Showing posts with label Topa. Show all posts
Showing posts with label Topa. Show all posts

Friday, April 1, 2016

Sau Cái Tủ Trong Phòng 401 

- ToPa

Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi lập tức chạy thật nhanh xuống quầy tiếp tân bằng cầu thang bộ chứ không thể chờ thang máy. Cái thang máy hiện có người đang sử dụng. Vừa đến quầy tiếp tân tôi vội vàng cầm phôn lên và phôn cho ông Thanh Bình, ông chủ khách sạn Thanh Bình:

- Thưa ông, xin ông đến mau cho vì tôi vừa nghe một tiếng súng nổ lớn trong phòng số 401.

Tiếng ông Bình hỏi có vẻ hốt hoảng:

- Phòng đó… có khách sao?

Tôi hơi ngỡ ngàng vì câu hỏi của ông chủ nên mất mấy giây sau tôi mới trả lời ông:

- Thưa ông… khi tôi bắt đầu phiên trực thì khách mướn phòng số 401 đang ở trong phòng vì chìa khóa phòng không có máng ở chỗ của những chiếc chìa khóa.

- Anh ở đâu mà nghe tiếng súng nổ trên lầu bốn?

- Thưa ông, tôi vừa hướng dẫn một người khách vào nhận phòng trên lầu bốn. Khi tôi đang trên đường đi xuống lại quầy tiếp tân thì nghe một tiếng nổ, đúng là tiếng súng phát ra từ phòng 401.

- Mấy phòng gần đó bây giờ ra sao?

- Thưa ông, tuy tiếng súng nổ rất lớn nhưng không thấy một người khách nào ra khỏi phòng, kể cả vị khách mới nhận phòng. Tất cả các phòng vẫn đóng cửa… có vẻ yên lặng. Tôi nghĩ… Tôi cũng không hiểu tại sao.

- Điện thoại của anh đâu mà không phôn ngay cho tôi?

- Dạ… tôi quên cầm theo.

- Thôi được rồi, tôi sẽ đến ngay, nhưng anh nhớ là đừng báo cho cảnh sát hay cho bất cứ người nào biết vì… cũng chưa chắc chắn lắm, anh hiểu không?

- Dạ thưa ông chủ, tôi hiểu rõ.

Tôi là nhân viên trực đêm. Tôi làm việc ở đây vừa được đúng một tuần. Công việc của tôi bắt đầu từ mười giờ đêm đến sáu giờ sáng và sẽ không thay đổi cho đến khi nào tôi không muốn làm ở đây nữa. Làm trực đêm thì xem ra tôi sẽ bị mất cả nửa ngày trời kể từ khi mặt trời lên cho đến khi mặt trời đứng bóng. Nhưng công việc này sẽ giúp tôi đủ trang trải những thứ cần thiết trong cuộc sống hằng ngày.

Đây là khách sạn cũ loại ba sao đã từng là khách sạn đẹp và rất đông khách... trước khi ông Thanh Bình làm chủ cách nay gần tám tháng. Khách sạn có bốn tầng với ba mươi hai phòng cùng các ban công rộng rãi. Ông Thanh Bình là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất làm chủ một khách sạn ở vùng đất thấp hơn mặt biển này. Ông đã lấy chữ lót và tên của ông để đặt tên cho khách sạn. Nhân viên làm việc ở đây nói cho tôi biết là, ông Thanh Bình muốn sửa sang lại để nâng khách sạn lên thành bốn sao nhưng chưa làm được. Tại sao chưa làm được với một người có thừa khả năng như ông Thanh Bình, thì không một ai biết.

Ba mươi lăm phút sau, ông Thanh Bình, chủ khách sạn ba sao Thanh Bình tọa lạc cách trung tâm thành phố Amsterdam ba cây số, từ ngoài cửa khách sạn đi vào. Tôi đã chuẩn bị sẵn chìa khóa phụ phòng số 401 và đưa cho ông. Ông Thanh Bình nhận chìa khóa và, thay vì ông đi thẳng lên lầu thì ông lại đi đến quầy rượu. Sau khi uống cạn một ly rượu mạnh, ông đi đến thang máy và lên lầu nhưng ông cũng không có một lời hay một mệnh lệnh nào cho tôi. Có nghĩa là tôi phải ngồi lại tại chỗ thay vì phải đi cùng ông.

Hai mươi phút sau ông Thanh Bình từ trong thang máy bước ra rồi đi đến đưa cho tôi cái chìa khóa phụ của phòng số 401. Ông nói:

- Lần sau anh nhớ kỷ lưỡng một chút trước khi phôn cho tôi nhé.

Trong khi nói thì mắt của ông nhìn về chỗ máng những chiếc chìa khóa phòng. Ông bước nhanh ra xe của ông đang đậu trước cửa khách sạn với vẻ hậm hực. Tôi quay đầu lại phía sau lưng để nhìn vào chỗ máng những chiếc chìa khóa phòng, thì… Ô kìa ! chiếc chìa khóa phòng số 401 đang máng ngay chỗ của nó, vậy mà... Tôi nhìn vào sổ ghi tên khách mướn phòng thì thấy phòng số 401 người mướn phòng là phụ nữ. Tên Annemiek Jansen. Nhưng hiện giờ chìa khóa đang máng ở chỗ máng các chìa khóa thì có nghĩa là cô không có mặt trong phòng. Vậy thì tiếng súng nổ… Tôi không thể nhầm lẫn được bởi tôi vẫn luôn tỉnh táo và tai tôi rất thính. Dù sao thì tôi vẫn phải chấp nhận sự việc vì ông Thanh Bình đã đi kiểm soát và xác nhận. Tôi yên trí là mọi việc đều ổn thỏa, mặc dù tôi vẫn nghi ngờ. Bây giờ đã là ba giờ hai mươi hai phút sáng. Tôi hy vọng đến sáu giờ sáng, trước khi tôi ra về, tôi sẽ thấy mặt cô Annemiek Jansen.

Một đêm làm việc của tôi đã trôi qua một cách tạm xem như là tốt đẹp. Tôi không thể đòi hỏi mọi chuyện phải như ý mình được. Tôi bàn giao công việc cho người mới đến mà không nói về chuyện xảy ra trong đêm vừa qua. Cô khách mướn phòng 401 tên Annemiek Jansen vẫn chưa về.

***

Buổi tối cùng ngày tôi đã có mặt trước mười phút để nhận phiên trực đêm. Chị Hảo, người phụ nữ Việt Nam rất dễ thương bàn giao quyển sổ ghi tên khách mướn phòng cho tôi; với nét chữ thật đẹp và mềm mại mà chị Hảo đã viết tên khách đến mướn phòng, cũng như trả phòng. Không hiểu sao tự nhiên mắt của tôi hướng đến chỗ máng những chiếc chìa khóa phòng ngủ để xem chìa khóa phòng số 401 có máng ở đó hay không. Chìa khóa phòng 401 đang máng ở đó. Tôi liền nhìn vào sổ ghi tên khách thì thấy người mướn phòng số 401 đã trả phòng lúc mười giờ sáng nay. Như vậy là cô Annemiek Jansen đã về khách sạn sau sáu giờ sáng và sau đó đã trả phòng. Về tiếng súng mà tôi đã nghe được thì tôi... vẫn không hiểu được, nhưng, chắc chắn tôi đã nghe rõ mười mươi.

Tôi pha ly cà phê rồi đến ngồi trước máy computer. Trực đêm một mình tôi cảm thấy cô đơn nên tôi sử dụng computer như là cách để quên thời gian.

Đồng hồ gõ một tiếng báo cho tôi biết là ngày mới đã qua được một giờ. Tôi đang chăm chú nhìn vào màn hình, thì, cánh cửa của khách sạn từ từ mở ra và một người phụ nữ từ ngoài đi vào. Người phụ nữ có dáng cao của người phương Tây và chỉ độ khoảng mười chín hai mươi tuổi thôi. Nhưng, có lẽ vì cô uống nhiều rượu, và có lẽ cũng vì thời tiết bên ngoài lạnh, nên gương mặt của cô trắng bệch vẻ nhợt nhạt. Khuôn mặt của cô gầy và thanh tú nhưng như đang lo lắng buồn phiền mà vì vậy cô không nhìn tôi mà nhìn xuống bước chân. Chẳng hiểu sao khi nhìn thấy cô… tôi như bị một sự sợ hãi xâm chiếm toàn thân làm cho một luồng khí lạnh chạy dọc theo xương sống và hai chân bị run lên. Tôi vốn rất sợ ma. Tôi hoàn toàn tin trên cõi đời này có ma vì, khi tôi khoảng sáu bảy tuổi, vào một buổi tối ngồi học bài trong căn nhà đóng kín cửa. Lúc đó ba má tôi ngồi trước nhà nói chuyện nhưng sợ làm ồn tôi nên đã đóng cánh cửa trước lại. Đang chăm chú học bài, bỗng tôi ngẩng mặt lên thì nhìn thấy rõ ràng trên vách tường bóng một đứa nhỏ đi từ nhà bếp lên đến chỗ tôi ngồi rồi biến mất. Tôi hốt hoảng đẩy cửa ra định… chạy thì nhìn thấy ba má tôi đang ngồi nói chuyện, và thế là tôi liền ngồi xuống cạnh ba má tôi và nói là mệt và buồn ngủ quá.

Tôi đứng lên mà hai chân vẫn đang run quá. Tôi chờ người phụ nữ đến nói số phòng để tôi đưa chìa khóa. Nhưng, người phụ nữ vẫn đang thẳng bước đến thang máy, và, khi còn cách khoảng một thước thì cánh cửa thang máy đã tự động mở ra như thể cái thang máy có đặt hệ thống nhận diện được người khách quen mà tôi thì không biết. Sự việc người phụ nữ không đến lấy chìa khóa là điều không thể hiểu được, vì điều lệ của khách sạn bắt buộc khách mướn phòng khi rời khỏi khách sạn đều phải gởi lại chìa khóa vì sự an toàn của khách sạn và cho khách mướn phòng. Còn cái cánh cửa thang máy đã tự động mở nữa chứ. Nó làm cho tôi sửng sốt đến độ miệng cứ há lớn mà chẳng thốt ra được lời nào. Rồi, như cái máy, tôi quay đầu thật nhanh ra phía sau để nhìn vào chỗ máng chìa khóa phòng số 401. Chìa khóa phòng số 401 khi tôi đến trực thì rõ ràng còn máng ở đó, nhưng nay đã biến mất. Tôi nhìn vào sổ ghi tên khách trọ thì thấy tên Annemiek Jansen nằm trong sổ và ghi mướn phòng lúc hai mươi ba giờ, tức là trong giờ trực của tôi. Tôi cố gắng làm một hành động để chứng tỏ mình bình tĩnh bằng cách … gãi đầu. Chẳng lẽ nào tôi đã ghi tên khách mà lại quên sao? Không bao giờ có chuyện đó được. Tôi nhìn về hướng thang máy và thấy đèn báo thang máy ngừng ở lầu bốn. Tự nhiên sự can đảm trong con người tôi bùng phát lên, và thế là tôi tức tốc… ba chân bốn cẳng chạy như bay lên lầu bốn với ý định xem có phải cô gái vào phòng 401 không. Từ đầu cầu thang tôi đã dễ dàng nhìn thấy cánh cửa phòng 401 ở cuối dãy đang mở he hé. Tôi bước những bước đi bằng đầu mũi giầy để khỏi gây tiếng động, mặc dầu lối đi có trải thảm. Nếu ngay bây giờ có người nào bất ngờ nhìn thấy sẽ tưởng tôi là người gian. Tôi đến trước cửa phòng 401 và nhìn vào bên trong. Trên cái giường đôi với tấm nệm trắng tinh, cô gái đang nằm ngửa với cánh tay phải gác lên mắt. Tôi đứng nhìn cô gái một thoáng rồi quay người đi đến thang máy. Cách cái thang máy một quãng độ ba thước thì tôi lại nghe một tiếng nổ chát chúa vang lên từ trong phòng 401 vọng ra. 

Tôi vội vàng quay người lại và chạy thật nhanh đến phòng 401, đồng thời trong cái đầu của tôi hiện ra hình ảnh cô gái đang nằm ngửa và máu từ trong đầu của cô phọt ra có vòi. Nhưng, cánh cửa phòng 401 đã khóa nên tôi lại chạy nhanh đến thang máy để trở xuống quầy tiếp tân. Tôi định mở tủ sắt lấy chìa khóa phụ của phòng 401 thì… Trời ơi! Chìa khóa phòng 401 đang máng ngay chỗ của nó. Không kịp suy tính phải trái gì nữa, tôi chụp đại cái chìa khóa rồi chạy nhanh đến thang máy và bấm lên lầu bốn. Tôi vội vàng mở cửa phòng 401 ra để rồi… đứng ngớ người một lúc khá lâu vì trong phòng… trống trơn. Khăn trải giường thẳng tắp không một dấu nhăn chứng tỏ không có người vừa nằm trên đó. Tôi quay người cái rẹt và lại ba chân bốn cẳng chạy như bay xuống quầy tiếp tân đến quên cả sử dụng thang máy. Tôi rút khăn tay ra lau trán. Hít một hơi dài. Tôi cầm phôn lên gọi cho ông Thanh Bình:

Ông Thanh Bình hỏi với giọng ngái ngủ:

- Lại có tiếng súng trong phòng 401 nữa phải không?

- Thưa ông, đúng như vậy và xin ông đến…

- Chìa khóa phòng 401 còn máng ở chỗ của những chiếc chìa khóa không?

- Thưa ông…

Tôi cầm cái chìa khóa phòng 401 đưa lên trước mặt định nói tiếp thì cửa thang máy đã tự động mở ra. Một luồng gió lạnh buốt từ trong thang máy thổi vào mặt vào người làm cho tôi  lạnh đến run lên. Tôi nghe rõ tiếng chân bước nhưng không thấy người. Tiếng chân ngừng ngay chỗ tôi độ vài giây rồi lại bước đi tiếp về hướng cửa chính của khách sạn. Hai con mắt của tôi bỗng hoa lên đến không còn nhìn thấy vật gì trước mặt nữa. Tôi đổ gục ngay xuống nền gạch và bất tỉnh.

***

Hôm nay là ngày thứ tư tôi được phép nghỉ làm vì đầu của tôi bị đau do căng thẳng quá mức. Bác sĩ nói tôi cần phải nghỉ ngơi ít ra là một tuần. Tôi vừa đến nói chuyện với ông chủ nhà hàng Prinsen tọa lạc trên  đường Prinsengracht Amsterdam. Nhà hàng chỉ có bảy cái bàn thôi, nhưng ai muốn ăn ở đây phải hẹn trước mới có chỗ, vì nhà hàng nổi tiếng với những món ăn tuyệt ngon mà giả cả lại rất phải chăng. Cách nhà hàng Prinsen khoảng gần hai trăm thước là căn nhà mà cô Anne Frank cùng gia đình từng ẩn trốn bọn mật vụ Gestapo của Đức Quốc Xã. Cô Anne Frank rất nổi tiếng với những trang nhật ký viết trong thời thế chiến thứ hai khi cô cùng gia đình trốn trong căn nhà đó. Tôi được ông chủ nhà hàng hứa giúp cho một công việc phụ bếp và lương cũng gần tương đương với lương mà ông Thanh Bình trả cho tôi, nhưng tôi sẽ không bị làm ban đêm.

Tôi đang đi đến trung tâm thành phố thì không hiểu sao gương mặt gầy và thanh tú cùng mái tóc dài màu vàng với hình dáng của cô Annemiek Jansen lại hiện ra trong cái đầu của tôi. Tôi vừa bước vừa nghĩ về cô cùng những hiện tượng kỳ quái mà tôi thì quả quyết tiếng súng trong phòng 401 trên lầu bốn là hoàn toàn có thật. Càng nghĩ về cô Annemiek Jansen tôi lại càng sợ hơn làm cho tôi quyết định gọi ngay cho ông Thanh Bình xin hẹn gặp ông tại khách sạn. Tôi sẽ xin nghỉ làm với lý do là vì trực đêm một mình tôi cảm thấy không an toàn. Ông Thanh Bình hẹn tôi khoảng hai mươi ba giờ tại khách sạn vì ông đang bận nói chuyện với ai đó. Tôi lên chuyến xe bus chạy ra khu phố Tàu. Tôi muốn ăn tô mì sá síu rồi sau đó sẽ đi bộ đến khách sạn.

Tôi đứng dưới một thân cây có tàn lá rộng và nhìn về khách sạn. Nếu không có chuyện quái lạ xảy ra thì giờ này tôi vừa nhận ca trực. Bây giờ là hai mươi hai giờ mười lăm phút, còn bốn mươi lăm phút nữa ông Thanh Bình mới đến. Tôi vừa định bước để đi đến khách sạn ngồi chờ ông, thì, rõ ràng là cô gái có gương mặt gầy và thanh tú mà tôi tin đó là cô Annemiek Jansen đang đi với một người đàn ông sắp tới khách sạn Thanh Bình. Dáng người con gái đó không làm sao tôi lầm được với người khác. Cô bước đi nhưng như bị người đàn ông ép buộc vì tôi thấy thái độ của cô có vẻ vùng vằng chứ không tự nhiên. Chờ cho hai người vào hẳn trong khách sạn, tôi chạy thật nhanh đến và đẩy cửa bước vào bên trong. Người trực tại quầy tiếp tân đi đâu nên không có mặt. Tôi nhìn lên chỗ máng chìa khóa thì chìa khóa phòng 401 không có. Tôi nhìn đến cầu thang máy thì thấy đang di chuyển và rồi ngừng lại tại lầu bốn. Tôi… lại ba chân bốn cẳng chạy thật nhanh lên lầu bốn bằng thang bộ với ước muốn được thấy người đàn ông sẽ làm gì với cô Annemiek Jansen mà xem ra cô không muốn đi mà như bị bắt buộc.

Tôi vừa lên đến lầu bốn thì lại nghe từ trong phòng 401 phát ra tiếng súng. Cánh cửa phòng 401 chỉ khép hờ nên tôi bước nhẹ đến và nhìn vào bên trong. Toàn thân tôi lạnh ngắt và run lên khi chứng kiến tên đàn ông đang kéo cái xác của cô gái đáng thương kia đến bên bức tường phía bên phải giuờng ngủ. Hắn kéo cái tủ quần áo chệch sang bên, và, phía sau tủ quần áo hiện ra một khoảng trống. Hắn nhét xác cô Annemiek Jansen vào khoảng trống đó rồi đẩy cái tủ lại vị trí cũ. Tôi đưa tay nhìn đồng hồ. Hai mươi ba giờ mười phút. Tôi đi nhanh đến trước phòng 407 và đứng đó gọi cho ông Thanh Bình vì tôi đoán ông đang ngồi nơi phòng khách. Tôi cố nói thật nhỏ:

- Xin ông chủ lên ngay lầu bốn vì có người đàn ông đã sát hại cô gái. Hắn đang còn trong phòng…

Ông Thanh Bình ngắt ngang:

- Phòng nào? Phòng 401… nữa à?

- Dạ. Đúng rồi, xin ông lên ngay.

Ông Thanh Bình nói như ra lệnh:

- Anh xuống đây gặp tôi.

- Thưa ông, tôi không xuống được vì tên sát nhân sẽ thoát ra khỏi phòng khi tôi đi khỏi đây. Xin ông hãy tin tôi và lên đây gấp với tôi, nhanh lên đi ông chủ.

Ông Thanh Bình cúp máy. Tôi nghĩ ông sẽ lên vì lời khẩn khoản của tôi.

Từ trước phòng 407,  tôi nhìn về cửa phòng 401. Tôi lo sợ là nếu ngay bây giờ tên sát nhân đi ra thì tôi sẽ không biết phải làm gì. Nhưng, thật may là hắn không đi ra ngoài cho đến khi ông Thanh Bình đi đến bên cạnh tôi. Tôi đề nghị ông Thanh Bình hãy báo cho cảnh sát để cùng vào phòng vì tôi lo sợ tên sát nhân có vũ khí. Ông Thanh Bình không nói năng gì cả mà đi thật nhanh đến phòng 401. Tôi vội vàng bước theo sau ông như cái bóng. Đến trước phòng 401, ông Thanh Bình đẩy nhẹ cánh cửa rồi bước vào bên trong. Trước mắt tôi, trong phòng hoàn toàn không có một chút gì gọi là bị xáo trộn. Mọi vật vẫn ngay ngắn và khăn trải giường vẫn thẳng tắp. Ông Thanh Bình tức giận đến run cả người lên vì câu chuyện của tôi. Nhưng, tôi cố gắng thuyết phục ông:

- Thưa ông chủ, tôi nghĩ là…

- Anh còn nghĩ gì nữa chứ. Bác sĩ đã nói cái đầu của anh bị hư rồi. Tôi quyết định cho anh nghỉ việc kể từ hôm nay. Trưa ngày mai anh đến đây tôi thanh toán tiền lương cho anh.

- Nhưng… Ông ơi. Ông suy nghĩ lại đi, chẳng lẽ tôi lại dựng ra câu chuyện như vậy được sao?

- Vậy anh muốn gì?

- Ông… tôi muốn ông giúp tôi đẩy cái tủ qua một bên xem sao. Nếu quả thật sau cái tủ này không có gì thì tôi sẽ rời khỏi nơi đây ngay lập tức.

Đúng như dự đoán của tôi, bức tuờng phía sau cái tủ trông rất bình thường, nhưng khi tôi đập mạnh vào đó bằng cái đế giầy của tôi thì nghe như bên trong bị rỗng, vì cũng bức tường này mà xa một chút lại phát ra tiếng động khác.

- Thưa ông, tôi nghĩ bên trong bức tường này có điều gì bí ẩn đã xảy ra mà người bị hại muốn cho tôi biết nên đã… cho tôi thấy cô Anne… cô gái và tiếng súng.

Bây giờ thì ông Thanh Bình đã tỏ ra lo lắng thật sự. Ông nhìn bức tuờng trân trân một lúc rồi gật gật cái đầu ra điều ông cho tôi nói có lý. Ông nắm ngay khuỷu tay của tôi cách thân mật và kéo tôi đi ra khỏi phòng.

***

Như thường lệ, mỗi ngày đúng mười giờ sáng tôi sẽ từ nhà đi bộ đến khách sạn làm việc. Tôi tên là Robert Pierre, là người Pháp, là người đã dựng lên Pacifique hotel và kinh doanh phát đạt trong nhiều năm. Tôi mới sáu mươi tuổi nhưng mọi người nói tôi vẫn còn khá trẻ vì thân hình tôi cao lớn và săn chắc. Tôi trông còn khá trẻ có lẽ cũng vì tôi chơi thể thao và ăn mặc trẻ trung; thường là với quần jean và áo sơ mi dài tay. Trước khi tôi đến vùng đất thấp này để kinh doanh khách sạn, tôi là y tá trong một bệnh viện lớn ngay tại thủ đô Paris. Với cặp kính cận thị trên gương mặt thông minh nên mọi người thường nghĩ tôi là tay tài phiệt. Tôi rất được phái nữ chú ý đến. Bà vợ của tôi thì hay ghen bóng ghen gió. Một điều thật dễ hiểu vì bà lớn hơn tôi đến ba tuổi và đang mang bệnh đau tim. Một căn bệnh có thể “đi” bất cứ lúc nào. Cũng vì vậy mà bà muốn tôi lúc nào cũng ở bên bà nên bà muốn tôi về lại Pháp mua nông trại chăn nuôi gia súc. Để cho bà khỏi tủi thân, tôi thường tỏ ra yêu mến bà nên mỗi khi ra khỏi nhà là tôi không bao giờ quên đặt lên môi bà một nụ hôn nồng cháy. Dĩ nhiên bà cũng hiểu - cũng cảm nhận - là tôi đang đóng kịch với bà. Bà là người có giác quan thứ sáu rất mạnh mẽ nên chỉ một hành động nhỏ của tôi thôi là bà có linh cảm tôi đang có người tình. Để hóa giải sự nghi ngờ của bà, tôi đã cho người tình nhỏ hơn tôi đến bốn mươi tuổi vào ở trong khách sạn để mỗi khi bà muốn tìm tôi thì tôi luôn luôn có mặt.

Nhưng, chuyện đời thường không bao giờ “xuôi chèo mát mái” mãi, nên, một ngày kia bác sĩ cho biết tôi đang bị ung thư giai đoạn cuối. Thật là khốn nạn cho cái thân tôi biết dường nào. Trong lúc bối rối tôi đã quá ngu dại nói thật hết mọi chuyện cho người tình nhỏ bé của tôi biết. Và, thế là cô ấy nhất quyết bắt buộc tôi phải chuyển giao khách sạn lại cho cô ấy. Tôi đã khổ sở biết bao ngày đêm để giải bày cặn kẽ mọi khó khăn nếu như bà vợ tôi biết chuyện, nhưng, cô ấy nhất quyết không chịu nghe. Để giải quyết mọi rắc rối sẽ xảy đến, tôi đã bắn cô người tình nhỏ bé của tôi một viên vào đầu bằng cây súng có hãm thanh. Tôi đã vui sướng đến có thể… điên lên được vì tôi đã lấy ra được một cục xương đang nằm ngay trong yết hầu. 

Để giải quyết cái xác tham lam và tàn nhẫn kia, tôi đã từng ngày, từng ngày, rồi từng ngày, một mình phá cái bức tường phía sau cái tủ đựng quần áo được nối liền với phòng tắm. Trong ba mươi hai cái phòng tắm của khách sạn, chỉ có cái phòng tắm phòng 401 là có một đoạn bị dầy hơn  bốn mươi phân và cao lên đến trần nhà; đủ để cho người tình nhỏ bé và tham lam của tôi đứng trong đó đến muôn đời.

Từ khi người tình nhỏ bé của tôi “đứng” trong phòng 401, thì sự kinh doanh của tôi cũng bắt đầu sa sút. Qua sự môi giới của những người bạn, một người đàn ông Việt Nam muốn mua khách sạn của tôi nhưng không đủ tiền. Để giúp ông ấy, tôi đã đứng tên bảo đảm với ngân hàng, cùng một điều kiện với ông ta là, ông sẽ không được xây cất hoặc sửa chữa khách sạn trong vòng mười năm. Tôi viện lý do là muốn trở lại đây nhiều lần nữa để nhìn lại “đứa con cưng” đã giúp tôi trong nhiều năm, nhưng, tôi muốn“đứa con cưng” vẫn phải với hình hài nguyên vẹn như ngày nào. Điều kiện đó không có gì là trở ngại cho ông Việt Nam. Với căn bệnh ung thư giai đoạn cuối thì thời hạn mười năm là đã quá đủ. Khi đó nếu ông Việt Nam có sửa sang lại khách sạn và có khám phá ra cái xác trong phòng 401 thì tôi đã không còn nữa.

Rồi đây tên Robert Pierre của tôi sẽ nằm trong danh sách những tên sát nhân hoàn hảo nhất thế giới… cho đến khi ông Việt Nam khám phá ra cái xác chết.

Bây giờ tôi có thể yên tâm bỏ “bức tâm thư” này vào trong túi của người tình nhỏ bé và bít bức tường lại. Một tháng nữa mọi thủ tục sang tên sẽ xong, và khi đó bức tường cũng đã khô, còn tôi thì đang ở Paris, hoặc, cũng có thể ở một nơi nào đó. Làm sao ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra trong tương lai chứ.


Rất mong ông Việt Nam, ông chủ mới của khách sạn thông hiểu cho tôi.

Đa tạ.
Robert Pierre

***

Vụ việc có một cái xác bị chôn trong tường của khách sạn Thanh Bình đã bị đám nhà báo làm ầm lên cả tháng trời. Ông Robert Pierre, “tên sát nhân hoàn hảo” thì đã chết sau khi về lại Pháp khoảng bốn tháng. Người vợ của ông thì chưa “đi” nhưng đã bị rối loạn thần kinh.

Sau vụ việc xảy ra trong khách sạn Thanh Bình, ông Thanh Bình đã xem tôi như là người em ruột của ông. Trước khi từ giã ông để đi làm phụ bếp, ông nắm tay tôi nói cách rất thân mật:

- Trong “bức tâm thư” ông Robert Pierre viết, “khi ông Việt Nam khám phá ra cái xác chết”, đó là ông ấy nói về chú chứ không phải tôi. Chú là người đã khám phá ra cái xác chết. Chú là người giúp tôi rất đắc lực. Khách sạn này rất cần chú nên tôi vẫn trả lương cho chú hàng tháng, mặc dù chú đi làm phụ bếp cho người ta. Tôi tha thiết xin chú một điều là, khi nào khách sạn này sửa xong, xin chú trở về giúp tôi trong vai đầu bếp chánh, nha chú./.



Topa ( Hòa Lan )

Saturday, March 19, 2016

Người đàn ông cân đo Tội Ác và Thời Gian

Topa




 
Sàigòn cuối tháng ba dương lịch thời tiết thật nóng. Vợ chồng tôi vừa đặt chân đến thành phố buổi trưa thì buổi chiều vợ mới cưới của tôi bị nằm liệt trong khách sạn đến không làm sao nhấc nổi cái đầu lên. Nàng đã bị nhiễm độc bởi thức ăn nước uống, bởi thời tiết, bởi khói xe và bụi bặm… Bác sĩ đến khám bệnh cho nàng đã nói vậy. Nàng và tôi không ngờ khí hậu Sàigòn lại nóng đến nỗi gần như làm cháy cả da lẫn thịt. Cũng chỉ vì chìu nàng mà giờ đây cuộc du lịch của hai đứa đã mất đi nhiều thú vị.

Nàng và tôi dự định đi đến Thái Lan, rồi sau đó qua xứ chùa tháp là quay về lại Hoa Kỳ. Nhưng, khi đến Campuchia và thấy cũng gần với Việt Nam, hơn nữa người hướng dẫn viên du lịch nói sẽ lo mọi thủ tục chỉ trong có vài ba tiếng đồng hồ là xong, vì vậy nàng muốn ghé cho biết Sàigòn trong dăm ba ngày. Nàng nói: “Là người Việt Nam mà không biết chút ít nào về cảnh vật của quê hương thì cũng là điều thiếu sót, phải vậy không anh?”

Sàigòn chật chội nhưng lại có quá đông người sử dụng phương tiện xe gắn máy nên cảnh kẹt xe và không khí bị ô nhiễm là chuyện không sao tránh khỏi. Ngày xưa, ngày mà tôi rời khỏi thủ đô của miền Nam khi chiến tranh đã vào những ngày cuối cùng, và, ngày đó tôi mới lên bảy tuổi nên trí nhớ về một vùng quê hương quả là quá nghèo nàn.

Hôm nay vợ của tôi muốn tôi đi xem thành phố cho biết vì nàng quyết định ngày mai chúng tôi phải rời khỏi Việt Nam. Nàng không muốn nhìn thấy tôi cũng bị nằm liệt một chỗ như nàng. Đang đi trên đường Lê Lợi thì một vật mà tôi nhìn thấy phía trước mặt đã làm cho tôi phải chú ý đến. Đó là cái cân thật cũ để cân người đặt trên vỉa hè nơi có người bộ hành qua lại tấp nập. Bên cạnh cái cân có đặt một tấm bảng carton với hàng chữ thật lớn: “Cân sức khỏe 2000 đồng”, viết bằng bút lông màu đỏ nét chữ rất lớn - rất đậm - như muốn mọi người phải chú ý đến. Vậy mà không một người nào qua lại trên hè phố để mắt đến.

Người đàn ông chủ của cái cân vào khoảng sáu mươi lăm tuổi và có gương mặt rất khắc khổ nhưng cũng thật trí thức. Bộ đồ mà ông đang mặc, đôi dép mà ông đang mang, cho tôi biết cuộc sống của ông nghèo lắm. Ông ngồi đó, sau cái cân với gương mặt dửng dưng của người bất cần đời. Bên phía tay phải của ông có một cây cột xi măng thật cao của đường dây điện và, ông cột vào cây cột xi măng đó một cây thước cây mà tôi nghĩ là để đo chiều cao của người. Công việc kinh doanh với chỉ một cái cân và cây thước, đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy trong đời. Người đàn ông ngồi đó tuy hai mắt vẫn đang nhìn người qua lại trên hè phố nhưng với vẻ dửng dưng như không hề chờ đợi sẽ có người đến đứng lên cái cân.

“Hai ngàn đồng Việt Nam”, tôi nhẩm tính với hối suất vừa đổi trong khách sạn thì chỉ vào khoảng mười xu đô la Mỹ mà thôi. Cũng vì gương mặt của ông và thái độ như bất cần đời của ông nên tôi cứ đứng từ xa, từ khoảng cách mười thước, và, tôi đưa máy lên làm như chụp hình cảnh vật của thành phố, rồi lại để xuống mà mục đích là chỉ để chờ xem có người nào đến đứng lên cái cân không.

Hai mươi lăm phút trôi qua rồi mà vẫn không có một người qua lại nào nhìn đến cái cân, nên tôi tự hỏi, như vậy một ngày ông ấy sẽ kiếm được bao nhiêu tiền để sinh sống. Và, có lẽ vì vậy mà quần áo và đôi dép của ông... Tôi đeo máy chụp hình lên vai rồi bước đến đứng lên cái cân.Tôi nhìn vào những con số trong bàn cân rồi tôi vừa định bước xuống thì ông chỉ tay đến chỗ để cây thước đo chiều cao, nhưng tôi đã lắc đầu. Tôi rút trong túi áo ra tờ giấy mười ngàn đồng và đưa cho ông. Ông không nói mà ra dấu cho tôi hiểu là chờ ông một chút để ông đổi tiền. Tôi khoát tay, đồng thời nói: “Bác giữ lấy số tiền dư”. Ông nhìn tôi nhếch môi nở nụ cười và gật đầu như thay cho lời cảm ơn. Ông vẫn không nói một lời nào. Qua đôi con mắt của ông nhìn tôi, tự nhiên tôi thấy đôi con mắt đó như rất gần gũi. Ánh mắt nhìn của ông thật kỳ lạ và làm như có một ma lực thu hút khiến cho tôi phải muốn làm quen với ông. Ánh mắt đó, con người đó, cho tôi cái linh cảm ông là người trí thức đang bị thất thế và bất mãn với cuộc đời. Chắc chắn một con người như ông mà nếu tôi được ông tiếp chuyện, thì có thể ông sẽ thố lộ những điều bí ẩn lý thú nào đó mà ông biết. Hoặc, biết đâu ông cũng là chứng nhân của một sự biến chuyển trong một đất nước có quá nhiều điều kỳ quái này. Và, biết đâu rồi mẹ tôi, nữ văn sĩ Lữ Tuý Phượng sẽ có thêm tài liệu để viết sách.Tôi quyết định làm quen với ông nên tôi ngồi xuống nhìn thẳng ngay mặt ông…

Với giọng nói thật trầm và thật buồn, ông kể câu chuyện đời tư của ông:

 -  Khi cuộc tổng tấn công của Mặt trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam vào dịp Tết Mậu Thân 1968 trên khắp miền Nam đang có dấu hiệu thất bại, thì tôi được người của Mặt trận đưa vào trong khu. Và, thật đúng lúc, tôi đã thoát khỏi sự truy bắt của an ninh Việt Nam Cộng Hòa chỉ trong tích tắc. Thời gian này tôi đang là sinh viên năm cuối của Đại học Khoa Học Sàigòn.Tôi được người của Mặt trận đưa lên Tây Ninh để rồi từ đây tôi được đưa vào trong khu an toàn. Năm tháng sau, trong một bữa tiệc tối trong khu an toàn tôi đã được gặp đủ mặt giới trí thức và tu sĩ từ khắp các nơi ở miền Nam được đưa vào trong khu. Người của Mặt trận đối xử với chúng tôi hết sức trọng đãi. Chúng tôi cũng được gặp mặt đầy đủ những người lãnh đạo của Mặt trận như, Nguyễn Hũu Thọ,Trần Bạch Đằng, Huỳnh Tấn Phát,Trần Hữu Trang. Phía nữ thì có Nguyễn Thị Bình và Nguyễn Thị Định. Nhưng, đặc biệt hơn cả là được gặp anh Sáu Dân Võ Văn Kiệt.Tôi nói đặc biệt là vì từ buổi gặp gỡ đầu tiên trong bữa tiệc tối hôm đó, tôi đã được đi theo sát nhân vật này cho đến sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải... hoàn toàn bị nhuộm đỏ. Tôi không làm sao quên được buổi gặp gỡ đầu tiên vào tối hôm đó vì, chính anh Sáu Dân Võ Văn Kiệt khi đứng lên phát biểu đã nói:

- Ngụy quyền Thiệu - Kỳ - Khiêm tuyên truyền trong nhân dân với khẩu hiệu là, đừng nghe những gì chúng ta nói, mà hãy nhìn kỹ những gì chúng ta làm. Chúng ta sẽ làm,và làm với tất cả ý chí thật cao để thể hiện cho nhân dân miền Nam và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới thấy quân đội nhân dân của chúng ta là, quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ,vì nhân dân mà chiến đấu. Quân đội nhân dân của chúng ta sẽ không bao giờ tơ hào gì, dù chỉ là một cây kim hoặc một sợi chỉ của nhân dân như những tên lính Ngụy chuyên cướp giật của nhân dân và hãm hiếp phụ nữ. Chúng ta sẽ chứng minh cho bọn Ngụy quyền Sàigòn và thế giới thấy rằng, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam và quân đội nhân dân của chúng ta sẽ thực thi một xã hội công bằng, một xã hội không có người bóc lột người, một xã hội không có người đói kẻ no. Lãnh đạo Mặt trận đã công bố nghị quyết thực thi chính sách hoà giải hòa hợp dân tộc để thể hiện lòng nhân đạo truyền thống của dân tộc ta, vì vậy sẽ không có việc trả thù những người vì chưa hiểu,vì thiếu thông tin mà đã hiểu sai lạc về Mặt trận và quân đội của chúng ta. Chúng ta sẽ giang rộng cánh tay ra đón chào những ai quay về với Mặt trận, với nhân dân. Chúng ta chỉ đánh kẻ chạy đi chứ không bao giờ đánh kẻ chạy lại.

 Anh Sáu Dân Võ Văn Kiệt còn nói nhiều lắm. Nhưng, điều làm cho tôi tở mở trong lòng hơn cả là những lời ông đã nói như trên.Tôi được người của Mặt trận tuyên truyền móc nối để tham gia đấu tranh giải phóng cũng chỉ vì mục đích như anh Sáu Dân Võ Văn Kiệt đã nói chứ... chứ tôi đâu có ngờ rằng lời tuyên tuyền của chính quyền Thiệu-Kỳ- Khiêm đã chứng minh sự tiên đoán của họ là hoàn toàn đúng sau này về những hành động dã man, về những việc làm tồi tệ, về những lời nói xảo trá không bao giờ đi đôi với việc làm của người cộng sản.Tôi không bao giờ quên được cái cảm giác bàng hoàng thất vọng tột cùng khi trong một buổi họp của những người lãnh đạo đảng cộng sản miền Bắc, trong đó có sự tham dự của anh Sáu Dân Võ Văn Kiệt khi bàn về số phận của những người thua trận của miền Nam, thì, chính tên Lê Duẩn, rồi Trường Chinh, rồi Phạm Văn Đồng đều biểu quyết là phải giết hết những người có trọng trách lãnh đạo và những người chỉ huy suốt cuộc chiến. Anh Sáu Dân Võ Văn Kiệt lên tiếng nói về một kế hoạch mà chỉ những kẻ không có trái tim của con người mới có thể thốt ra những lời tàn bạo như vậy. Sáu Dân Võ Văn Kiệt dõng dạc nói:

  - 
Tại sao chúng ta phải tốn đạn để giết đi một lực lượng lao động lớn lao đó làm gì để phải bị mang tiếng với thế giới. Sao chúng ta không nhốt bọn chúng lại cho đến chết và bắt bọn chúng lao động cực lực ngày đêm để tạo ra của cải cho chúng ta dùng, và, chúng ta sẽ chỉ cho bọn chúng ăn uống cầm chừng thôi. Chúng ta bắt bọn chúng lao động thật nhiều và thật nặng thì từ từ bọn chúng sẽ kiệt sức và rồi sẽ biến mất hết trên mảnh đất này mà chúng ta không tốn một viên đạn nào và cũng không bị mang tiếng ác với thế giới là đã có một cuộc tắm máu xảy ra.

  Có lẽ vì thấy “sáng kiến” của anh Sáu Dân Võ Văn Kiệt sáng suốt quá nên sẽ được chấp thuận, vì vậy, Nguyễn Hộ liền đứng lên tuyên bố như để tiếp lời anh Sáu Dân:

  -
 Chúng ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam rồi thì vợ của bọn chúng, chúng ta lấy. Nhà cửa của bọn chúng, chúng ta ở. Con của bọn chúng, chúng ta bắt làm nô lệ. Chúng ta sẽ tạo cho bọn người miền Nam, gái thì làm đĩ, trai thì đi khai mương khai rạch khai phá những khu đất những khu rừng hoang và các bãi mìn…

Một bầu trời mà tôi đang đứng dưới bỗng như tối sầm lại. Một ước vọng tương lai tốt đẹp và xán lạn cho quê hương cũng đang từ từ tan nát trong tim tôi chỉ trong một buổi họp ngày hôm đó, để rồi bốn năm sau của cái ngày gọi là giải phóng, tôi đã quyết định từ biệt cái đảng man rợ đó và ra ngồi ngay tại chỗ này. Tôi ngồi ở đây suốt từ mấy chục năm qua và không bỏ sót một ngày nào. Ai muốn hỏi, muốn biết rõ chuyện, tôi cũng đều kể lại và kể đúng như tôi vừa kể cho chú em nghe. Tôi không sợ bọn chúng giết tôi bởi vì tôi tự xem như tôi đã chết rồi; chết kể từ ngày quê hương miền Nam bị bức tử, và, vì tôi cũng là trái chanh đã bị khô héo sau khi đã bị vắt cạn kiệt sức lực. Nhưng, bọn chúng lại không muốn, hoặc không dám giết tôi nên tôi vẫn còn ngồi đây.Trước đây tôi kiếm sống cũng tạm được, nhưng, từ ngày mỗi gia đình đã tự mua cân thì... có khi cả tuần, hoặc có khi cả tháng không có một người khách nào đến đứng trên cái cân. Nhưng, điều đó cũng không còn là quan trọng nữa vì tôi vẫn muốn ngồi ở đây nhưng với mục đích khác. Tôi muốn cân tội ác của cộng sản Việt Nam xem nó nặng đến bao nhiêu khi mà mỗi ngày bọn chúng mỗi lún sâu vào tội ác mà tội nặng nhất là đã nhượng đất bán biển cho kẻ thù phương Bắc là bọn Tàu khựa dã man đã từng đô hộ đất nước mình cả một ngàn năm và, luôn tìm cơ hội để thôn tính. Bọn chúng đã giang rộng tay để đón rước kẻ thù vào khai thác tài nguyên của đất nước mà hậu quả là làm thiệt hại cho quê hương không sao có thể lường trước được. Tôi vẫn sẽ ngồi ở đây cho đến khi nào còn có thể, để đo thời gian xem đảng cộng sản Việt Nam còn trụ được đến bao lâu và khi nào thì cái đảng man rợ đó sẽ bị đồng bào đứng lên hạ bệ. Chú em đừng thắc mắc và cũng đừng thương hại là rồi tôi sẽ sống ra làm sao. Miếng ăn đối với tôi bây giờ không còn là quan trọng. Tôi chỉ cần mỗi ngày, hay đôi ba ngày bỏ vào miệng một thứ gì đó cho cái dạ dày nó yên là tôi cũng yên tâm rồi.

 - Thế... thế gia đình của bác đâu?

Người đàn ông có vẻ lập dị khi ông nói ông ngồi đây là vì muốn cân đo tội ác và thời gian của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, bỗng mất đi vẻ hăng say lúc kể lại câu chuyện tham gia Mặt trận. Ông hướng ánh mắt mệt mỏi nhìn vào đám đông người qua lại trước mặt mà hình như ông không nhìn thấy một ai bởi vì tôi thấy hai con mắt của ông như mơ màng… nhớ về dĩ vãng. Và, từ trong hai con mắt đó tôi thấy có hai giọt nước long lanh đọng lại bên khóe mắt. Không buồn bận tâm đến những người qua lại trên hè phố, ông để dòng nước mắt tự động lăn dài xuống hai bên má. Ông nói:

  - Tôi có vợ. Hay nói cho đúng hơn là tôi có người yêu và người đó yêu tôi nhưng vì chúng tôi chưa cưới, chưa ăn ở với nhau công khai. Người tôi yêu và yêu tôi vừa tốt nghiệp tú tài và đang chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa đại học Văn-Khoa, nhưng rồi tôi đã bỏ đi vào trong bưng mà không có một lời từ giã. Tôi đã không hề biết rằng người tôi yêu đang mang giọt máu của tôi trong người.Tôi là tên đốn mạt vì không có trách nhiệm.Tôi là tên ngu muội và ác độc khi đã đưa cả hai tay và khối óc vào công việc làm cho nhiều triệu người miền Nam này đau khổ và ly tán. Ngày tôi trở về lại thành phố và tìm đến nhà người tôi yêu thì mới biết, nàng đã bỏ nước ra đi vào hai ngày sau cùng của cuộc chiến cùng với đứa con trai đã bảy tuổi. Đó là đứa con của tôi với nàng...

Người cân đo tội ác và thời gian của Cộng sản Việt Nam khóc nấc khi nói đến hai người thân yêu và những tội ác mà ông đã làm khi tham gia "Mặt trận". Hai hàng nước mắt chảy dài ra trên khuôn mặt khắc khổ của ông mà ông cũng không màng lau đi.Tôi ái ngại cho ông quá nhưng tôi cũng cố hỏi tiếp:

- Ông... ông không gặp lại hai người... thân đó lần nào sao?

- Tôi không xứng đáng gặp lại hai người đó chú em à. Gặp lại hai người thân yêu đó là ý nguyện của tôi từ bao lâu nay, nhưng, vì tôi đã bỏ cả hai người ra đi không một lời giải thích thì giờ đây làm sao tôi còn mặt mũi nào dám gặp lại hai người đó. Nhưng... nhưng tôi vẫn thường xuyên… vẫn thỉnh thoảng nhìn thấy người tôi yêu trên mạng, trên internet, chỉ vậy thôi là tôi đã mãn nguyện lắm rồi. Có điều là tôi chưa gặp được mặt người con trai của tôi thôi. Nếu một ngày nào đó tôi được diễm phúc gặp mặt người con trai của tôi thì dù tôi có nhắm mắt ngay, tôi cũng mãn nguyện lắm. Đó là mơ ước lớn nhất trong đời tôi sau khi mơ ước lớn lao kia đã bị bọn người quỷ quyệt, bọn người xảo trá, bọn người man rợ mà tôi đã hết tâm hết lòng phục vụ nhưng đã phản bội lại tôi.

- Bà... người ông yêu bây giờ ở đâu và làm gì mà lại xuất hiện trên internet? Tôi có thể giúp ông việc gì không?

- Cám ơn chú em nhiều lắm, nhưng tôi không cần chú em giúp tôi việc gì cả. Những việc tôi đã gây ra thì tôi vui vẻ đón nhận nó vì đó là lẽ công bằng của trời đất, là lẽ công bằng của Thượng Đế và, nếu Thượng Đế thấy sự trừng phạt của Ngài trong mấy chục năm qua là đã đủ thì, Ngài sẽ cho tôi gặp lại cả hai hoặc, một trong hai người… bằng xương bằng thịt. Chú em hỏi người tôi yêu bây giờ ở đâu và làm gì à. Người tôi yêu bây giờ đang sinh sống trong một xứ sở văn minh nhất hành tinh này. Giàu nhất hành tinh này. Nhân đạo nhất hành tinh này. Và, người tôi yêu đang rất nổi tiếng trong cộng đồng người Việt khắp năm châu bốn biển. Người tôi yêu là nữ văn sĩ lừng danh tên Lữ Túy Phượng. Hình của nàng mà tôi lấy từ trên mạng xuống tôi cũng có đem theo đây, để tôi đưa cho chú em xem nhé.

Trong khi người đàn ông cân đo tội ác và thời gian của cộng sản quay người ra phía sau để lấy quyển tập, thì, tôi cũng như vừa bị trúng một cơn gió độc. Tôi cũng đang bàng hoàng xúc động mạnh. Đầu của tôi đang bị quay cuồng và hai con mắt của tôi bị hoa lên và rồi tôi cứ nhìn trừng trừng vào người trước mặt để tự hỏi, người mà tôi cho là lập dị vì muốn cân đo tội ác và thời gian của cộng sản, là cha của tôi đây sao. Nhìn tấm hình mà ông đưa cho tôi xem thì đúng đó là hình của mẹ tôi, và, như vậy ông đúng là cha của tôi rồi. Tôi ôm đầu khổ sở nhìn lên trời cao và than thầm. 

“Sao Thượng Đế lại nỡ thử thách con như thế này để làm gì. Con không đủ can đảm để gọi ông ấy tiếng cha. Con không đủ can đảm để ôm ông ấy. Con phải đối xử, phải hành động như thế nào đây hỡi ông trời trên cao kia. Sao ông nỡ để quê hương con cứ phải chìm mãi trong đau thương và thù hận. Sao ông nỡ gây ra chi những thảm cảnh đau thương như thảm cảnh ngày cha con gặp lại nhau mà con là con lại không đủ can đảm để nhận người đã tạo ra con”.

Tôi nhìn ngay mặt người chưa có một ngày nuôi dưỡng tôi, chưa có một lần ẵm bồng tôi... với lòng dạ thật xót xa đau đớn.

Người muốn cân đo tội ác và thời gian của bọn cộng sản nhìn tôi ngạc nhiên với hai con mắt mở lên thật lớn. Chắc chắn ông quá bất ngờ khi nhìn thấy thái độ của tôi. Ông chưa kịp hỏi nhưng tôi đã đứng lên và quay lưng bước đi thẳng về khách sạn. Tôi thoáng nghe hình như ông nói hay hỏi câu gì nhưng nào tôi có còn nghe được gì nữa đâu.

Tôi mặc kệ những người qua lại trên đường phố đang trố mắt nhìn tôi. Có nhiều, có rất nhiều cô gái đưa tay lên che miệng khi nhìn thấy tôi bước đi với khuôn mặt đầm đìa nước mắt.

*
- Chuyện gì đã xảy ra với anh vậy?

Người vợ yêu quý của tôi tròn xoe đôi con mắt nhìn tôi hỏi, nhưng tôi không trả lời và vẫn để nguyên bộ quần áo đang mặc, tôi lao mình nằm dài ra trên giường, mặt úp xuống gối và tiếp tục khóc. Một khoảng thời gian không lâu sau, một ý nghĩ thoáng qua và tôi liền ngồi lên cầm điện thoại phôn về cho mẹ tôi. Mẹ tôi không bắt máy. Tôi tắt điện thoại rồi quay qua người vợ yêu quý và kể lại cho nàng nghe từng chi tiết về câu chuyện đã làm cho tôi xúc động.

Người vợ yêu quý của tôi đã khuyên nhủ tôi phải đến gặp cha tôi vì nàng cho đây là định mệnh đã sắp đặt khiến cho tôi được gặp lại cha tôi. Nàng khuyên tôi là dù có như thế nào thì tôi cũng không thể nhẫn tâm chối bỏ người đã tạo ra mình vì dù sao ông cũng đã quá hối hận, quá đau khổ về những gì ông đã làm trong quá khứ. Tối hôm đó mẹ tôi cũng khuyên tôi phải đến gặp cha tôi.

Tội nghiệp người vợ yêu quý của tôi. Mặt trời chưa lên thì nàng đã thức dậy trang điểm cho thật đẹp để đến ra mắt cha tôi. Sau đó nàng và tôi đến tiệm bán bông hoa, và, nàng mua một bó hoa thật lớn và thật đẹp rồi cùng tôi đi đến chỗ có người đàn ông ngồi cân đo tội ác và thời gian của cộng sản Việt Nam. Tôi bước những bước thật dài và thật nhanh về phía trước, trong khi người tôi yêu đang bước từng bước nặng nhọc theo sau.

Cái cân cũ và cây thước cùng người đàn ông cân đo tội ác và thời gian của cộng sản Việt Nam không có mặt ở đây ngày hôm nay. Trong khi tôi đang nhìn quanh để tìm kiếm thì chị bán nước ngọt và cà phê trên cái xe nhỏ đẩy tay lên tiếng hỏi:

- Ông muốn tìm gì?
- Tôi muốn tìm ông… thường ngày ngồi ở đây. Ông...
- À, ông cân đo tội ác và thời gian của... ừ há, sao hôm nay không thấy ổng đến chứ từ nào đến giờ ổng luôn luôn có mặt rất đúng giờ. Không biết hôm nay có chuyện gì không vậy cà.

Một người thanh niên vừa dựng chiếc xe gắn máy bên cạnh xe cà phê - Có lẽ anh ta chạy xe ôm - tôi nghĩ vậy. Anh cũng vừa nghe chị bán cà phê nói nên anh nhìn tôi và nói về một điều mà tôi rất lo sợ:

- Xe cứu thương đưa ổng vào bệnh viện Sàigòn hồi sáng sớm nay rồi. Có lẽ... kỳ này … không qua khỏi quá. Ăn ít quá thì sức đâu mà chống lại bệnh tật chứ.

Tôi hoảng hốt hỏi:

- Bệnh viện Sàigòn ở đâu vậy anh?

Chỉ tay về phía xa anh nói:

- Phía đó đó. Anh cứ đi thẳng hướng này là gặp liền à. Gần cuối đường chỗ có cái bùng binh lớn mà phía bên kia là chợ Sàigòn đó.

*
Tôi đặt bó hoa lên xác của người đàn ông cân đo tội ác và thời gian của cộng sản Việt Nam và, cũng là cha ruột của tôi. Cả hai đứa chúng tôi cùng đứng trước cái xác mà khóc và khóc thật nhiều. Tôi hối hận và đau đớn quá. Ngực tôi cứ đau quặn lên từng cơn và luôn có câu hỏi trong đầu là vì sao hôm qua tôi lại nhẫn tâm bỏ đi không một lời nói nào với cha. Vì sao hôm qua tôi lại không có can đảm để ôm ông và kêu lên tiếng cha thân yêu. Vì sao... Nếu biết trước sự thể như thế này thì...Tôi cũng là tên đàn ông thật tệ hại. Tôi là đứa con bất hiếu vì dù sao ông cũng là cha của tôi dù ông chưa có một ngày nuôi dưỡng. Tôi bỗng chợt nhớ đến lời mẹ tôi từng dạy dỗ tôi lúc đến Mỹ là: 

“Con luôn phải thương yêu mọi người như thương chính bản thân mình bởi, chúng ta khác người cộng sản ở chỗ trái tim của chúng ta là trái tim của con người”.

Tôi cúi xuống hôn lên trán và lên má cha tôi. Người vợ yêu quý của tôi cũng làm theo không một chút đắn đo suy nghĩ. Tôi thì thầm bên tai cha lời từ giã. Tôi hứa với cha là, khi về đến Mỹ tôi cũng sẽ đặt một cái cân và cây thước trước cửa nhà. Tôi sẽ tiếp nối công việc của cha. Tôi cũng sẽ là người cân đo tội ác và thời gian của cộng sản Việt Nam./.

18/03/2016
Topa ( Hòa-Lan )


Monday, March 14, 2016

Bốn mươi mốt năm sau cuộc chiến - nhớ lại một chuyến đi

ToPa




Đêm nay là đêm rằm nên trăng sáng hơn mọi đêm, một điều xem ra có vẻ bất lợi cho chuyến vượt biển của chiếc ghe dài mười ba thước và bề ngang hai thước sáu mươi phân mà, chỉ trong giây lát nữa đây thôi sẽ chở theo những con người khốn khổ phải trốn bỏ quê hương để ra đi, trong đó có tôi.Tuy nhiên, tôi tin tưởng sẽ không có việc gì xảy ra để có thể ngăn cản lòng quyết tâm của chúng tôi vì cũng tại nơi này, trong những ngày tháng qua đã có trên mười chuyến ghe đưa những đoàn người khốn khổ ra đi và đã đến bến bờ bình an bởi vì chúng tôi có tiền, vàng, mà công an biên phòng Việt Cộng thì lại rất khao khát muốn có.

Từ ngày tôi được tham gia vào công việc đưa những con người khốn khổ ra đi, những con người mà TT của nền Đệ Nhị Cộng Hòa miền Nam Việt Nam đã từng cảnh báo trước, Một khi đất nước đã bị mất vào tay của cộng sản rồi là bị mất tất cả. Mất quê hương miền Nam thân yêu, mất gia đình, mất tài sản, mất nhân phẩm và, có khi còn mất luôn cả mạng sống...

Cũng tại nơi đây đã có hơn mười chuyến ra đi và không có một chuyến nào bị những trở ngại hay bị những thảm cảnh xảy ra trên biển cả. Bây giờ đang là mùa xuân và chỉ trong năm tuần lễ nữa thì cái Tết cổ truyền lần thứ sáu, cái Tết của năm 1981 của dân tộc, của đồng bào miền Nam, của đồng bào miền Bắc, sẽ trở lại trên quê hương sau ngày bị bức tử vì quân đội phải đầu hàng theo lệnh của vị tướng không có tài và cũng không có một chút kiến thức về chính trị nhưng lại ham muốn quyền lực.

Đêm nay tôi quyết định phải ra đi, không thể chần chừ thêm được nữa trước khi quá trễ. Và như vậy, tôi tin rằng dù chuyện gì có xảy ra tôi cũng sẽ không đón cái Tết lần thứ sáu trên quê hương.

Năm mùa xuân đã đi qua, năm cái Tết cũng đã trôi qua trong sự khốn khổ và nghẹn ngào dưới sự đọa đày của người chiến thắng cùng màu da và tiếng nói xem ra là đã quá đủ cho tôi rồi.

Tại sao đêm nay khi tôi phải rời bỏ quê hương mà trong lòng tôi lại rất hớn hở và không một chút lưu luyến hay muộn phiền? Ra đi khi không biết nơi mình sẽ đến với nhiều nguy hiểm đang chờ đợi, vậy mà mọi người và tôi vẫn háo hức ra đi tuy trong thâm tâm ai ai cũng nghĩ rằng điều đó đã đem lại ít nhiều đau khổ. Nhưng, thật ra thì không còn cách chọn lựa nào khác tốt hơn.

Trong đời mỗi một con người của chúng ta thường sẽ có nhiều chuyến đi, sẽ có rất nhiều lần rời bỏ, thay đổi, những nơi đã sống qua với ít nhiều kỷ niệm buồn vui. “Trong đời sống nhiều lúc chúng ta phải lựa chọn, nhưng, không có sự chọn lựa nào lại không đem đến khổ đau.” Câu danh ngôn mà tôi đọc được khi xưa vẫn luôn văng vẳng bên tai.

Đêm nay tôi đang ngồi đây, trong buồng lái dã chiến của chiếc ghe, tôi nhìn đoàn người đang bồng bế dìu dắt nhau bước lên ghe lớn từ những chiêc ghe nhỏ gọi là tắc-xi, đồng thời tôi cũng nghe rõ ràng tiếng sóng vỗ bập bùng vào thân ghe mà lát nữa đây chiếc ghe này sẽ đưa chúng tôi ra khơi và đi đến đâu, thì chưa một ai trong chúng tôi có thể tiên đoán trước được.Tôi đưa tay lên làm dấu thánh giá và bỗng đâu hình ảnh những người thân yêu ruột thịt của tôi năm nào đã bị thảm sát chết trong một lần Việt Cộng tấn công vào xã, cái xã nghèo và nhỏ tí xíu đã hoàn toàn bị san thành bình địa. Cái xã tọa lạc trong thành phố có con lộ định mệnh số 7 mà sau này khi miền Nam khởi sự rút quân và đi trên con lộ đó, để rồi quân và dân đã bị Việt Cộng thảm sát, rồi đưa đến một cuộc bại trận sau đó không bao lâu. Hình ảnh những người thân yêu của tôi hiện ra trong đầu làm tôi nhớ lại một thuở thật thanh bình trên quê hương miền Nam thân yêu mà tôi đã cùng vui cùng sướng khổ với gia đình trong mái tranh nghèo nàn nơi vùng đất mới vừa được khai hoang theo chương trình khẩn hoang lập ấp của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Vị Tổng Thống Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà.

*
Mùa mưa năm xưa xa xôi ấy, mùa mưa năm một ngàn chín trăm sáu mươi hai trên con đường trơn trợt giữa núi rừng, và tôi, một thằng nhóc con mười tuổi ngồi trong chiếc xe đò của hãng xe Sanh Hòa đi từ Pleiku về Sàigòn. Lần đầu tiên trong cuộc đời tôi đã biết thưởng thức một bản tình ca mà tôi sẽ không bao giờ quên được, đó là bản Mưa Rừng và hình như được hát bởi tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh-Thúy thì phải. Tôi buồn thật nhiều khi nhớ lại hai năm về trước tôi cũng phải rời xa nơi chôn nhau cắt rốn, phải rời xa một số bạn nhóc cùng trường và cùng xã để lên Đà-Lạt theo học trong một trường nội trú…

Pleiku ngày ấy còn quá hoang sơ với núi và rừng rậm bao la… toàn đất đỏ. Con đường chính của thị xã rất hẹp. Khi có hai chiếc xe chạy ngược chiều nhau thì một chiếc phải ngừng lại để chiếc ngược chiều chạy qua rồi chiếc kia mới được chạy.

Vào năm tôi học lớp ba trường tiểu học Pleiku tôi đã vô cùng thích thú khi được người bạn Thượng học cùng lớp “mời” tôi về buôn Thượng để chỉ lại những gì mà tôi đã học được cho các em trong buôn làng đã không có điều kiện đến trường. Nhớ lại ngày đầu tiên theo chân người bạn Thượng, tôi thật không ngờ người bạn này mỗi ngày phải đi bộ một quãng đường quá xa để đến trường. Tối hôm đầu tiên trong nhà người bạn Thượng tôi đã được ăn một bữa cơm mà chắc chắn tôi sẽ không bao giờ quên được trong cuộc đời. Khi tất cả mọi người quây quần bên cái bếp lửa đặt giữa nhà sàn, thì ba của người bạn Thượng của tôi vói tay cầm cái ống tre đặt trên cao xuống và rồi ông lấy trong ống tre đó ra một gói thức ăn nhỏ được gói trong một cái lá lớn có lông nhỏ li ti; bỏ vào trong bếp lửa để nướng. Cơm thì đã được nấu chín từ lúc nào tôi không rõ và cũng được gói trong một cái lá rất lớn có nhiều lông nhỏ li ti giống như cái lá gói thức ăn. Khi gói thức ăn đã được nướng chín thì mọi người cùng bốc thức ăn trong cái gói đó và ăn với cơm - Người Thượng trong thời gian đó hoàn toàn không dùng đũa hay muỗng.... Cho đến hôm nay cái mùi của gói thức ăn đó tôi vẫn còn nhớ mãi tuy thời gian trôi qua cũng đã trên năm mươi năm rồi; chỉ vì cái mùi của nó quá xá thúi. Nó thúi lắm! Thúi kinh khủng! Thúi tàn nhẫn! Lúc đó tôi còn nhỏ quá nên phản ứng của tôi cũng rất là tự nhiên và không lịch sự. Người bạn Thượng thoáng nhìn tôi và anh hiểu ra nên anh đứng lên và đi nhanh đến cái ổ gà có con gà mẹ đang ấp những quả trứng, anh đỡ con gà lên và lấy một quả trứng, anh để quả trứng vào trong cái ca nước và đặt lên bếp để làm món trứng luộc chấm muối cho tôi ăn cơm… Hai ngày kế tiếp cũng cùng một thực đơn đó.

Trẻ em Thượng trong lớp rất thích tôi vì hiếu kỳ, có lẽ vì tôi là “người da trắng” đầu tiên mà các em Thượng được gặp chăng? Để đáp lại lòng ưu ái mà các em đã đặc biệt dành cho tôi, tôi đã “rộng tay” cho các em rất nhiều điểm vào hai môn học là toán và chính tả mà tôi phụ trách. Những ngày trong buôn Thượng tôi thích nhất là đi ra suối nhìn các cô gái Thượng tắm. Lúc đó tôi còn quá nhỏ nên không hề có một ý nghĩ tà đạo nào mà chỉ hiếu kỳ, vì,  khi các cô gái Thượng tắm họ không kỳ cọ giống như tôi. Các cô gái Thượng dùng một khúc cây ngắn, nhỏ và tròn để kỳ đất trông rất là lạ mắt.

Ngày tôi xa rời nơi tôi đã sống với nhiều kỷ niệm của tuổi thơ, tôi không còn nhớ là ngày đó tôi đã gặp và từ giã những ai, nhưng, tôi nhớ là tôi buồn nhiều lắm... chứ không như đêm nay. Đêm nay tôi cảm nhận là phải bằng mọi cách xa rời nơi mà tôi đã có những tháng ngày làm việc và rong chơi với nhiều kỷ niệm trong đời. Tôi sợ sẽ bị bắt lại để phải sống với những con người luôn mang nặng sự căm thù trong tận đáy lòng bởi tôi không có cùng một ý thức hệ.

Chiếc ghe rời bến vào khoảng ba giờ sáng với hai người có nhiệm vụ hướng dẫn chiếc ghe ra cửa biển Vũng Tàu; ra khỏi khu vực gọi là “đèn trắng”. Hai người này không ngờ tôi cũng đi đêm nay nên hai người cố gắng thuyết phục tôi ở lại để “đánh” thêm vài chuyến nữa rồi hãy đi nhưng, chí tôi đã quyết nên tôi cũng cố gắng thuyết phục hai người cùng đi. Nhưng, cuối cùng hai người đã nhảy xuống con sông lớn trên đường dẫn ra biển để bơi vào bờ khi tôi sơ ý nhìn đi nơi khác. Bốn con mắt nhìn tôi đầy giận dữ và căm thù khi cái đèn pha trong tay anh Thiếu tá Hải-Quân Phan-Chánh-Cương chiếu ngay mặt hai người. Tôi cũng sẽ không bao giờ có thể quên được bốn ánh mắt đó khi tôi còn hiện diện trong cuộc đời này.

Anh Phan-Chánh-Cương đã cố gắng lèo lái chiếc ghe ra đi nhưng anh không quen con đường này nên vào khoảng hơn bốn giờ sáng thì chiếc ghe bị mắc cạn. Chúng tôi đã cố gắng chống sào để ra khỏi vùng bị nạn nhưng vô ích. Chiếc ghe dài mười ba thước vẫn nằm yên không nhúc nhích. Mệt mỏi, chán nản và lo sợ, nên tôi đã tiêu hủy hết những chứng từ có liên quan đến chiếc ghe và đến những người có liên hệ với tôi. Khoảng gần năm giờ sáng chúng tôi đã cố gắng thử thời vận một lần chót theo đề nghị của chú Gao - chú em lái ghe nhỏ đưa khách ra ghe lớn - bằng cách chạy qua chạy lại bề ngang của chiếc ghe. Đức-Chúa Giêsu. Đức-Mẹ Maria. Đức-Phật Quán-Thế-Âm Bồ-Tát từ bi đã cứu chúng tôi! Chiếc ghe đã chòng chành chuyển động mỗi lúc mỗi nhiều hơn nên tôi đề nghị với anh Cương:

- Anh cho máy nổ và thử chạy lùi để chuyển qua hướng khác được không anh Cương?

Anh Cương đã làm theo lời đề nghị của tôi và chiếc ghe đã chạy thoát vùng mắc cạn.

Lúc này trời đã quá sáng tỏ để chúng tôi thấy từ phía trong bờ có hai chiếc tàu nhỏ chạy về hướng chúng tôi và... những người đứng trước mũi của hai chiếc tàu đó đang phất cờ và bắn vài phát súng chỉ thiên.

Anh Phan-Chánh-Cương nói:

- Họ ra lệnh cho mình phải ngừng lại, nếu không họ sẽ bắn thẳng vào ghe.

Tôi nói với anh Cương:

- Anh cứ cho máy chạy hết tốc lực đi và nếu phải chết thì chúng ta cùng chết chứ không thể để bị bắt lại.

Một lần nữa anh Cương lại làm theo đề nghị. Chiếc ghe ngóc cao mũi và phóng thẳng về phía trước với vận tốc tối đa của nó.Tôi đứng dang hai tay gác trên cái mái chỗ làm phòng lái và nhìn về phía trước. Tôi hít một hơi thật dài cho không khí vào đầy hai cái lá phổi. Đã bao năm tháng qua, đây là lần đầu tiên tôi thật sự được hít thở không khí của tự do!

Có một anh thanh niên lạ đến đứng bên cạnh tôi, anh nhìn biển một lúc rồi quay nhìn tôi và nói:

- Biển yên quá, hy vọng họ sẽ không đuổi theo kịp được mình.

Tôi nhìn anh và đề nghị:

- Anh hãy giúp chúng tôi nói với mọi người dưới hầm ghe là ai nằm ở đâu thì nằm yên ở đó chứ đừng có lên trên này nguy hiểm lắm.

Khi anh chàng thanh niên vừa quay lưng đi và chui xuống hầm ghe thì tôi cũng vừa chợt nhận ra lời đề nghị của tôi quá thừa thãi. Những người nằm dưới lòng ghe, phần thì mệt vì thiếu ngủ, phần thì say sóng vì ghe chạy quá nhanh nên mọi người vẫn nằm yên tại chỗ... như chết.

Khoảng một giờ trưa thì chúng tôi không còn thấy hai chiếc ghe của biên phòng rượt đuổi theo nữa. Chúng tôi bị rượt đuổi hơn năm tiếng đồng hồ. Anh Phan-Chánh-Cương cũng vẫn đang cho chiếc ghe chạy với vận tốc tối đa để tránh những chiếc ghe đánh cá quốc doanh đang lởn vởn chung quanh.

Gần bảy giờ tối. Lúc này màn đêm đã phủ chụp lên vạn vật nhưng chiếc ghe thì vẫn lao thẳng về phía trước. Và, bất ngờ cái máy ghe bỗng “ho” lên khục khặc vài tiếng rồi không chịu chuyển động nữa. Tôi phải cầm lái tạm để anh Cương và người phụ thợ máy cố gắng mò mẫm trong ánh sáng yếu ớt để sửa chữa cho máy nổ lại. 

Trong lúc mọi người đang hồi hộp thì bỗng tôi nhìn thấy ngọn sóng biển đột ngột dâng lên thật cao và đồng thời gió thét ầm vang cả một vùng biển rộng. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy sóng biển cao như vậy. Ngọn sóng đã đưa chiếc ghe lên cao - lên thật cao - rồi thình lình hạ thật thấp xuống làm đáy của chiếc ghe va chạm vào mặt nước biển và phát ra cái âm thanh thật hãi hùng mà tôi tưởng chừng như chỉ trong một vài lần va chạm như vậy nữa là chiếc ghe sẽ bị bể tan ra từng mảnh nhỏ rồi chìm xuống đại dương. Những ngọn sóng tiếp nối nhau như muốn phủ chụp lên chiếc ghe của chúng tôi làm cho tôi phải nhắm mắt lại và đồng thời tôi nghĩ: Không ngờ cuộc đời tôi lại chấm dứt như thế này, ở đây, giữa biển khơi. Lúc này không phải chỉ có riêng một mình tôi mà tất cả mọi người trong ghe không còn một ai dám nhìn những ngọn sóng nữa… ngoài anh cựu Thiếu tá Phan-Chánh-Cương vì anh đang phải cầm lái. Tôi nằm co rút người lại trong phòng lái, bên cạnh anh Cương và cầu nguyện. Tôi không còn can đảm nữa khi nghĩ chỉ trong giây lát nữa đây thôi là tất cả mọi người, và tôi, sẽ bị những ngọn sóng dữ kia nhận chìm xuống đáy biển.

- Anh Ba dậy cầm lái cho tôi một lúc. Tôi mệt quá rồi. Tôi không thể chịu nỗi nữa rồi.

Anh Cương vừa nói vừa lay tôi dậy. Tôi đã thiếp đi lúc nào không biết. Tôi đã ngủ được một giấc.

- Bây giờ là mấy giờ vậy anh Cương?

- Hơn mười hai giờ đêm.

- Tôi phải giữ lái như thế nào?

- Anh cứ giữ như tôi đang để. Bão vẫn còn mà máy thì đã chết nên cũng không thể làm gì hơn được nữa.

Tôi ngồi dậy và cầm lái. Nếu có ai hỏi tôi trong đời tôi lúc nào là lúc mà tôi thấy kinh hoàng nhất, thì có lẽ là lúc này đây. Tôi đã hơn một lần chạy trong vùng lửa đạn chiến tranh nhưng tôi không kinh hoàng. Tôi đã một lần bị một tên Việt Cộng kề súng vào đầu tôi hăm dọa bắn khi tôi định nhảy khỏi toa xe lửa trong một lần đi buôn vì chính sách đại sai lầm ngăn sông cấm chợ của tên Tổng Bí Thư Lê Duẫn. Dù quá sợ nhưng tôi vẫn nhảy và chẳng may tôi bị an ninh tóm cổ khi chạy vào ngõ cụt… tôi cũng chưa kinh sợ nhiều. Nhưng, đêm nay với những ngọn sóng quá xá cao, ngọn sóng đã đưa chiếc ghe lên thật cao rồi hạ thật nhanh và thật mạnh xuống làm đáy ghe đập thật mạnh xuống mặt nước biển mà mỗi lần như vậy trái tim tôi, ngực tôi, như bị tay lực sĩ nào đó đấm thật mạnh vào làm tôi cứ bị đau nhói lên. Tôi đã quá kinh hoàng và sợ hãi nên tôi gọi anh bạn thanh niên đã nói chuyện hồi sáng với tôi lúc bị rượt đuổi lại ngồi với tôi. Có hai người nên tôi bớt sợ phần nào. Chúng tôi hút thuốc thật nhiều vì gió lạnh, và, dĩ nhiên cũng vì quá sợ hãi!

Mọi chuyện rồi cũng qua! Sóng biển đã không còn những cơn giận dữ nữa. Ánh mặt trời cũng đã bắt đầu ló lên ở phía bên trái của chiếc ghe. Anh Cương đã thức dậy. Anh nhìn vào hải bàn và tỏ ý hài lòng với tọa độ mà anh đã tính. Anh nói:

- Với vận tốc và thời gian mà chiếc ghe đã chạy trước khi bị chết máy, tôi bảo đảm với anh Ba Hùng là chúng ta đã qua khỏi đảo Côn Sơn rồi.

Tôi quay qua nói với người thanh niên đã ngồi bên cạnh tôi suốt đêm:

- Anh đi gom lại những túi thức ăn và những cây mía xem mình còn lại bao nhiêu.

Một lát sau anh thanh niên đem lại vài bao túi xách nhỏ và cho biết:

- Khi bị rượt, các túi thức ăn đã rớt xuống biển nhiều, còn lại đây chẳng có bao nhiêu.

Tôi lấy trong những cái túi thức ăn đó ra ba cái bánh chưng nhỏ. Một cho anh Cương, một cho anh thanh niên, và một cho tôi. Chúng tôi pha café và cùng ăn uống với nhau.

Khi mặt trời đã lên khá cao, tôi chui xuống lòng ghe để kêu người thợ máy dậy sửa máy. Người thợ máy không thể nào nhúc nhích được nữa vì anh ta quá say sóng và ói rất nhiều. Anh ta chỉ có thể hé mở được một con mắt thôi. Vâng, đúng là anh ta chỉ hé mở được có một con mắt thôi, và, anh thều thào trong cổ họng yêu cầu chúng tôi khiêng anh đến bên cái máy. Đến bên cái máy rồi anh ta cũng không thể cử động tay chân nỗi nữa. Anh nằm đó nhắm hai con mắt lại và chỉ dẫn người phụ máy cùng hai anh em chúng tôi phải làm những gì theo lời anh. Sau khi chúng tôi đã làm tất cả mọi động tác theo lời anh, và, sau khi đã thử cho máy nổ rất nhiều lần, nhưng vô hiệu. Cuối cùng anh thợ máy nói:

- Cái “rờ-le” đã bị cháy vì bị quần áo cuốn vào cây láp làm tung nước vào đó. Em đã quên mang theo cái “rờ-le sơ cua” nên không còn cách nào khác nữa!

Tôi nhìn anh Cương. Anh Cương nhìn tôi. Chúng tôi không nói gì với nhau. Anh Cương chui ra khỏi hầm máy. Tôi cũng chui ra theo anh. Ngay lúc đó tôi nghe tiếng một người đàn ông trong lòng ghe la khóc rất lớn:

- Bố đã giết con rồi con ơi! Giời ơi là giời! Tôi giết con tôi rồi!

Tôi chui lại vào trong lòng ghe với sự bực tức và nói thật lớn với người đàn ông đang khóc:

- Anh kia! Anh không được làm mọi người hoang mang và lo sợ nghe không! Tại sao anh phải khóc? Nếu chết thì tất cả cùng chết chứ có riêng gì gia đình anh đâu. Anh làm gì trước đây?

 Người đàn ông nhìn tôi thoáng chút ngạc nhiên nhưng rồi ông cũng trả lời:

- Dạ... trước đây tôi là Trung úy thông dịch viên mới đi cải tạo về.

- Thôi... anh đừng làm ồn nữa. Kể từ hôm nay anh lãnh nhiệm vụ phát nước cho mọi người.

Còn anh kia! Tôi chỉ tay về phía một người đàn ông trung niên và khá to con.

- Trước kia anh làm gì? 

- Tôi là Đại úy bộ binh cũng mới đi cải tạo về.

- Từ nay nhiệm vụ của anh là... phát cơm cho mọi người nghe.

Phân công xong tôi chui ra khỏi lòng ghe. Tôi đến bên anh Cương. Anh Cương đang cầm trong tay  những món đồ nghề đi biển, anh nói:

- Với sức trôi của chiếc ghe mà tôi đã đo được thì khoảng... mười ngày nữa là ghe mình sẽ trôi vào đất Thái Lan.

Mười ngày nữa ? Trời đất! Mười ngày nữa thì làm sao có đủ thức ăn và nước uống cho chừng này người? Mà chiếc ghe này có bao nhiêu người ? Tôi nghĩ vậy và nhìn quanh để tìm người phụ giúp. Hướng trước mặt tôi có một người đàn ông có dáng vẻ rất quê mùa và rất đáng nghi ngờ. Tôi ngoắc anh ta lại và hỏi:

- Anh làm gì trước đây ở...Việt-Nam?

Thật bất ngờ khi nghe anh nói:

- Tôi là Trung úy An-Ninh Quân-Đội.

- Anh có giấy tờ gì đem theo không?

- Dạ có!

Anh lấy từ trong bóp ra một tờ giấy mà anh đã cẩn thật để vào trong mấy lớp nylon và đưa cho tôi xem. Tôi cầm và đưa qua cho anh Cương. Anh Cương nhìn vào một lúc nhưng không nói gì mà chỉ gật đầu như xác nhận. Tôi nói với anh Trung úy An-Ninh quân đội:

- Từ nay anh giữ trật tự trên ghe này. Bây giờ anh đi kiểm cho tôi xem trên ghe mình có tất cả bao nhiêu người nhé.

Khi ghi lại ký ức về chuyến đi này tôi đã giận tôi vô cùng. Tôi giận tôi vì đã quên hẵn tên ba người cựu sĩ quan của quân lực Việt-Nam Cộng-Hoà đó. Những người đã cùng tôi đi trên chiếc ghe mang số SS 1050 IA trôi dạt đến bờ biển Mã Lai ngày 03/02/1981. Trong tận cùng trái tim tôi, tôi vẫn luôn nhớ về các anh, những người đã góp sức để giữ cho chiếc ghe không bị hỗn loạn cho tới ngày đến được bến bờ tự do.

Ngày đầu tiên xem như chúng tôi đã tạm sắp xếp xong mọi trật tự trên ghe. Tôi đã dọa là tôi sẽ quăng xuống biển những ai làm mất trật tự. Ngày đầu tiên tôi cho phát nước một ngày hai lần. Một lần mỗi người hai nắp “bidon” của quân đội Việt-Nam Cộng-Hoà. Không ai được hơn quy định đó, kể cả anh Cương và tôi. Tôi cho gom các bao khoai lang lại và chia ra làm mười phần, cho mười ngày, mỗi ngày ăn một lần. Anh Trung úy an ninh quân đội cho tôi biết đã đếm đi đếm lại rất nhiều lần và con số chính xác là một trăm mười ba (113)  người hiện diện trên ghe.

* * *
Đến hôm nay thì chiếc ghe của chúng tôi đã trôi được bảy ngày rồi. Nồi khoai lang bây giờ khi nấu lên nó có một màu đen và... kinh khủng quá! Vào ngày thứ năm tôi đã cho rút phần phát nước xuống mỗi ngày một lần, mỗi lần mỗi người cũng chỉ được một nắp “bidon” thôi. Chúng tôi đã tháo tấm bạt che trên mui ghe ra làm buồm. Có một điều thật không thể hiểu được là từ khi “giương buồm” lên thì chiếc ghe tự động quay đầu và trôi theo tư thế lùi. Hễ tháo “ buồm” ra thì chiếc ghe trôi theo tư thế thuận. Cuối cùng thì anh Cương cũng quyết định là “giương buồm” vì dù sao chiếc ghe cũng trôi nhanh và theo hướng mong muốn, tuy phải trôi theo thế lùi.

Trưa ngày trôi thứ bảy.

 Anh Phan-Chánh-Cương bỗng tươi tỉnh nét mặt khi anh nhìn vào ống dòm và báo là có một chiếc tàu đang chạy về hướng chúng tôi. Sau một lúc, anh nói lớn như muốn cho mọi người cùng nghe:

- Có chiếc tàu đang chạy về hướng chúng ta và có lẽ là chiếc tàu thuộc toán cấp cứu của Tây Đức.

Khi chiếc tàu đến cách chiếc ghe của chúng tôi một khoảng cách đủ để chúng tôi nhìn thấy những người trên chiếc tàu đó là những người có nước da ngâm đen và... quấn xà rông. Anh Cương không còn nét mặt “hồ hởi phấn khởi” như lúc ban đầu nữa nhưng anh cũng không nói gì. Người thuyền trưởng bên chiếc tàu đó muốn nói chuyện với thuyền trưởng của chiếc ghe chúng tôi. Anh Cương với cương vị đó nên anh đã qua bên chiếc tàu gặp tên thuyền trưởng. Một lúc sau anh Cương trở về và cho biết là người thuyền trưởng bên chiếc tàu muốn cứu chúng tôi để chở vào bờ. Họ yêu cầu mang tất cả hành lý qua tàu của họ.

Tất cả mọi người đã qua hết bên chiếc tàu “cấp cứu” và được đối xử rất tử tế như cho thức ăn và nước uống. Đang khi mọi người còn vui vẻ vì tin rằng đã được cứu thì một tên trong bọn họ bắn chỉ thiên một phát súng và yêu cầu tất cả theo hàng một đi vòng chiếc tàu từ đầu ra cuối rồi vòng về chỗ cũ. Một trăm mười hai người – Anh Cương được miễn – đi vòng từ đầu mũi tàu ra đến phía sau tàu là có một bọn năm tên đã đứng sẵn ở đó để khám xét và lột sạch những gì mà bọn chúng nghĩ là đáng giá. Khi đã lột sạch những gì mà bọn chúng lột được, bọn chúng ra lệnh cho những con người khốn khổ chúng tôi trở về lại chiếc ghe và bố thí nửa thùng phuy nước, một bao gạo và khá nhiều cá rồi sau đó chiếc tàu “cấp cứu” lại thẳng hướng tiếp ra khơi.

Nhiều người trong chúng tôi đã chửi thề và nguyền rủa bọn cướp biển là tàn ác… nhưng tất cả cũng rất vui vì đã được một bữa cơm rất ngon, đúng nghĩa là cơm!

Ba anh cựu sĩ quan có nhiệm vụ trên ghe đã hăng hái làm tròn nhiệm vụ! Sau một tuần không có cái gọi là cơm, chiều nay tất cả chúng tôi đã tận hưởng được một bữa cơm ngon nhất trong đời!

Trưa ngày trôi thứ tám.

Từ xa xuất hiện hai chiếc tàu với nhiều lá cờ đủ màu sắc đang tiến về chiếc ghe của chúng tôi. Khi hai chiếc tàu đến gần chúng tôi nhận biết ngay đây cũng là bọn cướp người Thái Lan. Bọn cướp rất đông vì chúng đến một lúc hai chiếc tàu và đứa nào mặt mũi nhìn cũng rất dữ tợn. Bọn chúng với mã tấu và súng ngắn đã tràn qua ghe của chúng tôi và bắt đầu cướp phá. Bọn cướp tháo gỡ những bộ phận của chiếc máy ghe và mang qua tàu của bọn chúng. Bọn chúng bắt tất cả đàn bà con gái qua tàu của bọn chúng và phát cho mỗi người một cục xà bông rồi bắt thoát y đứng tắm trần truồng trên sàn tàu. Ai không chịu tắm là chúng đá vào người.

Sau khi những người đàn bà khốn khổ kia tắm xong, lập tức bọn cướp cùng chia nhau hãm hiếp ngay tại sàn tàu. Một trong hai tên thuyền trưởng đã “may mắn” dẫn một cô gái thật đẹp người Huế vào phòng riêng. (Sau này tôi được biết cô gái Huế đã tốt nghiệp đại học môn Anh văn và chưa lập gia đình. Khi lên trại tỵ nạn, cô gái Huế phụ trách dạy môn Anh văn).

Đến nửa khuya bọn cướp biển thả những người đàn bà khốn khổ về lại chiếc ghe sau khi cho mỗi người một hộp sữa.

Cũng như chiếc tàu trước, hai chiếc tàu này cũng cho ghe chúng tôi gạo, nước, cá tươi và cá khô.

Từ khi được thả trở về lại chiếc ghe cho đến sáng, những người đàn ông chúng tôi phải bị nghe những âm thanh rên la thật buồn não của những người đàn bà xấu số. Không chỉ những người đàn bà khóc mà có cả tiếng đàn ông khóc nữa. Trên ghe có khoảng bốn chục người đàn bà, cộng thêm khoảng gần bốn chục tiếng khóc của những người đàn ông kèm theo nên âm thanh đó rùng rợn và buồn thảm vô cùng giữa biển khơi im lắng.

Ngày trôi thứ chín.

Sáng hôm nay anh Cương và tôi rất ngại nhìn cũng như nói chuyện với những người đàn bà. Hầu hết những người đàn bà đã lên mui ghe ngồi... phơi nắng. Một số người đã tỏ ra như có kinh nghiệm nên họ đã bôi dầu máy tàu lên mặt và khắp người. Nhìn những người đàn bà lúc này thật buồn cười mà tôi không dám cười. Chú Gao, tên của chú em ở xã Phước-Hòa thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu làm nghề đưa khách vượt biên từ ghe taxi ra ghe lớn, và cũng là người đã đề nghị chạy qua chạy lại sàn ghe hôm bị mắc cạn, đến bên tôi và kể lể với gương mặt như khóc:

- Anh Ba Hùng biết hôn, em thương con bồ của em lắm, em hỏi cưới nó thì ông già nó nói nó mới  mười bảy tuổi đợi sang năm đủ mười tám thì cho cưới. Em thương nó quá nên rủ nó đi vượt biên luôn. Đụ mẹ không ngờ mấy thằng Thái Lan nó hưởng trước em. Đụ mẹ tụi nó chứ!

Sáng sớm ngày trôi thứ mười.

Anh Cương bây giờ không còn ống dòm để nhìn xa nữa. Tất cả đồ nghề dùng đi biển đã bị cướp. Anh lại gần tôi và chỉ tay về phía bên phải. Nhìn theo cánh tay anh, từ xa có ba chiếc tàu đang chạy đến. Khi ba chiếc tàu đến gần hơn tôi thấy những chiếc này cũng có treo nhiều lá cờ đủ màu sắc như những chiếc trước. Ba chiếc tàu cặp gần hai bên hông chiếc ghe của chúng tôi. Bọn chúng kêu anh Cương qua tàu của bọn chúng nói chuyện và hỏi có vũ khí, tiền bạc, để trả cho bọn chúng thì bọn chúng sẽ kéo vào bờ. Anh Cương trình bày hiện trạng của chiếc ghe vượt biển vừa dứt lời thì lập tức bọn chúng rú lên như khỉ giả nhân rồi tràn qua ghe của chúng tôi. Một màn cướp phá khốc liệt diễn ra. Lần này bọn cướp đến với ba chiếc tàu nên sự cướp phá dĩ nhiên là tàn bạo hơn. Có những tên cướp đã hãm hiếp những người đàn bà ngay trong lòng ghe. Một số phụ nữ thì bị dẫn về tàu của bọn chúng. Bọn chúng vừa lôi kéo phụ nữ vừa nhảy vừa hú cứ y như những con khỉ đột.Tôi nhìn thấy chú Gao đang ôm cô bạn gái đã bất tỉnh vì quá sợ hãi. Thân hình cô bạn gái của chú Gao quá nhỏ, nhỏ như đứa bé con và hơn nữa đã được bôi khắp thân thể dầu mỡ của máy ghe nên những tên cướp đã... tha.

Buổi chiều cùng ngày, bọn cướp thả những người đàn bà về lại ghe và cũng cho thức ăn và nước uống.

Ngày trôi thứ mười một.

Khoảng giữa buổi trưa có một anh thanh niên thật trẻ đến bên tôi và hỏi:

- Anh Ba Hùng ơi, anh có đọc truyện người tù khổ sai Papillon chưa?

Quyển sách rất nổi tiếng của tác giả Henry Charriere tôi đã đọc qua rất nhiều lần.Tôi chưa hiểu anh chàng này muốn gì thì anh ta đã tiếp:

- Papillon đã vượt ngục trong điều kiện hết sức khó khăn và rồi đã thành công. Ở trên ghe này có nhiều những can nhựa trống, em xin anh cấp cho em những can không đó và ít nước uống để em thả trôi vô bờ trước. Em sẽ thông báo cho Cao ủy biết để Cao ủy cho người ra cứu.

Đề nghị quá táo bạo và… hấp dẫn! Tôi bàn qua với anh Cương và mọi người trên ghe. Tất cả đều đồng ý và sau đó tôi quyên góp được nửa “bình ton” chanh và đường. Tôi cấp cho anh chàng “Papillon” hai “bình ton” nước, cột mười can nhựa lớn lại với nhau và đặt lên trên đó một miếng ván. Anh Cương viết một lá thư tiếng Anh và bỏ vào một cái chai đậy nắp lại thật kín, cột vào cánh tay anh “Papillon”. Khi chiếc bè làm gần xong thì có một anh chàng khác đến xin tháp tùng theo anh “Papillon” và anh “Papillon” xin tôi cho hai người cùng đi chung cho vui. Tôi đồng ý.

Khi chiếc bè được thả xuống với hai anh chàng bên trên thì nước ngập ngang lưng quần của hai anh nhưng hai anh đã yêu cầu tháo giây cột giữa chiếc bè với chiếc ghe để hai anh ra đi. Khi giây đã được tháo ra khỏi chiếc ghe thì rõ ràng chiếc ghe tuy lớn, nhưng đã trôi qua mặt chiếc bè. Chiếc bè có lẽ đang đứng một chỗ chứ không trôi vì chiếc ghe đã trôi qua mặt chiếc bè rất nhanh. Chúng tôi đã hỏi lại là có thay đổi ý kiến gì không thì hai cánh tay của hai anh chàng đưa lên cao vẫy vẫy ra dấu từ giã chúng tôi.

Khi chiếc bè được thả xuống với hai người bạn trẻ bên trên thì lúc đó trời còn sáng lắm vì đang là buổi trưa. Khi hai cánh tay của hai người bạn trẻ ra dấu từ giã chúng tôi thì khoảng năm phút sau  – Tôi nghĩ không quá năm phút – trời bắt đầu âm u và giông tố nổi lên ầm ầm báo trước một cơn bão sẽ đến. Lúc này thì không còn cách nào nhìn thấy hai người bạn trẻ đó nữa rồi. Cơn bão đã kéo đến thật nhanh, rồi sóng to gió lớn nổi lên cuồn cuộn y như ngày đầu ra đi. Tôi không còn can đảm để nhìn những ngọn sóng tàn bạo đó nữa. Tôi nhắm mắt lại vì sợ hãi và rồi một giấc ngủ đã đến với tôi. Giấc ngủ với những cơn ác mộng kinh hoàng!

Ngày trôi thứ mười hai.

Sáng nay không ai nói với ai về chuyện hai người bạn trẻ của ngày hôm qua. Mọi người đều hiểu rằng hai người bạn trẻ đã không qua được cơn bão quá lớn như ngày đầu ra khơi. Phải chăng hai người bạn trẻ đó đã hy sinh cho mọi người được sống? Có ai đó đã nêu ra con số một trăm mười ba người trên ghe là con số không may mắn. Những người theo đạo Phật thì đang xầm xì về những cái gọi là hiện tượng. Tôi làm dấu thánh giá và đọc kinh cầu cho linh hồn hai người bạn trẻ đó. Tôi tin một cách xác quyết là Đức Mẹ sẽ giúp chiếc ghe đến bến bờ bình an, mặc dù có nhiều khó khăn. Theo lẽ thì tôi đã đi trong chiếc ghe của tôi chứ không phải là chiếc ghe này. Trước đó, tôi thường đến cầu nguyện ở nhà thờ Fatima Bình-Triệu. Trong lời cầu xin tôi có khấn:

“Nếu Đức Mẹ thấy việc con ra đi sẽ có những trắc trở thì xin Đức Mẹ hãy làm những trở ngại xảy ra trước để con không phải đi.”

Trước ngày dự tính ra đi trên chiếc ghe của tôi, tôi đã cho kéo chiếc ghe đó lên ụ và cho bọc nhôm xung quanh lườn ghe. Tôi trang bị một chiếc máy mới và thật mạnh. Đến hôm ra đi, khi mọi người vào hết trong lòng ghe thì có người lên tiếng là trong ghe có nhiều nước. Tôi cho thợ máy nổ máy để bơm nước ra. Thật không thể ngờ được, một cái máy thật mới có thể nói là hoàn hảo nhất và vừa ý nhất trong các máy, thế mà đêm ấy không làm sao cho nó chuyển động được. Trời bắt đầu sáng tỏ dần và tôi phải ém người lên bãi vắng thôi. Khi mọi người đã tản mác lên các bãi vắng thì cái máy lúc này bỗng dưng chịu nổ. Tôi cho người tài công lái chiếc ghe ra biển để tìm chỗ rỉ nước và sửa chữa. Trưa hôm đó, từ Sàigòn, tôi bàng hoàng nhận được tin là chiếc ghe của tôi đã bị chìm ở ngoài khơi vì cái lỗ rỉ nước bị nước phá càng lúc càng lớn hơn và không thể nào trám lại được.

Ngày trôi thứ mười ba.

Đã hai ngày trôi qua tạm coi như bình yên vì không bị một vụ cướp nào. Chiếc ghe vẫn trôi theo thế lùi như lúc ban đầu. Nhiều người đã lên trên sàn ghe nằm hoặc bơi lội xung quanh chiếc ghe. Có người thanh niên đến bên tôi thủ thỉ:

- Có mấy chiếc ghe ở ngoài xa kia, mình hãy nổi lửa lên để gọi họ lại... cướp đi anh Hùng.

Tôi nhìn người vừa nói và phản đối:

- Anh điên sao? Anh không sợ cho mấy người đàn bà à?

Lúc đó có mấy chị đang nằm trên sàn ghe vội lên tiếng:

- Kệ nó anh Hùng à! Cứ đốt lửa lên kêu tụi nó lại cướp rồi tụi nó sẽ cho mình gạo, nước và cá. Mình cũng không còn nhiều thức ăn. 

- Các chị không sợ… bị à?

- Còn gì nữa mà sợ anh Hùng! Nó... xong rồi thì mình sẽ có ăn để cầm cự chứ!

Tôi quay mặt nhìn về hướng các chiếc ghe đang ở ngoài xa và thầm nghĩ: “Nếu sau này mà mọi người đến được bến bờ tự do là nhờ ở sự hy sinh của các người đàn bà này.” Tôi đồng ý cho đốt lửa trong cái thùng phuy. Cái thùng này giờ đây có hai công dụng. Một, để nổi lửa lên cầu cứu các tàu lớn của Tây phương và tàu cướp. Hai, dùng để chứa nước nếu tàu cướp cho.

Lửa vừa lên thì có một chiếc tàu từ xa chuyển hướng chạy về phía chúng tôi. Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận những điều kinh khủng sắp xảy đến với chúng tôi. Các người đàn bà thì đã lấy dầu mỡ bôi khắp thân mình và mặt mũi.

Cảnh cướp phá và hãm hiếp lại diễn ra khi chiếc tàu đánh cá của bọn cướp Thái Lan cặp sát vào chiếc ghe đi tìm tự do của chúng tôi. Lần cướp này thì người bạn gái của chú Gao không thoát được nữa. Bọn cướp quá hung bạo! Có lẽ vì bọn chúng, sau khi lục soát đã không cướp được gì nên tỏ ra giận dữ. Bọn chúng cởi trần truồng chạy nhảy trên chiếc ghe như những người đang lên cơn điên. Gặp người đàn bà nào là chúng hiếp ngay tại chỗ, bọn chúng không có một chút gì là e thẹn. Tiếng khóc la vang inh ỏi, tiếng đánh đập người để tra khảo của, rồi tiếng van lạy bọn cướp khi bọn chúng đập phá ghe cùng hoà chung với tiếng cười và tiếng la tiếng hét của bọn cướp tạo thành một thứ âm thanh hoảng loạn mà tôi chưa bao giờ được nghe qua, chưa bao giờ được chứng kiến cảnh tượng hãi hùng này.

Mọi chuyện rồi cũng lại qua! Ngày hôm đó anh Phan Chánh Cương và tôi không còn thiết gì đến cơm và cá nữa. Tàn nhẫn quá! Vô nhân đạo quá! Không thể tưởng tượng nỗi lại có ngày được chứng kiến cái cảnh dã man tàn bạo này! Ba lần cướp trước đây bọn cướp tỏ ra rất tôn trọng anh Cương trong vai thuyền trưởng, nhưng, lần này thì bọn cướp đã đánh anh Cương và nhiều người đàn ông để khai thác của. Dĩ nhiên tôi cũng bị bọn chúng đấm đá tơi bời hoa lá. Khi bọn cướp đang hành động thì có một anh chàng kêu tên một người bạn là Nam, lập tức tên Thái Lan thuyền trưởng kê súng vào đầu anh ta và hỏi : “Mày biết tiếng Thái Lan?” Dĩ nhiên tên thuyền trưởng hỏi bằng tiếng Thái. Anh chàng nọ ú ớ, anh Cương phải thông dịch cho tên thuyền trưởng hiểu. Tên thuyền trưởng Thái Lan nói với anh Cương là hắn tưởng anh chàng nọ xin nước. Như vậy tiếng Thái Lan, nước gọi là nam! (Đúng 100%)

Ngày trôi thứ mười bốn.

“Lại một chiếc tàu cướp đến!” Anh Cương chán nản nói với tôi. Bây giờ là vào khoảng giữa trưa.

Khi chiếc tàu Thái Lan xáp đến, tên thuyền trưởng người Thái sau khi nói chuyện với anh Cương, hắn đã cho nhốt tất cả một trăm mười người – Anh Cương được miễn – xuống hầm cá. Sau này anh Cương nói lại với tôi là khi mọi người bị nhốt xuống hầm cá thì bọn cướp đã qua ghe lục soát rất kỹ. Lục soát xong, chúng kêu từng người một lên và khám xét kỹ. May mắn quá ! Bọn này không hãm hiếp một người phụ nữ nào. Ai bị khám xong thì được trở về lại ghe. Trước khi bỏ đi, bọn này cũng cấp cho ghe chúng tôi gạo, cá và. . . nam!

Chiều đến thì anh cựu trung úy an ninh quân đội cho tôi biết là trên ghe mất một người. Chúng tôi yêu cầu tất cả đàn ông lên sàn ghe để kiểm người. Lúc đó thì có một bà xẩm già lên tiếng:

- Thằng con tôi nó giấu trong mình nó ba cây và trốn ở lại trong hầm cá của chiếc tàu hồi trưa rồi.

 Tôi hỏi bà xẩm già:

- Tại sao con bà trốn lại trong hầm cá?

- Với ba cây mà nó giấu trong mình, nó sẽ đưa cho tàu đó để được đưa vào bờ.

Khoảng thời gian ba tháng trên đảo, ngày tôi đi định cư, Cao Ủy tị nạn vẫn chưa có tin tức gì về người con của bà xẩm già.

Ngày trôi thứ mười lăm.

Từ sáng sớm, một vài người thanh niên đã tự động nổi lửa khi nhìn thấy từ xa một chiếc tàu đang kéo lưới. Khi chiếc tàu đến gần thì những người thanh niên đến đánh thức anh Cương và tôi dậy. Chiếc tàu đang kéo lưới đã quăng dây qua cho chúng tôi để chúng tôi cột chặt vào ghe. Chiếc tàu chạy trước kéo lưới và kéo theo chiếc ghe của chúng tôi. Ông thuyền trưởng của chiếc tàu có lẽ là người Trung Hoa. Ông cũng quấn xà rông. Ông đứng khoanh tay nhìn chúng tôi một lúc rồi ra dấu cho hai người bơi qua tàu của ông. Ông dẫn hai người đó vào nhà bếp và chỉ cho hai người chỗ nấu cơm để nấu cho tất cả người trên ghe của chúng tôi ăn. Ông cũng cho kêu thêm hai người nữa qua tàu ông để chuyền nước về ghe đồng thời ông cũng liệng qua ghe những lon thuốc lá thơm. Hơn mười ngày không được hút, chúng tôi đã “rít” những hơi thuốc cho thật đầy lồng phổi. Có vài người đã... nằm thẳng cẳng vì quá say thuốc.

Khi những thùng cơm và cá đã được chuyển qua ghe của chúng tôi. Ông thuyền trưởng tốt bụng vẫy tay ra dấu từ giã chúng tôi rồi cắt dây và cho tàu chạy thẳng ra khơi.

Chiều cùng ngày hôm đó, một chiếc tàu cướp chạy về hướng chúng tôi. Lại cướp và hãm hiếp! Đến khuya thì bọn cướp bỏ đi sau khi cũng cho gạo, cá và... nam!

Ngày trôi thứ mười sáu.

Chiều hôm nay chúng tôi nhìn thấy từ xa có một lằn ngang dài thật nhỏ màu vàng. Chúng tôi với những con mắt không còn trong sáng, không còn tinh anh nữa nên không biết đó là cái lằn gì. Bao nhiêu sự suy đoán được đưa ra với nhiều hy vọng.

Đang nhìn về phía trước để bàn tán nên không một ai để ý có một chiếc tàu cướp từ phía sau đã đến gần ghe của chúng tôi. Những người trên chiếc tàu này cố làm ra vẻ hiền lành và thân thiện. Người thuyền trưởng của chiếc tàu đó nói với anh Cương là hắn chỉ cần có hai (2) lượng vàng thôi thì khi đêm xuống hắn sẽ kéo chiếc ghe của chúng tôi vào bờ. Ông ta cố làm ra vẻ thật thà khi nói với anh Cương:

- Khi vào đến bờ rồi thì nhớ đừng khai là tàu tôi kéo nhé, nếu tiết lộ thì tôi sẽ bị bắt đó.

Người Quốc Gia của chúng ta dù sao cũng là những con người lương thiện! Vì bản chất lương thiện nên mới bị gạt năm Mậu-Thân và sau đó là... một tháng học tập. Qua lời nói và thái độ quả quyết của anh Phan-Chánh-Cương, mọi người chỉ trong có mười phút đã gom góp đủ số vàng mà tên thuyền trưởng đòi hỏi. Sau khi anh Cương thông báo đã gom đủ số. Tên thuyền trưởng nói là cứ giữ ở đó để khi vào gần bờ thì giao cho hắn.

Năm giờ sáng ngày trôi thứ mười bảy.

Cô gái Huế tốt nghiệp đại học môn Anh văn là người từ đầu đã chiếm một chỗ nằm trước mũi ghe, nơi để thùng chứa nước nguyên thủy của chiếc ghe. Tại nơi đó, cô đã giấu được những món nữ trang mà bọn cướp không thể nào tìm ra được. Tin ở sự quả quyết của anh Cương, cô gái Huế đã đóng góp ba chỉ vàng. Sáng sớm hôm nay khi thấy chiếc tàu cướp quăng giây qua chiếc ghe, cô nhìn đồng hồ mà cô còn giữ được. Cô nghĩ: “Tại sao tụi này không kéo vào ban đêm như tụi nó lo sợ mà lại kéo vào lúc này? Hay là... ” Vừa khi cất giấu xong cái đồng hồ và những món nữ trang thì bọn người trên chiếc tàu cướp kia, lúc này không còn một chút gì là thân thiện nữa. Bọn chúng nhảy qua ghe của chúng tôi và bọn chúng bắt anh Cương đưa vàng rồi thẳng tay đánh đập tất cả mọi người để mong lấy thêm vàng. Bọn chúng đang cướp phá thì từ bên tàu của bọn chúng có một tên chạy ra nói gì đó và tất cả bọn cướp đang ở bên ghe của chúng tôi lập tức nhảy hết xuống biển lội qua tàu của bọn chúng và chạy mất.

A! Cái lằn màu vàng mà mọi người thấy hôm qua, bây giờ đã hiện ra rõ ràng hơn, đó là dãy cát của bờ biển.

Mười giờ sáng ngày trôi thứ mười bảy.

Dãy cát đã hiện ra rất rõ ràng. Anh Cương cho biết đây là bờ biển của Mã-Lai chứ không thể của Thái-Lan được. Thôi thì của nước nào cũng được miễn là đừng của Việt-Nam là vui rồi. Tất cả mọi người hầu như đã lên hết trên sàn ghe. Có những chiếc xuồng nhỏ của những người dân đi câu cá chạy ngang qua ghe của chúng tôi và còn vẫy tay chào rất là... thân thiện.

Mười một giờ ba mươi ngày trôi thứ mười bảy.

Từ trên trời cao có một chiếc trực thăng từ xa bay đến lượn hai vòng trên ghe của chúng tôi và rồi nó đáp xuống một trại binh nằm cạnh bờ biển cách đó không xa lắm.

Mười hai giờ ba mươi phút ngày trôi thứ mười bảy.

Đúng mười hai giờ ba mươi phút của ngày trôi thứ mười bảy, chiếc ghe của chúng tôi... bị mắc cạn trên bờ biển của Mã-Lai-Á. Tôi là người sau cùng lên bờ. Vì ảnh hưởng vật lý của những ngày trên ghe nên khi chạy được vài bước là tôi bị té nằm sóng soài trên bãi cát. Những người đàn ông lúc này cũng đã lên hết trên bãi cát. Một số đang lo cho những người phụ nữ vì họ không còn đủ sức để bước đi nữa. Họ nằm nửa người trên cát nửa người dưới nước. Nhìn những người đàn bà đó bây giờ trông chẳng khác gì những bộ xương cách trí mà ngày còn cắp sách đến trường học sinh nào cũng nhìn thấy và học qua. Họ tiều tụy quá sức. Nhiều người không còn sức để đứng lên và bước đi… Nhưng, chính những con người đáng thương đó đã hy sinh, đã chịu đựng tủi nhục để tất cả mọi người trên ghe có được miếng ăn để có sức sống cho đến ngày hôm nay.

*
Cuộc chiến ý thức hệ do miền Bắc chủ xướng với vũ khí của Nga Tàu đã ngưng từ lâu, nhưng, cuộc chiến vẫn chưa tàn. Thời gian trôi qua nhanh như mũi tên bay, vậy mà giờ đây trên quê hương Việt-Nam thân yêu vẫn còn cảnh đói nghèo và bất công. Người Việt-Nam vẫn phải tìm đủ mọi cách để rời bỏ xóm làng, rời bỏ ruộng đồng, rời xa nơi chôn nhau cắt rún... để tìm sự sống nơi xứ người. Nhưng, người Việt-Nam thì vẫn còn chia rẽ và hận thù mà chỉ khi nào cái đảng cộng sản man rợ trong nước không còn nữa thì người Việt Nam mới hết thù hận và hết chia rẽ!

Giờ đây một trăm lẻ chín người trên chiếc ghe mang bảng số SS 1505 IA hiện đang ở đâu trên khắp quả địa cầu này? Những ai còn và những ai đã ra đi vĩnh viễn?

Chúng ta rồi đây lần lượt cũng sẽ mất tất cả!

Mất gì ?

Chắc Chắn Một Điều, Chúng Ta Sẽ Không Bao Giờ Để Mất Quê Hương và, Mất Tình Người Việt Nam. /.


Topa (Hòa-Lan)

Blog Archive