Showing posts with label ngôn ngữ. Show all posts
Showing posts with label ngôn ngữ. Show all posts

Tuesday, April 21, 2026

Tiếng Pháp

Tiếng Pháp có một cách rất riêng để giữ ký ức văn hóa của mình: thay vì cất chúng trong viện bảo tàng hay trên những trang biên niên khô cứng, ngôn ngữ đem chúng vào đời sống hằng ngày, để người ta lặp lại trong câu nói quen miệng mà đôi khi không còn để ý mình đang chạm tới cả một lịch sử dài phía sau. Rượu vang là một trong những mạch nguồn như thế. Từ bàn tiệc, quán trọ, hầm rượu, quầy hàng và những cuộc trò chuyện thân mật, nó đã đi vào tiếng Pháp bằng vô số thành ngữ, rồi ở lại như một phần của nhịp sống. Chỉ vài cách nói như mettre de l’eau dans son vin, pot-de-vin, pourboire, avoir de la bouteille hay avoir un coup dans le nez cũng đủ mở ra một thế giới nơi ngôn ngữ, phong tục và lịch sử giao nhau rất đẹp.


Trong số đó, mettre de l’eau dans son vin có lẽ là thành ngữ thanh nhã nhất. Nghĩa đen là pha nước vào rượu, còn nghĩa bóng là dịu lại, bớt gay gắt, chấp nhận lùi một bước để tìm sự hòa giải. Cách nói này có gốc rễ rất xa, gợi về thói quen cổ đại của Hy Lạp và La Mã, khi rượu thường được pha loãng trước khi uống. Uống rượu nguyên chất từng bị xem là hành động thiếu tiết chế, trong khi thêm nước là một dấu hiệu của sự điều độ và văn minh. Từ nghi thức trên bàn tiệc, cách diễn đạt ấy dần bước vào đời sống tinh thần, trở thành lời nhắc về sự mềm lại của con người trong ứng xử. Chỉ một hình ảnh giản dị mà hàm chứa cả triết lý sống: đôi khi biết giảm bớt độ gắt mới là dấu hiệu của trưởng thành.

Nếu mettre de l’eau dans son vin mang tinh thần ôn hòa thì pot-de-vin lại cho thấy mặt thực tế hơn của xã hội. Ngày nay, ai cũng hiểu đó là tiền hối lộ, nhưng lớp nghĩa ban đầu mềm hơn nhiều. Trong thời Trung cổ, cụm từ này gắn với khoản tiền nhỏ đưa thêm cho chủ quán hoặc người trung gian để cùng uống rượu, như một cử chỉ xã giao sau khi giao dịch xong. Dần dần, khi các quan hệ làm ăn trở nên phức tạp hơn, khoản tiền “uống rượu” ấy đổi sắc thái, trượt sang nghĩa kín đáo và mờ ám hơn, cho đến khi trở thành từ quen thuộc để chỉ hành vi mua chuộc. Hành trình của một từ như thế hé lộ một điều thú vị: ngôn ngữ rất thành thật, nó luôn giữ lại dấu vết của đời sống, kể cả khi đời sống ấy đã đổi màu.

Pourboire cũng bước ra từ thế giới quán xá và phép lịch sự cũ. Nghĩa gốc của nó là “tiền để uống”, tức khoản tiền nhỏ khách để lại cho người phục vụ để họ có thể tự mua cho mình một ly sau giờ làm. Những dấu vết sớm của cách nói này đã xuất hiện trong văn học Pháp từ thế kỷ XVII, và thường được nhắc cùng bầu không khí của quán trọ, tiệm ăn và sân khấu đời sống đô thị đang dần mở rộng. Theo thời gian, pourboire trở thành tiền tip theo nghĩa hiện đại, nhưng cái duyên của từ vẫn còn nguyên: đó không phải một phần của hóa đơn, mà là sự tử tế được trao thêm, một cách thừa nhận rằng công sức phục vụ xứng đáng có một niềm vui nho nhỏ ở cuối ngày.

Đẹp nhất có lẽ vẫn là avoir de la bouteille. Người Pháp dùng nó để nói về một người từng trải, dày dạn, đã sống đủ lâu và va chạm đủ nhiều để có độ chín trong cách nghĩ, cách nói, cách hành động. Hình ảnh của chiếc chai trong thành ngữ này gắn rất tự nhiên với rượu được cất giữ qua năm tháng. Một chai rượu để lâu, nếu được gìn giữ đúng cách, sẽ trở nên sâu hơn, tròn hơn, phức tạp hơn. Con người trong cách nhìn ấy cũng vậy. Kinh nghiệm không đến bằng sự ồn ào, mà bằng thời gian lắng xuống. Có lẽ vì thế mà đây là một trong những cách khen rất Pháp: kín đáo, có hình ảnh, có chiều sâu và gợi ra cả một nền văn hóa vốn coi sự chín chắn là thứ cần được tích lũy chậm rãi.

Nhẹ hơn, đời thường hơn, có chút hóm hỉnh hơn là avoir un coup dans le nez. Cụm từ này chỉ trạng thái hơi ngà ngà sau vài ly rượu, khi men đã đủ để làm gương mặt ửng lên, giọng nói chậm hơn một nhịp, ánh mắt lơi ra đôi chút. Nó không phải cơn say bi kịch, cũng chưa phải sự mất kiểm soát, mà là khoảnh khắc men rượu bắt đầu hiện diện trên cơ thể. Chính sự tinh tế trong cách đặt tên ấy cho thấy tiếng Pháp rất giỏi biến những trạng thái rất người thành hình ảnh gợi cảm. Thay vì gọi thẳng sự say, họ mượn cái mũi, mượn sắc da, mượn ấn tượng thoáng qua trên gương mặt để tạo ra một thành ngữ sống động và có chút tinh nghịch.

Nhìn rộng hơn, những cách nói quanh rượu vang cho thấy rượu trong văn hóa Pháp chưa bao giờ chỉ là đồ uống. Nó đi vào ứng xử, vào thương lượng, vào phép lịch sự, vào cách hình dung về tuổi tác, sự từng trải và cả những lệch chuẩn xã hội. Mỗi thành ngữ là một mảnh lịch sử nho nhỏ, lưu lại trong ngôn ngữ những gì từng rất quen thuộc với đời sống: quán rượu, bữa ăn, cuộc trao đổi, món tiền lẻ đặt lại trên bàn, bình rượu trong hầm, sắc mặt sau vài ly. Khi những lớp sống ấy trôi đi, từ ngữ vẫn ở lại, tiếp tục được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một kho ký ức không cần khóa.

Có lẽ đó cũng là sức hấp dẫn bền lâu của tiếng Pháp. Nó khiến những điều rất đời thường trở nên giàu nhạc tính và giàu chiều sâu. Một lời nhượng bộ có thể được nói bằng hình ảnh pha nước vào rượu. Sự từng trải được gọi bằng một chiếc chai đã có tuổi. Một khoản tiền cảm ơn sau bữa ăn lại mang dấu vết của ly rượu người phục vụ tự thưởng cho mình. Và chỉ cần một chút men trên gương mặt, ngôn ngữ đã tìm ra một cách diễn đạt vừa duyên vừa sống. Ở nơi ấy, rượu vang không nằm tách khỏi văn hóa, mà tan vào ngôn ngữ như màu rượu ngấm vào thành ly, để lại dư vị rất lâu sau khi câu nói đã kết thúc.

Cre. Pane e Vino




Tuesday, April 14, 2026

Cô Đơn/Cô Độc, Cô Lập/Cách Ly - Mùi Mẫn hay Muồi Mẫn?

Đỗ Văn Phúc.

Trong đời sống thường ngày, chúng ta vẫn thường nói, dùng chữ theo thói quen, mà ít quan tâm đến nghĩa chính xác của nó. Kể ra cũng không quá quan trọng. Nhưng biết sai, biết sửa đổi thì vẫn hơn!

Ai cũng nghĩ rằng Đơn, Độc thì cũng nghĩa như nhau!

Từng đôi chữ Cô đơn và Cô độc; Cô lập và Cách ly có nghĩa khá tương tự. Vì thế, thường bị dùng lẫn lộn.

Thật ra, nếu tìm hiểu thật kỹ, sẽ thấy nó khác nhau và được dùng tùy trường hợp.

Chữ 孤 có nghĩa là con mồ côi. Cô lậu 孤陋 dốt nát hẹp hòi, cô tịch 孤僻 tính tình ngang trái, cả hai chữ đều là có nghĩa không cùng hòa hợp với ai cả.

Cô còn có nghĩa như một vật gì vượt ra hơn các vật khác. Như cô sơn 孤山 núi trọi, cô thụ 孤樹 cây trọi, v.v.

Cô cũng là cách tự xưng nhún nhường của các vua chư hầu ngày xưa bên Trung Hoa, tự coi mình kém đức độ.

Ngoài ra, Cô còn nghĩa là Phụ bạc. Như cô ân 孤恩 phụ ơn

ĐỘC 獨 là một chỉ có một mà thôi. Bất cứ thứ gì lẻ loi, chỉ có một đều gọi là Độc. Già không có con cháu cũng là độc. Người độc hành là người đi một mình. Độc đạo là con đường duy nhất.

ĐƠN 单單 cũng có nghĩa tương tự. Hình Đơn Ảnh Chích (đơn hình bóng lẻ). Đơn thương độc mã là một mình, một ngựa.

Vậy, Cô độc là trơ trọi một mình, không có ai xung quanh. (Alone, solitary)

Ví dụ:

Núi Bà Đen ở Tây Ninh đứng cô độc sừng sững giữa vùng rừng rú Tây Ninh.

Cụ già không con cháu, sống cô độc trong túp lều ven làng. (Cũng có thể nói là đơn chiếc).

Nhân vật Robinson Crusoe hay phi công Chuck Noland do Tom Hank đóng trong phim Cast Away bị đắm tàu, rớt máy bay rồi trôi dạt vào hoang đảo, cách xa thế giới hàng trăm, hàng ngàn dặm. Họ rơi vào tình trạng cô độc.

Còn CÔ ĐƠN là tình trạng một người tuy không lẻ loi về quan hệ xã hội, tuy sống trong tập thể mà không thấy sự thông cảm, gần gủi. (Lonely, Lonesome)

Ví dụ:

Từ khi chồng qua đời, chị Tám cảm thấy cô đơn, không còn ai để cùng chia sẻ vui buồn. Chị không cô độc, vì quanh chị còn có hàng xóm, bà con thân thích.

Vậy, một người cô độc, nhưng có thể không cô đơn vì còn có người nhắn nhủ, nghĩ tới. Người cô đơn nhưng không cô độc, vì chung quanh còn nhiều người khác.

CÁCH LY: (Separate)

CÁCH 隔. Ngăn cách, giữa khoảng hai cái gì mà lại có một cái ngăn cách ở giữa khiến cho không thông với nhau được gọi là cách.

Cách cũng là xa lìa. Như khuê cách 暌隔 cách biệt xa xôi.

LY 離 là lìa tan. Lìa nhau ở gần gọi là ly 離, xa gọi là biệt 別

Cách ly là tách một người, một nhóm ra một nơi khác, cách biệt mọi người vì lý do nào đó như bệnh truyền nhiễm hay vì tội phạm nguy hiểm.

Ví dụ:

Bác Ba bị phát hiện bệnh lao phổi, nên bệnh viện phải đưa cách ly.

Trong mùa dịch Covid-19, những người có triệu chứng sốt cao, ho cảm thì sẽ bị cách ly để theo dõi.

Những tội phạm giết người thường bị cách ly trong một khu riêng biệt, xa các tội thường phạm khác.

CÔ LẬP 孤 立 là đứng một mình. Như cô lập vô trợ 孤立無助 trơ trọi một mình không ai giúp (Isolate).

Cô lập là trường hợp một chủ thể bị những người khác xa lánh, không ai thèm kết giao vì một lý do nào đó.

Ví dụ:

Anh B. xấu tính, hung hăng, nên bị bạn bè cô lập.

Nước Việt Nam Cộng Sản từng bị thế giới lên án và cô lập vì những chính sách vi phạm nhân quyền và đã xâm lăng Campuchia.

Cuba bị cô lập vì chạy theo chủ nghĩa Cộng Sản.

Như thế, những người bị cách ly, nhưng không bị cô lập vì vẫn được săn sóc, theo dõi.

Còn những người bị cô lập nhưng có thể không bị cách ly về thể xác, vẫn có những người xung quanh; nhưng không ai thèm trò chuyện.



Muồi Mẫn hay Mùi Mẫn

Một vài ca sĩ miền Nam có cách hát, phát âm uốn éo: “Anh sẽ đưa em về nơi chân trời ‘tiếm.” “Lòng ‘buồi nguồi’ nhớ hôm nào xuôi miền Trung...”

Vì thế, khi nói đến chữ “Muồi Mẫn,” người ta thường cho đây là hai chữ “Mùi Mẫn’ mà do cách phát âm sai của người miền Nam. Có đến gần 100% người Việt tin rằng chữ “Mùi Mẫn” là đúng! Chính tôi cũng lầm như thế.

Thật ra đó là “MUỒI MẪN”

Trong cuốn Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của cụ Huình Tịnh Của – là một trong các tự điển xưa nhất của Việt Nam, ra đời năm 1895 cách nay 128 năm – có cả hai chữ Mùi và Muồi.

Chữ “Mùi” với các nghĩa về khứu giác (mùi hương, mùi thơm, mùi thúi, mùi ngon, mùi khét…) và “mùi” là “màu” sắc; không có chữ “Mùi” nào ghép chung thành hai chữ "MÙI mẫn."

Và có chữ “Muồi” trong hai chữ "Muồi mẫn". Ở cột thứ hai của trang 672, có giải nghĩa chữ "Muồi" (煤) là chín quá (nói về trái trăng) và cho bốn ví dụ "muồi mẫn", "chín muồi", "trái muồi" là trái chín quá, "khóc muồi" là khóc lu bù.

1.- Việt Nam Tự Điển của ông Lê Văn Đức có ghi: “Muồi: khóc muồi-mẫn; họ đang muồi-mẫn với nhau.”

2. Tự Điển Từ Ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín cũng không ghi nhận "mùi mẫn" mà chỉ có "muồi mẫn". Huỳnh Công Tín còn giải thích tỉ mỉ hơn hẳn hai công trình kể trên, cụ thể như sau:

Trích

MUỒI:

- (Trái cây) chín đã lâu, ở trạng thái mềm, thâm sắp chuyển sang thối rữa.

Ví dụ: Ba trái chuối để muồi thâm kim, ăn hết ngon.

- Ở trạng thái cao về chất của một quá trình.

Ví dụ: Mới nói có mấy tiếng mà nó đã tủi thân khóc muồi rồi; Em nó buồn ngủ muồi rồi, gục lên gục xuống kia kìa.

- (Ca, đàn) rất điêu luyện, điệu nghệ, êm dịu và truyền cảm.

Ví dụ: Giọng Phương Quang ca bài "Tình anh bán chiếu" cũng rất muồi, đâu thua gì giọng Út Trà Ôn.

- Tình tứ, rất tình, say đắm quyến luyến bên nhau.

Ví dụ: Muồi ở đâu chớ bọn trẻ bây giờ chúng nó muồi ở giữa đàng giữa sá, trông nó kỳ khôi quá

Về từ ngữ "MUỒI MẪN", Huỳnh Công Tín giải thích như sau:

"Muồi mẫn" là từ dùng có ý nhấn mạnh để chỉ trạng thái cao, điêu luyện của một quá trình.

Ví dụ: "Giọng ca phải muồi mẫn theo nghĩa là lãng mạn, buông thả tự do nhưng giữ chắc nhịp".

Ví dụ này là Huỳnh Công Tín dẫn theo sách của Sơn Nam. Điều này có nghĩa là nhà văn Sơn Nam cũng viết "muồi mẫn".

Hết trích

Trước khi kết thúc bài này, chúng tôi xin góp thêm một thí dụ về chữ “Muồi” trong lời ru con của các bà mẹ Quảng Trị:

Ru em, em théc cho muồi
Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu.

“Théc” là đặc ngữ miền Trung, có nghĩa là ngủ. Théc cho muồi, là ngủ say.


Sunday, April 12, 2026

TIỂNG VIỆT THỜI NAY


Hôm nay, tôi nhận được một email của một người Sài Gòn mở đầu bằng chữ “Kính gởi …” (thay vì ‘kính gửi’). Mát dạ ghê nơi! Và, làm tôi có cảm hứng thổ lộ vài tâm tình về tiếng Việt ngày nay.

Tôi là người lớn lên với Tiếng Việt thời trước 1975, tức là Tiếng Việt trong Tự Lực Văn Đoàn của những Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, v.v. Đó cũng là tiếng Việt của các tiền bối như Hoàng Xuân Hãn, Phạm Quỳnh, và sau này là Mai Thảo và nhóm tạp chí Bách Khoa lừng danh một thời. Đó cũng chính là Tiếng Việt thời 1945 và sau này được gìn giữ ở trong Nam.

Thời đó, chúng tôi nói và viết Tiếng Việt theo thứ tự tự nhiên. Chẳng hạn như chúng tôi được dạy là 'hôi thúi' (hay 'hôi thối') vì một vật thể khi bị chết đi, nó đi từ 'hôi' mới đến 'thúi.' Chúng tôi nói 'khai triển' (khai trương rồi mới phát triển). Các thầy dạy cho biết đó là cách nói của người Việt được coi là thuận với thiên nhiên.

Do đó, ngày xưa, Tiếng Việt chúng ta được cấu trúc theo công thức tự nhiên đó. Có thể tìm thấy những chữ thường ngày như: bảo đảm, đơn giản, thành hình, khai triển, ít nhiều, v.v.

Thế nhưng sau 1975, những chữ đó đột nhiên bị đảo lộn thành: đảm bảo, giản đơn, hình thành, triển khai, nhiều ít, v.v. Những chữ này có cùng nghĩa như những chữ trên, nhưng nó chỉ đảo ngược cách nói/viết.

Tại sao có sự đảo ngược này?

Câu trả lời đơn giản là do Tàu hoá. Thật vậy, rất nhiều chữ sau này được dùng theo cách dùng của người Tàu. Chẳng hạn như người Tàu hay nói ngược với chúng ta. Thay vì nói 'bảo đảm', họ nói 'đảm bảo'. Chúng ta nói 'khai triển', họ thì 'triển khai'. Vân vân.

Thật ra, những chữ như 'bảo đảm', 'khai triển', 'đơn giản', v.v. đều xuất phát từ chữ Hán. Nhưng các vị tiền bối chúng ta nói ngược với họ, có lẽ một phần là theo lẽ tự nhiên, và quan trọng hơn là không bị Tàu hoá.

Tiếng Việt ngày nay rất ư là hỗn tạp và phức tạp. Hỗn tạp là thứ lai căng (như ‘tuổi teen’), và phức tạp là làm cho tối nghĩa (ví dụ như ‘một cá thể trâu’). Mới đây còn có 'topping' nữa chứ! Loại tiếng Việt này làm đau đầu những người thuộc thế hệ tôi, và làm nhói tim những ai còn quan tâm đến sự trong sáng của tiếng Việt.

Hôm qua, cô tiếp viên sau khi tính toán tiền ăn xong rồi nói:
"Dạ, phần của mình là 56 ngàn ạ"

Tôi muốn ghẹo cô ấy, nên giả bộ hỏi "'mình' là ai vậy con?" Cô ta bẽn lẽn nói "Dạ, con quen miệng ạ". Tôi lại chọc: người miền Nam không nói "ạ".

Rồi còn những cách dùng sai nghĩa nữa, mà tiêu biểu là 'liên hệ' và 'liên lạc'. Chẳng hiểu từ đâu mà ngày nay ở trong nước ai cũng dùng chữ 'liên hệ' theo ý nghĩa contact của tiếng Anh. "Anh cần thêm bất cứ điều gì, cứ liên hệ qua số điện thoại ...". Đáng lí ra phải là 'liên lạc'.

'Liên hệ' theo tôi hiểu là quan hệ huyết thống, máu mủ ruột thịt trong gia đình, tiếng Anh là 'relate'. Còn 'Liên lạc' có nghĩa là tiếp xúc giữa các cá nhân, tiếng Anh là 'contact'. Rõ ràng như vậy, mà chẳng hiểu sao đi đâu cũng thấy 'liên hệ'. Tôi nghi là cũng do Tàu hoá mà ra.

Lại nói đến chữ 'khả năng' cũng bị đổi nghĩa. 'Khả năng' có nghĩa là năng lực để làm một việc gì (tiếng anh là capacity). Vậy mà ngày nay người ta dùng chữ 'khả năng' theo cái nghĩa 'có thể' (probable): 'Chiều nay trời có khả năng mưa'. Trời ơi! Sao không nói "Chiều nay trời có thể mưa"? Lại một cách Tàu hoá?

Khó ưa nhứt là chữ ‘Việt Kiều’. Tôi nghĩ giới báo chí không chịu tìm hiểu nghĩa nên dùng chữ không đúng. ‘Kiều’ có nghĩa là người ngoài đến sanh sống nơi mình cư trú. Do đó, chúng ta mới có Hoa Kiều, Pháp Kiều. Tôi là người Việt về thăm quê thì mắc mớ gì mà gọi tôi là ‘Việt Kiều’?! Đáng ly' ra nên gọi là ‘Kiều Bào’.

Chói tai nhứt là nghe cách đánh vần ngày nay. Lúc nào cũng Bờ Cờ Sờ ... nghe thiệt khó vô. Đó là cách phát âm đánh vần thời Bình dân Học vụ (thời 1930-1940) để giúp cho người mù chữ làm quen với chữ cái trong tiếng Việt, chớ đâu phải cách đánh vần chánh thức. Đâu có ai dùng nó để chỉ A Bê Xê (ABC) đâu. Các nhà ngôn ngữ học cũng đã nói cách đánh vần Bờ Cờ Sờ là sai. Vậy mà ngày nay trên đài truyền hình, đài phát thanh oang oang Bờ Cờ Sờ!

Có lần tôi thấy sốc khi nghe một đồng nghiệp Pháp nói với tôi rằng tiếng Pháp ở Paris ngày nay là loại hỗn tạp, còn tiếng Pháp ở Québec (Canada) mới là ‘chuẩn’. Chẳng biết nhận xét đó đúng hay sai, nhưng tôi có cảm giác nó hợp với tiếng Việt ngày nay: tiếng Việt ở hải ngoại mới chuẩn hơn tiếng Việt ở trong nước.

•GS Nguyễn Tuấn




Friday, March 27, 2026

Đôi Điều Về Tiếng Nói Miền Nam



Bắc Kỳ và Nam Kỳ là cách phân vùng của vua Minh Mạng, kỳ là vùng, là miền, là cõi chứ hông phải kỳ… cục mà ghét!

Nam trọng thực chất, lèng xèng bề ngoài, không nói về bản thân không tự nâng mình lên, nói ít và chặt thẳng không dị nể, thực thà, trong câu chuyện thường khen người khác chứ không khen mình.

Bắc trọng hình thức bên ngoài, rất chỉnh chu ăn mặc, rất thích thể hiện cái hàn lâm, cái tôi, lòng vòng dài dòng tới xảo ngôn, dài thòng vậy đó nhưng lại xẹt ngang về cái cuối là tự khen mình, tự nâng mình lên.

Có một bà Nam kia có đứa con gái quen với một bạn Bắc, bữa kia nhỏ gái dắt về nhà, anh Bắc vô nhà ban đầu thì “Giạ, giạ! thưa bác” nhưng chừng tới trưa thì "thưa má" làm bà già hết hồn.

Đơn giản thôi! ăn cây nào rào cây nấy. Vô Nam thì phải sống kiểu đó, cũng là hòa nhập.

Nhưng kiểu này ít lắm!

Hiện tại giữa Sài Gòn, giữa Lục Tỉnh mà người Miền Nam ăn nói theo cách Bắc thì chẳng ai thích đâu.

Vô quán ăn ở Sài Gòn nghe được gia đình kia nói chuyện. Đi ăn, thằng con xin phục vụ "cái thìa" ba mẹ nó không chịu nói là cái muỗng. Thằng con cự lại "Cô con dạy là cái thìa". Nó còn nhỏ nên nó chưa phân biệt rõ giữa đời sống văn hóa thực của Miền Nam và đời sống văn hóa trong sách giáo khoa. Chừng vài năm khi lớn hy vọng nó sẽ "ngộ" ra.

Đọc được những lời "ca thán" của một ông nhà văn từ Bắc vô Nam sau 30/4 kiểu ông vào Sài Gòn đọc báo, nghe dân nói chuyện "chả hiểu cái gì hết".

Là vì Sài Gòn cứ "ảnh, chỉ, ổng, bả" ,"ở bển, ở ngoải, ở trỏng, ở trển", rồi "thẳng chả, con mẻ”…

Rồi nghe "bữa hổm, hồi hổm, hồi nẳm, hồi năm nẳm, hồi giờ, hôm hổm, hổm rày “tùm lum thứ”…

Người Sài Gòn VNCH xài nhiều từ Hán Việt kiểu "nữ quân nhân", “phi cơ", “thủy quân lục chiến", “Tòa Bạch Ốc", “Ngũ giác đài" làm "trí thức" Miền Bắc không hiểu là gì. Trí thức Miền Bắc chỉ có "chiến sĩ gái", “tàu bay", “lính thủy đánh bộ, “giặc lái", “lầu năm góc",”nhà trắng" mà thôi!

Mấy anh sau 1975 than không biết "mè, bắp, mì, hột vịt, cây kiểng, dầu cù là, sửa Honda" là cái quái gì?

Không biết thì phải học. Nhưng không cần, mấy ảnh làm sao mà dân MN phải "biết" và nói y chang như mấy ảnh luôn mới hay!

Ngày nay con nít Miền Nam cứ "anh ấy", “cô ấy", “thế nhỉ", “thế nhé" và "vâng ạ" rần trời…

Coi mấy ông bà MC đó, giọng Sài Gòn mà cứ "vâng, em xin bắt đầu" không hề ngại ngùng!

Cá với các bạn, người Bắc họ "dạ" không được như người Sài Gòn. Người Sài Gòn cái giọng ngọt thanh, ngọt lịm dạ một cái như là gió mát. Người Miền Bắc họ không dạ được, họ toàn "giạ" không hà. Nói dạ thành "giạ", vậy nói "ạ" cho gọn!

Nói "dạ" thành "giạ" thì sẽ qua nghĩa khác, cái "giạ" trong đong lúa của Miền Nam.

Người Bắc ngoài âm "L" và "N" lộn tùm lum, còn có X và S phát âm như nhau và đều đọc là X, người ta cười khi nghe cô giáo Bắc dạy học trò là “xờ nặng" và "xờ nhẹ"…

Người Bắc đọc âm R, D và GI như nhau và đều phát âm thành GI.

Thí dụ "dâu rể" Bắc đọc thành "giâu giễ", ròng rọc thành giòng giọc, rõ ràng thành giõ giàng.

Cái âm "gi" của người Bắc chết người lắm đó, không đơn giản đâu !

Tại Bà Rịa thời Nguyễn có 平野村 Bình Dã thôn, thôn được lưu dân lập vào thời vua Thiệu Trị, thuộc phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hoà.

Bình Dã 平野 có nghĩa là một cánh đồng bằng phẳng,đồng ruộng bát ngát; ruộng đồng minh mông.

Vậy thì sao ngày nay lại là "Bình Giã"?

Trong xóm làng Nam Kỳ Lục Tỉnh có nhiều địa danh ban đầu rặc Nam nhưng đã bị quá trình di cư từ Bắc vô "đổi" lại thành kiểu Bắc. Bình Dã là bằng chứng.

Làng "Bình Dã" sau 1954 là một trại định cư đón 2 ngàn dân Công Giáo di cư từ Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh vào định cư. Sau đó là một Ấp Chiến Lược điển hình dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Và từ trại định cư, người gốc Bắc đổi từ tên bổn địa Bình Dã thành Bình Giã, cái tên "Bình Dã" đã biến thành "Trại định cư Bình Giã". Bình Giã là cái tên không có nghĩa!

Cũng vậy, từ "cơn dông" ,"dòng sông" thành cơn giông, giòng sông…

Hậu quả đã rõ, học trò Sài Gòn ê a đánh vần, Tân Sơn Nhứt thành Tân Sơn Nhất, bùng binh thành vòng xuyến, hột mè thành "vừng", đậu phộng thành lạc, quẹo thành "rẽ", quăng thành "vất", “đậu" thành "đỗ", “nước lèo" thành "nước dùng", “trụng" thành "chầng" ,"chích" thành "tiêm"…

Chữ chích nó hay vậy đó mà thủ tiêu luôn. Ngày dịch di đâu cũng nghe dân Miền Nam hỏi nhau "Chúng mày đi tiêm chưa?".

Không lậm cũng uổng, nhân viên xã, truyền hình, phát thanh, loa xã ngày nào chẳng ra rả cái điệp khúc "tiêm" và "tiêm"…

Chữ "xe hơi" ngọt ngào là vậy bị đổi thành "xe ô tô", chữ "xe lửa" bị biến thành "tàu hỏa" và xe đò thinh bị kêu là "xe khách"…

“Nợ đời” của Hồ Biểu Chánh, chữ xe hơi rõ ràng, giọng văn hồi 1936:

“Nhà nước mới mở cái lộ quản hạt cho xe hơi chạy từ Sài Gòn xuống Cần Thơ. Nhơn dân ở dọc theo lộ nầy, thuở nay cứ xẩn bẩn trong chốn thôn quê lo lập vườn làm ruộng, phần nhiều chưa thấy những cơ xảo văn minh phát hiện nơi thị thành, bởi vậy hễ nghe tiếng xe hơi chạy ồ ồ trên lộ, thì công cấy công mạ đương loi nhoi dưới ruộng đều xóng lưng xây mặt mà ngó, còn trong xóm trong làng thì con nít người lớn đều bỏ nhà chạy ra sân đứng mà coi.

Một buổi trưa, trời ui ui, gió mát mẻ, có một cái xe hơi ở phía dưới Mỹ Thuận chạy lên, qua khỏi chợ Cai Lậy một đổi rồi rề rề ngừng ngay cái xóm nhà dựa lộ, bên mé tay trái.

Nhơn dân trong xóm chạy túa ra đứng dài theo lề đường mà coi, đờn ông có, đờn bà có, bà già có, con nít có, song ai nấy đều đứng xa xa mà ngó chớ không dám lại gần, không hiểu tại họ sợ cái mầu nhiệm của món cơ xảo lạ lùng, hay là tại họ kiêng hơi oai nghiêm của người chủ xe sang trọng.

Cái xe còn mới tinh nên kèn cản chói sang lòa, lại sơn màu lá cây sậm nên coi mặn mòi đẹp đẽ”(Hết trích)

Ác hơn là xe Honda bị kêu là "xe máy". Mà giờ xe không kêu là chiếc xe hay cái xe mà thành "con xe".

Nhiều lúc nhìn mấy em trẻ trâu khoe "em có con xe" nghe phát ứa gan.

Thiệt là mệt quải chè đậu!

Đèn nào cao bằng đèn Cầu Lộ
Gái nào ngộ bằng gái Vĩnh Long
Sao em lớn tuổi ở vậy chưa chồng
Anh đây muốn làm phò mã nhưng ngại lòng quá đi”

Một bạn sinh viên hỏi, anh có biết "cái bát ô tô" không?"

Đó là cách gọi kiểu Bắc đó em, bát ô tô tức là cái bát ăn phở, bát to, bát rộng đáy, là cái "tô" đó.

Người Bắc Kỳ kêu cái mà ta đựng cơm ăn với đũa là cái bát, Nghệ An, Hà Tĩnh gọi là cái đọi, thì ở Nam Kỳ kêu là cái chén.

Chữ bát nó xuất phát từ chữ 缽 (bát) của cái bình bát một nhà sư ôm đi khất thực.

Còn chén là chữ Nôm, trong Hán tự chữ 盞 trản là chỉ cái chung nhỏ để uống rượu, nhưng người Bắc uống rượu bằng chén rượu, trong khi Nam Kỳ kêu là chung rượu hoặc ly rượu

"Đắng cay này chén tiễn đưa
Uống đi, uống để say sưa ngập lòng"

(Chén rượu đôi đường.Vũ Hoàng Chương)

Nhưng đã nói, Nam Kỳ không kêu chén rượu mà kêu là chung rượu hoặc ly rượu…

"Uống ly này ly tôi hết rồi đây
Đám cưới vui ai đâu có mà la rầy
Nè anh Tám nhìn hoài chi chị Sáu
Cụng ly với bà sui đi cái đã"

Vì sao Nam Kỳ không xài chữ bát?

Theo truyền thống Nam Kỳ, ăn cơm và cúng cơm đều trang trọng, ngày Tết cũng cúng cơm ông bà.

Chữ 'bát' nghe giống thất bát, xui rủi, thành ra không ai xài bát cơm.

Và nguyên nhân như đã từng nói, Nam phải làm khác Bắc, Bắc kêu bát cơm thì Nam sẽ là chén cơm, thái độ này theo chân lưu dân Ngũ Quảng vô Nam…

Nam Kỳ như nói ở trên cũng rặc ròi phân biệt giữa chén ăn cơm và chung hay ly uống rượu.

Lớn hơn cái chén người Miền Nam kêu là cái tô, lớn hơn cái tô là cái tượng. Ăn tô là quá mức rồi, ít ai ăn tượng nỗi. Trên tượng có cái ảng, cái diệm.

Nhiều người Sài Gòn vẫn còn giữ cái hào sảng, rổn rảng kiểu người Miền Nam xưa là rất đáng mừng. Những chi tiết nhỏ kiểu như mừng quá đập vai cái bẹp kêu "Qủy ơi lâu quá mới gặp" làm người bị kêu quỷ muốn cay khóe mắt .

Nghe người ta kêu nhau mà ngồi điếng người, ngôn ngữ này của ông bà tui rồi nè.

Người ta thương nhau kêu nhau là "cục cưng", “cục vàng". Tới nhà bạn kêu em bạn và kêu là "Cưng ơi! Cưng mấy tuổi rồi?”

Cha mẹ của ông nội, ông ngoại thì kêu là Ông Cố, Bà Cố, có Cố Nội hay Cố Ngoại.

Nhưng Nam Kỳ kêu còn cái khác nha, Đồng Tháp gọi là ông bà cóc, An Giang lại gọi là ông bà cồ

Trên ông cố bà cố thì có ông sơ bà sơ, trên nữa thì xa quá cháu không còn hình dung ra, thôi thì cứ "ông bà ông vải" mần tới

Nam Kỳ hay chọc mấy bà ế chồng mà được cầu hôn: “Sướng thấy ông bà ông vãi mà làm bộ tịch".

Thương lắm cái tánh hịch hạp, thẳng thắn của dân Miền Nam mình, kiểu thẳng thừng, đi vào trọng tâm, không lòng vòng xách mé.

Kiểu đi đám cưới, biết ông kia bên sui gia mình làm quan mà hỏi vầy nè: “Ê, tui nhớ vùng ông là vùng VC hồi xưa phải hôn?”. Ông kia cũng thẳng băng luôn"m “Tui là VC nè anh".

Bạn đừng cười khi nghe mấy cô bán trái cây Miền Nam quởn ngồi nói chuyện, nghe tả nhan sắc mấy con nhỏ bả ghét hú hồn.

Mặt tròn như cái mâm chè, như trái bần, như cái bánh ít trần, đầu thỏn như đầu "cá dồ", mỏ nó hô trấc như mỏ "cá tra". Thằng chồng nó có râu cá chốt phát ghét, cái tướng chút xíu như con cá lòng tong.

Chồng thương thì "anh ơi anh à!", ghét chồng kêu "nhìn mặt thằng chả ứa gan".

Chồng thương lấy xe chở đi, bực bội cho "lội bộ biết mùi". Lội bộ là đi bộ mình ên, còn đi xe dân biểu là đi xe ôm đó đa.

Nhiều bạn cứ bắt đầu bằng câu "ta nói", nói lòng vòng một hồi cũng "ta nói, ta nói hồi năm nẳm, ổng rầy bả, bả giận điếng người,ta… nói!

Thiệt ngộ hén!

Nhiều bạn thích chữ "đồ" nên đem vô miết. Thí dụ thấy bạn chở vô quán ăn hơi cao giá ẻm nói "Chời! nay ăn một tô trăm ngàn đồ!"

Thấy bạn muốn dê, cô gái nói "Nay muốn ôm tui… đồ!". Thích thì xáp "dô" liền, hông thôi thì "đi dề à nha"

Lóng rày trời lạnh, thương nhau đi em ơi!

Nói về ngữ âm, không có vùng nào, xứ nào phát âm không có lỗi gì đó, thí dụ nuốt âm hay trớt âm.

Thôi nha! nhắc nữa đó. Ráng mà tránh xài từ bị biến đổi, ráng giữ Tiếng Miền Nam của mình.

Năn nỉ giữ lại những gì của ông bà mình bằng cách nghe tuyên truyền để lọt từ lổ tai này qua lổ tai khác. Thí du nghe tivi nói "tiêm" thì viết thành "chích", thấy báo đề Thổ Chu ta viết lại cho đúng Thổ Châu, dạy con cháu không quăng rác chứ không phải "vất" rác, báo chí kêu "chờ em một tí" thì mình dạy con cháu "chờ chú một chút”. Rồi bỏ nước dùng viết thành nước lèo, bỏ "chầng" viết trụng, bỏ lạng xài gờ ram.

Mình là bổn chánh thì phải là bổn chánh, mắc mớ gì làm bổn sao kiểu kỳ cục vậy m.

Ngoan thương! thương dữ thần ôn thì cho ăn bánh, bánh trái đầy nhóc hết trơn đó, tha hồ ăn.

Không ngoan quánh chết bà bây giờ!

NGUYỄN GIA VIỆT


Monday, January 26, 2026

Đôi Điều Về Tiếng Nói Miền Nam



Bắc Kỳ và Nam Kỳ là cách phân vùng của vua Minh Mạng, kỳ là vùng, là miền, là cõi chứ hông phải kỳ… cục mà ghét!

Nam trọng thực chất, lèng xèng bề ngoài, không nói về bản thân không tự nâng mình lên, nói ít và chặt thẳng không dị nể, thực thà, trong câu chuyện thường khen người khác chứ không khen mình.

Bắc trọng hình thức bên ngoài, rất chỉnh chu ăn mặc, rất thích thể hiện cái hàn lâm, cái tôi, lòng vòng dài dòng tới xảo ngôn, dài thòng vậy đó nhưng lại xẹt ngang về cái cuối là tự khen mình, tự nâng mình lên.

Có một bà Nam kia có đứa con gái quen với một bạn Bắc, bữa kia nhỏ gái dắt về nhà, anh Bắc vô nhà ban đầu thì “Giạ, giạ! thưa bác” nhưng chừng tới trưa thì "thưa má" làm bà già hết hồn.

Đơn giản thôi! ăn cây nào rào cây nấy. Vô Nam thì phải sống kiểu đó, cũng là hòa nhập.

Nhưng kiểu này ít lắm!

Hiện tại giữa Sài Gòn, giữa Lục Tỉnh mà người Miền Nam ăn nói theo cách Bắc thì chẳng ai thích đâu.

Vô quán ăn ở Sài Gòn nghe được gia đình kia nói chuyện. Đi ăn, thằng con xin phục vụ "cái thìa" ba mẹ nó không chịu nói là cái muỗng. Thằng con cự lại "Cô con dạy là cái thìa". Nó còn nhỏ nên nó chưa phân biệt rõ giữa đời sống văn hóa thực của Miền Nam và đời sống văn hóa trong sách giáo khoa. Chừng vài năm khi lớn hy vọng nó sẽ "ngộ" ra.

Đọc được những lời "ca thán" của một ông nhà văn từ Bắc vô Nam sau 30/4 kiểu ông vào Sài Gòn đọc báo, nghe dân nói chuyện "chả hiểu cái gì hết".

Là vì Sài Gòn cứ "ảnh, chỉ, ổng, bả" ,"ở bển, ở ngoải, ở trỏng, ở trển", rồi "thẳng chả, con mẻ”…

Rồi nghe "bữa hổm, hồi hổm, hồi nẳm, hồi năm nẳm, hồi giờ, hôm hổm, hổm rày “tùm lum thứ”…

Người Sài Gòn VNCH xài nhiều từ Hán Việt kiểu "nữ quân nhân", “phi cơ", “thủy quân lục chiến", “Tòa Bạch Ốc", “Ngũ giác đài" làm "trí thức" Miền Bắc không hiểu là gì. Trí thức Miền Bắc chỉ có "chiến sĩ gái", “tàu bay", “lính thủy đánh bộ, “giặc lái", “lầu năm góc",”nhà trắng" mà thôi!

Mấy anh sau 1975 than không biết "mè, bắp, mì, hột vịt, cây kiểng, dầu cù là, sửa Honda" là cái quái gì?

Không biết thì phải học. Nhưng không cần, mấy ảnh làm sao mà dân MN phải "biết" và nói y chang như mấy ảnh luôn mới hay!

Ngày nay con nít Miền Nam cứ "anh ấy", “cô ấy", “thế nhỉ", “thế nhé" và "vâng ạ" rần trời…

Coi mấy ông bà MC đó, giọng Sài Gòn mà cứ "vâng, em xin bắt đầu" không hề ngại ngùng!

Cá với các bạn, người Bắc họ "dạ" không được như người Sài Gòn. Người Sài Gòn cái giọng ngọt thanh, ngọt lịm dạ một cái như là gió mát. Người Miền Bắc họ không dạ được, họ toàn "giạ" không hà. Nói dạ thành "giạ", vậy nói "ạ" cho gọn!

Nói "dạ" thành "giạ" thì sẽ qua nghĩa khác, cái "giạ" trong đong lúa của Miền Nam.

Người Bắc ngoài âm "L" và "N" lộn tùm lum, còn có X và S phát âm như nhau và đều đọc là X, người ta cười khi nghe cô giáo Bắc dạy học trò là “xờ nặng" và "xờ nhẹ"…

Người Bắc đọc âm R, D và GI như nhau và đều phát âm thành GI.

Thí dụ "dâu rể" Bắc đọc thành "giâu giễ", ròng rọc thành giòng giọc, rõ ràng thành giõ giàng.

Cái âm "gi" của người Bắc chết người lắm đó, không đơn giản đâu !

Tại Bà Rịa thời Nguyễn có 平野村 Bình Dã thôn, thôn được lưu dân lập vào thời vua Thiệu Trị, thuộc phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hoà.

Bình Dã 平野 có nghĩa là một cánh đồng bằng phẳng,đồng ruộng bát ngát; ruộng đồng minh mông.

Vậy thì sao ngày nay lại là "Bình Giã"?

Trong xóm làng Nam Kỳ Lục Tỉnh có nhiều địa danh ban đầu rặc Nam nhưng đã bị quá trình di cư từ Bắc vô "đổi" lại thành kiểu Bắc. Bình Dã là bằng chứng.

Làng "Bình Dã" sau 1954 là một trại định cư đón 2 ngàn dân Công Giáo di cư từ Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh vào định cư. Sau đó là một Ấp Chiến Lược điển hình dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Và từ trại định cư, người gốc Bắc đổi từ tên bổn địa Bình Dã thành Bình Giã, cái tên "Bình Dã" đã biến thành "Trại định cư Bình Giã". Bình Giã là cái tên không có nghĩa!

Cũng vậy, từ "cơn dông" ,"dòng sông" thành cơn giông, giòng sông…

Hậu quả đã rõ, học trò Sài Gòn ê a đánh vần, Tân Sơn Nhứt thành Tân Sơn Nhất, bùng binh thành vòng xuyến, hột mè thành "vừng", đậu phộng thành lạc, quẹo thành "rẽ", quăng thành "vất", “đậu" thành "đỗ", “nước lèo" thành "nước dùng", “trụng" thành "chầng" ,"chích" thành "tiêm"…

Chữ chích nó hay vậy đó mà thủ tiêu luôn. Ngày dịch di đâu cũng nghe dân Miền Nam hỏi nhau "Chúng mày đi tiêm chưa?".

Không lậm cũng uổng, nhân viên xã, truyền hình, phát thanh, loa xã ngày nào chẳng ra rả cái điệp khúc "tiêm" và "tiêm"…

Chữ "xe hơi" ngọt ngào là vậy bị đổi thành "xe ô tô", chữ "xe lửa" bị biến thành "tàu hỏa" và xe đò thinh bị kêu là "xe khách"…

“Nợ đời” của Hồ Biểu Chánh, chữ xe hơi rõ ràng, giọng văn hồi 1936:

“Nhà nước mới mở cái lộ quản hạt cho xe hơi chạy từ Sài Gòn xuống Cần Thơ. Nhơn dân ở dọc theo lộ nầy, thuở nay cứ xẩn bẩn trong chốn thôn quê lo lập vườn làm ruộng, phần nhiều chưa thấy những cơ xảo văn minh phát hiện nơi thị thành, bởi vậy hễ nghe tiếng xe hơi chạy ồ ồ trên lộ, thì công cấy công mạ đương loi nhoi dưới ruộng đều xóng lưng xây mặt mà ngó, còn trong xóm trong làng thì con nít người lớn đều bỏ nhà chạy ra sân đứng mà coi.

Một buổi trưa, trời ui ui, gió mát mẻ, có một cái xe hơi ở phía dưới Mỹ Thuận chạy lên, qua khỏi chợ Cai Lậy một đổi rồi rề rề ngừng ngay cái xóm nhà dựa lộ, bên mé tay trái.

Nhơn dân trong xóm chạy túa ra đứng dài theo lề đường mà coi, đờn ông có, đờn bà có, bà già có, con nít có, song ai nấy đều đứng xa xa mà ngó chớ không dám lại gần, không hiểu tại họ sợ cái mầu nhiệm của món cơ xảo lạ lùng, hay là tại họ kiêng hơi oai nghiêm của người chủ xe sang trọng.

Cái xe còn mới tinh nên kèn cản chói sang lòa, lại sơn màu lá cây sậm nên coi mặn mòi đẹp đẽ”(Hết trích)

Ác hơn là xe Honda bị kêu là "xe máy". Mà giờ xe không kêu là chiếc xe hay cái xe mà thành "con xe".

Nhiều lúc nhìn mấy em trẻ trâu khoe "em có con xe" nghe phát ứa gan.

Thiệt là mệt quải chè đậu!

Đèn nào cao bằng đèn Cầu Lộ
Gái nào ngộ bằng gái Vĩnh Long
Sao em lớn tuổi ở vậy chưa chồng
Anh đây muốn làm phò mã nhưng ngại lòng quá đi”

Một bạn sinh viên hỏi, anh có biết "cái bát ô tô" không?"

Đó là cách gọi kiểu Bắc đó em, bát ô tô tức là cái bát ăn phở, bát to, bát rộng đáy, là cái "tô" đó.

Người Bắc Kỳ kêu cái mà ta đựng cơm ăn với đũa là cái bát, Nghệ An, Hà Tĩnh gọi là cái đọi, thì ở Nam Kỳ kêu là cái chén.

Chữ bát nó xuất phát từ chữ 缽 (bát) của cái bình bát một nhà sư ôm đi khất thực.

Còn chén là chữ Nôm, trong Hán tự chữ 盞 trản là chỉ cái chung nhỏ để uống rượu, nhưng người Bắc uống rượu bằng chén rượu, trong khi Nam Kỳ kêu là chung rượu hoặc ly rượu

"Đắng cay này chén tiễn đưa
Uống đi, uống để say sưa ngập lòng"(Chén rượu đôi đường.Vũ Hoàng Chương)

Nhưng đã nói, Nam Kỳ không kêu chén rượu mà kêu là chung rượu hoặc ly rượu…

"Uống ly này ly tôi hết rồi đây
Đám cưới vui ai đâu có mà la rầy
Nè anh Tám nhìn hoài chi chị Sáu
Cụng ly với bà sui đi cái đã"

Vì sao Nam Kỳ không xài chữ bát?

Theo truyền thống Nam Kỳ, ăn cơm và cúng cơm đều trang trọng, ngày Tết cũng cúng cơm ông bà.

Chữ 'bát' nghe giống thất bát, xui rủi, thành ra không ai xài bát cơm.

Và nguyên nhân như đã từng nói, Nam phải làm khác Bắc, Bắc kêu bát cơm thì Nam sẽ là chén cơm, thái độ này theo chân lưu dân Ngũ Quảng vô Nam…

Nam Kỳ như nói ở trên cũng rặc ròi phân biệt giữa chén ăn cơm và chung hay ly uống rượu.

Lớn hơn cái chén người Miền Nam kêu là cái tô, lớn hơn cái tô là cái tượng. Ăn tô là quá mức rồi, ít ai ăn tượng nỗi. Trên tượng có cái ảng, cái diệm.

Nhiều người Sài Gòn vẫn còn giữ cái hào sảng, rổn rảng kiểu người Miền Nam xưa là rất đáng mừng. Những chi tiết nhỏ kiểu như mừng quá đập vai cái bẹp kêu "Qủy ơi lâu quá mới gặp" làm người bị kêu quỷ muốn cay khóe mắt .

Nghe người ta kêu nhau mà ngồi điếng người, ngôn ngữ này của ông bà tui rồi nè.

Người ta thương nhau kêu nhau là "cục cưng", “cục vàng". Tới nhà bạn kêu em bạn và kêu là "Cưng ơi! Cưng mấy tuổi rồi?”

Cha mẹ của ông nội, ông ngoại thì kêu là Ông Cố, Bà Cố, có Cố Nội hay Cố Ngoại.

Nhưng Nam Kỳ kêu còn cái khác nha, Đồng Tháp gọi là ông bà cóc, An Giang lại gọi là ông bà cồ

Trên ông cố bà cố thì có ông sơ bà sơ, trên nữa thì xa quá cháu không còn hình dung ra, thôi thì cứ "ông bà ông vải" mần tới

Nam Kỳ hay chọc mấy bà ế chồng mà được cầu hôn: “Sướng thấy ông bà ông vãi mà làm bộ tịch".

Thương lắm cái tánh hịch hạp, thẳng thắn của dân Miền Nam mình, kiểu thẳng thừng, đi vào trọng tâm, không lòng vòng xách mé.

Kiểu đi đám cưới, biết ông kia bên sui gia mình làm quan mà hỏi vầy nè: “Ê, tui nhớ vùng ông là vùng VC hồi xưa phải hôn?”. Ông kia cũng thẳng băng luôn "m “Tui là VC nè anh".

Bạn đừng cười khi nghe mấy cô bán trái cây Miền Nam quởn ngồi nói chuyện, nghe tả nhan sắc mấy con nhỏ bả ghét hú hồn.

Mặt tròn như cái mâm chè, như trái bần, như cái bánh ít trần, đầu thỏn như đầu "cá dồ", mỏ nó hô trấc như mỏ "cá tra". Thằng chồng nó có râu cá chốt phát ghét, cái tướng chút xíu như con cá lòng tong.

Chồng thương thì "anh ơi anh à!", ghét chồng kêu "nhìn mặt thằng chả ứa gan".

Chồng thương lấy xe chở đi, bực bội cho "lội bộ biết mùi". Lội bộ là đi bộ mình ên, còn đi xe dân biểu là đi xe ôm đó đa.

Nhiều bạn cứ bắt đầu bằng câu "ta nói", nói lòng vòng một hồi cũng "ta nói, ta nói hồi năm nẳm, ổng rầy bả, bả giận điếng người,ta… nói!

Thiệt ngộ hén!

Nhiều bạn thích chữ "đồ" nên đem vô miết. Thí dụ thấy bạn chở vô quán ăn hơi cao giá ẻm nói "Chời! nay ăn một tô trăm ngàn đồ!"

Thấy bạn muốn dê, cô gái nói "Nay muốn ôm tui… đồ!". Thích thì xáp "dô" liền, hông thôi thì "đi dề à nha"

Lóng rày trời lạnh, thương nhau đi em ơi!

Nói về ngữ âm, không có vùng nào, xứ nào phát âm không có lỗi gì đó, thí dụ nuốt âm hay trớt âm.

Thôi nha! nhắc nữa đó. Ráng mà tránh xài từ bị biến đổi, ráng giữ Tiếng Miền Nam của mình.

Năn nỉ giữ lại những gì của ông bà mình bằng cách nghe tuyên truyền để lọt từ lổ tai này qua lổ tai khác. Thí du nghe tivi nói "tiêm" thì viết thành "chích", thấy báo đề Thổ Chu ta viết lại cho đúng Thổ Châu, dạy con cháu không quăng rác chứ không phải "vất" rác, báo chí kêu "chờ em một tí" thì mình dạy con cháu "chờ chú một chút”. Rồi bỏ nước dùng viết thành nước lèo, bỏ "chầng" viết trụng, bỏ lạng xài gờ ram.

Mình là bổn chánh thì phải là bổn chánh, mắc mớ gì làm bổn sao kiểu kỳ cục vậy m.

Ngoan thương! thương dữ thần ôn thì cho ăn bánh, bánh trái đầy nhóc hết trơn đó, tha hồ ăn.

Không ngoan quánh chết bà bây giờ!

NGUYỄN GIA VIỆT


Sunday, November 16, 2025

Vị Hôn Phu, Vị Hôn Thế, Quí Vị

Đỗ Văn Phúc

Chữ Vị 未 trong Vị Hôn Thê, Vị Hôn Phu có nghĩa là ‘chưa’ để nói về người vợ hoặc chồng chưa cưới, chứ không hàm ý trang trọng như trong các chữ Vị 位 trong “vị sĩ quan, vị tướng lãnh, vị bộ trưởng...”

Chữ "vị hôn phu, vị hôn thê" là do sự ghép các chữ “vị hôn” + “ thê”, hay “vị hôn” + “phu”. Chứ không phải “vị” ghép với “hôn thê”, hay “hôn phu.”

Hai chữ "hôn thê, và hôn phu" là sự ghép chữ hoàn toàn sai. Đã là phu (chồng) hay thê (vợ) tất là đã cưới nhau rồi, còn thêm hôn làm gì? Chúng tôi không tìm thấy đâu trong Hán Văn hai chữ ghép Hôn Phu và Hôn Thê. Muốn nói bình thường thì: “Đây là vợ tôi, đây là chồng bà Loan.” Văn hoa, trang trọng hơn thì: “Đây là phu nhân ông Hùng, ngồi kia là phu quân chị Hồng.”

Người Trung Hoa khi nói về chồng thì dùng chữ: Lão Công 老公, Trượng Phu 丈夫, Tiên Sinh 先生; còn nói về vợ thì gọi là Lão Bà 老婆, Tức Phụ 媳妇, Thê Tử 妻子, Thái Thái 太太 , Phu Nhân 夫人; còn gọi chung cho cả chồng lẫn vợ thì dùng chữ Ái Nhân 爱人. Nên nhớ, Thê chỉ người vợ chính, vợ bé gọi là thiếp.

Có 4 chữ Hôn trong Hán tự viết khác nhau 昏 昬 婚 惛. Chữ Hôn 婚 theo nghĩa cưới vợ, do bộ Nữ ghép với chữ Hôn 昏 là tối (như hoàng hôn, hôn dạ, hôn quân).

Ngày xưa bên Trung Hoa, lễ cưới kéo dài đến tối nên họ gọi là "Hôn Lễ" 昏禮; sau này mới ghép thêm chữ Nữ vào nên chữ Hôn 婚 có nghĩa hẹp là cưới vợ (cầu hôn, kết hôn), nghĩa rộng là nàng dâu.

Vì thế, chỉ khi đàn ông đi lấy vợ mới gọi là “hôn” như kết hôn, tái hôn… Vợ chồng mới cưới gọi là “tân hôn,” trai mới lấy vợ gọi là “tân lang,” gái mới lấy chồng gọi là “tân giai nhân.” Xin phân biệt chữ “tân lang” 新郞 (trai mới lấy vợ) với “tân lang” 檳榔 là cây cau.

Chữ Tân trong Hán tự có nhiều nghĩa. Ngoài nghĩa thông thường “Tân” là mới (新) còn có một chữ “Tân” 賓 có nghĩa là “khách”

Vì thế câu “Phu phụ tuơng kính như tân” 夫 婦 相 敬 如 賓 có nghĩa là vợ chồng ăn ở nên kính nể nhau như đối với khách. Lời khuyên này là để tránh các vợ chồng lấy nhau lâu sinh ra xàm xỡ, không giữ gìn ý tứ, lời ăn tiếng nói hay cử chỉ trong đời sống lứa đôi để đi đến sự chán ghét nhau, coi thường, thậm chí thù oán nhau.

Hấp Hôn? Đùa thôi!

Chữ “hấp” này theo Hán tự có 4 chữ viết khác nhau nhưng nghĩa tương đồng trong đó các nghĩa chính là: 吸 hút vào (hô hấp, hô là thở ra), 翕 thu liễm, hợp nhau.

Chữ Hấp trong tiếng Việt thì có nghĩa "để một vật đang nóng, đậy lại. Ví dụ: hấp bánh, hấp trứng vào nồi cơm và một số nghĩa khác. Do đó, việc đặt ra chữ "hấp hôn" là sai, chỉ có tính cách đùa giỡn chứ không chính đáng.

Quí Vị

Ngoài chữ Vị là chưa, còn một chữ Vị khác để nói sự kính trong như trong chữ Quí vị.

Vị 位: như tước vị, địa vị, chư vị, các vị... dùng để nói đến người đáng kính.

Quý 貴 là tĩnh từ, chỉ về sự sang, trọng, quý hiển, cũng có nghĩa đắt (expensive, valuable).

Các thí dụ về chữ quý này: Quý tướng, quý nhân, quý hữu, quý khách, quý danh, quý tánh, quý chức, quý nương, quý quyến, quý thể, quý quốc, quý quán, quý tử, quý thể, quý vị…

Như vậy, quí vị là một đại danh từ để gọi một hay nhiều người đáng kính, cao sang.

Ngoại lệ: Trong khi hai chữ “quý tử” là đứa con quý được cưng thì hai danh từ kép “quý nam, quý nữ” lại có nghĩa là con trai út và con gái út. Quý thích là họ ngoại của vua; quý phi là vợ thứ của vua.

Có vài quí vị cho rằng chữ “quý” trong chữ quý vị có nghĩa là số nhiều và không thể dùng gọi một cá nhân được.

Đó là do một đột điều rất thông hường là chúng ta từng nghe quen hai chữ “quý vị” trong những lời thưa gửi, giới thiệu tại các sinh hoạt lớn, những buổi họp “Kính thưa quý vị; kính chào quý vị,” và gần như mọi người đều nghĩ nhập tâm rằng chữ “quý vị” là để chỉ số nhiều chứ không phải chỉ dành cho một cá nhân, một đối tượng nào…

Chúng tôi đã tham khảo trong hơn nửa tá các tự điển: Hán Việt Tự Điển của Huỳnh Minh Xuân (trang 662), Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh (trang 613-614), Tự Điển Thiều Chửu, Việt Nam Tự Điển của hai ông Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ (trang 1209), Việt Nam Tự Điển của Tín Đức Thư Xã (trang 459).

Trong các tự điển nói trên, chữ “quý” có nhiều nghĩa mà nghĩa nổi bất nhất là “Giá cao, sang trọng, xem làm trọng, lời tôn trọng người khác.” Cũng trong Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức (trang 1209), có ghi chữ “quý vị” được dùng là đại danh từ để gọi một hay nhiều người như chúng ta thường nghe. Như thế, nếu có nói “tôi đã tiếp xúc một quý bà trong sở Thuế Vụ, ông ta được nhiều quý nhân phù trợ, xin chào các quý vị, các quý tử nhà tôi chăm học…” thì cũng không có gì là sai cả.

Những điểm vừa nêu ra chứng minh rằng chữ “Quý” mang nghĩa quý trọng mà hoàn toàn không chỉ định nó dùng cho số nhiều như vài vị lầm tưởng.










TÌM HIỂU DANH XƯNG "RESTAURANT" (The History of "Restaurant")

Không có gì giải thích được chương trình nấu ăn.

Theo một câu chuyện thường được nhắc lại, xuất bản lần đầu năm 1853, nhà hàng đầu tiên được một người Paris tên là Boulanger mở cửa vào năm 1765. Cơ sở của Boulanger trên phố Rue des Poulies, gần bảo tàng Louvre, chủ yếu phục vụ bouillons restaurants — tức là "nước dùng phục hồi".

Từ này bắt nguồn từ tiếng Latin 'restaurare', có nghĩa là "làm mới".

Ngoài việc là một người bán súp, Boulanger còn là một người đàn ông có khiếu hài hước :

Khẩu hiệu của quán ông là lời mời bằng tiếng Latin : Venite ad me omnes qui stomacho laboratis et ego vos restaurabo.

Câu này được dịch là "Hãy đến với ta, tất cả những ai đau dạ dày, ta sẽ cho các ngươi được lành" - một cách chơi chữ ám chỉ cả tính chất phục hồi nước dùng của ông lẫn lời mời của Chúa Giê-su trong Ma-thi-ơ 11:28 : "Hãy đến với ta, hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi".

Bỏ qua những nghi ngại về Chúa Kitô, Boulanger dường như có đầu óc kinh doanh nhạy bén và một số món nước dùng phục hồi sức khỏe tuyệt vời. Mô hình kinh doanh của ông đã phát triển mạnh mẽ, và từ ngữ dùng để chỉ chất lượng phục hồi sức khỏe của nước dùng của ông bắt đầu được dùng để chỉ những cơ sở tương tự như Boulanger.

(Từ tiếng Pháp “restaurants” dùng để chỉ nước dùng của Boulanger bắt nguồn từ tiếng Latin "restaurare", có nghĩa là "làm mới").

Một điều cần lưu ý : Không phải ai ở Paris cũng vui vẻ sau sự kiện này. Khi các nhà hàng này mở rộng và đa dạng hóa, chúng đã xâm phạm đến địa hạt của traiteurs — những người cung cấp thực phẩm nấu chín cho những người không có bếp riêng. Traiteurs (từ này được dịch là "người đãi tiệc - treaters") được cho là đã kiện Boulanger ra tòa, nhưng thua kiện, và di sản của Boulanger đã được bảo toàn.

Di sản của traiteurs cũng vẫn còn tồn tại : traiteur được du nhập vào tiếng Ý với tên gọi trattore, nền tảng của trattoria, một từ tiếng Ý phổ biến có nghĩa là "nhà hàng - restaurant", cũng tô điểm cho kiến trúc của nhiều nhà hàng Mỹ khao khát một món marinara (sauce cà chua) ngon như ở Cựu Thế giới.

Và câu chuyện về chữ "restaurant" cũng vậy. Nhưng tất nhiên, đó không phải là toàn bộ câu chuyện về "restaurant", nơi bạn đến khi không muốn nấu nướng. Chủ đề đó quá rộng lớn đối với một bài viết khiêm tốn như thế này, nhưng nếu chúng ta tập trung vào các từ trong tiếng Anh, chúng ta thấy rằng chỉ dựa trên vốn từ vựng thời xưa, nhà hàng Boulanger không phải là "nhà hàng - restaurant" đầu tiên.

Từ điển đồng nghĩa lịch sử của Từ điển tiếng Anh Oxford liệt kê sáu danh từ để chỉ "restaurant" từ giữa thế kỷ 15 đến thời của món súp Boulanger : eating house (nhà ăn), victualling-house (nhà hàng), cook's shop (cửa hàng nấu ăn), treat-house (nhà hàng bán đồ ăn), suttling-house (nhà hàng dành riêng cho binh lính) và chop shop (cửa hàng bán thịt băm) .

Có vẻ như chúng ta lại một lần nữa phải đối mặt với sự mê mẩn của tiếng Anh đối với tiếng Pháp: từ "restaurant" nghe có vẻ hấp dẫn hơn bất kỳ từ nào trong số đó. Chúc ngon miệng.

Lịch sử của 'Restaurant'

Bản gốc Anh ngữ
The History of 'Restaurant'




Blog Archive