Showing posts with label Nguyễn Đại Thuật. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Đại Thuật. Show all posts

Sunday, April 12, 2026

MỘT NGƯỜI ẤN

Nguyễn Đại Thuật

Hân đang nói chuyện trong phòng điện-thoại công cộng bên ngoài cổng trường đại-học thì một người đàn ông đi xe lăn đến ngừng bên cửa. Đã gần hết tháng tư nhưng Paris vẫn còn lạnh. Người đàn ông trên xe lăn đội mũ lưỡi trai kéo thấp xuống làm che đi phần trán nên khó phân biệt tuổi thời gian cũng như sắc dân của ông. Người ông hơi run dù thân thể ông được bao trùm bằng một áo ấm có tên tuổi thương hiệu và cao giá.

Có lẽ ông muốn xử dụng điện-thoại, Hân tự nhủ. Hân đang nói chuyện với mẹ ở Viêt-nam. Hôm nay Hân có nhiều chuyện nói với mẹ. Hai mẹ con đã nói với nhau hơn mười phút, chưa biết bao giờ sẽ ngừng. Người đàn ông trên xe lăn lấy một tờ quảng-cáo của một siêu-thị ra xem, bình thản chờ....

Khi Hân mở cửa phòng điện-thoại bước ra, người đàn ông đi xe lăn vội vàng lùi xe nhanh ra xa cánh cửa, mỉm cười.

Như hiểu ý, Hân giữ cánh cửa mở rộng, ông ta lăn xe vào bên trong, rồi nhìn Hân:
- Merci, jeune homme.

Hân chưa kịp đáp lại lời chào của ông, ông đưa một ngón tay chỉ vào người Hân, vừa cười, vừa nói lớn bằng tiếng Việt:

- Không cần hỏi, tôi biết cậu là người Việt nam. Lúc chờ gọi điện-thoại bên ngoài, nghe tiếng nói của cậu, tôi biết ngay cậu là người Việt-nam. Giữa Paris rộng lớn mà gặp được người Việt tôi mừng lắm. Bây giờ người Việt mình ở Paris cũng bắt đầu đông rồi, nhưng hiếm khi gặp được người Việt. Thuờng khi gặp những người Á-châu, mình không phân biệt được họ là người Việt, người Miên, người Lào hay người Tàu.

- Dạ, đúng rồi, cháu là người Việt-nam.

Hân trả lời và cúi đầu chào

Người đi xe lăn lấy mũ ra khỏi đầu, tự giới thiệu:
- Em có tin tôi là người Việt-nam không? Da tôi đen không giống như da của em, nên nếu tôi không nói tiếng Việt thì chắc không ai biết..? Tôi thuộc gốc dân Ấn-độ. Tên Ấn-độ của tôi là Taku, người Việt gọi tôi là Cư

Ông vừa nói vừa xoay người một cách khó khăn để lấy ống liên-hợp của máy điện-thoại. Hân lấy ống liên-hợp để vào tay ông. Ông đập nhẹ vào cánh tay Hân :
- Tôi chỉ cần nói điện-thoại chút xíu thôi, cậu có chuyện gì gấp để làm không, nếu không tôi nói xong thì mình đi uống cà-phê?

Hôm nay ngày lễ Phục Sinh, Hân cũng dự tính đi uống cà-phê sau khi nói chuyện điện thoại với mẹ. Thấy người đàn ông đi xe lăn vui tính nên Hân nhận lời. Hân chậm chậm đi xa phòng điện thoại chờ ông. Khi thấy ông gác máy, Hân lại giúp người đàn ông đi xe lăn lùi xe ra ngoài bằng cách chạy đến giữ cánh cửa phòng điện-thoại mở rông.

Ông nói:
- Bây giờ em và tôi đến quán cà-phê bên hông trường đại-học, giờ nầy nơi đó vắng khách, yên tĩnh, còn mấy quán khác trước trường đại học ồn ào và đông người, đôi lúc ngồi chờ cả tiếng đồng hồ cũng chưa thấy người phục vụ quan tâm đến mình.

Hân đi theo sau ông. Nghe cách ông nói và thái độ nhanh gọn của ông, Hân nghĩ chắc ông rất quen thuộc với khu phố nầy.
- Bác Taku rành khu phố nầy quá?

- Gọi tên bác là Cư, mình là người Việt, còn tên Taku để cho người Ấn độ gọi. Bác sinh sống ở khu nầy hơn hai mươi năm, không rành sao được. Nhà bác cũng không xa khu phố nầy bao nhiêu. Ông vừa nói vừa cười vui vẻ.

Sau khi hai người ngồi vào bàn, ông nói với Hân:
- Cháu uống gì cứ gọi, còn bác, mấy người hầu bàn ở đây biết bác uống loại cà-phê nào, tự động họ pha cho bác.

Sau khi cà-phê được mang đến, ông Cư hỏi Hân:
- Cháu sống bên nầy lâu chưa? đi học hay đi làm?

- Da, cháu còn đang đi học tự túc. Cháu học chương trình toán tại đại-học nầy. Năm nay là năm thứ hai của chương trình bốn năm.

- Cháu có anh chị em đông không ?

- Dạ, mẹ cháu chỉ có một mình cháu. Theo lời mẹ cháu kể, cha cháu không còn chung sống với mẹ cháu trước khi cháu được sinh ra, và có thể cha cháu không biết ông đã có con với mẹ cháu.

Hai mày ông Cư nhíu lại, ông buông một tiếng thở dài .Ông đăm chiêu một chút :
- Mười năm trước bác dạy ngôn-ngữ Ấn trong trường đại học nầy. Một buổi sáng trên đường đi làm bằng métro, métro bị bọn khủng bố đặt bom, bác bị thương mất hai chân, tai nạn cũng làm bác không còn khả năng có con. Bác đã nghỉ dạy học. Nhà của bác cách quán cà-phê nầy không quá hai trăm mét.

Hân ái-ngại nhìn hai chân bị cắt cụt của ông Cư, im lặng...Sự im-lặng kéo dài đến lúc hai nguời rời quán cà-phê.

Theo lời hẹn, vào ngày lễ Lao-động 1 tháng 5 Hân đến thăm ông Cư. Căn nhà ở tầng trệt trong chung-cư 5 tầng.

Nhà có một phòng khách, hai phòng ngủ được bày trí theo phương-cách tạo thuận tiện cho người tàn-tật xử dụng xe lăn. Hân giúp ông Cư pha cà-phê, trong khi ông đang nói chuyện điện thoại với ai đó bằng tiếng Ấn-độ. Vừa gát máy điện-thoại, ông bưng ly cà-phê nhấp một ngụm, thở ra một cách thỏa mái:

- Máy điện-thoại nhà bác không xử dụng được hai tuần nay vì lý do nào đó không rõ cho cả khu chung cư. Đường dây được hoạt động lại từ chiều hôm qua. Mấy ngày trước bác phải ra phòng điện thoại công cộng gọi cho gia- đình bác bên Ấn-độ để báo cho biết, sợ bên đó gọi qua không được lại lo, hôm đó tình cờ gặp cháu.

Hân đã được ông Cư kể cho nghe về ông: Cha ông ngưới Ấn gốc Penjab, có tiệm bán vải ở Sài-gòn. Mẹ ông người Việt, có ba người con, hai trai một gái, ông là con trai đầu lòng. Vừa học hết chương trình trung học nội trú Tabert thì Việt-nam hết chiến tranh. Gia-đình ông bị chính-quyền mới trục-xuất về Ấn-độ. Ông hoàn tất đại-học tại quê- ông. Ông xin dạy tại Pháp và định-cư tại đây. Ông cưới bà vợ Ấn, nhưng hai năm sau khi ông bị tai nạn, vợ ông bỏ về xứ lấy chồng khác, ông chưa có con.

Được biết Hân đang muốn tìm một công việc ngoài giờ học để phụ thêm tiền của mẹ gởi, ông Cư hứa giúp.

Nhờ sự hiểu biết về luật về việc làm cho sinh-viên đến học từ nước ngoài, mấy tháng sau ông đã tìm được cho Hân việc làm trong một quán cà-phê ông quen biết. Lần đầu tiên ông đưa Hân đến nhận việc, người quản lý tiệm hỏi Hân:
- Anh cùng xứ Ấn-độ vối ông Taku phải không?

Hân lắc đầu:
- Không, tôi là người Việt-nam, du học sinh.

Người quản lý nhìn Hân với cặp mắt không được bình thường, ngập-ngừng nói trước khi quay trở lại công việc đang làm:
- Tôi cứ tưởng....anh có họ hàng với ông ấy!

Câu nói của người quản-lý cứ ám-ảnh Hân suốt buổi làm hôm ấy. Hân nhớ lại lúc còn nhỏ, mỗi khi mẹ vắng nhà thường nhờ bà bán bánh Cay và chuối nướng đầu hẻm săn sóc. Không như mẹ, bà gọi Hân là thằng Cà-ry.

Hân thường hỏi mẹ tại sao bà Bảy bán bánh Cay và chuối nướng gọi Hân là thằng Cà-ry thì mẹ Hân chỉ cười, ôm Hân, hôn lên trán Hân, hay bẹo má Hân trả lời:

- Cách đây mấy năm, khu Chuồng Bò ở ngã Bảy có nhiều gia-đình Ấn-độ sinh sống, con cái họ rất đông, người Việt mình hay gọi họ là "Cà-ry"vì người Ấn có món ăn đặc biệt nấu có pha chế bột cà-ry. Trong xóm lúc nào cũng phảng phất mùi cà-ry rất nồng. Bà Bảy gọi con là thằng Cà-ry, có lẽ để nhớ những đứa trẻ trước đã sống ở đây, nay đã bị nhà nước mới đuổi về Ấn-độ cùng với gia-đình vì họ là người nước ngoài.

Mẹ không còn sống ở khu chuồng Bò, mua nhà trong khu cư-xá Đô-Thành, gần sát bịnh-viện Bình-dân, cách xa khu chuồng Bò chừng mười lăm phút đi bộ. Hân thi đậu vào trường trung-học Lê-hồng Phong. Trường học gần khu nhà cũ, thỉnh thoảng Hân ghé mua bánh Cay của bà Bảy. Qua cái nhìn của Hân, bà Báy không lớn tuổi hơn mẹ bao nhiêu ước chừng bốn, năm tuổi. Mẹ và bà Bảy thân nhau như hai chị em. Mẹ có mời bà Bảy cùng về sống chung với mẹ khi mẹ mua nhà mới nhưng bà Bảy từ chối. Hân nghe bà Bảy trả lời mẹ:

- Từ cha sinh mẹ đẻ chị đã gắn bó chỗ nầy rồi, nay bỏ đi chị sẽ nhớ không chịu nổi. Nghe đồn khu nầy sẽ bị giải tỏa, chờ đến lúc đó sẽ tính. Lúc đó chị sẽ về lại dưới quê hoặc qua sống với em.

Mấy năm sau, Hân lên học cấp ba, khu chuồng Bò chưa bị giải-tỏa, Hân ghé thăm bà Bảy, đang lúc bà chuẩn bị làm bánh Cay. Hân giúp bà nhồi bột. Hương thơm bột cà-ry kích-thích, Hân hít đầy lồng ngực,.nhìn thái độ của Hân, bà Bảy phì cười nói với Hân:

- Bộ thằng nhỏ mầy thích Cà-ry lắm hén?

Nói xong, bà Bảy chìa gói bột Cà-ry Nị trước mặt Hân:
- Có biết Bà gọi "mày" lúc nhỏ là thằng Cà-ry là tại sao không? Hãy nhìn kỹ cái ông "Cà ry-Nị"có giống "mày" không?

Nhìn hình người Ấn-độ trình bày trên gói bột, Hân cười... cười trả lời:
- Bộ bà Bảy nói con là Ấn-độ sao bà Bảy? da con đâu có đen như ông nầy.. con đâu có giống Ấn-độ như bà Bảy nói...con giống mẹ mà?

Bà Bảy thu lại gói bột Cà-ry Nị, rồi “xì” một tiếng:
- Mày giống Ấn độ hay giống mẹ mày thì về hỏi mẹ mày thì biết.

Hân tiến đến tấm gương nhỏ treo trước của nhà thay tấm bát quái đồ để trừ tà, theo thói quen của những người buôn bán. Hân nhìn kỹ mặt mình, trong cái ấn tượng mình là người Ấn-độ theo lời bà Bảy vừa nói ra. Hân nhìn thấy mình không khác gì với những lần nhìn mình trong gương trước đó. Mắt Hân to và đen láy có hàng lông nheo cong, lông mày đậm, mũi cao, da sáng...giống như những người đồng tuổi ngoài đời hay những bạn cùng trường. Nhưng rồi Hân cảm thấy có gì hơi khác lạ. Hân nhớ đến những lúc chơi thể thao ngoài trời, chỉ mặc cái quần ngắn, thân hình Hân to lớn, chân tay và ngực đầy lông, so với những bạn khác ngực và chân tay hoàn toàn trơ trụi.

Hân nghĩ lời bà Bảy có thể tin được, rồi giúp bà Bảy bày lò, cái bàn nhỏ, mấy thau bột, mấy nải chuối ra trước hiên nhà. Trước đây, cái thời nhà nước cũ, bà Bảy bán ngoài đầu hẻm. Hai mươi năm nay, nhà nước mới không cho bà bán ngoài đầu hẻm, vì cho rằng bán như vậy không có văn hóa, bà phải đưa bàn ghế về bán trước hiên nhà bà. Hân chào bà Bảy ra về. Vừa bước ra đến cửa, Hân nghe bà Bảy nói theo:

- Cháu ơi, Cà-ry hay nước mắm cũng là đồ ăn. Nuốt vào bụng rồi cũng tiêu hết. Ấn độ hay Việt-nam cũng là con người, có gì khác nhau..miễn sao sống có tình có nghĩa, có đạo đức là được.

Về nhà, vào bữa cơm tối, Hân kể lại cho mẹ chuyện ở nhà bà Bảy chiều nay. Mẹ nhìn Hân với đôi mắt thoáng buồn rồi chậm rãi nói:

- Trước đây nước mình có nhiều sắc dân trên thế giới tới ở, nay con ra đường thỉnh thoảng con cũng gặp không những người lai, pha trộn máu Việt với máu sắc dân của họ. Ngày xưa mẹ quen ba, yêu ba, mẹ chỉ biết ba con là người Việt, nói tiếng Việt, chỉ có vậy. Có điều không may với mẹ con mình, ba con đã xa mẹ khi chiến tranh vừa hết và con chưa ra đời. Nói đến đây, Hân nhìn thấy mắt mẹ long lanh nước. Hân nắm hai tay mẹ:

- Như vậy ba con đã chết phải không mẹ?

Mẹ thở dài, lắc đầu...rồi lại gật đầu, không trả lời câu hỏi của Hân.
Bữa cơm chấm dứt trong lặng lẽ. Đêm hôm đó, Hân nằm mơ... mơ về thời thơ ấu của mình.

Mẹ Hân làm nghề gánh nước thuê cho những nhà trong xóm. Ngày nào mẹ cũng phải làm việc. Thời đó trong những xóm lao-động chỉ có vài máy nước công cộng. Những nhà có ống nước dẫn vào nhà rất hiếm. Muốn có nước xử dụng, dân chúng phải tự lấy nước từ máy công cộng đem về tích trữ để dùng. Mẹ gánh nước cho những nhà không có người giúp việc lo lấy nước máy đem về nhà. Số gia-đình này khá đông vì họ bận đi buôn bán, đi làm.. nhờ vậy mẹ có nhiều người thuê, ngày nào cũng không hết việc. Trong xóm còn có một người khác nữa ở xóm trên cũng gánh nước thuê. Mẹ rất khỏe, ít khi Hân thấy mẹ bịnh. Đôi khi nghe mẹ nói với bà Bảy:

- Bữa nay phải lên gánh giúp cho con nhỏ xóm trên vài nhà, nó gánh không xuể.

Thường mỗi khi mẹ về nhà, mẹ nằm nghỉ, dang chân tay trên giường. Hân chạy lại leo lên nằm bên mẹ. Mẹ lại ôm Hân vào lòng vừa cười vừa hát:
“Mùa thu lá bay anh đã đi rồi"

Mẹ chỉ hát như vậy rồi ngừng. Mẹ lại im lặng. Mắt mẹ như nhìn ở đâu đó, buồn thiu.

Có một hôm, đang cưỡi ngựa trên bụng mẹ, nghe mẹ vừa hát xong:
- "Mùa thu lá bay anh đã đi rồi". Hân vừa nhún nhẩy vừa lập lại:

“ Mùa thu lá bay anh đã đi rồi " thì mẹ đưa tay bịt miệng Hân, bảo Hân phải hát theo mẹ:

" Mùa thu lá bay Ba đã đi rồi "

Hân lặp đúng theo lời mẹ. Mẹ bẹo má Hân, cười vang:
- Giỏi, con tôi giỏi lắm.

Từ đó, khi hai mẹ con ở bên nhau mỗi khi nghe mẹ hát: “Mùa thu lá bay anh đã đi rồi " thì Hân hát tiếp "Mùa thu lá bay Ba đã đi rồi".

Những năm sau nầy, khi không còn ngủ chung với mẹ, không còn nghe mẹ hát lời ca đó nữa, đôi lúc thơ thẩn một mình, Hân thầm lặp lại lời ca:"Mùa thu lá bay Ba đã đi rồi”, chợt nghĩ trong mông lung hình ảnh mơ hồ của người cha chưa một lần biết đến, đang bềnh bồng trong vô-định, Hân cảm thấy rất buồn và tủi thân.

Thời gian mẹ mua căn nhà nhỏ ở khu cư-xá đô-thành cũng là lúc chính quyền “mở cửa” đổi mới kinh-tế, mẹ được giấy phép mở quán bánh cuốn, không còn phải hàng ngày phải lội bộ về khu chuồng Bò gánh nước mướn. Tại quán bánh cuốn, Hân thấy có vài người đàn ông quan tâm săn sóc mẹ một cách đặc biệt, nhưng mẹ đối xử rất dè dặt, chừng mực. Hân cũng có khi muốn mẹ có một người bên cạnh để cùng chia sẻ tình cảm cũng như công việc với mẹ, nhưng mẹ không tha thiết lắm. Có lần bà Bảy nói với Hân:

- Mẹ "mày"cũng nên tìm một người chồng, chẳng lẽ sống mãi như vậy với "mày" sao? Nay đã có công việc ổn định, nhà cửa đàng hoàng, nên yên bề gia-thất. “Mày" nói với mẹ "mày" là bà Bảy nói vậy.

Hân nhắc câu nói của bà Bảy, mẹ cười:
- Gặp bà Bảy, con nói với với bà, “bà ơi, mẹ nói bà hãy lấy chồng trước rồi mẹ bắt chước theo! “ Rồi mẹ thở ra:

- Mẹ đâu còn trẻ nữa mà nghĩ đến lấy chồng? Mẹ già rồi!

Hân nhìn mẹ, thấy mẹ vẫn còn trẻ còn đẹp, mặc dầu không xài son phấn, nếu xài, mẹ sẽ đẹp hơn nhiều. Hân muốn mẹ nghe theo lời bà Bảy, nhưng chợt có một chút gì ghen tức trong lòng, Hân bỏ đi nơi khác.

Trong tuần, vào những ngày không có giờ học hay giờ phụ bán trong quán cà phê Hân thường đến nhà ông Cư. Hân đưa ông Cư đi đến những nơi ông cần đến theo lời ông yêu cầu. Hân không cần phải phụ giúp việc trong nhà cho ông Cư, vì ông là người tàn tật, cơ quan an-sinh xã-hội gởi người đến giúp đỡ về những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống: vệ sinh nhà cửa, áo quần. Cơm nước thì đã người đem đến giao tận nhà mỗi ngày.

Qua những giao tiếp thường xuyên, Hân chắp nối được hoàn cảnh gia-đình của ông Cư. Nhà ông ở khu Vườn Lài ngã Bảy Sài-gòn, có sạp buôn bán vải nổi tiếng trong chợ Bến-Thành. Cha ông gốc Ấn theo đạo Sik, đến Việt-nam từ những năm chiến-tranh Pháp-Việt. Mẹ ông gốc Thủ-Đức. Ông là con trai đầu và có một em trai. Mười tám tuổi, đậu xong tú-tài 2 trường Pháp, ông trúng tuyển vào Đại-học Y-khoa Sài-gòn. Một đêm, hai anh em ông đi xem chiếu bóng, lúc về đến gần nhà thì có một nhóm thanh-niên ba người chận anh em ông bằng cách dí dao vào hai người, chúng muốn cướp của. Hai anh em sợ quá đành để bọn chúng lục soát người thì đúng lúc có hai người con gái từ trong xóm đi ra thấy chuyện cuớp bóc nên đứng lại nhìn. Cô gái trẻ tiến đến chỗ ba tên cướp, bỗng quay người dùng các thế võ tấn công ba tên cướp tới tấp. Bị phản ứng bất ngờ, ba tên cướp cố gắng đánh trả rồi bỏ chạy. Từ hôm đó ông Cư và cô gái cứu mạng ông quen nhau, rồi hai người yêu nhau. Hai bên chỉ gặp nhau để đi chơi. Chưa ai có thì giờ tìm hiểu kỹ đến gia-thế mỗi bên trong một thành phố Sài-gòn đã bắt đầu giao-động và thay đổi từng ngày.

Từ đầu năm Dương lịch 1975, tin tức chiến sự ngày càng dữ dội, nóng hổi. Tin từ Cao nguyên và miền Trung cho biết cuộc chiến đang ở vào giai đoạn kết thúc. Chiến tranh đang đến sát ngoại-ô thành-phố Sài gòn. Dân chúng nhốn nháo, lo lắng, run rẫy trước đại nạn có thể xẩy ra...và cuối củng chuyện ấy cũng đã xẩy ra...Chính quyền VNCH của Miền Nam buông súng đầu hàng vô điều kiện.

Một chính-quyền mới theo Xã-hội-chủ-Nghĩa thay thế. Cùng với lá cờ đỏ sao vàng treo phất phới, nhiều chính sách hấp tấp được ban hành. Gia-đình ông Cư bị coi như nguời ngoại quốc, nhận được lệnh trục xuất vài tháng sau đó. Họ đi, bỏ lại nhà cửa, tài sản nhưng đem đi được một số tiền bạc. Tuy nhiên, số tài-sản hiện kim đem theo bị giới hạn, vì vậy gia-đình ông Cư đã đem chia sẽ ít nhiều cho người thân ở lại. Người yêu của ông Cư khóc hết nước mắt khi biết được tin nầy. Ngày chia tay, ông Cư đã tặng người yêu một ít vàng, ông nói một dạ yêu nàng và hứa ông sẽ trở lại Việt-Nam tìm nàng. Năm năm sau, ông Cư trở lại Việt-Nam, đến tìm người yêu cũ tại một địa chỉ được ghi trong khu Bàn-cờ. Nhà nầy đã được đổi chủ cho một người đến từ miền Bắc. Không tìm được người yêu, ông Cư trở về nước và cưới vợ người bản xứ.

Hân nhớ có những hôm ông Cư giữ ở lại Hân qua đêm. Trước giờ ngủ, ông Cư lấy quyển sổ tay từ túi áo mở ra để trên lòng hai bàn tay, nhìn vào một cách chăm chú....Từ xa, Hân thoáng nhìn có một tấm hình được dán vào cuốn sổ....ông Cư lâm râm đọc kinh bằng tiếng Ấn- độ. Khi ông Cư xếp quyển sổ tay lại, ngừng đọc...Hân tò mò hỏi:
- Bác Cư đọc kinh bằng tiếng Ấn-độ phải không?

Ông chậm rải trả lời :
- Đúng vậy cháu. Bác đọc kinh cầu an hằng đêm cho người yêu của Bác, nay không biết sống hay chết?

Hân hỏi, hơi giao động:
- Người yêu đầu đời của bác là cô gái Việt, sao bác không đọc kinh bằng tiếng Việt mà đọc bằng tiếng Ấn?

- Bác đâu có biết kinh tiếng Việt. Bác chỉ biết kinh bằng tiếng Sik.

Ông ngừng, rồi nói tiếp:
- Mà đọc kinh bằng tiếng gì chẳng được cháu ơi! Ông trời, ông Phật, ông Thánh đều hiểu hết ráo.

*****
Hân đang học giữa năm thứ tư đại học thì được tin mẹ bị tai nạn do sơ xuất làm bình ga nấu bánh cuốn nổ. Hân về đến nơi không kịp nhìn được mặt mẹ lần cuối. Bà Bảy bán bánh Cay được Hân mời về sống chung và bà chấp thuận, vì lẽ khu chuồng Bò đang bị giải tỏa . Bà Bảy tiếp tục công việc của mẹ. Hân giao hết nhà cửa cho bà Bảy trông nom, trở lại Paris để hoàn tất việc học.

Có mảnh bằng toán của đại-học Jussieu cấp, Hân dự định trở về nước, ông Cư cản .Ông đề-nghi Hân nên ở lại tiếp tục học thêm, ông sẽ tìm cho Hân một chân dạy giờ tại một trường trung học trong vùng ile de France, hoặc một công việc nào đó của tư nhân. Ông cũng khuyên Hân dọn về sống chung để đỡ gánh phần tiền nhà và ông cũng sống bớt đơn độc.Thương mến ông, Hân đã nhận lời.

Mùa đông năm đó, khí hậu Paris thay đổi bất thường, giá lạnh xuống quá thấp, theo thông báo thời tiết cho biết cơn lạnh này sẽ kéo dài đến dầu mùa xuân năm tới . Ông Cư không chịu được với thời tiết thay đổi quá cách biệt nên quyết định về Ân-độ tránh cái lạnh đồng thời gặp lại gia-đình sau mấy chục năm xa cách.

Trở về nhà sau khi tiễn đưa ông Cư rời sân bay, Hân xếp gọn gàng chăn mền trong phòng ngủ ông Cư, Hân thấy quyển sổ tay của ông bị bỏ quên lại, quyển sổ hàng đêm ông thường mở ra đọc lời cầu nguyện cho người yêu đầu đời của ông! Tò mò, Hân mở quyển sổ ra xem người yêu dấu của ông là ai? Tự nhiên mắt của Hân hoa lên, máu từ hai bên vai dồn lên đầu làm mặt Hân nóng bừng, hai chân Hân yếu đi, Hân phải ngồi xuống bên thành giường. Hân phải nhắm mắt, mở mắt nhiều lần để tin rằng mắt mình vẫn bình thường. Khuôn mặt một người con gái còn trẻ, miệng mỉm cười, mái tóc cột đuôi ngựa để thòng một bên ngực. Dường như Hân đã gặp người nầy ở một nơi nào đó...người đó từng hát :" Mùa thu lá bay anh đã đi rồi " sau lời ca, người nầy kéo đuôi tóc phủ lên mặt để che những giọt nước mắt đang ứa ra....Hân úp mặt vào tấm hình, kêu khẽ: Mẹ ơi!

Những ngày sau đó đầu óc của Hân rối bời. Có lúc đầu của Hân nói:” Ông Cư là cha của mình sao ?” Có lúc thì: " Ông chỉ là người tình của mẹ? "Có lúc thì: "Chắc ông là cha của minh rồi!"

Hân đã gởi ông Cư quyển sổ tay theo yêu cầu của ông từ Ấn-độ. Hân cũng lấy một tuần lễ nghỉ Đông trở vê` Việt-nam.

Bà Bảy cùng Hân đi thăm mộ mẹ. Trong lúc chờ tàn hương, Hân cho bà Bảy xem tấm hình của mẹ được Hân sao lại từ quyển sổ tay ông Cư. Bà Bảy xem hình xong nhìn Hân, ngạc nhiên thốt lên:

- Ủa, sao “mày" có cái hình nầy? Chắc mẹ " mày" chụp lúc còn đi múa võ Sơn-Đông, bán Cao-đơn hoàn tán ngoài đường, nhìn mái tóc cột đuôi ngựa là biết, múa võ không bị vướn. Nét mặt chụp hồi đó so với sau này khác nhiều.

Hân lặng lẽ đưa tiếp cho bà Bảy tấm hình Hân cùng chụp với ông Cư, hỏi:
- Bà có biết người nầy là ai không?

Nhìn tấm hình một lúc, bà Bảy lại nhìn Hân , nói giọng nghi ngờ:
- Chẳng lẽ là nó? Hồi đó nó đâu có cụt hai chân ngồi xe lăn đâu? Bà lại hỏi:

- Người nầy tên gì vậy?

- Cư,...ông còn có tên khác là Taku.

Bà Bảy lấy tay đập vào đùi mình thốt lên:
- Đúng rồi, thằng Taku con gia-đình Ấn-độ bán vải, giàu có khu Vườn-Lài ngày xưa. Rồi tự nhiên bà im lặng,nhìn chăm chú Hân...rồi hỏi với giọng ái ngại:

- Sao người nầy bị cụt hai chân. ..Mà...mà..sao "con" biết người nầy?

- Ông ta bị tai nạn trong một vụ khủng bố. Còn việc tại sao cháu biết ông ta thì còn dài lắm, cháu sẽ kể cho bà nghe sau nầy.

Hương đã tàn, bà Bảy đứng lên thắp tiếp, bà vái:
- Tiện hôm nay có con của em, chị sẽ xin hồn thiêng của em, thay em kể cho con em biết chuyện của đời em; con em lớn khôn rồi cũng nên nói cho nó biết.

Trong khói hương phảng phất hòa trong nắng chiều phai nhạt, bà Bảy kể:

- Thời đó bà Bảy hay đi chợ Bến-Thành mua vật liệu về làm bánh Cay và chuối nướng.Trên đường đi, bà dừng chân xem hai cha con một ông già múa võ bán thuốc cao đơn hoàn tán. Xem nhiều lần nên quen biết cô con gái múa võ. Hai cha con cô dân Bình-Định. Cha cô dạy võ. Trong bom đạn chiến tranh không biết từ phe nào, gia đình cô bị súng đạn cướp đi gần hết. Hai cha con cô bỏ xứ trôi giạt vào Sài-gòn bán thuốc dạo làm kế sinh nhai. Do được cha dạy võ nghệ, nên cô múa võ rất hay, được người xem cho tiền, nhiều hơn tiền lời bán thuốc. Biết hai cha con cô tìm nhà thuê, bà Bẩy đã giúp thuê được một căn nhỏ bên cạnh nhà bà Bảy. Không lâu sau đó, cha của cô qua đời. Cô bỏ nghề múa võ bán thuốc, nhờ có sức khỏe, nên làm nghề gánh nước thuê, cái nghề xem có vẽ thấp kém trong xã-hội nhưng được người chủ thuê thương mến vì lòng chân thật. Người chủ tin cẩn giao nhà cho cô khi không có mặt để cô đổ đầy nước tích trử. Cô gái lại có lòng hào hiệp, trả lời bà Bảy khi bà có ý khuyên: "Là con gái nên sửa soạn nhan sắc một chút, ít ra là nên xỏa tóc như chị em gái khác cho nó nhu mì..làm gì cột tóc như cái đuôi ngựa, cứng ngắc như đeo khúc gỗ ?" thì cô gái trả lời: "Cột tóc như thế nầy em quen rồi, từ lúc học võ cho đến khi múa võ kiếm tiền trông nó mạnh, nay gánh nước thuê, tóc để xỏa ra thì vướn đòn gánh làm đau đầu...hơn nữa để tóc đuôi ngựa cũng là thái độ sẵn sàng cho mấy tên cô hồn cướp giật bài học..cái đuôi ngựa sẽ trở thành thanh kiếm của người có võ. ". Thái độ cứng cõi như đàn ông con trai của cô khiến trai tráng trong khu ít quan hệ với cô. Khi chồng của bà Bảy chưa chết trận, mỗi lúc về phép có giới thiệu bạn bè cho cô ta, cô cứ lắc đầu; "Lấy chồng chiến binh, một lần đi không trở lại".
Rồi chuyện đã đến...một hôm cô ta và bà Bảy đi dự cưới của người bạn trở vê. Trời hơi khuya, trên đường trong hẻm đi ra, gặp ba tên đang chận đường trấn lột hai người Ấn-độ. Cô ta đã dùng võ đánh đuổi ba tên cướp. Chuyện nầy không phải là chuyện duy nhất, trước đó cũng có nhiều trường hợp xẩy ra tương tự do lòng hào hiệp của cô.

Bà Bảy không rõ cô ta và một trong hai người Ấn-độ được cứu đêm hôm đó đã gặp lại nhau như thế nào rồi yêu nhau. Bà đã được vài lần được đôi tình nhân nầy mời đi ăn nhà hàng hoặc đi xem chiếu phim. Bà không thấy cô gái đưa người yêu của mình về nhà vào xóm, bà có thắc mắc, cô buồn buồn trả lời: “Nhà nghèo quá em ngại, nhưng rồi cũng phải cho anh ấy biết.. không thể tránh mãi được". 

Yêu nhau nhưng tình yêu có khi mình không tự quyết định được. Thời thế thay đổi làm chóng mặt mọi người, làm tình yêu cũng trôi theo cơn đổi thay. Người yêu của cô về xứ cùng gia-đình. Người ấy đã để lại cho cô ta một ít vàng, để chứng tỏ sự quan tâm trong tình yêu của anh ta và hứa sẽ trở lại tìm cô khi tình thế cho phép. Cô đã chờ người yêu trở lại mấy chục năm qua...cho đến hôm nay thì mộ đã thay bao lần cỏ úa?

Người đàn ông ấy đã để lại cho cô một đứa con trai, cô đoan chắc là người ấy không biết chuyện nầy, vì cô chỉ biết mình có thai khi người ấy đã ra đi. Cái tên cô đặt cho con trai của hai người mang âm hưởng Việt-nam và Ấn-độ.

Hân là Viêt-nam. Hân là Ấn-độ. Hầu như ít có một ai biết Hân là con ruột của cô, người ta chỉ tưởng cô đã xin nuôi Hân từ một nhà hộ sinh nào đó trong thành-phố.

Hân ngồi yên nghe lời bà Bảy như hơi gió lững lờ trong khói hương, thấm vào máu, len lỏi vào tim, thổn thức dâng lên tận cổ. Hai dòng nước mắt trào chảy thương thân. Hân thương mẹ, nghĩ đến mẹ lại thổn-thức...Hân lại nghĩ đến ông Cư..lại là người cha của mình.? Trời cao giun rũi đã cho hai cha con gặp nhau mà mãi đến giờ phút nầy vẫn chưa biết là cha con, sau khi đã sống bên nhau vài năm!

Bà Bảy lại thắp thêm ba cây nhang. Hân đến nắm hai tay bà Bảy siết chặt nói trong xúc cảm:
- Cháu cám ơn bà Bảy đã cho cháu nghe câu chuyện gia-đình cháu. Như vậy cháu đã tìm ra được người cha của cháu. Hân lại chấp tay hướng về mộ mẹ :

- Mẹ ơi, mẹ có biết không, cha con đã có trở lại Việt-nam tìm mẹ nơi cái địa chỉ mẹ đã cho cha con, nhưng nơi đó đã đổi chủ. Vì tìm không được mẹ nên cha con mới cưới vợ. Con biết cha con vẫn còn thương mẹ, vì hàng đêm cha con vẫn nhìn ảnh mẹ, cầu nguyện cho mẹ.

Bà Bảy nắm tay Hân thúc rời nghĩa trang, điện hai bên đường đã được thắp sáng. Bà nói:
- Đi nhanh lên, bà muốn mau về nhà để được nghe "mầy" kể chuyện gặp được cha "mầy” nơi nào đó.

********
Mùa đông lạnh giá thầm lặng trôi qua. Đầu Xuân ông Cư trở lại Paris. Từ ngày biết ông Cư là cha ruột của mình, vui mừng và xúc động cũng dần lắng xuống, nhưng Hân vẫn trăn-trở tìm cách nào nói cho ông Cư biết sự thật một cách tự nhiên, không quá đột ngột vì ông Cư đang có bịnh cao máu. Đón ông từ phi-trường, trong taxi trên đường về nhà, Hân ôm bàn tay ông Cư trong hai tay của mình. Hân nghe thấy có cái gì đó từ hai bàn tay của Hân như chạm đến nguồn sinh lực trong người ông Cư, cái mà lần đầu tiên Hân mới cảm nhận được. Rồi Hân cũng tự cảm nhận những thương-yêu từ cơ thể mình làm thành dòng chảy trôi qua bàn tay của ông Cư. Hân cố gắng tự ngăn nước mắt của mình không rơi xuống.

Nhân một hôm, ông Cư đang ngồi uống trà nơi phòng khách, Hân đến ngồi bên cạnh lấy sách ra đọc. Một tấm hình từ quyển sách rơi xuống. Ông Cư nhặt lên xem. Trong hình, Hân chụp với một người đàn bà nơi một công- viên. Ông Cư chăm chú nhìn Hân rồi nhìn vào tấm hình, ông hỏi:

- Cháu chụp hình nầy bao lâu rồi, cháu chụp với mẹ cháu?

- Dạ, cháu chụp với mẹ cháu trước ngày cháu qua đây học.

Đôi lông mày ông Cư nhíu lại, một thoáng đăm chiêu xuất hiện trên khuôn mặt hơi hóp sau câu trả lời của Hân. Một phút yên-lặng trôi qua. Ông Cư vẫn nhìn Hân chăm chú. Tim Hân đập liên hồi... tay ông Cư run run lấy quyển sổ tay từ túi áo, mở ra.. Ông nhìn tấm hình trong sổ tay rồi lại nhìn tấm hình hai mẹ con Hân. Môi ông mấp máy.

Hân cảm thấy một chút cay cay nơi hai mắt của mình. Ông Cư lại mắp máy môi thành lời:
- Thúy...mẹ cháu tên Thúy...phải không?

Hân trả lời ông bằng những gật đầu, nhích tới ngồi cạnh ông. Ông Cư quàng tay qua vai Hân. Hân nghe có tiếng thổn thúc từ ngực ông. Ông Cư nói trong nước mắt:
- Nay em đã bỏ anh đi rồi...ngày ấy ...ngày ấy anh đã ..ông trời thật ác. Hai chúng ta đã làm gì nên tội?

Hân vỗ nhẹ vào lưng ông Cư:
- Bác còn nhớ bà Bảy bán bánh Cay không?

- Bác nhớ...Thúy, bác và bà Bảy đã có nhiều lần gặp nhau..và...

Không để cho ông Cư nói hết câu, Hân nói chận ngang:
- Bà Bảy nói mẹ Thúy cháu phát hiện đã có thai với ông Cư sau khi ông Cư rời Viêt-nam về xứ Mẹ Thúy đặt tên khai sinh cho đứa con là Han, tên Ấn-độ, nhưng người Việt-nam gọi là Hân, phát âm dễ hơn là Han.

Trong phòng khách vắng lặng chỉ còn vang lên âm thanh nghẹn ngào:
- Con..con của ba.

- Ba.. ba của con.

Đêm hôm ấy, lần đầu tiên hai cha con nằm bên nhau, mỗi người để hồn mình bềnh bồng theo tâm tưởng của mình.

Ông Cư thấy dẫn con trai mình đi trên những con đường xứ Penjab ngỗn ngang những con bò ốm còi xương, đang nhặt thức ăn từ những đống rác bên cạnh những đám đông vây xem những ông đạo sĩ điều khiến những con rắn đeo kính lắc lư đầu qua lại, hay đến viếng đền thờ Đạo Sik có những bầy khỉ leo trèo khắp nơi.

Hân thấy cùng đi với cha ra khỏi phi-trường Tân-sơn-Nhất, đến chợ Bến Thành dừng chân trước những sạp bán vải, qua khu Vườn Lài, khu Chuồng Bò, ngược về khu cư xá Đô-Thành và điểm dừng chân cuối cùng là ngôi mộ của mẹ.

Tiếng tích tắc của đồng hồ gõ đều, chen lẫn tiếng trở mình và tiếng thở dài./.

Paris ngày 16/5/2019
Nguyễn Đại Thuật




Thursday, March 19, 2026

"CHỊ MÈ" 


Đầu năm tôi vào học lớp nhất trường tiểu học, gia-đình tôi có thêm một người giúp việc. Lúc bấy giờ gia đình tôi đã có một chị giúp việc lớn tuổi chuyên lo về công việc đi chợ, nấu ăn, giặt giũ quần áo, lo giữ nhà cửa sạch-sẽ.

Cha mẹ tôi có tất cả năm người con, và trong tương lai gần mẹ tôi sẽ có thêm một đứa con nữa. Có lẽ vì vậy mẹ tôi đã thuê thêm chị Mè. Cha mẹ tôi có một cơ-sở làm ăn tương đối lớn, bận rộn công chuyện suốt ngày, mấy anh chị em chúng tôi thiếu người săn sóc, nên chị Mè được giao cho công việc nầy.

Chị Mè còn trẻ lắm, chị khá đẹp, tóc ngắn ngang vai, kiểu tóc mà thời bấy giờ người ta gọi là tóc thề. Chị gốc người làng Trà-Kiệu, thuộc tỉnh Quảng-nam, cả làng theo đạo Thiên-chúa, nơi người ta nói đã có lần Đức Mẹ hiện ra.

Hàng ngày chị Mè tắm rửa, thay quần áo, lo cho ăn uống và đưa đón anh chị em tôi đi học.

Chị Mè không biết chữ, nhưng chị thuộc kinh Chúa, đêm nào chị cũng đọc kinh trước khi ngũ. Cha mẹ tôi gốc đạo Phật, nhưng tôi chưa có dịp đi chùa lần nào, cũng chưa biết ông Phật là ai, nhưng qua chị Mè, tuổi thơ tôi thấm nhuần rất nhiều về đạo lý của Thiên-chúa do chị kể. Chị đã dạy cho tôi thuộc kinh Kính Mừng, Kinh Lạy cha và tôi đã được nghe chuyện rước mình Thánh chúa, nếu ai nhận mình Thánh chúa không để tự tan trong miệng, nuốt liền vô bụng thì mình Thánh chúa sẽ biến thành lửa đốt cháy ruột để trừng phạt. Chị khuyên tôi làm điều tốt, không nên làm điều ác, làm điều tốt sẽ được lên Thiên-đàng gặp Đức-chúa Trời, làm điều ác sẽ bị đọa vào Hỏa-ngục, bị quỷ ăn thịt, bị đốt thành lửa.

Mỗi sáng Chúa-nhật, chị được cha mẹ tôi cho phép đi dự thánh lễ ở nhà thờ Con gà. Khi trở về nhà, chị thường kể lại cho tôi nghe những gì chị được nghe cha xứ đã giảng. Có một buổi sáng Chúa nhật chị chuẩn bị đi lễ nhà thờ, lúc bước xuống cầu thang thì guốc chị bị đứt quai, chị không có guốc khác thay thế, chị không đi dự lễ nhà thờ được, chị ngồi khóc bên chân cầu thang. Tôi phải xin phép mẹ tôi cho chị mượn guốc thay thế. Chị mừng quá, ôm tôi hôn rất nhiều lần vào má và không quên lắp bắp lời cám ơn. Có lẽ nhìn cảnh chị mừng rỡ khi có guốc tạm thay thế vào buổi sáng hôm đó nên vào lúc chị từ nhà thờ về nhà, cha tôi bảo mẹ tôi cho tiền chị mua đôi guốc mới. Tôi nghe cha tôi nói với mẹ:

- Mình cho con Mè tiền mua đôi guốc mới, guốc nó mòn và đứt quai không đi được".

Tôi nghe tiếng mẹ tôi:
- Cứ sáu tháng tôi trả tiền công cho nó một lần, tôi mới trả cho nó chưa tới năm ngày, nói nó lấy tiền đó mua".

Cha tôi cười, nói:
- Bà nầy hay thật, tiền đó nó nhờ tôi gởi hết về cho cha mẹ nó rồi, bà biết mà".

Tôi không nghe mẹ tôi nói gì thêm. Chiều hôm đó, mẹ tôi dẫn chị ra chợ mua guốc. Đôi guốc sơn màu đen rất đẹp. Khi chị đem đôi guốc bằng gỗ vông của chị vứt đi, tôi nhìn thấy đôi guốc của chị mòn đến nổi không có đủ bề dày để giữ chiếc đinh khi đóng quai.

Chị Mè không biết chữ, thời đó chính quyền của ông Ngô-đình-Diệm khuyến khích dân chúng đi học trong kế hoạch xóa nạn mù chữ, vì vậy có những lớp học Bình-dân giáo-dục mở ban đêm cho dân chúng không biết chữ, bận công việc ban ngày, đêm có thời giờ đi học. Cha mẹ tôi cho chị đi học lớp Bình-dân giáo-dục trong đình của khu phố. Lúc đầu chị không chịu đi, tôi hỏi, chị nói: "chị lớn cái đầu rồi mà còn đi học, mắc cỡ chết đi được".

Rồi trước tết năm đó mấy ngày, cha mẹ tôi cho chị về quê thăm gia-đình và phải trở ra làm việc những ngày tết. Sau tết, chị xin được đi hoc lại lớp bình dân giáo dục. Cha mẹ tôi cũng không hỏi lý do tại sao trước đây chị từ chối nay lại đòi đi. Nhưng sau tối đầu tiên đi học trở về nhà, tôi cắc cớ hỏi chị: "Hôm nay chị Mè vào lớp có mắc cỡ không?"

Chị đập khẽ vào đầu tôi nói: "Có mà ít ít thôi, không bằng hôm trước Tết chị về quê, khi vào làng, bị mấy thanh thiếu niên giăng giây chận đường xem giấy tờ, bắt đọc chữ trước khi cho vào làng. Chị đâu có đọc được, mấy đứa đó đưa chị vào trụ sở hội-đồng xã, họ bắt chị làm ký giấy cam kết phải đi học cho biết đọc biết viết. Nếu kỳ sau chị về làng mà bị kiểm soát, không đọc được chữ thì họ không cho vào làng. Hôm đó chị mắc cỡ muốn chun đầu xuống đất luôn. Gặp toàn mấy thanh niên thiếu nữ và người quen trong làng, họ khuyên chị nên theo lớp Bình-dân học vụ. Kỳ sau về làng, bị kiểm soát, không đọc chữ được chắc là họ không cho vô làng quá, xấu hổ lắm ! ".

Bên cạnh nhà tôi có một hẽm nhỏ, đầu hẻm có một tiệm hớt tóc. Người hớt tóc thuê mái hiên của một căn nhà để mở tiệm. Mấy anh em trai tôi là thân chủ của anh chủ tiệm hớt tóc nầy. Mỗi một tháng rưỡi, anh em tôi được chị Mè dẫn ra đây giao cho anh chủ tiệm, rồi trở lại trả tiền để đón về. Chủ tiệm là anh Cường, người ta gọi anh Cường chay, bởi vì anh ăn chay, không ăn thịt cá. Theo lời của một bà bán rong bún ốc kể cho mẹ tôi nghe nhân một buổi sáng cả nhà tôi ăn bún của bà. Anh Cường chay ngoài việc hớt tóc anh còn biết nghề xem chỉ tay, được nhiều người tin cậy, trong đó có bà. Anh xem chỉ tay chứ không nhận tiền của một ai. Anh là người cùng làng với bà ở An-cựu thành phố Huế.

Anh Cường chạy có một người cậu đi tu ở chùa Từ Hiếu. Anh học hết năm đệ lục trường Quốc-học thì bỏ học vì nhà quá nghèo. Anh là con trai một nên không bị đi lính. Anh học nghề hớt tóc của người cậu và được người dì em của mẹ đem vào Đà nẵng hành nghề, vì ở An-cựu có nhiều người làm nghề hớt tóc nên khó kiếm sống. Do tiết lộ của bà bán bún, thỉnh thoảng mẹ tôi mời anh Cường qua nhà nhờ xem chỉ tay. Mẹ tôi thường khen anh Cường chay với cha tôi:

- Thằng Cường chay xem chỉ tay hay thật, nó nói tôi trúng như gần hết".

Tôi không nghe mẹ tôi nói anh Cường chay đã nói đúng những gì, nhưng mỗi lần nghe mẹ tôi nói như vậy cha tôi “hừ” lên một tiếng:

- Bà toàn tin những điều nhảm nhí".

Mẹ tôi còn nhanh nhẩu mời mấy bà bạn đến nhà để nhờ anh Cường chay xem chỉ tay nữa. Những lúc như vậy, cha tôi không vui, mặt ông nhăn nhó, bỏ đi khỏi cửa hàng đang buôn bán. Tuy nhiên, những lúc cha tôi đi Sài-gòn mua hàng trở về đều có quà cho anh Cường chay, có lẽ để trả ơn những lúc anh đã xem chỉ tay cho mẹ tôi.

Khi tôi bắt đầu vào năm học lớp đệ thất, chị Mè cũng đã biết đọc. Không biết ai cho chị quyển Thánh kinh, chị nâng niu, giữ gìn rất kỹ. Chị để quyển Thánh kinh trên đầu tủ, buổi tối, trước khi đi ngủ, chị rửa tay rồi mới lấy xuống đọc. Có lúc tò mò muốn biết trong Thánh kinh viết những gì, tôi hỏi mượn để xem, chị đồng ý cho mượn nhưng bất tôi phải rửa tay và nhiều lần nhắc tôi không được để sách trên ghế ngồi, như vậy sẽ bị Chúa phạt.

Rồi có một thời gian, tự nhiên tôi nghe mẹ tôi hay la rầy chị Mè; mỗi lần bị la như vậy tôi thấy chị Mè đúng trong góc nhà bếp khóc, hai mắt đỏ hoe.

Mẹ tôi la chị:
- Sao lúc nầy mi cứ dở dở ương ương, y như người trên mặt trăng, làm trước quên sau, làm gì hư nấy, lúc nào cũng thẩn thờ như bị ai hớp hồn. Chỉ việc pha sữa tới giờ cho em bú mà cũng quên để cho thằng nhỏ khóc ầm cả lên."

Tôi chưa bao giờ nghe chị trả lời mẹ tôi khi bị la mắng như vậy. Chỉ im lặng và khóc. Khác với những kỳ đi hớt tóc trước, kỳ nầy chị Mè tự nhiên nhắc tôi đi hớt tóc từ ba ngày trước. Đến hôm chị dẫn tôi vừa ra đến cửa thì cha tôi bảo:

"Nó lớn rồi tự đi hớt tóc một mình, khỏi cần đưa đi."

Chị Mè quay lui vào nhà, mặt chị xịu xuống và buồn. Khi tôi bước vào tiệm hớt tóc, anh Cường chay thay vì chào tôi như trước đây, anh bước ra khỏi tiệm nhìn trước nhìn sau con hẽm rồi đi trở vào hỏi tôi:

- Sao nay chị Mè không đưa em đi?"

Tôi trả lời:
- Cha em nói em lớn rồi không cần chị Mè đưa đi..

Tôi nghe anh Cường thở dài. Suốt buổi hớt tóc hôm đó, anh Cường không nói thêm với tôi một lờI nào.. Khi từ tiệm hớt tóc về nhà, chị Mè gội đầu cho tôi, chị hỏi:

- Anh Cường có hỏi gì chị không? . Tôi lắc đầu. Chị lại hỏi lần nữa:

- Bộ anh ấy không hỏi gì chị sao?".

Tôi lại lắc đầu.Tôi lại nghe chị thở dài và chờ mãi không thấy chị dội nước lên đầu khiến tôi phải nhắc chị. Mãi đến tối hôm đó tự nhiên tôi nhớ lại lời anh Cường có hỏi tôi vừa lúc tôi đến hớt tóc. Tôi xuống bếp tìm chị. Chị đang đọc quyển kinh thánh.

Tôi nói với chị:
- Bữa ni anh Cường có hỏi, sao chị Mè không dẫn em đến hớt tóc, em trả lời cha em nói em lớn rồi đi một mình được, không cần chị Mè đưa đi

Tôi thấy mặt chị rạng rỡ lên, chị nâng quyển Thánh-kinh lên hôn. Lúc tôi ra khỏi bếp, tôi nghe chị nói vọng theo:
- Lần sau đừng quên như vậy nghe em, tội chị lắm!.

Mấy hôm sau, ngày Chúa-nhật, sau khi chơi đá banh trở về, lúc đi ngang nhà thờ Con Gà, chen lẫn giữa những người dự Thánh lễ ra về, trên đường đi, tôi nhìn thấy anh Cường chở chị Mè sau xe đạp. Buổi trưa khi chị Mè gọi cửa để vô nhà, tôi mở cửa. Chị vừa vào trong cửa, tôi cười và nói lớn:

- Lúc nãy, em thấy anh Cường chở chị sau xe đạp !".

Chị nhào tới đưa tay bịt miệng tôi, nhưng cha mẹ tôi đã nghe và đã thấy. Mặt chị đỏ gay, cúi đầu đi một mạch vào trong. Vừa lúc đó mẹ tôi nói với cha tôi:

- Hèn chi mấy tháng ni nó cứ thẩn thờ, quên trước, quên sau, nó thương thằng Cường chay rồi...mới có bấy nhiêu tuổi!

Cha tôi cắt ngang lời mẹ tôi, nói diễu:
- Hay ghê! chớ bà yêu tôi lúc bao nhiêu tuổi ? Con Mè năm ni nó mười bảy tuổi rồi, lúc đó bà còn nhỏ thua nó một tuổi..bộ quên rồi sao ?

Tôi chỉ nghe mẹ tôi "hừ” một tiếng rồi bỏ lên lầu.

Chuyện anh Cường chay và chị Mè thương nhau những ai ở trong hẽm gần tiệm hớt tóc của anh Cường đều biết. Bà chủ nhà cho anh Cường thuê mái hiên trước nhà để làm tiệm hớt tóc đã có lần kể cho mẹ tôi nghe lúc đó có tôi bên cạnh. Mấy ngày trước đó, ông thầy tu, cậu anh Cường ngoài Huế vào thăm anh Cường, có đến tiêm hớt tóc chơi, bà nghe người cậu nói chuyện với anh Cường: "Cậu và có thể cả mẹ cháu cũng không chấp nhận cuộc hôn nhân nầy. Cháu, con nhà thờ Phật bao nhiêu đời nay rồi mà cưới con Mè gốc đạo Thiên chúa đến khi cháu chết thì ai cúng cơm cho, bộ cháu muốn làm ma đói?”

Anh Cường phân trần:
- Đâu có sao, lấy chồng thì phải theo đạo chồng, cùng quá thì đạo ai nấy giữ, cậu nói giúp cháu để bà chấp thuận hai cháu cưới nhau".

Người cậu lắc đầu lia lịa:
- Cậu biết là không được đâu, nhưng cậu sẽ cố nói giúp cho cháu, được hay không thì cậu chưa biết. Rồi ông gằn giọng:

- Hết người thương sao lại thương con nhà theo đạo Chúa!.

Ông hỏi anh Cường tuổi của chị Mè, bấm đốt ngón tay, miệng lẩm nhẩm: "Tuổi hai đứa không có gì xung khắc, nhưng cái đạo của ông Chúa và ông Phật xung khắc...không biết tính sao đây ?"

Không bao lâu sau khi nghe lõm được chuyện anh Cường chay muốn cưới chị Mè, chị xin phép cha mẹ tôi nghỉ vài hôm để về Trà-kiệu chờ ngày gia-đình anh Cường từ Huế vào xin lẽ hỏi. Thời gian đó anh Cường cũng nghỉ hớt tóc.

Ngày trở lại làm việc, chị Mè buồn thiu, chị không nói chuyện với ai, ngay cả tôi chị cũng không nói một lời. Ngày Chúa-nhật chị cũng không đi lễ nhà thờ. Càng ngày chị càng thẩn thờ hơn.Mẹ tôi cũng la rầy chị nhiều hơn vì chị lơ là công việc hàng ngày, đến nổi cha tôi phải ngăn mẹ tôi nặng lời với chị:

"Mình hãy thông cảm cho con Mè, gia-đình nó không cho thằng Cường chay cưới nó vì thằng Cường chay không chấp nhận bỏ Phật theo Chúa, nó mất tinh thần nên sao lãng công việc nhà, lần hồi tinh thần nó sẽ ổn định, làm việc bình thường trở lại.

Định kỳ hớt tóc của tôi tháng đó bị gián đoạn, anh Cường chay đóng cửa tiệm không rõ lý do. Ngày anh mở cửa làm việc trở lại cũng là ngày bà chủ nhà cho anh Cường chay thuê mái hiên làm tiệm hớt tóc qua nhà nói chuyện với mẹ tôi và tối hôm đó mẹ tôi kể lại cho cha tôi trong bữa cơm: "Thằng Cường chay đã đổi ý, chịu bỏ Phật theo Chúa để được cưới con Mè. Mẹ thằng Cường chay không chịu, đòi cắn lưỡi tự tử và bà ta đã làm thật. Gia-đình thằng Cường chay phải chở bà vào nhà thương Huế cấp cứu, may mà cứu kịp."

Rồi không hiểu sao, chị Mè vui vẻ trở lại, công việc nhà chị làm không còn bị mẹ tôi quở trách nửa. Chị tiếp tục đi lễ nhà thờ mỗi Chúa nhật, anh Cường chay chở chị đi lễ và đón chị trở về bằng chiếc xe đạp đầm mới mua. Chị Mè tiết lộ cho tôi biết, buổi tối hết công việc, chị sẽ xin phép cha mẹ tôi tập đi xe đạp, chị nhờ tôi: "Tối nào chị tập đi xe đạp, em giúp chị đóng của và mở cửa cho chị được không ?"

Tôi đồng-ý, hỏi chị: "Xe đạp đâu mà chị tập ?"

Chị trả lời không đắn đo: "Xe đạp anh Cường mới mua".

Biết được chuyện chị Mè được anh Cường chay đưa đón đi lễ nhà thờ mỗi sáng chúa nhật bằng xe đạp, mẹ tôi nói với cha tôi:
- Từ đây ra nhà thờ Con gà chỉ có hai trăm thước mà đưa với đón, bày đặt!

Cha tôi lại cười:
- Nguời ta yêu nhau mà em !"

Tôi học chưa hết năm đệ lục, chị Mè xin nghỉ việc vì giao ước làm việc ba năm chấm dứt. Cha mẹ tôi đồng ý.

Lúc bấy giờ mấy anh chị em tôi đã lớn, đứa em nhỏ nhất ba tuối đã có chi hai tôi săn sóc những khi nghỉ học hay những lúc rảnh rổi. Cha mẹ tôi cũng không còn cần chị Mè. Mùa hè năm đó tôi lang thang cũng lũ bạn nơi họ đạo Tam-tòa, tình cờ tôi gặp chị Mè, chị cho tôi biết đang cùng chung với người bạn mở một tiệm may quần áo tại đây. Chị đưa tôi và lũ bạn về tiệm may của chị và pha nước chanh cho uống. Đang uống thì anh Cường chay đạp xe đến, vứt xe bên vệ đường, đi nhanh vào tiệm may, mặt anh cau có có vẻ bực bội.

Anh nắm tay chị Mè kéo vào sau nhà. Thấy không khí lúc đó không vui, tôi và lũ bạn im lặng rời tiệm may.

Về gần đến nhà, ngang qua hẻm có tiệm hớt tóc của anh Cường chay, nhìn thấy có vài người tụ tập trước tiệm hớt tóc, tò mò tôi dừng lại, tôi biết anh Cường chay không có trong tiệm, anh đang ở tiệm may của chị Mè.

Một người đàn bà tóc đã bạc đang ngồi bệt dưới đất trong tiệm hớt tóc, mặt mày bơ phờ, tóc tai rũ rượi, hai tay đập vào nền đất, miêng rên ư ử : "Con ơi là con ! Mè ơi là Mè ! con ở đâu mà mấy tháng ni không về với cha mẹ? Cường ơi là Cường ! mi giấu con gái tau ở mô ? hãy đem nó trả lại cho tau...không thì tau đập đầu chết ở đây cho mi hả dạ..."

Mấy người hiếu kỳ đứng xem nói với nhau:
"Cường chay với con Mè thương nhau, xin cưới nhau nhưng hai bên cha mẹ không thuận vì khác đạo nên hai đứa nó lén lút sống chung. Bữa ni mẹ con Mè từ quê ra tìm nó, đến đây nằm vạ đòi con gái."

Tôi rời đám đông, ra đến đầu hẽm thì vừa lúc anh Cường chay đạp xe chở chị Mè chạy vào hẽm.

Tối hôm đó chị Mè đưa mẹ qua xin phép cha mẹ tôi cho ngủ nhờ để sáng hôm sau trở lại quê. Anh Cường chay đứng ngoài cửa, tôi nghe anh thở dài, còn chị Mè hai mắt đỏ hoe.

Mấy ngày liên tiếp sau đó tiệm hớt tóc của anh Cường chay đóng cửa, bà chủ nhà lại qua nói chuyện với mẹ tôi:

"Hôm con Mè đưa mẹ về quê, khi qua đò, con Mè nhảy sông tự tử, nhờ nước sông cạn nên con Mè được vớt lên, chở vô bịnh xá quận Điện-bàn cứu chữa. Bác sĩ nói cái thai trong bụng con Mè không bị ảnh hưởng gì. Thằng Cường chay không làm việc mấy bữa ni, nó đi thăm con Mè ở bịnh xá."

Bà lại thở ra: "Trai gái thời nầy loạn rồi, chưa thành vợ thành chồng mà đã ăn nằm với nhau để có chửa!".

Từ đó, tôi không còn được gặp hay được nghe tin tức nào liên hệ đến anh Cường chay và chị Mè.

*****
Sau những năm tháng chiến tranh ác liệt Quốc Cộng, miền Nam Việt-nam thua cuộc. Chiến tranh chấm dứt, nhưng lòng người lại ly-tán. Đất nước như nồi canh chay bị vỡ, người dân xông xáo khắp nơi, tìm đường ra khỏi biên giới, làm người Do-Thái lang-thang, tạo lập cuộc sống mới nơi xứ người. Trong dòng người nầy có gia-đình tôi. Qua những năm tháng tạo lập đời sống mới, lần lượt cha mẹ tôi qua đời, linh-vị được thờ tại một ngôi chùa nhỏ phía Nam thành phố Paris nước Pháp. Chùa có tên là Tây-Phương. Vị sư Trụ-trì chùa, Thượng-tọa Như-Hóa mới đây đã viên-tịch, một thầy khác, Thuợng Toạ Giác-Miên, được mời từ Népal qua thay thế, nhưng tôi chưa có dịp diện-kiến.

Rằm tháng bảy âm-lịch trong năm 2000, tôi điện thoại đến chùa xin ghi danh lễ cầu siêu cho cha mẹ nhân ngày xá tội vong nhân. Hôm đó, tôi vừa đến chùa thì lễ cũng đã bắt đầu.Tiêng đọc kinh, tiếng chuông mõ hòa quyện cùng khói nhang thơm làm tâm thần tôi thanh-thản, tôi cố lắng nghe âm thanh tên, tuổi cùng pháp-danh của cha mẹ tôi sẽ được đọc lên trong buổi lễ..tôi đang chờ...tên của cha mẹ cùng Pháp-danh của một phật-tử nào đó được đọc lên, kế tiếp ...và kế tiếp...

Tôi giật mình, không tin vào tai tôi..Théresa Hứa-thị Mè, sinh ngày 12 tháng ba năm 1943 tại làng Trà-kiệu tỉnh Quảng năm, tạ thế ngày 10 tháng 2 năm 1999 tại thành phố Marseille nước Pháp... thầy chủ trì chánh lễ vừa đọc đến đây thì tiếng chuông mõ bổng ngừng lại, hàng Phật-tử dự lễ sát chánh điện ngơ ngác, lao xao. Một tăng sinh còn trẻ nhưng vốn quen việc nghi lễ trong chùa vội vàng thay thế Thầy đọc tiếp danh sách cầu siêu trong tiếng xì xào mất trật tự...rồi có tiếng yêu cầu gọi xe cấp cứu.

Khi biết thầy Giác-Miên bị ngất xỉu, phản ứng theo thói quen của một bác-sĩ, tôi bước nhanh đến bàn thờ Phật. Thượng-tọa Giác-Miên đang quỳ, nhưng cả phần thân người bên trên gục xuống hàng chuông mõ phía trước. Tôi nâng mặt thầy lên, quàng tay sau lưng thầy, đỡ nhẹ thầy nằm xuống mặt thảm trước chánh-điện. Tôi thực hiện những tác động cấp cứu dành cho một người bị ngất xiủ. Vài phút sau thầy bắt đầu tỉnh lại. Một vài Phật-tử giúp tôi dìu thầy về phòng riêng. Tôi tiếp tục theo dõi huyết áp và nhịp tim của Thầy. Tôi nghe hơi thở của thầy dần dần bình thường trở lại, nhưng hai mắt của thầy vẫn nhắm như ngủ. Tôi căn dặn vị thị-giả những điều cần thiết phải săn sóc khi thầy tỉnh hẳn. Vừa quay người định ra khỏi phòng, tôi nghe tiếng thầy Giác-Miên thều thào: "Bác sĩ, bác sĩ có phải là chú Kính ở Đà Nẳng không?"

Tôi quay người lại, thầy thều thào tiếp:
- Chú không nhớ thầy sao ? Nghe cái giọng đặc biệt Quảng-nam Đà-nẵng của chú, thầy nhận ra ngay...Thầy là Cường chay, ngày xưa hớt tóc cho chú đó .

Tôi cúi xuống nhìn kỹ mặt thầy: hai mắt đã mở, hai bên khóe mắt có vài giọt nước chảy dọc theo hai bên sóng mũi. Tôi nhận ra được thầy Giác-Miên là anh Cường chay. Tôi ngối xuống bên cạnh thầy, hai tay nắm tay của thầy.. Xúc động làm tôi ứa nước mắt...mới đó mà đă hơn hai mươi lăm năm. Cái âm thanh Theresa Hứa thị-Mè vừa được đọc lên trong lễ cầu siêu lại hiện trong đầu tôi..và tôi chợt hiểu, có thể đó là lý do thầy Giác-Miên ngất xỉu!

Những tháng năm sau đó tôi viếng chùa Tây-Phương thường xuyên hơn, có lẽ vì anh Cường chay là Thuợng Toạ Giác-Miên trụ trì. Một hôm, tôi gặp thầy xin nhận một lễ quy-y cho toàn gia-đình của tôi. Nhân lúc trong phòng làm việc chỉ còn mình thầy, tôi đánh bạo hỏi:
- Chắc thầy còn nghĩ đến chị Mè phải không?

Thầy không trả lời, mặt trở nên suy-tư, xa vắng. Tôi hỏi tiếp:
- Hồi đó, sau khi chị Mè nhảy sông tự-tử, thầy có găp được chị ấy không?

Thầy bối rối và do dự khá lâu rồi mới bắt đầu nói chuyện của thầy với giọng buồn rầu:
- Mô Phật! Mấy mươi năm nay thầy đã chôn quá khứ của thầy trong lời kinh, tiếng chuông tiêng mõ mà hình như nghiệp vẫn chưa dứt được, còn theo mãi cho đến ngày nay...
...

.... Trước khi Mè nhảy sông tự vẫn, thầy và Mè đã chuẩn bị sẵn sàng vào Lâm-đồng sinh-sống. Lúc bấy giờ Mè đã có thai. Chú biết, thầy và Mè thương nhau. Sự ngăn cản của hai bên gia-đình không cho hai đứa cưới nhau càng quyết liệt thì hai đứa càng bất chấp tai tiếng. Sau khi được cứu chữa bình-phục, Mè trở về quê. Hai đứa đã quyết định ngày giờ gặp nhau để bỏ xứ ra đi.. Ngày hẹn đã đến, thầy chờ không gặp được Mè.

Ngày hôm đó đồng bào trong quê gồng gánh cùng gia-súc lũ lượt từ trong xóm làng xa xôi tràn ra quốc lộ. Người ta kể cho nhau nghe trận chiến đã xẩy ra đêm hôm trước ở làng Trà-kiệu. Giải-phóng quân Cộng -sản Việt-nam đã tấn công làng, đốt phá cơ sở chính-quyền địa-phương bắt dẫn đi chỉ điểm những viên chức chính quyền. Đạn pháo binh từ trong đồn địa phương quân cũng như từ quận bắn vào làng. Gần sáng, máy bay từ Đã-nẵng bay vào yểm trợ. Bom đạn quân đội hai bên làm làng Trà-kiệu tang-hoang. ..Không biết dân làng ai chết ai sống, mạnh ai nấy chạy. Cái gì lấy được thì mang theo. Cả mấy ngày tiếp theo, thầy đi đến các làng xã quanh làng Trà-kiệu, vào các bịnh-viện lớn, bịnh-xá nhỏ tìm Mè, Mè vẫn biệt tăm. Nửa tháng sau thầy theo chân dân làng được cho phép trở về đến trước nhà Mè, ngôi nhà đã bị cháy rụi. Mấy tháng chờ đợi sau đó, tin-túc về sự sống của Mè vô vọng, thầy trở về Huế và thầy xin xuất gia với người cậu...

Sau khi tốt nghiệp Phật-học viện Nha-trang năm 1970 thầy được học bỗng đi học bên Ấn-độ..rồi ở tu luôn tại bên ấy. Các đây vài tháng thượng-tọa Như-Hoá viên-tịch, thầy được chuyển về đây thay thế.

Tôi hỏi thầy:
- Danh sách lập để được cầu siêu hôm rồi không phải do thầy lập sao?

"Không !.Do một phật-tử chuyên trách từ thời còn thầy Như-Hóa."

Tôi nói tiếp:
- Như vậy thì chị Mè không bị chết trong hôm làng Trà kiệu bị giặc tấn công và người xin lễ cầu siêu xưng là con gái của chị Mè.,.nhưng không rõ có phải là con chị Mè với thầy hay con sau nầy với người khác...."

Thầy không trả lời câu hỏi của tôi, thầy chỉ gật đầu...rồi lắc đầu...rồi thở dài.

Tôi hỏi tiếp:
- Thầy có muốn tim sự thật về chị Mè những tháng năm sau này nầy không?

Thầy trả lời dè dặt:
- Chú Kính giúp thầy việc nầy thì quý hoá lắm. Từ hôm đó đến nay, thầy suy nghĩ hoài mà không biết làm gì và làm như thế nào.

Tôi vừa thương thầy vừa ái-ngại cho thầy, đoán biết trong thầy con sóng tình cảm xa xưa trở về đang làm thầy giao-động.

Nhờ vào số điện-thoại lưu trong phiếu xin lễ cầu siêu, tôi liên lạc với con gái chị Mè. Không khó khăn lắm khi tôi tự giới thiệu với con gái chị Mè, ngày xưa, rằng thời chiến tranh chị Mè làm việc trong gia-đình tôi ba năm, từ khi chị Mè thôi việc, tôi không có tin tức của chị...Vừa qua, nhân dự lễ cầu-siêu tại chùa Tây phương, có nghe tên của chị Mè được đọc trong buổi lễ, nên nay liên lạc để hỏi thăm. Đầu giây, cô gái tự nhận là con gái duy nhất của chị Mè, đang cùng chồng và con cái sờng ở một làng vùng ngoại ô Bắc Paris. Qua trao đổi nhận biết nhau, con gái chị Mè mời tôi đến thăm nhà nhân dịp cuối tuần.

Một tuần sau đó tôi đến thăm con gái chị Mè. Nhà nằm trong một trang trại nuôi gà công-nghiệp. Con gái chị Mè tự giới thiệu tên là Michelle, có chồng là người Pháp chủ trại gà và có ba con. Sau những bỡ ngỡ ban đầu hai chúng tôi trở nên thân thiện rất nhanh. Tôi đã kể cho Michelle kỷ niệm giữa tôi và chị Mè ngày xưa lúc chị giúp việc cho gia-đình tôi. Tôi cũng đã giới thiệu cuộc sống hiện tại của tôi...và cả buổi sáng ngày cuối tuần hôm đó tôi đã được nghe Michelle kể về mẹ của mình, chị Mè.

Michelle sống với mẹ vùng Chợ Đệm Thủ-Đức, mẹ có một quán may nhỏ chuyên sửa quần áo lính cho các sinh-viên sĩ quan Trường bộ binh Thủ-Đức nên cuộc sống của hai mẹ con rất ổn-định. Những năm tháng đó, Michelle không bao giờ được mẹ kể cho biết gia-đình thân thuộc có ai và ở đâu.

Khi hỏi về cha của mình, chị được mẹ nói là thất lạc trong chiến tranh không biết chết sống thế nào. Tên cha được ghi trong giấy khai-sinh là Lê-chí-Cường, sinh-quán tại Huế.. Năm 1975, khi miền Nam Việt-nam bị thay đổi chính quyền, mẹ chị vẫn sống bằng nghề may. Michelle được nhận làm tiếp-viên cho khách-sạn Caravelle nhờ thông thạo Pháp ngữ. Tại đây, Michelle quen biết với một du-khách Pháp và một năm sau hai người cưới nhau. Chồng của Michelle là đảng-viên đảng Xã-hội Pháp, làm xã trưởng của một xã nhỏ vùng ngoại ô thành-phố Marseille.

Michelle và mẹ cùng qua Pháp một ngày. Mẹ được nhận phụ giúp việc săn sóc các nữ tu Thiên chúa giáo về hưu tại địa phương. Năm 1999, mẹ chị bị phát hiện ra bịnh ung-thư lá lách ở giai đoạn cuối. Trong chống chọi với căn bịnh ngặt nghèo, biết là mình không thoát khỏi sự chết, mẹ đã kể lại một phần đoạn đời của mẹ....

Sau cái đêm làng Trà-Kiệu bị giặc tấn công chiếm đóng, gia-đình mẹ tản-cư vào tạm trú nhà một người bà con tại thị-xã Tam-kỳ. Cuộc chiến trở nên ác-liệt, gia-đình mẹ không trở về làng cũ. Cháu được mẹ sinh ra vài tháng sau đó. Cuộc sống cơ cực, hai mẹ con bị gia-đình đối xử lạnh nhạt vì mẹ sinh con trước có phép cưới. Quá đau khổ, quẩn-trí, một đêm mẹ định để cháu lại cho bà ngoại, lén ra sông tìm cái chết. Trên đường đi khi ngang qua một căn nhà trong một xóm nhỏ, mẹ nghe tiếng khóc, tiếng của một đứa trẻ: “Mẹ ơi! mẹ đâu rồi ?. Mę đi đâu rồi? Con sợ quá..." Trong đêm khuya, tiếng khóc đòi mẹ của đứa trẻ như xé lòng mẹ, đánh thức lương tâm và trách nhiệm của mẹ mà trong một phút giây nông nổi mẹ đã định làm chuyện dại dột... Và mẹ đã quay trở về nhà.

Trong cùng cực của cuộc sống, một may mắn đến với mẹ...người bạn cùng may chung với mẹ ở Đà-nẵng trước đây, vừa có chồng là lính phục vụ trong quân-trường Sĩ-quan trừ bị Thủ-Đức, gặp lại mẹ, rủ mẹ cùng hợp tác may chung tại quán may ở Chợ Nhỏ mà bạn mẹ theo chồng dọn về đây. Cuộc sống bắt đầu ổn-định, mẹ đã nhiều lần về Đà-nẵng, về Huế tìm ba, nghe nói ba đã đi tu ở nơi xa và ba đã như một cánh chim lạc trong bốn phương trời vô-định..

Michelle ngừng một chốc, thở ra, kể tiếp:
“Mẹ cũng có kể cho cháu về mối tình ngang trái của mẹ.... mẹ không còn kỳ-vọng gặp ba trước khi nhắm mắt mẹ đã căn dặn cháu phải làm theo lời mẹ, sau khi mẹ chết... mẹ nói:

- Khi mẹ chết rồi, cháu phải thờ mẹ trong một ngôi chùa nào đó....ngày xưa, vì vấn đề tín-ngưỡng mà tình duyên của mẹ ngang trái. Ba của cháu đã xin từ bỏ đạo Phật của mình theo đạo Thiên-chúa để được cưới mẹ, nhưng gia-đình của ba không thuận, bà nội, tức mẹ của ba cháu đòi tự vẫn nếu ba con quyết định bỏ Phật. Nay vì tấm lòng của ba, ba bỏ đạo của mình để được cưới mẹ, tuy chuyện không thành. Tôn giáo thường dạy con người có linh-hồn sau khi chết sẽ về an nghỉ ở một nơi nào đó, thì như vậy, Phật sẽ che chở linh hồn mẹ và mẹ sẽ gặp được ba cháu, không còn bị giới luật của tôn giáo ràng buộc, ngăn cấm.”

“ Cháu đã làm theo lời mẹ, đem di-ảnh của mẹ thờ tại chùa Tây-Phương mấy năm nay, từ khi cha mẹ chồng cháu nghỉ hưu, giao cơ-sở chăn nuôi cho chồng cháu quản lý vừa lúc chồng cháu hết nhiệm-kỳ xã trưởng."

Tôi đã kể lại cho thầy Giác-Miên câu chuyện gặp gỡ Michelle ngày hôm đó. Qua điện thoại giọng thầy đầy khích-động. Tôi cho thầy biết, Michelle chưa biết thầy là thân sinh của cháu vì lý do tôi chưa xin sự chấp thuận của thầy...thầy nói: “Phải cho Michelle biết....làm thế nào để tạo sự thuận-tiện thầy cũng chưa biết..thôi chờ vài hôm nữa mình bàn tính lại."

Sự bàn tính tạo thuận tiện cho cha con thượng-tọa Giác Miên và Michelle gặp nhau đang trong dự trù thì một buổi sáng tôi đang còn ngủ có tiếng reo điện thoại đánh thức tôi dậy. Một người nào đó từ chùa Tây-Phương báo cho biết tin thượng-tọa Giác-Miên đang công phu sáng đã bị đột quỵ, được xe cứu thương chở vô bịnh viên cấp cứu. Thay vì vào nơi làm việc, tôi lái xe chạy thẳng vào bịnh viện thăm thượng-tọa Giác Miên; nhân viên tại đây báo cho biết Thượng-tọa đã ra đi, bác-sĩ không cứu kịp.

Sau lễ an-táng thượng-tọa Giác Miên, tôi đến thăm Michelle một ngày cuối tuần. Tôi chuyển cho Michelle một bao thơ của thượng-toạ Giác Miên đã viết sẵn. Bao thơ được tìm thấy trên bàn làm việc của thầy, nhờ tôi trao lai. Michelle nhìn tôi vẻ bối rối khi nhận thơ. Tôi yên lặng ngồi nhìn Michelle e-dè mở thư ra đọc. Tôi thoáng thấy có những tấm hình đen trắng kèm theo thư cùng bản sao một thẻ căn cước... Mặt Michelle càng lúc càng trở nên căng thẩng đầy xúc động...những giọt nước mắt chảy ra từ hai khóe mát, lan dài trên má. Tôi đứng dậy đến gần cửa sổ nhìn ra ngoài, tránh nhìn các hình ảnh cảm động đang diễn ra trước mặt..

Một tiếng nấc, rồi những tiêng thổn thức tiếp nối. Tôi quay lại, mặt của Michelle cúi xuống, hai tay ôm đầu, hai vai run-rẩy.

Chờ Michelle bớt xúc động, tôi đến ngồi bên cạnh, giúp nhặt lên thư và hình ảnh bị rơi xuống đất.Trong một tấm hình, tôi nhìn thấy anh Cường chay và chị Mè chụp chung bên bờ con sông Hàn ở Đà-nẵng, hai người âu yếm choàng vai nhau... và bản sao thẻ căn-cước bằng tiếng Pháp có in hình anh Cường chay ghi: Lê-chí-Cường sinh năm 1940 tại Huế... Việt-nam....

Michelle nhận thư và hình ảnh từ tay tôi, ôm tất cả vào ngực..lại thổn thức: “Mẹ ơi ! Ba ơi !”.

Tôi từ giã ra về. Michelle tiễn tôi ra cổng trang trại. Tôi nghe có tiếng gà gáy trong một góc nào đó từ bên trong xa.. Nắng buổi chiều vàng vọt trãi dài trên các ngọn cây. Tôi thoáng nhìn thấy anh Cường chay đang chở chị Mè trên xe đạp chạy từ nhà thờ Con Gà về xóm chùa Hải-Châu, nơi anh Cường chay có tiệm hớt tóc.

Nguyễn-đại-Thuật

Blog Archive