Showing posts with label Nguyễn Tường Thiết. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Tường Thiết. Show all posts

Thursday, November 28, 2019

 Mối tình của đôi ta

Nguyễn Tường Thiết

Lời Tòa Soạn.- Sau đây là bài nói chuyện của nhà văn Nguyễn Tường Thiết, con út của nhà văn Nhất Linh trong buổi Ra Mắt cuốn sách "Tự Lực Văn Đoàn và các Cây Bút Hậu Duệ" tổ chức vào ngày hôm qua 9 tháng 11 năm 2019 tại thành phố San Jose, California. 

Kính thưa quý vị, 

Cách đây khoảng mấy tuần lễ tôi nhận được một cú điện thoại của anh Nguyễn Hùng Tâm, trưởng nam của ông Nguyễn Hùng Trương, tức ông chủ nhà sách Khai Trí ở Sài Gòn trước năm 1975. Anh Tâm mời tôi xuống San José nói chuyện trong buổi Ra Mắt Sách này, cuốn sách “Tự Lực Văn Đoàn và các cây bút Hậu Duệ” mà anh là người đứng ra tổ chức và bảo trợ. Tôi toan từ chối vì với tuổi xấp xỉ 80 tôi rất ngại phải đi xa, nhưng tôi nghĩ đến cái công của ông Khai Trí đối với văn học miền Nam Việt Nam, tôi nhận lời. 

Tôi có một mối giao tình đặc biệt với ông Khai Trí, thân phụ của anh Tâm. Trước khi thân phụ tôi, nhà văn Nhất Linh, qua đời năm 1963, ông cụ có ủy thác cho tôi trông nom hai nhà xuất bản Đời Nay và Phượng Giang và quyết định xuất bản những tác phẩm của ông cụ. Với ủy thác ấy tôi đã liên lạc với ông giám đốc nhà sách Khai Trí để phối hợp việc tái bản không những sách của ông cụ tôi mà là sách của những tác giả khác trong Tự Lực Văn Đoàn. Nhu cầu tái bản sách TLVĐ rất cao vì TLVĐ nằm trong giáo trình giảng dậy môn Việt văn bậc trung học, nên tôi liên lạc với ông Khai Trí hầu như thường xuyên và kéo dài suốt 10 năm cho đến tận ngày Cộng sản cưỡng chế miền Nam. 

Trước khi nói về một vài kỷ niệm vui vui của tôi với ông Khai Trí tôi cũng xin phép được thay mặt tất cả quý vị có mặt ở đây để ngỏ lời tri ân ông Khai Trí. Trong suốt 20 năm giữa hai cuộc di cư 1954 và di tản 1975 trong khi nền văn học miền Bắc chỉ là một con số không to tướng thì ở miền Nam tự do chúng ta được thừa hưởng một nền văn học mà theo thiển ý của tôi, rực rỡ và đa dạng không thua gì thời đại Tự Lực Văn Đoàn vào thập niên 1930. Trong sự nở rực của 20 năm văn học miền Nam VN ông Khai Trí, trong vai trò hỗ trợ và phổ biến những công trình văn hoá, đã đóng góp một phần không nhỏ. 

Trong suốt 10 năm liên lạc với ông Khai Trí tôi có khá nhiều kỷ niệm với ông. Nhưng kỷ niệm tôi ghi nhớ nhất là hôm ông tiết lộ với tôi điều bí mật này: nhà sách Khai Trí số 62 đường Lê Lợi còn là địa điểm hẹn hò của không biết bao nhiêu những cặp trai gái yêu nhau vào những thập niên 50, 60 và 70 của thế kỷ trước. 

Nếu trong số các quý vị ở đây đã có ai một thời dùng nhà sách này làm chỗ hẹn hò và đã đinh ninh đó là nơi không bị ai chú ý thì quý vị có thể lầm to. Ông Khai Trí có lần tâm sự với tôi: “Một trong những tiêu khiển rất thú vị và thâm trầm của ông là ông đã dùng khá nhiều thì giờ đứng quan sát gian hàng sách đông đảo của ông, không phải để rình bắt những tay ăn trộm sách, mà là để phát hiện những cặp tình nhân kín đáo dùng nhà sách của ông làm chỗ hẹn hò”. 

Kính thưa quý vị, 

Đối với những quý vị ở trong hạn tuổi từ 70 cho đến 90 và đã từng ở Sài Gòn trong thời niên thiếu thì có lẽ kỷ niệm êm đẹp nhất trong đời là những buổi chiều cuối tuần đi bát phố Sài Gòn, bên cạnh người yêu nữa thì lại càng tuyệt, chúng ta thả bộ trên đường Lê Lợi, ghé thăm nhà sách Khai Trí, ăn kem ở quán Mai Hương, uống cà phê ở La Pagode rồi thả mình trong máy lạnh của những rạp xi nê Rex, Eden hay Vĩnh Lợi. 

Hôm nay, trong không khí hồi tưởng đầy hoa mộng ấy, tôi xin kể với quý vị một câu chuyện tình. Một chuyện tình của thế hệ trước, thế hệ tiền bối. Đó là chuyện tình của thân phụ tôi, nhà văn Nhất Linh. Không phải là chuyện tình trong tiểu thuyết của Nhất Linh như Dũng và Loan trong Đôi Bạn, Trương và Thu trong Bướm Trắng, Siêu và Mùi trong Xóm Cầu Mới hay Thanh và Ngọc trong Dòng Sông Thanh Thủy. Mà là chuyện tình có thực của Nhất Linh với một người đàn bà mà ông rất yêu quý, người đàn bà ấy ngẫu nhiên lại là mẹ của chúng tôi. 

Tại sao tôi lại kể chuyện tình giữa bố mẹ tôi? 

Chắc có người nghĩ làm gì có tình yêu trong hôn nhân ở thế hệ tiền bối của chúng ta. Và nếu có, chắc cũng chẳng có gì hay ho để kể lại. Với quan niệm thông thường của xã hội ta thời đó thì thân phận của bà Nhất Linh chẳng qua cũng chỉ như thân phận “nuôi một đàn con với một chồng” của bà Tú Xương mà thôi. 

Nhưng thật sự khác hẳn. Trước hết ta hãy xem giây phút trước khi nhắm mắt Nhất Linh đã để lại những lời chăng chối gì với người bạn đời của ông: 

Mình, 

Mối tình của đôi ta trong bao năm đẹp đẽ lắm rồi không mong mong ước gì hơn nữa. 

Anh, 
Nhất Linh 7-7-1963. 

Hai mươi chữ này mới đích thực là những dòng chữ viết sau cùng của nhà văn Nhất Linh trước khi lìa đời, chứ không phải là bẩy mươi mốt chữ trong bản di ngôn chính trị nổi tiếng của ông: “Đời tôi để lịch sử xử”. 

Trong lời vĩnh biệt Nhất Linh dùng chữ “Mình” để xưng hô với vợ. Chữ “mình” mang nhiều ý nghĩa. Mình có thể là “em”, mình cũng có thể là “anh”, mình cũng có thể là “chúng ta”. Mình bao hàm ý nghĩa vợ chồng “đôi ta là một”. Và trong bao nhiêu năm “đôi ta” ấy đã gắn bó nhau bằng một “mối tình”, một mối tình “đẹp đẽ” đến độ “không còn mong ước gì hơn nữa”. 

Nhất Linh có nói quá không khi ông viết những lời sau cùng này? 

Tôi tin rằng ông đã không nói quá. Tôi tin là ông thành thật. Tôi tin thế bởi vì ông quan niệm tình yêu hôn nhân khác với đa số chúng ta. Nó cao hơn quan niệm thông thường. Quan niệm mà theo tôi gần với câu sau đây của nhà văn Pháp Saint-Exupéry: “yêu nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng”. 

Cha mẹ tôi lấy nhau năm 1925. Trước khi lấy nhau cậu trai 19 tuổi giao ước ngay với cô gái 18 tuổi: 

“Mỗi người có một bổn phận: anh có bổn phận đối với xã hội, em có bổn phận đối với gia đình”. 

Tôi chưa thấy một cặp vợ chồng nào mà sự giao ước ban đầu lại được lại được cả đôi bên tôn trọng lâu dài như thế. Suốt cuộc đời tôi chứng kiến cảnh cha mẹ tôi sống xa nhau. Cha tôi hầu như lúc nào cũng sống xa gia đình, ông lo chuyện xã hội, chuyện văn hoá, chuyện đất nước. Ông sống bôn ba nhiều năm bên Trung Hoa. Mẹ tôi một mình gánh trách nhiệm gia đình, bà buôn cau, lấy tiền nuôi đàn con gần 10 đứa. Không bao giờ tôi nghe mẹ tôi than vãn về chuyện cha tôi thường xuyên vắng mặt, nếu có ai hỏi, mẹ tôi chỉ nhẹ nhàng nói: “anh ấy tuổi con ngựa, không thể ngồi yên một chỗ được”. Cũng vì thường xuyên phải sống xa nhau nên những thời gian hiếm hoi được sống chung cả hai đã tạo cho nhau những ngày chung sống trở thành môt chuỗi “những ngày diễm ảo”. 

Vừa lấy nhau, tuần trăng mật chưa hết mặn nồng, mẹ tôi đã chịu cảnh chia ly đầu tiên: cha tôi, cậu thanh niên 20 tuổi, khích động trước cái chết năm 1926 của nhà ái quốc Phan Chu Trinh, tháng 3 năm ấy ông bỏ trường Mỹ Thuật, từ Hà Nội đáp xe lửa vào Sài Gòn, tham dự đám tang nhà cách mạng. Trên chuyến xe lửa xuyên việt, khi ngang đèo Hải Vân ông làm bài thơ sau đây tặng cô vợ mới cưới: 

Đèo Hải Vân mây trời man mác 
Bến Lăng Cô bãi cát trắng phau 
Buồm ai thấp thoáng về đâu 
Phiêu lưu hồ hải thêm sầu lòng ai? 
(Nhất Linh, 3/1926) 

Vì tham dự đám tang Phan Chu Trinh chàng trai Nguyễn Tường Tam bị Pháp lùng bắt, ông trốn sang Cao Miên, sống bằng nghề vẽ và tìm đường du học. Năm sau 1927 ông Đi Tây. 

Trong thập niên 1930, Nhất Linh ra báo Phong Hóa & Ngày Nay, thành lập Tự Lực Văn Đoàn và sáng tác rất mạnh. Ông hoàn thành gần 10 tác phẩm. Trong thập niên đó bà Nhất Linh cũng sinh gần 10 người con. Mẹ tôi nói đùa: “Cứ mỗi lần mẹ thai nghén một đứa con thì bố cũng thai nghén một tác phẩm”. 

Rồi mẹ tôi nói thêm: “Mỗi lần bố viết xong và xuất bản một cuốn tiểu thuyết, cũng như sau khi mẹ sinh đẻ một đứa con, thì dù mẹ có bận rộn buôn bán đến đâu đi nữa bố cũng buộc mẹ phải bỏ hết để sống với nhau riêng biệt một thời gian bên bãi biển Sầm Sơn”. 

Như vậy thì nội trong thập niên 1930 bố mẹ tôi đã có với nhau gần 10 cái “honeymoon”.

Trong thập niên 1940 con người nghệ sĩ Nhất Linh nhường bước cho người chiến sĩ Nguyễn Tường Tam. Dũng, nhân vật tiểu thuyết trong Đôi Bạn, Đoạn Tuyệt lôi phăng tác gỉa Nhất Linh đi làm cách mạng! Nhất Linh lập đảng chống Pháp, chống Cộng, lập chiến khu, tham gia chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến với chức Bộ Trưởng Ngoại Giao, rồi bôn ba sang Trung Quốc. Trong suối 10 năm con người cách mạng không sáng tác một cuốn tiểu thuyết nào. Người bạn đời của ông cũng ngừng sinh đẻ. Thảo nào sinh năm 1940, tôi là đứa con út trong nhà. 

Trong thập niên 1950, từ Trung Hoa về nước năm 1951, Nhất Linh theo lời khuyên nhủ của vợ, tuyên bố không làm chính trị. Ông trở lại đời văn sĩ. Từ Hà Nội ông vào Sài Gòn năm 1952, kéo theo người con út là tôi đi theo ông, năm sau ông lên Đà Lạt sinh sống, cũng lại kéo tôi đi theo nữa. 

Nhất Linh tương đối sống an bình trên Đà Lạt. Ông chơi lan, thổi hắc tiêu, mua đất ở Fim Nôm, lập nhà bên bờ suối Đa Mê. Chúng tôi giữ rất nhiều hình ảnh của ông trong thời gian này, trong đó có bức hình chụp bố mẹ tôi tươi cười bên dòng suối Đa Mê, mẹ tôi nằm trên võng, bố tôi đứng bên. Tôi rất quý bức ảnh này vì nó là bức duy nhất tôi thấy Nhất Linh cười. Trong bao nhiêu năm tôi tự hỏi tại sao tất cả những bức hình tôi giữ Nhất Linh đều có gương mặt trầm lắng, khắc khổ, chỉ trừ mỗi bức ảnh này là cười tươi. Mãi gần đây tôi mới hiểu lý do vì sao. 

Mấy tháng trước một nhà báo ở Việt Nam, anh Nguyễn Vĩnh Nguyên, gửi tặng tôi một quyển sách do anh viết nhan đề “Đà Lạt, một thời hương xa”. Cuốn sách dành hẳn một chương “Tiếng hắc tiêu trên đồi thông” nói về ông cụ tôi trong thời gian ông sống ở Đà Lạt với khá nhiều hình ảnh, tư liệu quý giá. Trong số đó có bức ảnh với lời chú thích: “Ông bà Tam tại suối Đa Mê. Ảnh: Vũ Hà Tuệ sưu tầm”. Bức ảnh chụp bố mẹ tôi bên chiếc võng, tương tự như bức ảnh tôi có, nhưng đặc biệt là ghi thêm hàng chữ viết tay của bố tôi: “Thân tặng anh chị Gioãn. Bên giòng Đa Mê. Kỷ niệm Lễ Vàng 32 năm. Nhất Linh”. 

Tôi thắc mắc: Không biết Lễ Vàng là gì? Bức ảnh chụp năm 1957. Tôi làm con tính: 1957-32 = 1925. Đúng boong! Năm 1925 là năm bố mẹ tôi lấy nhau. Hoá ra ngày chụp ảnh cũng là ngày kỷ niệm 32 năm “wedding anniversary” của bố mẹ tôi. Thảo nào mà cả hai bức hình trông ông bà tươi rói. Hôm đó bố tôi mời mẹ tôi và các bạn bè (trong số có bác Lê Đình Gioãn, người bạn thân của ông cụ) từ Sài Gòn lên Fim Nôm để ăn mừng “ngày kỷ niệm cưới” trong rừng, bên dòng suối thơ mộng. 

Tôi đã tưởng sự khám phá bức ảnh này chấm dứt cuộc hành trình 60 năm đi tìm Nhất Linh của tôi. Nhưng không. Chỉ mới cách đây 55 ngày, một ngạc nhiên khác xẩy đến cho tôi. Cũng trong buổi Ra Mắt cuốn sách “TLVĐ và các cây bút hậu duệ” tổ chức tại trường Đại Học UC-Long Beach, Nam California, ngày 15 tháng 9 năm 2019 vừa qua, một thiếu nữ tôi không quen biết tiến lại gần tôi và trao cho tôi một món quà bất ngờ. Cô ta nói: “Thưa Bác, cháu giữ trong tay tài liệu này cũng khá lâu nhưng không dám gửi bác vì sợ thất lạc. Hôm nay nghe nói bác nói chuyện trong buổi Ra Mắt Sách này, cháu tới đây với mục đích trao tận tay món quà này cho bác”. 

Món quà là một bài thơ viết tay của chính Nhất Linh. Bài thơ nhan đề “Buồm giục viễn du” viết trên một tờ giấy pelure mỏng mà thời gian đã ngả sang màu vàng úa. Cuối bài thơ, trên chữ ký Nhất Linh, có ghi thời gian và địa điểm sáng tác: Trên bãi biển, cuối Thu 1940.

Tôi sinh ngày 23 tháng 10 năm 1940. Như vậy tuổi của bài thơ ngang với tuổi đời của tôi, xấp xỉ 80. Tôi nhớ tới lời của mẹ tôi: “Mỗi lần bố viết xong và xuất bản một cuốn tiểu thuyết, cũng như sau khi mẹ sinh đẻ một đứa con, thì dù mẹ có bận rộn buôn bán đến đâu đi nữa bố cũng buộc mẹ phải bỏ hết để sống với nhau riêng biệt một thời gian bên bãi biển Sầm Sơn”. Không còn nghi ngờ gì nữa, bài thơ này bố tôi làm ở Sầm Sơn, ngay sau khi tôi sinh ra đời. 

Nhìn tờ giấy với bài thơ đã úa màu thời gian tôi cảm động và bâng khuâng. 

Bây giờ tôi có thể yên tâm khép lại cuộc hành trình của tôi đi tìm Nhất Linh. Vì tôi đã tìm ra lời giải đáp tôi đặt ra cho chính mình: Nhất Linh đã thật sự nghĩ gì trong giây phút cuối cùng trước khi ông nhắm mắt? 

Ông đã nghĩ đến mẹ tôi, đến bao kỷ niệm êm đềm chung sống giữa hai người, ông đã nghĩ đến “mối tình của đôi ta trong bao năm đẹp đẽ lắm rồi, không mong mong ước gì hơn nữa..”. 

Xin cám ơn quý vị và xin kính chào quý vị. 

Nguyễn Tường Thiết

Thursday, October 4, 2018

Hồi ức về cơm gà Siu Siu và cái kết buồn của ông chủ quán.

Nguyễn Tường Thiết 

Dưới đây là phần trích lược hồi ký “Căn nhà An Đông của mẹ tôi” của nhà văn Nguyễn Tường Thiết, con trai út của nhà văn Nhất Linh – người thành lập và cây bút chính của nhóm Tự Lực văn đoàn. Vốn là hàng xóm sát vách với tiệm cơm gà Siu Siu thuộc chợ An Đông, nhà văn Nguyễn Tường Thiết kể lại:

Nếu tôi chỉ nói cái số nhà 39 thì chắc chẳng một ai hình dung căn nhà của mẹ tôi nằm ở chỗ nào trong khu chợ An Ðông. Nhưng nếu nói nó ở ngay sát cạnh quán cơm gà nổi tiếng Siu Siu thì có thể nhiều người hình dung ra ngay. Siu Siu là một quán cóc nằm sát bên hông nhà mẹ tôi. Ông Siu Siu khi mở quán này đã thương lượng với mẹ tôi câu điện từ trong nhà chúng tôi để thắp đèn trong quán, lại dùng cái vỉa hè ngay trước cửa nhà chúng tôi để đặt bàn ăn. Bù lại ông Siu Siu mỗi tháng trả cho cho mẹ tôi một khoản tiền. 

Trong suốt hai mươi năm trời chúng tôi ăn cơm gà trừ dần vào khoản tiền này, ăn nhiều phát ớn, đến độ tôi phải tự hỏi cơm gà Siu Siu thì ngon quái gì mà đông người đến ăn như thế. Mỗi buổi chiều từ trên ban công nhìn xuống dưới hè ở trước nhà tôi thường quan sát thực khách ăn ở phía dưới. Tôi nhận diện không biết bao nhiêu những khuôn mặt nổi tiếng, từ minh tinh tài tử, văn nhân nghệ sĩ cho đến những nhân vật chính trị và quân sự quan trọng của miền Nam, và tôi thường tự hỏi trong số những thực khách ấy có mấy ai biết là mình ngồi ăn ở ngay trước cửa căn nhà của mẹ tôi, bà Nhất Linh.…

Chiều đến khi cơn nắng đã dịu tôi thường bắc ghế ra ngồi ở ban công nơi mẹ tôi có trồng ở góc một cây hoa giấy, cành lá và hoa giấy đỏ leo trên một tấm lưới sắt thưa. Ðiếu thuốc lá Capstan trên môi tôi thường nhìn qua những bông hoa giấy ngắm cảnh chợ vãn từ trên cao. Phía bên kia đường Nguyễn Duy Dương là trường trung học Trí Dũng quét màu vôi đỏ, giờ tan trường những cô cậu học sinh Tàu trong bộ đồng phục xanh trắng cà vạt đỏ đi túa ra khỏi cổng.

Trên hè lề đường ngay phía dưới ban công những thực khách của quán Siu Siu ngồi ăn uống ngon lành, trên mặt bàn ăn những chai lớn chai nhỏ bia Larue đầu cọp, bia “33”, những đĩa thịt gà trắng nuột nà, những bát cơm gà nóng bốc khói. Thỉnh thoảng tôi thấy mẹ tôi bước ra cửa gọi cơm để đãi khách và bao giờ cũng vậy ông chủ Siu Siu đích thân bưng cơm và thịt gà vào trong nhà cho mẹ tôi. Biết ý mẹ tôi ông luôn luôn mang vào một khẩu phần đặc biệt: một đĩa đùi gà được chặt rất khéo có thêm vài ba cái phao câu và một đĩa lòng gà gồm gan, mề, lòng, điểm mươi quả trứng bé bé xinh xinh màu vàng ngậy...

Chợ An Đông xưa, nơi nhà văn Nguyễn Tường Thiết từng sinh sống.

Chuyện cô Thẩm Thúy Hằng đến nhà mẹ tôi làm xôn xao dân chợ một dạo. Nhưng đó không phải là lần đầu tiên họ được dịp chiêm ngưỡng tận mắt những nghệ sĩ nổi tiếng. Cặp nghệ sĩ cải lương Kim Cương – Hùng Cường một buổi chiều nọ cũng làm náo động đám trẻ con khi họ đến ăn ở quán cơm gà Siu Siu.

Bữa đó tôi đang ngồi học bài trên gác thì có tiếng gọi ơi ới ở dưới đường: “Kim Cương tụi bay ơi!” – “Hùng Cường tụi bay ơi!”. Tôi bèn ra đứng ở ban công nhìn xuống. Trẻ con mấy chục mạng từ trong chợ chạy túa ra đường đứng thành hình vòng cung lớp trong lớp ngoài chung quanh quán cơm gà. Có vài người lớn trong đám nhưng họ chỉ đứng nhìn ở xa.

Mấy đứa nhỏ đứng hàng đầu tiến sát lại gần cái bàn ăn của hai thực khách nhìn trân trân vào tận mặt cô Kim Cương, thần tượng của chúng mà trước đó chúng chỉ được thấy trên màn ảnh TV. Rồi bất ngờ trong đám con nít đồng loạt có tiếng vỗ tay, vừa vỗ tay vừa reo hò, rất đúng nhịp: “Kim Cương nhai! Kim Cương nuốt!”. Tức mình, tài tử Hùng Cường đang ăn đứng lên phùng má trợn mắt nhìn đám trẻ. Tưởng nghệ sĩ này làm trò hề, lũ trẻ lại rộ lên cười. Ông Siu Siu đang chặt thịt gà, xách con dao phay chạy ra xua tay nói lớn: “Hê! Ðể cho người ta ăn lớ! Ðể cho người ta ăn lớ!”. Ðám trẻ rãn ra xa thôi hò hét nhưng không chịu đi, cứ đứng quanh đó mà nhìn cho tới khi cặp nghệ sĩ ăn xong lên xe.

Cứ như thế từ trên ban công căn nhà của mẹ tôi tôi ngắm cảnh sinh hoạt phía dưới không bao giờ chán mắt. Nội nhìn ông Siu Siu chặt thịt gà đã thấy mê! Con gà bóng mỡ nằm ngửa trên thớt. Một nhát dao phay bổ ngọt trên bụng. Rồi phập phập! Hai cái đùi gà văng ra. Bằng bốn đầu ngón tay trái ông Siu Siu chặn cái đùi gà, chặn kín chỉ chừa một khoảng hở. Phập! Con dao phay bổ sát móng tay. Rồi cứ thế các ngón tay ông ta lùi dần, lùi đến đâu con dao phập sát tới đó. Phập! Phập! Phập! Thoắt cái, đùi gà đã được chặt thành từng khúc nhỏ đều đặn. Xúc những miếng gà đã chặt bằng lườn con dao phay ông trải thịt gọn ghẽ lên một chiếc đĩa trắng, rắc một ít hành lá lên trên, thế là đĩa gà được mang cho khách, cùng với những bát cơm gà nóng vàng ngậy bốc khói cộng thêm hai thứ nước chấm, một chén xì dầu có những lát ớt đỏ và một chén gừng băm trộn dấm. 

Trong bao nhiêu năm quan sát ông Siu Siu chặt thịt gà tôi cứ bị ám ảnh bởi một ý nghĩ và ý nghĩ này không ngớt theo tôi cho tới tận ngày nay, hơn bốn mươi năm sau. Ðó là có bao giờ ông ta lơ đễnh trong lúc chặt thịt? Tôi không dám nghĩ tiếp vì cái hậu quả mà tôi hình dung thấy nó kinh khiếp quá!

Ngày nọ qua ngày kia trải qua hai mươi năm cái sinh hoạt ở dưới quán cơm gà Siu Siu đã in vào trí nhớ tôi như là những hình ảnh sống động khó phai mờ. Hình ảnh ấy phản ánh một bức tranh xã hội thu nhỏ của thành phố Sài Gòn qua thời gian. Khi cuộc chiến bắt đầu nở lớn lan rộng ở vùng quê thì ở những chiếc ghế dưới kia đã có thêm nhiều màu áo trận trong số thực khách… 

Tôi đã nhìn thấy những nữ sinh e ấp trong chiếc áo dài trắng gắp miếng thịt gà âu yếm bỏ vào trong bát của người yêu, một người lính rất trẻ ngồi đối diện; tôi đã nhìn thấy dãy bàn ăn đầy ắp những chai bia của những người lính trận đến đây ăn uống trong một lần về phép. Chợ An Ðông cũng bắt đầu có bóng dáng những người lính Mỹ. Vào năm 1966 khi quân đội Mỹ đổ nhiều vào Việt Nam thì chủ nhân của chung cư này là tay tài phiệt Huỳnh Siêu đã cho xây cất thêm lầu bốn và dành nguyên lầu này để cho Mỹ thuê. Ở trên lầu bốn của chung cư là lầu thượng có mở câu lạc bộ là chỗ giải trí cho lính Mỹ. Ðêm đêm tiếng nhạc và tiếng trống thình thình từ trên đầu chúng tôi dọng xuống…

Hai mươi mốt năm trôi qua trên đất Mỹ nhanh như một chớp mắt. Năm 1996 chúng tôi trở về Việt Nam lần đầu tiên và có dịp ghé chợ An Ðông thăm căn nhà cũ. Căn nhà nay đã đổi chủ. Bảng hiệu cau Cẩm Lợi thay thế bằng bảng tiệm vàng Kim Xuyến. Trong lúc vợ con tôi đi sắm đồ trong chợ An Ðông (nay được tân trang phía trong với một dẫy cầu thang cuốn) tôi đứng trước cửa tiệm vàng nhìn lên cái ban công trên cao nhớ lại những giờ phút xa xưa đứng trên đó nhìn xuống cái quán Siu Siu ở dưới này bây giờ không còn nữa, nhớ lại cả một thời thanh xuân, thời tuổi trẻ của mình mà lòng bồi hồi. Ðã bao nhiêu nước chảy qua cầu…

Trong cuộc đổi đời khủng khiếp ấy tội nghiệp nhất phải nói là ông chủ quán cơm gà Siu Siu. Vào năm 1975 sau 20 năm làm ăn phát đạt ông Siu Siu trở nên giàu có. Ông đã tậu 3 căn nhà sát nhau trong một dẫy phố đường Nguyễn Duy Dương, cạnh trường Trí Dũng, và biến 3 căn này thành một nhà hàng bán cơm gà thật lớn, trong khi ông vẫn duy trì cái quán cóc nhỏ ở sát cạnh nhà mẹ tôi. Vẫn theo lời kể của chị Thạch thì khi những người cộng sản vào trong Chợ Lớn họ niêm phong và tịch thu tất cả những nhà hàng lớn của Hoa kiều, chỉ cho hoạt động những nhà hàng nhỏ bán buôn lẻ tẻ. Ông Siu Siu bỗng nhiên một lúc bị tước đoạt cả 3 căn nhà. Còn quán cóc thì ông sang lại cho chú Sáng, một người bà con của ông.

Tháng Sáu năm 1978 những thương gia trong Chợ Lớn hùn nhau tổ chức một cuộc vượt biên bằng tàu. Ông Siu Siu và toàn gia đình ông tham dự trong chuyến đi ấy. Ra khơi không may tàu chìm. Toàn thể gần trăm người trên tàu không một ai sống sót chỉ trừ một mình ông Siu Siu. Ông bám vào một tấm ván theo sóng biển trôi tấp vào bãi biển tỉnh Bến Tre. Dân chúng địa phương báo cho công an biết và ông được chở vào bệnh viện cứu sống. Sau khi điều tra lý lịch biết ông Siu Siu ở chợ An Ðông họ điện cho công an phường An Ðông để xin giải ông về quận 5. Ông Siu Siu sau đó trở thành người mất trí. Không còn nhà cửa để ở ông sống lây lất ngay dưới mái hiên căn nhà cũ của mình ở đường Nguyễn Duy Dương. Rồi giống như “chú Tiều” (một nhân vật khác trong hồi ký), ông bắt đầu điên khùng nói năng lảm nhảm. Nhưng tệ hơn “chú Tiều”, ông phải ngửa tay xin từ gói xôi, gói bắp của những người qua đường để sống, những người mà chỉ mấy năm trước đã là thực khách thường xuyên của quán cơm gà rất nổi tiếng của ông.

Nhà văn Nguyễn Tường Thiết

Saturday, February 21, 2015

Ri Tro Theo Gió.

Nguyễn Tường Thiết

Tặng Nhung, “đứa con đầu lòng” của nhà văn Thạch Lam.
Tôi gặp anh tất cả bốn lần. Bốn lần đó trải dài hơn ba thập niên. Không nhiều. Đã thế dường như trong cả bốn lần đó ngoài cái gật đầu chào chúng tôi không hề trao đổi với nhau lấy một tiếng. Anh vốn ít lời. Còn tôi thì e dè. Tôi vốn có tính rất ngại bắt chuyện với một người nổi tiếng, đặc biệt nếu người ấy lại là người có quyền thế. Trong thâm tâm tôi biết nếu tôi mở chuyện thì anh cũng sẽ vui vẻ bắt chuyện ngay. Đằng sau gương mặt lầm lì ít nói ấy anh là người rất bình dị. Nhưng lần nào cũng thế sau cái gật đầu chào, tôi không bao giờ cất tiếng. 

Để đến bây giờ ngồi trước bàn máy vi tính một buổi sáng mùa thu miền Tây Bắc nước Mỹ, tôi viết đôi dòng về anh mà lòng không khỏi gợn chút nuối tiếc: bài viết của tôi vì thế sẽ không ghi lại một mẩu đối thoại nào, dù ngắn, để làm kỷ niệm giữa anh và tôi. Mà nào giữa chúng tôi đâu có phải người xa lạ gì cho cam? Anh là nguời rất thân cận trong đại gia đình Nguyễn Tường chúng tôi, là chồng của người em họ tôi, trưởng nữ của nhà văn Thạch Lam.


Tôi nhớ lại hình ảnh anh trong bốn lần gặp ấy. Bốn lần thì có đến ba anh hiện lên trước ly rượu. Đó cũng là hình ảnh cha tôi thường thoáng hiện mỗi lần tôi nhớ về ông. Trước ly rượu anh trầm ngâm yên lặng. Cha tôi cũng thế. Và bao giờ cũng vậy mỗi lần nghĩ về anh lòng tôi không khỏi có ngầm một sự hãnh diện thầm kín rằng dòng họ tôi có được một người rể như anh nổi tiếng là người thanh liêm.

Cách đây sáu năm khi tái bản cuốn truyện của cha tôi, cuốn Giòng Sông Thanh Thủy, tôi đã viết lời đề tặng anh trên trang đầu cuốn sách những lời thật lòng: “Tặng anh Ngô Quang Trưởng, với cả tấm lòng quí mến và ngưỡng mộ”.
Tướng Ngô Quang Trưởng

Cơ duyên nào mà một vị tướng lừng danh của quân lực miền Nam Việt Nam lại kết duyên với cô con gái lớn của nhà văn tài hoa nhất Tự Lực Văn Đoàn? Tôi không biết nhiều để trả lời thật đúng cho câu hỏi này. Người có thẩm quyền trả lời là bà Trưởng. Mang dòng máu của nhà văn Thạch Lam tôi nghĩ Nhung nếu muốn viết cũng sẽ dễ thôi. Tôi cũng không có ý định viết hồi ký về anh vì thật tình tôi không biết nhiều. Chỉ xin ghi lại đây đôi chút kỷ niệm với anh trong dăm lần gặp gỡ hiếm hoi.

Trước khi gặp anh lần đầu tiên vào năm 1962 tôi đã nghe lan truyền câu chuyện về một mối tình tay ba của hai sĩ quan trẻ thuộc hai binh chủng khác nhau của QLVNCH, một không quân và một nhẩy dù, với cô con gái lớn của một nhà văn nổi tiếng. Hai quân nhân cùng yêu một cô gái. Đó là chuyện thường tình trong cuộc chiến. Điểm đặc biệt họ lại là đôi bạn rất thân nhau. Trước cái chết có thể đến bất cứ khi nào, họ giao ước với nhau trong tình bạn là nếu người nào nằm xuống trước thì người kia nguyện sẽ suốt đời chăm lo cho cô gái kia. Người phi công sau đó tử nạn máy bay và định mệnh đã đẩy cô em họ tôi gắn liền cuộc đời với anh Trưởng. Sau này nhiều lần gặp Nhung tôi toan hỏi Nhung về câu chuyện tình này có đúng sự thực hay không, nhưng tôi lại thôi không hỏi. Với tôi đó là một huyền thoại đẹp, hãy cứ để nguyên vẹn như thế trong trí tưởng tượng của tôi.

Năm 1962 tôi ở Sài Gòn và dậy học tại trường trung học Minh Tân ở Biên Hòa. Một bữa anh Triệu tôi, hiệu trưởng trường Minh Tân, chở tôi từ Biên Hòa về Sài Gòn trên chiếc xe lambretta của anh. Đến Thủ Đức anh tôi đề nghị ghé thăm Nhung lúc này đang ở đó. Trong lúc nói chuyện với Nhung thì có tiếng xe đỗ ở ngoài cửa. Tôi nhìn ra. Từ trên xe jeep một sĩ quan bận đồ dù nhẩy xuống. Hai bông mai trên ve áo trận. Anh Trưởng lúc ấy cấp bậc Trung úy giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 5 Nhẩy Dù. Anh người tầm thước, nước da ngâm đen, khuôn mặt sần sùi khắc khổ. Cảm tưởng đầu tiên của tôi là anh không những không đẹp trai, lại không có cái “tướng” hùng của một quân nhân. Trí tôi lúc ấy thoáng hiện câu chuyện tình tay ba và tôi hình dung khuôn mặt anh chàng phi công tử trận chắc là phải hào hoa và đẹp trai hơn anh Trưởng.

Năm 1967 tôi gặp anh Trưởng lần thứ nhì ở Huế thì trên ve áo trận của anh hai bông mai đã thay thế bằng một ngôi sao. Anh đã lên tướng! Người sĩ quan tôi trông không có “tướng” ấy, năm năm sau đã được thăng tướng trong một thời gian ngắn kỷ lục. Trong họ tôi bắt đầu có lời đồn đãi là từ khi anh Trưởng lấy Nhung thì như diều gặp gió đường binh nghiệp của anh lên vùn vụt. Từ một Trung úy Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 5 Nhẩy Dù anh bây giờ là Chuẩn tướng Sư đoàn trưởng Sư đoàn 1 Bộ Binh. 


Năm ấy từ Sài Gòn tôi bay ra Huế hai tuần lễ và tá túc tại đại học xá Nam Giao, nơi mà hai năm trước tôi đã từng là sinh viên nội trú để theo học ở Đại Học Khoa Học Huế. Từ Nam Giao tôi đi bộ đến thăm cô em họ, lúc này đã khó gặp vì ở một nơi rất “kín cổng cao tường”. Tư dinh của tướng Trưởng là một biệt thự trên đường Lê Thánh Tôn gần nhà bưu điện Huế. Chung quanh tòa nhà giây thép gai giăng đầy, ở bốn góc là bốn lô cốt thiết lập bằng những bao cát với những họng súng chĩa ra từ lỗ châu mai. Người lính gác cổng vào trong nhà báo và Nhung đã ra tận cổng để tiếp tôi. 



Chúng tôi đang nói chuyện ở sa lông thì anh Trưởng về. Trông anh mệt nhọc nhưng oai phong hơn hẳn lần tôi gặp anh 5 năm trước. Thuở ấy tôi chưa nhập ngũ, vẫn còn là sinh viên, dù vậy trông anh tôi cũng có cảm giác hơi khớp. Không biết có phải vì ngôi sao trên ve áo anh khiến tôi thấy anh oai vệ hơn không. Tôi đứng dậy chào anh trong lúc Nhung nói với anh Trưởng: “Anh Thiết, con bác Tam đấy!”. Anh không nói gì, chỉ khẽ gật đầu, rồi lẳng lặng ra chỗ quầy rượu nơi có đặt mấy chai Martell có ngâm những củ sâm bên trong, anh rót rượu vào ly rồi cầm ly rượu trên tay không uống, anh chậm rãi bước tới bước lui trong phòng khách, đầu cúi nhìn sàn nhà vẻ mặt đăm chiêu suy nghĩ.

Năm 1970 khi tôi gặp lại anh lần thứ ba thì tôi đã là một quân nhân. Sau biến cố Tết Mậu Thân tôi nhập ngũ khóa 2/68 Thủ Đức. Ra trường tôi phục vụ ngành Chiến Tranh Chính Trị tại Tổng Cục CTCT ở Sài Gòn. Năm ấy khoảng gần tết thím Sáu tôi tức là bà Thạch Lam mất tôi đi viếng thím trong bộ quân phục. Quan tài thím đặt tại tư dinh tướng Trưởng trong cư xá sĩ quan Chí Hòa. Họ hàng chúng tôi đứng chật hai bên quan tài đặt chính giữa phòng khách. Xe jeep đậu trước cửa. Anh Trưởng bước vào. Bỏ chiếc mũ lưỡi trai cặp tay – chiếc mũ gắn hai ngôi sao đen – anh đứng yên lặng trước quan tài mẹ vợ cúi đầu. Đứng ở bên này quan tài, đối mặt anh lần đầu trong tư thế một quân nhân, một Thiếu úy trước một Thiếu tướng, tôi cảm nhận tất cả cái trọng trách lớn lao của vị tướng Tư Lệnh Quân Đoàn IV, quân khu IV, hằn trên gương mặt khắc khổ của anh. Hai phút sau anh đội mũ lên đầu rồi vội vã bước ra xe đi mất.

Năm 1972 sau “mùa hè đỏ lửa”,  tôi là một trong ba sĩ quan của Khối Kế Hoạch/ Tổng Cục CTCT đi thanh tra vùng giới tuyến. Ba người ấy là Trung tá Vĩnh Huyền, Thiếu tá Nguyễn Công Luận và tôi với cập bậc Trung úy. Phái đoàn bay ra Huế trú đóng hai tuần lễ ở Mang Cá trong cổ thành Đại Nội. Không khí nơi đây đượm mùi chiến tranh. 


Lần đầu tiên kể từ ngày ra trường tôi trực diện với cuộc chiến. Cộng quân lúc này thỉnh thoảng vẫn tiếp tục nã pháo vào cổ thành Huế. Mỗi lần nghe tiếng đạn rít trên không trung tôi quơ nón sắt chụp lên đầu nhào xuống giao thông hào nơi hàng trăm binh sĩ thuộc đủ loại binh chủng và cấp bực cùng nhào xuống trú pháo. Theo bản năng tự nhiên mỗi lần nghe tiếng đạn pháo rít trên cao là tôi lại chúi đầu xuống đất mặc dù tôi biết rằng nghe được tiếng đạn rít tức là mình đã thoát chết vì đạn đã bay qua khỏi đầu. Chính trong lúc trú pháo này mà tôi hiểu được nỗi kinh hoàng mà anh vợ tôi Trung úy Nguyễn Thái Hòa và những chiến sĩ sư đoàn 5 Bộ Binh tử thủ An Lộc đã phải hứng chịu trước những trận mưa pháo dữ dội hơn gấp cả ngàn lần. Trước khi ra Huế lần này tôi đã đi chôn anh Hòa tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa. Anh tử trận ngày 7-7-1972 đúng ngày Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bay xuống An Lộc gắn lon Đại úy cho anh và ngay đêm đó anh bị pháo chết. 



Nội trong 24 tiếng đồng hồ ông anh vợ tôi đã lên chức hai lần, từ Trung úy lên cố Thiếu tá. Và cũng chính trong lần ra Huế này mà tôi được nghe được rất nhiều giai thoại về anh Trưởng, “người hùng tái chiếm Quảng Trị” lúc này đã được vinh thăng Trung tướng với ba sao trên ve áo và giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I, Quân khu I. Tất cả những giai thoại đó nếu được ghi lại đầy đủ tôi nghĩ có thể viết thành một quyển sách. Giai thoại về sự thanh liêm trong sạch của anh cũng có. Giai thoại về tác phong chỉ huy của anh cũng có. Giai thoại về lòng thương lính dưới quyền của anh cũng có.


Tôi nhớ là trong giao thông hào giữa hai đợt pháo kích một vị sĩ quan cạnh tôi sau khi biết sự liên hệ rất gần giữa tôi với anh Trưởng hỏi tôi có đi thăm tướng Trưởng trong lần ra Huế này không. Tôi trả lời không. Rồi tôi nói thêm: “Mình chả dại. Đang ngon lành trong ngành CTCT lại ở hậu cứ, gặp ổng nhỡ ổng lại ký giấy tống mình ra tiền tuyến thì mệt lắm. Mà không phải tôi nói giỡn đâu. Một người anh họ tôi cùng khoá với tôi 2/68 đã bị lãnh búa rồi. Ông tướng hãnh diện đi khoe với cố vấn Mỹ là có người anh họ đang chiến đấu ở ngay tuyến đầu!”

Lần thứ tư tôi gặp anh Trưởng là vào tháng 7 năm 1993 tại Virginia, tiểu bang êm đềm của nước Mỹ. Như một khúc phim được quay nhanh, hai mươi ba năm sau ngày tôi gặp anh lần chót ở Việt Nam tôi lại thăm anh Trưởng tại tư gia, một căn nhà khiêm nhường tại vùng thủ đô Hoa Kỳ. Cuộc chiến Việt Nam như một giấc mơ hãi hùng nhưng không thực lúc này đã trở thành dĩ vãng. Năm đó vào tháng 7 chúng tôi bay qua miền Đông nhân ngày giỗ thứ 30 của cha tôi được tổ chức tại nhà anh cả tôi, anh Việt, ở Virginia. 


Lần đầu tiên gặp anh Trưởng trong bộ thường phục, trông anh là lạ. Anh bận chiếc áo mông-ta-gu màu đỏ trông anh mập ra, trẻ trung và khỏe mạnh. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy ở anh vẻ an bình hiện trên gương mặt. Nhưng đó chắc chỉ là bề ngoài. Bên trong chắc hẳn anh mang nặng nỗi đau và niềm cay đắng của một vị tướng bại trận sẽ mang theo anh cho đến tận cuối đời. Anh đích thân rót rượu và ân cần mời tất cả mọi người. Tôi toan tiến lại gần anh, nói với anh vài lời, đặc biệt là bầy tỏ tấm lòng của tôi đối với anh, nhưng tôi lại thôi. Tôi nghĩ trong bụng anh có thể đã nghe những lời bầy tỏ tương tự như thế rất nhiều lần rồi, nói ra lại thành khách sáo, vả lại chúng tôi là người nhà, còn thiếu gì những dịp khác để gặp anh tâm tình. Nhưng tôi đã lầm. 



Dịp khác để gặp anh đã không bao giờ đến, cho đến khi anh ra đi vĩnh viễn vào ngày 22 tháng 1 năm 2007. Tôi không thể ngờ lần thứ tư tôi gặp anh ở Virginia đó cũng là lần chót. Và chúng tôi vẫn chưa bao giờ trao đổi với nhau được lấy một lời. Tôi chỉ còn cách tự an ủi là ba năm trước khi anh mất anh đã đọc những lời chân tình của tôi viết về anh trên trang đầu cuốn sách Giòng Sông Thanh Thủy tôi gửi tặng.
*
*     *
Trưa hôm nay tôi lái xe đến thăm anh Phạm Hậu. Nhà anh Hậu ở Bothell, cách Shoreline chỗ chúng tôi ở khoảng 20 phút lái xe. Từ mấy năm nay chúng tôi có một giao ước. Cứ cách khoảng hai tháng là hai đứa phải ới cho nhau một tiếng, hẹn nhau tại một quán ăn, ăn trưa rồi ngồi hàn huyên. Luân phiên chúng tôi trả tiền. Nhưng dạo này anh hơi lẫn, ngại lái xe, nên tôi thường đến nhà anh chở anh đi.Từ trong nhà bước ra anh nói ngay:


– Tôi quên mất rồi. Không biết lần này ai trả tiền, ông hay tôi?


– Tôi cũng không nhớ. Nhưng nhầm nhò gì. Để tôi trả cho. Anh cứ “vô tư” đi cho tôi nhờ!

– Này này! Ông đừng có lợi dụng cái bệnh Alzheimer của tôi nhé! Cái gì cũng phải cho nó sòng phẳng…


Trong lúc lái xe tôi nghĩ đến sự tình cờ hi hữu đã khiến chúng tôi gặp lại nhau và ở gần nhau trên nước Mỹ. Bốn mươi năm trước chúng tôi có một thời gian cùng phục vụ tại Khối Kế Hoạch/Tổng Cục CTCT. Anh Hậu lúc ấy là Thiếu tá nhưng anh chỉ tạm trú ở Tổng Cục vài tháng trước khi chờ biệt phái sang Phủ Tổng Thống. Hồi đó tôi nghe đồn anh có “gốc” lớn lắm. Sau này kể anh chuyện ấy anh cười nói: “Gốc mẹ gì! Toàn là đồn nhảm không à!”. Tôi cũng nhớ là sau khi biết tôi là con của ông cụ, anh Hậu, tác giả tập thơ Chuyện Chúng Mình, có đọc cho tôi ngay câu thơ mà anh đã làm trước đó mười năm: “Yêu Nhất Linh tôi chọn tên Nhất Tuấn”. Cùng sang Mỹ năm 1975 và cùng chọn tiểu bang miền Tây Bắc nước Mỹ để định cư, chúng tôi đã có dịp gặp nhau thường xuyên từ hơn ba mươi năm nay.


Ăn trưa xong, bên tách trà nóng, chúng tôi ngồi ôn chuyện cũ. Lẫn trong câu chuyện hình ảnh của những người mà chúng tôi đã từng quen biết năm xưa, người mất kẻ còn, lần lượt hiện ra.


Tội nghiệp Trung tá Ngô Văn Hùng, Trưởng khối Kế Hoạch/Tổng Cục CTCT, xếp của chúng tôi, đã chết vì ngộp thở trên chuyến tàu hỏa chở những tù nhân cải tạo ra Bắc. 



Trung tá Nguyễn Đình Bảo, Trưởng phòng Nghiên Cứu Kế Hoạch, xếp trực tiếp của tôi, cũng đã ra đi tại tiểu bang New Jersey miền Đông nước Mỹ. 



Trung tá Vĩnh Huyền, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 50 CTCT, người mà anh Hậu vẫn khen là có gương mặt và tác phong rất bảnh, đã từ lâu tôi mất liên lạc, không biết còn ở Calgary bên Canada hay không. 



Và Thiếu tá Nguyễn Công Luận nữa, không biết anh còn ở San José hay không, sức khoẻ anh hiện ra sao…


Bên ngoài lướt qua khung kính của nhà hàng mưa nhẹ bay bay. Bãi đậu xe lá vàng phủ ướt nhẹp. Bây giờ là cuối thu, những chiếc lá của hàng cây phong trồng trên bãi đậu xe đã bắt đầu chuyển từ màu vàng óng sang màu đỏ tía. Mỗi lần cơn gió mạnh thổi lá rụng lả tả bay đậu trên mui trên kính những chiếc xe hơi nằm trên bãi.

Tôi nhìn anh Phạm Hậu ngắm hàng râu mép của anh và bỗng thấy anh cũng bảnh y như Trung tá Vĩnh Huyền trong hình ảnh ký ức tôi năm xưa. Chỉ khác là bây giờ râu tóc của nhà thơ này đã chuyển sang màu muối tiêu. Nhớ đến Trung tá Vĩnh Huyền tôi lại liên tưởng đến lần chúng tôi ra Huế năm 1972 và tôi nói với anh Hậu:


– Tôi đang viết giở một bài về tướng Ngô Quang Trưởng, nghe nói anh có làm bài thơ về ông Trưởng hay lắm, anh có thể đọc cho tôi được không?


Năm ngoái cũng trong một lần đi ăn trưa như hôm nay tôi đã kể cho anh Hậu nghe về ước muốn sau cùng của anh Trưởng là sau khi anh chết tro của anh được thả trên đèo Hải Vân. 


Vào mùa hạ năm 2008, một năm sau khi anh chết, ý nguyện đó đã được gia đình thực hiện. Theo lời Nhung kể cho tôi trong một lần điện đàm thì anh Trưởng có một người tài xế sống ở Việt Nam mà Nhung vẫn thường xuyên liên lạc và giúp đỡ từ nhiều năm nay. Chính chú tài xế ấy đã đón Nhung và các con Nhung tại phi trường Tân Sơn Nhất khi Nhung mang bình tro anh Trưởng về Việt Nam. 



Từ phi trường chú tài xế chở mọi người về nhà chú tại ngoại ô thành phố Sài Gòn. Thật là một điều lạ lùng là nhà chú tài xế đó lại ở trên đường Thạch Lam, một con đường mới mở sau này khá lớn và dài ở sâu trong Chợ Lớn. Tôi có hỏi Nhung là chú ấy có biết Nhung là con của Thạch Lam hay không ? Nhung trả lời là chú ấy không biết và Nhung cũng không nói. 



Rồi sau đó tất cả bay ra Huế thuê xe lên đèo Hải Vân. Đến gần đỉnh đèo nơi một khúc ngoặt nguy hiểm có một cái miếu nhỏ thờ những người bị tai nạn chết ở đó Nhung quyết định chọn chỗ này để rải tro.

 

Đèo Hải Vân

Đã hơn 10 năm qua, trời nắng cũng như mưa, ông Bừa vẫn lặng lẽ túc trực, quét dọn, hương khói ở cái miếu thờ những người không may tử nạn nằm cô quạnh trên đỉnh đèo Hải Vân (ranh giới giữa Đà Nẵng và tỉnh TT-Huế)...

Suốt ngày hôm đó trời âm u giông gió. Mấy mẹ con và chú tài xế khấn nguyện trước miếu. Một lát lâu sau khấn xong ngửng lên thì trời đất bỗng dưng quang đãng hẳn lên mây tan và trời trong xanh. Vợ con anh Trưởng từng người một kể cả người tài xế trung thành lần lượt rải tro theo gió, tro của vị tướng lừng danh của quân sử VNCH bay trên ngọn đèo hùng vĩ Hải Vân nơi mà chú tài xế kia đã nhiều lần chở vị tướng ba sao qua lại trên trục lộ Huế-Đà Nẵng, ngọn đèo đã đưa vị tướng chấn lĩnh vùng địa đầu lên đỉnh vinh quang và cũng là ngọn đèo đã kéo vị tướng ấy xuống chốn cùng thảm bại.

Rải tro theo gió… trên đỉnh đèo Hải Vân… ý nguyện của người đã khuất gợi lên trong tôi hình ảnh vừa bi hùng lại vừa lãng mạn, như là sự kết hợp tuyệt vời giữa mối tình của viên dũng tướng với cô con gái đầu lòng của nhà văn Tự Lực Văn Đoàn.

Ngậm ngùi tôi lắng nghe anh Phạm Hậu đọc bốn câu thơ sau đây của anh:


Lệnh sáng giữ, lệnh chiều bỏ Huế!
Bao chiến công… cũng thế mà thôi
Hải Vân… tro rắc bốn trời
Hạt tro nào… lạc vào nơi cổ thành?

Nhất Tuấn


Tiểu đoàn 5 Nhẩy Dù VN (3/1954-9/1954).
Nguyễn Tường Thiết

Blog Archive