Showing posts with label Lê Duy San. Show all posts
Showing posts with label Lê Duy San. Show all posts

Wednesday, September 25, 2019

Việt cộng là bọn lính đánh thuê 

Ls. Lê Duy San 

Trong chiến tranh Việt Nam, bọn Cộng Sản Hà Nội tuyên truyền rằng lính Việt Nam Cộng Hòa là lính đánh thuê cho Mỹ vì chính Mỹ đã trả lương cho lính Việt Nam Cộng Hòa để đánh lại Quân Đội Nhân Dân của Hà Nội. Sự tuyên truyền này của Việt Cộng không phải chỉ có người dân quê ít học mới tin, mà ngay cả một số lớn sinh viên, trí thức cũng tin theo. Nhục nhất là ngay cả Nguyễn Cao Kỳ, một tướng lãnh của Việt Nam Cộng Hòa, đã từng làm Chủ Tịch Ủy ban Hành Pháp Trung Ương, một chức vụ như Thủ Tướng và Phó Tổng Thống thời đệ nhị VNCH cũng không ngượng miệng khi tuyên bố rằng quân đội VNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.

Tháng 8 năm 1965, tại cuộc họp Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, gồm cả miền Nam Việt Nam, Thailand, Miến Điện, Malaysia, Singapore... Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy”.

Gần đây, chúng ta lại thấy ở Việt Nam có một đền thờ to lớn thờ tên Việt Cộng Lê Duẩn mà trên cổng chính của đền thờ có khẩu hiệu như sau: “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”

Vậy thì ai là linh đánh thuê? Quân Đội VNCH hay Quân Đội Nhân Dân của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam?

Đền thờ Lê Duẩn, Thủ Lãnh bọn lính Việt Cộng đánh thuê

I/ Lính đánh thuê là lính gì?

Lính đánh thuê là những người được một nhóm người hay chính phủ của một nước thuê mướn để tham gia vào một cuộc xung đột vũ trang ở trong nước  của họ hoặc để tham chiến ở một  nước khác là thuộc địa của chính phủ nước thuê mướn. Lính đánh thuê có thể là các loại cựu quân nhân hoặc người thường do của các công ty chuyện đào tạo lính đánh thuê cung cấp. Lính đánh thuê cũng có thể là quân nhân thuộc biên chế chính thức của một nước. Ngày nay, hầu hết lính đánh thuê đều do các công ty quản lý và họ được thuê từ các chính phủ cần dẹp phiến loạn, hoặc để ổn định tình thế tại một khu vực quan trọng nào đó trong nước mà chính quân đội của họ không làm được. Lính đánh thuê thường không tham gia kiểu đánh quy mô mà thường chỉ đi từng nhóm nhỏ vàđược dùng để chiến đấu trong những sứ mạng đặc biệt.

Trong lịch sử quân sự thế giới, những đội quân đánh thuê xuất hiện từ rất sớm. Thời đế quốc La Mã đã có các binh đoàn lính đánh thuê người Sparta. Tại Pháp, việc tuyển mộ lính đánh thuê người nước ngoài đã có từ thế kỷ 12 dưới triều vua Philippe Auguste dưới hình thức “những đại đội tự do”. Đội quân Lê dương Pháp ra đời năm 1831 là đội quân đánh thuê chuyên nghiệp, nhưng nó có đặc điểm riêng là ra đời nhằm phục vụ những cuộc chiến tranh xâm lược và bảo vệ những thuộc địa của Pháp.

II/ Quân đội VNCH hay Quân đội Nhân Dân là lính đánh thuê?

Ngày 7-7-1954, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm về nước. Ngày 24/9/1954 Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thành lập nội các. Nội các của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm gồm có:

- Ngô Đình Diệm, Thủ Tướng kiêm Nội Vụ và Quốc Phòng,
- Trần Văn Chương, Quốc Vụ Khanh,
- Trần Văn Đỗ, Tổng Trưởng Ngoại Giao,
- Trần Văn Của, Tổng Trưởng Tài Chánh và Kinh Tế,
- Nguyễn Tăng Nguyên, Tổng Trưởng Lao Động và Thanh Niên,
- Trần văn Bạch, Tổng Trưởng Công Chính,
- Phạm Hữu Chương, Tổng Trưởng Y Tế và Xã Hội,
- Phan Khắc Sửu, Tổng Trưởng Canh Nông,
- Nguyễn Dương Đôn, Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục,
- Trần Chánh Thành, Bộ trưởng Phủ Thủ Tướng,
- Lê Quang Luật, Thông Tin,
- Phạm Duy Khiêm, Công vụ Phủ Thủ Tướng,
- Nguyễn Ngọc Thơ, Nội Vụ,
- Lê Ngọc Chấn, Quốc Phòng,
- Hồ Thông Minh, Thứ Trưởng Quốc Phòng,
- Bùi Văn Thinh, Tư Pháp,
- Nguyễn Văn Thoại, Kinh Tế,

Năm 1955, Quân đội Pháp hòan tòan rút ra khỏi miền Nam Việt Nam và trao trả hoàn toàn chủ quyền độc lập cho VN. Ngày 26-10-1956 nước VIỆT NAM CỘNG HOÀ ra đời và được Hoa Kỳ cũng như các nước trong thế giới tự do công nhận.

Hoa Kỳ viện trợ cho VNCH vì muốn giúp cho miền Nam VN đủ sức chống lại sự bành trướng của Cộng Sản và bảo vệ nền độc lập cùng lý tưởng tự do cho miền Nam Việt Nam.  VNCH không phải là thuộc địa của Hoa Kỳ vì thế nói quân đội VNCH là lính đánh thuê cho Hoa Kỳ là hòan tòan không đúng. VNCH cũng không hề được Hoa Kỳ yêu cầu đem quân đội tới Hoa Kỳ để ổn định tình thế tại một khu vực nào tại Hoa Kỳ hay chiến đấu tại một nước nào thuộc quyền kiểm soát của Hoa Kỳ.

Hơn nữa, năm 1974, Trung Cộng đánh chiếm Hòang Sa của Việt Nam, Hải quân VNCH đã anh dũng chống trả, nhưng bọn Việt Cộng Hà Nội cũng không hề lên tiếng phản đối.
  
Vậy không thể nói quân đội VNCH là lính đánh thuê cho Mỹ. Chỉ có bọn bọn Việt Cộng, bọn Việt Gian Cộng Sản và bọn người vô ý thức, trong đó có ông Nguyễn Cao Kỳ mới nói như vậy.

Hai tên Thủ Lãnh bọn lính đánh thuê Việt Cộng: Hồ chí Minh và Lê Duẩn

Trái lại, quân đội nhân dân của bọn Việt Cộng Hà Nội nghe theo quan thầy Liên Sô, Trung Cộng xâm chiếm miền Nam VN tức VNCH không phải là để bảo vệ lãnh thổ mà là để thi hành nghĩa vụ quốc tế của đảng Cộng Sản Nga Tầu. Chính Lê Duẩn, nguyên Tổng Bí Thư của đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói: “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc” và “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại. Năm 1976 Lê Duẫn ngang nhiên áp đặt Chủ Nghĩa Cộng Sản lên đầu toàn dân VN, đổi tên đảng Lao Động (lừa bịp dân lúc trước vì dân không thích cộng sản) thành đảng Cộng Sản Việt Nam. Lê Duẩn nói “Ta đã thành công trong việc cắm lá cờ Mác-Lê trên toàn cõi Việt Nam”.
             
Trong một bài phân tích về “ Tổ Quốc Ghi Ơn hay Tổ Quốc Ghi Công”, ông Đặng Xương Hùng,  một cựu Tham Vụ Ngoại Giao của Toà Đại Sứ Việt Cộng tại Thụy Sĩ, đã từ bỏ thiên đường CSVN để xin tỵ nạn tại Thuỵ Sĩ viết:
            
Trên bia mộ của những người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là “Tổ quốc ghi ơn” thì bên phía quân đội cộng sản (QĐCS) lại ghi là “Tổ quốc ghi công”. Có gì khác biệt không? Nếu nhìn sơ qua thì không có gì cả. Còn nếu nghiên cứu tiếng Việt thì nó lại khác. Trong tiếng Việt thì “công” và “ơn” khác nhau hoàn toàn. Công mô tả người ta thuê ai đó làm việc thuê cho chủ và được trả công. Nó đơn  thuần là chuyện mua bán, làm thuê và trả thù lao sòng phẳng, không có ơn nghĩa gì cả. Trong khi đó Ơn lại là một khái niệm rất sâu: ơn nghĩa, ân tình. Mà ân tình  và ân nghĩa không thể trả bằng thù lao vật chất được. Đó là ơn nghĩa sâu nặng mãi mãi.
            
Rõ ràng chỉ cần hai sự so sánh đó đã thấy nhà Quốc gia VNCH tôn trọng người lính hy sinh vì nước đến mức nào, trong khi đó nhà cầm quyền cộng sản lại coi người  lính quân đội QĐCS chỉ là quân đánh thuê cho đảng, chết rồi thì trả công mà thôi. Vì thế mà cũng không có lạ khi QĐCS có tôn chỉ “trung với đảng” đầu tiên, trong khi đó những người lính VNCH lại đặt tổ quốc lên hết với khẩu hiệu “Tổ quốc, danh dự, trách nhiệm”.
 
Tóm lại, rõ ràng “quân đội Nhân Dân” của bọn Việt Cộng Hà Nội là lính đánh thuê cho Liên Xô, cho Trung Quốc đúng như lời Lê Duẩn, Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói.   Lời nói đó đi vào lịch sử và đã để lại ô nhục ngàn năm cho   đảng CSVN và cho chính Lê Duẩn. Lời nói của Lê Duẩn, Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói lên bản chất và mục tiêu thực sự của cuộc chiến Việt Nam không phải là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam” như bọn Việt Cộng đã rêu rao mà chỉ là một cuộc chiến ý thức hệ. Bọn Việt Cộng đánh cho Liên Xô để bành trướng đế quốc CS khắp toàn cầu theo chủ trương của Cộng Sản quốc tế. Ðánh cho Trung Cộng để mở rộng bờ cõi Ðại Hán xuống khắp vùng Ðông Nam Á theo ý đồ của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ðoàn quân dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN rốt cuộc chỉ là một bọn lính đánh thuê không hơn, không kém. Vì thế khi cưỡng chiếm được miền Nam Việt Nam, chúng đã hiện nguyên hình là một bọn ăn cướp. Cướp cho bõ những năm tháng thiếu thốn tại miền Bắc vì phải dồn sức cho cuộc chiến miền Nam. Cướp cho bõ những tháng ngày đói khổ trong các cánh rừng xâu thẳm hay trên dãy Trường Sơn cao vút, chỉ sống bằng những khẩu hiệu hoang đường hay những hứa hẹn viển vông.

Đúng lý ra thì những của cải cướp được này, nhất là 17 tấn vàng của ngân hàng Quốc Gia Việt Nam, bọn Việt Cộng phải trao cho quan thầy của chúng là Liên Sô và Trung cộng. Nhưng bọn chúng đã chia nhau tẩu tán. Vì thế, Trung Cộng đã phải dậy cho chúng một bài học vào năm 1979 trong trận chiến biên giới Việt Trung và 1988 trong trận hải chiến Hòang Sa. Đây cũng là một bài học cho bọn lính đánh thuê nói chung và bọn Việt Cộng nói riêng; đừng tưởng rằng sau khi chiến thắng thì có thể quên thân phận kẻ đánh thuê của mình và muốn làm gì thì làm.

Thật tội nghiệp cho những người lính thuộc “Quân Đội Nhân Dân” của cái gọi là “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” hay “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, xung phong vào bộ đội, vượt dẫy Trường Sơn để làm cái nhiệm vụ do bọn Việt Cộng đầu sỏ tuyên truyền là “giải phóng miền Nam” cho đến lúc chết cũng không biết mình chỉ là tên lính đánh thuê cho Liên Sô và Trung cộng.         

Lê Duy San

Friday, April 5, 2019

Tại sao chúng ta để mất miền Nam cho cộng sản?

Ls. Lê Duy San

            Cuộc chiến Việt Nam mặc dầu đã được kết thúc trên ba chục năm nay, nhưng nhiều người vẫn còn tự hỏi: “Quân đội của chúng ta hùng mạnh như vậy, tinh thần chiến đấu của quân đội chúng ta cao như vậy, nhiều quân nhân còn xâm chữ “Sát Cộng” vào cánh tay, còn đồng bào ta thì sợ Việt Cộng như sợ cùi, sợ hủi. Bọn chúng tới đâu là đồng bào ta bỏ chạy khỏi đó. Vậy mà tại sao chúng ta lại thua cộng sản ?

Đành rằng nguyên nhân chính và trực tiếp vẫn là vì chúng ta bị đồng minh, tức Hoa Kỳ bỏ rơi trong đó có sự góp tay của bọn truyền thông dân chủ thổ tả. Nhưng còn nguyên nhân sâu xa là gì? Đã có rất nhiều chính trị gia, chiến lược gia, sử gia Việt Nam cũng như ngoại quốc đã đưa ra rất nhiều lý do, nhưng chưa thấy một tác giả nào nói tới lý do nhân đạoluật pháp và tinh thần của nhân dân miền Nam Việt Nam.

1/ Vì chính quyền VNCH quá nhân đạo.

Vì nhân đạo, chúng ta không thể bắt chước cộng sản, “thà giết lầm còn hơn tha lầm”. Bắt được những tên cộng sản, những tên Việt gian, những tên ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản, chúng ta vẫn đối xử nhận đạo. Hẳn chúng ta còn nhớ, vào năm 1955-1956, một phong trào mang tên là Phong Trào Hòa Bình do các ông Phạm Huy Thông, Lưu Văn Lang, Trần Kim Quan v.v…thành lập. Đây là một phong trào thiên Cộng hoạt  động với mục đích hỗ trợ cho Việt Cộng và đòi Tổng Tuyển Cử theo Hiệp định Genève 1954, chính phủ Ngô Đình Diệm cũng chỉ tống xuất một vài tên qua cầu Hiền Lương ra Bắc. Năm 1957, Hà Minh Trí bị bắt vì ám sát hụt Tổng Thống Ngô Dình Diệm ở Ban Mê Thuột cũng như Phạm Phú Quốc bị bắt sau khi lái máy bay bỏ bom dinh Độc Lập vào năm 1961, tội đáng tử hình, nhưng cả hai cũng chỉ bị phạt tù. 

Đầu năm 1965, một phong trào khác mang tên tương tự là “Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Hòa Bình” do những tên Việt gian, ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản thành lập như Thượng tọa Thích Quảng Liên, bác sĩ Thú Y Phạm Văn Huyến, nhà báo Phi Bằng tức Cao Minh Chiếm, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, bác sĩ Lê Khắc Quyến v.v.. Gần 30 thành viên của phong trào này đã bị bắt giữ, trong đó có Cao Minh Chiếm, Tôn Thất Dương Kỵ và Phạm Văn Huyến. Tướng Nguyễn Chánh Thi đã đề nghị thả dù bọn này ra bắc vĩ tuyến 17 tức bên kia cầu Hiền Lương cho Việt Cộng. Nhưng Thủ Tướng Phan Huy Quát cũng chỉ vì lý do nhân đạo, sợ làm như vậy bọn chúng có thể gẫy chân, què tay vì bọn chúng đâu biết nhẩy dù, nên đã lấy cớ rằng làm như vậy, quốc tế sẽ chỉ trích, và chỉ đồng ý giải giao bọn chúng cho Việt Cộng bằng đường bộ qua cầu Hiền Lương.

Ngay cả quân đội Việt Nam Cộng Hoà cũng vây, khi hành quân cũng như khi lâm trận, họ luôn luôn bảo vệ dân. Họ không bao giờ bắn vào dân dù họ biết là bọn Việt Cộng đang núp ở trong đó. Trái lại, bọn Việt Cộng luôn luôn dùng dân làm bia đỡ đạn. Chúng sẵn sàng nã đạn giết dân nếu chúng biết có quân đội Việt Nam Cộng Hòa lẫn trong đó. Đối với chúng, “Thà giết lầm, dù giết lầm cả trăm, cả ngàn người vô tội, còn hơn thả lầm một người có tội”. Vì thế chúng ta không lấy làm lạ trong suốt cuộc chiến Việt Nam, bọn Việt Cộng đã thực hiện không biết là bao nhiêu cuộc thảm sát tập thể những người dân Việt Nam hiền lành vô tội.

Bọn Việt cộng mở miệng ra nói là thấy tuyền tuyên truyền giả dối, đối đáp thì ngụy biện, vô học, nếp sống thì tàn ác, vô đạo đức. Vậy mà chẳng thấy ai nói gì. Trái lại, nếu có ai vì chống cộng nói sai một chút, nói quá lời một câu, mà đâu có phải nói họ mà chỉ là nói bọn Việt cộng hoăc bọn Việt gian cộng sản là bị chỉ trích, bị phê bình liền, có khi còn bị mạ lỵ. Bọn người này, không biết họ thuộc loại nào? Có thể họ là bọn Việt cộng nằm vùng, có thể họ là bọn Việt gian cộng sản, nhưng cũng có thể chỉ vì cảm tình cá nhân nên đã bênh vực nhau.Nói ra họ lại la làng là bị chụp mũ . Có điều chắc chắn là không bao giờ thấy họ viết một bài nào chống cộng. Hoặc nếu có thì cũng chỉ  hời hợt hoặc vô thưởng, vô phạt  để chứng tỏ ta đây cũng là người chống cộng. Còn những bài viết chỉ trích những người chống cộng thì họ phê bình chỉ trích tới nơi, tới chốn.

2/ Vì luật pháp quá khoan hồng.

Vì tôn trọng luật pháp, chúng ta có bắt được Việt Cộng, chúng ta cũng không thể cho chúng mò tôm, bắt ốc như bọn cộng sản đã làm đối với những người quốc gia trong thời chiến tranh. Chúng ta phải đưa chúng ra tòa để xét xử theo luật pháp. Dù chúng có tội thì cũng chỉ giam giữ ít lâu rồi lại thả ra. Trường hợp phạt chúng tội tử hình, thật là hiếm. Không những thế, nhiều khi còn để tình cảm lấn át. Do đó có những trường hợp kẻ bị bắt có thế lực hoặc có liên hệ với các ông lớn trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa được can thiệp và cho tại ngoại ngay từ lúc mới bị bắt hoặc được cho biết trước để mà chạy trốn hoặc phi tang chứng cớ.

Trường hợp 1: Giáo Sư Nguyễn Đình Ngọc (1) Ông Ngọc có hoạt động cho Việt Cộng nên bị an ninh bắt. Ông Nguyễn Chung Tú, Khoa Trưởng trường Đại Học Khoa Học Saigon đã lấy tư cách và uy tín của mình để bảo lãnh cho ông ta. Vì thế, ông Ngọc không những đã được tại ngoại mà cũng chẳng phải ra toà lãnh án.

Trường hợp thứ 2: Trần Đình Minh, cán bộ xã Hải Nhuận, thuộc quận Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên, một Việt cộng nằm vùng. Tháng 5 năm 1972 (mùa hè đỏ lửa), để ngăn chận cuộc tổng nổi dậy của Cộng quân tại Huế, Thiếu Tá Liên Thành, Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên đã mở cuộc hành quân gọi là Chiến Dịch Bình Minh và đã bắt giữ khoảng 1.500 Việt cộng và nội tuyến trong đó có Trần Đình Minh. Chỉ mấy ngày sau khi Trần Đình Minh bị bắt, Thiếu Tá Liên Thành đã nhận được điện thoại của Đại Tá Dương Quang Tiếp Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Vùng I, ra lệnh thả Trần Đình Minh. Lý do là vì Ủy Viên Chính Phủ Tòa án Quân Sự Mặt Trận Vùng I Chiến Thuật, Trung Tá Cao Chánh Hựu là bạn thân của Đại Tá Dương Quang Tiếp đứng ra làm giấy bảo lãnh cho Trần Đình Minh.

Trường hợp thứ 3: Nguyễn Ngọc Lương. Ông Tạ Quang Khôi cho biết: “Lương là một cán bộ cộng sản được gài vào Nam theo cuộc di cư năm 1954. Sau Lương được nhận vào đài phát thanh Saigon làm biên tập viên phòng bình luận. Lương bị công an bắt, không phải một lần mà nhiều lần. Nhưng không hiểu sao công an bắt rồi thả mà không giam giữ luôn trong tù hoặc đưa ra tòa xét xử dù biết chắc ông hoạt động cho cộng sản? Không những thế, ông Tổng Giám Đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh còn vào khám thăm Lương mỗi khi y bị bắt.

Trường hợp thứ 4: Nhà văn Vũ Hạnh (2), tên thật là Nguyễn Đức Dũng sinh năm 1926 tại Quảng Nam. Ông là cán bộ văn hoá khu ủy Sài Gòn-Gia Định. Ông Hạnh bị bắt 5 lần, nhưng lần nào cũng có người bảo lãnh cho tại ngoại. Người bảo lãnh sau cùng cho Vũ Hạnh là Linh Mục Thanh Lãng, Chủ tịch Hội Văn Bút. 

Vụ Têt Mậu Thân năm 1968, không thiếu gì những tên Việt cộng giết người một cách dã man, một cách vô tội vạ, giết người hàng loạt. Vậy mà bọn chúng đâu có bị ai đưa ra tòa? Còn chúng ta, nếu vì quá tức giận trước những hành động quá độc ác, qúa dã man của bọn chúng mà tự ý giết chúng, thì dù có lý do chính đáng đến đâu cũng vẫn bị kết tội là dã man, là vô nhân đạo. Nếu không bị đưa ra tòa thì cũng bị nhiều người phê bình và thế giới nguyền rủa. Đó là trường hợp của tướng Nguyễn Ngọc Loan đã xử tử tên Việt cộng Nguyễn Văn Lém tự Bẩy Lốp, kẻ đã sát hại cả gia đình một sĩ quan cảnh sát vào Tết Mậu Thân 1968.

3/ Vì thiếu đoàn kết và không có tinh thần chống Cộng.

Ngày 24-9-1954, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, thừa ủy nhiệm Quốc trưởng Bảo Đại, ký Sắc lệnh số 94-CP cải tổ nội các. Nhiều chính trị gia tên tuổi đã tham gia (3). Nhưng khi biết tướng Nguyễn Văn Hinh (thân Pháp) muốn lật đổ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, họ sợ ông Diệm mất chức sẽ ảnh hưởng tới số phận của họ, nên một số người đã từ chức gây điêu đứng cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Sau  khi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm vượt qua được cơn sóng gió, tống cổ được Nguyễn Văn Hinh ra khỏi nước và thiết lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa thì cùng lúccác đảng phái quốc gia nói riêng, giới chính trị gia miền Nam nói chung, vì thiếu tinh thần đoàn kết và ý thức quốc gia, đã đặt quyền lợi của đảng phái, của phe nhóm lên trên quyền lợi của quốc gia dân tộc. Họ tìm cách đả phá, chỉ trích chính quyền và đòi hỏi những điều chính quyền không thể thỏa mãi họ được. Họ không cần biết là Việt cộng luôn luôn tìm cách lợi dụng những sự bất an và xáo trộn của xã hội để phá hoại miền Nam Việt Nam. Dân chúng thì thờ ơ với việc chống cộng. Nhiều người còn nuôi dưỡng, giúp đỡ hoặc che dấu Việt cộng trong nhà.  

Họ đã gây ra cuộc đảo chính bất thành ngày 11/11/1960 mà trong đó nhóm Tự Do Tiến Bộ, còn gọi là Nhóm Caravelle, chủ xướng. Vụ 2 phi công VNCH Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc ném bom Dinh Độc Lập ngày 27/2/1962 do Đại Việt Quốc Dân Đảng chủ mưu. Những sự kiện này đã làm cho người Mỹ không còn tin tưởng vào chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, dẫn tới cuộc đảo chính ngày 1/11/1963.

Nếu cho rằng trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa, các chính trị gia, các đảng phái quốc gia đã không có cơ hội để thi thố tài năng thì trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa, họ đã có cơ hội, nhưng họ đã làm được gì hay cũng chỉ phá hoại? Phá hoại hết tất cả những gì mà nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã xây dựng được? Hết nội các Nguyễn Ngọc Thơ (11/63-1/64), nội các Trần Văn Hương (8/64-10/64), đến nội các Phan Huy Quát (2/65–6/65), không nội các nào thọ được hơn 4 tháng và dĩ nhiên cũng chẳng ai làm được trò trống gì. Để rồi lại phải trao quyền cho quân đội để trở lại vai trò chỉ trích và quậy phá.

Không biết bao nhiêu là cuộc biểu tình, xuống đường để gây rối cho miền Nam, làm lợi cho Việt cộng, và làm nản lòng người Mỹ. Nào là phong trào đấu tranh của ký giả miền Nam Việt Nam tục gọi là “Phong trào ký giả đi ăn mày”, Phong trào đòi quyền sống của luật sư Ngô Bá Thành, Phong trào bài trừ tham nhũng và đòi hỏi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức của linh mục Trần Hữu Thanh, Ủy ban Bảo vệ Quyền lợi Lao động của linh mục hốt rác Phan Khắc Từ, linh mục Trương Bá Cần, linh mục Trần Thế Luân và linh mục Nguyền Ngọc Lan, Lực lượng Hòa hợp, Hòa giải Dân tộc của nhóm Ấn Quang v.v… và hơn 140 vụ xuống đường khác của bọn Việt cộng đội lốt sư sãi, xúi giục học sinh sinh viên biểu tình “chống Mỹ cứu nước”. Họ không cần biết là bọn Việt cộng đang cố tình vi phạm Hiệp định Paris và quyết tâm tiến chiếm miền Nam. Không những thế, họ còn gọi những dân biểu, thượng nghị sĩ ủng hộ chính quyền một cách vô ý thức là đám dân biểu “gia nô”, thượng nghị sĩ “gia nô”. 

 Trong cuộc chiến Triều Tiên, có lúc Bắc Hàn đã chiếm gần hết Nam Hàn, vậy mà nhờ sự quyết tâm hỗ trợ của Mỹ, Nam Hàn đã phản công và lấy lại được tất cả những vùng đất đã bị mất. Miền Nam Việt Nam còn thủ đô Saigon, còn cả vùng 4 và một phần vùng 3. Nếu Mỹ không quyết tâm ngưng viện trợ cho miền Nam Việt Nam thì chắc chắn quân đội VNCH cũng sẽ tiến chiếm lại được những vùng đã mất như đã chiếm lại được Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa 1972. Nhưng tiếc rằng chính chúng ta, hay nói cho đúng hơn, chính bọn tướng lãnh vô kỷ luật đã làm sụp đổ nền Đệ Nhất VNCH, chính bọn chính trị gia ngu dốt, chính bọn sư sãi Ấn Quang, linh mục thân cộng, chính bọn trí thức ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản, đã làm cho người Mỹ thất vọng, không còn muốn giúp chúng ta nữa. Đó là những nguyên do khiến cho miền Nam Việt Nam phải mất vào tay cộng sản.   

Ls. Lê Duy San

************

Chú thích:
        (1). Nguyễn Đình Ngọc được học bổng của chính phủ VNCH đi du học tại Pháp. Năm 1965, ông trở về và được dậy học tại Đại Học Khoa Học Saigon. Sau 1975, ông được Việt Cộng ghi nhận là có công đầu trong kế hoạch đào tạo và phát triển ngành tin học Việt Nam. Ông còn là một nhà tình báo và được phong quân hàm “Thiếu tướng Công an Nhân dân Việt Nam” giống như trường hợp của nhà báo Phạm Xuân Ẩn.

            (2). Sau năm 1975, ông Vũ Hạnh làm “Tổng thư ký Hội Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, ủy viên ban chấp hành Liên Hiệp Các Hội Văn Học Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh”. Đây là một tổ chức của đảng CS, phải theo sự chỉ đạo của đảng và Ban Tuyên Giáo Trung Ương như các hội khác thuộc về tổ chức của đảng, của nhà nước.

            (3). Đó là các ông: Trần Văn Đỗ, Tổng trưởng Bộ Ngoại giao, Bùi Văn Thinh, Tổng trưởng Bộ Tư pháp, Phạm Xuân Thái, Tổng trưởng Bộ Thông tin và Chiến tranh Tâm lý, Trần Hữu Phương,  Tổng trưởng Bộ Tài chính, Lương Trọng Tường, Tổng trưởng Bộ Kinh tế, Nguyễn Công Hầu, Tổng trưởng Bộ Canh nông, Trần Văn Bạch, Tổng trưởng Bộ Công chính, Nguyễn Văn Thoại, Tổng trưởng Bộ Kế hoạch và Kiến thiết, Huỳnh Kim Hữu, Tổng trưởng Bộ Y tế, Nguyễn Dương Đôn, Tổng trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục, Nguyễn Mạnh Bảo, Tổng trưởng Bộ Xã hội, Nguyễn Đức Thuận, Tổng trưởng Bộ Cải cách, Nguyễn Tăng Nguyên, Tổng trưởng Bộ Lao động, Hồ Thông Minh, Tổng trưởng phụ tá Quốc phòng, Trần Ngọc Liên, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, đặc nhiệm Công vụ, Phạm Duy Khiêm, Bộ trưởng đặc nhiệm tại Phủ Thủ tướng, Bùi Kiện Tín, Bộ trưởng đặc nhiệm tại Phủ Thủ tướng, Huỳnh Văn Nhiệm, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Nguyễn Văn Cát, Thứ trưởng Bộ Nội vụ.

Sunday, March 3, 2019

Nghệ thuật đàm phán của TT Trump qua Hội Nghị Thượng Đỉnh Mỹ Triều tại Hà Nội vào ngày 27 và 28/2/2019

Lê Duy San

Résultats de recherche d'images pour « Hinh Ong Trump bat tay voi kim jong un »
Vào năm 1987, ông Donald Trump có viết một cuốn sách nhan đề “Nghệ thuật đàm phán” trong đó có một phần nói về phương cách để trở thành một người đàm phán xuất sắc.  Cuốn sách này đã trở thành một cuốn sách bán chạy nhất tại Mỹ.
Ông Hoàng Vũ, trong bài “Nghệ Thuật Đàm Phán theo cách của ông Donald Trump”, có liệt kê 11 nguyên tắc đàm phán của ông Donald Trump như sau:
1/ Nghĩ lớn.
2/ bảo vệ yếu điểm và điểm mạnh sẽ tự lo liệu được cho chính nó.
3/ Tối đa hoá sự lưạ chọn.
4/ Biết rõ thị trường.
5/ Sử dụng đòn bẩy.
6/ Nâng cao vị thế.
7/ Lan truyền tin tức.
8/ Phản đòn.
9/ Cung cấp sản phẩm tốt.
10/ Tiết kiệm chi phí.
11/ Hãy vui vẻ.
Dĩ nhiên trong mỗi nguyên tắc, ông Donald Trump có nói Người Đàm Phán phải làm gì. Nhưng dù sao nó cũng chỉ là nguyên tắc mà thôi. Thành công hay thất bại vẫn là tùy thuộc vào chính tài năng của người đàm phán.
Trong Hội Nghị Thượng Đỉnh Mỹ Triều vào 2 ngày 27 và 28 tháng 2 năm 2019 tại Hà Nội, chúng ta đã thấy nghệ thuật đàm phán của ông Tổng Thống Donald Trump như thế nào?
1/ Tung hỏa mù để cho đối phương hiểu lầm về mong uớc của mình.
2/ Tâng bốc đối phương để đối phương lầm tưởng là mình cần họ.
3/ Khi thấy không thể thương thảo với đối phương thì chấm dứt ngay, không tương nhượng.                                                                                                                                                                                                Résultats de recherche d'images pour « Hinh Ong Trump bat tay voi kim jong un »
I/ Tung hoả mù để cho đối phương hiểu lầm về mong ước của minh.
Trước ngày hội nghị bắt đầu, Tổng Thống Donald Trump cho tung tin ông nhờ Thủ Tướng Nhật Bản đè nghị ông vào danh sách giải thưởng Nobel Hoà Bình để cho đối phương là Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Jong Un tưởng rằng ông rất ham cái giải thưởng này thì chắc chắn ông sẽ phải nhượng bộ để ký kết ít nhất là một bản thông cáo chung. Nhưng thực tế, Chủ Tịch đã đánh giá sai Tổng Thông Donald Trump. Đối với ông Trump cái giải thưởng Nobel Hoà Binh chỉ là hữu danh vô thực và chỉ những kẻ vô tài bất tướng mới ham nó mà thôi.
II/ Tâng bốc đối phương để đối phương lầm tưởng là minh cần họ.
Thông thường trong bất kỳ một cuộc đàm phán nào, nếu mình muốn thắng đối phương hay ít nhất không muốn bị thiết thòi, mình phải tỏ ra mình không cần đối phương.
Trước hội nghị Mỹ Bắc Hàn lần trước tại Singapore vào tháng 6/2018, ông Donald Trump đã nhiều lần lên tiếng và nhăc nhở Bắc Hàn là người cần cuộc găp gỡ này là Kim Jong Un chứ không phải là ông ta. Và ông Donald Trump nói rằng: “Chúng ta có thể gặp Bắc Hàn, nếu nó không thành công thì tôi sẵn sàng bỏ đi.”.
Nhưng lần này thì lại khác hẳn, trước khi đi họp hội nghị và ngay cả khi tới họp. ông Donald Trump luôn luôn đề cao và khen ngợi Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Jong Un. Ông gọi ông Kim Jong Un nào là :”Người bạn của tôi”, là người cởi mở, có tài và đáng kính, là nhà lãnh đạo, xuất sắc, tuyệt vời, là người rất đáng kính trọng, là nhà đàm phán thông minh, mạnh mẽ, cứng rắn nhưng rất đáng tôn trọng,
Có lẽ chính vì vậy mà Chủ Tịch Kim Jong Un tưởng rằng ông Donald Trump sẽ nhượng bộ với bất cứ giá nào để có được Hiệp Ước Hoà Bình với Bắc Hàn và việc giải trừ vũ khi hạch nhân của Bắc Hàn. Về điểm này, Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Jong Un cũng đánh giá sai Tổng Thống Trump. Chính Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Jong Un cần Tổng Thống Trump vì chỉ có Tổng Thống Trump mới có thể hủy bỏ cấm vận Bắc Hàn và đây là điều Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Jong Un rất mong muốn. Còn việc giải trừ vũ khí hạch nhân thì đối với Tổng Thống Donald Trump có thì càng tốt mà không có cũng chẳng sao.
III/ Khi thấy không thể thương thảo với đối phương thì chấm dứt ngay, không tương nhượng, không luyến tiêc.
Nhưng có lẽ Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Jong Un đã quên lời Ông Donald Trumo đã nói: : “Chúng ta có thể gặp Bắc Hàn, nếu nó không thành công thì tôi sẵn sàng bỏ đi.”. Vì vậy khi ông Donald Trump thấy Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Jong Un đỏi hỏi Mỹ phải hủy bỏ hoàn toàn cấm vận Bắc Hàn trước  rồi mới nói chuyện giải trừ vũ khí hạch nhân thì Tổng hống Donald Trump đã không ngần ngại kết thúc buổi họp và bỏ đi.
Mặc dầu kết thúc buổi họp và bỏ đi để họp báo, nhưng Tổng Thống Donald Trump vẫn mở cánh cửa cho buổi họp tương lai khi đề cao mối quan hệ tốt đẹp giữa ông và nhà lãnh đạo Bắc Hàn và tỏ ra lạc quan về tương lai khi ông nói “Tôi nghĩ chúng tôi đã có hai ngày rất tuyệt vời.” và cho rằng mối quan hệ giữa ông và Chủ Tịch Kim Jong Un là “Vô cùng nồng ắm”.
Tóm lại, Hội nghị Thượng Đỉnh Mỹ Bắc Hàn đã không mang lại kết quả gì cho Bắc Hàn. Còn đối với Mỹ thì dù sao cũng dậy cho Bắc Hàn hay nói cho đúng hơn là cho Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Jong Un một bài học về đàm phán đó là “ Biết mình, biết người, trăm trận đánh, trăm trận thắng”.
Lê Duy San
 Source: © Diễn Đàn Người Dân ViệtNam

Thursday, November 22, 2018

Chống Cộng hay Không chống Cộng?

Ls. Lê Duy San 

Chúng ta là những người Việt tỵ nạn Cộng SảnNếu chúng ta không chống Cộng thì chống cái gỉ? Chống cái ÁC hả ? Bọn Việt Cộng chì mong có thế. Bởi vì cái ác thì ở đâu mà chẳng có? Ngay xứ Mỹ này cũng thiếu gì cái ÁC?

Gần đây, chúng ta thường nghe thấy một vài người nói: “Chống Cộng đã 42 năm rồi, chúng ta có làm được gì bọn Việt Cộng không mà cứ chống mãi? hay “Bọn Việt Cộng bây giờ, thằng nào cũng giầu nứt đố đổ vách, cũng nhà lầu xe hơi, không chủ khách sạn này thì cũng Giám Đốc công ty kia. Chúng đâu còn là Cộng Sản nữa mà chống? Có người còn hỏi một câu rất ư là … không biết phải dùng chữ gì cho đúng: “Gần xuống lỗ rồi…còn chống Cộng làm gì ?

Không biết những người có ý nghĩ như trên là hạng người gì ? Người Việt tỵ nạn Cộng Sản hay tỵ nạn kinh tế? Người Việt Quốc Gia hay Việt Cộng nằm vùng ? Nhưng dù sao tôi cũng cám ơn họ đã gợi hứng cho tôi để viết bài này.

1/ Chống Cộng để làm gì ?

2/ Đã 42 năm rồi, chống Cộng có đem lại được kết quả gì không ? 

I.- Chống Cộng để làm gì ?

Chúng ta, những người Việt tỵ nạn Cộng Sản, dù là di tản hay vượt biên, dù là được bảo lãnh theo diện O.D.P hay đi theo chương trình H.O, không kể con em của chúng ta, ít nhất cũng ở cái tuổi “thất thập cổ lai hi”, nghĩa là ở cái tuổi “gần xuống lỗ” rồi. Vậy còn chống Cộng để làm gì?

Chúng ta chống Cộng vì chúng ta coi việc chống Cộng là bổn phận của một người dân yêu nước. Chúng ta chống Cộng vì trái tim chứ không phải vì quyền lợi.

Chúng ta chống Cộng không phải vì chúng ta muốn làm vương, làm tướng gì khi chế độ Cộng Sản xụp đổ. Chúng ta chống Cộng cũng không phải vì chúng ta muốn được hưởng đặc quyền, đặc lợi gì hay đòi lại được gì khi chế độ Cộng Sản xụp đổ. Khi chúng ta bỏ nước ra đi là chúng ta đã bỏ hết. Ngay cái nhà của chúng ta, do công lao có khi cả mấy đời mới có, chúng ta cũng bỏ. Muốn đòi cũng khó. Bọn Việt Cộng sau khi chiếm đoạt, chúng cấp cho nhau ở rồi bán lại cho người khác. Bán đi, bán lại cả chục lần, người mua sau cùng trở thành kẻ chiếm ngụ ngay tình và hợp pháp, làm sao chúng ta đòi lại được? Con cháu của chúng ta, chúng đã có quốc tịch của nước chúng định cư. Chúng đã thành tài và có công ăn việc làm tốt ở nước định cư, chúng đâu thích trở về Việt Nam dù có được chính quyền mới đãi ngộ.

Chúng ta chống Cộng vì chúng ta không muốn người dân trong nước phải sống cực khổ và nhục nhã dưới sự cai trị vô cùng độc ác và dã man của bọn Việt Cộng. Chúng ta chống Cộng vì chúng ta muốn người dân trong nước phải nhận thức được thế nào là tự do, thế nào là dân chủ, thế nào là nhân quyền để từ đó mà vùng dậy đòi quyền sống cho chính mình, cho đồng bào cùng cảnh ngộ như mình và đòi quyền là chủ đất nước.

Vì thế, nhiệm vụ lật đổ chế độ Cộng Sản là nhiệm vụ của người dân trong nước, nhưng chúng ta có bổn phận phải giúp đỡ họ, cổ võ họ và ủng hộ họ. Chúng ta là chỗ dựa của họ. Do đó chúng ta phải chống Cộng. 

II.- Đã 42 năm rồi, chống Cộng có đem lại được kết quả gì không ?

Đã 42 năm rồi, chống Cộng có đem lại được kết quả gì không ? Lẽ dĩ nhiên phải có kết quả, nếu không chúng ta đã bỏ cuộc từ lâu.

1/ Ở Hải Ngoại.

Những cuộc biểu tình đả đảo Cộng Sản, những buổi hội thảo, hội luận hay viết bài tố cáo sự vi phạm nhân quyền hay tội ác của Cộng Sản đăng tải trên báo chí, truyền hình hay đưa lên các diễn đàn cũng như những buổi lễ tưởng niệm ngày 30/4, ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị sát hại v.v… không phải là để than khóc mà là để vạch trần tội ác của Việt Cộng, để đòi hỏi những quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tư tưởng v.v…cho những người dân trong nước đang phải chịu cảnh áp bức, cảnh lầm than đói khổ dưới chế độ Cộng Sản.

Chính vì sự chống Cộng này của chúng ta mà bọn Cộng Sản Việt Nam khi tới Mỹ, đi đến đâu cũng phải trốn lui, trốn lủi, phải luồn cửa hông, phải chui cửa hậu, phải nhờ cảnh sát Mỹ bảo vệ. Chính vì sự chống Cộng này của chúng ta mà cờ MÁU của bọn cộng sản Việt Nam, ngoi lên được cái nào là bị chúng ta giật bỏ cái đó. Trái lại, cờ VÀNG ba sọc đỏ của chúng ta thì không những luôn luôn được đồng bào chúng ta trang trọng giương cao và tung bay càng ngày càng nhiều trong các buổi sinh hoạt, hội hè. Ngay cả một số những người đã và đang sống dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam và cả những người đã từng là đảng viên cộng sản Việt Nam cũng đã thức tỉnh và mong muốn một ngày nào đó, ngọn Cờ Vàng ba Sọc Đỏ của chúng ta sẽ tung bay trở lại trên bầu trời Việt Nam. Chính vì vậy mà ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam phải đề ra Nghị Quyết 36 để chống lại.

Anh Đặng Chí Hùng, một người trẻ, sinh ra và lớn lên dưới chế độ Cộng Sản, mặc dầu là con của một "liệt sĩ" (Việt Cộng), nhưng đã sớm thức tỉnh nhờ sự chống Cộng của chúng ta, anh đã dấn than vào con đường chống Cộng. Bị Việt Cộng lung bắt, năm 2015, anh đã vướt biên và tỵ nạn tại Canada. Anh nói: ”Càng nhìn những hình ảnh đau thương của dân tộc trong những ngày qua, không chỉ riêng tôi mà cả triệu người có lòng với dân tộc đều rướm lệ…Vâng ! Quê hương chúng ta đã quá khổ đau rồi. Còn chờ gì nữa ? Còn đi loanh quanh đâu nữa ? Chỉ có một con đường chúng ta đi đó là “Không khoan nhượng với cộng sản” thì mới mong thoát khỏi kiếp nạn CS này. Trước khi hỏi ông Trời, chúng ta nên hỏi chính chúng ta thì hơn…”

2/ Ở Quốc Nội.

Nhờ sự chống Cộng của người Việt tỵ nạn Cộng Sản hải ngoại, cái “chính nghĩa” mà bọn Cộng Sản Việt Nam rêu rao do sự tuyên truyền và lừa bịp mà có được như “Đánh Pháp để giành độc lập” hay “Đánh Mỹ để giải phóng miền Nam” người dân trong nước cũng không còn tin nữa.

Ngày nay, không những chỉ dân miền Nam, mà cả dân miền Bắc cũng hiểu rằng năm 1945 Việt Nam đã được độc lập do Hoàng Đế Bảo Đại làm Quốc Trưởng và Sử gia Trần Trong Kim làm Thủ Tướng. Chính bọn Việt Cộng, lúc bấy gọi còn gọi là Việt Minh, đã cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim rồi ký Hiệp Định Sơ Bộ ngày 6/3/1946 với Pháp, cho phép Pháp đổ bộ vào Bắc Việt để thay Trung Hoa tước khí giứi Nhật, để chúng rảnh tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia gây lên cuộc nội chiến Quốc Cộng, rồi phát động chiến tranh Việt Pháp vào ngày 19/12/1946 để giành chính nghĩa.

Sau Hiệp định Geneve 1954, Việt Nam bị chia đôi, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới hai miền Bắc Nam. Người dân miền Nam đã và đang hưởng cuộc sống an bình, tự do và dân chủ do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo thì bọn Việt Cộng miền Bắc lại dựng lên Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vào năm 1960 dưới chiêu bài “Đánh Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam” để cưỡng chiếm miền Nam và áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản lên toàn thể người dân trong cả nước.

Chính nhờ sự chống Cộng của chúng ta mà người dân Việt Nam ngày nay đã thấy rõ bộ mặt thật của Việt Cộng chỉ là bọn bán nước hại dân. Người dân Việt Nam không những không còn tin theo bọn Việt Cộng mà còn công khai chống lại chúng. Họ đã dám kéo nhau đi biểu tình đòi nhà đòi đất. Họ đã dám tụt quần trước cơ quan của ngụy quyền Cộng Sản, chửi rủa và đả đảo bọn ngụy quyền tham nhũng khiến bọn Việt Cộng phải dùng xã hội đen để đàn áp. Chính nhờ sự chống Cộng của chúng ta, người dân trong nước đã dám vác cờ Vàng ba sọc đò đi biểu tình và đã dám gọi thẳng tên đảng Cộng Sản Việt Nam ra đả đảo. Chính nhờ sự chống Cộng của người Việt Hải Ngoại mà ngời dân trong nước đã dám bắt giữ gần 40 tên công an và viên chức chính quyền làm con tin trong vụ Đồng Tâm ở huyện Mỹ Đức Hà Nội vào ngày 15/4/2017.

Người dân oan khi được đài RFI phỏng vấn đã dám gọi đảng Cộng Sản Việt Nam là đảng Cướp. Điều đó chứng tỏ rằng ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam không còn uy quyền gì đối với quần chúng.

Ngay cả những người đã từng đi theo Việt Minh, Cộng Sản từ 1945, 1946 và có tới 4, 5 chục tuổi đảng cũng đã thức tỉnh và chống lại chế độ. Điển hình là cựu Trung Tá Quân Đội Cộng Sản Trần Anh Kim, nguyên bí thư đảng ủy tỉnh Thái Bình, trong một cuộc phỏng vấn của ông Hoàng Hà (Tiếng Nói Đa Nguyên) ông Trần Anh Kim đã nói “Không phải là Mỹ xâm lược Việt Nam mà là Trung Quốc xâm lược Việt Nam và gọi bọn lãnh đạo Việt Nam là môt “lũ hèn nhát”, là một “Tập Đoàn Lừa Đảo”. Ông công nhận trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã oanh liệt chiến đấu để bảo vệ Hoàng Sa là những người anh hùng của dân tộc.

Anh Đặng Xuân Khánh, một sinh viên trẻ hiện đang sống tại Việt Nam trong bài “Đâu là sự thật” đã viết: “Chúng tôi đã được học tập dưới hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) về lý do tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam qua những cụm từ như “chế độ khát máu Mỹ-Diệm”,”miền Nam bị Mỹ, nguỵ kìm kẹp”, “đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào”, “giải phóng ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ”, “giải phóng miền Nam” v.v… Nhưng ngày nay, với sự phổ biến của công nghệ thông tin, chúng tôi đã biết nhiều hơn trước . Về lý do tại sao đã có và do ai gây ra cuộc chiến Việt Nam 1954-1975, hoàn toàn không phải như chúng tôi đã được tuyên truyền trong nhà trường”.

Chính Lê Duẩn, nguyên Tổng Bí Thư của đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói: “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc” và “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại. Vì thế, sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, năm 1976 Lê Duẫn đã ngang nhiên áp đặt Chủ Nghĩa Cộng Sản lên đầu toàn dân VN, đổi tên đảng Lao Động (vì thấy không còn cần phải lừa bịp dân nữa) thành đảng Cộng Sản Việt Nam. Lê Duẩn nói “Ta đã thành công trong việc cắm lá cờ Mác-Lê trên toàn cõi Việt Nam".

Mới đây, vào ngày 20/9/2017, ông Nguyễn Trung, cựu Đại Sứ Việt Cộng tại Thái Lan và Đức cùng một số đảng viên Cộng Sản đã viết một kiến nghị dầy hơn 40 trang gửi Bộ Chính Trị yêu cầu khép lại quá khứ, đổi tên đảng, tên nước và từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê.

Trên đây chỉ là điển hình mấy trường hợp, còn không biết bao nhiêu đảng viên đã thức tỉnh, đã từ bỏ đảng hoặc tỏ bầy bất đồng chính kiến với đảng Cộng Sản Việt Nam.

Tóm lại, tinh thần chống Cộng của người dân trong nước có được như ngày hôm nay là kết qủa của những sinh hoạt chống Cộng của người Việt tỵ nạn Cộng Sản tại hải ngoại. Chính vì vậy chúng luôn luôn tìm cách xóa bỏ những sinh hoạt có tính cách chống Cộng của chúng ta như không chào quốc kỳ và quốc ca VNCH, đổi tên ngày Quốc Hận 30/4 thành Ngày Diễn Hành Tự Do, Ngày Hành Trình Tự Do, Ngày Việt Nam Cộng Hoà hay Ngày Cựu Chiến Binh, nhưng tất cả đều thất bại. Chúng chuyển sang chiêu bài Hoà Hợp Hoà Giải, nhưng cũng không xong. Nay chúng lại cho phát động phong tràoKHÔNG CHỐNG CỘNG.

Chúng ta là những người Việt tỵ nạn Cộng Sản. Nếu chúng ta không chống Cộng thì chống cái gỉ? Chống cái ÁC hả ? Bọn Việt Cộng chì mong có thế.

Bởi vì cái ác thì ở đâu mà chẳng có? Ngay xứ Mỹ này cũng thiếu gì cái ÁC?

Chúng ta đừng thả mồi bắt bóng, đừng bỏ chống cái ác chính là Cộng Sản mà đi tìm những cái ác vớ vẩn như bạo hành phụ nữ, bạo hành trẻ em, bạo hành súc vật v.v...

Bọn Việt Cộng đang trong giai đoạn khủng hoảng. Chúng đang thanh toán nhau để giành quyền lực. Sự sụp đổ của chế độ Cộng Sản là điều chắc chắn sẽ xẩy ra, vấn đề chỉ là thời gian. Hơn lúc nào hết, chúng ta phải chống cộng tích cực hơn, mạnh mẽ hơn, để cho đồng bào trong nước tin tưởng hơn mà lên tiếng chống bọn Việt Cộng bán nước hại dân mạnh mẽ hơn. Tiếc rằng, trong số người Việt tỵ nạn Cộng sản chúng ta đã có một số người, hay nói cho rõ hơn, một số trí thức mê sảng mà một đồng môn Chu Văn An, anh Bùi Bảo Trúc đã gọi là bọn chó đẻ, chỉ vì một chút lợi danh, không những đã không góp phần vào công việc giải trừ chế độ Cộng Sản Việt Nam lại đi làm tay sai cho bọn Việt Cộng đưa ra những chiêu bài hoà hợp hoà giải, xóa bỏ hận thù v.v…khiến bọn chúng vẫn còn sống dai dẳng cho tới ngày nay. 

Ls. Lê Duy San

Sunday, October 28, 2018

Nhân ngày giỗ thứ 53

Tưởng nhớ công ơn Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Ls. Lê Duy San


 “Tôi tiến, hãy tiến theo tôi.
Tôi lùi, hãy giết tôi.
Tôi chết, hãy nối chí tôi”
Ngô Đình Diệm 

Ngày 7/5/1954 Diện Biên Phủ thất thủ. Hoàng Đế Bảo Đại mời ông Ngô Đình Diệm đảm nhiệm chức vụ Thủ Tướng. Biết tình hình khó khăn, ông đã từ chối mấy lần nhưng Hoàng Đế Bảo Đại vẫn năn nỉ. Sau cùng, ông đã đòi phải được tòan quyền về dân sự cũng như quân sự ông mới nhận lời.  

Ngày 7/7/1954, cụ Ngô Đình Diệm về nước chấp chính. Chưa đầy hai tuần sau, ngày 20/7/1954, Hiệp Định Jenève được ký kết phân chia nước Việt Nam thành hai miền Nam Bắc. 

Về nước đúng lúc đất nước bị chia đôi, miền Nam lại chia năm xẻ bẩy: nào Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo, nào phe thân Pháp, phe thân Cộng. Quốc gia thì chậm tiến, xã hội thì đầy dẫy tệ đoan, dân trí thì thấp kém. Ruộng vườn thì bị bỏ hoang, đường xá, cầu cống thì bị Việt Cộng phá hoại. Ðó là chưa kể đến sự phá hoại ngấm ngầm của thực dân Pháp và Việt Cộng. Ngay cả người Mỹ cũng chưa hoàn toàn tin tưởng cụ Diệm. Các chính trị gia thì mỗi người một ý. Không những thế, ông còn phải lo cho cả triệu người Bắc di cư vào Nam để tránh nạn Cộng Sản.

Trong bài này, chúng tôi xin trình bầy 2 vấn đề: Thiết lập nền Đệ I Công Hoà và những thành quả của chính phủ Ngô Đình Diện trong 9 năm cầm quyền. 

I/ Thiết lập nền đệ Nhất Cộng Hoà.

Noí tới vấn đề thiết lập nền Đệ I Cộng Hoà Việt Nam, chúng ta không thể không nói tới vấn đề truất phế Hoàng Đế Bảo Đại tức cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/10/1955.

Tuy ông Diệm đã được Hoàng Đế Bảo Đại trao toàn quyền về dân sự cũng như về quân sự. Nhưng thực tế về quân sự, tướng Nguyễn Văn Hinh là Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội. Tướng Hinh lại là người thân Pháp, luôn luôn chống đối ông Diệm và có âm mưu đảo chánh lật đổ ông Diệm. Nhưng âm mưu đảo chánh bất thành và tướng Hinh bị trục xuất khỏi Việt Nam.

Ngày 28/3/1955, Bình Xuyên nổi loạn, pháo kích vào dinh Độc Lập rồi mấy ngày sau đó tấn công vào thành Cộng Hoà.  

Trước tình thế khó khăn như vậy, vậy mà Hoàng Đế Bảo Đại lại gây khó khăn cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm bằng cách từ Cannes (Pháp Quốc) gửi ngay một công điện vào  ngày  28/4/1955,  triệu hồi Thủ Tướng Diệm qua Pháp nói là để “tham khảo ý kiến”,

Theo luật sư Lâm Lễ Trinh thì ý đồ của Hoàng Đế Bảo Đại là để cất chức Thủ Tướng Diệm vì ông Diệm đã khai trừ tướng Nguyễn Văn Hinh và đã đóng cửa sòng bài Đại Thế Giới của Bẩy Viễn là nơi cung cấp tiền bạc cho Bảo Đại và muốn thay thể bằng Lê Văn Viễn tức Bẩy Viễn, xếp sòng Bình Xuyên, lúc đó đang nắm giữ guồng máy cảnh sát, công an..

Bị đẩy vào chân tường, Thủ Tướng Diệm đã tham khảo ý kiến hội đồng nội các rồi phúc đáp: “Hội đồng Nội Các không đồng ý để ông xuất ngọai giữa tình thế rối ren của xứ sở và một Hội nghị các chánh đảng và nhân sĩ quốc gia sẽ được triệu tập ngày 29/4/55 tại dinh Độc Lập để cho biết ý kiến “Thủ Tướng có bổn phận thi hành lệnh triệu thỉnh của Quốc Trưởng hay không?” Hội nghị này gồm có 18 chính đảng, đòan thể và 29 nhân sĩ miền Nam trong đó có ba tổ chức nổi bật và có thực lực là: VN Dân Xã Đảng (Hòa Hảo) mà bí thơ là Nguyễn Bảo Tòan, VN Phục Quốc Hội (Cao Đài) do Hồ Hán Sơn thay mặt và Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến VN của Trịnh Minh Thế do Nhị Lang đại diện.

Ông Nhị Lang, tác giả cuốn sách Phong Trào kháng chiến Trịnh Minh Thế cho biết “Đúng 10 giờ sáng ngày 29/4/55 Hội nghị khai mạc, Thủ Tướng Diệm tiến vào phòng họp với vẻ mặt ưu tư, sau khi ngỏ lời chào mừng Hội Nghị, ông tuyên bố: “Để qúy ngài được tự do thảo luận” rồi ông kiếu từ đi ngay…”

Trong khi các hội viên yên lặng chăm chú đọc chương trình nghị sự, thì ông Nhi Lang đứng lên tuyên bố: “Thưa quí vị, tôi được chỉ thị của  đòan thể chúng tôi là Mặt trận Quôc gia Kháng chiến Việt Nam đến đây gặp quí vị không phải đề nói chuyện về việc Thủ Tuớng  Ngô Đìng Diệm có bổn phận hay không bổn phận thi hành lệnh của Bảo Đại. Mà trái lại, tôi xin thẳng thắn đặt vấn đề, là đã đến lúc chúng ta cần trút bỏ quyền hành của ông Quốc trưởng vô dụng kia đi. Là vì ông ta đang làm một việc trái với nguyên tắc lãnh đạo quốc gia. Thử hỏi, thành phố Sài Gòn đang có biến, dân chúng đang xôn xao lo sợ, tại sao ông Bảo Đại lại chọn ngay lúc này để bắt buộc Thú tướng phải bỏ nước sang bên Pháp xa xôi kia, để ‘’tham khảo ý kiến?’’ Tham khảo cái gỉ? Phải chăng đây là mưu kế để nhắm lật đổ Chánh phủ này? Vậy tôi xin tuyên bố dứt khoát, nếu quí vị bằng lòng thảo luận việc truất phế Bảo đại ngay bây giờ, thì tôi ở lại. Bằng không, tôi xin phép ra khỏi phòng hội này ngay!’’.

Trong khi cử toạ còn đang bang hoàng và sửng sốt thì đại tá Hồ hán Sơn, đại diện tướng Cao đài Nguyễn thành Phương đứng lên và tuyên bố tiếp: “Nhân danh Việt Nam Phục Quốc hội, chúng tôi đồng ý với mặt trận Quốc gia kháng chiến, yêu cầu quí vị đừng bận tâm tới lệnh triệu thỉnh vô lý của Bảo đại nữa, mà hãy đồng tâm làm một cuộc cách mạng, chấm dứt ngay vai trò của ông Quốc trưởng Bảo Đại kia đi cho xong. Nếu ý kiến nầy không được hưởng ứng, tôi cũng xin rút lui ngay tức khắc!’’

Phiên họp kéo dài 7 tiếng. Đúng 5 giờ chiều, Chủ Tịch Nguyễn Bảo Tòan mời Thủ Tướng Diệm xuống phòng họp để nghe kết qủa. Kết qủa gồm có 3 điểm sau:

          * Truất phế Bảo Đại.
        
        * Giải tán chính phủ Diệm và ủy nhiệm chí sĩ Ngô Đình Diệm thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời.

          * Tổ chức tổng tuyển cử, thành lập chế độ cộng hòa.

Ông Nhị Lang viết: “Khi Thủ tướng nghe xong, tôi thấy mặt ông tái hẳn đi. Tôi chắc ông không ngờ Hội nghị này lại quay sang một chiều hướng khác và lôi kéo ông đi một bước quá xa như vậy. Thủ Tướng Diệm lộ vẻ đăm chiêu và nói bằng một giọng trầm mặc: “Xin qúy ngài cho tôi được có thì giờ suy nghĩ kỹ về vấn đề quan trọng này”.

Ngay ngày hôm sau, 30/4/55, cụ Diệm lại nhận được thêm một công điện thứ 2 triệu hồi ông Diệm sang Pháp. Đây có thể nói là giọt nước cuối cùng đã buộc ông Diệm phải đi tới quyết định truất phế ông Bảo Đại.  

Như vậy, việc truất phế Hoàng Đế Bảo Đại không phải hoàn toàn do Thủ Tướng Diệm quyết định mà là do cả một Hội nghị gồm có 18 chính đảng, đòan thể và 29 nhân sĩ miền Nam quyết định. Ông chỉ là người quyết định sau cùng và quyết định của ông cũng đứng trên quyền lợi của quốc gia dân tộc chứ không phải quyền lợi của cá nhân hay phe phái.

Với cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23/10/1955, Quốc Trưởng Bảo Đại bị truất phế và ông Ngô Đình Diệm trở thành Tổng Thống. Tổng Thống Diệm đã cho bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để sọan thảo bản Hiến Pháp cho nước Cộng Hòa Việt Nam và bản Hiến Pháp này đã được Tổng Thống Diệm ban hành ngày 26/10/1956. 

II/ Những thành qủa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm sau 9 năm cầm quyền.

1/ Về Hành Chánh: Cải biến Trương Quốc Gia Hành  thành Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

Trường Quốc gia Hành chánh ở Đà Lạt thành lập từ năm 1952 thời Quốc gia Việt Nam. Chương trình học là 1 năm. Đến năm 1955 thì trường được chuyển về Sài Gòn và đổi tên là Học viện Quốc gia Hành chánh ở đường Alexandre de Rhodes gần Dinh Độc lập sau dời về trụ sở mới ở số 10 đường Trần Quốc Toản, Quận 3. Đây là một cơ sở giáo dục củaViệt Nam Cộng hòa nhằm đào tạo nhân viên hành chánh cao cấp cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Chương trình học là 3 năm.

2/ Về Quân đội: Cải biến Trường Võ Bị Liên Quân ĐàLạt thành Trường Võ Bị Quốc Gia ĐàLạt và nâng cao trình độ các TT Huấn Luyện Hải Quân và Không Quân Nha Trang.

Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (tiếng PhápÉcole militaire Inter-armes) thành lập năm 1950, nhằm đào tạo sĩ quan cho quân đội quốc gia Việt Nam, thời gian thụ huấn là 1 năm. Sang thời Đệ I Cộng hòa Việt Nam, chính phủ Ngô Đình Diệm cải tổ lại và kể từ ngày 29 tháng 7 năm 1959 theo nghị định của Bộ Quốc phòng đổi tên thành Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ huấn luyện sĩ quan hiện dịch cho ba binh chủng: hải quân, lục quân, và không quân choQuân đội Việt Nam Cộng hòa. Chương trình thụ huần là 2 năm, sau tăng lên 3 năm.

Ngòai ra các Trung Tâm Huyấn Luyện Không Quân Nha Trang, Trung Tâm Huấn Luyên Hải Quân Nha Trang …, cũng được nâng cao trình độ kiến thức để đào tạo các sĩ quan có khả năng cho hai ngành Không Quân và Hải Quân cho quân lực VNCH. Ai muốn vào 2 binh chủng này phải có bằng Tú Tài và phải qua một kỳ thi tuyển.

3/ Về Giáo Dục: Việt Hóa Trung Học và Đại Học, Thành lập thêm Đại Học Huế.

Trước khi ông Diệm về nước, chỉ có mỗi một Viện Đại Học đó là Viện Đại Học Hà Nội. Sau năm 1954 được di chuyển vào Nam. Không những trường Đại Học mà hầu hết các trường  Trung Học ở miền Nam lúc bấy giờ vẫn còn giảng dậy bằng Pháp Ngữ. Tới khi Thủ Tướng Diệm về nước chấp chính, nền giáo dục được cải tổ và Việt Ngữ được dùng để giảng dậy không những ở cấp Tiểu Học mà cả ở cấp Trung Học. Riêng cấp Đại Học thì vì vấn để thiếu giảng viên Việt Ngữ nên được Việt hóa dần dần.

Chỉ 2 năm sau ngày nền Đệ I Cộng Hoà được thành lập, nhiều trường trung và tiểu học đã được thành lập thêm. Số học sinh trung học đã tăng lên 40% và số học sinh tiểu học đã tăng lên 60%. Trường Quốc Gia Nông Lâm Súc thành lập năm 1955, sau đổi thành trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc. Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, sau đổi thành Đai Học Kỹ Thuật Phú Thọ và Viện Đại Học Huế cũng được thàng lập vào năm 1957.

Chỉ 2 năm sau ngày nền Đệ Nhất Cộng Hoà được thành lập, nhiều trường Tiểu học và Trung học đã được thành lập thêm. Số học sinh tiểu học đã tăng lên 60% và số học sinh trung học đã tăng lên 40%.

4/ Về Nông nghiệp: Thành lập Khu Trù Mật, Hữu Sản Hóa Nông Dân.

Phong trào Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc của Cộng Sản dùng biện pháp đấu tố, tra tấn dã man và chém giết địa chủ để cướp đất của họ, nhằm tiêu diệt giới điền chủ và bần cùng hóa người dân, khiến cả trăm ngàn người dân vô tội bị chết chỉ vì họ có vài ba mẫu ruộng. Trái lại, chương trình Cải Cách Điền Địa ở miền Nam do Tổng Thống Ngô Đình Diệm thực hiện nhằm hữu sản hóa nông dân. Đối với điền chủ, Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ thị cho các viên chức địa phương trả tiền mua số đất vượt quá giới hạn một cách thỏa đáng, chứ không tịch thu, đấu tố như miền Bắc. Chương trình này bị gián đoạn vì biến cố 1/11/63 và được tiếp tục vào những năm 1971, 1972, 1973 (6).

5/ Về Kinh Tế và kỹ nghệ.

“Kế hoạch 5 năm” đầu tiên từ 57-61 được thực hiện để kỹ nghệ hoá đất nước đã làm gia tăng sự sản xuất lúa gạo và cao su. Khu Kỹ Nghệ Biên Hoà được thành lập. Nhiều nhà máy dệt, nhà máy giấy, nhà máy ván ép được xây cất và các viện bào chế dược phẩm được thành lập. Đường xe lửa xuyên Việt được tái lập.

6/ Cải tạo xã hội: Bãi bỏ chế độ đa thê, Bài trừ tệ đoan xã hội.

Năm 1961 luật Gia Đình được bàn hành, chế độ đa thê bị bãi bỏ. Các tệ đoan xã hội như cờ bạc, hút sách v.v … bị bài trừ khiến xã hội trở nên lành mạnh. Đời sống kinh tế của người dân miền Nam ổn định và sung túc không như người dân miền Bắc phải sống dưới chế độ tem phiếu. 

7/ Về Tài Chánh: Thành lập Ngân Hàng Quốc Gia và Viện Hối Đoái.

Ngày 3/12/1954, Thủ Tướng Diệm ký sắc lệnh thành lập Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam một cách gấp rút để có thể hoạt động từ 1/1/1955, khi Hoa Kỳ viện trợ trực tiếp cho Việt Nam và Viện Hối Đoái để phụ trách các giao dịch về ngoại tệ.

Ngòai những thành qủa trên, Tổng Thống Diệm còn cho thành lập khu Trù Mật, khu Dinh Điền, thi hành Quốc Sách Ấp Chiến Lược và phát động Phong Trào Tố Cộng, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã ra bản Tuyên Cáo vào ngày 17 tháng 4 năm 1963 mở đầu chiến dịch Chiêu Hồi khiến cho Cộng Sản miền Bắc lo sợ.

III/ Kết luận.

Về nước trong trong tình thế nhiễu nhương, đầy khó khăn, vậy mà ông đã ổn định được miền Nam, thu hồi được chủ quyền từ tay người Pháp và lập lên nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam. Với một thể chế dân chủ tuy không được hoàn hảo như các nước tân tiến tây phương nhưng chính phủ Ngô Đình Diệm cũng đã đem lại cho người dân được hưởng một cuộc sống tự do dân chủ, no ấm và một nền giáo dục tốt đẹp, đầy tính cách nhân bản và khai phóng. Trong khi đó, miền Bắc, cho tới năm 1975  người dân vẫn còn phải sống dưới chế độ ngu dân, độc tài và đói khổ.

Có thể nói, kể từ khi Nhật đầu hàng và trao trả độc lập cho Việt Nam cho tới bây giờ, chưa có một vị Tổng thống, Quốc Trưởng hay Chủ Tịch nước nào đạo đức, liêm khiết và hết lòng vì nước, vì dân bằng Tổng thống Ngô Đình Diệm. Và cũng kể từ khi Việt Nam được độc lập tới nay, cũng chưa có chính phủ nào thực hiện được những thành quả tốt đẹp cho quốc gia dân tộc như chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Có thể nói: Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người đã tái thiết miền Nam sau chiến tranh Việt Pháp 1946-1954, đã đưa miền Nam Việt Nam trở thành một quốc gia có một nền kinh tế tốt đẹp và một quân đội hùng mạnh. Còn ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam chì lo phá hoại, lo chiến tranh và lo khủng bố, giết hại đồng bào miền Nam vô tội.

Không phải chỉ có người Việt Nam chúng ta mới mới kính trọng Tổng Thống Diệm mà nhiều người ngọai quốc trong đó có Giáo Sư Sử Gia Edward Miller và Sử Gia Henry Fairbanks cũng phải cộng nhận ông là một người có hoài bão thực hiện một nhà nước được xây dựng trên những giá trị tốt đẹp nhất của Tây Phương và khôi phục những giá trị cổ truyền tốt đẹp (của Đông Phương) làm nền tảng cho phương thức canh tân xứ sở. 

Tổng Thống Tưởng Giới Thạch thì nói: “Một trăm năm nữa thì Việt Nam cũng không thể tìm được một người như Tổng Thống Ngô Đình Diệm” và Tổng Thống Eisenhower cũng phải công nhận ông là : Một người phi thường “He’s a miracle man”. Phó TT Hoa Kỳ Johnson cũng đã ca ngợi rằng: “Tổng Thống Diệm là một Churchill của Á Châu...Lịch sử xếp ông ta như là một trong những vĩ nhân của thế kỷ 20”.

Từ ngày miền Nam xụp đổ người dân miền Nam đã nhận thức được ông Ngô Đình Diệm là người thế nào và đâu là nguyên do thực sự đưa đến sự xụp đổ của miền Nam, thì hầu như khắp nơi trên thế giới, nơi nào có đông người Việt tỵ nạn Cộng Sản cũng đều tổ chức Lễ Tưởng Niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm một cách trang nghiêm và long trọng vào tháng 11 hàng năm để tưởng nhớ công ơn của cố Tổng Thống Diệm.

Những việc làm của Tổng Thống Diệm không phải là không có khuyết điểm và thiếu sót. Nhưng với những thành quả mà ông đã đạt được, dân tộc Việt Nam sẽ đời đời nhớ ơn ông. Rồi đây, khi đất nước Việt Nam thanh bình và chế độ Cộng Sản không còn, chắc chắn sẽ có những kỳ đài, những quảng trường, những trường học, những đại lộ mang tên NGÔ ĐÌNH DIỆM, để tưởng nhớ  vị tổng thổng đầu tiên của Việt Nam đã vị quốc vong thân.

Ls. Lê Duy San

Blog Archive