Showing posts with label Trần Doãn Nho. Show all posts
Showing posts with label Trần Doãn Nho. Show all posts

Tuesday, August 6, 2024

Thế rồi, lá thư

Tranh Đinh Trường Chinh

Khi nàng đến, hội trường đã đầy người. Thấy nàng loanh quanh tìm chỗ, chàng chuyển vào ngồi ghế trống bên trong, nhường ghế phía ngoài lối đi:

– Mời chị. Cậu sinh viên ngồi đây vừa có điện thoại người nhà gọi về gấp nên trống chỗ.

Nàng mừng rỡ:

– Cám ơn ông. Tôi ở tiểu bang khác, qua đây thăm con đang theo học đại học ở tiểu bang này, nghe tối nay có chương trình nhạc Phạm Duy thích quá, nên dù mai phải bay trở về, cũng bảo cháu chở đến xem, cả uổng.

Nàng ngồi, ý tứ, nghiêm túc, phảng phất buồn. Con gái buồn, tương đối dễ hiểu, nó hồn nhiên, nó làm dáng, làm duyên, đôi khi chỉ cần một lời tán tỉnh là xong ngay nỗi buồn, còn thiếu phụ buồn thì phức tạp hơn, khó hiểu hơn, thâm trầm hơn và mặn mà hơn. Mọi người yên lặng, kiên nhẫn nghe MC giới thiệu chương trình, rồi thuyết trình viên thuyết trình (cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt) một cách khá dài dòng về sự nghiệp âm nhạc của Phạm Duy, rồi Phạm Duy kể lại những kỷ niệm linh tinh xoay quanh việc sáng tác một số bản nhạc nổi tiếng của mình. Nghe nói mãi cũng mệt, chàng loay hoay quay qua nàng gợi chuyện, nhưng nàng (có vẻ) mải mê nghe, trả lời lấy lệ, ậm ừ cho qua chuyện. Trong giờ giải lao ngoài hành lang, thấy nàng đứng một mình cắn cheese, nhai đậu phộng, và cầm cốc rượu đỏ trông có vẻ sành điệu, chàng chụp ngay cơ hội, vồn vã nâng ly:

– Mời chị.

Nàng cười:

– Vâng, mời ông.

Chàng đùa:

– Khi cười, trông chị khác, tươi trẻ hẳn ra.

Nàng vui vẻ hẳn lên:

– Vậy sao!

Hai người cạn ly. Nàng lại cười, phấn chấn. Chàng tò mò:

– Anh không đi cùng chị lên thăm cháu?

Nàng ngập ngừng:

– Anh ấy…anh ấy…vâng, tôi đi một mình thôi. Còn ông, hình như ông cũng đi một mình.

– Nhà tôi mất lâu rồi chị.

– Ồ, cũng buồn nhỉ.

– Buồn mãi rồi cũng quen chị ạ.

– Tôi cũng thế, tuy có khác đôi chút, đại khái là có mà cũng như…không.

– Thế à! Có nghĩa là độc thân nhưng không được…vui tính.

Họ cùng cười xòa.

Trở lại hội trường, câu chuyện giữa hai người trở nên rôm rả hơn và lúc hào hứng, họ đều lên giọng, quên cả những tín đồ nghiện nhạc đang lắng nghe ca sĩ du dương trên sân khấu. Nàng bảo rằng nàng mê nhạc Phạm Duy từ hồi còn trẻ và đây là lần đầu tiên nàng được gặp người nhạc sĩ này bằng xương bằng thịt. Chị có quan tâm đến những chuyện tình đầy tai tiếng của ông ấy không, chàng hỏi. Nàng bảo, có chứ, nhưng một tài năng cần phải có gia vị, có mặn có nồng có chát có chua mới phát huy được, chứ cứ tầm tầm, chắc là chỉ sẽ sinh ra những thứ tầm tầm như một số người cũng gọi là nhạc sĩ đó thôi. Chàng nhìn nàng bảo, chị có một ý kiến thú vị tôi chưa hề nghe, còn thú vị hơn nữa, ý kiến đó lại từ một phụ nữ. Vậy sao, nhưng nói thế không có nghĩa là tôi tán thành những điều sai trái của ông ấy đâu nhé, thưa ông. Chàng ngạc nhiên nói tai tiếng chẳng là sai trái thì là gì. Nàng vừa ngẫm nghĩ vừa đáp, vâng, ông ấy có nhiều, à không, có…có một số sai trái, nhưng với, với …Phạm Duy thì, thì nghĩ cho cùng, cũng OK…vì lắm khi, ông biết biến,…biết biến cái sai trái thành…nhạc. Ý này thì càng ngộ hơn nữa tôi chưa từng nghe, chẳng hạn như bản nhạc nào vậy chị, chàng hỏi. Nàng nói, ờ…ờ, để tôi, để tôi nhớ xem, ví dụ như, ví dụ như…cỏ hồng…vâng bài cỏ hồng…

Chàng không ngăn được một nụ cười sảng khoái:

– Tuyệt! Thế là rốt cuộc, Phạm Duy hoàn toàn trắng án, phải không chị?

Cười xong mới nhận ra mình vô phép, chàng quay quanh rối rít xin lỗi mọi người. Còn nàng thì ngớ người ra, cười theo chàng. Và …quên trả lời. Sau tai nạn dại gái ngoài ý muốn, chàng ngồi im như kẻ ngoan đạo, còn nàng thì thu người lại, chăm chăm nhìn lên sân khấu. Hết chương trình, ra về, nàng lên tiếng cảm ơn, chàng bảo không có chi, rồi hăm hở muốn hỏi đôi câu, nhưng khựng lại khi thấy khuôn mặt nàng vừa thoang thoảng nét vui vui đó chợt chuyển sang đăm chiêu. Chàng nản chí nói bye chị, nàng lơ đãng gật đầu bye anh, rồi vội vã quay bước theo cô con gái đang đứng đợi ở ngoài hành lang.

Chỉ có thế rồi thôi, chẳng ai nhớ gì đến ai.

Năm sau, hai người lại tình cờ gặp nhau trong một buổi trình diễn nhạc Phạm Duy khác ở quận Cam khi cả hai cùng đứng đợi xin chụp hình chung với Phạm Duy. Nàng cười chào, nhưng khuôn mặt thì vẫn thế, xa xăm, không mấy thân thiện. Chàng nhắc lại ý kiến của nàng độ nọ với người nhạc sĩ, Phạm Duy cười bảo tôi là một nghệ sĩ của quần chúng, ai muốn bình phẩm gì thì cứ tha hồ bình phẩm, tôi không quan tâm. Đời tôi, tôi vốn xem mọi sự là một cuộc chơi, khi thế này lúc thế khác, những chuyện nước non nghiêm trang hay sự nghiệp này nọ, quý vị xem, thiệt ra, rốt cuộc cũng chỉ là chuyện chơi thôi. Khi không còn tôi nữa, quý vị cứ hát nhạc của tôi là xem như có tôi. Nghe nói, chàng cảm thấy buồn buồn. Dù trông Phạm Duy vẫn còn phong độ, nhưng ở tuổi ngoài tám mươi, ai mà biết được, chỉ trái gió trở trời một chút thôi là đủ sinh chuyện.

Chụp xong tấm ảnh với Phạm Duy, chàng quay đi, thì nàng bỗng lên tiếng:

– Cám ơn ông đã nhắc lại nhận xét của tôi về nhạc Phạm Duy với ông Phạm Duy. Ông có trí nhớ dai thật. Mai kia mốt nọ, Phạm Duy không còn nữa, nghe cũng buồn ông nhỉ.

– Vâng, tôi cũng đang nghĩ đến điều đó, thưa chị. Buồn quá đi chứ!

Trao đổi vài câu thăm hỏi vô thưởng vô phạt, họ chia tay, lần này lấy email của nhau. Chàng tên Tương, nàng tên Ngân. Hồng Ngân.

Cũng tưởng chỉ lấy là lấy cho vui, thế mà một thời gian khá lâu sau, Tương bỗng nhận được email của người phụ nữ mới quen này:

“Chào ông Tương. Tôi là Ngân, chắc ông còn nhớ tôi khi chúng ta gặp nhau trong hai lần nghe nhạc Phạm Duy. Hy vọng là tôi không gửi lộn địa chỉ email. Không biết ông đã nghe tin này chưa: Phạm Duy đã về Việt Nam ở hẳn. Theo tôi, Phạm Duy làm thế là phải, ông ấy già rồi, lỡ có ra đi thì ra đi ở quê hương, nơi ông yêu mến. Mà dù ông có ở đâu, thì nhạc Phạm Duy vẫn là nhạc Phạm Duy, tôi nghĩ vậy có đúng không ông.”

Một tin chấn động như thế thì sao nàng biết mà Tương lại chẳng hay? Nửa tin nửa ngờ, chàng tức tốc gọi điện thoại hỏi quanh bạn bè. Quả là Phạm Duy đã âm thầm về Việt Nam rồi. Hóa ra, “không còn tôi nữa” khi ông nói bâng quơ ở quận Cam ngày nào không phải là chuyện ông chết, mà là ông bỏ hải ngoại, là lại đổi phe. Như trời sập, chàng sốc nặng. Phạm Duy đã phản bội Tương, phản bội những người yêu nhạc ông. Bực mình và…đau khổ, chàng làm lơ, chẳng thèm trả lời email của nàng.

*

Không có gì đáng nói nếu câu chuyện chấm dứt ngang đây, xem như một ngẫu nhiên giữa hàng ngàn ngẫu nhiên bình thường khác vẫn diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Thế nhưng, bẵng đi một thời gian khá dài, lúc chẳng nhớ gì về người phụ nữ tình cờ gặp độ nọ, Tương lại bỗng nhận được email của nàng:

Chào ông Tương,

Tôi là Ngân, hy vọng là ông vẫn còn nhớ tôi và vẫn thích nhạc Pham Duy như độ nào. Lâu quá, không có dịp liên lạc với ông. Mới đây, tôi tình cờ tìm thấy địa chỉ email của ông khi lục tìm email mấy người bạn, nên gửi lời chào ông. Tôi hiện đang ở Việt Nam thăm gia đình. Dù khá bận rộn, nhưng nghe có chương trình ca nhạc mừng sinh nhật PD ở Gò Vấp, tôi bèn đến dự. Tưởng là chỉ đến nghe nhạc PD, thế mà, gặp ông PD cũng đến đó tham dự, thật lý thú. Không ngờ có ngày lại được nghe nhạc Phạm Duy ngay giữa Sài Gòn, tôi thật là thích.

Ngân.

TB: Tôi có cái hình chụp trong buổi sinh hoạt đó, gửi ông xem.

Lại Phạm Duy, thì ra thế. Trong hình, chàng thấy người thiếu phụ đứng đằng sau một đám rất nhiều khán giả vây quanh trò chuyện với Phạm Duy ngay trước sân khấu. Cái bà này lúc nào cũng Phạm Duy Phạm Duy, làm như không có Phạm Duy là Việt Nam hết cả âm nhạc. Tương trả lời ngay cho xong chuyện:

Chao chi,

Xin chuc mung chị duoc ve vn và duoc gap ong Pham duy toi thi tu ngay vuot bien toi chua he ve vn lan nao.

Một thời gian sau, chàng lại nhận được email của nàng:

Tôi vừa nghe tin sức khỏe Phạm Duy bây giờ rất sa sút, cứ phải ra vào bệnh viện hoài, không còn đi uống cà phê hay dự sinh hoạt gì nữa. Nhớ lời ông nói ngày nào, tôi lo quá. Phạm Duy năm nay đã ngoài chín mươi rồi. Tôi có gửi cho ông ấy một chút quà, nhờ người bạn chuyển giúp, chúc ông ấy chóng bình phục. Xin hãy cầu nguyện cho Phạm Duy nhé ông Tương.

Cũng lại là Phạm Duy! Chàng trả lời:

Cam on chi cho biet

Có bình phục thì rồi cũng phải ra đi thôi, chẳng lẽ ông ấy cứ sống hoài được sao, chàng nghĩ. Vả lại, ông ta sống mà cũng như chết rồi. Trước 1975, ông ta đã từng chết, nhưng bị giết bởi một người khác chính kiến [1], lần này, chính ông tự giết ông. Dẫu vậy, nhưng lòng Tương vẫn gợn chút bâng khuâng, thấp thỏm.

Thế rồi, ngày ấy cũng đến: Phạm Duy qua đời. Hồng Ngân báo ngay:

Phạm Duy đã vĩnh viễn ra đi rồi ông Tương ơi. Chao ơi là buồn!

Tương trả lời:

Toi cung moi nghe tin toi cung buon.

Lần này, chàng không sốc. Mà buồn sâu lắng, buồn day dứt, buồn da diết, lòng mang mang tiếc nuối: phải chi Phạm Duy chết ở Thị Trấn Giữa Đàng [2], thì trọn vẹn biết bao nhiêu! Về chết ở Việt Nam, với chàng, là một vết úa trong sự nghiệp Phạm Duy, không thể tha thứ được.

*

Hai người ở hai tiểu bang khác nhau, cách nhiều giờ bay. Xa lắc. Nhưng cái chết của Phạm Duy thu ngắn họ lại. Tương vô tình bị lôi cuốn vào thứ tình cảm nồng nhiệt mà người phụ nữ xa lạ này dành cho người nhạc sĩ mà chàng, mỗi lần nghĩ đến, đều bị bối rối bởi những cảm xúc và cảm nghĩ trái ngược nhau. Nhưng nó đồng thời giúp Tương vượt qua được phần nào cái cảm giác khổ sở mỗi lần gõ trả lời, dù chỉ là vài dòng ngắn ngủi trơ trụi chứa đựng toàn những ký hiệu trọc đầu thiếu đít, chẳng chút gia vị sắc huyền hỏi ngã nào. Chả là xưa nay, Tương không mặn mà gì với lối giao lưu hiện đại này. Cần liên lạc với ai, chàng thích tự tay viết, xếp thư ngay ngắn bỏ vào phong bì, dán kỹ rồi ra bưu điện gửi. Dị ứng với những rắc rối kỹ thuật cộng thêm với bướng và lười trở thành quan điểm. Chàng cho rằng liên lạc email là một phản bội với cuộc sống sinh động của con người. Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau phong thư ngào ngạt thơm; nét bút đa tình lả lơi nhớ phút ngập ngừng lòng giấy viết rằng chờ đến kiếp nào. [3] Thư phải là lá thư, là màu mực, là nét chữ. Là giấy xanh, giấy hồng, là xếp góc, là mùi hương ướp, là chồng thư vàng úa phai màu cất dưới đáy rương, hễ lôi lên là nghe ngạt ngào kỷ niệm. Viết một lá thư là một công trình tim óc, kết quả của nhiều giờ nhiều buổi suy gẫm chọn lời chọn chữ. Nó còn phải nằm yên trong một phong thư ấm áp bông hoa ép, đôi khi còn làm bộ vướng nửa sợi tóc vô tình. Là tới bưu điện bỏ thư. Là hồi hộp ngóng chờ, hàng ngày, hàng tuần có khi hàng tháng. Là lóng ngóng bóng dáng người đưa thư thấp thoáng ngang nhà. Một lá thư không chỉ là một lá thư mà là một loạt những việc làm nho nhỏ nhuốm đầy thi vị, là một kỷ vật, một thế giới tâm tình. Nó không khô khốc những tiếng gõ lạnh lẽo trên bảng chữ máy tính vô tình.

Hơi hướm phụ nữ khiến chàng vơi bớt dị ứng, tìm cách tập gõ chữ. Gõ mãi cũng quen quen. Thay vì lúc nào cũng chỉ một câu, lần nọ, chàng gắng gõ liên tục nhiều dòng một cách tự tin:

Chao chi Hong Ngan

Toi thich nhat là ban tim nhau ban nay co nhieu y kha tham tram moi lan hat len la tam hon toi bay bong, day la ban nhac co loi ca la nhat trong nhieu ban nhac cua ong vua tinh cam vua triet ly noi len than phan con nguoi giua chon tran gian, con nguoi tim nhau khap noi dem hay ngay mua hay nang trong cau tho co hay trong bom lua hay mua bao va cuoi cung du kho khan gian kho roi ra con nguoi cung gap duoc nhau de trung tu the gioi.

Khoan khoái, chàng chờ đợi những dòng email trả lời. Thế mà, biệt vô âm tín. Chừng như lâu, lâu lắm. Một hôm, sực nhớ, chàng dẹp tự ái, gõ:

Chi co khoe khong?

Nàng trả lời:

Toi OK, thua ong Tuong.

Rồi thôi. Tên nàng lại mất tăm trên inbox.

Một lần nọ, buồn lòng tìm đọc lại các email trao đổi cũ gửi nàng, chàng đột nhiên nhìn thấy những dòng chữ chàng gõ một cách khá nhọc nhằn trên nền trắng màn hình toàn là một bầy lau nhau, chữ này nối chữ nọ, chữ nào cũng là chữ nào, chữ này lộn qua chữ khác, trông như đám con nít ở trần chạy ngoài đường, đứa nào như đứa nấy, hao hao, đơn điệu và vô nghĩa. Chẳng khác gì trời thiếu mây, mâm cơm thiếu nước mắm, người yêu thiếu nụ cười. Tương sực tỉnh như người vừa ngộ đạo.

Sau mấy tuần lễ đánh vật với cái bàn phím, chàng bắt đầu gõ thử:

Chào chị Hồng Ngân,

Tôi vừa nge Tuấn Ngọc hát bài “tìm nhau” của phạm Duy, hay thiệt la hay, giọng Tuấn ngọc rất hợp vơi bản nhạc này, hồi truớc, thỉnh thoảng tôi có nghe bản nhạc này, nhưng khôn mấy thích, có lẽ mấy ca sy đó giọng không hơp với lời ca, bây giơ, nghe lại thấy quá sau sắc. nhạc hay mà lời ca không hay thì cũng hoa ra dở. Tôi thích nhất là mây câu:tìm sâu trong muôn thuở, tìm sau lung bôn mùa, tìm nhau như thiên cổ tìm ngan thu, câu này còn tham thia hơn nữa: tìm nhau trong thống kho, tìm nghe câu than thơ, tìm nhau như góa phụ tìm mo bia, hình ảnh góa phụ tìm mộ bia thật đăc gia chị có cảm thấy như thế không?

Tương

Dò đi dò lại cẩn thận, Tương gửi đi. Và thật ngạc nhiên, chàng nhận được ngay email trả lời của nàng:

Chào ông Tương,

Ngân rất vui khi nhận được email của ông. Tôi có biết bài này, thấy thích thích, nhưng ít khi nghe. Giờ nghe ông giải thích, thấy lời ca sâu sắc thiệt, để tôi nghe lại. Nhạc Phạm Duy phải nghe đi nghe lại nhiều lần mới thấm. Như bài Kỷ niệm, hồi đầu nghe không mấy thích, toàn nói chuyện con nít, nhưng bây giờ đến tuổi này mới thấm thía hết ý nghĩa sâu xa của nó, nên tôi rất thích, cứ nghe hoài.

Gia đình anh vẫn bình thường chứ?

Chàng:

Vâng, tôi vẫn độc thân và vân không vui tính như ngày nào, còn chị thế nào.

Nàng:

Dạ, cũng thế, không có gì khác thưa ông.

Chàng phấn chấn với một khám phá mới khi viết email: Tương đẹp hơn Tuong. Hồng Ngân có hồn hơn Hong Ngan! Có sắc huyền hỏi ngã nặng vào làm cho những dòng email trông có duyên hẳn, lại phảng phất chút văn chương, điều ít khi chàng nghĩ đến. Hình như nàng cũng phấn chấn. Email nàng viết càng lúc càng dài hơn, và đều đặn hơn. Email chàng gõ càng ngày rõ ràng, chính xác hơn, có chấm có phẩy, không thiếu đầu mất đuôi hay quên bỏ dấu. Gửi qua gửi về, họ lại tiếp tục bàn chuyện nhạc Phạm Duy. Thỉnh thoảng nhắc bản nhạc này hay bản nhạc nọ. Thỉnh thoảng gửi các bản nhạc do ca sĩ này hay ca sĩ kia hát. Khi thì bình phẩm một câu nhạc. Khi thì ví von một hình ảnh. Chuyện nối chuyện, họ nhảy cóc sang những đề tài khác. Tương nhắc về những ngày Sài Gòn trời mưa đi xem phim cũ ở rạp chiếu bóng Vĩnh Lợi. Hồng Ngân nhắc lại những Chúa Nhật các cô nữ sinh Sài Gòn rủ nhau đi Tăng Nhơn Phú thăm ngưòi tình thụ huấn ở quân trường Thủ Đức. Tương nhớ lại những buổi cắm trại ở Suối Tiên với thầy Nguyễn Văn Kỷ Cương. Hồng Ngân hồi tưởng những buổi trưa Sài Gòn uống ly chanh đường ngọt mát. Tương nói về món cánh gà chiên bơ thơm phức uống với la-de Con Cọp ở chợ Bàn Cờ. Ngân nói về những món ăn vặt chợ Nguyễn Tri Phương, Tương nói chuyện ăn bún bò Huế ở cái tiệm bún nhỏ ngoài Ngã Ba Hàng Xanh, Ngân nói về sáng thứ bảy đi ăn phở Tàu Bay khu chợ cá đợi mãi mới có chỗ ngồi, Tương nói chuyện phở gà đường Hiền Vương. Sài Gòn, chao ơi, Sài Gòn, bao la, thơm tho, sôi động, ngọt ngào, càng nói càng nhớ. Email càng lúc càng nhiều gia vị và đôi lúc Tương tưởng như nghe được tiếng lòng tỏa ra từ những dòng chữ bất động trên màn hình. Chàng đâm ra nghiện đọc, nghiện gõ. Rảnh là mở máy ra xem. Thấy có email mới của nàng là vội vàng gõ trả lời.

Không nét chữ, không giấy xanh giấy hồng, không ép hoa, nhưng các email dần dà biến thành những lá thư, nghe như có mùi, có vị, có hương. Xúc cảm, nghĩ cho cùng, cũng chỉ là một thói quen.

*
Trong ký ức mờ nhạt qua nhiều năm tháng, hai lần gặp tình cờ với những nhận xét bất ngờ của nàng về nhạc Phạm Duy đọng lại trong chàng một Hồng Ngân quần jean áo pull thon gọn, ánh mắt trong nhưng khuôn mặt hằn nét đăm chiêu, hờ hững. Chữ nghĩa email của nàng, ngược lại, càng lúc càng cởi mở nhiệt tình, lại có khi tinh nghịch và dí dỏm, khác hẳn với cung cách giữ kẽ bên ngoài. Máy tính quả là một phương tiện trấn an tuyệt vời. Ngồi trước nó, gõ gõ rồi gửi chữ vào cõi vô hình mênh mông sương khói làm người ta thoải mái trải lòng hơn khi phải đối diện với mọi thứ chung quanh, cái gì cũng thực, cũng trần trụi đến ngột ngạt.

Nàng tự đổi cách xưng hô:

Ngân nói tiếp nè! Hồi đó, Ngân hay ghé Viễn Đông uống nước mía. Chao ôi, giữa trời nắng Sài Gòn mà uống một ly nước mía ở đó thiệt là đã. Anh có biết Viễn Đông ở Pasteur không?

Chàng dè dặt:

Biết, biết. Dăm khi mười họa cũng có tạt vào. Tôi hay vào Givral ăn kem thôi.

Nàng:

Thì Ngân có lạ gì Givral. Tụi Trưng Vương Ngân tuần nào mà không ghé Givral.

Có lúc, chàng bắt đầu lãng đãng:

Nhưng thích nhất là uống ly chanh đường…

Nàng:

Ngân cũng thích chanh đường

Chàng:

Mà chanh đường thì phải đi với môi em thì mới ngọt, đúng không chị.

Nàng cũng tập lãng đãng:

Vâng, quá đúng đi chứ! Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt. Không có Phạm Duy thì ai mà biết môi em lại ngọt như chanh đường. Mà phải chanh đường Sài Gòn cơ, đúng không anh?

Chàng:

Và nắng Sài Gòn nữa.

Nàng:

Ừ, nắng Sài Gòn ai đi mà chợt mát…

Chàng:

Chị sai rồi, “em” đi chứ không phải ai “đi”.

Nàng:

Ngân tự đổi chữ đấy, “ai” đi nghe hay hơn “em” đi.

(…)

Có lúc, những dòng email vớ vẩn mà nghe chứa chan thân tình.

Nàng:

Anh Tương đang làm gì vậy?

Chàng:

Oh, giờ này mà chị còn thức à?

Nàng:

Mới một giờ sáng thôi mà!

Chàng:

Ủa, mai chị không đi làm sao?

Nàng:

Không ngủ được, bèn ngồi dậy và không biết làm gì nên hỏi thăm, thế thôi. Bên anh bây giờ mới 11 giờ thôi mà, đúng không?

Chàng:

Vâng. Chị làm tôi cũng phải thức luôn.

Nàng:

Xin lỗi anh. Thôi để Ngân ráng ngủ. Anh cũng nên đi ngủ đi…

Chàng:

Giờ thì ngủ sao được nữa…

Nàng:

Anh lại xạo rồi…

(…)

Có lúc, Tương cao hứng:

Tôi bỗng nhiên nghĩ đến chuyện ghé thăm thành phố của chị.

Ngân:

Anh có bạn bè gì ở đây không?

Tương:

Không. Đi thăm một thành phố là thăm thành phố, cần gì phải có bạn bè.

Ngân:

Nhưng có người quen thì vẫn vui hơn chứ.

Tương:

Có lẽ thế.

Ngân:

Khi nào thích, anh ghé qua chơi cho biết, Ngân sẵn sàng tiếp đón. Thành phố tuy nhỏ nhưng cũng đẹp lắm.

Tương ngần ngại:

Nói cho vui vậy thôi, tôi chưa có dự tính gì hết. Hơn nữa, tôi cũng ngại, không dám làm phiền chị.

Ngân dứt khoát:

Không sao đâu anh. I’m free.

(…)

*
Mấy chữ “I’m free” biến cái vu vơ thành hiện thực. Tương quyết định đi thăm Ngân.

Nàng bảo là sẵn sàng đón khách.

Chàng nghĩ đến một hẹn hò.

Hẹn hò trai gái vốn là một trò chơi hấp dẫn thời mới lớn. Nó huy động hết mọi thứ cảm quan trong một cơ thể mà cái gì cũng phơi phới, chực chờ nở bung ra. Xôn xao, hồi hộp, thấp thỏm, lo âu, sợ hãi. Táo bạo và nhút nhát. Hăm hở và vụng về. Hẹn hò đầu đời lúc mười sáu tuổi là một kinh nghiệm kỳ lạ đầy ám ảnh, khi ta liều lĩnh nhảy vọt qua một hố thẳm vô hình để rồi sau đó được nếm thử mùi vị của một trái cấm chua lè. Thằng nhỏ Tương hẹn gặp con nhỏ xóm sau ở một bờ sông vắng, cách bến đò một đoạn ngắn. Nhỏ Nguyệt mười hai tuổi ngực vừa nhu nhú, sau khi vờ vĩnh đi vòng vòng ra vườn sau, chui hàng rào, băng qua một lối mòn vắng người, đến chỗ hẹn, vừa thấy Tương đứng đó là mặt đỏ lên như đào chín, trả lời vu vơ được mấy chữ xong, liền ù té chạy, để lại thằng nhỏ ngẩn ngơ chết đứng, quên cả tay chân bị cào xước rướm máu sau khi bươn bả lủi qua đám lau lách và hổ ngươi. Chẳng đi đến đâu và cũng chẳng được gì, nhưng vài phút ngắn ngủi đó lưu lại nhiều chấn động tình cảm về sau, dài dằng dặc. Ngay cả khi con nhỏ đã đi lấy chồng.

Nhiều chục năm sau, khi hẹn hò thuở nhỏ chỉ phảng phất trong trí nhớ như là một trò chơi trẻ con, Tương bỗng sống lại cảm giác cổ xưa đó khi lên chuyến bay đi thăm Hồng Ngân. Hẹn hò đầu đời, lòng như giấy trắng, không vướng bận hơn thiệt chuyện đời; hẹn hò cuối đời tất cả là một mớ tạp nham bụi bặm, sẹo nhỏ sẹo lớn bám đầy. Đắn đo suy tính, rón rén chuẩn bị, nôn nao khó ngủ, hồi hộp đợi chờ, bịa chuyện để che con giấu cái tránh bị hỏi han soi mói, nhất là cô con gái út, lúc nào cũng thủ thỉ ba đừng có bạn gái nghe ba, mẹ ở dưới xa kia sẽ buồn vô cùng. Ngày xưa, hẹn hò tình cũ hay tình mới nào cũng đơn giản, chỉ cần đạp xe đạp hay honda đến công viên hay một góc đường hay trong tiệm sách, hay ở tiệm kem hay ra ngoại ô đến một quán nước ven bờ sông hay xa lắm thì đi chùa đi lăng. Hẹn hò hiện đại nhiêu khê, rắc rối như đi xuất cảnh, mọi sự phải được thu xếp tỉ mỉ. Chàng lo lấy phép hãng xưởng, lo kiếm vé rẻ, chọn giờ đi giờ đến. Nàng cũng lo lấy phép, lo book khách sạn, lên lịch đưa đón. Mất cả tháng.

Không có chuyến bay trực tiếp, chàng phải bay hai chuyến bay, ra phi trường từ sáng sớm mãi đến giữa chiều mới đến. Ra khỏi máy bay, len lỏi qua nhiều lối đi vòng vèo dẫn ra khu nhận hành lý, lòng Tương rộn ràng như chưa từng. Giữa đông đúc người ra người vào, chàng hồi hộp nhìn quanh một hồi mới nhận ra dáng nét quen quen của người phụ nữ chỉ mới hai lần gặp ngắn ngủi, cũng đang len lỏi tìm quanh. Có chút gì giông giống với trò chơi tìm bạn bốn phương ngày xưa khá phổ biến trên báo chí, thư qua từ về rất tha thiết nhưng gặp mặt được rồi thì có kẻ thất vọng não nề. Tương ngắm nghía Hồng Ngân, người thiếu phụ ấy, vẫn quần jean áo pull lấm tấm hoa nhiều màu, già hẳn đi, nhưng dáng dấp trông điệu đàng, mặn mà và khuôn mặt mất đi nét đăm chiêu hờ hững độ nào.

Chàng khen:

– Vẫn là cô Hồng Ngân trẻ trung xinh xắn đang đi loanh quanh tìm chỗ ngồi nghe nhạc Phạm Duy hồi đó, tưởng như mới tuần trước, ai dè đã hơn mười năm không gặp tưởng chừng như đã… [4]

Ngân cười:

– Một câu khen phụ nữ thuộc loại tiêu chuẩn, đáng điểm A. Còn anh, trông chững chạc và bệ vệ hơn.

– Cũng là một câu khen đàn ông tiêu chuẩn. Sao chị không nói già đi cho chính xác.

Ngân tủm tỉm:

– Già sao được anh! Phải trẻ ra chứ. Đời ngắn lắm, thoắt cái là đã mười năm.

Ngân đưa Tương về khách sạn, phụ chàng mang hành lý vào quầy tiếp tân, bảo:

– Ngân book cho anh ba ngày, khách sạn Nhật đó anh, khách sạn này không sang, nhưng tươm tất, nằm cạnh một cái hồ khá lớn phía sau thơ mộng lắm, thích, anh có thể đi dạo quanh hồ thư giãn. Bạn bè Ngân ghé thành phố này chơi cũng thường book khách sạn này. Anh vào check in, lấy phòng, nghỉ ngơi thoải mái nhé.

Thấy Tương nhìn, ánh mắt ngần ngừ dò hỏi, Ngân cười:

– Ở đây an ninh lắm, anh yên tâm, chẳng có ai ăn thịt anh đâu. Ngân về nhà có tí việc, gặp nhau sau. Ngân sẽ gọi, rồi sẽ đến đón anh.

Chưa bao giờ Tương được hưởng một cuộc đón tiếp chu đáo như thế này. Chương trình ba ngày được Ngân sắp xếp tỉ mỉ, lên lịch từ A đến Z, từ ăn sáng ăn trưa ăn tối đến uống cà phê uống trà, từ tiệm Việt Nam đến tiệm Mỹ, tiệm Nhật, tiệm Đại Hàn. Sáng đến đón, trưa đưa chàng về nghỉ trưa, chiều lại đến đón, tối đưa về khách sạn, đến tận khu tiếp tân, chúc chàng ngủ ngon, từ biệt và vội vã ra lái xe về nhà. Ngân lái xe chạy vòng vòng cho chàng cưỡi ngựa xem hoa nhiều nơi, hào hứng giới thiệu những danh lam thắng cảnh của cái thành phố nhiều hồ và nhiều đồi, gói gọn trong một cái tên đọc lên là không lẫn vào đâu khác: “Thành Phố Hồ Đồi” (Hill Lake city). Đồi cao đồi vừa đồi thấp chen chúc với hồ nhỏ hồ vừa hồ lớn, có hồ nằm dưới chân đồi, nằm bên cạnh đồi, và nằm cả trên đồi. Có vườn Nhật (Japanese Garden), có công viên thác (Fall Park), có đồi trượt tuyết (Lake City Ski Hill), có khu rừng nguyên sinh, có sở thú với đủ khỉ, vượn, trăn, sư tử và chim muông. Cái thành phố nho nhỏ – đúng ra là một thị trấn – không mấy tiếng tăm này dường như chẳng hề thiếu những khung cảnh đẹp làm quà tặng cho du khách bất đắc dĩ như Tương và để cho những di dân bất đắc dĩ phải định cư nơi đây như Hồng Ngân vẫn có lý do để cảm thấy hãnh diện. Do tính tự trị cao và đầu óc ganh đua, ở hang hốc nào, người ta cũng cố biến một chỗ không ra gì thành một nơi…ra gì. Kiểu Mỹ nó như thế.

Ngày cuối cùng, Ngân đưa chàng đến ngọn đồi cao nhất thành phố, nơi có một công viên mang cái tên nghe yêu kiều, Đồi Tình (Love Hill), khiến chàng thốt nhiên cảm động nghĩ thầm, Ngân thật khéo sắp xếp. Chàng hồi hộp, mơ màng một kết thúc thơ mộng. Có lẽ đoán chừng được ý nghĩ bất thường trong đầu người đàn ông, nàng giải thích:

– Gọi là Đồi Tình cho nó có vẻ hẹn hò lãng mạn, chứ thực ra, đây chỉ là nơi người ta thuê chỗ để tổ chức đám cưới đó anh. Ngày bình thường trong tuần êm ả thế này đây, chứ cuối tuần là ồn ào tiệc lớn tiệc nhỏ, người người áo quần xênh xang chụp ảnh. Chỗ này có một nhà hàng Pháp. Mấy hôm nay, mình ăn đồ Mỹ đồ Việt đồ Nhật, giờ thử thưởng thức đồ Pháp, có paté chaud, có foie gras, có bơ bretel, có bò hầm, có café au lait, ăn vào là nghe ngay mùi…Tây. Chả là hồi xưa ở Sài Gòn, thỉnh thoảng ba Ngân dẫn anh chị em Ngân đi ăn đồ Tây, Ngân không nhớ rõ tiệm nào, hình như Thanh Bạch thì phải…

Chàng hụt hẫng, chùng giọng:

– Với tôi, đồ ăn nào cũng là đồ ăn nào, cái gì cũng được…

Nghe giọng mình có phần nhạt nhẽo, chàng vội nói tiếp, cố tỏ ra duyên dáng:

– Vì được ăn cùng người đẹp…

– Người đẹp, cái tật của mấy ông là khi nào cũng người đẹp người đẹp…

Tương cười:

– Đẹp cũng là một món ăn ngon, rất ngon.

Ngân nói:

– Bộ xấu thì ăn không được hay sao anh!

– Tôi theo tự điển. Trong tự điển, không có chữ “người xấu”, chỉ có chữ “người đẹp”.

Ngân phì cười:

– Anh cũng dẻo miệng dữ nha!

Quán ăn nằm trên đỉnh đồi, bốn phía toàn là cửa kính nửa mờ nửa trong, thực khách có thể nhìn quanh toàn cảnh. Xa xa phía dưới kia là hồ, cây xanh vây quanh, nước lặng, lóng lánh trời xanh. Trời nắng. Nắng tràn trề, rực sáng núi đồi, xôn xao cây cỏ. Ngân nói:

– Anh có biết hôm nay là ngày gì không?

– Tôi đến đây ngày 17, hôm nay là 20; 20 tháng 6, một ngày như mọi ngày.

– Không như mọi ngày đâu anh. Hôm nay là một ngày đặc biệt: hạ chí.

– Vậy sao! Tôi chẳng hề để ý.

– Hạ chí là ngày dài nhất trong năm đó anh, mặt trời lặn muộn. Nếu ngồi đây đến chín giờ tối, ta sẽ nhìn thấy cảnh mặt trời lặn ở phía núi xa kia, anh nhìn xem, chỗ có ngọn đồi nằm cuối cái hồ nước lớn ấy. Có lần, Ngân đã từng cùng hai cô bạn từ Cali sang, rủ nhau lên đây ngắm mặt trời lặn ngày hạ chí. Ngày hạ chí như có ngàn nến thắp, soi buổi chiều trong suốt hồn em, anh đứng đó như mặt trời không tắt, tự nhóm than nung đỏ đời mình… [5]

Tương nhìn Ngân, thú vị:

– Ủa, chị làm thơ tình?

– Vâng, thơ đấy anh, tình hay không thì còn tùy, nhưng không phải của Ngân đâu, mà là của một nhà thơ nữ nổi tiếng ở hải ngoại, Ngân chỉ nhớ lõm bõm vài câu. Ngân chỉ đủ lãng mạn để đọc thơ của người ta thôi, chứ không đủ để làm thơ. Ngân mà biết làm thơ, Ngân sẽ tặng anh một bài thơ ngay.

Tương nói:

– Chị còn hơn tôi xa. Tôi chẳng văn cũng không thơ. Tôi chỉ thích nhạc và…tán dóc thôi.

– Nhạc cũng là thơ mà anh. Anh tán dóc về nhạc Phạm Duy là hết sẩy. Ta vừa uống cà phê vừa nghe nhạc nhé.

Ngân mở điện thoại:

– Ngân thâu cả mấy chục bản nhạc Phạm Duy, lúc nào thích là mở ra nghe, nghe khi lái xe đi làm, khi ngồi ăn, khi uống cà phê và cả khi ngủ. Ngân nghĩ đây là những bản nhạc mà Ngân thích nhất. Chắc chắn là anh cũng thích.

Hai người vừa nhắm nháp cà phê vừa nghe Hẹn hò, Kỷ niệm, Cỏ hồng, Bao giờ biết tương tư, Nha Trang ngày về, Ngày xưa hoàng thị, Tình hoài hương …

Tương bảo:

– Ngồi quán Tây, thưởng thức phong cảnh Mỹ, nghe nhạc Việt cùng với một phụ nữ lịch lãm trong một ngày dài nhất. Chị “nâng cấp” tôi lên nhiều bậc.

Câu chuyện trở lại với nhạc Phạm Duy và Sài Gòn như đã từng, hào hứng và bồi hồi. Tương thực sự bị lôi cuốn bởi cái hồn nhiên, tinh nghịch và đôi khi, dí dỏm, của người thiếu phụ hiếu khách này. Và chàng cảm thấy lép vế, tự hỏi chẳng biết cái gì nơi chàng khiến nàng thân thiện và tỏ ra ân cần với chàng như thế. Chàng thành thật:

– Chị làm tôi quên mất tuổi.

– Anh cũng làm tôi quên mất tuổi.

Không những quên mất tuổi, họ còn quên mất thời gian, hào hứng ăn đồ ăn Tây và kể chuyện xưa y như thể là cả hai đang sống lại cái thời học sinh dung dăng dung dẻ ở Sài Gòn. Cho đến khi Ngân nhìn đồng hồ, hốt hoảng:

– Chết cha! Ngân phải về.

Tương dùng dằng:

– Còn quá sớm mà chị. Tôi muốn ngắm mặt trời lặn ngày hạ chí.

– Ngân cũng thích lắm, nhưng đủ rồi anh, thôi ta về. Không khéo Ngân trễ hẹn thì phiền lắm.

Tương chưng hửng.

Hôm sau, Ngân đến đón Tương sớm, ngồi chờ chàng ở phòng đợi. Chàng đi bộ xuống, tha thiết mời:

– Thời gian còn nhiều, mời chị ghé thăm phòng tôi một chút trước khi chia tay chứ.

Ngân cười:

– Cám ơn anh. Gặp ở đây là được rồi anh. Anh lên mang hành lý xuống, ta đi kiếm chút gì ăn nhẹ trước khi anh lên máy bay.

– Rốt cuộc, chúng ta là những kẻ lang thang trong thành phố. Tôi không ghé được nhà chị để chào. Chị cũng chả thèm ghé “nhà” tôi để thăm.

Ngân cười:

– Ngày nào anh và Ngân chả thăm nhau nhiều bận rồi, ở tiệm ăn, ở quán cà phê, ở sông suối núi đồi. Bọn bạn Ngân đến chơi cũng thế, hầu như chẳng ai về nhà.

Tương nói:

– Tôi vẫn thấy thiêu thiếu cái gì, Ngân à.

Ngân im lặng, nhìn Tương, định nói một điều gì, nhưng rồi giục chàng đi lấy hành lý.

Tới phi trường, sau khi đã mang hành lý ra khỏi xe, Tương lặng lẽ đứng nhìn Ngân, im lặng. Ngân cầm tay Tương:

– Cám ơn anh đã đến thăm thành phố của Ngân.

Tương gọi “Ngân”, bóp mạnh tay nàng, nhẹ nhàng kéo về phía mình. Ngân ngập ngừng thả lỏng, nhưng rồi gượng hẳn lại, siết chặt bàn tay ấm nóng của chàng rồi vội vàng buông ra:

– Cám ơn anh. Anh xem vào kiểm tra an ninh. Độ này, họ xét đồ đạc kỹ lắm. Lại nhiều chuyến bay, không chừng trễ mất.

Tương tiu nghỉu, chào Ngân, quay lưng đi một mạch thẳng vào quầy vé phi trường, lòng ấm ức.

Về đến nhà, Tương gõ:

– Cám ơn Hồng Ngân đã cho tôi hưởng một cuộc đón tiếp hoàn hảo.

Hồng Ngân không trả lời. Chàng thì mất hứng thú gõ email.

Trước khi gặp lại, nàng là một bài thơ đẹp dịu dàng. Sau ba ngày dung dăng dung dẻ, nàng trở thành một truyện ngắn. Một truyện ngắn dang dở.

Chàng lặng lẽ nàng. Nàng cũng lặng lẽ chàng. Họ tìm cách lãng quên nhau.

*
Một ngày, từ trong thùng thư vốn lâu nay vốn chỉ dành cho đủ thứ quảng cáo mà việc làm duy nhất của chủ nhà là nhìn lướt qua rồi ném vào sọt rác, Tương tìm thấy một phong thư lạ: có tem dán, có dấu bưu điện và có chữ viết tay đề tên chàng với sắc huyền hỏi ngã đầy đủ, Hoàng Vĩnh Tương, từ một người gửi không hề quen, cũng sắc huyền hỏi ngã đầy đủ, Đoàn Hồng Ngát. Tờ thư thì xếp góc gọn gàng ngay thẳng, giấy thì trắng mực thì đen, nét chữ thì nắn nót, dịu dàng nữ tính. Lâu lắm rồi, Tương mới được nhận một lá thư. Chàng đọc, lòng bồi hồi cảm động:

Kính thưa bác,

Cháu xin được thay mặt mẹ cháu, bà Hồng Ngân, báo tin cùng bác là bố cháu đã qua đời tháng trước, khoảng vài tuần sau khi tiễn bác ra phi trường. Tang lễ bố cháu đã được hoàn tất mỹ mãn, và sau đó, theo lời ước nguyện của bố cháu lúc sinh thời, mẹ cháu đã mang tro cốt bố cháu về Việt Nam. Lẽ ra, theo lời dặn của mẹ cháu, cháu chỉ báo tin cho bác biết như thế, là đủ. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, cháu cảm thấy không thể không chia sẻ với bác vài chuyện trong gia đình cháu.

Cháu xin vắn tắt như thế này: chỉ vài năm sau ngày gia đình cháu sang định cư, bố cháu bị đụng xe, vết thương trên người không có gì trầm trọng, nhưng sức khỏe bố cháu mỗi ngày mỗi trở nặng, tay chân teo tóp dần, cuối cùng nằm liệt giường, trước sau gần mười sáu năm. Theo lời của các bác sĩ, bố cháu xem như sống đời sống thực vật. Mới chân ướt chân ráo qua định cư chưa được bao lâu, mẹ cháu trở thành người mẹ đơn thân, vừa chăm sóc bố cháu vừa đi làm nuôi bốn đứa con chưa đến tuổi trưởng thành. Nhờ hưởng trợ cấp y tế của chính phủ, bố cháu được chăm sóc thường xuyên ở bệnh viện, nên mẹ cháu đỡ vất vả phần nào, chỉ có việc tới lui thăm viếng. Mỗi tháng bố cháu được phép về nhà một lần. Cả nhà cháu đều vui, vì cảm thấy có hơi hướm đàn ông ở trong nhà (mẹ cháu sinh được bốn đứa con, toàn là con gái). Có bố, mẹ cháu bỏ hết mọi việc, ngồi suốt ngày ở trong phòng với bố cháu. Sau này, khi đã lập gia đình rồi, cháu mới hiểu được rằng, một phụ nữ ngoài bốn mươi như mẹ cháu, không chỉ nhọc nhằn, đau khổ mà còn phải đối diện với những khoảng trống khủng khiếp trong cuộc sống bên cạnh một người chồng chỉ hiện diện nhưng không hề hiện hữu. Mẹ cháu lao đầu vào làm việc ngày đêm, không màng giải trí, không tiếp bạn bè. Sau một thời gian, mẹ cháu kiệt sức, trở thành trầm cảm.

Bốn chị em cháu nảy sinh ra một ý nghĩ táo bạo: khuyến khích mẹ cháu có một người bạn. Nghe đề nghị, mẹ cháu vô cùng giận dỗi, bắt đầu đay nghiến con cái, thấy mặt đứa nào cũng gây gổ. Tụi cháu chỉ biết ngậm miệng mà nghe. Nhưng rồi, mẹ cháu bỗng thay đổi: bà có một người bạn. Từ đó, mẹ cháu dần dà tươi tỉnh ra, hay lên mạng, thích nghe nhạc, dành nhiều thì giờ vui đùa với con cháu và thỉnh thoảng còn tiếp bạn bè đến thăm. Không khí gia đình bớt phần nặng nề và u ám, cho đến ngày bố cháu thanh thản ra đi.

Mong bác thứ lỗi nếu lá thư này làm phiền bác.

Cầu chúc bác gặp mọi điều may mắn trong cuộc sống.

Kính thư: Đoàn Hồng Ngát.

Tương chưng hửng, lặng người.

*

Mẩu truyện vu vơ này không có phần kết.

Phần kết nằm ngoài kia, nơi được gọi là cuộc đời.

Trần Doãn Nho

(7/2024)

————–

[1] Nguyễn Trọng Văn, Phạm Duy đã chết như thế nào? (Văn Mới, Sài Gòn 1971)

[2] Tên Phạm Duy gọi thành phố nơi ông ở được ông tự dịch từ tiếng Anh, Midway City, nằm ở góc đường Bolsa và Newland, Orange County, tiểu bang California.

[3] Trích từ nhạc phẩm Lá thư, Đoàn Chuẩn & Từ Linh

[4] Lời ca khúc “Mười năm không gặp” của Trần Quảng Nam

[5] Hạ chí, thơ Trần Mộng Tú.

Nguồn:
Truyện ngắn Trần Doãn Nho: Thế rồi, lá thư




Tuesday, May 12, 2020

Việt Nam Cộng hòa lừng lững đi vào lòng đất nước

Trần Doãn Nho

1.

“Còn nhớ trưa ngày 30/4/1975 dưới bầu trời u ám như muốn đổ lệ, tôi đứng ngay cổng xe lửa số 6 trên đường Trương Minh Giảng – Phú Nhuận. Lúc đó lính Cộng hòa đã trút bỏ quần áo đi bộ từng đoàn thất thểu. Súng ống, ba-lô, quân phục họ vất đầy lề đường. Xe tăng và các binh đoàn Motolova của Cộng sản đã tràn vào Thủ đô Sài Gòn, chạy rầm rầm hướng về Bộ tổng Tham mưu. Chung quanh ai cũng hốt hoảng lo tìm đường chạy về nhà, giờ này đi di tản kể như đã quá trễ. Lâu lâu lại thấy một vài đứa khốn nạn Cách mạng 30/4 đeo băng đỏ ngồi trên xe Jeep cầm súng chĩa lên trời, chúng bắn từng tràng đạn chào mừng ngày Giải phóng. (…) 

Sau ngày 30/4 vào khoảng tháng 5 khi có chiến dịch Bài trừ văn hóa đồi trụy Mỹ Ngụy, có một vụ chấn động Sài Gòn là vụ nổ ở một tiệm cho mướn sách cũ. Chủ tiệm lùa hết bọn đeo băng đỏ vào trong rồi mở kíp lựu đạn tự sát cho dính chùm. Nghe đâu chết vài mống Cách mạng 30/4, ông chủ cũng chết. Tiệm này nằm trong phường 10, quận Phú Nhuận (chung với phường của nhà mình bên đường Thiệu Trị – Nguyễn Huỳnh Đức). 

Còn một vụ khác vào khoảng năm 1976, có một gia đình bên khu đường rầy xe lửa hướng đi ra Cống Bà Xếp. Gia đình này có hai vợ chồng và tám đứa con. Vì căm phẫn chế độ Cộng sản, họ đã tìm ra đường thoát. Hôm đó, họ nấu một nồi cháo vịt, bỏ thuốc giết chuột vô, cả nhà cùng ăn chung bữa cuối cùng rồi nắm tay nhau chết hết.[2]

Đọc được từ một nữ bộ đội miền Bắc, sau này là nhà văn nổi tiếng Dương Thu Hương: 

Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ”.[3]

2.

Chao ôi, đã bốn mươi lăm năm rồi kể từ cái ngày tang thương 30/4/1975!

Trong những ngày này, khi tất cả chúng ta ngậm ngùi nhớ lại thời điểm bi thảm đó, thì trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc, chính quyền Cộng sản Việt Nam đang cố gắng vô hiệu hóa Công hàm nhượng bộ Trung Quốc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 bằng cách khẳng định tính cách hợp pháp của chế độ VNCH trong cuộc đấu tranh pháp lý giành lại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua hai Công hàm 257-HC năm 2016[4] và A/72/692 năm 2018 do họ gửi cho Liên Hiệp Quốc.[5] 

Xin dẫn một trích đoạn liên hệ: 

Từ khi quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam năm 1956, chính quyền VNCH đã tiếp quản quần đảo Trường Sa từ Pháp. 

Bằng Sắc lệnh số 143-NV đề ngày 22 tháng 10 năm 1956, Chính phủ nước Việt Nam Cộng hòa đã chuyển quần đảo Trường Sa từ tỉnh Bà Rịa về tỉnh Phước Tuy. Trong khoảng thời gian giữa 1954 và 1975, Việt Nam tạm thời bị chia thành hai phần. Do vị trí địa lý, vào thời gian này, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được đặt dưới quyền cai trị của Chính phủ VNCH (Miền Nam Việt Nam). Như thế, sự kiện Chính phủ VNCH hành xử việc cai trị lãnh thổ hai Quần đảo trong thời điểm đó là phù hợp với thực tế và luật pháp trong bối cảnh của giai đoạn này. Thông lệ quốc tế chỉ rõ rằng trong thời Chiến tranh Lạnh, có sự hiện diện của hai quốc gia giống Việt Nam như Đức, Yemen…(…) 

Vào năm 1975, sau khi Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa (vào tháng 1 năm 1974), Chính phủ VNCH đã công bố một Bạch thư đưa ra những bằng chứng lịch sử xác định một cách rõ ràng và đầy thuyết phục chủ quyền lâu dài của Việt Nam trên hai quần đảo này”.[6]

Trong lúc nguy cấp, rốt cuộc, nhà cầm quyền Cộng sản buộc phải bỏ cái thói kiêu ngạo cổ hữu, chính thức thừa nhận sự hiện hữu hợp pháp của VNCH như một cái phao cứu sinh.

Thực tế là, VNCH đã từng là một quốc gia có cương thổ, có quân đội, có chủ quyền pháp lý, được 87 quốc gia trên thế giới công nhận và đã là thành viên của nhiều Uỷ Ban trong Liên Hiệp Quốc, trong lúc vào thời điểm đó, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của miền Bắc chỉ được một số rất ít các quốc gia trong khối Cộng sản thừa nhận. 

Khi nói đến VNCH, thường thì người ta chỉ nghĩ đến các chính quyền: chính quyền Ngô Đình Diệm, chính quyền Nguyễn Khánh, chính quyền Nguyễn Cao Kỳ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu… Và khi nghĩ đến các chính quyền, người ta chỉ nhìn thấy một VNCH đầy những hình ảnh tiêu cực: tham nhũng thối nát, thay ngôi đổi chủ xoành xoạch, lệ thuộc ngoại bang… và dựa vào đó, quy cho VNCH là phồn vinh giả tạo, là đầy dẫy các tệ nạn xã hội, là bất công, áp bức, vân vân và vân vân. 

Thực ra, cũng như những quốc gia khác, VNCH là một tổng thế, có cái tiêu cực, nhưng không thiếu những điều tích cực. Và những điều tích cực đó là hình ảnh của một VNCH khác, đẹp đẽ, nhân bản, dân tộc, thường bị che giấu bởi thiên kiến hay bị xuyên tạc một cách bất công.

Với riêng tôi (mà cũng là cả thế hệ chúng tôi) sinh trưởng trong lòng chế độ VNCH, nơi chúng tôi được trưởng thành như những con người tự do, được học hành, được mơ ước, được tranh đấu chống bất công, áp bức, nói tóm lại, được tự hào là người Việt Nam, thì VNCH không chỉ là một một quốc gia, một dân tộc mà hơn thế nữa, đó là một quá khứ thân thuộc, êm đềm, sinh động, đa dạng và phong phú. VNCH tuy không còn nữa, nhưng với chúng tôi, VNCH không hề biến mất.

3.

Người bạn học thời trẻ của tôi, Lê Hiếu Đằng, một cán bộ Cộng sản hoạt động nằm vùng, trong “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh…”, kể lại:

Nhắc đến đây tôi có một kỷ niệm khó quên: ba tôi và mẹ Lý Thiện Sanh nóng lòng vì đã đến ky thi Tú tài II nhưng chúng tôi vẫn bị nhốt trong tù. Vì vậy ông bà làm đơn hú họa xin hai chúng tôi ra thi. Thế mà chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó lại giải quyết cho ra thi. Tôi theo Ban C Triết học nên chỉ còn vài ngày nữa là thi, ba tôi gửi một số sách vào cho tôi. May mắn lúc đó tôi đã đọc nhiều sách triết học của các Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Toàn và các tạp chí Sáng tạo, Hiện đại của nhà văn Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, nhà thơ Nguyên Sa, Tô Thuỳ Yên, v.v., kể cả quyển sách viết về Nietzsche của Nguyễn Đình Thi trước năm 1975. 

Gặp đề thi triết khá hay tôi tán đủ điều, đậu hạng thứ dễ dàng. Còn Lý Thiện Sanh học ban B vốn rất giỏi nên đậu hạng bình thứ. (…) Tôi không biết với chế độ gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?”[7]

Những chi tiết Lê Hiếu Đằng trình bày ở trên là hoàn toàn chính xác, theo tôi. Lê Hiếu Đằng học Đệ nhất C, Lý Thiện Sanh và tôi Đệ nhất B, dù không ngồi cùng lớp, nhưng thường hay đi cà phê cà pháo, bàn luận chuyện văn chương thế sự với nhau. Các bạn nào đã từng học Quốc Học vào thời điểm đó (1964) đều ít nhiều biết rõ vụ Lê Hiếu Đằng và Lý Thiện Sanh bị bắt giam vì bị nghi là hoạt động cho Cộng sản, nhưng được chính quyền địa phương cho mang sách vở vào lao Thừa Phủ học thi, được ra đi thi như những học sinh bình thường khác và rồi đậu tú tài II. Được phóng thích sau gần nửa năm bị cầm tù, Lê Hiếu Đằng tiếp tục tham gia hoạt động cho Cộng sản ở các trường đại học Sài Gòn, còn Lý Thiện Sanh theo học Y Khoa, tốt nghiệp bác sĩ, làm việc tại Bệnh viện Nguyễn Văn Học, Gia Định. 

Thành thật mà nói, trong nhiều bài viết có tính cách phản tỉnh một cách triệt để vào lúc cuối đời của Đằng, thì những dòng này khiến tôi cảm động, vì anh nêu ra một chi tiết rất nhỏ nhưng lại nói được một điều khá lớn và đầy ý nghĩa. Những cái “ưu việt” của Cộng sản mà Đằng đã từng vì chúng mà theo suốt cuộc đời, hóa ra không thể so sánh được với cái “nghĩa cử” đầy tình người của chính quyền Thừa Thiên-Huế hồi đó. Nghĩa cử này chắc chắn không xuất phát từ lòng xót thương của một cá nhân, hay từ lỗ hổng của luật pháp mà từ cái cơ chế bình thường của nó, của VNCH. Biết đâu chính cái chi tiết nho nhỏ này đã ám ảnh Đằng và là động lực khiến anh chọn lựa ra khỏi Đảng Cộng sản vào lúc cuối đời!

Nhân chi tiết khá lý thú đó, tôi thấy cần phải giới thiệu lại một bài viết, đúng hơn là một phần trong tập hồi ký của một trong những khuôn mặt trí thức tả khuynh nổi tiếng hàng đầu ở miền Nam trước năm 1975, Giáo sư Nguyễn Văn Trung: “Tưởng niệm Việt Nam Cộng hòa” (In memoriam Việt Nam Cộng hòa); hồi ký này được viết từ năm 1993 và được công bố lần đầu tiên trong Tạp chí Văn Học (Cali) năm 2000.[8] Giới thiệu phần hồi ký đặc biệt này, Tạp Chí Văn Học viết, 

Chúng tôi xem bài viết của Giáo sư Trung là một biểu hiện của sự liêm khiết và can đảm của người trí thức, vì cho đến nay, trên toàn cầu, giới trí thức khuynh tả vẫn chưa có can đảm “tự phán” một cách sòng phẳng, rốt ráo. Họ không dám nhận rằng chỗ đứng an toàn của họ không đâu khác hơn là xã hội cho phép họ được công khai bày tỏ lập trường khuynh tả, và khi chế độ bị họ khinh miệt tiêu vong, để thay thế bằng một chế độ toàn trị, thì số phận của họ cũng bị tiêu vong theo. Hay nói như Giáo sư Nguyễn Văn Trung, “tham gia Cách mạng là tham gia vào một quá trình tự tiêu diệt sau này”. (Thư tòa soạn)

Qua hồi ký, Nguyễn Văn Trung đã phác họa lại hình ảnh chân xác của VNCH bằng cách hướng cái nhìn vào một số nét cụ thể khá đa dạng và phong phú không lệ thuộc vào các Chính phủ, thường bị bỏ quên hay bị che mờ bởi thiên kiến hay bởi một nhãn quan lệch lạc, thậm chí có tính cách thù nghịch. Một trong những nền tảng của VNCH là cơ chế công chức. Theo ông, 

Khi người Pháp ra đi, một trong những điều tích cực của họ để lại là một số thể chế nhà nước, cụ thể là một nền hành chánh và một giới công chức được đào tạo theo tinh thần phân biệt tôn giáo và nhà nước”.[9] 

Trong vòng 20 năm (1955-1975), dù có nhiều thay đổi trong Chính phủ, cái hệ thống hành chánh, guồng máy đó vẫn như thế, vẫn chạy đều như không có gì xảy ra.. Công chức cấp dưới có trình độ văn hóa tương đối, còn công chức cao cấp tối thiểu cũng có bằng tú tài hay tốt nghiệp đại học.. Và dù ở cấp nào, giới công chức vẫn giữ phong cách của những người làm việc công: mực thước, tôn trọng của công, tôn trọng luật pháp và phục vụ công chúng.

Một đặc điểm khác của VNCH là “xã hội dân sự”. “Những “chính quyền” hay [những] thay đổi ở miền Nam cần phân biệt với “chế độ xã hội” miền Nam ít nhiều vẫn duy trì và phát huy những sinh hoạt của điều mà ta gọi là xã hội dân sự (société civile)”.(…) “Nếu phân biệt “xã hội công” (le social public) với “xã hội tư”(le social privé) thì “xã hội dân sự” là một loại hình xã hội trong đó nhà nước không can thiệp vào xã hội tư về các quan hệ nghề nghiệp, giáo dục, tư tưởng, văn hóa, cứu tế, liên đới xã hội và các quan hệ về mặt tình cảm (gia đình, họ hàng, bè bạn, thầy trò…). 

Xã hội dân sự miền Nam, do đó, là một xã hội đa dạng với vô số tổ chức, hội đoàn tư nhân lớn, nhỏ hoạt động độc lập và hợp pháp, được chính quyền tôn trọng và giúp đỡ từ tôn giáo, nghề nghiệp, cho đến kinh doanh, văn nghệ, vân vân. Lợi dụng điều này, người Cộng sản đã đứng ra thành lập nhiều hội đoàn, tổ chức hợp pháp để ngụy trang cho các hoạt động của mình. Có thể đây chính là lý do khiến nhà cầm quyền Cộng sản hiện nay rất sợ hình thức “xã hội dân sự”.

Đề cập đến pháp lý và đạo lý, Nguyễn Văn Trung viết, 

Một trường hợp cũng khá phổ biến trước đây ở miền Nam: Trong cái thế đối lập giữa hai trật tự: trật tự pháp lý chính trị và trật tự đạo lý tình người, có những lựa chọn trật tự cao hơn (đạo lý tình người), chẳng hạn anh em, con cháu, bạn bè theo Việt Cộng trà trộn trong cơ quan, trong dân chúng, biết mà không tố cáo, thậm chí còn cho tá túc trong nhà vì coi tình nghĩa ruột thịt, bạn bè cao hơn quyền lợi chính trị, pháp luật…”. 

Mặt khác, một người có người thân hay họ hàng đi theo Cộng sản, con cái họ chẳng gặp khó khăn gì trong việc học hành, thi cử và những quyền lợi hợp pháp khác và khi lớn lên, nếu không trực tiếp tham gia hoạt động cho Cộng sản thì vẫn được đi làm việc bình thường, không bị phân biệt đối xử. Có người còn được cấp học bổng đi du học nước ngoài, và về sau lại hoạt động chống đối kịch liệt VNCH. Chính vì thế, 

“Dù người dân có khinh ghét chính quyền Sài Gòn thế nào đi nữa, có lẽ ít ai nghĩ rằng mình đang sống trong vùng Mỹ-ngụy, vùng tạm chiếm mà chỉ nhìn nhận: Việt Nam là một dân tộc, nhưng hiện đang bị chia cắt, có hai thể chế chính trị: Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, và mong muốn một ngày nào đó có thống nhất trong hoà bình,” theo ông.

Nói về quân đội, Nguyễn Văn Trung nhận định, 

Trong quân đội ngay từ những khóa hạ sĩ quan Nam Định hồi 1951-1952 đến các khóa học của trường Võ Bị Đà lạt, Nha Trang, Thủ Đức hồi đầu thời Đệ nhất Cộng hòa cũng dần dà tạo được một giới sĩ quan có trình độ tú tài hay đại học không hề mặc cảm là lính đánh thuê của quân đội viễn chinh, trái lại họ có được một điều mà nền Đệ nhất Cộng hòa đã tạo cho họ đó là một bản sắc, một căn cước quốc gia (identité nationale)”.

Một trong những mặt xuất sắc nhất của VNCH là văn học nghệ thuật. Nó thoát thai từ sự kiện: VNCH là một xã hội mở, xã hội tự do. Theo Nguyễn Văn Trung, trong kinh nghiệm rất riêng của mình, những nhà văn, nhà trí thức miền Nam viết bất cứ cái gì mà không bận tâm mấy về an ninh bản thân. Họ chỉ bận tâm về “viết cái gì” và “viết thế nào”, chứ không phải về “có thể viết được hay không”. Có được như thế là nhờ phong cách làm việc trí thức của giới công chức trong các bộ liên hệ: Bộ Văn hóa, Bộ Thông tin và Bộ Nội vụ. 

Về điểm này, cũng theo Nguyễn Văn Trung, trong một bài viết khác, “Hướng về Miền Nam Việt Nam”, thì dưới chế độ VNCH, 

Báo thì không phải kiểm duyệt nhưng có thể bị tịch thu đưa ra tòa. Trong khuôn khổ chính sách hạn chế tự do chính trị như vậy, nếu không xuất bản công khai, hợp pháp, vẫn có thể in ronéo, phổ biến, bày bán ngay cả trên các sạp báo và có thể bị tịch thu… Người cầm bút viết những điều cấm kỵ, phê phán chính sách này, chính sách kia của nhà nước, thậm chí họp nhau viết kháng thư phản đối, đăng trên báo mà không lo ngại về an ninh chính trị của bản thân gia đình bạn bè. Nói cách khác, viết phê phán mà không sợ nhà nước”.[10] 

Trong bài thuyết trình “Tính “văn học” trong Văn học Miền Nam”[11] đọc trong buổi hội thảo về Văn học Miền Nam tổ chức tại tòa soạn nhật báo Người Việt vào ngày 6/12/2014, tôi đã phân tích kỹ về tính chất đa dạng, tự do, hiện đại, kế tục, nhân bản… của Văn học miền Nam, những tính chất khiến cho tự bản thân, nền văn học đó đã mang một giá trị bất khả bàn cãi và cao hơn hẳn một nền văn học được chỉ đạo bằng các nghị quyết chính trị.

Xin cụ thể hóa nhận định trên của Nguyễn Văn Trung bằng một trích đoạn đề cập đến việc tiếp quản trường Đại học Vạn Hạnh sau ngày 30/4/1975 trong một bài viết ngắn của một người miền Bắc có tham gia vào công việc này:

Nhưng miền Bắc không chỉ Giải phóng miền Nam khỏi những văn bản cổ của văn minh nhân loại hay những trước tác nóng hổi nhất trên thế giới nửa thế kỉ trước, miền Bắc chúng ta đã Giải phóng họ khỏi một nền đại học được xây dựng trên ý niệm tự do. Trong số sách Thư viện Vạn Hạnh còn sót lại, có một loại sách đặc biệt, do trường xuất bản, in những bài phát biểu của các diễn giả được mời đến nói chuyện và tranh luận với giảng viên, sinh viên của trường. 

Đọc những cuốn sách đó, bạn sẽ nhận ra Đại học Vạn Hạnh đương thời giống như một diễn đàn khổng lồ của xã hội dân sự, nơi tất cả các xu hướng tư tưởng khác nhau đều được cất lên tiếng nói của mình, từ chống Cộng sản đến chống Hoa Kỳ, ủng hộ miền Bắc đến ủng hộ VNCH… Tất cả đều có một không gian bình đẳng để giải thích vì sao họ suy nghĩ và hành động như vậy. 

Lúc đó tôi đã tự hỏi, giữa Sài Gòn thời đó thì có những tiếng nói chống lại hệ thống Cộng sản là đương nhiên, nhưng tại sao chế độ Việt Nam Cộng hòa lại để cho Đại học Vạn Hạnh (và đương nhiên không chỉ Vạn Hạnh) trở thành nơi những người chống lại mình có thể phát biểu tư tưởng? 

Câu trả lời nằm ở Hiến pháp 1967 miền Nam Việt Nam: Đại học là tự trị. (…) Những trải nghiệm như thế làm cho mọi chàng “miền Bắc có lý luận” cảm thấy mình thuộc về “miền Nam”.[12]

Quy chế “đại học tự trị” quả là một ưu điểm đáng kể của VNCH, góp phần tạo nên một môi trường tri thức thực sự, không thua bất cứ một đại học của một nước tiên tiến nào trên thế giới. Chính vì thế mà dù sống trong thời chiến, các Giáo sư và sinh viên vẫn được hưởng một không khí thoải mái trong nghiên cứu và học tập, thậm chí trong các cuộc đấu tranh đòi dân chủ, hòa bình và chống chính quyền.[13] 

Tác giả bài viết trên tỏ ra ngạc nhiên về tính cách “tự do tư tưởng” khi tiếp quản trường Đại học Vạn Hạnh, một trường mới được thành lập sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ. Thực ra, sự cởi mở của VNCH về phương diện tư tưởng đã hiện hữu từ thời Đệ nhất Cộng hòa. Hồi đó, hầu hết các tác phẩm được viết trước năm 1945 của những tác giả đang sống và phục vụ dưới chế độ Cộng sản miền Bắc (trừ một số tác phẩm nặng tính chất tuyên truyền của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi…) từ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Anh Thơ cho đến Thế Lữ, Nguyễn Tuân…đều được tái bản, không những thế, còn được đưa vào chương trình dạy văn của học sinh từ tiểu học đến trung và đại học, được đánh giá xứng đáng với giá trị nghệ thuật và vai trò của chúng trong lịch sử văn học. 

Các tác phẩm đó được nghiên cứu y như chúng hoàn toàn độc lập đối với lập trường và hành vi chính trị hiện đương của các tác giả. Nhờ thế mà thế hệ chúng tôi lớn lên ở miền Nam biết khá rõ giá trị văn chương của từng tác giả, để làm cơ sở đối chiếu với những sáng tác đầy tính chất tuyên truyền, phi-văn chương sau này của họ. 

Cũng cần ghi nhận ngay bản “Quốc ca” VNCH (đã đổi lời một phần) được sử dụng tại miền Nam hồi đó và tại hải ngoại hiện nay cũng được ghi tên tác giả là Lưu Hữu Phước vốn là một người Cộng sản. Nhà thơ Nguyễn Đăng Thường đã từng đưa lên trang mạng “Talawas” một Phụ lục “Thay lời phi lộ” là lời của Nhà xuất bản Hoa Tiên khi cho tái bản tại miền Nam các tác phẩm Lửa thiêng của Huy Cận năm 1967, Tiếng thu của Lưu Trọng Lư năm 1968, Quê ngoại của Hồ Dzếnh năm 1969… Lời phi lộ cho thấy nhà xuất bản đã tách rời văn bản ra khỏi con người tác giả.[14]

Sau 1975, nhà nước Cộng sản tìm mọi cách hủy diệt nền văn học nghệ thuật VNCH qua một chiến dịch rất bài bản, liên tục và quyết liệt bằng cách đốt sách báo và bắt bỏ tù nhà văn, nhà báo và cả những người giữ sách báo, nhưng rốt cuộc, chỉ là công dã tràng. Họ chỉ có thể đốt phá cái hữu hình nhưng không thể đốt phá được cái vô hình: tư tưởng và tấm lòng. Rốt cuộc, không những nền văn học đó không biến mất mà tồn tại, dai dẳng tồn tại và được trân trọng bảo tồn cả ở trong Nam lẫn ngoài Bắc. Càng về sau, văn học miền Nam càng được đánh giá một cách tích cực, từ những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp cho đến ngay cả từ chính nhà cầm quyền Cộng sản. Trong bài nghiên cứu khá kỹ và ít thiên kiến, “Chiến tranh, xã hội tiêu thụ và thị trường văn học miền Nam 1954 – 1975”, đăng trên tập san “Nghiên cứu văn học”, một trong những cơ quan nghiên cứu văn học hàng đầu của nhà nước Cộng sản, có đoạn viết:

Thật vậy, những cơ sở báo chí và xuất bản trung thực đã giúp người đọc miền Nam nhìn rõ hơn xã hội ở chung quanh mình, đã liên kết những người thiện chí trong một nỗ lực vận động cho hòa bình, tự do, độc lập dân tộc và một nền văn hóa văn nghệ tiến bộ, cho thấy mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt, sinh hoạt văn hóa miền Nam không có tính chất một chiều mà còn có những mầm mống của dân chủ, thông qua tiếng nói phản biện và phản kháng.

Trong đời sống văn học miền Nam, những sáng tác và công trình nghiên cứu chứa đựng những yếu tố dân tộc, nhân đạo, dân chủ và cách tân, xuất hiện trên cái nền của hoạt động báo chí và xuất bản rất đa dạng và phức tạp của nhiều khuynh hướng khác nhau về tư tưởng cũng như về nghệ thuật. Giữa các khuynh hướng đó không có ranh giới tuyệt đối, mà có sự giao thoa, tương tác và chuyển hóa lẫn nhau. Sách báo thân chính quyền cũng có lúc ấn hành những tác phẩm đả kích quan chức của chế độ, thậm chí bị tịch thu. Sự chuyển biến của sách báo khuynh tả cũng là một quá trình từ tự phát đến tự giác. Trên một tờ báo hay một nhà xuất bản có thể xuất hiện những cộng tác viên đối lập nhau về lập trường chính trị và quan điểm văn học”.[15]

Một nhận định văn học khá lạ, nhất là dưới cái nhìn của kẻ thắng cuộc nhìn về kẻ thua cuộc. Nếu không trích dẫn nguồn, có thể chúng ta sẽ cho đó là bài viết của một cây bút VNCH nào đó tự đánh giá văn học miền Nam. Còn lạ hơn nữa, mới đây, Nhân Dân, tờ báo chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho đi một bài của Hạnh Nguyên, Ứng xử với văn học miền nam trước 1975, trong đó có đoạn:

Từ chỗ bị phê phán gay gắt, bị loại bỏ, cấm phổ biến, văn học miền Nam dần dần đã được coi là một bộ phận không thể tách rời của văn học Việt Nam, được xuất bản và nghiên cứu nghiêm túc. Nhiều tác giả (nhà văn, nhà phê bình) miền nam xuất hiện trở lại trong đời sống văn học đương đại, nhiều tác phẩm (sáng tác, nghiên cứu, phê bình, văn học sử) được in lại và được bạn đọc ghi nhận. 

Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, Diễn đàn văn nghệ Việt Nam của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam đều từng mở chuyên mục giới thiệu văn học miền nam trước 1975; nhiều tạp chí chuyên ngành ở trung ương và địa phương cũng đăng tải những nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm, hiện tượng văn học, phê bình văn học Sài Gòn trước 1975; không ít luận án, luận văn cao học và không ít đề tài nghiên cứu cấp cơ sở, cấp Bộ, cấp Nhà nước đã lấy văn học, học thuật miền nam 1954-1975 làm đối tượng khảo sát, phân tích, đánh giá; một số nhà xuất bản, công ty văn hóa truyền thông đã chọn lọc giới thiệu những “người lạ mặt quen thuộc”… 

Nói cách khác, sự thay đổi trong thái độ đối với văn học miền nam diễn ra ở cả khu vực nghiên cứu, xuất bản, lẫn giảng dạy, sưu tầm, giới thiệu, phổ biến đến công chúng. Hoạt động được khuyến khích là vượt qua định kiến, thiên kiến, tỉnh táo chọn lọc những tác phẩm có yếu tố dân tộc, tinh thần nhân đạo, dân chủ, yêu nước và tiến bộ, có giá trị cách tân.

Có thể nói, nếu không có không khí cởi mở, chắc chắn những sáng tác của Du Tử Lê, Trần Thị NgH, Đinh Hùng, Nguyên Sa, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện…; những nghiên cứu của Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Thanh Lãng, Toan Ánh… không có điều kiện tái xuất hiện trong đời sống văn học. 

Nhờ sự thay đổi trong cách ứng xử, mới có những nghiên cứu về các trường hợp như Lê Tuyên, Thanh Tâm Tuyền… về tư tưởng triết học và các khuynh hướng lý luận – phê bình văn học ở đô thị miền nam 1954 – 1975. Theo GS Huỳnh Như Phương: 

Từ 1975 đến nay, khoảng 160 tác giả và dịch giả ở các đô thị miền nam có tác phẩm được tái bản chính thức trong nước, trong đó có người còn sống, người đã mất và một số ít đang định cư ở nước ngoài. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, việc làm đó chưa thật hệ thống và đầy đủ. Trong thời điểm hiện nay, xúc tiến việc tập hợp, tuyển chọn những tác phẩm, công trình có giá trị là việc làm đúng lúc và cần thiết, không chỉ để cung cấp tài liệu cho các nhà nghiên cứu mà còn góp phần làm phong phú và đa dạng đời sống tinh thần của đất nước”.[16]

Từ chỗ “ngăn chặn, chống, phê phán, đấu tranh, quét sạch văn hóa nô dịch, đồi trụy, lai căng; xóa bỏ những xuất bản phẩm phản động, khiêu dâm; trừng trị nghiêm khắc những ai cố ý vi phạm các quy định của Nhà nước…” đến chỗ thừa nhận văn học miền Nam là “một bộ phận không thể tách rời của văn học Việt Nam”, “không chỉ để cung cấp tài liệu cho các nhà nghiên cứu mà còn góp phần làm phong phú và đa dạng đời sống tinh thần của đất nước” quả là một thay đổi 180 độ. 

Đâu là động lực của thái độ tích cực đó? Có nhiều lý do, nhưng một trong những lý do chính theo tôi, đó là giá trị thuyết phục của tự bản thân Văn Học Miền Nam.. Nhận định về ảnh hưởng của văn hóa nghệ thuật miền Nam đối với miền Bắc, nhà thơ Hoàng Hưng, một trong những thành viên nòng cốt của trang mạng Văn Việt ở trong nước, nhận xét:

Sự tiếp xúc với Văn học miền Nam trước 1975 đã tạo bước ngoặt quyết định về khuynh hướng tư tưởng cho không ít tác giả của nền văn học “chính thống” miền Bắc. Tinh thần tự do, nhân bản và cách tân của nó đã dần dần “tẩy rửa” thói quen “tự kiểm duyệt” và “phục vụ chính trị”, giáo điều “hiện thực xã hội chủ nghĩa”… vốn ngấm sâu vào tâm trí của thế hệ cầm bút “chống Pháp chống Mỹ”. 

Chắc chắn nó đã khởi hứng cho những ý tưởng thay đổi mạnh mẽ của vài nhà lãnh đạo văn nghệ cuối thập niên 1970 như Trần Độ, Nguyên Ngọc… và của nhiều cây bút thành công từ sau khi có chính sách “Đổi mới” cuối thập niên 1980. Hầu hết những cây bút trẻ hiện nay ở Việt Nam đang đi theo tinh thần ấy.[17 ]

4.

Trong lúc các tác phẩm văn học VNCH vẫn còn được xuất bản hạn chế, thì một hình thái nghệ thuật khác của VNCH, ca nhạc, hay nói theo cách nói phổ biến hiện nay là nhạc vàng, gần như “thống trị” sinh hoạt ca nhạc trong nước. Ca nhạc miền Nam đã có ảnh hưởng từ đầu, ngay sau ngày 30 tháng Tư. “Sau khi Quân đội miền Bắc tiếp quản miền Nam, dường như nhạc miền Nam lại đổ bộ ra Bắc,” theo Jason Gibbs trong một bài nghiên cứu công phu về loại nhạc này, Nhạc vàng “hóa vàng”.[18] Gibbs viết:

Sau năm 1975, với sự sụp đổ của Sài Gòn, trước sự ra đi của người Mỹ và sự tan rã của Việt Nam Cộng hòa, những quan toà văn hoá Việt Nam đối diện với tình huống khó xử mới. Họ tiếp quản một địa bàn có đến hàng triệu tờ, đĩa và băng – gần hết là nhạc vàng – đã được mua bán trao đổi phân phối. (…) Từng bị tiêm nhiễm một thứ văn hoá, không dễ dàng để một người từ bỏ nó chỉ một sớm một chiều. Mặc dù không có khả năng nghe một bài hát cũ nữa, một người có thể nhớ nó, hát hoặc nhảy với nó trong một thời gian dài trong tương lai. Một bài hát cũ chỉ có thể chắc chắn đã chết khi nó không thể còn được nhớ đến, nhảy múa hay hát hò gì nữa. Tuy nhiên, ngoài vấn đề làm hồi tỉnh những ai đã nuốt phải thuốc độc của chủ nghĩa thực dân mới, họ phải đối phó với sự lan truyền của những người lính Quân đội miền Bắc khi họ mang theo loại nhạc này khi trở về nhà hay làng quê họ. 

Một nhà nghiên cứu giải thích rằng sự quảng bá của loại nhạc này đối với người miền Bắc thành ra một vấn đề cấp thiết hơn là cố ngăn dừng chúng lại ở miền Nam bởi vì người Bắc nghe nhạc ấy như một món mới lạ và chưa được “miễn dịch” chống lại trước đó”. (…) 

Lần đầu đến Việt Nam năm 1993 tôi đã rất kinh ngạc là thứ nhạc phổ biến ở Việt Nam Cộng sản lại giống với nhạc mà người Mỹ gốc Việt vẫn nghe, dĩ nhiên là chúng không được phát thanh, và trong mọi trường hợp là bất hợp pháp. Tuy là sản phẩm buôn lậu, những băng cassette và video vẫn được trao đổi tự do, và nhạc này có ở trong gần như mọi nhà tôi đến. Mặc dù nhạc vàng vẫn phải mang tội danh phản động, ít người nghe bình thường để ý đến điều đó”. 

Rốt cuộc, nhạc vàng, thay vì hiểu là thứ nhạc vàng vọt, ủy mị thì lại trở thành thứ nhạc với ý nghĩa tích cực: vàng là kim loại quý, như được hiểu trước năm 1975 ở Sài Gòn, cũng theo Gibbs.

Nói về sự “thống trị” của ca nhạc VNCH trong sinh hoạt giải trí hiện nay ở trong nước, nhà thơ Hoàng Hưng, cho biết, 

Nhu cầu ca hát, một trong những nhu cầu tự nhiên nhất của con người, sau nhiều năm bị “nhạc đỏ” độc quyền thống trị, đã bùng lên với “nhạc vàng” khắp phố phường ngõ xóm (…) Đến mức bây giờ, nhạc “bolero” một thời vốn không được đánh giá cao lắm bởi giới có học ở Sài Gòn, nay đang “tràn ngập lãnh thổ”, chiếm lĩnh không gian âm nhạc cả chính thống lẫn tự phát!” 

Tại sao có sự chiếm lĩnh đó? Theo nhận xét của Hoàng Hưng, một trong những điểm đáng nói là phong cách hát. 

Các ca sĩ miền Bắc nhìn chung được học bài bản hơn, nhưng sau khi nghe ca sĩ miền Nam, số đông người nghe bỗng nhận ra cái gì đó không thú lắm ở lối hát miền Bắc. Thì ra kỹ thuật thanh nhạc không thay thế được tình cảm tự nhiên, càng không lại được cái hồn gửi vào tiếng hát, và “bel canto” của “opera” không thể cuốn hút bằng cái sự tròn vành rõ chữ tiếng Việt!”[19]

Nói chung là như thế, nhưng nếu đi sâu hơn, ta sẽ nhận ra rằng chuyện nhạc vàng-nhạc đỏ không chỉ thuần túy là vấn đề ca nhạc, mà hàm chứa trong đó một cuộc “đấu tranh chính trị” dai dẳng và quyết liệt. Cứ theo dõi chuyện tranh cãi về việc “cho cho cấm cấm” rồi lại “cấm cấm cho cho” một số các bản nhạc miền Nam như “Con đường xưa em đi”, “Tôi đưa em sang sông, hay “Ly rượu mừng” chẳng hạn, chúng ta sẽ thấy trước sau, nhà nước Cộng sản đứng trước một sự chọn lựa “chẳng đặng đừng”, một chọn lựa đau đớn khi cho phép dòng nhạc miền Nam tiếp tục chiếm lĩnh thị trường giải trí cả nước. Phải nói là “không ngăn chặn được” chứ không phải là “cho phép”. Dù trực tiếp hay gián tiếp, dù bóng gió xa xôi hay êm đềm gần gũi, nhạc miền Nam nói chung chứa đựng trong đó tất cả cái không khí đa dạng, thấm đẫm tình người, tình nước của Việt Nam Cộng hòa. Nói như Đỗ Trung Quân, sự thắng thế của nhạc miền Nam là cuộc “phục thù ngọt ngào” của bên thua cuộc. 

Khán giả chọn lựa nó, thứ âm nhạc chôn mà không chết. Muốn nó chết, dễ thôi! Các anh hãy làm nhạc hay hơn nó, có tài năng hơn nó để vĩnh cửu như nó …Dèm pha, mai mỉa, xúc phạm nó vô nghĩa! Nó càng bất tử! Chỉ vậy thôi!”[20]

Quả thật là phục thù ngọt ngào! Trong “Trận chiến nhạc vàng”, tác giả Kiva đánh thẳng vào mục tiêu, không ỡm ỡm ờ ờ gì cả khi cho rằng:

Sự hồi sinh mạnh mẽ của dòng nhạc vàng cho thấy âm nhạc VNCH lúc xưa chưa có thua. Sau 40 năm chiến đấu cam go, bằng một sức mạnh mềm, nhạc vàng đã lật ngược được thế cờ, giành chiến thắng trên cả nước. Đầu thế kỷ 21, tôi đã thấy được một cuộc chiến tranh nhân dân ôn hòa, lãng mạn, thú vị mà không do những người Cộng sản điều khiển. Một cuộc chiến tranh không có bom đạn, sắt máu, mà chỉ có lời ca tiếng nhạc du dương, êm đềm, thơ mộng. Nhạc xưa đã trở lại, nhưng không phải là sự thụt lùi mà là sự đáp ứng nhu cầu, phản ảnh tâm thức của người dân muốn hướng đến một xã hội tràn đầy yêu thương, nhân bản, thấm đượm tình quê hương dân tộc”.[21]

Ngay cả trên một trong những tờ báo mạng hàng đầu ở trong nước hiện nay (VnExpress..net), ta cũng tìm thấy những lời ca ngợi âm nhạc miền Nam và thẳng thắng phê phán chính sách cấm đoán của nhà cầm quyền Cộng sản đối với loại nhạc này:

Những thân phận lạc loài vì chiến tranh, kêu đòi hòa bình, kêu gọi chấm dứt chiến tranh là điểm nhấn của cả một thời kỳ người đô thị miền Nam hát vì yêu nước, đến nay cũng vẫn không được phổ biến một cách oan uổng; như ca khúc Da vàng của Trịnh Công Sơn, dù nhạc sĩ sau ngày Thống nhất cho đến tận khi mất vẫn cống hiến rất nhiều cho âm nhạc nước nhà. Nếu nghe thật kỹ ca từ “Một mai giã từ vũ khí” của Trịnh Lâm Ngân, chỉ thấy khắc khoải mơ ước hòa bình để xây dựng lại một xã hội người người thương yêu nhau, vậy mà nó luôn nằm đầu bảng danh sách các ca khúc bị cấm biểu diễn. (…) Quan trọng hơn, một thực tế không thể chối cãi, đó là rất nhiều trong những bài hát bị cấm phổ biến vẫn được mọi người yêu mến. Dù được viết đã rất lâu, bằng cách nào đó, chúng đang và còn nói được tiếng lòng đại chúng ở hiện thời. Việc cấm sử dụng các ca khúc được nhiều người yêu mến là đi ngược quy luật xã hội, vô ích trong quản lý và tốn thêm các chi phí khác cho việc giám sát”.[22]

Nhạc miền Nam trở lại không chỉ bằng nhạc mà bằng cả chính các ca nhạc sĩ một thời xây dựng nên không khí VNCH. Dân miền Nam muốn sống lại những tháng năm xưa êm đềm với các thần tượng của mình, còn dân miền Bắc thì lại muốn được trực tiếp chia xẻ cái không khí chứa chan tình người mà họ không có cơ hội được hưởng vì sự biến mất đau đớn của VNCH. Những chương trình ca nhạc như thế, nhất là ở Hà Nội, là những “biến cố” xưa nay hiếm, đánh động vào một thế giới hoài niệm rưng rưng, xa xót![23]

Văn học nghệ thuật quả đã mang VNCH lừng lững đi vào, đi sâu trong lòng đất nước. Đây không phải là một diễn biến hòa bình. Cũng không phải một vận động thay ngôi đổi chủ. Đơn thuần chỉ là một hiện tượng phục hồi. Sự phục hồi của một giá trị, một giá trị vô cùng lớn lao mà nếu biết vận dụng, nó có thể đưa đến sự thay đổi ngoạn mục dòng sinh mệnh dân tộc.

5.

Ngoài yếu tố tự thân, sự phục hồi này còn được hỗ trợ bởi những yếu tố khách quan khác.

Trước hết là sự phát triển của mạng xã hội, đặc biệt là facebook. Qua mạng xã hội, lần đầu tiên người dân cảm thấy mình được tự do, được thoát ra khỏi sự kềm chế của nhà nước, được nói, được viết, được trao đổi đủ thứ thông tin đa dạng, đa chiều mà không phải thông qua một hệ thống kiểm soát nghiêm ngặt của bộ máy công an. Cũng qua mạng xã hội, họ xây dựng được một xã hội khác với thứ xã hội bị kềm kẹp bên ngoài: xã hội dân sự. Tất cả tạo thành một sức mạnh, làm đối trọng với nhà cầm quyền. Các tư tưởng dân chủ, tự do được đề cao. Và đặc biệt, các trang mạng xã hội cũng là nơi chứa đựng hình ảnh và thông tin đáng quý và hữu ích về một VNCH ngày cũ, từ âm nhạc, văn chương, nghệ thuật cho đến quân đội, giáo dục, kinh tế…

Mặt khác, do sự biến mất các yếu tố hấp dẫn của các chiêu bài lý tưởng (độc lập, giai cấp, chủ nghĩa…) cũng như vì sự mâu thuẫn về quyền lợi phát sinh do một đảng cầm quyền quá lâu, “Nền chính trị Việt Nam đã chính thức bước vào chế độ tài phiệt (plutocracy),” theo Đoan Trang và Nguyễn Hữu Long. Phân tích về điểm này, hai tác giả nhận định:

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhân vật trung tâm của chính trị Việt Nam thập kỷ qua, đã phơi bày một phần cuộc đấu đá quyền lực trong đảng ra trước mặt báo và pháp đình, thông qua chiến dịch chống tham nhũng vô tiền khoáng hậu trong lịch sử đảng. Chiến dịch này đã làm thay đổi hẳn cách nhìn về quan chức nhà nước và cơ quan nhà nước trong công chúng nước ta. Trước đây, người ta coi làm quan, làm nhà nước là một công việc ổn định, vừa màu mỡ vừa an toàn, “đến hẹn lại lên”. 

Nay, ấn tượng đó đã sụp đổ cùng với những Đinh La Thăng, Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn, v.v. (…) Hai cái chết bí ẩn của Nguyễn Bá ThanhTrần Đại Quang, cùng với vụ mất tích kỳ lạ của Đinh Thế Huynh, tiếp tục phủ bóng chính trường với nhiều màu sắc ma quái, tạo ra ấn tượng mạnh mẽ trong công chúng về những phương pháp thanh trừng nội bộ cổ xưa. Pháp luật, suy cho cùng, vẫn chỉ là công cụ thanh trừng chứ không phải là nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước. Không có thứ công lý nào đạt được với một thứ pháp luật như vậy”.[24]

Trong tình huống này, phủ nhận cơ chế nhà nước Cộng sản hiện nay tất yếu phải dẫn đến chỗ thừa nhận những giá trị mà VNCH đã từng thể hiện trong thời gian 20 năm trước đây. Nhìn chiến hạm Mỹ Theodore Roosevelt ghé thăm Đà Nẵng vào tháng 3/2020 vừa qua, nhìn cách nhà nước Cộng sản đang loay hoay đòi biển đòi đảo, loay hoay trườn ra khỏi ảnh hưởng của chế độ bá quyền xảo quyệt phương Bắc, tôi nhận ra một điều vừa khôi hài lại vừa chua chát: Chính quyền Cộng sản đã mất công chiến đấu, phỉnh gạt và hy sinh bao nhiêu thế hệ để cũng đi đến cái mục tiêu mà VNCH đã từng theo đuổi: thân Mỹ, chống Tàu, biến Việt Nam thành một đất nước pháp trị với tam quyền phân lập, đa nguyên trong sinh hoạt chính trị, tự do trong kinh tế thị trường, cởi mở trong văn học nghệ thuật, đất đai thuộc sở hữu tư nhân, tự trị đại học… Bị giam giữ trong nhà tù ý thức hệ, bị nhốt kín trong nỗi đam mê thành tích quá khứ, Đảng Cộng sản tiếp tục dẫn dắt dân tộc đi vào một con đường “dead-end”, không lối thoát.

Bốn mươi lăm năm bát nháo, ỡm ờ! Bốn mươi lăm năm loay hoay. Bốn mươi lăm năm sinh sát. Rốt cuộc, chính quyền Cộng sản hiện hình là một cơ chế nửa nạc nửa mỡ, tiến thối lưỡng nan. Hơn thế nữa, cái chính quyền đó tự biến thành một khối u ác tính của chính mình. Nó tự đối đầu với chính nó, tự bào mòn chính nó, tự cắt xé chính nó. Thế lực phản động không còn đến từ bên ngoài, mà mưng mủ từ bên trong. Biến cố Đồng Tâm chẳng hạn là biểu hiện sinh động, là đỉnh cao của cái ung nhọt tự phát trong lòng chế độ. Chính những người đã từng hy sinh xương máu của họ để phục vụ chế độ càng ngày càng đứng lên chống lại nó, rạch ròi, dứt khoát và đầy chính nghĩa.

Trong một bối cảnh như vậy, nếu người ta hướng về VNCH cũng là điều rất hiển nhiên. Và hợp lý. Một trong những nhà nghiên cứu văn học tiếng tăm trong nước, Vương Trí Nhàn, đã can đảm nhận định về Tô Thùy Yên và qua đó, về những con người VNCH như sau:

Qua nhiều tài liệu về các trại tù cải tạo được thiết lập sau 75, tôi biết có một nguyên tắc chi phối các trại tù này là làm cho những người bị giam trong đó mất hết cảm giác và suy nghĩ của một con người bình thường, không còn đớn đau mà cũng không còn hy vọng, tóm lại là chỉ biết sống qua ngày như một thứ súc vật bị làm nhục. 

Trường hợp con người trong Tô Thùy Yên sau khi ra tù bộc lộ qua bài thơ “Ta về” chứng tỏ mọi ý đồ loại đó đã phá sản, đây không phải trường hợp cá biệt ở một hai người mà phổ biến ở rất nhiều người. Sau khi bị tù đầy trở về họ vẫn giữ được lòng khao khát yêu đời và có đủ khả năng gia nhập vào cuộc sống hiện đại khi ra sống ở hải ngoại. Chính họ là niềm hy vọng của dân tộc chúng ta. Mà điều đó không phải là ngẫu nhiên vì nó đã được chuẩn bị từ trong cuộc sống hai mươi năm 1955-1975” (Tôi nhấn mạnh).

Đây là một nhận định chính xác, can đảm của một nhà phê bình văn học, người ở bên phe thắng cuộc. Những người hiện đứng lên tranh đấu cho một nước Việt Nam giàu mạnh, tự do, dân chủ ở trong nước đang đòi hỏi cái mà chúng tôi đã từng tranh đấu để có và đã từng có vào những năm tháng VNCH. Giá trị VNCH, do đó, không có gì cao xa, cũng chẳng cần phải dựa trên một lý thuyết nào, trái lại, rất đơn giản. Đơn giản như lao Thừa Phủ ngày nào đã cho phép hai tù nhân học sinh Lê Hiếu Đằng và Lý Thiện Sanh được đi thi Tú Tài để khỏi đánh mất tương lai. Đơn giản như những bài hát bolero VNCH, dân dã, thắm tình. Không cần kinh qua những cuộc đấu tố cải cách long trời lở đất và những năm tháng chiến tranh hao người tốn của. Cũng không cần những bà mẹ anh hùng, những tượng đài, những địa đạo, những thi đua, những sùng bái cá nhân và lăng tẩm, vân vân.

Xin được nhắc lại, nhất định là không thừa: Rốt cuộc, đổi mới là gì, cải cách là gì nếu không muốn nói là con đường dẫn đến những giá trị VNCH. Chả thế mà, Giáo sư Nguyễn Văn Trung nhận định, “Cái gọi là “đổi mới” thực chất là “ đổi mới chẳng qua là trở về những cái cũ đã bị phủ nhận”.[25] Hiểu như thế, VNCH không phải là quá khứ, mà chính là tương lai. Là mô hình của một Việt Nam đổi mới, dân chủ, tự do.

Khi thừa nhận tính cách hợp pháp của chế độ VNCH, nhà cầm quyền Cộng sản chắc không muốn nghĩ tới điều đơn giản đó.

Không sao!

Lịch sử có những lối đi riêng bất ngờ của nó.

Tháng 4/2020
T.D.N.

__________
Tài liệu tham khảo:

1. FB Vương Trí Nhàn:


2. Jason Gibbs, Nhạc vàng hóa vàng (Nguyễn Trương Quý dịch): http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4775&rb=0206

3. FB Nguyễn Lương Hải Khôi: ĐH Vạn Hạnh được tiếp quản như thế nào? https://baotiengdan.com/2018/12/21/the-nao-la-giai-phong-sau-1975-dh-van-hanh-duoc-tiep-quan-nhu-the-nao/

4. FB Nhật ký yêu nước: Đỗ Trung Quân nói về âm nhạc và Nguyễn Long Ẩn https://www.facebook.com/nhatkyyeunuoc1/posts/3248934198466638/

5. Dương Thu Hương

6. Nhân Dân online: Ứng xử với văn học miền Nam trước 1975 (Hạnh Nguyên) https://www.nhandan.com.vn/cuoituan/item/30680502-ung-xu-voi-van-hoc-mien-nam-truoc-1975.html

7. Phỏng vấn Hoàng Hưng (Diễn Đàn Thế Kỷ)

8. Nguyễn Văn Trung, Tưởng niệm VNCH (Văn Học (Cali) số 174, 10/2000)

9. Đoan Trang & Nguyễn Hữu Long, Chính trị Việt Nam: một thập kỷ nhìn lại, Luật Khoa tạp chí.

10. Tạp chí Nghiên cứu văn học, Viện Văn học – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, số 4 – 2015, tr. 27-40. http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/v%C4%83n-h%E1%BB%8Dc-vi%E1%BB%87t-nam/5393-chin-tranh-xa-hi-tieu-th-va-th-trng-vn-hc-min-nam-1954-1975.html

11. Đoan Trang & Nguyễn Hữu Long, Chính trị Việt Nam: một thập kỷ nhìn lại, Luật Khoa tạp chí. Xem ở: https://www.luatkhoa.org/2019/12/chinh-tri-viet-nam-mot-thap-ky-nhin-lai/
Chú thích

[1] Trong toàn bài, nhóm chữ “Việt Nam Cộng hòa”, do phải lập đi lập lại nhiều lần, nên để tránh rườm rà, người viết sử dụng chữ tắt VNCH để thay thế.

[2] Michael Bùi, Lucky Ride luckyride9@yahoo.com [ThoVan] thovan@yahoogroups.com, April 25th, 2020..

[3] Dương Thu Hương, Chốn vắng, tiểu thuyết. Có thể xem ở Đinh Quang Anh Thái, Giọt nước mắt người phụ nữ “bên thắng cuộc”: http://www.buctranhvancau.com/new-blog/2018/11/25/git-nc-mt-ngi-ph-n-bn-thng-cuc-inh-quang-anh-thi-thng-hai-2018

[4] Để biết rõ hơn về hai Công Hàm này, vào xem ở: Phùng Anh Khương, Há miệng mắc quai: Nếu luật sư Trung Quốc dùng lý lẽ VNCH là “ngụy quyền”…(Luật Khoa tạp chí) https://www.luatkhoa.org/2020/04/ha-mieng-mac-quai-neu-luat-su-trung-quoc-dung-ly-le-viet-nam-cong-hoa-la-nguy-quyen/

[5] Công Hàm A/72/692 được ký ngày 26/12/2017 và được đưa vào hồ sơ lưu trữ Liên Hiệp Quốc ngày 30/1/2018. Xem ở: https://undocs.org/pdf?symbol=en/A/72/692



[8] Nguyễn Văn Trung, “Nhìn Lại Những Chặng Đường Đã Qua”, chương 8: Tưởng niệm Việt Nam Cộng hòa, Tạp chí Văn Học (Cali) số 174, 10/2000, từ trang 3 đến trang 32. Có thể tìm xem ở thư Viện Người Việt: https://issuu.com/nvthuvien/docs/tapchivanhoc_174?mode=window&viewMode=doublePage

[9] tức là tách biệt tôn giáo khỏi nhà nước.

[10] Hướng về Miền Nam Việt Nam, Khởi Hành số 92, tháng 6/2004. Dẫn theo Thụy Khuê, Văn Học miền Nam 1954-1975. Xem ở: http://vanviet.info/van-hoc-mien-nam/van-hoc-mien-nam/

[11] Trần Doãn Nho, “Tính văn học trong Văn Học Miền Nam”. Xem ở Da Màu: https://damau.org/34977/tinh-van-hoc-trong-van-hoc-mien-nam

[12] Đại Học Vạn Hạnh được tiếp quản như thế nào sau 1975?, FB Nguyễn Lương Hải Khôi. Xem ở Tiếng Dân: https://baotiengdan.com/2018/12/21/the-nao-la-giai-phong-sau-1975-dh-van-hanh-duoc-tiep-quan-nhu-the-nao/

[13] Các cuộc hội thảo hay “đêm không ngủ” của sinh viên học sinh chống chính quyền thường được tổ chức trong khuôn viên để tránh bị giải tán hay đàn áp. Lực Lượng Cảnh Sát bố trí bên ngoài, cho người giả dạng sinh viên vào bên trong chỉ để lấy tin tức.. Cảnh Sát chỉ can thiệp khi sinh viên kéo nhau ra ngoài đường để đi biểu tình.

[14] Xem Trả lời Tuý Vân của Nguyễn Đăng Thường, Talawas http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9603&rb=0102

[15] Tạp chí Nghiên cứu văn học, Viện Văn học – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, số 4 – 2015, tr.. 27-40.


[16] Hạnh Nguyên, Ứng xử với văn học miền Nam trước 1975. Xem ở:


[17] Phỏng vấn nhà thơ Hoàng Hưng (Diễn Đàn Thế Kỷ)

[18] Jason Gibbs, Nhạc vàng “hoá vàng” (Nguyễn Trương Quý dịch). Xem:


[19] Hoàng Hưng (trả lời Phỏng Vấn của Diễn Đàn Thế Kỷ). Muốn hiểu hết tính cách của sự chiếm lĩnh này, hãy thử vào hai trang mạng chuyên về nhạc đỏ và nhạc vàng. Trong lúc trang “Nhạc Vàng” (facebook.com/nhacvang/) có hàng trăm ngàn người “follow” và hàng trăm ngàn người “like”, thì trang “Nhạc Đỏ Chọn Lọc” (facebook.com/nhacdochonloc/) chỉ có chừng vài trăm người “follow” và “like”.

[20] Xem ở FB “Nhật ký yêu nước”: https://www.facebook.com/nhatkyyeunuoc1/posts/3248934198466638/

[21] Trận chiến nhạc vàng. Kiva, trang mạng amnhac.fm https://amnhac.fm/tan-nhac/6260-tran-chien-nhac-vang

[22] Phạm Hoài Nam/Những bài hát bị cấm/Chủ nhật, 6/10/2019, 21:40/VNExpress. https://vnexpress.net/nhung-bai-hat-bi-cam-3987828.html

[23] Các ca sĩ hải ngoại về nước trình diễn thường bị chê trách, thậm chí bị lên án và sỉ nhục. Điều này thực dễ hiểu, vì rõ ràng là nhà nước Cộng Sản, khi cho phép các ca sĩ hải ngoại về nước, là tìm cách chia rẽ cộng đồng hải ngoại và đánh bóng chế độ. Tuy nhiên, nếu xét ở một điểm khác, điều này góp phần làm phong phú thêm giá trị VNCH đối với người dân trong nước, nhất là đối với giới trẻ..

[24] Đoan Trang & Nguyễn Hữu Long, Chính trị Việt Nam: một thập kỷ nhìn lại, Luật Khoa tạp chí. Xem ở: https://www.luatkhoa.org/2019/12/chinh-tri-viet-nam-mot-thap-ky-nhin-lai/

[25] Nguyễn Văn Trung, bài đã dẫn (Xem ghi chú số 8).

Tác giả gửi BVN.

Blog Archive