượt biển. Đằng nào cũng chết thì chết cho đáng, hơn là sống nhục và nhìn người thân yêu bị hãm hại. Trai tráng trên tàu, trên dưới trăm người chứ ít gì, đã cùng xáp la cà với đám cướp không chuyên nghiệp, như trong phim bộ. Cuối cùng, bọn cướp phải rút chạy. Thu không hề bị xâm phạm nhưng có nghĩa gì đâu. Mẹ đã chết và đem theo nhiều thứ.

Sau đó, Thu không liên lạc với ai, kể cả bố của mình và Phương.

Rồi nhiều năm đi qua. Phương ở lại Việt Nam, lấy Thịnh, anh chàng cán bộ cao cấp đau khổ, đã bị nàng cho leo cây me năm nào. Đời sống của Phương bây giờ rất khá giả. Gia đình rất đa dạng và đầy đủ lắm: trai, gái, bê đê, lesbian, gay, con chung, riêng (Theo lời Phương than vãn, đùa với bạn bè). Thu lang bang khắp nơi ở 50 tiểu bang Mỹ, làm đủ nghề, học đủ trường. Thời thế đã tạo nên con người và ngược lại. Phương trở nên thâm trầm và ít nói như Thu, sau bao nhiêu giông tố của cuộc đời tại Việt Nam. Mỉm cười là cách giải quyết nhiều vấn đề, im lặng là cách tránh những vấn đề rắc rối xảy ra. Thu trở nên ngang bướng và thẳng thắn như Phương trước khi chiến tranh ảnh hưởng đến con người, tại xứ Mỹ này.

Chỉ có cái khác là Thu đã sống trọn vẹn với nỗi cô đơn, chứ không có nhiều bạn bè như Phương. Thu không sống “trong miệng” hoặc “trong mắt” của người khác. Thu chỉ thấy cô đơn là cô đơn thôi mà không mong thoát ra khỏi nó, không cầu có thân nhân, tri kỷ, không muốn thiết lập mối quan hệ, không cần bất kỳ ai để nương tựa. Phương và mẹ, hai người thân yêu nhất đã biến mất khỏi cuộc sống của Thu rồi. Nàng hiểu rất rõ tại sao nàng ế và không chồng con. Thu chán mối quan hệ giả dối, phức tạp ở đời. Thu chỉ muốn sống một mình trong sự tương giao với thiên nhiên cây cỏ, làm bạn với gió nội, mây ngàn và súc vật.

Nhưng đại hội Sương Nguyêt Anh lần thứ 10 này, có Phương từ Việt Nam bay sang họp bạn. Có một cái gì đó thôi thúc. Không thể không gặp lại Phương. Thế hệ của Thu và Phương là thế hệ te tua, sinh lầm thế kỷ, "nghĩ đến tương lai trào nước mắt, nhìn về quá khứ toát mồ hôi,” như kiểu than thở Thu từng thấy khi đọc trên internet."

*
Kìa, Double tree hotel.

Đêm hôm nay, gia đình SNA học cách buông bỏ mọi gánh nặng trong tư tưởng, suy nghĩ. Các mợ SNA ai nấy chắc đang tưng bừng trưng diện, gặp gỡ.

Thu đậu xe, hồi hộp bước vào phòng Ballroom Renaissance của khách sạn Double Tree. Phương chạy ra, đón, ôm chầm Thu, khẽ nói:

- Thu ngồi đây. Cứ theo dõi chương trình đi, rồi Phương sẽ sơ lược lại hơn 30 năm, mà hai đứa đã thiếu vắng nhau.


Round Rock,TX 8/6/2016

Bùi Hồng Thúy Anh

Thursday, December 31, 2015

Ngã Ba Đường


blank
Họa phẩm của Thúy Anh Bùi.

* * *
Mỗi ngày, họ ngồi ở phòng chờ. Họ cùng ăn snack, cùng nói chuyện. Đôi lúc, họ châu đầu vào tờ báo đọc chung, hoặc chơi những trò lắp hình. Ông Tích và bà Tuyết Trần hạnh phúc lắm. Hai đôi tay gầy guộc, da hơi mốc lấm tấm, đồi mồi rải rác, thỉnh thoảng lại đụng nhau. Mặt nhìn mặt, mắt hướng vào nhau, họ chẳng để ý gì mấy đến người chung quanh. Họ muốn từng giây, từng phút sẽ là của riêng nhau, vì không biết còn bao nhiêu lâu nữa.

Thương là học sinh thực tập xạ trị ở “Mays clinic” tại nhà thương MD Anderson. Từ tuần lễ đầu, Thương để ý đến họ: người Việt Nam. Họ nhỏ bé, ngồi lọt thỏm trong ghế. Họ lại hay kiếm những xó kẹt vắng vẻ của phòng đợi mà ngồi sát nhau “tình tứ”, nên Thương cứ phải đi kiếm khi cần. Ông Tích ung thư ở tuyến tiền liệt (Prostate cancer); bà Tuyết ung thư vú bên trái, đã lan đến thành ngực. Hai vợ chồng cùng bị ưu bướu cùng một lúc, lại vướng vào loại ung thư phổ biến và gây tử vong nhiều nhất cho đàn ông và đàn bà, điều trị khác nhau ở khác phòng nhưng cùng chỗ ngồi đợi. Họ thích Thương. Lúc nào cũng hỏi các nhân viên trị liệu “Cô Thương có đi làm hôm nay không”? (Thương đi thực tập ở nhiều nơi khác nhau và phải đi học lý thuyết ở lớp học). Trước khi được xạ trị, ông Tích phải uống thật nhiều nước cho bọng đái căng lên, đẩy ruột và trực tràng (rectum) xa khỏi tuyến tiền liệt, nơi bị phóng xạ. Cứ 10 phút, Thương đều đặn thăm dò bằng siêu âm xem bọng đái của ông có căng đủ chưa, cho ông khỏi phải chờ lâu trong khi phải nhịn tiểu tiện. Bà Tuyết thích được phủ mắt lại khi điều trị vì bà sợ cảm giác bị vây kín dưới dàn máy xạ trị khổng lồ. Thương không bao giờ quên để lên mắt bà một chiếc khăn sạch thoang thoảng thơm mùi hoa lài, mà bà thích. Vì Thương giúp đỡ ông bà Trần Tích, Tuyết những gì họ cần nên họ mến Thương.

*
Hôm đó, học sinh được cho phép nghỉ buổi chiều trước ngày lễ Tạ Ơn. Bạn bè cùng lớp của Thương từ mấy hôm trước đã lên chương trình đi “bar” và “club” của “Houston”: “Darkhorse Tavern” ở “The Height” để uống $3 “Bloody Mary”, “Anvil Bar & Refuge”, “Absinthe Brasserie” ở “Westheimer” với những món khai vị nổi tiếng như “salmon carpaccio” và pizza mỏng như tờ giấy. Đó là những nơi tuy gần mà xa đối với Thương. Thương không thích nơi nhạc ầm ầm - nói chuyện chẳng được mà nghe nhạc cũng chẳng hay - hoặc nói đúng hơn là chưa ai làm Thương cảm thấy thích đến đó với người ấy. Thương không về được nhà để ôm hai cún yêu, vì không có xe bus trước 3 giờ chiều. Thương kiếm một xó kẹt ngồi chờ trong nhà ăn “The Fountain Café” của MD Anderson - đằng sau một hàng cúc vàng mùa thu trên bờ tường thấp.

Học sinh đi tập sự xạ trị ở nhà thương MD Anderson rất cực. Đây là nhà thương ung thư bướu hàng đầu thế giới. Đông bệnh nhân lắm. Một phòng với hai nhân viên phải điều trị khoảng 30 người một ngày: 15 phút đến 30 phút thôi một bệnh nhân, liên tục. Đã thế phải chờ cho bệnh nhân sẵn sàng: thay áo, uống thuốc, uống nước căng bọng đái, rửa ruột... Nhiều bệnh nhân khóc lóc, đang nằm điều trị, lại muốn ra khỏi ghế… Thế là trễ, thế là bị cai quản trách. “Học sinh nào có gì đâu, bao nhiêu cái cực đỗ đầu học sinh” (1). Cả ngày, học sinh phải đứng suốt, lau bàn ghế, bị nhân viên đổ tội - nhiều khi bê 1200 lbs khối đồng để chặn chùm tia trong một ngày ở “proton center”, rã rời chân tay. Thương đã làm kỹ sư điện trong thời gian dài. Nàng bị thất nghiệp, buôn bán thua lỗ, đi học lại ngành xạ trị.

Sau khi làm quản lý trong công việc nhiều năm, Thương có nhiều kiến thức tổng quát nhưng mất đi khả năng chuyên môn; tuổi cao, không ai mướn; dù là có nhiều bằng cấp kéo dài lê thê trong tờ đơn xin việc. Nàng nhìn trẻ, sung sức nhưng tay chân tê dại và đầu gối nhức mỏi. Nàng nói chuyện khôn ngoan nhưng bản thân dại dột, đã làm những chuyện điên rồ, để đời lở dở và phải bắt đầu lại từ đầu vất vả.

Nàng diễn xuất tự tin, nhưng cảm thấy lạc lõng giữa đám bạn bè cùng lớp có thể chỉ trạc tuổi con mình, giữa những nhân viên xạ trị, thích đổ lên đầu học sinh nhiều căng thẳng và “chỉ tay năm ngón”. Đức, năng, tài chưa thắng được số. Địa Không, Địa Kiếp đóng tại cung tử vi Thân, Mệnh, lại có Cô Thần, Quả Tú xung chiếu nên Thương hay bị thất bại và cô đơn. Hóa Khoa đắc địa nhưng không có Hóa Lộc yểm trợ, lại khiến Thương cứ phải đi học hoài và tiếp tục nhận nhiều bằng để treo chơi nhưng không xài được (dù là nàng có điểm cao, trong những ngành học thực tiễn, của những trường danh giá: University of Illinois đứng thứ năm trong nước Mỹ về ngành điện tử, nhà thương MD Anderson đứng thứ nhất về ung thư trị liệu theo như U.S.News, chưa kể đến những bằng lẻ tẻ như về địa ốc và thị trường chứng khoán, vân vân).

Đã biết bao nhiêu lần, Thương đã định xuôi tay, nhưng không được. Định mệnh hoặc là nhân mệnh đưa đẩy, Thương lại đứng lên, khôn ngoan và cay đắng hơn - “thơ, văn viết như suốt đời mộng ảo, tình thì buồn như tất cả chia ly”(1). Bây giờ, Thương muốn khóc quá. Đã bao lâu bận, quên mệt mỏi và quên khóc: dậy từ năm giờ sáng mỗi ngày, chờ bus, đi học, về nhà nấu cơm, dọn dẹp rồi lại phải học bài đến 1, 2 giờ sáng. Hôm nay, trong khu nhà ăn vắng vẻ, bạn bè về cả rồi, chắc Thương nên khóc một mình để chuẩn bị cho ngày lễ Tạ Ơn ngày mai…

Chỉ xin nhỏ được vài giọt nước mắt “giúp vui” cho đời, vậy mà ông Trời cũng không cho Thương được toại nguyện.

Ông bà Trần Tích, Tuyết xuất hiện. Chắc có thể là vì những chậu hoa cúc vàng nên ông muốn diễn lại hoạt cảnh “Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng” với bà.

- Cô Thương. - Giọng ông Tích thảng thốt. Chắc hai ông bà đã quen thuộc với tổ uyên ương này quá nên không ngờ có người lại đến được chỗ bồng lai dấu kín trong nhà thương bận rộn này của hai ông bà.

- Sao nhìn buồn vậy cô? - Bà Tuyết ân cần hỏi.

Như một đứa trẻ bị mắng oan, òa khóc khi có người dỗ dành, Thương đã làm như vậy đó. Nàng buồn tủi, kể lể về đời nàng với cảm xúc dâng trào, trong tiếng nấc quãng và nước mắt, không biết ông bà Trần Tích, Tuyến có hiểu hay không. Hôm nay đổi đời. Ông bà Tích, Tuyết săn sóc nàng. Ông lặng lẽ đi mua nước cho ba người uống, bà đi lấy khăn.


- Tụi tôi cũng nghiệm thấy là cuộc đời của những người có tên chữ T không được êm ả và xuông xẻ cho lắm. Mình cứ phải đứng ở ngã ba đường - chọn lựa. Nhân mệnh hay định mệnh? Mình chọn lầm đường, có hậu quả và trách nhiệm. Những con đường mình không đi, có tốt hơn con đường mình đã chọn không? – Sau một thời gian nghe kể lể về “đời cô Thương”, ông Tích nhìn bà Tuyết rồi quay sang Thương cảm thông.

Bây giờ đến lượt ông Tích, bà Tuyết chậm rải kể, không bù lu, bù loa như cô Thương.

Bồ Bịch

Tích 18, yêu Tuyết từ khi nàng 13 tuổi. Tích nhìn thấy Tuyết trong một party của anh họ nàng.

Dĩ nhiên là bố mẹ Tuyết không thể chấp nhận mối tình Tích Tuyết lúc đó. Tuyết là con gái cưng duy nhất, thông minh, ngoan ngoãn, chỉ mới vào lớp tám. Tích tuy bảnh trai, chưa có sự nghiệp chi cả. Không có gia đình bảo bọc, Tích theo học “part time” ở “Houston community college” và đi giúp việc cho sân “goft Country Club”, làm trợ lý giáo viên trong trường, “keypunch” … (thời đó, ”computer” của các công ty to khổng lồ và còn dùng bìa cứng đục lỗ để đọc dữ liệu). Bố mẹ Tuyết có dại dột đâu mà cho phép Tích lui tới, để rơm gần lửa bén. Cục trứng cưng mỏng manh Tuyết không thể giao cho con chim ác Tích được. Tối tối, chàng Tích đến nhà em Tuyết, đứng ngoài cửa sổ, gảy vài đoạn guitar, hát nhặng vài câu, thầm thì những điều mà chính người nói cũng không hiểu, vẽ trái tim của chàng trên cửa sổ đọng sương đêm. (Bố mẹ Tuyết rất tâm lý; biết đấy nhưng cứ lờ đi và để mắt lén trông chừng). Tuyết cười toe toét; tai, mặt nóng bừng - thế là yêu đó của tuổi 13.

Tuyết là người đơn giản trước khi về nhà chồng. Bố mẹ khá giả, yêu thương. Nàng chẳng phải lo manh cơm, miếng áo. Bạn bè cùng trang lứa còn phải nói phét, tăng tuổi trong mục Tìm Bạn Bốn Phương (thời này ”computer” của tư nhân không có) để cua đào, kép, tán tỉnh chơi, thì nàng đã có một tình yêu thật lý tưởng với Tích, như nàng thường lén đọc của những truyện giấy ”Harlequin” bìa mỏng lãng mạn, rẻ tiền. Người đàn ông của các tác giả nổi tiếng như Danielle Steel, Liz Fielding, Donna Alward … đẹp trai, bảo bọc, và che chở người đàn bà. Ở tuổi thanh thiếu niên, ai cũng coi được. Đã yêu rồi, thì quả ấu cũng nên tròn, mà Tích thì không xấu và mặt không méo mó như quả ấu. Lương của Tích đủ cho chàng chi tiêu và mua quà vớ vẩn cho Tuyết. Chàng lớn hơn nàng, từng trải, có thể giúp đỡ Tuyết làm bài, và chạy lon ton mua sắm lặt vặt cho nàng. Cái chính là Tích làm cho Tuyết cười và nàng thích nghĩ đến anh. Tình yêu của Tuyết cho Tích bình thường, như bao cô gái dậy thì khác.

Tình yêu của Tích cho Tuyết có thể giải thích bởi tâm lý học “cái tôi” (ego psychocology) trong quá trình phát triển của trẻ em, dựa vào học thuyết của Erik Erikson.

Tích yêu Tuyết qua cửa sổ, trong thế giới ảo không có sự đụng chạm cơ thể, dù bị bố mẹ nàng cấm đoán. Tích lớn lên, thích đồ chơi, nhưng đồ chơi ở Việt Nam trong thời chiến tranh, chỉ được chưng trong tủ kiếng. Lâu lâu đứa trẻ mới được sờ, đừng nói đến chơi vì sợ hỏng. Tuyết là con búp bê mà lão ngoan đồng Tích trong tiềm thức đã tức tối vì thèm thuồng – không được chọc thủng mắt và bứt tóc búp bê.

Gia đình và Tuyết không hề biết là nàng lúc đó chỉ là tình yêu phụ trội, một tình yêu thánh thiện để Tích tự hào – chàng có nhiều phụ nữ khác mà chàng nói là bạn, đồng nghiệp, nhưng hành động thì khác. Năm, mười phút đi lấy giấy cùng bà giáo trong nhà kho chứa đồ gần lớp học, là đủ để chàng trợ lý và bà giáo đóng phim “The Graduate” (1967). Bà giáo thích mặc váy dài đến chân cho kín đáo, mỗi khi ở bên cạnh Tích. Nhà trọ của chàng đã nhận đón không biết bao nhiêu là bạn gái để Tích cùng làm “keypunch” đục lổ. “Chí làm trai, Nam Mễ Âu Phi, Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể” (3).

Trong 4 bốn bể đó, Tích thích con gái Mễ tóc đen, da trắng, mắt to, mũi cao nhất. Con gái Mễ nhìn giống Việt Nam, đẹp mà lại không khó chịu với Tích như con gái Việt Nam. Con gái Việt Nam mà Tích quen và nói là “yêu” thì chỉ có Tuyết. Nàng chỉ có thể ngồi bên cửa sổ cho “vương vấn mộng thi nhân”. Vì Tích phải đi học, lại làm đủ thứ nghề và việc “phụ trội” lăng nhăng, Tích rất bận. Chàng đi thăm Tuyết buổi tối độ 30 phút, không phải là mỗi ngày – nhiều bữa Tích làm nhiều hết xíu quách rồi, biết nói xạo sao cho trơn tru và ru ngủ nàng đây?

Tích là người thông minh, tuy không chăm chỉ. Chàng làm nhiều, học kiểu ăn đong, góp nhặt từ từ cũng xong cử nhân với điểm khá. Chàng xin được vào trường Nha Khoa của Houston. Hơn 30 năm trước, tiêu chuẩn để học sinh được nhận vào nha khoa còn dễ dàng. Việc làm kiếm không khó với bằng trung học. Hãng xưởng cho lương hưu trí và không đuổi việc nhân viên. Học nha sĩ tuy lương cao, nhưng học lâu và tốn tiền, nên dân Á Đông chưa bon chen vào đông đảo. Dân Mỹ trắng nói dóc cũng hái ra tiền, nên không thích học cực. Tích xin vào được trường nha rồi thì Tuyết đã xong trung học, vào đại học. Bố mẹ Tuyết cho phép chàng đến chơi, một năm sau thì ép chàng cưới Tuyết. Đúng là “phi cao đẳng, bất thành phu phụ”, hoặc là ông bà không chịu nổi trái bom nổ chậm cứ đứng dựa cột, thở dài thườn thượt, và nhìn trần nhà mơ mộng.

Tuyết yêu Tích say đắm, vì chưa hề biết yêu ai cả. Tích là người đàn ông đầy lạc quan khi khởi đầu công việc cua gái và đầy hoài nghi khi kết thúc công việc - lấy người con gái đó. Tích và Tuyết đã ăn cơm trước kẻng, nhưng Tích thấy có một cái gì đó không ổn giữa hai người. Dù vậy, Tích vẫn bằng lòng. Chàng nghĩ đến gia đình nàng gia giáo, con chàng sẽ được giáo dục kỹ lưỡng trong truyền thống và lễ nghi người Việt. Đây là một sự chọn lựa ích kỷ vì chàng không thích nàng hơn những cô gái khác và yêu mình nhiều hơn Tuyết. Trước ngày cưới, Tích còn ra hẹn nửa đùa nửa thật:

- Lấy anh thì mai mốt đừng ghen nhé. Tiền bạc và thì giờ sẽ cho em nhiều nhất. Em là chính và mấy cô kia chỉ là phụ thôi.

Ôi, gái chính chuyên lấy chồng cà chớn. Tuyết chưa biết chơi chiêu nên Tích đã mơ tưởng “dạy vợ từ lúc bơ vơ mới về”. Lúc đó, Tuyết ngu dại thật, còn nghĩ là chàng đùa và mình đứng hạng nhất trong cuộc đời người yêu.

Hôn Nhân

Tích thích Mễ. Chàng bồ bịch với gái Mễ rất nhiều từ hồi còn đi học. Ra trường nha khoa, mở văn phòng rồi, chàng tha hồ làm ông chủ chuột, quậy cọ với các nhân viên Mễ trẻ đẹp. Văn phòng nha sĩ nào ở Houston, cũng đều cần người biết nói tiếng Mễ để giao dịch với khách. Lang chạ với Mễ thì cũng ít bị ăn vạ và không bị khó chịu khi lui tới cộng đồng Việt. Lương Tích làm một giờ - mổ hàm, đắp xương, làm răng giả - có thể bằng lương kỹ sư làm một tháng và bằng lương của các cô nhân viên làm cả năm. Đàn bà thích làm đẹp, dù phải đau đớn và mất tiền. Nha sĩ Tích làm cho hàm răng giả cười đẹp như minh tinh, không mất tiền, chơi cũng sướng chứ đau đớn gì. Tích cũng chẳng phải nghĩ ngợi cua ai. Gái đẹp cần lợi nhuận, sẵn sàng dâng hiến. Chàng thích lăng nhăng với rau sạch (đàn bà đã có người đàng hoàng) ít bệnh tật, mà lại không có trách nhiệm. Đối với Tích, phải nghĩ ngợi, nói dối, đương đầu với bà xã Tuyết và hai nhóc tì Bi, Cốm ở nhà là đủ nhức đầu rồi. Tích là người đàn ông có trí thức nhưng không có ý thức được bổn phận và trách nhiệm của người chồng, người cha.

Tuyết theo chồng quá sớm, chưa bỏ được cuộc vui nào cả, và không biết đủ để giữ chân Tích. Nàng bỏ đại học sau khi mang bầu bé Bi và ốm nghén. Sau Bi, rồi Cốm. Dù có người giúp việc, nhưng Tuyết rất mệt mỏi. Nàng bận bịu với hai đứa con và chăm sóc nhà cửa. Tích rộng lượng với nhiều người đàn bà làm tiêu hao tài sản của chàng, nhưng lại khắt khe với Tuyết, lúc nào cũng vén khéo chu đáo với gia đình, và không tiêu xài phí phạm.

Tích ăn bằng mắt chẳng phải bằng miệng: thịt rang bỏ hơi nhiều nước màu, chàng không đụng đủa; canh cá bỏ nghệ vàng, chàng không thích. Tích yêu vợ bằng miệng (xin đừng hiểu lầm) nhưng chẳng phải bằng mắt hoặc hành động. Tích sẵn lòng gọi vợ con là cục mật, kể lể công đức của chàng lo lắng cho vợ con, và sự nhớ nhung của chàng khi phải đi xa. Chàng không để ý là Tuyết và hai con gầy ốm ra sao. Tích lấy cớ là ăn không ngon để đi ra ngoài ăn dặm. Khi cần, Tích sẵn sàng gây gổ để thoát ra khỏi gia đình, đi hú hí với đào ở những chỗ danh lam, thắng cảnh. Tích sinh ra không phải là người đàn ông để vui chơi ở nhà. Tích sinh ra để in dấu lại những nơi chàng đi qua; trong nhiều trái tim - đớn đau, nguyền rủa hoặc khinh miệt, tội nghiệp chàng -; và trên cơ thể của nhiều người đàn bà - dại dột nếu yêu chàng thật sự hoặc có chủ mưu và bất cần - muốn bập vào Tích để kiếm chút lợi nhuận.

*
Tuyết biết là Tích không mê say nàng, ngay từ khi chàng rước nàng về dinh. Khi đang bồ bịch, gặp nhau ít quá, đứa nào cũng hồ hởi và thật dễ thương khi đến với nhau. Sau này, Tuyết cũng cảm thấy có chút gì lợn cợn khi Tích đồng ý lấy nàng. Nàng tự bào chữa là hai đứa hãy còn ngại ngùng với nhau. Nàng tự hào là nàng xinh xắn, nết na, sẽ làm cho Tích mê mệt. Tuyết không hiểu và không chấp nhận được là chàng hoàng tử Tích không phải là người bình thường, và nàng không phải là cái vung, úp cái nồi méo xẹo. Ngay sau khi ăn ở với nhau, Tuyết không đủ khôn ngoan để tránh có con. Tuyết không chấm dứt được với Tích. Nàng sợ gia đình, bố mẹ Tuyết thất vọng, và con mình bơ vơ. Tuyết không nghề ngỗng gì nên cứ phải bám lấy Tích. (Thuốc ngừa thai và luật bình đẵng việc làm cho phụ nữ, giải phóng người đàn bà).

Nàng biết là Tích ngoại tình nhưng nàng không thể lên tiếng khi không làm được gì cả. Nàng đã từng ngồi trong xe, đậu ngoài cửa của tòa nhà chờ Tích “tàn cuộc vui” với Maria, cô thư ký mới. Thám tử tư báo cáo cho Tuyết biết là văn phòng phải đóng cửa sớm vì có ca cấp cứu, mổ khẩn cấp theo như bảng treo trước cửa. Nàng đã bỏ đi trước khi hai người đó đi ra với quần áo tả tơi vì phải CPR chung với nhau nhiều quá (thương người như thể thương thân). Tích lần khân không muốn mua điện thoại di động, không có đồ sạc pin trong xe để khỏi phải bốc điện thoại và lộ ra chàng ở đâu. Càng bê bối, tiếng thơm đồn xa, thì phòng chữa răng càng đông khách. Người ta muốn tới hả họng, không cần nói, thử xem nha sĩ Tích khoan lỗ, trám lỗ - khéo thế nào. Tim của Tuyết từ từ chai đá. Nàng bịt mắt, tai và miệng.

Sầu đong càng lắc càng đầy (4)… Tuyết đã trải qua nhiều trạng thái khác nhau để đạt được đã đến được trạng thái thứ tư của Kbler-Ross - nàng đã vượt qua sự chối bỏ, giận dữ, trả giá với thượng đế - nàng buồn chán, chấp nhận rằng Tích, người nàng đã yêu thương và là bố của 2 con, tệ như vậy đó.

Tuyết chấp nhận là nàng thất bại ra sao rồi, chấp nhận thế nào thì nàng chưa biết.

- Hai con ra khỏi nhà rồi, vào đại học. Mẹ nhớ hai con quá. Ít nhất là bố Tích cũng cho mẹ được hai con xinh xắn, thông minh và ngoan ngoãn. - Tuyết hay nghĩ như vậy để mà vui sống.

Đứng lên

Hai đứa con nàng, thằng Bi, con Cốm, từ trường đại học về thăm mẹ trong kỳ nghĩ lễ Giáng Sinh. (Tuy con lớn rồi nhưng mẹ vẫn thích gọi hai con bằng tên vui ở nhà như vậy đó). Bố đi vắng là một điều tự nhiên. Hai con sẽ ngạc nhiên lắm nếu bố ở nhà. Dạo này cơ thể và tinh thần Tuyết yếu ghê. Nàng bị bệnh trầm cảm, cơ thể suy nhược; phải uống thuốc an thần và đi gặp cố vấn tâm lý. Hai con nàng sẽ có gia đình trong một vài năm nữa. Chúng sẽ có gia đình và trách nhiệm của chúng. Tuyết không muốn phụ thuộc vào con về tinh thần (như nàng đã từng làm ) và thể xác để sống sót, nhưng chưa biết phải làm sao. Tích là người chồng đứng bên cạnh Tuyết trong những cơn khó khăn mà lẽ ra... Tuyết sẽ không gặp, nếu Tuyết không lấy anh.

- Cảnh khổ ở đời không gì bằng già, ốm, biệt ly và mất lòng trông cậy. (5)


Tuyết thu dọn phòng của con trai nàng, đem đồ đi giặt. Một tờ giấy nhỏ từ trong “fortune cookie” rơi ra:

Gieo hành vi, bạn sẽ gặt thói quen.
Gieo thóí quen, bạn sẽ gặt tính cách.
Gieo tính cách, bạn sẽ gặt số phận.
Không lẽ đây là thông điệp của thượng đế hay sao?

Lạy Chúa từ bi, Phật tổ nhiệm mầu cứu độ cho chúng sanh. Nàng không thể để cho Tích tiếp tục những hành vi xúc phạm, thói quen coi thường, tính cách sở khanh, tiếp tục đày đọa số phận “kiến trong miệng chảo” của nàng. Lý trí mách bảo là nàng phải chỉnh tu lại - từ nhan sắc đến kiến thức và tinh thần. Trái tim cho nàng biết là phải rời xa Tích. Điều mà lúc nào Tuyết cũng cám ơn Tích, là nàng chưa bao giờ phải lo nghĩ về tiền bạc. Nếu Tích và Tuyết có chia tay nhau, nàng vẫn có thể sống nhăn, tha hồ đi kiếm tình yêu sau khi Tích chia đôi tài sản cho nàng. Đã chịu đựng được Tích chẳng coi nàng ra gì, đóng vai hiền thê mấy chục năm nay, thì có ai mà nàng không chịu đựng nổi - trừ phi là gã đó “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân” hoặc là ma cô thôi.

Tuyết bắt đầu sống lại quãng đời con gái, như ngày chưa lấy Tích. Nàng đi xâm môi, lông mày, chích botox. Đàn ông thích phụ nữ đẹp, giả tạo cũng được, miễn sao họ không thấy đồ giả và người đó không phải là vợ họ. Nàng để tóc thề nâu, bóng dài ngang vai thay vì mớ tóc uốn đen đậm, quăn tít, xù xù như mấy bà xẩm. Nàng tập để váy quay tròn, như Scarlet OHara trong phim “Cuốn Theo Chiều Gió”, chớp mắt ngước lên với hàng lông mi dài như trong những phim Hàn. Nàng biết cười với con mắt liếc ngang và thản nhiên nhìn mấy chàng Mỹ trẻ tuổi, cỡ thằng Bi điêu đứng. Mỹ không biết nhìn tuổi của Á Đông và dựờng như thích người mắt hí, mũi tẹt - đặc trưng những nét Á Đông.

Tuyết ghi danh đi học lại để làm y tá. Nàng muốn được vào trường học chung với hai con lắm nhưng chúng phản kháng dữ dội. Dù rất là thương mẹ, hai con muốn có cuộc sống riêng tư. Kiến thức mở ra cho Tuyết một chân trời mới - có bạn bè, giáo viên, cùng chung một số ý tưởng và sở thích. Bệnh nhân cần Tuyết. Tuyết vui vẻ và khá đẹp so với mấy bà già y tá lạnh lùng ở đây. Tuyết học rất giỏi so với mấy nhóc tì trong lớp nàng. Tuyết nhớ nhiều vì nàng tự suy nghĩ nhiều lắm. Dù gì, tuổi tác cũng cho nàng sự chín chắn.

Tuyết kín đáo xem “forum” của “Penthouse”, và “Playboy”. Nàng không ngờ là “nghề chơi cũng lắm công phu” như thế. Nàng mê say với những phim người lớn và có “tính cách giáo dục” như “Lady Chatterley”, “Emmanuelle”, “Wife Mistress”…. Đây là những kiến thức mà nàng không thể học được trong những trường phổ thông và cổ truyền… Lẽ ra, trong trường đời, và trường tình, Tích phải vui vẻ học và thực nghiệm với vợ.


Tuyết cũng không quên cho Tích uống một chút thuốc kích dục Viagra mỗi khi chàng ở nhà với nàng. Tuyết chẳng cần Tích nữa nhưng cố tình đầy đọa chàng chơi.


Tích bắt đầu chú ý đế sự thay đổi của vợ mình. Tuyết trẻ ra rất nhiều trong phong cách mới của nàng: thời trang, tự tin, vui vẻ. Nàng hỏi hợp lý, chăm chú lắng nghe, trả lời thông minh và ngừng khi không còn gì nói nữa. Nàng hành động rất bí ẩn. Mỗi ngày nàng lên chương trình vui chơi không cần mời Tích; nhưng chàng lại muốn theo, hăm hở tự giới thiệu là chồng Tuyết. Đầu chàng muốn nổ tung, tim chàng đập mạnh khi nghe Tuyết nói điện thoại nũng nịu với ai đó trong những câu đại loại như:

- Oh, sweetie. Let me think about it. I would love to … but…

- Oh, anh (Con? Em? Cháu yêu quí…). Cho em suy nghĩ nhé (Không biết nàng phải đồng ý về chuyện gì). Em thích lắm nhưng … (Thích ai và thích cái gì đây?)

Tuyết không nói gì sai cả. Tuyết đang nói chuyện với bạn cùng lứa hay bạn cùng lớp? Tích không bắt bẻ được nàng. Nhà cửa vẫn vén khéo, ngăn nắp. Cơm nấu ngon, trình bày đẹp – chàng có thể nói một cách văn hoa là “nem công, chả phượng”. Tuyết cũng sắp sửa ra trường rồi, điểm cao, đã xin được việc làm tốt. Không biết Tuyết có bỏ bùa hoặc thuốc lú cho Tích không? Sao nàng làm gì và nói gì, chàng cũng thấy đúng cả.

Không biết trong bao nhiêu lâu, hai ông bà già Tích Tuyết 45, 50 tuổi, đã chơi trò cút bắt “Theo tình, tình tránh. Tránh tình, tình theo”. Đàn bà mau quên. Đẻ đau nhưng vẫn đẻ nữa vì con dễ thương. Đàn bà “nông nổi”. Chồng lầm lỗi, nhưng còn “xài được” thì vẫn yêu được. Tuyết cảm thấy rung động thật sự khi Tích kéo Tuyết vào lòng và bảo:

- Tuyết ơi, anh không thể sống thiếu em. (Nguyên văn của tác giả)

Trước đây, Tích không thể nói điều này với Tuyết, vì chàng không muốn mất lời với người không đáng để nói. Giờ thì chàng biết, mình không nói điều này với người đáng nói thì sẽ mất người đó.

Kết Tạm

Ba người phải ngừng câu chuyện lại vì nhà ăn đóng cửa sớm trong ngày lễ Tạ Ơn. Thương phải đón chuyến xe bus cuối cùng lúc 6 giờ. Ông bà Trần Tích Tuyết kể chuyện lý thú - lúc thì đắng cay, lúc thì dí dỏm. Thương chăm chú nghe, miệng chữ A, mắt chữ O, ngạc nhiên vô cùng. Thương không ngờ là hai ông bà cụ này đã trải qua nhiều thăng trầm trong tình yêu như vậy, chỉ mới cùng yêu nhau thật sự trong 20 năm về sau thôi. Khi con cái ra khỏi nhà hết, ông bà mới có được một tình yêu mới toàn vẹn, từ một tình yêu cũ đổ nát.

Không biết ông bà Trần Tích Tuyết còn được bao lâu nữa?

Điều cốt yếu là biết sử dụng đời sống, chứ không phải là sống lâu.

Bùi Hồng Thúy Anh

Blog Archive